Sáu phong trào Dị Giáo lớn thời Trung Cổ

1

Jan Hus Bị Thiêu Sống trên Cọc

Joshua J. Markby

Trần Quang Nghĩa dịch từ ANCIENT HISTORY

Giáo hội Trung Cổ thiết lập sự độc quyền trên đời sống tâm linh của người Âu châu trong thời kỳ Trung Cổ Đầu (476-1000) và củng cố quyền lực ấy suốt thời kỳ Trung Cổ Giữa (1000-1300 ) và Trung Cổ Cuối (1300-1500). Càng ngày Giáo hội càng trở nên suy đồi khi giới giáo sĩ bất chấp các giới luật căn bản của Cơ đốc giáo sống xa hoa phung phí trên tiền thuế thập phân mà giáo dân phải nộp cho nhà thờ. Các thầy tu trong giáo khu càng lúc càng trở thành biểu tượng của tính lớp đạo đức giả và tội lỗi đến nỗi những phong trào chống giới tăng lữ xảy ra phổ biến trên khắp châu Âu ngay trước thời kỳ giữa và đóng góp vào sự phát triển các hệ thống tín ngưỡng thay thế mà Giáo hội lên án là bọn dị giáo.

Dân chúng – hoặc thậm chí giới quí tộc – không thể làm gì nhiều để chống bọn tăng lữ bại hoại này vì Giáo hội giữ chìa khóa vào cõi vĩnh hằng của con chiên. Người ta chỉ có thể được cứu rỗi và được sự sống vĩnh hằng bằng cách đi theo lời răn của Giáo hội, bằng ngược lại họ sẽ mãi mãi bị giày vò trong địa ngục hoặc bị hành hạ trong lò lửa sám hối cho đến khi ngọn lửa đốt cháy tiêu mọi tội lỗi họ đã phạm khi còn sống. Thiên đường, địa ngục và lò lửa sám hối được xem như là điều chắc chắn tuyệt đối sau khi chết và, bởi vì Giáo hội đặt ra tất cả những luật lệ liên quan đến việc linh hồn sẽ bay về đâu, dân chúng bắt buộc phải chịu đựng những hành vi tàn bạo của giới tăng lữ.

Giáo dân Cơ đốc phải nghe giảng bằng tiếng Latinh, Thánh Kinh viết bằng tiếng Tình, và những lời cầu nguyện như Nhân danh Cha và Kính Chào Đức Mẹ Maria được các giáo sĩ địa phận dạy cho các giáo dân và bắt họ thuộc lòng bằng tiếng Latinh, thứ tiếng mà không người nông dân nào biết và chỉ có một số ít quí tộc hiểu. Những lời dạy ghi chép trong sách phúc âm của Kinh thánh do đó là nguồn tài sản độc nhất của giới tăng lữ luôn huênh hoang rằng chỉ có Giáo hội mới có thể hiểu đúng đắn ý chúa Cơ đốc và cắt nghĩa lại cho con chiên.

Giáo hội Thiên chúa được nhìn nhận là hình thức Cơ đốc duy nhất cho tín đồ Âu châu nào không về phe với Giáo hội Chính thống giáo phương Đông cho đến khi phong trào Kháng Cách ( Cải cách Tin Lành 1517-1648) phá vỡ quyền lực độc tôn của nó. Trước thời Kháng Cách, tuy nhiên, cái gọi là dị giáo cho dân chúng cơ hội bày tỏ đức tin tôn giáo bên ngoài những giáo luật bảo thủ, cố chấp, chỉ phục vụ cho mình của Cơ đốc giáo.

2

Những người dị giáo

ĐỐI VỚI GIÁO HỘI, MỘT NGƯỜI DỊ GIÁO GIỐNG NHƯ MỘT CON BỆNH TRUYỀN NHIỄM.

Mặc dù châu Âu được cho là Cơ đốc chính thống trong suốt thời Trung Cổ, vẫn có một số phong trào thách thức những lời dạy của Giáo hội và nỗ lực thành lập phiên bản Cơ đốc giáo của riêng mình hoặc, như trong vụ Paulician, Bogomil, và Cathar, một hình thức tôn giáo chị em dựa vào những giáo lý lấy từ Ma-ni giáo của Ba Tư, Ngộ giáo của Hi Lạp và Cơ đốc giáo. Những phóng trào này bị kết án là dị giáo và bị đè bẹp thô bạo bởi Giáo hội Thiên chúa Trung Cổ để duy trì quyền thống trị của họ.

Mặc dù có nhiều phong trào gọi là dị giáo trong suốt thời Trung Cổ, sáu phong trào sau đây có tác động sâu xa nhất và tạo cảm hứng cho nhiều phong trào khác:

Paulician

Bogomil

Cathar

Waldensian

Lollard

Hussite

Tất cả sáu phong trào này đều bị Giáo hội dập tắt, hậu quả là nhiều dân chúng không liên can gì với dị giáo cũng bị tàn sát, khi Giáo hội tiếp tục áp đặt uy quyền tâm linh của nó như là người đại diện của Chúa Trời trên trần thế. Đối với Giáo hội, vốn luôn duy trì và đốt lên sự khủng bố bằng hình ảnh địa ngục và lò luyện, một kẻ dị giáo giống như một người bị bệnh truyền nhiễm phải tách ra xa khỏi cộng đồng còn chiên để khỏi lây bệnh cho người khác và đưa ra những biện pháp để chữa trị họ. Biện pháp đầu tiên là dùng lời nói – các cha sứ sẽ tranh luận với kẻ dị giáo để đưa họ trở về con đường chính thống – nhưng rồi hoá ra các người dị giáo tranh luận luôn thắng các giáo sĩ Thiên chúa, và vì thế các biện pháp khốc liệt hơn được vận dụng, và cuối cùng dẫn đến việc tàn phá như cuộc Thập tự chinh Albigensian 1209-1229 và những toà án dị giáo ô nhục.

Những vụ dị giáo buổi đầu và Nicaea

Cơ đốc giáo giữa thế kỷ 1 và 4 được lý giải khác nhau bởi những giáo phái khác nhau. Sau khi Constantine Đại Đế (306-337) phong đạo Cơ đốc làm quốc giáo của La Mã, ông yêu cầu một nhãn quan thống nhất cho tín ngưỡng mới và tổ chức Công đồng Nicaea vào năm 325 để hợp thức hóa việc này. Trước đó, những lời dạy của Arius ở Alexandria (256-336) – người bác bỏ tính hợp lệ của Ba Ngôi trong Cơ đốc giáo trong số những tín điều chính thống khác – đều coi là hợp lệ như bất kỳ hình thức khác nào của Cơ đốc giáo. Giáo phái Ebionite thế kỷ thứ 4, cùng với những giáo phái khác, không nhận tính cách thần thánh của Jesus và gắn kết điều này với tín điều gọi là Thuyết Công nhận theo đó Jesus thành Nazareth,một người đàn ông không phạm tội, được Chúa Trời “nhận làm con” qua lễ rửa tội, cái chết và sự phục sinh của ông nhưng không phải là”người con duy nhất sinh ra của Chúa Trời”. Phái Donatist thế kỷ thứ 4 ở Bắc Phi tuyên bố rằng các giáo sĩ Cơ đốc phải không phạm tội như Christ và các tông đồ của ông và vì thế bất kỳ giáo sĩ nào phạm tội đều phải bị trục xuất khỏi ban quản trị và không được cử hành các nghi thức tôn giáo.

2

Công đồng I ở Nicaea. tranh của Jjensen

Constantine tin rằng mình đã thấy Jesus Christ hiện ra ngay trước Trận Đánh quyết định tại Cầu Milan vào năm 312 và ông đánh bại địch thủ Maxentius và nắm toàn bộ quyền hành của một vị hoàng đế La Mã. Christ hiện ra trước mặt ông theo cách như các thần linh của đa thần giáo trong quá khứ đã hiện ra và do đó Christ hiển nhiên là một vị thần có quyền lực siêu phàm. Vì vậy Constantine không quan tâm đến một Cơ đốc giáo mà lại không nhận Christ là thánh thần và ông cũng không tha thứ cho điều ông coi là hành động xoi mói của phái Donatist hoặc Thuyết Công nhận của phái Ebionite và những giáo phái khác. Những giáo phái này bị kết án tại Nicaea và một nền tảng chính thống về tín điều được thiết lập.

Trong nhiều thay đổi mà Nicaea khởi xướng có vị thế thứ cấp của phụ nữ trong Giáo hội. Từ đây họ chỉ được coi là con chiên phụ giúp công tác trong Giáo hội nhưng không thể dạy hoặc nắm quyền các ông. Trước khi có Nicaea, nhiều tư liệu ghi chép  không ít phụ nữ có ảnh hưởng và quyền hành trong Giáo hội mà công việc của họ có ý nghĩa ngang bằng, hoặc thường cao hơn, cánh mày râu cùng cấp bậc. Việc trục xuất các phụ nữ ra khỏi các vị trí quyền lực đơn giản là một khía cạnh khác nhằm thiết lập một nhãn quan chính thống của Cơ đốc giáo, và một khi chỉ có một đường lối duy nhất để lý giải và thực hành tín ngưỡng, bắt kỳ đường lối nào khác sẽ bị coi là dị giáo và phải bị dập tắt.

Giáo Hội và Quyền Thế Tục

Giáo hội nắm lấy quyền thế tục thông qua các phương tiện thế tục vì Constantine và những hoàng đế kế vị coi mình là những chúa tể Cơ đốc giáo. Vì Giáo hội được miễn thuế,mà lại được quyền thu một phần mười thu nhập của con chiên nông dân gọi là thuế thập phân, nên có thể tích lũy của cải càng ngày càng đồ sộ, và biến chúng thành đất đai và quyền lực. Vào thế kỷ thứ 8, Giáo hội tiến thêm một bước nhằm gia tăng quyền lực cao tột bằng cách giả mạo văn thư  Hiến Tặng của Constantine tuyên bố rằng Constantine Đại Đế đã giao quyền lực của ông ta cho giáo hoàng bằng một văn kiện  và rồi giáo hoàng ban phước lành cho phép hoàng đế cai trị nhân danh ông ta. Từ đó, quyền thế tục thực sự thuộc về giáo hoàng và Giáo hội của ông ta và chỉ cho các nền quân chủ xứng đáng mượn để cai trị tại một thời điểm nào đó.

CÁC GIÁO PHẢI DỊ GIÁO LÊN ÁN GIÁO HỘI ĐẠO ĐỨC GIẢ, GIÀU CO BẤT CHÍNH, VÀ SỰ ĐỒI BẠI CŨNG NHƯ BÁC BỎ TÍNH HỢP PHÁP CỦA GIÁO HOÀNG, TĂNG LỮ, VÀ THẬM CHÍ CÁC PHÉP BÍ TÍCH.

Tác động thực sự của văn kiện này được tranh cãi trong suốt thời Trung Cổ, nhưng khái niệm đứng phía sau nó – và sự dính líu ngày càng tăng của Giáo hội trong việc điều hành nhà nước – thật có ý nghĩa. Nó khuyến khích Pepin The Short, Vua người Pháp (751-768) trao tặng cho Giáo hội Hiến Tặng của Pepin tất cả đất đai ông ta chinh phục được từ dân Lombard và thiết lập các Nhà nước thuộc Giáo hoàng. Giáo hội cũng có thể thành lập dân quân riêng, tham gia các chiến dịch quân sự, và – vì họ tuyên bố mình là quyền lực thực sự đằng sau mỗi ngai vàng – hiếp đáp các vương triều phải thỏa mãn các lợi ích của mình.

Việc dính líu của Giáo hội vào những chuyện thế tục làm nhiều người quan tâm và gây phẫn nộ nhiều người khác. Ở nước Ý trung cổ, những giáo phái gọi là Guelph và  Ghibelline đứng lên vào thế kỷ 12 để đáp trả sự kiện Tranh Cải Bổ Nhiệm (theo đó Giáo hội có thể bổ nhiệm những viên chức cao cấp mà không cần sự đồng ý của nhà vua). Người Guelph hậu thuẫn quyền tối cao của giáo hoàng trong khi người Ghibelline ủng hộ Hoàng đế La Mã Thần Thánh. Tuy nhiên, người Ghibelline không hề chống đối Giáo hội ra mặt, mà chỉ chống lại  những lạm dụng nhận thức của quyền lực, trong khi những phái dị giáo lên án tính đạo đức giả của Giáo hội, sự giàu có bất chính, và tất cả những biểu hiện đồi bại cũng như bác bỏ tính hợp pháp của giáo hoàng, tăng lữ, và thậm chí những phép bí tích.

Các phép bí tích bao gồm phép rửa tội, phép thêm sức, phép giải tội, phép thánh thể, phép hôn phối, phép truyền chức thánh, và phép xức dầu thánh (cũng gọi là nghi thức cuối cùng). Con chiên cần phải thực hành các phép bí tích để được xem là một giáo dân Cơ đốc giáo trong ân sủng của Chúa Trời, và những nghi thức này phải được tiến hành bởi các giáo sĩ Thiên chúa mới được coi là có giá trị. Giáo hội tính tiền  cho những nghi thức này, và nếu nghèo không trả được bằng tiền mặt, người đó phải tình nguyện lao động một thời gian cho nhà thờ của Christ. Tuy nhiên, một số tin đồ nhận thấy bản thân tu sĩ sống no đủ và dường như ít quan tâm đến mức tu hành của họ hơn là đến những món xa xỉ và lối sống phủ phê. 

Bất kỳ lời phàn nàn nào về biểu hiện hành vi này đều được coi là phê phán chính Giáo hội và không thể tha thứ. Nếu nhìn nhận bất kỳ phê phán nào thì đòi hỏi Giáo hội phải cài cách, nhưng Giáo hội chả thiết tha gì đến việc đó. Những thành viên nổi bật của giới tăng lữ kêu gọi Giáo hội phải chịu trách nhiệm, như giáo sĩ và học giả Peter Abelard (1079-1142) tuyên bố rằng phép biện chứng (phương pháp truy vấn chân lý của một mệnh đề một cách hợp lý) phải được áp dụng không chỉ cho các phép bí tích của Giáo hội mà còn cho các chính sách của Giáo hội và ngay cả cho Kinh Thánh. Abelard bị kết tội dị giáo, sách vở ông bị thiêu rụi, và ông bị buộc rút lại ý kiến.

Những người gọi là dị giáo khác truyền chính nghĩa của họ đến cho nhân dân. Họ liền nhiệt tình hậu thuẫn nhưng lập tức bị Giáo hội đàn áp và dập tắt. Nhất là giới quí tộc chào đón một hình thức thay thế Giáo hội Thiên chúa với hi vọng bất kỳ định chế nào khác có thể lật đổ nó sẽ ít đâm thọc vào công việc của họ hơn. Sáu hệ thống tín điều sau đây bắt đầu đáp trả sự hủ bại của Giáo hội và phát huy quan điểm riêng của mình về tâm linh và Thiêng liêng.

Paulician (thế kỷ 7-9) được thành lập ở Armenia bởi Constantine -Silvanus (chết 684) và khuyến khích sự giao tiếp với Chúa Trời thông qua cầu nguyện. Họ chủ trương trở về lối sống giản dị và hiệp đồng như giáo sĩ  Cơ đốc thuở trước noi gương cuộc đời của Thánh Paul (5-67). Họ không có nhà thờ và tụ họp trong nhà của các tín đồ mà họ gọi là “Nơi Cầu Nguyện”. Họ theo tín ngưỡng nhị nguyên, tin tưởng vào hai vị thần toàn năng (một thiện một ác) trong cuộc đấu tranh miên viễn và chối bỏ tư cách thần thánh của Christ và việc tôn thờ Mary cũng như tất cả phép bí tích và thứ bậc của Giáo hội. Họ hoàn toàn chối bỏ khái niệm về thuyết thần quyền tăng lữ phán rằng việc hiệp thông với Chúa là bất khả nếu không có sự can thiệp của một giáo sĩ Thiên chúa được phong chức. Constantine-Silvanus bị ném đá đến chết theo lệnh của Giáo hội, và sau đó, nhiều người đệ tử ông bị thiêu sống trên cọc vì tội báng bổ hoặc bị đưa tới nơi khác sống với hi vọng họ sẽ được cải tạo. Những người con sống phát triển, hoặc ít nhất gây ảnh hưởng đến phong trào dị giáo của người Bogomil.

3

Cuộc tàn sát người Paulician. tranh của Cplakidas

Bogomil (thế kỷ 11) là một giáo phái hình thành ở vùng Balkan mà tên là tiếng Slav có nghĩa “những người thân thiết với Chúa Trời”. Bogomil cũng là giáo phái nhị nguyên nhưng phát triển những khái niệm hoàn thiện hơn. Họ tin rằng thế giới thuộc về ác thần và mục đích của cuộc sống là vượt qua những cám dỗ của thế gian này và giải phóng bản thân khỏi những trói buộc của thể xác để trở về với cõi giới thuần khiết của Chúa Trời. Họ theo những giáo lý của phái Paulician trong việc chối bỏ tính thần thánh của Christ, giá trị của phép bí tích, và thứ bậc của Giáo hội, nhưng bổ sung thêm những yếu tố đạo Mani trong tín ngưỡng của mình cũng như những khía cạnh trong đạo Ngộ giáo Hi Lạp. Họ bị Giáo hội bức hại thẳng tay, xóa sổ tận gốc bằng những cuộc thập tự chinh, nhưng những giáo lý của và tổ chức nồng cốt của họ vẫn sống sót và ảnh hưởng đến phong trào dị giáo nổi tiếng nhất thời Trung Cổ: giáo phái Cathar.

Cathars (thế kỷ11-13), tiếng Hi Lạp có nghĩa “những người thuần khiết”, cũng được biết dưới tên Albigensian vì họ xuất thân từ thị trấn Albi) là một giáo phái ở miền Nam nước Pháp theo cùng những tín điều như nhóm Bogomil nhưng, như với giáo phái đó và nhóm Paulician, phát triển các khái niệm đi xa hơn nữa. Người Cathar cũng theo nhị nguyên và  ngộ giáo nhưng tôn thờ một nữ thần là Sophia (sự hiểu biết) mà họ cho rằng Giáo hội đã bắt cóc bà và thông điệp của bà đã bị Giáo hội xuyên tạc. Các tăng lữ nam hay nữ thực hành việc tịnh thân và ăn chay, và sống trong cảnh đạm bạc tương phản một cách sâu sắc với giới tăng lữ Cơ đốc. Họ bị Giáo hội dập tắt qua cuộc Thập tự chinh Albigensian.

4

Giáo hoàng Innocente III và cuộc Thập tự chinh Albigensian. Tranh của họa sĩ vô danh

Waldensians (thế kỷ 12) là một giáo phái khác biệt với ba nhóm trên, do Peter Waldo (1140-1205) ở Lyon, Pháp, thành lập vào 1177. Waldo là một thương gia giàu có, muốn tìm cách tiếp cận gần gũi hơn với Chúa Trời dựa theo lời dạy của Christ, bố thí tất cả tài sản của mình cho người nghèo và giảng một học thuyết về tình giản dị, nghèo khó và phục vụ tha nhân. Trước khi phân phát của cải cho người nghèo, ông thuê người dịch Kinh Thánh ra tiếng Provencal quê quán ông (tiếng nói của nhóm thiểu số ở Provence thuộc miền nam nước Pháp), và giảng thông điệp của Christ trực tiếp từ bản dịch này. Waldo và các tin đồ theo ông kết án những khía cạnh vật chất của Giáo hội – nổi bật nhất là chuyện Hiến Tặng Constantine mà họ cảm thấy đi ngược với lời dạy của Christ – cũng như khước từ giá trị của phép bí tích (trừ phép rửa tội và thánh thể), sự tồn tại của lò lửa sám hối, và sự tôn thờ các thánh và Mary Vô Nhiễm. Vào năm 1179 khi Waldo kêu gọi Giáo hoàng Alexander III (phục vụ từ 1159 – 1181) chấp nhận giáo phái của mình, ông không được coi là dị giáo nhưng được khuyên nên thôi giảng đạo. Tuy nhiên sau đó, giáo phái bị kết án là chỉ trích Giáo hội, bị dán nhãn hiệu là dị giáo, và phải trốn chạy đến vùng núi Ý để trốn nạn bức hại.

Lollard (thế kỷ14) là những tín đồ theo giáo sĩ, triết gia và giáo sư tại Oxford người Anh John Wycliffe (1320-1384), người chủ trương cải cách triệt để Giáo hội. Tên của họ là do những người chỉ trích họ đặt, sử dụng một từ Hà Lan có tính xúc phạm nghĩa là người lúng búng cầu nguyện. John Wycliffe cho dịch Kinh Thánh từ Latinh ra tiếng Anh, nhờ đó ai cũng có thể đọc được bằng tiếng mẹ đẻ. Wycliffe được Oxford bảo vệ với quyền tự do diễn giải học thuật, nhưng sau vụ Nông dân Nổi dậy 1381, trong đó có ít nhất một lãnh tụ nổi tiếng là một tín đồ Lollard, nên cả Giáo hội lẫn Nhà nước ra tay bức hại đạo hữu. Vào năm 1395, nhóm Lollard ban hành văn kiện của họ có tên 12  Luận Điểm của Phái Lollard. Theo đó, họ lên án, ngoài những biện pháp và chính sách khác của Giáo hội, sự dính líu của Giáo hội vào những vấn đề thể tục của nhà nước, sự độc thân của tăng lữ, thuyết thần quyền tăng lữ, chi phí làm lễ cho người chết, Thập tự chinh, sự biến thể của lễ thánh thể, sự tôn thờ di hài các thánh, và việc hành hương. Họ bị bức hại suốt thế kỷ 15 những vẫn sống sót thành một phong trào bí mật và rồi xuất hiện như một giáo phái nổi tiếng sau cuộc Kháng Cách ở Anh (đạo Tin Lành).

Hussite (thế kỷ 15) là những tín đồ đi theo triết gia và nhà thần học Jan Hus (1369-1415), hiệu trưởng Đại học Charles ở Prague, vốn ngưỡng mộ công trình và chủ trương cải cách của Wycliffe. Hus và những người theo ông thường trích dẫn Wycliffe – vốn đã bị Giáo hội cấm đoán trong Vương quốc Bohemia – và đặt cơ sở giáo lý của mình trên những chú trương của ông. Ông không bị coi là dị giáo cho đến khi ông chống đối việc buôn bán sự xá tội – những tấm trát (giống như những lá bùa ở phương Đông: ND) do Giáo hội bán ra giúp những con chiên sau khi chết xuống địa ngục sẽ được miễn  giảm thời gian chịu hình phạt trong lửa địa ngục – mà Wycliffe cũng đã cực lực chống đối. Hus bị lôi ra tòa án dị giáo và bị xử thiêu sống trên cọc vào năm 1415. Cái chết của ông làm bùng lên những cuộc chiến Hussite trong khoảng 1419-1434 giữa tín đồ Hussite và những lực lượng trung thành với Giáo hội. Người Hussite sống sót sau những cuộc thập tự chinh chống lại họ và, như người Lollard, được biện minh trong thời kỳ Kháng Cách Tin Lành thắng lợi.

5

Quỷ Dữ Bán Lệnh Xá Tội/ Tranh của Packare

Kết Luận

Độc giả ngày nay có thể thấy khó hiểu tại sao không có ai đó phát động công cuộc cải cách triệt để sớm hơn. Câu trả lời, như đã nêu ở trên, là do sự độc quyền tuyệt đối của Giáo hội trong việc nắm giữ sự mê muội tôn giáo của nhân dân Âu châu. Nhìn lại và nhận ra điều gì nên làm khác đi và khi nào nên làm thì dễ, nhưng ngay cả trong cuộc sống cá nhân của mình, đôi khi ta cũng gặp khó khăn để nhận ra điều gì cần phải làm và hành động theo đó.

Không giống con người trong thời đại ngày nay, những người thời Trung Cổ có ít lựa chọn để thể hiện tinh thần. Một nông dân Pháp không thể tỏ ra yêu quí đạo Hồi khi Giáo hội của y liên tục đồng nhất người Hồi với ‘quỷ dữ’ và ngay cả còn chắc chắn hơn là không dám đến gần đạo Do Thái vì y dược răn dạy theo giáo lý của Nhà thờ cho rằng người Do Thái là ‘kẻ đã giết Jesus’. Bỏ những lựa chọn khác qua một bên, ngay sự tồn tại thực sự của địa ngục – một chốn giày vò triền miên bất tuyệt – cũng khiến cho sự cứu rỗi tâm linh cũng quan trọng như việc ăn uống mỗi ngày. Giáo hội tạo ra một quần chúng không thể tưởng tượng ra một cách thức sinh tồn mà không có nó và bóc lột dân chúng đó đến mức tối đa. Chỉ nhờ những nỗ lực của những con người gan dạ phi thường, cộng với tinh thần quật khởi của thời đại không còn có thể chịu đựng hơn nữa tính tàn bạo và vô luân của Giáo hội, mà giáo phái Cải cách Tin Lành mới được khai sinh và thói độc tài của Nhà thờ Trung cổ mới kết thúc.


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s