Bi kịch của một dân tộc: Cách Mạng Nga 1897- 1921 (Phần 3: Chương XI)

1

Tác giả Orlando Figes

Trần Quang Nghĩa dịch

Chương 11

Cuộc Cách Mạng của Lênin

 

i Nghệ Thuật Nổi Dậy

Một số cảnh kịch tính nhất của cách mạng được diễn ra trong ngôi trường dành cho các con gái của quí tộc. Học viện Smolny, một cung điện rộng rãi, màu vàng thổ, không hoa mỹ nằm ở ngoại vi thủ đô, đã bị bỏ trống từ ngày chế độ sa hoàng sụp đổ. Sau những Ngày Tháng Bảy ban Điều hành Xô-Viết đã bị buộc phải dời từ Điện Tauride bề thế về đây. Từ lúc này trở đi, nó trở thành, theo lời của Sukhanov, ‘vũ đài nội bộ của cách mạng’. Đại hội Toàn-Nga Thứ Hai vào tháng 10, nơi quyền lực Xô-Viết được tuyên bố, xảy ra trong phòng dạ vũ cột trắng, nơi ngày trước các cô nữ sinh đến đây học nhảy những điệu valse sang trọng và polka sôi nổi.

Smolny không có nét duyên dáng trầm mặc về kiến trúc của Điện Tauride. Như hầu hết các học viện nữ của thế kỷ 19, nó trông khắc khổ và đơn điệu, giống một nhà tù hơn là một nơi để mở mang trí óc và nâng cao tâm hồn. Tính khắc khổ này dường như phản ánh sự thay đổi tâm trạng trong số những người cách mạng tụ tập trong đó. Smolny giờ đây toát ra một không khí của sự nghiêm khắc, của những đêm không ngủ và những biến động hừng hực. John Reed cho rằng nó ‘vù vù như một tổ ong’. Cổng vào được một đội bảo vệ có vũ trang lầm lì canh gác, kiểm tra giấy phép vào cổng của mọi khách đến (Chính Trotsky cũng bị từ chối cho vào khi ông không tìm được giấy vào cổng). Những hành lang khung vòm vô tận, lờ mờ ánh đèn điện, ngồi hai bên là các binh sĩ đang nghỉ ngơi và hàng chồng báo chất lộn xộn. Mọi người vội vội vàng vàng và tiếng giày bốt nặng nề nện trên nền đá nghe vang dội điếc tai. Không khí nồng nặc mùi thuốc lá pha lẫn mùi nước tiểu; sàn nhà bừa bãi rác rến. Những bảng yết thị treo trên tường: ‘Vì sức khỏe của mình, yêu cầu các đồng chí giữ gìn vệ sinh chung!’ Nhưng không ai chú ý đến. Các phòng họp như doanh trại được chiếm làm văn phòng của các tổ chức cách mạng khác nhau. Trên cánh cửa mở ra đóng vào liên tục, vẫn còn treo bảng tên lớp nhưng dán qua chúng là những bảng tên các  phòng ban làm việc bên trong: Ủy ban Điều hành Xô-Viết Petrograd; Văn phòng Ủy ban Nhà máy; hoặc phòng họp kín của các đảng chính trị nào đó. Trung tâm cuộc sống của Smolny là phòng dạ vũ có trang trí cả đèn treo, nơi các phiên họp ồn ào của Xô-Viết được tổ chức; ở bên trên bục, nơi ban điều hành ngồi,là một khoảng tường trống, trước kia có treo chân dung của Sa Hoàng. Dưới tầng trệt, tại nơi trước đây là phòng ăn của nữ sinh, lúc nào cũng đông đúc công nhân và binh lính đói ăn; nhiều người đến Smolny không với lý do nào khác hơn là được cho ăn. Họ ngấu nghiến thức ăn, húp xì xụp trà nóng từ ấm nhôm, và hét những lời thô tục mà các thiếu nữ quí phái của Trường Smolny không thể nào tưởng tượng được.

Với Ủy ban Trung ương Bôn-se-vich đóng ở Phòng 36, Smolny trở thành một thách thức vật lý đối với sự tồn tại của Chính quyền Lâm thời. Phiên họp quyết định ngày 10/10 đã đặt cuộc nổi dậy vũ trang của Bôn-se-vich lên nghị trình. Nhưng họ chưa ấn định thời điểm. Đến lúc này hầu hết các lãnh đạo Bôn-se-vich vẫn còn chống đối yêu sách nổi dậy ngay lập tức của Lênin, trong khi một số muốn hoãn lại lâu hơn. ‘Nghị quyết 10/10 là một trong những nghị quyết tốt nhất mà Ủy ban Trung ương từng thông qua,’ Mikhail Kalinin tuyên bố, ‘nhưng khi nào nổi dậy xảy ra thì chưa chắc chắn – có thể trong một năm.’ Tâm trạng phân vân của đường phố là nguyên nhân chính có liên quan. Mọi người cảm nhận một tâm trạng mệt mỏi và bất mãn với chế độ của Kerensky. Cuộc chiến đã kéo dài quá lâu, dân chúng chán ngấy cảnh xếp hàng nửa đêm để mua bánh mì, trong khắp nhà máy và doanh trại có cảm tưởng chung là hiện trạng này không thể chịu đựng lâu hơn được nữa. Nhưng các công nhân và binh lính Petrograd có chịu xuống đường tham gia nổi dậy hay không? Nhiều người nhớ lại những Ngày Tháng Bảy, công nhân bị mất việc và bị đàn áp sau đó, nên sẽ ngần ngại gánh chịu một thảm bại khác. Tổ chức Quân sự Bôn-se-vich, đã theo dõi tâm trạng các khu lao động nghèo ở thủ đô, liên tiếp cảnh báo dù công nhân và binh sĩ bất mãn có cảm tình với các khẩu hiệu của đảng, họ vẫn chưa sẵn sàng xuống đường theo lời kêu gọi của đảng, mặc dù họ có thể xuống đường theo lời kêu gọi của Xô-Viết nếu Xô-Viết lâm nguy.

Không muốn đợi Đại hội Xô-Viết Toàn Nga, Lênin ghim những  hi vọng của mình vào Đại hội các Xô-Viết Miền Bắc, sẽ họp ở Petrograd vào ngày 11-13 tháng 10. Như Latsis nhớ, ‘kế hoạch là đại hội sẽ tự tuyên bố chính quyền và việc này sẽ khởi đầu mọi chuyện’. Lênin đã có mối liên hệ gần gũi với các lãnh đạo Bôn-se-vich vùng Baltic: chính họ đã triệu tập Đại hội Miền Bắc và sắp xếp cho nó được tổ chức ở Petrograd thay vì ở Helsingfors. Lênin đã trải qua một mùa hè trong vùng Baltic và đã chợt nghĩ ra đây chính là bệ phóng quan yếu cho cách mạng ở Nga cũng như trên phần còn lại của châu Âu. Ông đặc biệt có ấn tượng với nhiệt tình cách của người Latvia: họ cắt đặt vệ  sĩ cho ông và, trong những ngày đầu dưới nền cai trị Xô-Viết, họ đóng góp một số đông các mật vụ Cheka và nhân vật ưu tú của Hồng quân (Latsis, Eiduck, Peters, Smilga). Người Bôn-se-vich ở Riga đã thực sự kiểm soát Xô-Viết của họ ngay từ tháng 8, và Lênin bây giờ nhìn vào họ để áp dụng nguyên tắc quyền lực Xô-Viết vào nước Nga. * Trong một bức thư gởi Smilga, một trong những người thân cận nhất trong mùa hè lưu vong, Lênin đã nói rõ là mình xem cuộc nổi dậy ở Petrograd như là một cuộc xâm lăng quân sự từ vùng Baltic. ‘Dường như đối với tôi’, ông đã viết vào ngày 17/9, ‘chúng ta có thể chỉ cần sử dụng các binh sĩ ở Phần Lan và Hạm đội vùng Baltic và  họ có thể đóng một vai trò quân sự quan trọng.’ Đại hội Miền Bắc là để đưa ra dấu hiệu cho cuộc xâm lăng này. Smilga đã tổ chức nó theo sự thúc đẩy của Lênin và đã nắm vai trò chủ tịch. Phái đoàn Bôn-se-vich đến vũ trang đầy đủ và rõ ràng cho thấy mình sẽ trở thành tâm điểm của cuộc nổi dậy. Nhưng Lênin một lần nữa đâm ra bực tức: đa số các đại biểu đều thông qua nghị quyết thận trọng của Kamenev là giao việc thành lập chính quyền Xô-Viết cho Đại hội Toàn Nga, sẽ dự kiến nhóm họp ngày 20/10. Thậm chí trong vùng Baltic, vùng tiên phong được ưa chuộng của Lênin, dường như chưa có được sự hậu thuẫn đông đảo cho một cuộc nổi dậy theo lời kêu gọi của đảng.

*  Đừng tưởng là quyền lực Xô-Viết lúc nào cũng được xuất khẩu từ Nga.

 

Cùng một kết luận như vậy được đề xuất bởi chứng cứ được trình bày trong một buổi họp của Ủy ban Trung ương vào ngày 16/10. Các đại biểu của Tổ chức Quân sự Bôn-se-vich, Xô-Viết Petrograd, ủy ban nhà máy và các nghiệp đoàn dự họp đều cảnh báo trước nguy cơ có thể gặp phải khi tiến hành một cuộc nổi dậy trước khi Đại hội Xô-Viết khai mạc. Krylenko phát biểu quan điểm của Tổ chức Quân sự rằng tinh thần chiến đấu của binh lính đang giảm sút: ‘phải có điều gì đó chích vào họ, chẳng hạn doanh trại bị phá hủy, họ mới chạy ra đường nổi dậy’. Volodarsky từ Xô-Viết Petrograd khẳng định ‘ấn tượng chung . . . là không ai sẵn sàng chạy xuống đường trừ ra được Xô-Viết kêu gọi’. Tình trạng thất nghiệp tràn lan và số bị đuổi việc đã giữ chân họ lại, theo Shmidt từ các nghiệp đoàn. Shliapnikov nói thêm rằng thậm chí trong nghiệp đoàn nhà máy kim loại, nơi ảnh hưởng của đảng là lấn át, cuộc nổi dậy Bôn-se-vich không được nhiều người ủng hộ và những tin đồn về việc này thậm chí còn gây hoảng hốt’. Kamenev rút ra kết luận hợp lý: ‘không có chứng cứ thuộc bất kỳ loại nào cho thấy chúng ta phải ra tay trước ngày 20 (ngày Đại hội Xô-Viết dự kiến nhóm họp)’. Nhưng Lênin khăng khăng là cần phải chuẩn bị ngay lập tức và không thấy lý do gì phải đình hoãn chỉ vì những báo cáo quá ư thận trọng về tâm trạng quần chúng Petrograd: trong một cuộc đảo chính quân sự, đó là quan niệm của ông về việc chiếm đoạt quyền lực của mình, chỉ cần một lực lượng nhỏ, miễn là có trang bị vũ khí đầy đủ và kỷ luật tốt. Chính ảnh hưởng bao trùm của Lênin trong đảng mà ông làm được theo ý mình. Một phản nghị quyết do Zinoviev đưa ra ngăn cấm cuộc nổi dậy trước khi các phái đoàn Bôn-se-vich đến dự Đại hội Xô-Viết được tham vấn bị đánh bại với 15 phiếu chống 6, mặc dù số phiếu xít xao, so với đa số 19 chống 2 thuận theo lời kêu gọi mơ hồ của Lênin nổi dậy trong tương lai gần, cho thấy một vài lãnh đạo Bôn-se-vich nhận thức được tầm nghiêm trọng của việc nổi dậy trước Đại hội Xô-Viết, mặc dù không đủ để đứng lên công khai chống nhà độc tài vĩ đại. Điều này, sau hết, phải cần có can đảm

Vào cuối hội nghị Kamenev tuyên bố mình không thể chấp nhận nghị quyết của nó, mà theo quan điểm của ông, sẽ đưa đảng đến sự hủy diệt, và nộp đơn xin ra khỏi Ủy ban Trung ương để có thể mở chiến dịch công khai. Ông cũng yêu cầu triệu tập Hội nghị Đảng, mà Lênin tìm cách hoãn lại: có vẻ chắc chắn là nó sẽ chống đối lời kêu gọi nổi dậy trước Đại hội Xô-Viết. Vào ngày 18/10 Kamenev cho đăng quan điểm của mình trên tờ báo Novaia zhizri của Gorki. ‘Hiện thời’, ông viết, ‘xúi giục một cuộc nổi dậy vũ trang trước và độc lập đối với Đại hội Xô-Viết sẽ là một biện pháp vô phép tắc và nguy cơ cho giai cấp vô sản và cách mạng.’ Tất nhiên lời tuyên bố này là đuổi mèo ra khỏi bao: các tin đồn về vụ nổi dậy Bôn-se-vich đã lan truyền hàng tuần nay, và bây giờ âm mưu cuối cùng đã được phơi bày. Trotsky buộc lòng phải bác bỏ các tin đồn trong Xô-Viết Petrograd, nhưng việc làm này của ông không mấy thuyết phục như thường lệ. Lênin giận điếng người, tố cáo Kamenev và Zinoviev trên báo chí Bôn-se-vich. ‘Kẻ phá hoại’, ‘bọn phản bội’, ‘vu khống trắng trợn’ và ‘lũ tội phạm’ – những cụm từ như thế đầy dẫy trong những bức thư thịnh nộ ông gởi vào ngày 18 và 19 tháng 10. ‘Ngài Zinoviev và ngài Kamenev’ (đây là cách xưng hô sĩ nhục cực kỳ – họ giờ không còn là đồng chí của ông nữa) nên ‘bị trục xuất ra khỏi đảng’. Đúng là hành xử của một nhà độc tài.

Bằng cách in những bức thư này, Lênin đưa cuộc vận động nổi dậy ra công khai. Ông vẫn luôn luôn dựa các lập luận của mình trên căn bản ưu tiên là chiếm quyền (trước khi Đại hội Xô-Viết) vì có nguy cơ – mà ông đánh giá quá đáng – rằng Chính quyền Lâm thời có thể không cho phép Đại hội nhóm họp. Tất cả các báo cáo địa phương đã nêu rõ là, trong khi các công nhân và binh lính Petrograd sẽ không xuống đường nếu chỉ có lời kêu gọi của đảng, nhưng nếu Xô-Viết bị đe dọa thì lại khác. Điều này đã là sự thực từ cuộc khủng hoảng Kornilov, khi ý niệm phổ biến rằng một ‘vụ phản cách mạng’ còn lẩn khuất trong bóng tối của chế độ Kerensky đã lần đầu bắt rễ. Nếu người Bôn-se-vich muốn được sự hậu thuẫn trên đường phố thêm một lần nữa, họ sẽ phải thuyết phục dân chúng rằng Xô-Viết đang bị lâm nguy. Đối thủ của họ sẽ làm điều này cho họ

Khi tin tức về âm mưu của Bôn-se-vich đã công khai, các lãnh đạo Xô-Viết liền quyết định hoãn Đại hội Xô-Viết đến 25/10. Họ hi vọng thêm năm ngày sẽ cho họ cơ hội tập hợp được những người hậu thuẫn ở các tỉnh lỵ xa xôi. Nhưng nó cũng cho người Bôn-se-vich thêm thời gian cần thiết để chuẩn bị lần cuối cùng cuộc nổi dậy của mình. Hơn nữa, nó khiến cho quần chúng tin được lời kết án của họ rằng các lãnh đạo Xô-Viết đang toan tính hủy bỏ Đại hội Xô-Viết. Chắc chắn các lãnh đạo Xô-Viết hội tiếc đã triệu tập nó: khi họ làm thế, vào thời điểm Hội nghị Dân chủ, quả lắc của người Bôn-se-vich chưa lên cao nhất; nhưng khi Đại hội đển gần, họ biết rằng mình đã bị đánh bại thấy rõ.

Lẽ ra các lãnh đạo Xô-Viết nên tập trung đòi hỏi những biện pháp đàn áp mạnh mẽ để chống lại mối đe doạ Bôn-se-vich. Sự thật là, cho dù với đa số tại Đại hội Xô-Viết, các nghị quyết như giấy lộn của họ không đủ để gạt đi những lưỡi lê của người Bôn-se-vich. Những người Men-se-vich và SR thì không đành sử dụng những biện pháp như thế vì còn nghĩ đến tình đồng chí với Đảng Bôn-se-vich. Họ không thể quên là chỉ một vài tháng trước đây họ đã từng là bạn chiến đấu trong phong trào cách mạng bí mật (và cũng không nhìn thấy là chỉ vài tháng sắp tới họ sẽ trở thành nạn nhân của Bộ máy Khủng bố Bôn-se-vich). Họ tự hạn chế mình với những câu hỏi nhằm mục đích bắt bí người Bôn-se-vich. Họ dậm chân và yêu cầu người Bôn-se-vich tuyên bố những kế hoạch của mình trước Xô-Viết. ‘Tôi muốn trả lời có hay không,’ Dan gằn mạnh, như thế người Bôn-se-vich chịu trả lời.

Còn cách hành xử của Kerensky cũng thiển cận không kém. Trong những tuần cuối cùng của Chính quyền Lâm thời hành vi của ông bắt đầu giống hành vi của vị Sa Hoàng cuối cùng: cả hai đều từ chối nhận thức mối đe doạ cách mạng nhằm vào quyền lực của mình. Với Nicholas sự tự mãn bắt nguồn từ sự tuyệt vọng và cam chịu sự an bài của số mệnh; nhưng đối với Kerensky nó giống như là hậu quả của tính lạc quan điên rồ của ông. Việc được nhân dân ái mộ trong những ngày đầu cách mạng đã làm ông loạn trí. Ông đã hóa ra tin rằng mình do ơn trên giao phó trọng trách dẫn dắt nhân dân đến tự do và, như Sa Hoàng, giam mình trong Cung điện Mùa Đông, đủ xa rời thực tế để có thể thắc mắc niềm tin này còn đúng hay sai. Như Nicholas, ông cho quây quần quanh mình những người xu nịnh không dám nói thật; và tiếp tục làm nội các yếu đi vì bàn bạc không ngừng chuyện xào xáo nó. Ông không biết và không muốn biết mức độ thực sự của ý dân đối với mình.

Chắc hẳn ông không nghe thấy những trò đùa lan truyền khắp xứ trong những tuần cuối cùng của chế độ ông: ‘Hỏi: Nước Nga ngày nay và nước Nga cuối năm ngoái có gì khác nhau? Trả lời: Năm ngoái chúng ta có Alexandra Fedorovna (Hoàng hậu), nhưng bây giờ chúng ta có Alexander Fedorovich (Kerensky).’ Ngài Thủ tướng sống cô lập gần như hoàn toàn. Người hùng của nhân dân trong mùa xuân đã trở thành kẻ gian hùng của họ trong mùa thu. Nhiều tin đồn lan truyền về ‘sự bại hoại đạo đức’ của ông (như ở triều đại Romanov): về cuộc sống xa hoa của ông trong Cung điện Mùa Đông; về việc ông gian díu với Elena Biriukova, em họ của vợ ông, cùng sống với gia đình Kerensky trong cung; về việc ông chơi móc-phin và cô-cain. Bạn bè và người thân gọi điện cho vợ ông để bày tỏ tình cảm sâu sắc của họ. ‘Tôi không thể hiểu tại sao họ quá quan tâm đến vậy,’ vợ ông nhớ lại, ‘nhưng rồi hoá ra báo chí cánh tả phao tin là Kerensky đã bỏ vợ và chạy theo một cô đào hát.’ Rồi lại có tin vịt cho rằng ông là người Do Thái, giữa thời buổi chống Do Thái đang lên cao, việc này tác hại đến hình ảnh của ông trước quần chúng. Chính Kerensky cũng nhớ là, trong những ngày Bôn-se-vich chiếm quyền lực, ông đã trông thấy hàng chữ viết trên tường: ‘Đả đảo Tên Do Thái Kerensky, Vạn Tuế Trotsky!’ Người ta cũng đồn rằng Kerensky thích mặc quần áo phụ nữ. Thậm chí sau này khi Kerensky đã chuồn khỏi Cung điện Mùa Đông, người ta đồn rằng ông hóa trang thành một nữ y tá.

Không chỉ Kerensky mất uy tín trên đường phố. Các đồng minh Tây phương cũng quay lưng chống ông sau khủng hoảng Kornilov. Bộ Ngoại rgiao Anh rõ ràng tin vào các tin đồn về cuộc sống riêng tư của ông, chẳng hạn thư ký của ông, David Soskice, là một đặc vụ Đức và phe Bôn-se-vich và rằng Kerensky chuẩn bị thiết lập nền hòa bình riêng lẻ với Đức. Nabokov, đại diện của Chính quyền Lâm thời tại London, cho rằng người Anh đã quyết định phủi tay loại Kerensky, cho rằng ông đã hết thời, một khi những cải cách Kornilov đã bị ném bỏ.

Thậm chí trong giới trí thức dân chủ, có thời đã tung hô ông là người hùng nhân dân, giờ quay ra sĩ nhục ông. Người bảo trợ lâu năm, nữ thi sĩ và kosalon Zinaida Gippius, viết trong nhật ký của mình vào ngày 24/10: ‘Không ai muốn Bôn-se-vich, nhưng không ai sẵn sàng chiến đấu vì Kerensky.’ Brusilov, từ khi bị thôi chức Tổng Tư lệnh đã ủng hộ việc vận động lực lượng dân quân nhằm chiến đấu chống người Bôn-se-vich, thấy rằng mình không thể tập hợp những người tình nguyện cũng như tiền bạc để mua linh đánh thuê. Mọi người nguyền rủa Bôn-se-vich nhưng không ai sẵn sàng làm gì cả. Giới tư sản và những nhóm cánh tả không buồn trông cậy vào Chính quyền Lâm thời, và thậm chí mong chờ nó tiêu tùng. Không ai muốn bảo vệ nó, nhất là những người bảo hoàng. Họ muốn người Bôn-se-vich chiếm đoạt quyền lực, tin rằng bọn họ sẽ không sống sót lâu và sẽ đưa đất nước đến chỗ suy sụp hoàn toàn đến nỗi toàn bộ bọn xã hội chủ nghĩa sẽ mất hết uy tín, và rồi nhưng người cánh Hữu sẽ áp đặt nền chuyên chính của họ.

Kerensky tiếp tục phớt lờ vận số đang thoái trào của mình. Không có toan tính nào nhằm nắm quyền kiểm soát Smolny, hoặc bắt giữ các lãnh đạo Bôn-se-vich, hoặc cũng cố việc phòng vệ thủ đô, trong nửa đầu tháng 10, khi những biện pháp như thế có chút cơ may thành công. Ông dường như tin tưởng rằng vụ nổi dậy của Bôn-se-vich sẽ rồi cũng cùng chung số phận như con ngáo ộp những Ngày Tháng Bảy. Thậm chí ông còn mong Bôn-se-vich ra tay, vì ông tin một cách ngây thơ rằng nhờ đó ông có thể thanh toán họ một lần cho tất cả. ‘Tôi sẵn sàng cầu nguyện để mong nổi dậy xảy ra,’ ông bảo Nabokov vào ngày 20/10. ‘Tôi có lực lượng lớn hơn cần thiết. Bọn họ sẽ bị đập nát tan tành.’*

* Khi Kerensky chuồn ra khỏi thủ đô vào ngày 25/10 ông mang theo một số tiền nhỏ trong tài khoản ngân hàng: số tiền rút ra cuối cùng rất khiêm nhượng, vào ngày 24/10, cho thấy đến phút cuối cùng này, ông còn không tin mình bị lật đổ.

 

Tin là mình sẽ thắng lợi, Kerensky tuyên chiến với Bôn-se-vich. Ông thông báo kế hoạch chuyển lực lượng đồn trú Petrograd đến Mặt phía Bắc, nơi  Đức đang tiến quân về hướng thủ đô. Như trước khủng hoảng Tháng Bảy, ắt hẳn ông thấy trong mối đe doạ Đức cái cớ tuyệt vời để đuổi khỏi thủ đô bọn binh lính ngỗ ngược; và, như trong Tháng Bảy, sự giải tán quân đồn trú sẽ làm cuộc nổi dậy Bôn-se-vich thất bại. Đây quả là một tính toán sai lầm chết người. Nó khiến người ta tin vào lời kết tội của người Bôn-se-vich là có ‘âm mưu phản cách mạng’ trong giới chính quyền – một lời kết án họ cần có để tập họp sự hậu thuẫn cho một cuộc nổi dậy sắp diễn ra. Người Bôn-se-vich tuyên bố rằng Kerensky đang có kế hoạch bỏ thủ đô để hủy Đại hội Xô-Viết và thủ tiêu cách mạng. Những nỗi e sợ như thế lên đến cao độ khi Rodzianko, Cựu Chủ tịch Duma, xúi giục Kerensky làm việc ấy trong một bài diễn văn được đăng trong rộng rãi trên báo dưới đầu để: ‘Mặc xác Petrograd!’

Đây là bầu không khí chính trị có gắn ngòi nổ trong đó Ủy ban Cách mạng Quân sự (MRC) có thể can thiệp vào quyền hành của Chính quyền Lâm thời bên trong lực lượng đồn trú Petrograd và trở thành lực lượng tổ chức lãnh đạo cuộc nổi dậy Bôn-se-vich. Tất cả đều xảy ra trong vấn đề chỉ một vài ngày – và bí quyết cho thành công của MRC là nó đóng vai trò một bộ phận phòng vệ của Xô-Viết. MRC được thành lập vào giữa tháng 10, và có buổi họp đầu tiên vào ngày 20. Như Ủy ban Xô-Viết Chống Phản Cách Mạng, đã đi lên trong thời gian khủng hoảng Kornilov, nó được quan niệm như một bộ phận bảo vệ cách mạng (chống bọn Đức cũng như bọn phản cách mạng). Văn phòng của nó nằm trên tầng ba của Smolny, gồm ba đảng viên Bôn-se-vich và hai đảng viên SR Tả khuynh, với P. E.Lazimir, một SR Tả khuynh, làm chủ tịch cho có vị. Điều này khiến nó có vẻ là một tổ chức của Xô-Viết, một nhân tố quan trọng để lôi kéo binh lính. Nhưng thật ra MRC là một tổ chức Bôn-se-vich. Lãnh đạo thực sự của nó là Trotsky,  Antonov-Ovseenko, và thủy thủ vùng Baltic Dybenko, người yêu râu đen to con của  Kollontai (đáng tuổi mẹ anh). Vai trò của các SR khuynh tả chỉ là ‘ngụy trang’ theo lời Trotsky để che giấu ý đồ đảo chính của Bôn-se-vich. Sự kiện mà người SR tự cho phép bị lạm dụng trong trường hợp này đủ nói lên tất cả về tính ngây thơ chính trị của họ. Họ là các con cừu trong tay các con sói Bôn-se-vich. Khi MRC quyết định phát động việc nổi dậy, trong những giờ đầu tiên ngày 25/10, hai đảng viên SR thậm chí không có mặt ở đó.

Mối đe đọa bị chuyển ra Mặt trận ngay lập tức làm bùng phát cơn nổi loạn cùng khắp lực lượng đồn trú Petrograd. Một số lớn binh sĩ bất tuân lệnh Tổng Tham mưu và chuyển sang trung thành với MRC. MRC lập tức gởi các ủy viên đến thay thế các chỉ huy đơn vị. Các buổi họp binh sĩ bày tỏ sự sẵn sàng ‘xuống đường’ chống lại Chính quyền Lâm thời nếu được Xô-Viết Petrograd kêu gọi. Thậm chí trung đoàn Cô-dắc từng trung thành với chính quyền cũng đi về phe nổi loạn hoặc đứng trung lập. Vào ngày 21/10 MRC tuyên bố quyền chỉ huy lực lượng đồn trú: đây là hành động đầu tiên của vụ nổi dậy. Tổng Tham mưu tung ra một nỗ lực cuối cùng để vớt vát quyền hành bằng cách tìm một thỏa hiệp với MRC. Nhưng đã quá muộn. Các đơn vị đồn trú đã nằm dưới quyền kiểm soát của các ủy viên. Vào ngày 23/10 MRC mở rộng quyền lực của mình sang Pháo đài Peter và Paul, chĩa đại bác về hướng Cung điện Mùa Đông. Chính quyền Lâm thời đã mất quyền kiểm soát quân sự đối với thủ đô hai ngày trước khi cuộc nổi dậy vũ trang bắt đầu. Đây là sự kiện cốt lõi của toàn bộ vụ nổi dậy: không có nó người ta không thể giải thích thắng lợi quá ư dễ dàng của người Bôn-se-vich. Vào ngày 25/10 công việc quan trọng nhất là của bất kỳ cuộc cách mạng thành công nào – việc nắm trọn lực lượng đồn trú trong thủ đô – đã được hoàn tất; Chính quyền Lâm thời không thể tự vệ; và người Bôn-se-vich chỉ có mỗi việc là bước vào Cung điện Mùa Đông và bắt giữ các bộ trưởng.

Điểm nổi bật về vụ nổi dậy Bôn-se-vich là hiếm có vị lãnh đạo Bôn-se-vich nào muốn nó xảy ra cho đến vài giờ trước khi nó bắt đầu. Cho đến tận chiều tối ngày 24/10 đa số Ủy ban Trung ương và MRC vẫn chưa hình dung việc lật đổ Chính quyền Lâm thời trước khi khai mạc Đại hội Xô-Viết. Trotsky, người thực sự nắm quyền lãnh đạo đảng khi Lênin vắng mặt, đã nhắc đi nhắc lại cần phải có kỷ luật và kiên nhẫn. Vào buổi sáng ngày 24 Kerensky đã ra lệnh đóng cửa hai tờ báo Bôn-se-vich. Trotsky quyết định giữ vững không bị lôi kéo bởi ‘sự khiêu khích’ này: MRC nên đặt trong tình trạng báo động; các cơ sở chiến lược trong thành phố nên đánh chỉ như là một biện pháp phòng thủ chống lại những mối đe doạ ‘phản cách mạng’ sắp tới; nhưng, như ông nhấn mạnh tại một buổi họp các đại biểu Đại hội Bôn-se-vich vào buổi chiều, ‘thậm chi sử dụng một xe bọc sắt giờ đang bảo vệ Cung điện Mùa Đông để bắt giữ chính quyền cũng là một sai lầm. . . Đây là phòng thủ, các đồng chí ạ. Đây là phòng thủ.’ Vào  tối hôm đó, ở Xô-Viết Petrograd, Trotsky tuyên bố – và có đủ lý do để tin tưởng – rằng ‘ một xung đột vũ trang hôm nay hoặc ngày mai, trước ngày Đại hội Xô-Viết, không nằm trong kế hoạch của chúng ta.’

Có những lý do rõ ràng là không nên miễn cưỡng trong giờ phút cuối cùng này. Người Bôn-se-vich cần sự chuẩn y của Xô-Viết để hợp pháp hóa việc cướp chính quyền của mình; không có nó họ chắc chắn không thể trông cậy vào sự hậu thuẫn của binh lính và công nhân, và thậm chí có nguy cơ phải đánh nhau với họ. Các đại biểu Xô-Viết đã đến để dự phiên khai mạc của Đại hội vào ngày 25, và từ thành phần của họ có thể chắc chắn rằng sẽ có một đa số vững chắc ủng hộ quyền lực Xô-Viết. Về phần Chính quyền Lâm thời – vâng, họ đang càng lúc càng tỏ ra lâm thời, và chắc chắn sẽ sụp đổ cho dù bị  đánh nhẹ. Vào tối ngày 24 Tiền Nghị Viện * đã thông qua một kiến nghị không tin cậy vào Chính quyền Lâm thời. Thậm chí Dan và Gots, trước đây nằm trong số những người ủng hộ liên minh bướng bỉnh nhất, cũng bỏ rơi Kerensky và kêu gọi thành lập một chính quyền dân chủ cam kết hòa bình và cải cách xã hội triệt để. Họ muốn quảng bá tuyên bố này như một văn kiện lịch sử và cho dán trên tường khắp thủ đô ngay tối hôm đó, với hi vọng có thể xoa dịu những người nổi dậy tiềm năng và củng cố chiến dịch cho một nghị quyết hòa bình về vấn đề quyền lực qua việc thành lập một liên minh xã hội chủ nghĩa. Có lẽ đã quá muộn cho điều này: lấy các sắc lệnh trên giấy để đẩy lùi mũi súng của Bôn-se-vich. Vậy mà thậm chí trong những giờ phút cuối cùng này, vẫn còn có lý do để hi vọng có thể đi đến thỏa hiệp. Vào tối ngày 24 Kamenev vẫn còn vội vàng lượn quanh  Smolny cố tranh thủ một nghị quyết kêu gọi Đại hội thành lập một chính quyền xã hội chủ nghĩa gồm tất cả đảng Xô-Viết; và SR, Men-se-vich, mà các đại biểu của họ đến  muộn trong đêm, cũng kịp có mặt để ủng hộ chương trình này.

*  Tiền Nghị Viện được thành lập sau Hội nghị Dân chủ gồm 135 SR, 92 Men-se-vich, 30 Xã hội Chủ nghĩa Nhân dân và 75 Kadet; Bôn-se-vich chiếm 58 ghế.

 

Tuy nhiên, trong lúc đó, cuộc nổi dậy của Bôn-se-vich đã khởi động và tăng tốc. Dù Trotsky kêu gọi phải có kỷ luật, thật khó để ngăn các hoạt động phòng thủ của MRC biến thành cuộc tổng công kích. Khi đêm xuống, các đám đông công nhân và binh sĩ Bôn-se-vich tràn xuống trung tâm thành phố. Những lô cốt của chính quyền dựng trên cầu bị Hồng Vệ binh đánh chiếm. Họ dựng lên chướng ngại vật và tuần tra thành phố bằng xe bọc sắt, trong khi đó những người xem hát khuya vội nhanh chân về nhà. Vào đầu giờ sáng, các lực lượng Bôn-se-vich đã chiếm quyền kiểm soát các ga tàu, bưu điện, ngân hàng nhà nước, tổng đài điện bảo và trạm điện lực. Hồng Vệ binh đã chiếm lấy các trụ sở cảnh sát và bắt đầu thi hành chức năng của cảnh sát. Trên hết, bọn nổi dậy đã kiểm soát gần như toàn bộ thành phố chỉ trừ vùng trung tâm quanh Cung điện Mùa Đông và Quảng trường St Isaac. Ẩn nấp bên trong Cung điện Mùa Đông, thậm chí các bộ trưởng của Kerensky không thể kiểm soát được đèn đóm hoặc điện lực. Một kỹ sư Bôn-se-vich tham gia chiếm đóng Ga Nikolaevsky nhớ mình đứng gác tại bức tượng Alexander III cỡi ngựa:

Đêm đó trời rất lạnh. Người ta có thể cảm nhận được gió bấc thấu đến tận xương. Trên đường phố kế cận Ga Nikolaevsky từng nhóm kỹ sư chụm vào nhau, run lập cập vì lạnh, và nhìn chằm chằm vào đêm tối để canh chừng động tĩnh. Ánh trăng tạo một khung cảnh thê lương. Các khối nhà trông như những lâu đài trung cổ, và các kỹ sư bước đi với bóng đen to sầm của mình đi theo.

 

HÌNH ẢNH CỦA NĂM 1917

1

52 Chính quyền Lâm thời Đầu Tiên trong Điện Marinsky. Hoàng thân Lvov ngồi ở trung tâm, Miliukov thứ hai từ trái, trong khi Kerensky đứng sau ông. Chú ý là các chân dung của sa hoàng (Alexander II và III) đã bị gỡ bỏ.

2

53 Một thời điểm hiếm hoi của tình đoàn kết quốc gia: lễ an táng các nạn nhân trong Cách Mạng Tháng Hai trên Sân Mars ở Petrograd, ngày 23/3/1917.

3

54 Một phiên họp của Xô-Viết các Đại biểu Quân nhân trong Sảnh Catherine của Điện Tauride.

4

55 Các bồi bàn nam nữ của Petrograd đình công. Băng rôn ghi: ‘Chúng tôi đòi quyền tôn trọng đối với bồi bàn như những con người.’ Ba băng rôn khác kêu gọi chấm dứt hành vi lăng nhục của việc cho tiền boa. Nhận xét là người đình công ăn mặc rất tươm tất – có thể lầm họ với các công dân tư sản – vì đây là cuộc biểu tình đòi quyền nhân phẩm.

5

56 Hội nghị Đại biểu Nông dân Toàn Nga tại Tòa Nhà Nhân Dân ở Petrograd, ngày ⅘. Một đại biểu quân nhân ( đứng trong sảnh) đón tiếp các đại biểu (trên các ban-công). Trên ban-công thứ hai bên trái từ trái sang phải là bốn lãnh đạo lâu năm của SR: : Viktor Chernov, Vera Figner, Ekaterina Breshko-Breshkovskaya và N. D. Avksentiev.

6

57 Fedor Linde dẫn đầu Trung đoàn Phần Lan đến Điện Marinsky
vào ngày 20/4 để phản kháng tiếp tục cuộc chiến vì các mục tiêu đế quốc.

7

58 Kerensky bắt chước dáng điệu của Bonaparte trong một lần diễn thuyết giữa tháng 5 với
 các binh sĩ ở Mặt trận.

8

59 Giáo trưởng Moscow Nikon ban phước lành cho Tiểu đoàn Tử thần Nữ Quân nhân trên Quảng trường Đỏ ở Moscow trước khi lên đường ra Mặt trận vào tháng 6.

9

60 Tướng Kornilov được đón tiếp như một người hùng bởi các thành viên cánh hữu của Hiệp hội Sĩ quan khi ông đến  Moscow dự Hội nghị Nhà Nước vào 12/8.

10

61 Các nữ chiến binh trong Tiểu đoàn Tử thần đang đợi đợt tấn công cuối cùng vào Cung điện Mùa Đông, ngày 25/10/1917. Khi Aurora nã loạt pháo đầu tiên các phụ nữ trở nên khủng hoảng và phải xuống cố thủ trong tầng hầm.

11

62 Thêm những người phòng thủ cuối cùng của Kerensky, ẩn nấp bên trong Cung điện Mùa Đông, đợi cuộc tấn công của lực lượng Bôn-se-vich ngày 25/10.

12

63 Học viện Smolny, trụ sở của Xô-Viết và trung tâm chỉ huy của
 Đảng Bôn-se-vich, vào đầu tháng 10.

13

64 Hồng Vệ binh của Nhà máy Vulkan ở Petrograd. Chú ý cà vạt và áo vét của nhiều lính gác.

Những thành công sớm sủa này càng củng cố lời kêu gọi chiếm lấy chính quyền ngay lập tức của Lênin. Các lãnh đạo Bôn-se-vich không muốn lặp lại những Ngày Tháng Bảy, khi do dự ban đầu của họ đã đưa đến hậu quả thảm bại. Khi tin tức về những thắng lợi đầu tiên đến tai họ, áp lực phải kiểm soát tình hình tăng lên và phát động cuộc nổi dậy. Sự can thiệp của Lênin có tính quyết định. Bó mình trong căn hộ của Fofanova, ông càng lúc càng nóng ruột khi tình hình biến chuyên. Lúc 6 giờ chiều ông nguệch ngoạc lời kêu gọi tuyệt vọng đến đảng bộ Petrograd, thúc giục họ phát động cuộc nổi dậy trong một ít giờ tới, và ra lệnh Fofanova mang thư đến Smolny. Đại hội Xô-Viết dự kiến sẽ khai mạc chiều hôm sau, và trừ khi người Bôn-se-vich đã cướp chính quyền lúc đó, toàn bộ chiến lược chính trị của ông sẽ tiêu tan. Đến 10 giờ tối Lênin không thể chịu đựng thêm được nữa. Ông mặc quần áo với mớ tóc giả và mũ lưỡi trai công nhân, quấn băng quanh đầu giả bị thương, phóng tới Smolny, tháp tùng là người Bôn-se-vich Phần Lan, Eino Rakhia. Leo lên chiếc xe điện trống trơn đi qua khu Vyborg vắng vẻ, Lênin hỏi tới tấp cô xét vé tội nghiệp về tình hình mới nhất và, khám phá ra cô là một người thiên tả, trêu chọc cô bằng những lời khuyên về hành động cách mạng. Từ ga Phần Lan hai người đàn ông tiếp tục lội bộ. Khi đến gần Điện Tauride một đoàn tuần tra chính quyền chặn họ lại, nhưng, theo Rakhia, tưởng lầm Lênin, với bộ quần áo tệ hại nhất, là một tên say rượu vô hại nên cho họ đi qua. Người ta có thể tự hỏi lịch sử sẽ biến đổi ra sao nếu Lenin bị bắt.

 

Một lúc trước nửa đêm cuối cùng họ cũng đến Smolny. Trụ sở vẫn còn rực sáng ánh đèn, như một con tàu khách đi biển trong biển đêm tối tăm. Xe tải và xe bọc sắt vội vã tới lui chở đầy các binh lính Bôn-se-vich và súng ống. Súng máy đã được án ngữ bên ngoài cổng, nơi các Hồng Vệ binh ngồi sưởi ấm quanh một đống lửa, kiểm tra người đi vào bộ chỉ huy của cuộc nổi dậy. Lênin không có giấy phép và, dưới dáng dấp ngụy trang, không Hồng Vệ binh nào nhận ra ông; và ông chỉ xoay sở vào được bằng cách len lỏi qua đám đông. Ông đi ngay lập tức đến Phòng 36, nơi đó người Bôn-se-vich đang họp kín. Ông hạch sách các đồng chí của mình tại sao còn chần chừ cướp chính quyền. Một phiên họp của Ủy ban Trung ương được vội vã triệu tập và, mặc dù không được ghi biên bản, những nhân chứng có mặt tại đó tất cả đều nhất trí là chính Lênin tạo được ảnh hưởng quyết định làm biến đổi tâm trạng phòng thủ thành tâm trạng tấn công. Ủy ban Trung ương cuối cùng ra lệnh cuộc nổi dậy bắt đầu. Một bản đồ thành phố được mang vào và các lãnh đạo Bôn-se-vich chúi mũi nghiên cứu, vạch ra những đường tấn công chính và cắt đặt nhiệm vụ tác chiến.

Trong thời gian giải lao, Lênin đề nghị thảo ra một danh sách chính quyền Bôn-se-vich để trình lên Đại hội Xô-Viết ngày hôm sau. Vấn đề nổi lên là gọi tên chính quyền mới là gì và thành viên của nó gồm những ai. Cái từ ‘Chính quyền Lâm thời’ nghe đã lỗi thời, trong khi tự gọi mình là ‘bộ trưởng’ dường như quá kiểu cách và quan liêu. Nói cho cùng, người Bôn-se-vich thích tự xem mình là một tổ chức tranh đấu: họ ăn vận áo jacket da màu đen và mang giày bốt quân đội, trong khi phần đông những đảng chính trị khác mặc đồ lớn lịch sự.* Chính Trotsky là người đề xướng trước tiên nên gọi các bộ trưởng là ‘dân ủy’ bắt chước người Jacobin. Mọi người đều tỏ ra thích đề xuất này. ‘Vâng, tên đó nghe hay đấy,’ Lênin nói, ‘ nghe có mùi cách mạng. Và chúng ta có thể gọi chính quyền là “Hội đồng Dân uỷ”.’ Các chức vụ bộ trưởng khác nhau được bổ nhiệm với một không khí phấn chấn dù Kerensky vẫn còn đó. Lênin vươn người trên sàn nhà, thoải mái và toại nguyện. Ông trêu chọc Kamenev cứ cảnh báo là đảng không thể nắm giữ được quyền hơn nửa tháng. ‘Đừng bận tâm,’ Lênin châm chích, ‘khi, trong thời hạn hai năm, chúng ta vẫn còn nắm quyền, lúc đó anh sẽ nói chúng ta không thể sống lâu hơn hai năm.’

 

*  Chỉ dưới thời Stalin, khi người Bôn-se-vich bắt đầu tự gọi mình là ‘Bộ trưởng’, họ mới trở lại mặc vét.

***

Ít có sự kiện lịch sử nào bị bóp méo bằng truyền thuyết nhiều như những sự kiện 25/10/1917. Hình ảnh của cuộc nổi dậy Bôn-se-vich, như là cuộc đấu tranh đẫm máu của hàng vạn người với hàng ngàn chiến sĩ ngã xuống như những anh hùng, là nhờ vào bộ phim Tháng Mười – tác phẩm xuất sắc nhưng đậm chất tuyên truyền xuyên tạc của Eisenstein nhân kỷ niệm 10 năm của sự kiện – phổ biến hơn là tính chân thật lịch sử. Cách Mạng Xã hội Chủ nghĩa Tháng Mười Vĩ Đại, như được gọi trong huyền sử Xô-Viết, thực tế chỉ mang một tầm vóc nhỏ, thực tế không hơn một cuộc đảo chính quân sự, xảy ra mà không gây chú ý nhiều tới đa số dân chúng Petrograd. Các nhà hát, nhà hàng và xe điện vẫn hoạt động như bình thường khi người Bôn-se-vich chiếm lấy quyền lực. Toàn bộ cuộc nổi dậy có thể đã hoàn thành trong vòng sáu giờ, nếu không vì sự thiếu năng lực đến mức nực cười của phe nổi dậy, làm mất thêm 15 giờ. Cuộc tiến công ‘như vũ bão’ huyền thoại vào Cung điện Mùa Đông, nơi bộ sậu của Kerensy đang họp phiên cuối cùng, giống một vụ bắt giữ người thường lệ tại nhà, vì hầu hết lực lượng phòng vệ cung điện đã về nhà vì đói và thất vọng, trước khi cuộc tấn công bắt đầu. Thiệt hại duy nhất đối với cung điện trong toàn bộ vụ việc là một mái gờ bị mẻ và một cửa sổ ở tầng ba bị bắn nát.

Kế hoạch của Bôn-se-vich thật đơn giản: các binh sĩ đồn trú, Hồng Vệ binh và thủy thủ Kronstadt phải chiếm Điện Marinsky và giải tán Tiền Nghị Viện; yêu cầu Chính quyền Lâm thời đầu hàng và, nếu họ từ chối, tiến chiếm Cung điện Mùa Đông khi có hiệu lệnh từ Pháo đài Peter và Paul và tàu tuần dương Aurora của Baltic. MRC hi vọng hoàn thành sứ mạng vào trưa – thời điểm Lênin trình bày việc chiếm quyền trước Đại hội Xô-Viết như một sự đã rồi. Lúc 10 giờ sáng, như biết trước thắng lợi chóng vánh, nhà lãnh tụ Bôn-se-vich đã đặt những nét chấm phá cuối cùng cho tuyên ngôn của ông. ‘Hỡi các công dân Nga!’, thông báo sự lật đổ Chính quyền Lâm thời và chuyển giao quyền lực về tay MRC.

Phần đầu tiên của kế hoạch trót lọt: ngay trước giữa trưa khi một nhóm binh sĩ Bôn-se-vich và thủy thủ xông vào Điện Marinsky và ra lệnh các đại biểu giải tán. Nhưng sau đó những hỏng hóc kỹ thuật sơ đẳng buộc MRC hoãn lại các cuộc tác chiến  quanh Cung điện Mùa Đông cho đến 3 giờ chiều, rồi dời tiếp đến 6 giờ, sau đó hoãn tiếp mà không buồn ấn định đến chừng nào. Nguyên nhân chủ yếu là do thủy thủ Baltic đến muộn, không có họ MRC không thể tiến lên. Rồi lại có sự cố khác, thậm chí còn bực mình hơn. Việc tấn công vào Cung điện Mùa Đông dự tính bắt đầu bằng pháo dã chiến nặng của Pháo đài Peter và Paul, nhưng vào lúc cuối cùng mới phát hiện đây là những khẩu pháo trong bảo tàng đã rỉ sét, không bắn được. Binh lính vội vàng được điều động ra ngoài để kéo đại bác thay thế lên tận tường thành pháo đài, nhưng khi những đại bác này đến nơi hóa ra không có đạn pháo thích hợp cho chúng. Thậm chí siêu thực hơn là nỗi hoảng loạn sinh ra do việc dường như rất đơn giản là kéo cao chiếc đèn lồng đỏ lên đầu cột cờ ở  pháo đài để ra hiệu lệnh bắt đầu tấn công vào Cung điện. Khi giờ phút hành động đến, không tìm thấy chiếc đèn lồng màu đỏ nào. Ủy viên Bôn-se-vich của Pháo đài, Blagonravov, đi ra ngoài tìm một chiếc đèn thích hợp nhưng bị lạc đường trong bóng đêm và rơi vào một bãi lầy. Khi anh cuối cùng về được pháo đài, chiếc đèn anh mang về không thế gắn vào cột cờ và không thể nhìn thấy bởi những chiến sĩ tham gia tấn công. Và điều cuối cùng, nó không phải màu đỏ.

Đối với Lênin tất cả những đình trệ này thật đáng tức tối. Điều sống còn đối với ông là việc chiếm quyền lực phải hoàn tất trước khi Đại hội khai mạc và, mặc dù lễ khai mạc cũng bị đình hoãn, thời gian đang nhanh chóng cạn dần. Khoảng 3 giờ chiều ông đã bảo với một phiên họp chật ních người của Xô-Viết Petrograd là Chính quyền Lâm thời đã bị lật đổ. Tất nhiên đây là lời nói dối – các Bộ trưởng vẫn còn phòng thủ bên trong Cung điện Mùa Đông – nhưng đó là một chi tiết nhỏ so với vụ cướp chính quyền quá quan trọng đối với chiến lược chính trị của ông trong một vài giờ tới nên ông sẵn sàng bịa ra. Khi chiều biến thành tối, ông hét bảo với các chỉ huy MRC hãy tiến chiếm Cung điện Mùa Đông ngay lập tức. Podvoisky nhớ cảnh ông bước tới lui trong căn phòng nhỏ của Smolny ‘như một con sư tử bị nhốt trong lồng. Ông cần Cung điện Mùa Đông với bất cứ giá nào. . . Ông sẵn sàng bắn chúng tôi’

Đúng ra các lực lượng Bôn-se-vich đang tập trung tại trung tâm thành phố vào lúc này có thể đã bước vào Cung điện Mùa Đông một cách đường hoàng, vì việc phòng thủ gần như không tồn tại. Với việc quân đồn trú Petrograd nổi loạn, Kerensky đã cố triệu tập những binh sĩ trung thành từ Mặt trận phía Bắc. Lệnh ông đã được chuyển đi vào đêm 24 với chữ ký giả mạo các lãnh đạo Xô-Viết, vì Kerensky sợ  binh sĩ sẽ không tuân theo lệnh của Chính quyền Lâm thời. Vào sáng hôm sau vẫn không thấy dấu hiệu binh sĩ giải cứu đến và ông cố gắng ra ngoài để tìm kiếm họ. Với đường sắt nằm trong tay Bôn-se-vich, ông bắt buộc phải đi bằng ô tô; nhưng khốn khổ cho Chính quyền Lâm thời, thậm chí đến một chiếc ô tô để tùy nghi sử dụng cũng không có. Các viên chức quân sự được phái ra ngoài tìm xe. Họ đoạt một xe Renault bên ngoài Sứ quán Mỹ, trong khi đó tìm được một chiếc thứ hai tại Bộ Chiến tranh, nhưng không có xăng. Và thế là phải phái  thêm vài người nữa để ‘mượn đỡ’ vài chiếc ở Bệnh viện Anh. Khoảng 11 giờ sáng hai ô tô phóng ra khỏi Cung điện Mùa Đông và hướng ra ngoại thành. Kerensky ngồi ở ô tô chạy phía sau, mang cờ Mỹ, ắt hẳn nhờ vậy mới giúp ông qua khỏi hàng rào kiểm soát MRC đã bắt đầu được dựng lên quanh Quảng trường Cung điện.

Việc ra đi của Kerensky khiến các bộ trưởng đâm hoảng. Vào giữa trưa họ họp trong Sảnh Malachite và chuẩn bị tổ chức việc phòng thủ cung điện. Nhưng đó là công việc vô vọng. Họ hoàn toàn thiếu kinh nghiệm hoạt động quân sự và suốt bốn giờ vàng ngọc sau đó cứ tranh cãi viễn vông ai nắm quyền chỉ huy việc phòng thủ. Cuối cùng nhiệm vụ rơi vào tay Bộ trưởng Phúc lợi, Nikolai Kishkin, một người Kadet. Kỹ sư Palchinsky, người được cắt đặt việc phòng thủ cung điện, thậm chí không tim thấy bản thiết kế của cung điện, hoặc ai hiểu rõ tường tận địa hình của nó, kết quả là có một cửa hông không được cắt gác và bọn do thám Bôn-se-vich có thể ra vào tự do. Đã có một số lực lượng trung thành đóng bên trong cung điện, và một số khác ở bên ngoài suốt buổi chiều lui cui xây dựng chướng ngại vật bằng các xúc gỗ. Kerensky đã giữ một số nhỏ binh lính trên tầng trệt từ khi chuyển về sống ở cung điện, và giờ họ được tăng cường hai đại đội Cô-dắc, một số khóa sinh trẻ của trường quân sự và 200 nữ quân nhân từ Tiểu đoàn Tử thần, tổng cộng khoảng 3,000 binh sĩ. John Reed, một trong vài phóng viên lẻn được qua lính gác vào buổi chiều, mô tả cảnh tượng:

Cuối hành lang là một phòng rộng hoa mỹ với các gờ tường dát bạc và chùm đèn thủy tinh khổng lồ. . .Trên  hai bên nền sàn lót gỗ là những hàng đệm và chăn mền bẩn thỉu, trên đó một vài binh lính nằm sảy người; khắp nơi vương vãi đầu tàn thuốc, vụn bánh mì, quần áo và những chai rượu trống rỗng mạng nhãn hiệu Pháp đắt tiền. Càng nhiều và càng nhiều lính tráng . . . di chuyển loanh quanh trong mùi không khí nồng nặc khói thuốc và mùi mồ hôi nhớp nhúa. Một anh có được một chai Burgundy trắng, chắc là lấy cắp từ hầm rượu của cung điện. . . Giờ đây cung điện là một doanh trại khổng lồ.

Tinh thần chiến đấu của binh sĩ phòng vệ Cung điện Mùa Đông vô cùng yếu ớt. Họ càng đợi Bôn-se-vich tấn công, mối sợ hãi của họ càng gia tăng. Tinh thần họ càng suy sụp khi nhớ lại lời tuyên truyền của kẻ thù là mình bị áp đảo về quân số. Alexander Sinegub, một sĩ quan tác chiến, nhớ là binh lính hút thuốc, uống rượu say mèm và nguyền rủa số phận mình trong khi các bộ trưởng không ngớt kêu gọi họ giữ gìn kỷ luật. Bọn Cô-dac đặc biệt bất mãn khi phải chiến đấu bên cạnh các ‘phụ nữ có súng’. Không có kho quân nhu thực sự bên trong cung điện, trong khi nguồn cung cấp lương thực không đủ để nuôi ăn tất cả binh sĩ thậm chí cho buổi ăn chiều. Khi đêm xuống, càng có nhiều binh sĩ đói rã ruột thêm mất tinh thần, liền bỏ trốn: lời kêu gọi của dạ dày mạnh hơn lời kêu gọi của nhiệm vụ. Đến đầu giờ tối, tất cả trừ 300 binh sĩ đã buông vũ khí và lẻn ra tìm các tiệm ăn trong thành phố.                  

Trong những giờ phút cuối cùng chờ đợi một điều không tránh khỏi các bộ trưởng gởi đi những lời kêu cứu nhờ giúp đỡ. Mặc dù tất cả đường dây điện thoại đều bị cắt đứt, họ vẫn còn một đường dây bí mật liên lạc với phòng điện đài quân đội trên gác mái của tòa nhà Bộ Chiến tranh, nơi bọn Bôn-se-vich đang chiếm đóng nhưng không biết có sự hiện diện của nó. Một sĩ quan trẻ ngồi gởi đi những lời kêu gọi cuối cùng của chính quyền đến những vùng khác nhau trong xứ (sau đó khi hay tin cung điện đã thất thủ, anh mới khoác áo và đội mũ, lặng lẽ bước ra ngoài tòa nhà). John Reed  trông thấy chiếc bàn nội các màu xanh lá không lâu sau khi các bộ trưởng bị bắt vương vãi hàng chục bản nháp nguệch ngoạc, bị gạch xóa khắp nơi trong cơn tuyệt vọng. Dường như không ai đáp lời kêu gọi giải cứu Chính quyền Lâm thời. (Việc ra sức để làm chuyện ấy, bởi các đại biểu của Duma Petrograd, là một xen diễn siêu thực và kết thúc bằng trò hề. Đáp ứng lời kêu gọi hậu thuẫn, các đại biểu tuyên bố sẵn sàng ‘đứng trước đại bác Bôn-se-vich’, và bước đi theo hàng bốn về phía Cung điện Mùa Đông vừa đi vừa hát vang bài Marseillaise. Nhân vật râu trắng Schneider, Thị trưởng Petrograd, dẫn đầu đoàn quân cứu giá này, cùng với Prokopovich, Bộ trưởng Cung ứng, tay cầm dù che mưa đang bắt đầu lắc rắc rơi và một chiếc đèn lồng chiếu sáng đường đi. 300 đại biểu, ăn vận áo choàng, áo chẽn sĩ quan, mỗi người kiêu hãnh xách theo một túi đựng bánh mì và xúc xích cho binh sĩ phòng thủ Cung điện Mùa Đông đang đói. Họ là biểu tượng sống của nước Nga cấp tiến cổ xưa tử tế nhưng hết thời đang sắp sửa biến mất. Các đại biểu bước đi chưa hết một dãy phố từ Viện Duma thì bị một đoàn thủy thủ tuần tra Bôn-se-vich chận lại gần Quảng trường Kazan. Schneider ưỡn ngực dí vào họng súng của họ và tuyên bố sẵn sàng chết, nếu chúng không cho họ qua. Nhưng các thủy thủ, ắt hẳn nhìn thấy khía cạnh khôi hài của sự phản kháng này, nên dọa sẽ ‘đánh đòn’ nếu họ không đi về nhà. Prokopovich liền leo lên một thùng gỗ và, vung vẩy chiếc dù, đọc một bài diễn văn: ‘Các đồng chí và công dân! Sức mạnh đang được sử dụng để chống lại chúng ta! Chúng ta không thể để dòng máu vô tội của chúng ta đổ trong tay những người dốt nát này! Bị bắn chết trên đường phố là mất phẩm giá của chúng ta. . . Chúng ta hãy quay lại Duma và tìm kiếm những biện pháp tốt nhất cứu vớt đất nước và cách mạng!’ Thế là cả bọn đại biểu tức tối quay lại và bước trở về phố Nevsky, tiếp tục giữ im lặng một cách cao quí trong thất bại.

Trong khi đó, lúc 6.50 chiều, MRC gởi tối hậu thư cho Cung điện Mùa Đông yêu cầu Chính quyền Lâm thời đầu hàng. Các bộ trưởng, lúc này đang ngồi ăn súp chua, cá hấp và atiso, tất cả đều cảm thấy có nghĩa vụ phải can trường và kháng cự đến chừng nào có thể. Nhưng một số cũng e sợ là cung điện có thể bị phá hủy bởi pháo bắn ra từ tàu tuần dương Aurora neo ngoài Cảng British * như địch đã hăm dọa.  Họ lập luận rằng bọn Bôn-se-vich sẽ bị nhiều người lên án vì sử dụng bạo lực lật đổ họ; vì thế họ bác bỏ tối hậu thư. Một lúc lâu không có gì xảy ra – người Bôn-se-vich còn đang loay hoay với các khẩu pháo dã chiến gặp sự cố và vụ đèn lồng ở Pháo đài Peter và Paul – nhưng vào lúc 9.40 tối hiệu lệnh cuối cùng được phát ra và một viên pháo rỗng được tàu Aurora bắn ra. Tiếng nổ điếc tai, còn vang dội hơn viên pháo có thuốc nổ, gieo khiếp đảm cho các vị bộ trưởng nằm rạp xuống sàn nhà. Các phụ nữ của Tiểu đoàn Thần chết sợ cuống cuồng và phải được đưa xuống một căn phòng ở cuối cung điện, trong khi hầu hết các khóa sinh còn lại đều bỏ chạy khỏi vị trí. Tạm ngưng một lúc để cho ai muốn bỏ ngũ có thể rời khỏi cung điện, Blagonravov ra lệnh bắt đầu khai hỏa đạn thật từ Pháo đài Peter và Paul, tàu Aurora và Quảng trường Cung điện. Hầu hết những viên pháo bắn từ pháo đài đều rơi xuống sông Neva vô hại. George Buchanan, Đại sứ Anh, đi quan sát cung điện vào ngày hôm sau, chỉ tìm thấy ba vết mảnh đạn pháo bên bờ sông phía lâu đài, mặc dù ‘bên phía thị trấn các bức tường lỗ chỗ với hàng ngàn vết đạn từ súng máy’.

* ‘Địa điểm lịch sử’  chính xác nơi Aurora bỏ neo hóa ra là gần một nhà nguyện nhỏ xinh đẹp sát bên Cầu Nikolaevsky. Vài năm sau ở trên quyết định rằng sự liên kết mang tính Cơ đốc với xuất phát điểm của Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa Tháng Mười Vĩ Đại này nên bị loại bỏ – và thế là người Bôn-se-vich biến nhà nguyện thành nhà xí công cộng!

Ngay khi việc pháo kích đang tiếp diễn, lúc 10:40 tối, Đại hội Xô-Viết cuối cùng khai mạc. Sảnh lớn của Smolny chật ních người; các đại biểu đứng cả trên lối đi và ngồi lên cả bậc cửa sổ. Không khí nồng nặc khói xanh thuốc lá, cho dù có lời kêu gọi lập đi lặp lại từ diễn đàn ‘yêu cầu các đồng chí không hút thuốc’. Đa số đại biểu là công nhân và binh sĩ trong áo chẽn hoặc bành tô; bẩn thỉu và luộm thuộm, tương phản gay gắt với bộ đồ vét sạch tươm của các thành viên điều hành cũ, những người Men-se-vich và SR, đang ngồi trên bục diễn đàn lần cuối cùng.

Mặc dù con số chính xác khó xác định, Đại hội báo cáo 300 trong số 670 đại biểu thuộc Bôn-se-vich, 193 SR (hơn phân nửa thuộc cánh tả), trong khi đó 82 thuộc Men-se-vich (trong đó 14 là người theo quốc tế cộng sản). Dựa theo sĩ số này, những lãnh đạo cũ xin thôi ghế trên bục diễn đàn; họ được thay thế bởi 14 người Bôn-se-vich và 7 SR. Người Men-se-vich rút xuống chỉ còn được chia 4 ghế.

Một đa số áp đảo các đại biểu chấp thuận một chính quyền Xô-Viết. Tất cả chỉ chờ Đại hội quyết định chính quyền này sẽ thành lập ra sao. Martov đề xuất một chính quyền dân chủ đoàn kết dựa trên tất cả đảng phái trong Xô-Viết: điều này, ông nói, là con đường duy nhất để tránh nội chiến. Đề nghị được đón nhận bằng một tràng pháo tay. Thậm chí Lunacharsky cũng bắt buộc phải nhìn nhận rằng người Bôn-se-vich không thể phản đối được – họ không thể bỏ đi khẩu hiệu Quyền Lực của Xô-Viết – và đề nghị được lập tức thông qua với số phiếu tuyệt đối. Nhưng ngay khi có vẻ một liên minh xã hội chủ nghĩa cuối cùng chuẩn bị được thành lập, thì một nhóm Men-se-vich và SR thay phiên nhau lên án thậm tệ hành động tấn công bạo lực vào Chính quyền Lâm thời. Họ tuyên bố rằng đảng mình, hoặc ít nhất bộ phận cánh hữu của họ, sẽ không tiếp tay vào ‘cuộc phiêu lưu tội ác’ này, chắc chắn sẽ đưa đất nước đến nội chiến. Nói xong họ bước ra khỏi phòng họp để phản đối, trong khi các đại biểu Bôn-se-vich dậm chân, huýt sáo và lên tiếng thoá mạ họ.

Sự khiêu khích có lên kế hoạch của Lênin – ưu tiên chiếm quyền – đã có hiệu quả. Bằng cách bỏ ra khỏi Đại hội, người Men-se-vich và SR gây tổn thất mọi hi vọng thỏa hiệp với những người Bôn-se-vich ôn hòa và lập ra một chính quyền liên minh gồm tất cả đảng phái. Con đường giờ đây rộng mở cho sự chuyên chính của đảng Bôn-se-vich, dựa lưng vào Xô-Viết, mà Lênin đã dự tính từ lâu. Trong không khí chính trị căng thẳng của thời điểm đó, thật dễ hiểu tại sao người Men-se-vich và SR hành động như vậy. Nhưng cũng khó lòng mà không rút ra kết luận rằng, bằng hành động của mình, họ đã sa vào bẫy của Lênin và tự sát về mặt chính trị. Viết trong năm 1921, Sukhanov thú nhận rằng:

Chúng tôi đã hoàn toàn cởi trói cho Bôn-se-vich, cho họ làm chủ toàn bộ tình hình và nhường cho họ toàn bộ vũ đài Cách Mạng. Một cuộc tranh đấu ở Đại hội vì một mặt trận dân chủ đoàn kết có thể ít nhiều thành công. . . Nhưng khi đã rời bỏ Đại hội, chúng tôi đã tự cho người Bôn-se-vich nắm độc quyền Xô-Viết, độc quyền quần chúng, và độc quyền Cách Mạng. Với quyết định phi lý của mình, chúng tôi đã củng cố thắng lợi của toàn bộ ‘chiến tuyển’ của Lênin.

Hậu quả tức thì của việc họ bỏ ra đi là chia rẽ lực lượng chống đối, để lại Martov và những người hậu thuẫn liên minh thuộc cánh tả khác hoàn toàn trơ trọi. Martov lên tiếng kêu gọi một lần nữa cho một chính quyền toàn dân chủ. Nhưng tâm trạng trong phòng họp đã thay đổi. Theo số đông đại biểu, người Men-se-vich và SR đã tự chứng tỏ là kẻ ‘phản cách mạng’ khi bước ra ngoài phòng họp; và giờ đây họ sẵn sàng đi theo sự lãnh đạo của Bôn-se-vich trong việc chống đối toàn bộ ý tưởng thỏa hiệp với chúng. Trotsky được thế bèn tiến công với bài phát biểu, sẽ trở thành một trong những bài phát biểu được trích dẫn nhiều nhất của thế kỷ 20, trong đó ông kết án nghị quyết lập liên minh của Martov:

Đám đông quần chúng đi theo lá cờ của chúng ta và cuộc khởi nghĩa của chúng ta đã thắng lợi. Và giờ chúng ta được bảo: Hãy từ bỏ thắng lợi của các anh, hãy nhượng bộ, hãy  thỏa hiệp. Với ai? Tôi xin hỏi: Với những nhóm khốn khổ đó ư, nhóm đã rời bỏ chúng ta hoặc người đã đưa ra đề nghị này. . . Ở nước Nga không ai theo họ nữa. Một thỏa hiệp chỉ được thực hiện giữa hai bên ngang hàng . . . Nhưng ở đây không thể thỏa hiệp được. Đối với những kẻ đã bỏ cuộc và đối với những người bảo chúng ta làm điều này chúng ta trả lời: Các anh là những người đã phá sản, vai trò của các anh đã xong rồi; hãy đi về chỗ các anh phải đi – vào đống rác của lịch sử!

 Trong một cơn phẫn nộ, mà ông chắc hẳn phải hối tiếc đến trọn đời, Martov quát lên, ‘Vậy thì chúng tao sẽ đi!’ và im lặng bước đi về phía lối ra không nhìn lại. Khi ông làm thế, một người Bôn-se-vich mặc áo sơ mi đen, mang dây nịt da, từ lối đi giữa hai hàng ghế bước ra nói với Martov: Chúng tôi những tưởng ít ra Martov sẽ ở lại với chúng tôi chứ.’ Có thể thấy những lời này làm Martov xao xuyến, người đồng chí cũ của Lênin đáp lại: ‘Một ngày nào đó anh sẽ hiểu tội ác mà hôm nay anh đã dự phần.’ Và sau đó ông bước ra ngoài  – và đi vào cõi hoang vu chính trị.

Đã qua hai giờ sáng và giờ chỉ còn lại Trotsky, người hiện giờ làm công việc của Lênin, là đề xuất một nghị quyết lên án âm mưu ‘phản trắc’ của bọn Men-se-vich và SR  nhằm làm yếu đi quyền lực của Xô-Viết. Đúng ra, đây là Xô-Viết đóng dấu tán thành quyền chuyên chính của Bôn-se-vich. Đám đại biểu, chắc chắn là quá dốt nát để có thể hiểu được tầm tác hại chính trị của việc họ đang làm, đều giơ tay nhất trí (không lẽ họ không ưng thuận quyền lực của Xô-Viết?). Nhưng các lãnh đạo SR cánh Trái, ắt phải hiểu rõ hơn, cũng bị đánh lừa; và họ cũng giơ tay tin tưởng một cách ngây thơ, như vì lãnh đạo của họ, Boris Kamkov, sau đó giải thích, rằng ‘chỗ của chúng tôi là với cách mạng’ và rằng, bằng cách phiêu lưu cùng với người Bôn-se-vich, ‘chúng tôi có thể thuần hóa họ’.

Trong khi đó, đợt tấn công cuối cùng vào Cung điện Mùa Đông gần như hoàn tất. Các lực lượng trung thành gần như đã bỏ rơi việc phòng thủ và binh sĩ Bôn-se-vich có thể xông vào túy ý. Các bộ trưởng nằm dài người trên sofa, hoặc cuộn người trong ghế bành, đợi chờ giây phút cuối cùng. Họ có thể nghe tiếng binh lính chạy rầm rập, tiếng la hét và tiếng súng nổ từ tầng dưới. Cuối cùng, lúc 2 giờ sáng, tiếng la hét nghe rõ hơn: địch đang bước lên cầu thang và tiến đến gần cửa. Thời điểm đầu hàng đã điểm. Các bộ trưởng chồm dậy và – không hiểu vì sao – nắm chặt áo khoác, khi thình lình cánh cửa bật ra và hình dáng bé nhỏ và nhũn nhặn của Antonov-Ovseenko bước vào. ‘ Tất cả các ông đã bị bắt,’ người chỉ huy Bôn-se-vich thông báo. Danh sách các bộ trưởng được đăng kí. Khi biết tin Kerensky không có mặt binh lính tấn công nổi quạu, một tên la lớn: ‘Đâm mẹ bọn chó chết này đi!’ Nhưng rồi kỷ luật được lập lại. Các bộ trưởng bị dẫn đi bộ về Pháo đài Peter và Paul, tại đó họ bị nhốt trong những điều kiện tệ hại trong vài tuần. Binh lính hộ tống phải bảo vệ họ trên đường đi vì có nhiều người định xông vào đòi treo cổ họ ngay trên đường phố. Khi cửa xà lim đóng lại, Alexei Nikitin, Bộ trưởng Nội vụ vừa hết thời, lấy trong túi áo ra một  điện tín gởi từ Rada của vùng Ukraine. ‘Tôi vừa mới nhận nó hôm qua,’ ông bảo Antonov-Ovseenko, khi ông trao bức điện đã nhàu mặt cho y, ‘giờ đó là việc của ông.’

Khá mỉa mai khi Kamenev có bổn phận thông báo tin bắt giữ các bộ trưởng cho Đại hội Xô-Viết. Người Bôn-se-vich hoan hô khi tên của họ được xướng lên. Một nông dân to con, gương mặt nhăn nhó vì phẫn nộ, đứng dậy thay mặt người SR tố cáo việc bắt giữ các bộ trưởng thuộc đảng xã hội. ‘Các anh có biết là bốn đồng chí ấy đã liều mạng sống và tự do của mình chiến đấu chống ách độc tài của Sa Hoàng, giờ lại bị quăng vào ngục Peter và Paul – nhà mồ lịch sử của Tự do hay sao? Đám đông nhốn nháo tranh cãi ầm ĩ nhưng Trotsky đã vẩy tay ra dấu im lặng, trả lời bằng cách tố cáo họ là đồng chí giả hiệu và tuyên bố rằng không có lý do xử lý họ bằng găng tay’. Sau những Ngày Tháng Bảy ‘họ đối xử với chúng ta có tử tế gì đâu!’ Sau đó Kamenev thông báo Tiểu đoàn Cua Rơ đã theo về ‘phe cách mạng’. Có những báo cáo về những lực lượng quan trọng hơn từ Mặt trận phía Bắc tham gia. Sau đó Lunacharsky đọc Tuyên ngôn của Lênin ‘Hỡi Tất cả Công nhân, Binh sĩ và Nông dân’, trong đó ‘Quyền lực Xô-Viết’ được tuyên bố, và lời hứa hẹn ruộng đất, bánh mì và hòa bình được thông báo. Việc đọc văn kiện lịch sử này, bị ngắt quãng bởi những tiếng hoan hô  như sấm dậy của các đại biểu, đóng một vai trò biểu tượng lớn lao. Nó chứng tỏ cái ảo tưởng rằng cuộc nổi dậy là đỉnh cao của cuộc cách mạng do ‘quần chúng’ phát động. Khi cuộc nổi dậy đã qua sau 5 giờ sáng một chút vào ngày 26/10, các đại biểu phờ phạc nhưng hoan hỉ bước ra Điện Tauride. ‘Trời vẫn còn tối và lạnh,’ John Reed viết. ‘Đường phố vắng tanh nhợt nhạt một màu xanh tái ma quái phủ mờ mịt những đám lửa canh phòng, bóng đen của một buổi bình minh khủng khiếp phủ lên nước Nga.’

* * *

Có bao nhiêu người tham gia trong cuộc nổi dậy? Các sử gia luôn chia rẽ sâu sắc về câu hỏi này,với những người cánh Tả mô tả Tháng Mười như là một cuộc cách mạng nhân dân khởi phát từ bên dưới, còn những người cánh Hữu mô tả nó là một cú đảo chính không có sự tiếp tay của quần chúng. Ở cội nguồn của câu hỏi là bản chất – và do đó ‘tính hợp pháp’ của hệ thống Xô-Viết. Và trong ý nghĩa này đó là một trong những vấn đề nền tảng của thế kỷ 20.

Số các thành viên tham gia tích cực trong cuộc nổi dậy không lớn lắm – mặc dù tất nhiên phải nên nhớ rằng số đông không cần thiết cho nhiệm vụ, nếu xét  sự vắng mặt gần như hoàn toàn của lực lượng quân sự ở thủ đô có nhiệm vụ bảo vệ Chính quyền Lâm thời. Chính Trotsky cho rằng nhiều nhất là 25,000 đến 30,000 người tham gia một cách tích cực – nghĩa là khoảng 5 phần trăm số công nhân và quân nhân trong thành phố – và con số này phù hợp với tính toán dựa trên số đơn vị Hồng Vệ binh, thủy thủ Hạm đội và các trung đoàn được động viên. Phần đông họ chỉ tham gia những hoạt động phụ,như canh gác nhà máy và các tòa nhà chiến lược, trực tại các rào cản và nói chung là ‘chỉ đứng đó’. Trong buổi tối ngày 25, chắc khoảng 10,000 đến 15,000 lẩn quẩn trong Quảng trường Cung điện; nhưng không phải tất cả thực sự tham gia cuộc ‘tấn công bão táp’ vào Cung điện, mặc dù sau này có nhiều người hơn khoe rằng mình đã tham gia. Tất nhiên, ngay sau khi cung điện bị đánh chiếm xong, có rất nhiều người hơn tham gia, nhưng mà tham gia cướp bóc các kho rượu vang của cung điện.

Một ít các bức ảnh còn sót lại của những Ngày Tháng Mười cho thấy rõ ràng kích cỡ khiêm tốn của lực lượng nổi dậy. Chúng chụp một nhóm nhỏ Hồng Vệ binh và thủy thủ đang đứng trong đường phố gần như vắng vẻ. Không phải là hình ảnh quen thuộc của một cuộc cách mạng nhân dân. Toàn bộ cuộc nổi dậy, như chính Trotsky nhìn nhận, được tiến hành như một cuộc đảo chính với một ‘loạt những hoạt động qui mô nhỏ được tính toán và chuẩn bị trước,’. Khu vực chung quanh Cung điện Mùa Đông là khu vực duy nhất trong thành phố bị đánh phá trong ngày 25/10. Ở nơi khác sinh hoạt của Petrograd diễn ra bình thường. Xe điện và taxi vẫn hoạt động; phố Nevsky vẫn đông đúc như ngày thường; và vào chiều tối các cửa hàng, tiệm ăn, nhà hát và rạp chiếu bóng thậm chí vẫn mở cửa. Nhà hát Marinsky vẫn trình diễn nhạc kịch với Boris Godunov như lịch diễn; trong khi giọng nam trầm lừng danh Shaliapin vẫn biểu diễn vở Don Carlos trước khán phòng đông nghẹt người ở Narodny Dom. Khoảng 9 giờ tối John Reed còn ngồi ăn ở Khách sạn France, vừa qua khỏi Quảng trường Cung điện, mặc dù sau món súp người bồi yêu cầu ông dời qua phòng ăn chính phía sau khách sạn, vì họ sợ cuộc đấu súng sẽ bắt đầu và muốn tắt hết đèn ở khu cà phê. Thậm chí cao điểm của cuộc nổi dậy trôi qua mà nhiều người không hay biết. Volodya Averbakh đang đi về nhà ở đường Gogol, cách Quảng trường Cung điện không đến 100 mét, khoảng 11 giờ khuya, ngay khi người Bôn-se-vich đang chuẩn bị sẵn sàng cho đợt tấn công cuối cùng vào Cung điện Mùa Đông. ‘Đường phố hoàn toàn vắng vẻ,’ Averbakh nhớ lại. ‘Đêm rất yên tĩnh, và thành phố như đang ngủ. Chúng tôi có thể nghe được tiếng vang của bước chân mình dẫm trên vỉa hè.

Trong khu công nhân không khí cũng yên bình như thế, nếu xét theo các báo cáo của cảnh sát vừa được phát hiện gần đây từ văn khố Xô-Viết.

Còn về bản chất của quần chúng trong cuộc nổi dậy thì sao? Sự kiện sau đây kể cho chúng ta biết đôi điều về nó.

Khi người Bôn-se-vich chiếm được Cung điện Mùa Đông, họ phát hiện một trong những hầm rượu vang lớn nhất từng được biết. Những ngày sau đó hàng vạn chai rượu lâu năm mất tích khỏi hầm rượu. Các công nhân và binh lính Bôn-se-vich tha hồ thưởng thức rượu Chateau d’Yquem  đời 1847, loại rượu ưa chuộng của vị Sa Hoàng cuối cùng, và bán đi rượu vodka cho đám đông bên ngoài. Thế rồi bọn này uống đến say xỉn, và bắt đầu quậy phá. Cung điện Mùa Đông bị tấn công và cướp bóc tệ hại. Cửa hàng và tiệm rượu bị cướp phá. Thủy thủ và binh sĩ lùng sục các khu nhà giàu để cướp bóc và giết chóc để mua vui.

Người Bôn-se-vich nỗ lực một cách vô ích để ngăn chặn tình trạng vô chính phủ. Hàng trăm tên bợm nhậu bị tống vào tù – chỉ trong một đồn cảnh sát có đến 182 tên bị bắt trong đêm 4/11. Chỉ đến khi cuối năm rượu hết thì tình trạng vô chính phủ mới chấm dứt.

Về phần các công nhân Petrograd, họ ít tham gia vào cuộc nổi dậy. Lúc này là đỉnh cao của khủng hoảng kinh tế, nổi sợ mất việc làm khiến đại đa số họ ngần ngại xuống đường. Do đó hãng xưởng và hệ thống giao thông vẫn hoạt động gần như bình thường. Trong bất kỳ trường hợp nào, các công nhân vẫn một lòng trung thành với Xô-Viết hơn là với Bôn-se-vich. Phần đông họ không hiểu – hoặc thậm chí muốn hiểu – sự khác nhau giữa các học thuyết của các đảng phái xã hội. Kiểu bầu bán của họ được xác định bằng giai cấp hơn là đảng phái; họ có khuynh hướng bầu như hãng xưởng của họ đã bầu trong quá khứ, hoặc lựa chọn đảng nào mà các ứng viên giống công nhân nhất và nói năng như một công nhân. Trong giới những công nhân không chuyên, đặc biệt, họ thường tin rằng Bôn-se-vich là đảng của ‘những ông lớn’.

Vì thế khi các lãnh đạo của nghiệp đoàn đường sắt, Vikzhei, đưa ra tối hậu thư vào ngày 29/10 yêu cầu người Bôn-se-vich nên khởi sự bàn bạc với các đảng xã hội khác để thành lập một chính quyền toàn-Xô-Viết, họ nhận được sự ủng hộ nhiệt thành. Đối với quần chúng công nhân dường như điểm chung của cách mạng, như được Đại hội Xô-Viết bày tỏ, là thành lập một chính quyền của nhân dân lao động xét chung chứ không chỉ một đảng cá biệt nào. Hàng trăm hãng xưởng, lực lượng đồn trú, các hội đồng Mặt trận và Hạm đội đều gởi đơn thỉnh nguyện đến Smolny bày tỏ hậu thuẫn đối với kế hoạch của Vikzhei. Hãng Obukhovsky ở Petrograd hăm dọa ‘gõ đầu tắt cả các lãnh đạo đảng’ nếu họ không đi đến một thỏa thuận. Các công nhân ở Moscow và những thành phố tỉnh lỵ khác, nơi tính phân biệt đảng phái ít nổi cộm hơn ở thủ đô, cũng bày tỏ hậu thuẫn mạnh mẽ. Có cảm nghĩ chung là việc cãi cọ giữa các chóp bu đảng là hành động phản bội lý tưởng cách mạng và sẽ đưa đất nước đến nội chiến. Một thỉnh nguyện từ Sư đoàn 35 tuyên bố rằng trong quân nhân không có Bôn-se-vich, Men-se-vich, hoặc SR mà chỉ có Dân chủ.

Ít nhất thoạt đầu, có những lý do mạnh mẽ khiến người Bôn-se-vich phải tôn trọng yêu cầu của Vikzhel. Các lãnh đạo nghiệp đoàn đã đe đọa sẽ ngừng mọi hoạt động đường sắt nếu các cuộc thương thảo liên đảng không khởi động. Nếu việc này xảy ra thực phẩm và xăng dầu vào thủ đô, vốn đã giảm đến mức ngặt nghèo, còn sẽ tệ hại hơn nữa, cướp bóc và nổi loạn sẽ gia tăng ngoài vòng kiểm soát, và hàng ngàn công nhân sẽ đình công. Người Bôn-se-vich sẽ chịu đựng tình hình này được bao lâu? Việc hậu thuẫn của ngành đường sắt càng trở nên cấp bách vì chiến dịch quân sự của Bôn-se-vich trên hai mặt trận: chống binh sĩ trung thành với Kerensky ở ngoại vi thủ đô; và ở Moscow, nơi lực lượng Bôn-se-vich phải chiến đấu giành quyền lực với các lực lượng trung thành.

Sau khi ra đi vội vã khỏi Petrograd vào sáng ngày 25, Kerensky đã đóng bộ chỉ huy ở Gatchina, nơi cư ngụ của hoàng đế ngay bên ngoài thành phố. Phần đông các tư lệnh quân đội ma ông kêu gọi cầu cứu, chần chừ không muốn dính líu vào một cuộc phiêu lưu quân sự với người Bôn-se-vich: họ sẽ bị binh sĩ coi là ‘phản cách mạng’, và như cuộc khủng hoảng Kornilov, chỉ có thể làm quân đội sụp đổ nhanh chóng. Tướng Cheremisov, Tư lệnh Mặt trận phía Bắc, thậm chí hủy bỏ lệnh tiếp viện cho Kerensky viện cớ là Chính quyền Lâm thời không còn tồn tại. Chỉ có Tướng Krasnov gởi 18 đại đội Cô-dắc cho Kerensky sử dụng, một lực lượng nhỏ các khóa sinh và sĩ quan, được tổ chức quanh Ủy ban Cứu Quốc và Cách mạng  do SR lãnh đạo, dự tính sẽ đứng lên ở thủ đô đúng lúc khi họ đến. Tuy nhiên, người Bôn-se-vich thậm chí còn có ít quân sẵn sàng tác chiến hơn  cả Kerensky. Quân đồn trú Petrograd đã nhanh chóng tan rã sau vụ cướp chính quyền,  khi số đông binh sĩ đi say xỉn quậy phá hoặc chuồn về nhà ở vùng quê. Các lãnh đạo Bôn-se-vich ở Petrograd không có đường dây liên kết với binh sĩ cách mạng ở Mặt trận, và thậm chí nếu có, chưa chắc họ sẽ nghe theo lời kêu gọi của Bôn-se-vich. Theo Reed, Lênin đã chuẩn bị sẵn để chấp nhận thảm bại. Cơ hội cuối cùng của ông là các công nhân đường sắt sẽ chặn lại binh sĩ của Krasnov, đang ở quanh Pskov, không cho về thủ đô, như đã từng xảy ra trong cuộc khủng hoảng Kornilov. Từ đó cần thiết phải đáp ứng yêu cầu trong tối hậu thư của Vikzhel.

Trong khi đó ở Moscow, quyền lực ở thế cân bằng trong 10 ngày. Các lực lượng MRC giao tranh trong trận chiến đường phố đẫm máu – những phát súng nội chiến đầu tiên – chống lại các khóa sinh và sinh viên tình nguyện, vẫn còn trung thành với Chính quyền Lâm thời và do Duma Moscow và Ủy ban An toàn Công cộng tổ chức. Trận đánh ác liệt nhất xảy ra quanh Kremlin, và nhiều kiến trúc quí giá và vĩ đại nhất của thành phố bị hư hại nặng. Đối với những Muscovite bình thường, không dám ra khỏi nhà vì sợ hãi, đây quả là những ngày khủng khiếp. Căn hộ của Brusilov bị kẹt giữa hai lằn đạn, và được bình lính  hai bên sử dụng để bắn hoặc ra hiệu từ cửa sổ. Chính vị tướng già cũng bị thương nặng ở chân khi một quả lựu đạn ném qua cửa sổ và phát nổ. Ông phải được khiêng cáng ra ngoài đến một bệnh viện gần đó chữa trị, trong khi bom đạn tiếp tục bay đủ mọi hướng. ‘Tôi cầu nguyện suốt cho  đạn không bay trúng vào bà vợ già đáng thương của tôi, đang đi bên cạnh tôi.’ Những người Bôn-se-vich Moscow chiến đấu khá miễn cưỡng – họ thiên về hướng giải quyết vấn đề quyền lực bằng thỏa thuận, như Vikzhel đề xuất. Họ cũng không phải là những chiến binh cừ: điện Kremlin vừa bị mất trong một trận đánh mở màn vào ngày 27; và hai ngày sau tình hình càng trở nên tồi tệ hơn, khi họ bị đẩy lùi vào vùng ngoại ô kỹ nghệ, đến nỗi họ không giấu được vui mừng khi Vikzhel xen vào đề nghị hưu chiến. Không gặt hái được thắng lợi ở Moscow, thậm chí Lenin cũng công nhận là người Bôn-se-vich không thể giữ vững quyền lực cho riêng mình. Các thỏa thuận liên đảng sẽ phải tiến hành.

Vào ngày 20/10 Ủy ban Trung ương ra lệnh cho Kamenev thay mặt đảng dự đàm phán Vikzhel trên tinh thần quyền lực Xô-Viết, như đã được thông qua tại Đại hội Xô-Viết. Lúc nào cũng gay go khi  thuyết phục những người Men-se-vich và SR cánh hữu chấp nhận điều này, hoặc bất cứ hình thức hợp tác nào với Đảng Bôn-se-vich, sau khi họ đã giận dữ bước ra khỏi Đại hội để phản kháng việc chiếm quyền. Tại phiên họp mở đầu, tin rằng người Bôn-se-vich đang trên bờ vực thảm bại, họ đặt ra những điều khoản bất khả để họ tham gia chính quyền: thả tự do cho các bộ trưởng bị bắt giữ khi đánh chiếm Cung điện Mùa Đông; đình chiến với các lực lượng của Kerensky; bãi bỏ tổ chức MRC; chuyển giao binh sĩ đồn trú Petrograd về cho Duma kiểm soát; và cho Kerensky tham gia vào chính quyền mới, và không có Lênin. Tóm lại, họ yêu sách quay ngược kim đồng hồ về trở lại ngày 20/10. Không có gì ngạc nhiên khi thấy Kamenev rầu rĩ báo cáo trước Đại hội Xô-Viết vào chiều tối hôm đó.

Tuy nhiên ngày hôm sau, tình hình bắt đầu biến chuyển. Sau một đêm sức tấn công của Kerensky sụp đổ, giống như vụ tiến quân của Krymov trước đây vào Petrograd trong cuộc khủng hoảng Kornilov. Hầu hết binh lính Cô-dắc của Krasnov, vốn lúc nào cũng ngần ngại chiến đấu nếu không có bộ binh yểm trợ, đơn giản đầu hàng dưới làn mưa đạn của quân Bôn-se-vich, trong khi số còn lại bị các binh lính Baltic đẩy lui dễ dàng trên vùng đồi Pulkovo ngoài ven thành phố.

Người Men-se-vich và SR buộc phải hạ thấp điều kiện và đồng ý tham gia liên minh với người Bôn-se-vich, miễn là quyền lãnh đạo của Xô-Viết phải mở rộng gồm cả những thành viên của Đại hội Xô-Viết Lần thứ Nhất, Duma Thành phố, Xô-Viết Nông dân (vẫn còn đang nhóm họp) và các nghiệp đoàn. Kamenev đồng ý, thậm chí đề nghị, trong một phút tin tưởng ngây thơ, rằng người Bôn-se-vich sẽ không khăng khăng đòi phải có Lênin hoặc Trotsky trong thành phần nội các. Nhưng hai người này có ý kiến khác.

Ngay từ đầu Lênin và Trotsky đã chống đối với đàm phán Vikzhel: chỉ có viễn ảnh bị thảm bại quân sự mới kéo họ ngồi vào bàn thương lượng. Với việc đánh bại Kerensky, và nhất là bây giờ cán cân bắt đầu nghiêng về phía họ, với phần lớn trung tâm thành phố đã thuộc vào tay Bôn-se-vich và Kremlin đang bị pháo kích nặng nề, họ bắt đầu ra sức phá hoại thương lượng liên đảng. Tại một phiên họp của Ủy ban Trung ương Trotsky lên án thỏa thuận mà Kamenev đồng ý và yêu sách ít nhất 75 phần trăm ghế nội các phải giao cho Đảng Bôn-se-vich: ‘không có lý nào chúng ta tổ chức nổi dậy mà không được đa số’. Còn Lênin thì chủ trương từ chối thương thảo, hoặc ít nhất tiếp tục coi nó như ‘một che đậy chính trị cho các hoạt động quân sự ở Moscow’. Thậm chí ông đòi bắt giữ các lãnh đạo Vikzhel như ‘những tên phản cách mạng’, cùng với việc cho các thủy thủ Bôn-se-vich bắt giữ và đánh đập các lãnh đạo SR, Gots và Zenzinov, đóng cửa các tờ báo Kadet, và càn quét hàng loạt các văn phòng báo chí của Men-se-vich và SR. Cho dù có sự chống đối của một số thành viên ôn hòa, họ đồng ý trình lên cương lĩnh của Bôn-se-vich như một tối hậu thư đến bàn đàm phán liên đảng và hăm sẽ tẩy chay nó nếu cương lĩnh bị từ chối. Tất nhiên người Men-se-vich và SR sẽ không bao giờ chấp nhận điều này, như Lênin và Trotsky biết rõ. Hành động cướp chính quyền đã chia rẽ không thể phục hồi phong trào xã hội chủ nghĩa ở Nga, và không có nỗ lực thỏa thuận nào có thể bắt cầu qua hố vực ngăn cách. Đàm phán Vikzhel đã thất bại, và cuối cùng sụp đổ vào ngày 6 tháng 11.

Các cơ hội cho một liên minh vô cùng hạn hẹp. Gần như chắc chắn đã quá muộn để giải quyết vấn đề quyền lực bằng biện pháp chính trị. Sự kiện 25/10 đánh dấu sự khởi đầu của nội chiến. Và thật khó để không khỏi kết luận rằng đó chính xác là điều mà Lênin hằng ao ước. Ông tin tưởng rằng nội chiến đã bắt đầu từ tháng tám, và việc ‘lãi nhãi’ của bọn ôn hòa chỉ tổ cản đường.

Đã chiếm được quyền độc tài cho đảng mình, Lênin quay ra việc tiếp theo là chiếm quyền độc tài cho mình trong nội bộ đảng. Vào ngày 2/11 Ủy ban Trung ương bị khủng bố để buộc thông qua một loạt những nghị quyết gây sửng sốt: Kamenev bị kết tội có những hoạt động ‘phi Mác-xit’ chống lại Cách Mạng Tháng Mười; những người hậu thuẫn ông bị ra lệnh rút chân khỏi Ủy ban Trung ương; và nếu họ không chịu qui thuận theo chính sách chống đàm phán liên đảng của đảng – qui thuận dưới hình thức của một ‘Tối hậu thư từ đa số của Ủy ban Trung ương đối với thiểu số’ – sẽ bị đe đọa trục xuất ra khỏi đảng. Mỗi thành viên của Ủy ban Trung ương bị lôi ra trước mặt Lenin, trong văn phòng riêng của ông, và được bảo ký tên vào tối hậu thư hoặc có nguy cơ bị trục xuất. Như Lunacharsky đã cảnh báo trong một buổi họp của Bôn-se-vich Petrograd vào ngày 1/11, các chiến thuật hù dọa của Lênin sẽ sớm dẫn đến một tình thế khi ‘chỉ còn một người ở lại trong Đảng – nhà Độc tài’. Đó là âm vang ám ảnh của lời cảnh báo nổi tiếng của Trotsky, vào 14 năm trước, rằng tổ chức đảng trước tiên thay thế cho đảng như một toàn thể, sau đó Ủy ban Trung ương sẽ thay thế tổ chức đảng, và rồi một kẻ độc tài đơn lẻ sẽ thay Ủy ban Trung ương. Vào ngày 4/11 thiểu số năm-người

(Kamenev, Zinoviev, Rykov, Miliutin và Nogin) cuối cùng từ chức Ủy ban Trung ương. Bức thư ngỏ phản kháng của họ xuất hiện trên tờ

Lzvestiia vào ngày hôm sau. Kế bên là bức thư phản kháng thứ hai từ 5 Dân Uỷ, một bức thứ ba của nội các Lenin, từ bốn người từ chức và 6 lãnh đạo Bôn-se-vich tiếng tăm khác, trong đó viết rằng một chính quyền thuần túy Bôn-se-vich chỉ có thể duy trì bằng ‘việc khủng bố chính trị’ và rằng nếu đi theo lộ trình này, nó dẫn đến ‘việc thành lập một chế độ vô trách nhiệm và đưa đến sự hủy hoại cách mạng và đất nước’.

Đây không nghi ngờ gì nữa là thời điểm nguy cấp nhất trong lịch sử Đảng Bôn-se-vich. Mặc dù cách mạng của Lênin đã được tiến hành, đảng đã trở nên chia rẽ một cách gay gắt và cô lập với phần còn lại của phong trào cách mạng. Ít có ai tin tưởng rằng, trong tuần lễ thứ hai của nó, chế độ Bôn-se-vich còn có thể sống được.

 

Ii Bọn Chuyên Quyền ở Smolny

Năm ngày sau khi Bôn-se-vich cướp chính quyền, Alexandra Kollontai, Dân Uỷ Phúc Lợi Xã Hội, lái xe đến trụ sở chính quyền to lớn trên Phố Kazan. Đó là trụ sở của Bộ Phúc Lợi Xã Hội của Chính quyền Lâm thời. Bà đến để tiếp quản nó. Người bảo vệ già ra mở cổng và dò xét Kollontai từ đầu đến chân. Ở Nga chưa hề có một phụ nữ nào được bổ nhiệm làm bộ trưởng trước đây, và, giờ khi chăm bẳm nhìn bà, ắt hẳn ông nghĩ bà chỉ là cô vợ liệt sĩ nghèo khổ đến xin chính quyền giúp đỡ. Kollontai yêu cầu được gặp viên chức cao cấp nhất trong cơ quan, nhưng ông già cho biết đã hết giờ làm việc. Khi bà thông báo mình là Dân Uỷ và yêu cầu được vào trong, ông ta trả lời là đơn thỉnh nguyện chỉ được nhận từ 1 đến 3 giờ và giờ đã 5 giờ. Kollontai toan xông vào thì ông bảo vệ đã đóng sầm cánh cửa vào mặt bà.

Thật là một khởi đầu không mấy thuận lợi cho một chế độ mới. Các nhân viên của Bộ đã tham gia một cuộc tổng đình công của Công bộc Nhà nước phản kháng việc Bôn-se-vich cướp chính quyền, và khi Kollontai trở lại vào sáng hôm sau với một phân đội lính để tiếp quản trụ sở, bà thấy nó gần như là vắng tanh. Đúng là các viên chức đã tham gia đình công, và chỉ có những người chạy giấy, nhân viên vệ sinh, bảo vệ, vẫn đi làm như thường lệ. Kollontai đành phải trở lại Smolny và lập một văn phòng nhỏ ở đó. Ông bảo vệ ở Phố Kazan phải chỉ cho các bà goá và  trẻ em rách rưới, dân tị nạn và nông dân cùng đường đến cầu xin giúp đỡ tại địa chỉ mới ở bộ chỉ huy Bôn-se-vich.

Những tuần lễ đầu của chế độ mới chứng kiến những cuộc đình công tương tự và các hành động phá hoại trong tất cả bộ ngành chủ yếu trong chính quyền, ngân hàng, bưu điện, văn phòng đường sắt, cơ quan hành chính, tòa án, trường học, đại học và học viện quan trọng. Mặc dù những viên chức nhà nước này có những chính kiến khác nhau, tất cả thực sự đều cho rằng chế độ Bôn-se-vich là bất hợp pháp và cần phải phản kháng. Trotsky được chào đón bằng một tràng cười chế giễu khi ông đến Bộ Ngoại giao và tự giới thiệu mình là tân Bộ trưởng tại một buổi họp các viên chức của bộ. Và khi ông ra lệnh họ trở lại làm việc, họ phản đối bằng cách bỏ ra về. Tại Điện Anichkov, nơi điều hành việc cung cấp lương thực cho đất nước, các công chức dời đi hết các đồ đạc văn phòng và khoá kín các sổ sách vào tủ. Tại cơ quan bưu điện các nhân viên đã lấy đi hết các niên giám điện thoại và mẫu đơn hành chính (một số sau này được sử dụng để viết hồi ký). Các viên chức của Phòng Y tế đình công thậm chí đi quá xa khi gỡ hết các ngòi bút ra khỏi tất cả cây bút.

Việc Ngân hàng Nhà nước và Kho bạc từ chối yêu cầu cấp tiền mặt cho chính quyền mới là mối đe đọa nghiêm trọng hơn hết thảy. Không có tiền mặt để trả cho người hậu thuẫn mình, chế độ Bôn-se-vich không thể hi vọng tồn tại lâu. Sovnarkom (Hội đồng Dân Uỷ) đã đưa ra những yêu sách khác nhau nhằm chuyển mười triệu rúp, nhưng yêu cầu nào cũng bị từ khước với lý do bất hợp pháp. Vào ngày 7/11 Dân Uỷ Tài chính mới, V. R. Menzhinsky, xuất hiện tại Ngân hàng Nhà nước với một phân đội thủy thủ và yêu cầu đưa tiền; nhưng các nhân viên vẫn trơ trơ và, mặc dù bị đe dọa đuổi việc và ra kỳ hạn tối hậu, vẫn tiếp tục đình công. Mười ngày sau cuối cùng người Bôn-se-vich chiếm quyền kiểm soát ngân hàng và ra lệnh các nhân viên, bằng mũi súng, phải mở hầm đựng tiền. Năm triệu rúp bị lấy đi và chuyển đến Smolny trong những bao nhung và đặt lên bàn làm việc của Lênin. Toàn bộ diễn tiến như trong một vụ cướp nhà băng. Người Bôn-se-vich bây giờ tiếp quản Ngân hàng Nhà nước, cho phép họ nhúng tay vào các két sắt của quốc gia; vậy mà họ chẳng hiểu biết một chút gì cách thức các ngân hàng hoạt động. ‘Trong chúng tôi cũng có những người quen thuộc với hệ thống ngân hàng từ sách vở và cẩm nang,’ một trong số những giám đốc ngân hàng mới nhớ lại, ‘nhưng không có đến một người trong số chúng tôi am hiểu thủ tục và nguyên tắc rối rắm của Ngân hàng Nhà nước Nga. Chúng tôi bước vào những hành lang đồ sộ của ngân hàng này như thế xâm nhập vào một  khu rừng chưa ai đặt chân tới.’,

Đối với đối thủ của họ, những nỗ lực mày mò để làm chủ những định chế căn bản của nhà nước là biểu tượng cho sự yếu kém nền tảng của người Bôn-se-vich. Ít ai nghĩ chế độ Bôn-se-vich có thể tồn tại lâu. ‘Các kha-líp một giờ’ là lời tuyên án của nhiều tờ báo. Lãnh đạo SR, Gots, cho người Bôn-se-vich ‘sống không hơn một vài ngày’; còn Gorky thì cho họ hai tuần; Tsereteli nâng lên ba tuần! Nhiều người Bôn-se-vich ít nhiệt tình hơn cũng chả lạc quan hơn. ‘Tình hình không mấy ổn định đến nỗi’, Lunacharsky viết cho bà xã vào 29/10, ‘mỗi lần viết xong một bức thư, anh không biết nó có phải là bức thư cuối cùng của mình không. Anh có thể bị ném vào tù bất cứ lúc nào.’

Nhưng không chỉ là sự chống đối của giới công bộc, hoặc trình độ thiếu chuyên nghiệp của người Bôn-se-vich trong việc điều hành bộ máy nhà nước phức tạp, là dấu hiệu cho sự sụp đổ gần kề của họ. Người Bôn-se-vich không biết cách nuôi ăn cả thành phố hoặc chặn đứng sự sụp đổ của nền kinh tế. Họ bị cô lập khỏi giới nông dân, chiếm đại đa số dân chúng, dường như sẽ sẵn sàng bầu cử chống lại họ trong những kỳ bầu cử Quốc hội Lập hiến sắp tới.

Như Công xã Paris của năm 1871, Petrograd xuất hiện như một hòn đảo Đỏ tí nị ở giữa một đại dương Xanh lá mênh mông. Người Bôn-se-vich cũng phải giải quyết việc cấm vận của các thế lực phương Tây và thành phần còn lại của giới trí thức xã hội chủ nghĩa. Tờ báo Novaia zhizri của Gorky là cái loa thẳng thắn và mạnh mẽ nhất về sự phản kháng này trong mùa thu và mùa đông, nó nói lên cái khôn khéo của một nhà chính trị luồn lách tránh làm mồi cho bộ máy kiểm duyệt Bôn-se-vich, như hầu hết các tờ báo đối lập. Cột báo, ‘Những Ý Tưởng Lỗi Thời’, với những bài viết tố cáo gay gắt ‘nền chuyên chính mới’, ắt đã bào mòn lòng ngưỡng mộ của Lênin đối với nhà văn mỏng manh đến mức nguy hiểm. Chính Gorky cũng thường biểu lộ sự ngạc nhiên tại sao tờ báo mình vẫn chưa bị đóng cửa. ‘Lenin và Trotsky’, ông cảnh báo ngay từ ngày 7/11, ‘không hiểu chút nào ý nghĩa của tự do hay Quyền Con Người. Họ đã bị trúng nọc độc của quyền lực, và điều này được minh chứng qua thái độ đáng xấu hổ của họ về quyền tự do ngôn luận, và tất cả những quyền tự do khác mà nền dân chủ đấu tranh vì chúng.’

Dù sao đi nữa, mặc dù bị cô lập một cách dường như hiểm nghèo, người Bôn-se-vich xoay sở để củng cố sự chuyên chính của họ trong ba tháng đầu tiên. Vào thời gian triệu tập, vào tháng giêng 1918, Quốc hội Lập hiến, mà lực lượng dân chủ chống đối đã ghim mọi hi vọng vào đó, đã trở nên bất khả thi vì sự trỗi dậy của một nhà nước độc đảng và sự phát triển của nền cai trị Xô-Viết tại các tỉnh lỵ. Làm thế nào người Bôn-se-vich thực hiện được điều này? Sự vắng mặt của một phản kháng quân sự mạnh mẽ trong thời kỳ nguy cấp này, khi quyền lực của họ yếu kém nhất, chắc chắn giúp giải thích phần nào thành công của họ. Các quân đoàn Bạch vệ của cuộc Nội chiến vẫn chưa được thành lập và các lực lượng chống Bôn-se-vich chủ yếu vẫn chỉ là những đạo quân Cô-dắc nhỏ giao tranh trong những trận đánh ở vùng ven của Đế Chế. Các lực lượng chống Bôn-se-vich ở trung tâm nước Nga gần như không tồn tại. Những người SR và Kadet, những người lãnh đạo triển vọng nhất đối với một lực lượng như thế, quá tin vào sự sụp đổ gần kề của chế độ nên xao nhãng việc tổ chức chống lại họ. Mọi người nghĩ rằng nó sẽ sụp đổ vì sự yếu kém nội bộ, nên không ai làm gì để thúc đẩy việc đó xảy đến nhanh chóng. Ủy ban Cứu Quốc và Cách Mạng do người SR tổ chức trong ít ngày đầu sau khi Bôn-se-vich chiếm chính quyền, không có thực lực đứng sau họ; trong khi các kế hoạch dựng lên một chính quyền xã hội đứng đầu là Chernov ở Stavka, bộ tư lệnh cũ của quân đội, chưa hề cất cánh.

Nhưng cốt lõi của sự thành công của người Bôn-se-vich là tiến trình hai mặt của việc xây dựng và phá hủy nhà nước. Một mặt, ở cấp độ cao nhất của nhà nước, họ nhắm đến việc tập trung tất cả quyền lực vào tay đảng và, bằng cách sử dụng khủng bố, quét sạch mọi thành phần chống đối chính trị. Ở cấp độ quần chúng, ngược lại, họ cổ vũ việc phá hủy các thang bậc nhà nước cũ bằng cách trao mọi quyền lực cho các Xô-Viết địa phương, các tổ chức trong hãng xưởng, các ủy ban quân nhân và những hình thức cai trị có tính giai cấp không tập trung khác. Khoảng trống quyền lực mà việc này tạo ra sẽ giúp phá vỡ tính dân chủ ngay tại trung tâm, trong khi chính những đám đông quần chúng sẽ bị trung tính hóa bởi những vận dụng quyền lực mà họ áp đặt lên các kẻ thù giai cấp hoặc sắc tộc cũ của họ trong môi trường địa phương của mình Tất nhiên không có một kế hoạch chủ tễ nào cho việc này – mọi thứ đều là ứng biến, như vốn phải như vậy đối với một chính thể mới xuất hiện lần đầu; vậy mà Lênin, ít nhất, có một ý thức thuộc bản năng về chiều hướng tổng quát, về điều mà ông gọi là ‘biện chứng của cách mạng’, và về nhiều phương diện chính là do thiên tài chính trị của ông. Việc cai trị của Xô-Viết địa phương ở vùng quê, vốn thực sự là quyền lực được buông lỏng của hội đồng làng xã để quản lý và chia đất của quí tộc địa chủ, sẽ hủy diệt nhu cầu của một Quốc hội Lập hiến trong tâm thức người nông dân, và do đó phá hủy nền tảng chính trị của người SR. Việc vận dụng ‘quyền kiểm soát của công nhân’ qua các ủy ban hãng xưởng để giúp phá vỡ hạ tầng kỹ nghệ cũ – cái mà người Bôn-se-vich gọi là ‘hệ thống tư bản’  – trong khi chuyển trách nhiệm tạo ra khủng hoảng kỹ nghệ cho chính người công nhân. Sự truyền bá quyền lực của quân nhân và những vận động hoà bình tại chỗ ở Mặt trận, mà người Bôn-se-vich khuyến khích, sẽ làm tổn hại đến các kế hoạch của các tư lệnh quân đội cũ nhằm động viên bình sĩ chống lại chế độ mới và khởi động lại cuộc chiến. Và cuối cùng, sự ly khai của những vùng đất biên cương khỏi Đế Chế Nga, mà lúc này người Bôn-se-vich cũng ủng hộ, sẽ hoàn tất công việc phân mảnh nhà nước đế quốc cũ và, theo Lênin, sẽ đẩy nhanh sự tiêu vong của các mối quan hệ phong kiến. *

*   Tuyên bố về Quyền các Quốc gia thuộc Nga, được ban hành vào 2/11, trao cho các dân tộc không-Nga những quyền tự quyết đầy đủ, bao gồm quyền tự do ra khỏi nước Nga và thành lập nhà nước độc lập. Phần Lan là nước đầu tiên lợi dụng cơ hội này, tuyên bố độc lập vào ngày 23/11/1917. Tiếp theo là Lithuania (28/11/, Latvia (30/12), Ukraine (9/1/1918), Estonia (24/2), Transcaucasia (22/4) và Bà Lan (3/11).

 

Ắt hẳn Lênin xem tất cả phong trào này là một phương tiện để phá hủy hệ thống chính trị cũ và nhờ đó dọn đường cho sự thành lập chuyên chính đảng trị của mình. Tất nhiên không có chứng cứ về điều này – chỉ có chứng cứ về những gì thực sự xảy ra và  mọi điều khác mà chúng ta biết về những ý tưởng và hành động trước đây của ông. Thật khó để nuốt trôi quan niệm, mà một số sử gia thuộc cánh Tả đã tán thành, cho rằng Lênin tự thâm tâm là một người tự do chủ nghĩa và hậu thuẫn mọi hình thức chính quyền địa phương hóa này là nhằm để xây dựng một loại hình nhà nước phi tập trung mới, như đã vạch ra trong cuốn Nhà Nước và Cách Mạng; một kế hoạch mà chỉ về sau mới bị dẹp qua một bên vì yêu cầu tập trung cho nội chiến. Quan niệm của Lênin về nhà nước cách mạng đã luôn là có tính tập trung về bản chất. Ông chỉ sử dụng những năng lực của các phong trào địa phương này để phá hủy chế độ cũ, cùng với nền dân chủ mong manh của năm 1917, trong khi vẫn luôn toan tính phá hủy những phong trào này khi đến lượt, như những lực lượng chính trị riêng lẻ. Trong khi ông ủng hộ phong trào nông dân chống lại các điền trang của giới quí tộc tỉnh lỵ, mục tiêu tối hậu của ông là thay thế hệ thống các tiểu chủ nông dân bằng những nông trang tập thể. Trong khi ông hậu thuẫn lời kêu gọi ‘quyền kiểm soát của công nhân’, không nghi ngờ gì ông làm vậy vì biết nó sẽ đưa đến sự hỗn loạn và do đó củng cố sự cần thiết phải trở lại các biện pháp quản lý tập trung dưới sự kiểm soát của đảng. Trong khi ông hậu thuẫn quyền lực của các quân nhân chừng nào họ phá hủy xong quân đội đế quốc cũ, ông vẫn luôn toan tính việc xây dựng Hồng quân theo hướng chính qui. Và trong khi ông khuyến khích phong trào độc lập của các dân tộc khác, mục tiêu sau cùng của ông là bãi bỏ tất cả nhà nước dân tộc. Trong mọi việc ông làm, mục đích tối hậu của Lênin là theo đuổi quyền lực. Quyền lực đối với ông không phải là một phương tiện – mà đó là cứu cánh tự thân. Nói theo George Orwell, ông không thiết lập một chuyên chính để bảo vệ cách mạng; ông làm cách mạng để thiết lập chuyên chính.

* * *

Ưu tiên đầu tiên của người Bôn-se-vich là thành lập quyền kiểm soát điều hành vững chắc. Phải mất vài tuần mới đập tan được sự chống đối của Công vụ. Những kẻ cầm đầu đình công và một số công bộc cao cấp đều bị bắt; các ủy viên chính trị được bổ nhiệm để tiếp quản bộ máy hành chính; và các viên chức  cấp thấp nào muốn phục vụ chính quyền Bôn-se-vich thì được đề bạt vào chức vụ cao hơn. Nói chung, phần đông các công chức vào năm 1918 đã từng là công chức trước 1917, nhất là trong cấp bậc cao của ngành hành chính. Nhưng ở những ngành các công chức cũ không được tin cậy (nhất là trong Bộ Ngoại giao) thường có cuộc thanh trừng toàn bộ. Điều này thiết lập một kiểu dạng được lặp đi lặp lại trong suốt những năm đầu của việc xây dựng nhà nước Xô-Viết. Đó là cuộc hôn phối có tính thuận lợi giữa yêu sách của người Bôn-se-vich về lòng trung thành và tham vọng muốn hàng ngũ đảng lớn mạnh. Một trong những kết quả của điều này là đề bạt những người làm thuê cho đảng thuộc loại ba, những kẻ cơ hội thối nát và những phần tử dốt nát từ các tầng lớp thấp vào những chức vụ có quyền lực thực sự. Trình độ văn hóa thấp kém này của bộ máy hành chính Xô-Viết là di sản thường trực của Tháng Mười sau này sẽ ám ảnh những nhà lãnh đạo Bôn-se-vich.

 

Vì cuộc đình công của Công vụ, khiến không thể dựng nên hệ thống cai trị qua nội các nên MRC tiếp tục hoạt động như một chính quyền thực sự cho đến giữa tháng 11. Đến lúc đó phần nhiều các Dân Ủy đã nắm đủ quyền kiểm soát các bộ liên quan để có thể chuyển giao quyền cai trị đến tận Sovnarkom. Nhưng Sovnarkom không phải là một chính quyền nội các bình thường. Có một điều, không có sự phân chia rõ ràng giữa quyền lợi của đảng và chính quyền. Những buổi họp của Sovnarkom, mà Lênin ngồi ghế chủ tịch trong bộ chỉ huy Bôn-se-vich ở Smolny, bàn thảo về những vấn đề của đảng và chính quyền xen kẽ nhau; các nghị quyết của Uỷ ban Trung ương được thi hành như những chỉ thị Xô-Viết. Mọi chuyện về hoạt động ban đầu của Sovnarkom phơi bày một hình ảnh về sự ứng biến vội vàng. Các buổi họp của nó không có lịch trình nghị sự chính thức và mọi việc được bàn bạc như ‘là công tác khẩn cấp’, trong khi Lênin vạch ra những kế hoạch thích đáng và, khi thời điểm chín mùi, thông báo chúng trước các buổi họp. Chúng thường được thông qua mà không cần tháo luận, vì không mấy ai dám cật vấn óc phán đoán của ông.

Theo nhiều quan sát viên, luôn có một không khí âm mưu trong các buổi họp này. Như thế người Bôn-se-vich về tâm lý vẫn chưa quen lối tổ chức đấu tranh bí mật để có thể chuyển sang thành một đảng có trách nhiệm của một chính quyền quốc gia. Họ không thể chịu được khi  phải thay áo jacket bằng da để mặc áo vét bộ trưởng. Simon Liberman, đôi khi có mặt trong các buổi họp Sovnarkom, nhớ rằng:

Dù có một thư ký giỏi việc hành chính nhằm tác động đến các phiên họp một tính cách trang trọng của một buổi họp nội các, chúng tôi không thể nào thôi cảm thấy đang ngồi đây, đang tham dự cuộc họp của một ủy ban đang hoạt động bí mật! Nhiều năm ròng chúng tôi đã thuộc về những hội kín khác nhau, đến nỗi chúng trở nên quá đỗi thân thiết. Nhiều ủy viên vẫn còn ngồi với nguyên bộ áo choàng luộm thuộm: hầu hết vẫn mặc áo jacket bằng da trông rất ngầu.

Người Bôn-se-vich không bao giờ hoàn toàn thành công trong việc cởi bỏ thói quen thời hoạt động bí mật. Thậm chí đến năm 1921, Lênin vẫn còn tạo ra ấn tượng của một nhà âm mưu cho đảng hơn là một chính khách. Tất nhiên đó là một hiện tượng bình thường – người ta có thể gọi đó là Triệu chứng Jacobin – mà phần nào giải thích khuynh hướng sử dụng bạo lực và khủng bố triền miên của nhà nước cách mạng. Nhưng người Bôn-se-vich tiến thêm một bước xa hơn so với nhóm Jacobin. Nền chuyên chính của họ là nền chuyên chính đầu tiên của thế kỷ 20 (tiếp sau là Mussolini, Hitler, Franco và Castro) để vinh danh quá khứ bạo lực của họ qua việc tuyên truyền và công nhận các biểu tượng và biểu hiệu quân sự. Như thể sự tôn sùng bạo lực là tieu nhình ảnh về người Bôn-se-vich, một cứu cánh tự thân hơn là một phương tiện.

Đúng là ngay khi đảng tiến lên lấn át hoạt động của Sovnarkom, thì Sovnarkom cũng tiến lên lấn át hoạt động của Ban Điều hành Xô-Viết. Mặc dù việc Bôn-se-vich chiếm chính quyền được thực hiện nhân danh Đại hội Xô-Viết, Lênin không có dự định cai trị thông qua Quốc hội, hoặc sự điều hành thường trực của nó. Ông không tin tưởng vào nguyên tắc quyền trị vì nghị viện, cho dù là nghị viện của Xô-Viết  với,  ít nhất về mặt kỹ thuật, đa số đảng viên Bôn-se-vich được cắm trong đó. Trong những tuần lễ đầu tiên sau vụ đảo chính tháng 10 ban Điều hành Xô-Viết là một bộ phận kềm hãm thực sự đối với Sovnarkom. Các người SR cánh tả, người Anarchist và nhóm nhỏ các người Men-se-vich theo chủ nghĩa quốc tế tụ tập quanh tòa soạn báo của Gorky, là một tiếng nói phản kháng, nếu được tiếp tay với những người Bôn-se-vich ôn hòa, có thể gần như lật ngược thế đa số Lê-nin-nit. Vào giữa tháng 10, khi các nhà lãnh đạo của Xô-Viết Nông dân, đúng hơn là cánh tả của nó, * được bổ sung vào ban Điều hành Xô-Viết, sức mạnh tiềm năng của phe chống đối càng tăng lên hơn nữa. Vào ngày 24/11 nó thực sự đạt được đa số cho một kiến nghị khiển trách việc Bôn-se-vich đóng cửa Duma Thành phố Petrograd trước đó tám ngày, mặc dù khi đếm phiếu bầu lại quyết định bị đảo ngược

*  Các người SR cánh Hữu đã kêu gọi một Đại hội Xô-Viết Nông dân Thứ Hai đế tập hợp hậu thuẫn chống lại chế độ Bôn-se-vich, nhưng nó bị tràn ngập bởi các đại biểu cánh tả từ các Ủy ban quân nhân và các tổ chức Xô-Viết cấp thấp hơn, khiến cho các SR cánh Hữu phải bước ra ngoài để phản kháng. Các lãnh đạo cánh Tả sau đó thông qua một nghị quyết trộn lẫn Đại hội ‘Bất thường’ này với bạn Điều hành Xô-Viết Toàn Nga.

 

Vậy mà sự trộn lẫn với Xô-Viết Nông dân này cũng là một bước ngoặt trong việc khai tử của ban Điều hành Xô-Viết với tư cách một định chế hợp pháp (mà ắt hẳn Lênin dự định).Thêm vào 108 đại biểu nông dân là 100 đại biểu từ các tổ chức cách mạng trong quân đội và hải quân, và thêm phân nửa số đó từ các nghiệp đoàn. Điều này khiến sĩ số tăng gấp ba, lên đến 366 thành viên, quá lớn để thành một bộ máy điều hành hiệu quả. Gánh nặng ra quyết định giờ chuyển cho Sovnarkom. Từ giữa tháng 11 ban Điều hành Xô-Viết bất đầu họp thưa hơn (một hoặc hai lần một tuần) trong khi Sovnarkom họp thường hơn (một hay hai lần một ngày). Số lượng các đạo luật được mang ra trước Ban Điều hành Xô-Viết cũng sụt giảm mạnh, trong khi Sovnarkom bắt đầu cai trị bằng các sắc lệnh. Vào ngày 4/11 Sovnarkom ra sắc lệnh tự cho mình cái quyền thông qua đạo luật khẩn cấp không cần có sự chấp thuận của Xô-Viết – trắng trợn vi phạm nguyên tác quyền lực của Xô-Viết. Người Bôn-se-vich ôn hòa bỏ phiếu chống chỉ thị, nhưng nó vẫn được thông qua bởi hai kỳ bỏ phiếu ở ban Điều hành Xô-Viết. Kamenev từ chức Chủ tịch ban Điều hành và tham gia vào lực lượng chống đối trong một nỗ lực phối hợp nhằm bảo vệ quyền lực của Xô-Viết. Nhưng người Lêninnit vẫn dấn tới. Sverdlov, người thay thế Kamenev, là một kẻ tán thành quyết liệt quyền chuyên chính của đảng và trung thành thực hiện các chỉ thị của Lênin để biến điều đó thành hiện thực bằng cách tập trung quyền lực qua Sovnarkom. Vào ngày 17/11 y trình lên ban Điều hành Xô-Viết một ‘chỉ thị lập hiến’: trong khi nhắc lại một cách hình thức là Sovnarkom có trách nhiệm với Xô-Viết và phải trình lên nó tất cả đạo luật để được tán thành, nó không nói cụ thể khi nào việc này phải được thực hiện. Sovnarkom, nói cách khác, có thể ban hành một sắc luật ràng buộc về mặt luật pháp mà không cần được Xô-Viết chấp thuận trước, tức là  càng ngày càng Xô-Viết trở thành công cụ của nó. Vào ngày 12/12 ban Điều hành Xô-Viết họp lần đầu tiên trong hai tuần: trong thời gian nghỉ họp Sovnarkom đã bắt đầu thương lượng hòa bình với Liên minh Trung tâm (Đức, Áo . . . ), tuyên chiến với Ukraine và áp dụng thiết quân luật ở Petrograd và Moscow. Khi Sukhanov phản kháng, vif nất cả các biện pháp này đều được thi hành mà không cần bàn bạc ở Xô-Viết. Nguyên tắc quyền lực trong tay Xô-Viết, dựa vào đó Bôn-se-vich nắm quyền cai trị của mình, đã bị chôn vùi; ban Điều hành Xô-Viết rút lại chỉ cơn là ‘con vẹt đáng thương của một nghị viện cách mạng’.

Từ những ngày đầu của chế độ mới người Bôn-se-vich đã rắp tâm phá hủy, với cái mũ ‘phản cách mạng’, tất cả những đảng nào chống đối việc cướp chính quyền Tháng 10 của họ. Vào ngày 27/10 Sovnarkom dẹp hết báo chí chống đối, gây ra phẫn nộ. Phe Bôn-se-vich ôn hòa bầu chống lại nó trong ban Điều hành Xô-Viết vào ngày 4/11; năm người từ chức Ủy ban Trung ương Bôn-se-vich ngày hôm đó, tiếp theo cũng số người đó từ chức khỏi Sovnarkom, cũng một phần do phản kháng việc cấm báo chí đối lập; trong lúc Nghiệp đoàn Thợ in hăm doạ đình công toàn quốc trừ khi quyền tự do báo chí được vãn hồi. Nhưng không có gì đủ sức ngăn chận được MRC phái các phân đội Bôn-se-vich đập phá nhiều toà soạn đối lập, tịch thu báo mới in và bắt giữ các biên tập viên. Hầu hết các tờ báo đối lập chỉ đơn giản rút vào hoạt động bí mật và chẳng bao lâu sẽ tái xuất hiện với một tên đã được thay đổi nhẹ nhàng. Tờ Volia naroda của SR, xuất hiện lại ngày hôm sau với tên Volia, và sau đó tiếp tục với tên Narod. Tờ báo xã hội, Den (Ngày), xuất hiện dưới tên Buổi Sáng, Buổi Trưa, Buổi Chiều, Buổi Tối, Nửa Đêm vân vân.

* * *

Các đảng đối lập được nâng đỡ bởi niềm kỳ vọng cứu rỗi chính trị bằng Quốc hội Lập hiến. Nó chắc chắn là tiếng nói của dân chủ. Mỗi công dân đều được nó đại diện, bất kể đến giai cấp, trong khi các Xô-Viết chỉ là đại diện của công nhân, nông dân và binh sĩ. Phe chống đối tin tưởng rằng Quốc hội Lập hiến sẽ được công nhận là chủ quyền tối cao của đất nước; thậm chí người Bôn-se-vich cũng không dám thách thức. Thật ra, các lãnh đạo Bôn-se-vich không thống nhất cách giải quyết đối với Quốc hội, mặc dù chúng ta chưa có đủ tư liệu về việc tranh luận nội bộ về vấn đề này của họ. Lênin lúc nào cũng tỏ ra coi thường thùng phiếu và ngay từ các Luận điểm Tháng Tư của mình ông đã xem quyền lực Xô-Viết là hình thức dân chủ cao hơn Quốc hội Lập hiến. Không có chỗ cho ‘giới tư sản’ ở Nga và, theo quan điểm của Lênin, cũng không có chỗ cho họ trong cách mạng. Nhưng việc cướp chính quyền đã một phần được mình chứng như một biện pháp để bảo đảm việc triệu tập Quốc hội Lập hiến: người ta xì xào rất nhiều về việc Chính quyền Lâm thời làm cách nào để tránh triệu tập nó, và về cách nào để chỉ có chính quyền Xô-Viết mới có thể đưa xứ sở đi đến Quốc hội Lập hiến. Người Bôn-se-vich không thể thoái thác lời hứa mà không sợ mất mặt. Hơn nữa, tất cả những đảng viên ôn hòa , với các mức độ khác nhau, đều muốn thực hiện nguyên tắc tiến hành Quốc hội Lập hiến. Kamenev, chẳng hạn, là một người tán thành trước sau như một ý kiến rằng người Bôn-se-vich nên cạnh tranh quyền lực bên trong nó và như một số người SR cánh Tả, thậm chí còn muốn phối hợp quyền lực Xô-Viết ở mức độ địa phương với Quốc hội Lập hiến thành một nghị viện quốc gia cai trị.

Với những điều kiện như thế, Lênin đành phải cho phép bầu cử tiến hành. Việc bỏ phiếu bắt đầu vào ngày 12/11 và kéo dài trong hai tuần, vi xứ sở quá rộng lớn phải cần kéo dài công tác tuyển cử. Chiến dịch tranh cử rất dữ dội, đôi khi bạo lực, và số người đi bầu rất cao. Phần đông dân chúng hiểu rằng đây thực ra là cuộc trưng cầu dân ý về chế độ Bôn-se-vich. Đảng SR thu được 16 triệu phiếu (38 phần trăm tổng số phiếu bầu), hầu hết đều do nông dân trong vùng nông nghiệp trung tâm và Siberia. Nhưng lá phiếu không phân biệt giữa người SR cánh Tả, hậu thuẫn việc Bôn-se-vich cướp chính quyền, và SR cánh Hữu, ngược lại chống đối. Việc chia rẽ đã xảy ra quá gần đây nên lá phiếu không thể cập nhật, trừ ở một hai nơi. Do đó không có gì rõ ràng có bao nhiêu lá phiếu SR phản đối chế độ Bôn-se-vich, cho dù đây là vấn đề cốt lõi của toàn bộ cuộc bầu cử. Việc duy nhất ta có thể nói chắc chắn  là SR cánh Tả có sự hậu thuẫn mạnh mẽ trong giới binh sĩ nông dân trẻ trong khi SR cánh Hữu được giới nông dân có tuổi trong làng ủng hộ. Theo Oliver Radkey, người có thẩm quyền lớn nhất về vấn đề này, các nông dân ít nhiều được phân chia làm hai phần bằng nhau cho hai đảng, mặc dù chắc chắn SR cánh Hữu sẽ đứng đầu trong cuộc bầu cử vì họ vẫn được đa số các tổ chức đảng ở tỉnh lỵ ủng hộ và do đó chuẩn bị tốt hơn cho chiến dịch. Tập quán bầu bán theo truyền thống của giới nông dân, trong đó toàn hội đồng làng xã đều bỏ phiếu cho cùng một đảng, ắt hẳn sẽ ưu ái cho SR cánh Hữu, vì hầu hết các bô lão đều nghiêng về phía họ. Nhưng cho dù SR cánh Hữu có chiếm hầu hết số phiếu của nông dân, thì họ vẫn còn thiếu một đa số dứt khoát trong Quốc hội Lập hiến. Chỉ khi nào được ủng hộ của người Men-se-vich (chiếm 3 phần trăm số phiếu bầu), Kadet (5 phần trăm) và SR Ukraine (12 phần trăm) thì họ mới đạt được điều đó, nhưng hố chia cách giữa người Nga và người SR Ukraine về vấn đề độc lập dân tộc khiến điều đó còn là điều đáng ngời.

Dù sao thì kết quả tuyển cử cũng là một cản trở sâu sắc cho tuyên bố của chính quyền là mình cai trị nhân danh nhân dân. Đảng Bôn-se-vich chỉ được 10 triệu phiếu (24 phần trăm tổng số), hầu hết là phiếu của quân nhân và công nhân của vùng kỹ nghệ phía bắc. Ở Petrograd và Moscow họ thắng áp đảo, những ở vùng nông nghiệp phía nam nơi tổ chức của họ vốn yếu, họ gần như không thu được phiếu nào. Người Bôn-se-vich lập tức tuyên bố kết quả bầu cử không công bằng: các báo cáo địa phương về gian lận bầu cử, một điều chắc chắn có thể xảy ra trong một đất nước quá rộng lớn và lạc hậu như Nga, được thu thập ráo riết và được coi như là chứng cứ để tổ chức lại bầu cử. Trong khi đó họ đẩy mạnh chiến dịch hù dọa và trấn áp những người chủ trương Quốc hội Lập hiến. Việc khai mạc Quốc hội bị Sovnarkom đình hoãn vô hạn định vào ngày 20/11, chỉ tám ngày trước khi khai mạc theo dự kiến. Ngay hôm sau Sovnarkom phát đi một sắc lệnh cho các cử tri quyền rút lại các đại biểu của mình từ tất cả các cơ quan đại diện, kể cả Quốc hội Lập hiến, miễn là việc này được hơn phân nửa số cử tri trong khu vực bầu cử tương ứng ủng hộ. Thực ra điều này có nghĩa các cán bộ hoạt động Bôn-se-vich được cho quyền đảo ngược kết quả bầu cử dân chủ bằng cách lôi kéo sự hậu thuẫn trong các hãng xưởng và lực lượng lính đồn trú.???? Rõ ràng mục đích là nhằm chống lại người Kadet, vốn đã đạt được kết quả khá tốt trong các thành phố bằng việc thu gom số phiếu bảo thủ-ôn hòa. Trótsky bảo vệ dự luật trong ban Điều hành Xô-Viết như một cách thay thế ‘không đau đớn’ cho việc đóng cửa thẳng thừng Quốc hội trong trường hợp nó chống đối lại nguyên tắc quyền lực Xô-Viết. Đó là sự đe doạ trắng trợn là người Bôn-se-vich sẽ không tha thứ một nghị viện thù nghịch. ‘Nếu người Kadet chiếm được đa số,’ ông cảnh báo, ‘thế thì tất nhiên sẽ không được trao quyền lực.’ Như để nhắc nhở mối răn đe này là có thật, bọn MRC xông vào Điện Tauride vào ngày 23/11 và bắt giữ ba ủy viên bầu cử của Quốc hội. Họ bị câu lưu và thẩm vấn tại Smolny trong sáu ngày, trước khi được thả ra và thay thế bởi Uritsky của Bôn-se-vich.

Các đảng đối lập phẫn nộ trước hành động bắt nạt này. Có vẻ như là người Bôn-se-vich đang dần dần bộc lộ quan điểm là Quốc hội hoặc bị đình hoãn đến một tương lai xa vời hoặc bị đóng cửa vĩnh viễn là do kết quả bầu cử bết bát của đảng trong các kỳ bầu cử. Họ lập tức thành lập Hiệp Hội Bảo vệ Quốc hội Lập hiến và kêu gọi sự hậu thuẫn bằng cuộc biểu tình trước Điện Tauride vào ngày 28/11 với yêu cầu bắt buộc phải mở ngay nghị viện. Những đám đông tụ họp vào ngày hôm đó, thật ra không thể nào lên đến con số 200,000 như báo chí đối lập thổi phồng! Một phần tư còn số đó là một ước tính hợp lý hơn, với phần đông là sinh viên, sĩ quan và công chức nổi bật, thêm một số ít công nhân, như thợ in và thợ thủ công. Một nhóm gồm 45 đại biểu Quốc hội, do Schneider, viên Thị trưởng Petrograd không hề biết mệt mỏi, cầm đầu, xông qua các hàng rào ngăn chặn của Bôn-se-vich để vào điện. Họ tiến hành điểm đầu tiên trong lịch trình nghị sự của nghị viện, bầu Chủ tịch đoàn. Tất nhiên họ hiểu rằng mình thiếu sĩ số cần thiết gồm 400 đại biểu, nhưng đây ít nhất là một động thái mang tính biểu tượng. Ngày hôm sau họ thấy Điện Tauride bị binh lính bao vây. Đám đông bị giải tán và, mặc dù các đại biểu một lần nữa được phép vào, chẳng bao lâu họ bị ra lệnh rời đi.

.Cuộc biểu tình ngay lập tức bị dán nhãn hiệu là hành động ‘phản cách mạng’ do người Kadet tổ chức. Đảng Kadet bị đặt ngoài vòng pháp luật và bị tố, theo truyền thống Jacobin, là ‘kẻ thù của nhân dân’. Hàng chục lãnh đạo của nó bị bắt giữ, trong đó có vài đại biểu của Quốc hội Lập hiến: Shingarev, Kokoshkin, Dolgorukov, Panina, Astrov và Rodichev. Công lý cách mạng không công nhận quyền miễn trừ của các nghị viên. Phần đông họ bị giải về Pháo đài Peter và Paul, tại đó họ bị giữ lại ba tháng trong những điều kiện khá hợp lý (Dolgorukov giờ có thời gian tiếp tục vui thú đọc sách và không phải trả lời điện thoại), túy nhiên Kokoshkin và Shingarev đều ngã bệnh, người trước thì bị lao phổi, phải chuyển đến trạm y tế khám đường (nơi sau đó họ bị ám sát một cách tàn nhẫn bởi các thủy thủ Bôn-se-vich). Các người SR cánh Tả chống đối việc bắt bớ, xem đó là một hành động khủng bố, trong khi Gorky tố cáo đó là ‘vết nhơ của dân chủ’. Nhưng người Bôn-se-vich đã quyết tâm hủy diệt người Kadet như là ‘lực lượng có tổ chức của bọn tư sản phản cách mạng’. Hành động đó không chỉ là dẹp bỏ một đảng chính trị, mà còn là hành động tuyên chiến với một giai cấp xã hội. Nhằm biện minh cho việc bắt giữ, Lênin gọi Ủy ban Trung ương Kadet là ‘bộ tham mưu chính trị của tư sản’. Thậm chí Trotsky còn tuyên bố rằng vì giai cấp tư sản đang dẩy chết khỏi  sân khấu của lịch sử, các biện pháp bạo lực của người Bôn-se-vich đối với họ là điều tốt, vì giúp họ thoát khỏi nỗi đau khổ nhanh chóng hơn. ‘Không có gì là vô luân trong việc người vô sản kết liễu một giai cấp đang sụp đổ: đó là quyền của nó.’

Việc bắt bớ những người được coi là ‘kẻ thù của nhân dân’ không dừng lại với người Kadet. Nối gót theo sau người Kadet vào Pháo đài Peter và Paul là một số các lãnh đạo SR và Men-se-vich (Avksentiev, Gots, Sorokin, Argunov), cũng như một số lãnh đạo của Xô-Viết Nông dân. Thậm chí lệnh con đưa xuống bắt giữ Tsereteli, Dan và Chernov. Đến cuối tháng 12 nhà tù chứa đầy những nhà ‘làm chính trị’ mới này đến nỗi phải thả bớt những tội phạm hình sự nhẹ để nhường chỗ cho họ. Một số tù chính trị giàu có, như các doanh nhân Tret’iakov và Konovalov, cựu Bộ trưởng Thương mại và Kỹ nghệ, được trả tự do sau khi nộp tiền chuộc.

Chậm chạp nhưng chắc chắn, hình dáng của một chế độ cảnh sát trị bất đầu thành hình. Vào ngày 5/12 MRC cuối cùng bị giải thể và, hai ngày sau, nhiệm vụ của nó được chuyển giao cho Cheka, * một cơ quan an ninh mới sau này sẽ trở thành KGB. Ngay từ lúc khởi đầu Cheka hoạt động ngoài vòng pháp luật: không có một sắc lệnh được in ấn đánh dấu tổ chức của nó, chỉ có biên bản bí mật của Sovnarkom, mà Cheka coi như là một bộ phận phụ thuộc, mặc dù trong thực tế nó vượt xa lãnh vực chính trị. Lênin đã nhấn mạnh sự cần thiết phải có ‘một Jacobin vô sản dạn dày’  để cầm đầu’ Okhrana’ mới và ông tìm thấy con người đó trong Felix Dzerzhinsky, một người Ba Lan 40 tuổi từ thành phố Lithuania của tỉnh Vilnius đã qua nửa phần đời trong các nhà tù của sa hoàng và do đó có động lực cá nhân đặc biệt để bắt những ‘kẻ thù của nhân dân’ chịu đựng giống như y trong tù. Thời còn bé y đã từng muốn trở thành một giáo sĩ Jesuit và, mặc dù từ rất lâu y đã thôi không còn tin vào tôn giáo nữa, y đem tinh thần cuồng tín ấy vào các hoạt động bức hại chính trị. Tại buổi họp của Sovnarkom nơi nó được thành lập, y mô tả nhiệm vụ của Cheka như là một cuộc chiến không khoan nhượng chống lại kẻ nội thù của cách mạng:

Chúng ta cần phái đến mặt trận ấy – mặt trận nguy hiểm và tàn bạo nhất – những đồng chí tận tụy, gan lì, kiên định sẵn sàng làm bất cứ việc gì để bảo vệ Cách Mạng. Đừng cho rằng tôi đi tim những hình thức của công lý cách mạng; chúng ta giờ không cần đến công lý; giờ chúng ta đang lâm chiến – mặt đối mặt, một cuộc chiến một mất một còn.’

*  Tên đầy đủ của nó là Ủy ban Đặc biệt Toàn Nga Đấu tranh Chống Phản Cách Mạng và Phá hoại

 

Người ta có thể hỏi tại sao những người Bôn-se-vich ôn hòa, vốn luôn chống đối công khai việc sử dụng khủng bố chính trị và nhận được sự hậu thuẫn rộng rãi trong hàng ngũ đảng, không thể hành động như một cái phanh hữu hiệu hơn đối với những kẻ cuồng tín Lêninnit. Câu trả lời chắc chắn nằm ở tính yếu đuối về tâm lý của những phần tử ôn hòa và vị thế chuyên quyền của Lênin sau ‘thắng lợi’ Tháng 10. Không người Bôn-se-vich ôn hòa nào có dũng khí hoặc năng lực lãnh đạo để đứng lên chống lại Lênin và khiến đảng có nguy cơ rạn nứt. Năm người từng từ chức khỏi Ủy ban Trung ương vào ngày 4/11 tất cả không lâu sau đó đều làm hòa với Lênin:  Zinoviev, luôn là tên hèn nhát và cơ hội, là người đầu tiên công khai nhận khuyết điểm vào ngày 8/11, và được nhận lại vào Uỷ ban Trung ương; Kamenev, Miliutin, Nogin và Rykov kéo dài đến ba tuần. Dù ở mức độ lớn hay nhỏ, tính yếu đuối cơ bản của tất cả phần tử ôn hòa là tính duy lí trí của họ. Trong khi ý tưởng về Khủng bố làm họ áy náy, nó cũng tước khỏi họ phương tiện tranh đấu chống lại nó ngoài phạm trù ngôn ngữ. Lunacharsky là một mình họa hoàn hảo. Vào ngày 2/11 ông đã bật khóc tại một buổi họp của Sovnarkom, và sau đó từ chức Ủy viên Khai sáng, sau khi nghe báo cáo về việc người Bôn-se-vich pháo kích Kremlin đã phá hủy Thánh đường St Basil trong trận đánh ở Moscow. ‘Tôi không thể chịu đựng hơn được nữa,’ông đã viết trong Novaia zhizri. ‘Cốc của tôi đã đầy. Tôi bất lục không thể ngăn chặn sự man rợ này.’ Khi những báo cáo này hóa ra là sai lầm ông đã rút lại đơn từ chức; nhưng ông vẫn khó chịu vì mình bất lực. Gorky, một trong những người bạn chính trị lâu năm của ông, người mà sau này sẽ nhờ vả ông cứu giúp các nhà văn và nghệ sĩ trong nước thoát khỏi sự bức hại đã đúc kết tình hình của những người ôn hòa trong một bức thư Năm Mới gởi cho Ekaterina:

Rõ ràng là nước Nga đang tiến đến một chính quyền chuyên chế mới và thậm chí còn dã man hơn. Hôm qua anh gọi cho ‘Ủy viên Tư pháp’, một con người khá tử tế nhưng, như tất cả đại biểu của ‘chính quyền’, y hoàn toàn bất lực. Anh khẩn khoản xin y thả tự do cho Vernadsky, dường như không thành công. . . Thái độ của Lunacharsky hết sức  vô lý và khôi hài – y là một nhân vật vừa khôi hài vừa bi thảm. Tất cả bọn Bôn-se-vich cùng loại như y đã trở nên đáng thương và khốn khổ một cách đáng ghê tởm.’

Những người SR cánh Tả, đã gia nhập Sovnarkom ngày 12/12, cũng đều bị tê liệt y như vậy. Họ từng là nhóm chủ chốt duy nhất không bước ra khỏi Đại hội Xô-Viết sau khi người Bôn-se-vich cướp chính quyền, và điều này đã dẫn đến việc cuối cùng họ chia tay với SR cánh Hữu. Từ thời điểm đó trở đi, họ là hai đảng riêng biệt tranh đầu giành quyền kiểm soát các tổ chức SR tỉnh lỵ và Xô-Viết Nông dân. Trong khi SR cánh Hữu quyết tâm cô lập người Bôn-se-vich và tập trung mọi hi vọng của họ vào Quốc hội Lập hiến, thì SR cánh Tả tin tưởng rằng bằng cách tham gia chính quyền – và cả Cheka – cùng với người Bôn-se-vich, họ có thể kềm chế bớt những hành động tệ hại quá đáng của họ. Phần đông các lãnh đạo SR cánh Tả đều khá trẻ nên có thể thông cảm cho chủ nghĩa lý tưởng điên rồ này: Steinberg, Karelin và Kalegaev tất cả đều trong lứa tuổi 20, trong khi Spiridonova và Kamkov chỉ 32. Các SR cánh Tả hứng khởi trước những gì họ chứng kiến về tính tự phát cách mạng của các Xô-Viết. Họ ra sức kết hợp thứ chủ nghĩa tự do  quá trớn với hành động khủng bố quá đáng nhằm xiển dương lý tưởng đó. Sau Tháng Mười họ tràn ngập các cơ quan Xô-Viết địa phương, tại đó họ trở thành đảng lấn át gồm những nông dân và binh sĩ đã bị cực đoan hóa. Sắc lệnh Ruộng đất mà Lênin đưa vào Đại hội Xô-Viết Lần Hai vào ngày 26/10, đúng ra là cương lĩnh nông nghiệp của SR cánh Tả, như chính ông đã thừa nhận. Nó trao cho nông dân toàn quyền hành động trong các cộng đồng nông thôn để chiếm đoạt và phân chia lại đất tư. Việc này đủ thuyết phục các người SR cánh Tả rằng một giao ước với người Bôn+sơ-vich có thể đạt được; và vào giữa tháng 11, sau khi đã dẫn dắt Xô-Viết Nông dân hoà nhập vào Ban Điều hành Xô-Viết Toàn Nga, họ bắt đầu thương thảo để được bước vào Sovnarkom. Kalegaev trở thành Ủy viên Nông nghiệp; Steinberg Ủy viên Tư pháp ‘bất lực’ mà Gorky đến nhờ cậy; và năm người khác giữ những chức vụ nhỏ hơn, kể cả việc điều hành bưu điện và mang lưới điện tín bệ rạc của xứ sở. Nhưng người Bôn-se-vich giữ lại những chức vụ nòng cốt trong chính quyền, và người SR thực sự không hơn những lá nho mà Lênin đúng để che đậy sự trần truồng của thói chuyên chính của ông ta. Trái với kỳ vọng ngây thơ của mình, các SR cánh Tả bất lực không thể dung hoà những hành động độc đoán quá đáng của các chính sách ông ta đưa ra; và trong mọi lãnh vực những chính sách này hóa ra đối nghịch hoàn toàn với lý tưởng cách mạng của họ. Hệ thống gần như vô chính phủ của các Xô-Viết phí tập trung hóa mà họ nhắm đến không thể đạt được trong cấu trúc tập trung hoá của Chuyên chính Vô Sản của Lênin; sự hậu thuẫn của họ cho công xã làng, tổ chức hãng xưởng theo tuyến công đoàn viên-vô chính phủ, và chủ quyền chính trị của các nhóm dân tộc thiểu số tất cả đều không phù hợp với các mục tiêu dài hạn của chủ nghĩa Bôn-se-vich; và nghĩa vụ nhiệt tình với các quyền tự do dân sự  khó lòng phù hợp với các biện pháp cai trị của Bôn-se-vich.

Với người SR đã an toàn trên boong, Lênin bước thêm một bước trong mưu đồ bức hại chống Quốc hội Lập hiến. Mặc dù gắn kết với các quyền tự do dân chủ, người SR cánh Tả cũng kiên quyết như người Bôn-se-vich không cho phép nguyên tắc quyền hành nghị viện can thiệp vào quyền lực Xô-Viết. Sau sự kiện ngày 28/11 nhiều người Bôn-se-vich và SR cánh Tả tán thành việc đuổi người Kadet ra khỏi Quốc hội Lập hiến, và có thể sau đó tổ chức lại quanh hai đảng của họ thành Hội đồng Cách mạng. Bukharin đã đề xuất điều này trong Ủy ban Trung ương vào ngày 29/11. Như Hội đồng Pháp vào năm 1792, từng thay thế Quốc hội Lập pháp, nó  sẽ là một bộ phận mềm dẽo hơn nhiều cho chuyên chính Xô-Viết, mà vẫn giữ được tất cả những dấu hiệu bên ngoài của một nghị viện quốc gia để xoa dịu cái mà Bukharin gọi là ‘ảo tưởng lập hiến vẫn còn in đậm trong đầu óc quần chúng’.

Trong khi đó Lênin đang tiến gần đến việc tán thành bãi bỏ thẳng thừng Quốc hội Lập hiến. Vào ngày 12/12 ông xuất bản những ‘Luận điểm’ của mình trên chủ đề này, trong đó ông lập luận rằng quyền lực Xô-Viết đã hủy bộ nhu cầu cần có một ‘Quốc hội tư sản-dân chủ’. Trong bất cứ trường hợp nào, nó thực sự không còn có tính đại diện vì sự chia rẽ trong Đảng SR và khuynh hướng thiên tả của quần chúng từ Tháng Mười. ‘Cuộc đấu tranh giai cấp’, việc đánh bại bọn ‘phản cách mạng’ đòi hỏi phải củng cố quyền lực Xô-Viết và, trừ khi Quốc hội nhận ra điều này, ‘toàn thể nhân dân’ sẽ nhất trí đã ‘đến lúc nó phải cáo chung’. Đó là lời tuyên bố rắp tâm dẹp bỏ Quốc hội Lập hiến trừ khi Quốc hội Lập hiến đồng ý tự giải tán. Tối hậu thư của Lênin trở thành chính sách của Đảng, và rồi tiếp theo trở thành chính sách của Sovnarkom. Mười ngày sau, tại một buổi họp của ban Điều hành Xô-Viết, những người Bôn-se-vich và SR cánh Tả đều yêu cầu đóng cửa Quốc hội Lập hiến, trừ khi nó quyết định phụ thuộc vào các Xô-Viết tại phiên khai mạc vào ngày 5/1. Trong lúc đó một Đại hội Xô-Viết Lần Ba được triệu tập vào ngày 8/1, hai tuần sớm hơn dự định lúc bạn đầu, để, như Zinoviev đã nói, ‘nhân dân bị áp bức có thể thông qua bản án đối với Quốc hội Lập hiến’. Lênin soạn thảo một ‘Tuyên bố về Quyền của Nhân dân Lao động’ để được Quốc hội Lập hiến thông qua trong phiên khai mạc. Mô hình giả mạo về Quyền Con Người này tuyên bố Nga là một Cộng Hòa các Xô-Viết và thực thi tất cả sắc lệnh của Sovnarkom, bao gồm việc bãi bỏ tài sản đất đai thuộc tư hữu, quốc hữu hóa các ngân hàng và đưa vào luật cưỡng bách lao động phổ thông. Nó là bản án tử của Quốc hội Lập hiến.

Petrograd bị đặt trong tình trạng thiết quân luật đang vào ngày 5/1, ngày khai mạc của Quốc hội Lập hiến. Người Bôn-se-vich cấm tụ tập đông người và cho binh lính trận ngập đường phố. Phần đông đều tập trung chung quanh Điện Tauride, nơi Quốc hội chuẩn bị nhóm họp. Điện bị cô lập bằng  chướng ngại vật và lính gác Bôn-se-vich. Sân trước của nó nơi Chernov có lần bị đám đông áp giải chen chúc lều bạt, pháo, súng máy và bếp dã chiến. Nó trông giống một trại lính. Người Bôn-se-vich đã dựng lên một bộ tham mưu quân sự và tập hợp những người bảo vệ gan lì nhất của họ – các thủy thủ Kronstadt, Tay súng Latvia và Hồng Vệ binh – để giải quyết bất kỳ hành động ‘phản cách mạng’ nào của Liên hiệp Bảo vệ Quốc hội Lập hiến.

Liên hiệp từng có lần lên kế hoạch cho một cuộc nổi dậy, nhưng vì họ không có thực lực quân sự, nên đã bỏ rơi ý định vào phút cuối cùng và thay thế bằng một cuộc biểu dương rầm rộ dưới khẩu hiệu ‘Tất cả vì Quốc hội Lập hiến’. Vào buổi sáng một đám đông khá lớn tập hợp trên Sân Mars và, đến trưa, bắt đầu tuần hành về phía Điện Tauride. Một số nguồn tin cho số người lên đến 50,000, nhưng con số thực sự chắc là ít hơn. Nó chắc chắn không lớn như các nhà tổ chức hi vọng, nhất là số công nhân và binh sĩ. Phần lớn là sinh viên, công chức và chuyên viên trung lưu, đã từng tham gia trong cuộc tuần hành ngày 28/11. Khi đám tuần hành tiến gần đến phố Liteiny Prospekt họ bị đám binh lính Bôn-se-vich nấp trên mái nhà khai hỏa với súng máy. Ít nhất có 10 người bị bắn chết và vài chục người bị thương.

Đó là lần đầu tiên binh lính chính quyền bắn vào đám đông không vũ trang kể từ những Ngày Tháng Hai. Các nạn nhân được chôn cất vào ngày 9/1, ngày kỷ niệm Chủ Nhật Đẫm Máu, ở gần bên các nạn nhân của trận thảm sát đó trong Nghĩa trang Preobrazhensky. Một số phái đoàn công nhân xuất hiện tại đám tang với vòng hoa mang dòng chữ: ‘Dâng tặng các nạn nhân của bọn  chuyên quyền ở Smolny’. Gorky, người chứng kiến cả hai vụ thảm sát đó, nhấn mạnh sự tương đồng trong tờ Novaia zhizri. Đó là cao điểm của áo tưởng chua chát của ông đối với cách mạng:

Vào ngày 9/1/1905, khi các binh lính bị đối xử tàn tệ, bị chà đạp bắn vào các đám đông công nhân biểu tình ôn hoà theo lệnh của chế độ sa hoàng, các nhà trí thức và công nhân chạy đến binh lính – những kẻ sát nhân không mong muốn – và hét lớn vào mặt chúng: ‘Các người làm gì vậy, đồ khốn? Các người đang giết ai?’ . . .

Tuy nhiên, đa số binh lính của Sa Hoàng trả lời sự trách móc và van xin bằng những lời lẽ khúm núm và buồn bã: ‘Chúng tôi được lệnh phải làm. Chúng tôi không biết gì cả, chúng tôi phải nghe lệnh’ . Và, như những cái máy, họ bắn vào đám đông. Miễn cưỡng, có thể với một trái tim nặng chĩu, nhưng họ vẫn bắn.

 Vào ngày 5/1/1918 lực lượng dân chủ Petersburg  – các hãng xưởng và công nhân cổ trắng – biểu tình ôn hoà  để hậu thuẫn Quốc hội Lập hiến.

Trong gần 100 năm những người Nga tốt đẹp nhất đã sống theo lý tưởng của một Quốc hội Lập hiến. . . Những con sông máu đã đổ xuống trên bàn thờ cúng tế của lý tưởng này, và giờ đây các ‘Dân Ủy’ đã ra lệnh bắn vào nền dân chủ đang biểu tình để vinh danh lý tưởng này. . . 

Thế đó, vào ngày 5/1, các công nhân Petrograd bị bắn ngã rạp, không một tấc sắt trên tay. . . Họ bị bắn ngã rạp từ ổ phục kích, qua một khe hở trong hàng rào, theo một kiểu cách rất hèn hạ, như thể đó những tên sát nhân thực sự.

Và như vào ngày 9/1/1905, nhân dân vốn vẫn chưa đánh mất lương tâm và lý trí hỏi những tên sát nhân: ‘Các người làm gì vậy,  đồ ngu đần? Bộ những người đang tuần hành không phải thuộc phe các người hay sao? Bộ các người không thấy cờ đỏ khắp nơi hay sao?

Và – như binh lính thời sa hoàng – những tên sát nhân theo lệnh trả lời: ‘Chúng tao có lệnh của chúng tao! Chúng tao được lệnh bắn.’

Tôi hỏi các ‘Dân Ủy’, trong số này ắt phải có người tử tế và biết điều: Họ có hiểu rằng sớm muộn gì rồi họ cũng sẽ xiết cổ nền dân chủ nước Nga và hủy diệt mọi thành quả của cách mạng.

Họ có hiểu điều này không? Hoặc trái lại, có phải họ nghĩ rằng ‘hoặc chúng tao có quyền hoặc mọi người và mọi thứ sẽ bị hủy diệt’?

Vào lúc 4 giờ chiều, khi phiên khai mạc của Quốc hội bắt đầu, không khí trong Điện Tauride cực kỳ căng thẳng. Nhiều đại biểu SR đã tham gia cuộc biểu tình lúc sáng và phẫn nộ trước sự đàn áp. Để bôi thêm sĩ nhục vào vết thương, mọi người họ đều bị lục soát thân thể bởi các cảnh vệ Bôn-se-vich khi họ bước vào điện. Trái với lời tuyên bố của báo chí Bôn-se-vich, không phải tất cả các đại biểu bị bắt đều được thả ra để dự phiên khai mạc: Argunov, Avksentiev và Sorokin thậm chí được loan tin là đã đọc diễn văn trong Điện Tauride, khi sự thật họ còn nằm trong Pháo đài Peter và Paul. Trong Sảnh Catherine, nơi Quốc hội tụ họp, số binh lính nhiều không kém số đại biểu. Họ đứng ở cuối sảnh và ngồi trong hành lang, uống vodka và la hét thoá mạ các đại biểu SR. Lênin quan sát phòng họp từ khu vực các bộ trưởng thời sa hoàng thường ngồi trong các phiên họp với Duma. Ông cho ta ấn tượng của một vị tướng tại thời điểm khởi đầu trận đánh quyết định – và thực sự là như vậy.

Người SR ra sức lấy thế chủ động bằng cách khai mạc phiên họp bằng các cuộc thảo luận theo ý họ, nhưng người Bôn-se-vich tạo ra tiếng ồn để không ai nghe được diễn giả đầu tiên của họ và lớn tuổi nhất của Quốc hội, Mikhailov, nói gì. Chernov, được bầu làm Chủ tịch Quốc hội, đọc một bài diễn văn vô bổ và dài dòng, như thói quen của mình; nó không nói lên được tính trọng đại của một nghị viện quốc gia dân chủ thực sự và duy nhất khi đó trong lịch sử nước Nga mà nhiều người kỳ vọng. Rồi Tsereteli xuất hiện, dù người Bôn-se-vich đã ra lệnh bắt ông, và làm tốt hơn, ông tố cáo chế độ hùng hồn đến nỗi thậm chí bọn phá đám bên cánh Tả buộc phải đứng lên để lắng nghe. Nhưng người Bôn-se-vich ngay sau đó liền tạo ra xung đột. Raskolnikov, người cầm đầu thủy thủ Kronstadt, đưa ra Tuyên bố Quyền các Nhân dân Lao động. Khi dự luật này bị bác bỏ, với 237 chống 146, người Bôn-se-vich tuyên bổ Quốc hội Lập hiến nằm trong tay bọn ‘phản cách mạng’ và bước ra khỏi phòng họp. Giờ giải lao được yêu cầu, để người Bôn-se-vich và SR cánh Tả bàn bạc nên phải làm gì. Người SR, vốn thường hay dao động, muốn hoãn lại việc giải thể, nhưng Lênin vẫn quyết liệt: ‘tình hình bây giờ đã rõ ràng và chúng ta có thể loại bỏ họ’. Như vậy đã quyết định giải tán Quốc hội Lập hiến, mặc dù để chìu ý người SR cánh Tả, vừa trở lại phiên họp,  Lênin ra chỉ thị cho Hồng Vệ binh không được sử dụng bạo lực: khi các đại biểu ra về, cửa điện bị khóa lại và không ai được phép họp tại đó vào ngày hôm sau. Lúc 2 giờ sáng, thỏa mãn vì mọi việc đã đâu vào đấy , Lênin trở lại Smolny, và đi ngủ. Vẫn còn hơn hai tiếng trước khi Quốc hội bị đóng cửa. Sau khi người Bôn-se-vich bỏ ra ngoài, những diễn giả SR khác nhau lên đọc những bài diễn văn dài dòng như thường lệ, trong khi Hồng Vệ binh tiếp tục say xỉn và phá rối từ hành lang. Một số còn đùa cợt nhắm súng vào các diễn giả. Người SR quyết tâm dùng hết những giây phút cuối cùng để thông qua các sắc lệnh về đất đai và hoà bình để ít nhất Quốc hội được ghi nhận là biểu tượng của luật pháp nhân dân: họ đã nhắm đến một cuộc nội chiến đang tiến triển nhanh chóng, trong đó họ cần phải động viên sự hậu thuẫn dân chủ cho việc phục hồi Quốc hội Lập hiến. Vào lúc 2:30 sáng, những người SR cánh Tả cuối cùng bước ra khỏi sảnh, không tin những nỗ lực tuyệt vọng của các đồng chí cũ trong đảng mình có thể làm trót lọt trong vài phút những gì họ đã thất bại trong sáu tháng cầm quyền dưới Chính quyền Lâm thời. Rồi Dybenko của Bôn-se-vich ra lệnh cho người cầm đầu Hồng Vệ binh, một thủy thủ vô chính phủ có tên Zhelezniakov, kết thúc phiên họp. Lúc 4 giờ sáng, y bước lên diễn đàn và, vỗ vai Chernov, thông báo rằng ‘mọi người còn lại trong phòng họp phải rời sảnh vì các vệ binh đã mệt mỏi’. Chernov trả lời các thành viên của Quốc hội Lập hiến cũng đã mệt lắm nhưng điều này không ngăn cản họ ‘tuyên bố một đạo luật mà toàn nước Nga mong đợi’. Các vệ binh nổi cáu, quát tháo ‘Đả đảo Chernov!’, và tập hợp một cách đe doạ với súng trên tay ngay khu vực chính của sảnh họp. Chernov vẫn cho tiến hành cuộc họp thêm 20 phút; nhưng tính can trường của ông không hề được ghi nhận trước quần chúng (nhân chứng ngày 4/7), và cuối cùng đồng ý hoãn lại phiên họp cho đến chiều hôm sau. Phiên họp duy nhất của Quốc hội Lập hiến cuối cùng kết thúc: lúc đó là 4:40 sáng ngày 6/1. Các đại biểu riu ríu lần lượt bước ra và Điện Tauride bị khóa lại, mang lịch sử 12 năm của thành trì dân chủ này đến hồi kết cục sớm sủa. Khi các đại biểu trở lại vào ngày hôm sau, họ bị cấm vào và được cho xem sắc lệnh giải tán Quốc hội.

Hai ngày sau, ngày 8/1, Đại hội Xô-Viết Lần Ba triệu tập. Người Bôn-se-vich và SR cánh Tả chen chúc trong Đại hội với những người ủng hộ họ: chín trên mười số đại biểu đến từ hai đảng này. Đại hội thông qua tất cả biện pháp được trình lên nó bởi các đại biểu chính quyền, bao gồm Tuyên bố về Quyền của Nhân dân Lao động (Tuyên bố ma), được sử dụng như hiến pháp đầu tiên của nhà nước Xô-Viết. Đây là loại ‘nghị viện’ duy nhất mà Lênin sẵn sàng cộng tác – một nghị viện sẵn sàng đóng dấu các sắc lệnh mà ông ta đưa ra.

* * *

Sau khi  Quốc hội Lập hiến bị đóng cửa, Boris Sokolov hỏi một đại biểu SR từ vùng Volga liệu đảng y có tính bảo vệ nó bằng vũ lực hay không. ‘Anh có biết anh vừa nói gì không?’ viên đại biểu trả lời. ‘Anh có biết rằng chúng tôi là những đại biểu của nhân dân, rằng chúng tôi đã nhận được vinh dự cao cả là được nhân dân bầu ra để viết nên luật lệ cho một cộng hòa dân chủ mới hay không? Nhưng bảo vệ Quốc hội Lập hiến, bảo vệ chúng tôi, những thành viên của nó – đó là nghĩa vụ của nhân dân.’ Phần đông người SR đều bị tê liệt y như thế bởi cái lý tưởng coi mình là lãnh đạo của ‘nhân dân’, và nhân dân sẽ ít nhiều chạy đến giải  cứu mình. Và kết quả là không có một cuộc vận động quân sự nào nhằm đảo ngược lệnh đóng cửa Quốc hội Lập hiến. Không nghi ngờ gì cuộc vận động như thế sẽ chết từ trong trứng nước, vì các nhà lãnh đạo dân chủ của Nga không có thực lực quân sự đứng về phía mình. Liên hiệp Bảo vệ Quốc hội Lập hiến do các trí thức SR áp đảo  chỉ có thể gom góp sự hậu thuẫn của một vài khoá sinh. Nhưng lòng tin ngây thơ của họ về sự hậu thuẫn của ‘nhân dân’ cũng bộc lộ sự thiếu hiểu biết hoàn toàn về cách vận động của lực lượng cách mạng và do đó báo trước tai họa mà họ gặp phải trong cuộc nội chiến sắp đến.

Sokolov, người vốn là một SR cánh Hữu, cho rằng cội rễ của tính thụ động của các đồng chí mình là sự biến thái của họ từ một nhóm người cách mạng hoạt động bí mật biến thành các lãnh đạo của Chính quyền Lâm thời. Điều này chắc hẳn là đúng. Ý thức trách nhiệm cho nhà nước (và không nghi ngờ gì một niềm tự hào trong chức vụ bộ trưởng) đã khiến họ từ bỏ những phương thức khủng bố của thời kỳ đấu tranh cách mạng và phụ thuộc hoàn toàn vào phương thức nghị viện. Chính điều này đã trói buộc họ với người Kadet và giữ chân không cho họ thành lập chính quyền Xô-Viết thuần túy vào năm 1917. ‘Chúng tôi phải tiến hành theo phương thức hợp pháp mà thôi,’ là cách thức Sokolov đúc kết lối suy nghĩ của họ, ‘Chúng tôi phải bảo vệ luật pháp bằng những phương tiện duy nhất được phép đối với các đại biểu nhân dân, bằng những phương tiện nghị viện.’ Họ thực sự  thành khẩn và tin tưởng sâu xa rằng, bằng cách khước từ chiến đấu với người Bôn-se-vich bằng những phương thức giống như chúng, họ đang cứu vớt nước Nga khỏi nỗi thống khổ của nội chiến. Mark Vishmiak, người SR cánh Hữu và Thư ký Quốc hội Lập hiến, sau đó nhìn nhận rằng họ tự trói tay mình bằng việc khăng khăng cần phải tránh nội chiến với bất cứ giá nào. Nhưng có một liều lượng lớn sự hợm hĩnh điên rồ trong tất cả những điều này. Người SR cánh Hữu bị ‘tính thiêng liêng’ và ‘tính cao quí’ của Quốc hội Lập hiến làm họ mê hoặc, vì đó là nghị viện dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước Nga, và vì ‘danh dự’ mà nó ban cho người đại diện nó. Bị những lý tưởng này cuốn đi, họ tự lừa dối mình khi tin tưởng rằng Nga sẽ  vững vàng tiến bước trên lộ trình dân chủ như Anh hay Mỹ, và rằng chỉ cần ‘ý nguyện của nhân dân’ là đủ để bảo vệ được các định chế dân chủ của nó. Họ đặt quá nhiều lòng tin vào các phương thức dân chủ đến nỗi không nhìn ra làm thế nào những phương thức phí dân chủ của Bôn-se-vich có thể cuối cùng đạt được thắng lợi.

Vậy mà thật ra không chỉ là vấn đề thuộc phương thức: lòng tin của các SR cánh Hữu vào ‘nhân dân’ đã đặt nhầm chỗ. Không có phản ứng nào của quần chúng trong vụ đóng cửa Quốc hội Lập hiến. Cuộc biểu tình ngày 5/1 nhỏ hơn nhiều và nhiều thành phần trung lưu hơn so với SR cánh Hữu kỳ vọng. Sokolov cho rằng tâm trạng lấn át ở thủ đô là sự thụ động. Sau gần một năm xung đột chính trị, không có gì đảo ngược được tính hình kinh tế khủng hoảng, có thể thông cảm cho dân chúng khi họ thờ ơ với chính trị và các chính trị gia. Những quan tâm có tính bức bách hơn, như săn lùng lương thực và khí đốt hàng ngày, chiếm hầu hết thời gian của họ. Thậm chí Gorky – một con thú chính trị, nếu tồn tại một con vật như thế – cũng rơi vào tâm trạng chung. Ngày 26/1 ông viết cho Ekaterina:

Chúng tôi sống ở đây như những tù nhân của người Bôn-se-vich. Cuộc sống không còn gì vui thú nữa! Vô cùng phiền toái, nhưng dân chúng chúng tôi làm được gì? Không có gì chúng tôi có thể làm được. ‘ Ai sống sót sẽ được cứu rỗi.’ Chúng tôi đã sống sót qua vương quyền Romanov, có lẽ chúng tôi sẽ sống sót qua vương quyền Ulianov (Họ của Lênin). Cuộc sống đã trở nên khôi hài -và bi thảm. Đừng cười! Novaia zhizri dường như sắp sửa sụp đổ. Tâm trạng anh rất u ám, lại thêm bệnh tật. Có những ngày thức dậy không buồn làm việc. Anh dường như không muốn gì nữa, và tê liệt trong nỗi lãnh đạm, điều hoàn toàn xa lạ với anh. 

.Sự thờ ơ còn sâu xa hơn trong giới nông dân, thành trì truyền thống của hậu thuẫn Đảng SR. Giới trí thức SR đã luôn sai lầm khi tin rằng người nông dân chia sẻ sự tôn kính của họ đối với Quốc hội Lập hiến. Đối với lớp nông dân có học hoặc những người từ lâu quen với nội dung tuyên truyền của SR, Quốc hội có lẽ là một biểu tượng chính trị của cách mạng. Nhưng đối với quần chúng nông dân, nó chỉ là một điều gì đó xa xăm tận thành phố. Các Xô-Viết làng xã gần gũi với lý tưởng chính trị của họ hơn. Qua Xô-Viết làng và huyện người nông dân đã thực thi cách mạng của mình về đất đai, và họ không cần đến sự phê chuẩn sắc luật của Quốc hội Lập hiến để hoàn tất điều này. Người SR cánh Hữu không thể hiểu được sự kiện nền tảng này: sự tự trị của người nông dân thông qua các Xô-Viết làng xã của họ đã, theo quan điểm của họ, làm giảm đi ý nghĩa của bất kỳ nghị viện quốc gia nào, vì nói cho cùng, họ không muốn bị cai trị bởi chính quyền trung ương. Và vì đa phần các binh sĩ là nông dân nên Quốc hội Lập hiến cũng không có ý nghĩa gì với binh sĩ khi so sánh với các Xô-Viết ở quê nhà.

Sau thất bại ở thủ đô người SR quay về các cứ điểm cũ  của mình ở các tỉnh để huy động sự hậu thuẫn cho việc phục hồi Quốc hội Lập hiến. Họ học được một bài học đau lòng về thực tế mới của cuộc sống tỉnh lẻ. Họ tìm thấy giới nông dân địa phương phần lớn lãnh đạm với việc đóng cửa Quốc hội Lập hiến. Bằng cách dựa vào sự hậu thuẫn của nông dân, các SR chợt nhận ra là mình đã xây dựng lâu đài trên cát. 

Hết tỉnh này đến tỉnh khác các SR cánh Hữu đã đánh mất quyền kiểm soát các Xô-Viết cho các nhóm cực Tả. Ở các tỉnh kỹ nghệ phía bắc và trung tâm, nơi người Bôn-se-vich và SR cánh Tả có thể trông cậy vào sự hậu thuẫn của hầu hết công nhân và binh lính đồn trú, cũng như một số lượng lớn các nông dân bán- kỹ nghệ, phần đông các Xô-Viết tỉnh nằm trong tay người Bôn-se-vich, thường là qua bầu cử, vào cuối tháng 10, và chỉ trong các tỉnh Novgorod, Pskov và Tver là có đánh nhau dữ dội. Trong một số thị trấn này, nhất là nơi nào có quân đồn trú,  người Bôn-se-vich chỉ đơn giản sử dụng sức mạnh quân sự của họ để đuổi bọn chống đối ra khỏi Xô-Viết và thiết lập ‘đa số’ của mình. Xa hơn về phía nam, trong những tỉnh nông nghiệp, việc chuyển giao quyền lực thường chỉ hoàn tất vào Năm Mới và thường là đẫm máu, với những trận đánh trên đường phố tại các thị trấn lớn trong tỉnh (Orel, Kursk, Voronezh, Astrakhan, Chernigov, Odessa, Kherson, Ekaterinoslav, Sevastopol và những nơi khác). Trong hầu hết nơi cánh cực Tả tổ chức những người hậu thuẫn trong giới binh sĩ và công nhân vào MRC, và rồi họ chiếm quyền kiểm soát các định chế chính quyền sau khi đánh bại các khóa sinh hoặc lính Cô-dắc trung thành với Duma thành phố. Các Xô-Viết cai trị sau đó được bầu ra, bằng cách này hay cách khác, thường là gian lận. Nền văn minh chính trị của các thị trấn nơi tỉnh lỵ không tiến bộ hơn ở nước Nga nông nghiệp lạc hậu và bên ngoài thành phố thủ đô không có tầng lớp trung lưu thị thành thực sự để nâng đỡ cho cách mạng dân chủ. Đó là bi kịch của năm 1917.

 

Iii. Cướp bóc bọn cướp bóc

Lần đầu tiên trong nhiều năm Tướng Denikin thấy mình ở giữa những người Nga bình thường khi ông ngồi trong toa tàu hạng ba, ngụy trang là một người quí tộc Ba Lan, trên đường đến Don.:

 Giờ tôi chỉ đơn giản là một người tư sản, bị xua đuổi và chưỡi rủa, đôi khi với ác ý, đôi khi chỉ đi ngang qua, nhưng may thay không ai chú y đến tôi. Giờ tôi mới nhìn thấy cuộc sống thực tế rõ ràng hơn và cảm thấy khiếp đảm. Tôi chứng kiến sự căm thù vô biên trong những ý tưởng và trong cơn người, trong mọi thứ mà về mặt xã hội và trí tuệ cao hơn quần chúng, trong mọi thứ mang dấu vết của sự thừa thãi, thậm chí đối với những vật vô tri vô giác, mang

 dấu hiệu của loại văn hóa nào đó kỳ lạ và khó với tới đám đông. Cảm nhận này biểu hiện mối căm thù được tích lũy qua nhiều thế kỷ, những cay đắng của ba năm chiến tranh, và sự điên cuồng do các lãnh đạo cách mạng tạo ra.

Nhà lãnh đạo Bạch vệ tương lai không phải là người tị nạn duy nhất trốn chạy khỏi nước Nga của người Bôn-se-vich cảm nhận được cơn thịnh nộ của quần chúng trong mùa đông khủng khiếp 1917-18. Văn chương hồi ký kể đầy những ghi chép tương tự bởi các ông hoàng, bà chúa, nghệ sĩ, nhà văn và doanh nhân về những chuyến đi thống khổ của họ xuyên qua nước Nga để trốn chạy chế độ Bôn-se-vich. Tất cả đều bày tỏ chung một cú sốc khi chứng kiến sự thô lỗ và thù ghét mà giờ đây họ hứng chịu từ người bình dân: bộ những người này không phải là anh chị em của những vú nuôi, tôi tớ, bồi bếp và quản gia của họ, mà chỉ mới hôm qua thôi còn tỏ ra tử tế và tôn trọng? Như thể giai cấp tôi tớ tất cả trước đây đều mang mặt nạ của thiện ý mà cách mạng đã thổi bay đi để phơi bày bộ mặt thực của lòng căm thù bên dưới.

Đối với đại đa số người dân Nga việc kết thúc mọi đặc quyền xã hội là nguyên tắc cơ bản của cách mạng. Người Nga có một truyền thống lâu đời về thang bậc xã hội đến tận công xã nông dân. Nó được thể hiện trong những khái niệm phổ biến về công lý xã hội nằm ở trung tâm của Cách Mạng 1917. Niềm tin của nhân dân Nga  rằng sự giàu có thừa mứa là vô luân, rằng của cải là do ăn cắp và lao động tay chân là nguồn gốc thực sự và duy nhất của giá trị được vun đắp do học thuyết của Marx thì ít mà do tập quán bình đẳng của công xã thì nhiều. Những lý tưởng về công lý xã hội này cũng là một thương hiệu kỳ cục trong đức tin Cơ đốc mà nông dân Nga biến thành của riêng mình. Trong tâm thức nông dân Nga trong cái nghèo có đức hạnh Cơ đốc. ‘Kẻ nhu mì sẽ được vào nước thánh!’ Chính điều này đã ban cho cách mạng tư thế  gần như là tôn giáo trong tâm thức quần chúng: chiến tranh giành của cải được xem như là lò luyện trên con đường dẫn đến cánh cổng của cõi trời trên mặt đất.

Nếu người Bôn-se-vich có một lời kêu gọi được ủng hộ vào năm 1917, đó là lời hứa hẹn sẽ chấm dứt mọi đặc quyền và thay trật tự xã hội bất công bằng một cộng hòa của những con người bình đẳng. Viễn cảnh của Utopia về một nhà nước xã hội chủ nghĩa phổ quát là nền tảng của chủ nghĩa lý tưởng quần chúng. Một công nhân, chẳng hạn, gởi cho Xô-Viết Nông dân Toàn Nga vào tháng 5 1917: ‘Tất cả dân chúng, giàu hay nghèo, phải được chu cấp; mỗi người sẽ được nhận phần trợ cấp bằng nhau và công bình từ một ủy ban sao cho ai cũng có phần. Không chỉ lương thực mà còn không gian sống và làm việc cũng được ủy ban chia đều; mọi việc đều được tuyên bố công khai.’ Dẹp bỏ tất cả hình thức quyền hành bậc cao (thẩm phán, sĩ quan, giáo sĩ, quí ông, chủ nhân v ..v…) là hành động dẫn đạo chính của cách mạng xã hội. Bằng cách đưa ra dạng thức định chế cho cuộc chiến về đặc quyền này, người Bôn-se-vich có thể rút lấy những năng lượng cách mạng từ số đông phần tử nghèo nàn kiếm được khoái cảm khi nhìn thấy người giàu có và kẻ quyền thế bị hủy diệt, bất kể điều ấy có mang lại lợi lộc gì cho số phận của mình. Sau năm 1918, khi những lý tưởng cách mạng đã lu mờ và nhân dân càng ngày càng bị bần cùng hóa, chế độ Bôn-se-vich càng lúc càng thiên về việc kêu gọi gần như độc nhất cho khoái lạc hèn hạ của sự báo thù. Trong một bài xã luận đánh dấu ngày bắt đầu năm mới 1919, tờ Pravda tự hào tuyên bố:

Đâu rồi bọn giàu có, các mệnh phụ hợp thời trang và những lâu đài tư nhân, những lối vào xinh đẹp, những tờ báo láo khoét, tất cả ‘cuộc sống hoàng kim’ đồi bại này? Tất cả đã bị quét sạch. Bạn không còn thấy trên đường phố một quí ông giàu sang mặc áo lông đọc tờ Ruskie vedomosti (một tờ báo cấp tiến bị đóng cửa sau Tháng Mười 1917). Không có Ruskie vedomosti, không áo lông cho quí ông; y đang sống ở Ukraine hoặc Kuban, hoặc y đang sống dở chết dở và người gầy rạc vì khẩu phần cấp ba; thậm chí y không còn dáng dấp của một quí ông.

Cuộc chiến rộng khắp chống đặc quyền một phần là sự kéo dài của bạo lực và hủy diệt mà Gorky đã kết án ngay sau Cách Mạng Tháng Hai. Cũng cùng lòng căm thù và nghi ngờ tầng lớp có đặc quyền, cũng cùng nỗi khát khao tàn ác được trừng phạt, và cũng cùng sự thúc đẩy phải tàn phá nền văn minh cũ. Nhưng nếu ta xét bạo lực theo hạn mức của bản thân nó, có sự khác biệt quan trọng giữa cuộc chiến chống đặc quyền sau Tháng Mười với những hình thức bạo lực chống những tầng lớp giàu có trước đây.

Có một điều, bạo lực sau Tháng Mười được tính toán và hợp pháp hóa bởi một thứ ngôn từ mới về giai cấp, và đấu tranh giai cấp, được các đảng xã hội phát triển trong năm 1917. Các hình thức xưng hô tôn kính và cũ kỹ dành cho những thành viên thuộc tầng lớp giàu có dần bị loại bỏ. Giờ chúng trở thành một hình thức bôi nhọ và chế giễu. Lối xưng hô thời thượng giờ đây – ‘đồng chí’ (cho đảng viên và công nhân) – hình như mang một ý nghĩa binh đẳng có tính cộng hòa mới. Từ ‘đồng chí’ từ lâu mang ý nghĩa tình huynh đệ và tương trợ trong giới công nhân kỹ thuật có ý thức giai cấp nhất. Nó trở thành một huy hiệu của lòng tự hào giai cấp, một dấu hiệu để phân biệt và đoàn kết quân đoàn báo thù trong cuộc đấu tranh giai cấp chống bọn giàu có. Ngôn ngữ giai cấp mới này đánh thức ý thức phẩm giá và quyền lực trong giới đã từng bị chà đạp trước đây. Nó mau chóng được khẳng định mạnh mẽ trong lối ăn mặc và ngôn ngữ cơ thể của các tầng lớp thấp kém. Các người phục vụ và công nhân đẩy mũ ngược ra sau và mở khuy nủt áo trong một tư thế thách thức. Họ đi quanh quẩn với súng lục vắt vẻo ở thắt lưng và xử sự hống hách. Họ nói năng cộc lốc với người thuộc giai tầng xã hội cao hơn họ, khước từ nhường ghế cho phụ nữ trên xe điện và ngồi trong rạp hát, hút thuốc và uống rượu, chân vắt qua hàng ghế trước mặt.

Trong tâm thức người dân bình thường chưa từng đọc Marx, sự phân biệt giai cấp dựa trên cảm xúc nhiều hơn là chuẩn mực xã hội khách quan. Từ thông dụng tư sản, chẳng hạn, không mang nghĩa xác định. Nó được sử dụng như một hình thức lăng mạ tổng quát đối với người chủ xí nghiệp, sĩ quan, chủ đất, giáo sĩ, nhà buôn, bọn Do Thái, sinh viên, chuyên gia hoặc bất kỳ ai khác ăn mặc bảnh bao, trông như người nước ngoài hoặc có vẻ giàu có. Các công nhân chết đói kết án các nông dân là tư sản vì được cho là tích lũy lương thực; trong khi các nông dân cũng kết án các công nhân, và tất cả dân thành thị nói chung là tư sản, vì bị cho là tích trữ hàng hóa sản xuất. Các tư sản, nói cách khác, không giống một giai cấp mà là một tập hợp những con dê hiến tế hoặc kẻ nội thù, kẻ có thể được tái xác định tùy ý muốn để gán tội làm thị trường sụp đổ, gây ra nỗi thống khổ của chiến tranh và những bất bình đẳng nói chung khác của xã hội. Dân làng thường mô tả bọn tư sản là kẻ thù ‘lẫn khuất’ và ‘xão quyệt’, gây ra mọi vấn đề  của họ: y có thể là một thị dân, một nhà buôn hoặc một viên chức. Trong những hàng dài đợi mua thực phẩm ở thành thị, nơi vô vàn học thuyết về phá hoại được thêu dệt nhằm giải thích cho tình trạng khan hiếm bánh mì, các từ tư sản, bọn đầu cơ, bọn Đức và Do Thái gần như là đồng nghĩa. Đây là một xã hội đánh nhau với chính nó – chỉ có điều mọi người đều nghĩ rằng mình đang đánh bọn tư sản.

Các báo chí xã hội chủ nghĩa cổ vũ những thái độ phổ biến như thế bằng cách mô tả bọn tư sản là ‘kẻ thù của nhân dân’. Tập san bán chạy nhất năm 1917 – đóng góp nhiều hơn hết thảy các ấn bản khác trong việc tạo hình nên ý thức về giai cấp và chính trị cho đám đông quần chúng bình dân – là Nhện và Ruồi của Wilhelm Liebknecht. Vài triệu bản đã được bán trong hơn 20 lần tái bản được các đảng xã hội chủ chốt tài trợ. Nhện và Ruồi chia nước Nga thành hai chủng loại đấu tranh nhau:

Nhện là các ông chủ, bọn cho vay nặng lãi, bọn bóc lột, giới quí tộc điền chủ, kế giàu có, giáo sĩ, ma cô và những tên ăn bám đủ mọi loại! . . .Ruồi là những công nhân đáng thương, phải tuân thủ các luật lệ bọn tư bản đặt ra tuy tiện – phải vâng lời, bởi vì những người nghèo ngay cả vụn bánh mì cũng không có.

Người giàu và có học, bị dán nhãn hiệu tư sản, tự động bị lăng nhục là kẻ chống đối xã hội. ‘Bọn tư sản’, một nhà văn xã hội chủ nghĩa viết, ‘là ai đó chỉ nghĩ đến mình, đến cái bụng của y. Đó là người ở trên cao, sẵn sàng chẹn họng bất kỳ ai đụng chạm đến tiền bạc hoặc lương thực của y.’ Khi cuộc khủng hoảng xã hội càng thêm sâu sắc, giới tư sản càng bị lên án là ‘ký sinh trùng’ và ‘bọn hút máu người’, và lời kêu gọi dữ dội phải đánh gục họ càng được nghe đều đặn hơn, không chỉ từ các đảng cực tả mà còn từ đường phố, hãng xưởng và doanh trại.

Người Bôn-se-vich cổ vũ cuộc đấu tranh chống đặc quyền này – và thậm chí biến nó thành lý do tồn tại của mình. Lênin đã luôn là người cổ xuý việc sử dụng khủng bố tập thể chống lại kẻ thù của cuộc cách mạng của ông ta. Trong cuốn ‘Tổ Chức Việc Đấu Tranh Thể Nào’, được soạn trong năm 1917, ông kêu gọi một ‘cuộc đấu tranh sống còn chống bọn giàu có, bọn rảnh rỗi và bọn ăn bám’. Mỗi làng và thị trấn nên được tự do phát triển các phương thức riêng của mình về việc:

Thanh tẩy đất nước Nga khỏi tất cả sâu mọt, chấy rận vô lại, bọn rệp giàu có và vân vân. Chỗ này họ sẽ tống vào tù một tá tên giàu có, một tá tên vô lại, nửa tá công nhân trốn việc. . . Chỗ kia chúng sẽ bị bắt rửa nhà xí. Chỗ thứ ba chúng sẽ được cấp thẻ vàng (như bọn điếm) sau một kỳ hạn ở tù, để mọi người có thể biết chúng độc hại và có thể trông chừng chúng. Tại một chỗ thứ tư một trong mười kẻ ăn không ngồi rồi sẽ bị đem ra bắn làm gương. Phương thức càng đa dạng càng tốt, bởi vì chỉ có thực tập mới có thể tạo ra những phương thức đấu tranh tốt nhất.

Trong nhiều dịp ông nhấn mạnh rằng ‘nhà nước vô sản’ là một ‘hệ thống bạo lực có tổ chức nhắm chống bọn tư sản: đây là điều mà ông luôn hiểu qua thuật ngữ ‘Chuyên chính của Giai cấp Vô sản’. Cho phép quần chúng những hành động cướp bóc và trừng phạt là yếu tổ tích hợp của hệ thống này, một phương tiện ‘khủng bố giới tư sản’ bắt họ phải phủ phục Nhà nước Vô Sản. Đây là nguồn gốc của Khủng Bố Đỏ.

Các sử gia có khuynh hướng bỏ qua mọi liên kết giữa cuộc chiến hạ lưu chống đặc quyền này và nguồn gốc của Khủng Bố Đỏ. Phần đông họ đều xem Khủng Bố là hoàn toàn có tính chính trị. Họ đã chứng minh nó đã được người Bôn-se-vich áp đặt thể nào – hoặc có tính toán để củng cố quyền lực của họ, sao cho khủng bố trở thành cơ sở nền tảng của chế độ (quan điểm của cánh Hữu), hoặc như một đáp ứng thực tiễn với những mối đe doạ và vấn đề của nội chiến (quan điểm của cánh Tả). Không có quan điểm nào giải đáp thỏa mãn. Khủng Bố xuất phát từ bên dưới. Nó là một yếu tố gắn liền của cách mạng xã hội ngay từ lúc khởi đầu. Người Bôn-se-vich cổ vũ nhưng không tạo ra sự khủng bố tập thể này. Các định chế chính yếu của Khủng Bố đều được hình thành, ít nhất là một phần, nhằm đáp ứng với áp lực từ bên dưới. Việc cướp bóc vô chính phủ giới tư sản, Giáo hội và tài sản của quí tộc được hợp pháp hóa và định chế hoá bởi các sắc luật xung công và đánh thuế cách mạng của người Bôn-se-vich, mà cơ quan Cheka địa phương cưỡng chế qua việc bắt bớ các tư sản và các con tin ‘phản cách mạng’. Việc xét xử tập thể các tư sản, chủ xí nghiệp, sĩ quan, bọn đầu cơ và những ‘kẻ thù nhân dân’ khác được định chế hoá qua các Tòa án Nhân dân và hệ thống ‘tư pháp cách mạng’ thô sơ mà họ quản trị – và đến lượt trở thành một phần của Khủng Bố Cheka.

 

Hệ thống Cheka, như một khủng bố chính trị được tổ chức tập trung, không thực sự cất cánh cho đến cuối hè năm 1918. Trong những tháng đầu tiên của chế độ Bôn-se-vich, hệ thống Cheka, như các bộ máy còn lại của nhà nước, có tính phí tập trung cao độ; và điều này thường có nghĩa những áp lực xã hội, như lòng khao khát của dân chúng muốn cướp bóc người giàu có và quyền thế, hoặc ngay cả ước muốn của một cộng đồng muốn trả thù một cộng đồng khác, có thể xác định nạn nhân các ông trùm Cheka địa phương sẽ chọn ra để bắt bớ và hành hạ. Việc ‘khủng bố tập thể’ này được phân tích ở đây, mục đích là để hiểu nguồn gốc xã hội của Khủng Bố Cheka. Bởi vì, tuy người ta có thể lên án nó nhiều, không thể nghĩ ngờ là Khủng Bố đã đánh lên một hợp âm sâu nặng trong tâm thức cuộc nội chiến Nga, và rằng nó có một sức hấp dẫn quần chúng kỳ lạ. Khẩu hiệu ‘Bọn tư sản chết đi!’, được viết trên các bức tường của phòng thẩm vấn Cheka, cũng là khẩu hiệu của đường phố.

* * *

Vào tháng giêng 1918, tại một buổi họp cán bộ dân vận đang trên đường công tác tại tỉnh lỵ, Lênin giải thích rằng cướp bóc tài sản các tư sản nên được khuyến khích như một hình thức thực thi công lý xã hội bằng việc báo thù. Đó là vấn đề ‘cướp bóc bọn cướp bóc’.

Dưới khẩu hiệu này là một trận đại tiệc cướp bóc và bạo lực trong vài tháng sau đợt. Gorky mô tả nó như là một cuộc bức hại tập thể. Những đám côn đồ vũ trang cướp bóc những người có tài sản – và rồi cướp bóc lẫn nhau. Bọn giật giọc, trộm cướp giàu lên, khi luật pháp và trật tự cuối cùng biến mất. ‘ Họ cướp bóc một cách nghệ thuật,’ Gorky viết trong một bài xã luận cay đắng vào ngày 16/3:

Chắc chắn lịch sử sẽ kể lại về tiến trình này trong đó  nước Nga tự cướp bóc mình với niềm hứng khởi lớn nhất. Họ cướp và bán nhà thờ và bảo tàng, họ bán đại bác và súng ống, họ vơ vét kho quân nhu, họ cướp bóc các lâu đài của các đại công tước trước kia; thứ gì ăn cướp được thì bị ăn cướp, thứ nào bán được đều bị đem bán; ở Theodossia bình sĩ thậm chí còn buôn người – chúng mang những phụ nữ Thổ, Armenia và Kurdish từ vùng Caucassus và bán họ với giá 25 rúp mỗi người. Việc này vô cùng ‘độc đáo’ , và chúng ta có thể hãnh diện – không có chuyện gì giống như vậy ngay cả trong thời Đại Cách Mạng Pháp.

Trong các tỉnh lỵ quyền lực Xô-Viết thường liên can trực tiếp, hoặc chỉ đứng bên ngoài xúi giục đám đông. Ở Ekaterinoslav ông trùm Bôn-se-vich địa phương bảo các người của mình hãy ‘giật lấy tiền triệu khỏi tay bọn tư sản mà chúng đã đoạt lấy từ quần chúng và khôn khéo biến số tiền ấy thành các xấp tơ lụa, áo lông, thảm, vàng bạc, đồ đạc, tranh vẽ và đồ sứ. Chúng ta phải lấy nó và phát cho người vô sản và rồi cưỡng bách bọn tư sản phải lao động cho chế độ Xô-Viết mới nhận được khẩu phần ăn.’

Cuộc chiến chống tư sản này tiến hành song song với một số sắc lệnh đó Bôn-se-vich chuẩn y, chủ trương cướp bóc những kẻ cướp bóc. Các viên chức Xô-Viết, cầm theo những trát sơ sài đến nhà các tư sản, tịch thu máy đánh chữ, đồ đạc, quần áo và tư trang quí giá ‘cho cách mạng’. Các hãng xưởng bị tước đoạt quyền sở hữu, cổ phần và trái khoán bị vô hiệu hóa, và luật thừa kế sau đó bị bãi bỏ. Các ngân hàng bị quốc hữu hóa, những chủ tài khoản bị giới hạn số tiền rút ra không hơn 1,000 rúp mỗi tháng (một số tiền chẳng bao lâu sẽ như giấy lộn vì siêu lạm phát). Những chủ sở hữu các hộp ký gởi bị ra lệnh trình diện mang theo chia khóa để mở hộp kiểm tra: ngoại tệ, vàng bạc, và tất cả nữ trang quí giá  đều bị tịch thu. Trong sáu tháng đầu năm 1918 hơn 35,000 hộp ký gởi bị khám xét.

Các Xô-Viết đánh những sắc thuế trừng phạt lên  giới tư sản. Việc này thường là khởi đầu của Khủng Bố Bôn-se-vich, vì các nhân viên Cheka có khuynh hướng cưỡng bách đóng những món thuế này bằng cách bắt giữ con tin. Ở Nizhnyi Novgorod, chẳng hạn, Xô-Viết áp đặt thuế cách mạng 22 triệu rúp, trong khi đó cơ quan Cheka bắt giữ 105 tư sản và giữ làm con tin cho đến khi nộp thuế hết. Nhiều thuế áp đặt hoàn toàn không sao trả được: việc di chuyển và lạm phát đã làm sụt giảm thê thảm tài sản của các tư sản Nga và nhiều người bị bức hại vì mang tiếng ‘nhà giàu’ lúc đó chỉ là những người buôn bán nhỏ hoặc những giáo viên, bác sĩ và thư ký gần như bị bần cùng hóa. Tin rằng bọn tư sản ma mãnh này ắt hẳn đã giấu giếm của cải ở đâu đó, các nhân viên Cheka địa phương gia tăng bắt bớ và bắt đầu bắn các con tin.

Tình trạng tương tự xảy ra cho Giáo hội. Việc trưng thu tài sản nhà thờ khởi đầu với việc thử nghiệm vụng về của Kollontai, Dân Uỷ Phúc Lợi Xã Hội, nhằm biến Tu viện Alexander Nevsky thành nhà nghỉ dưỡng cho thương bệnh binh. Vào ngày 19/1 bà phái một phân đội thủy thủ đến chiếm đóng nơi thiêng liêng nổi tiếng ở ngay trung tâm thành phố Petrograd này. Tại đây họ đương đầu với một đám đông tín đồ giận dữ và, trong những vụ xô xát xảy ra tiếp theo, một giáo sĩ bị bắn chết. Lênin thịnh nộ: việc cuối cùng ông cần hiện giờ là đối đầu công khai với Giáo hội, mà đến giờ đã thận trọng đứng ngoài chính trị. Nhưng vì Kollontai đã làm cho giáo hội phẫn nộ, ông thấy không có lý do gì phải hoãn lại vụ xung đột mà, theo ông, sớm muộn gì cũng xảy ra. Sắc lệnh Phân tách Giáo hội và Nhà nước được công bố vào ngày hôm sau, 20/1, sớm hơn dự tính rất nhiều. Sắc lệnh tuyên bố mọi tài sản của Giáo hội là tài sản của nhà nước. Vũ trang sắc lệnh này các phân đội Bôn-se-vich đi khắp các nhà thờ và tu viện trong nước cướp bóc vàng bạc, uống rượu thánh và khủng bố thầy tu. Giáo Trưởng Tikhon, người đứng đầu Giáo hội, kêu gọi tầng lớp giáo sĩ phản kháng ‘những tên quỷ sứ đội lốt người’ trong một bức thư gởi giáo hội lên án chế độ Bôn-se-vich. Không phải tất cả các giáo sĩ đều chọn con đường chống đối công khai. Một số các thầy tu chức sắc thấp, vốn chào đón cách mạng như một cơ hội giúp tạo dựng mối ràng buộc khắng khít hơn với giáo xứ, nhắm đến việc hòa giải với Bôn-se-vich. Tu viện Preobrazhensky ở Viatka, chẳng hạn, tự biến thành một công xã lao động với nhà trẻ cho con cái các công nhân và một xưởng thợ nơi các sơ may quần áo và giày dép cho các trẻ mồ côi. Nhưng hầu hết giáo sĩ và giáo dân đều đi theo lời kêu gọi của Tikhon, tạo cơ hội cho người Bôn-se-vich dán luôn cho họ nhãn hiệu ‘phản cách mạng’ và dấn bước thêm trong chiến dịch cướp bóc và khủng bố. Các thầy tu ở Tu viện Alexander Svirsky ở Olonetsk, chẳng hạn, sau khi ra sức chống đối các phân đội Bôn-se-vich, đều bị bắt giữ – và sau đó bị Cheka địa phương hành hình.

Một trong những nỗi nhục đau đớn nhất mà các tầng lớp giàu có phải gánh chịu trong những tháng đầu của chế độ Xô-Viết là bị cưỡng bách phải chia sẻ không gian sống với người khác. Người Bôn-se-vich tự hào – và nhấn mạnh điều này trong tuyên truyền của họ – là họ cưỡng chế người giàu có phải chia sẻ ngôi nhà mênh mông của mình với người nghèo khó thành thị. Đối với nhiều người thì việc này hình như là công bằng: sự kiện mà một số người sống trong những lâu đài, khi những người khác nheo nhóc trong nhà hầm bẩn thỉu và ẩm thấp, đã trở thành một biểu tượng bất công của trật tự xã hội cũ. Những gia đình giàu có thường ráng hết sức để tìm một cặp vợ chồng hiền lành và sạch sẽ để chuyển họ về ở chung và thuyết phục họ nhận một hay hai phòng nhỏ nhất trong nhà. Nhưng các ủy ban nhà cửa có nhiệm vụ về công tác này thường rình rập và theo dõi sát sao. Những ủy ban này thường gồm những người làm hoặc tôi tớ trước đây của chủ hộ, nên rất muốn trả thù chủ nhân trước kia của mình. Tham gia ủy ban nhà cửa và thậm chí vào đảng cho họ cơ hội lật ngược vị thế trong ngôi nhà cũ. Họ chiếm những phòng tốt nhất trong nhà và đem vào tất cả đồ đạc nào họ ưa chuộng, trong khi người chủ trước kia của họ phải chuyển vào sống trong khu dành cho tôi tớ.

‘Suốt đời tôi đã sống trong chuồng ngựa ‘ một tôi tớ trước đây giải bày tại một buổi học tập chính trị tổ chức ở Cirque Moderne, ‘trong khi bọn chúng sống trong những ngôi nhà xinh đẹp và nằm dài trên nệm ấm chơi đùa với thú cưng! Giờ thì đến lượt bọn chúng phải đi và làm việc ở chuồng ngựa.’ Ý tưởng cưỡng bách tầng lớp thích chơi bời phải lao động là một yếu tố gắn liền trong cuộc đấu tranh giai cấp – và người Bôn-se-vich cũng nhanh chóng định chế hoá. Lênin đã hứa rằng qui luật nên tảng của trật tự Xô-Viết sẽ là ‘Ai không làm thì không được ăn.’ Việc cưỡng bách lao động phổ thông là một bộ phận của Tuyên bố về Quyền của Nhân dân Lao động (mà đúng ra là Tuyên bố về Nghĩa vụ của Người Không Làm việc) mà người Bôn-se-vich đã trình ra trước Quốc hội Lập hiến. Trotsky đi đầu trong việc cưỡng bách lao động tập thể trong những ngày đầu của Hồng Quân, tại đó nó được sử dụng cho những nhiệm vụ không chiến đấu ở hậu phương, như đào chiến hào và vệ sinh doanh trại. Nhưng chẳng bao lâu nó trở thành một công tác phổ thông của các Xô-Viết thành phố, Các quí tộc, các cựu giám đốc nhà máy, các tay chơi chứng khoán, luật sư, nghệ sĩ, giáo sĩ và cựu viên chức tất cả sẽ bị gom lại và cưỡng bách làm những công việc như vệ sinh đường phố. Trong khi đó, các ủy viên hoặc nhóm công nhân rảnh rỗi sẽ đứng quanh đấy phì phèo  thuốc lá và hả hề nhìn các mệnh phụ và qui ông ăn mặc sang trọng, chưa từng một ngày lao động tay chân, đang loay hoay học cách sử dụng cuốc xẻng. Không có lợi ích kinh tế thực sự trong việc cưỡng bách lao động; mục đích duy nhất của họ là hạ thấp và tiêu diệt các tầng lớp thượng lưu. Như Trotsky đã phát biểu trong một bài diễn văn diễn tả hoàn hảo tâm lý của quần chúng: ‘Hàng thế kỷ nay cha ông chúng ta đã rửa sạch cặn bã cho các giai cấp thống trị, nhưng giờ đây chúng ta sẽ bắt họ rửa sạch cặn bã cho chúng ta. Chúng ta sẽ khiến cuộc sống họ khổ sở đến nỗi họ không còn tha thiết muốn làm người tư sản.

.Bị tước đoạt và sĩ nhục, cuộc sống của những ‘tư sản’ sớm trở thành một cuộc đấu tranh thường nhật và cật lực. Họ phải bỏ ra hàng giờ xếp hàng mua bánh mì và chất đốt cùng với những người nghèo khó khác. Khi lạm phát tăng vọt, họ bắt buộc phải bán những món sở hữu cuối cùng để nuôi sống mình. Nữ nam tước Meyendorff bán một trâm cài đầu nạm kim cương với giá 5,000 rúp – đủ để mua một bao bột mì. Hoàng thân Golitsyn phải bán bánh nhà làm, Nữ Nam tước Wrangel thì bán áo đan, Nữ bá tước Witte bán bánh mứt, trong khi vợ của Brusilov bán diêm.

Thị trường chợ đen Petrograd và Moscow đầy ngập những món sở hữu trước đây của những nhà quí tộc thất thế: tượng thánh, tranh vẽ, thảm, dương cầm, máy hát dĩa, ấm trà, áo choáng, áo dạ vũ – tất cả có thể được mua với giá của một hay hai bữa ăn. Những vật quí giá hơn được các nhà giàu mới của chế độ Xô-Viết mua. Đó là các ủy viên và cán bộ, bọn binh lính cướp bóc và thủy thủ, bọn buôn bán nhỏ và giựt giọc đang sắm sửa và trang điểm bằng các biểu tượng vị thế của giai cấp thống trị. Các ông chủ mới của Nga dễ dàng được nhận ra qua cách họ để tóc dài bôi mỡ láng coóng, qua những nụ cười lấp lánh răng vàng và cơ thể sực nức mùi nước hoa Cologne, và qua cách họ cặp kè với  bọn gái gú chưng diện quá trớn đi rảo quanh các cửa hàng hay khách sạn.

Nhiều người giàu có và quyền thế trước đây đã bán sạch mọi thứ và tìm cách trốn chạy ra nước ngoài, mặc dù điều này rất khó khăn, hoặc thoát đến Ukraine và Kuban, hoặc tới miền đông Siberia, nơi Bạch vệ đặt căn cứ chính. Số khác cư trú trên mảnh đất của mình ở vùng quê, nhưng họ không biết là ở đó cuộc chiến chống bọn điền chủ cũng lên đến cao điểm, khi các nông dân, được sự cho phép của Sắc lệnh Đất đai Tháng Mười, ra sức chiếm đoạt đất đai và tài sản của địa chủ quí tộc.

Sự phân phối binh đẳng tất cả phương tiện sản xuất, ruộng đất, nông cụ và gia súc, đã từ lâu là lý tưởng nền tảng của cuộc cách mạng nông dân.

Họ trông ngóng vào việc ‘Tái Phân phối Đen’ này như là Ý nguyện của Chúa Trời, và tin rằng phần còn lại của cách mạng cũng sẽ được tổ chức lại trên cùng một nguyên tắc. Xô-Viết Toàn Nga được thai nghén bởi các nông dân như một dạng công xã làng cực lớn sẽ tái phân phối tất cả tài sản trong xứ. Nhiều nông dân tin rằng, theo ngôn từ của một trong những đại biểu có học vấn cao hơn của họ, rằng chủ nghĩa xã hội, mà họ chỉ mới loáng thoáng nghe nói, ‘là một phương tiện thần bí nào đó – thần bí vì chúng ta không thể tưởng tượng được việc này sẽ được thực hiện ra sao – về việc phân chia tất cả tài sản và tiền bạc của người giàu; theo ông thợ may ở làng chúng ta, điều này có nghĩa mỗi hộ nông dân đều sẽ nhận được 200,000 rúp. Đây hình như là con số lớn nhất y có thể nghĩ ra.

Các nông dân không có phương tiện thần bí nào để chia ruộng đất. Thậm chí họ không có phương tiện kỹ thuật cơ bản nào, như bản đồ và thước kẻ. Đất đai được phân chia như đã từng làm trước đây, bước để đo chiều rộng dãi đất, hoặc xem xét kích cỡ toàn thể các lô đất bằng mắt,  rồi phân lô cho các hộ nông dân theo chuẩn binh đẳng của địa phương. Điều này thường có nghĩa là số nhân khẩu trong hộ, hoặc hiểm hơn là theo số lao động người lớn.

Các đất đai tịch thu của quí tộc và nhà thờ thường được phân chia riêng biệt vì sợ nếu cách mạng bị lật lại các nông dân bị buộc phải trả lại cho chủ cũ. Nhiều công xã qui định rằng tất cả hộ phải nhận một mảnh đất thuộc loại này để chia sẻ rủi ro nếu phải hoàn lại. Nhưng quí tộc, kể cả những người chủ cũ từ thành phố trở về điền trang mình, thường được giữ lại một phần đất và nông cụ hào phóng, đủ để biến thành một trang trại gia đình có cỡ ngang hàng với những hộ nông dân khác.

Dù căm thù gíai cấp thượng lưu, nhưng nếu họ sẵn sàng quay về làm người nông dân thì họ cũng được đổi xử khá tử tế. Nhiều chủ đất, nhất là chủ đất nhỏ, vẫn sống trên đất mình sau 1917, và họ được gia nhập bởi những cư dân ở thành phố giờ trốn chạy Khủng Bố Bôn-se-vich về sinh nhai ở vùng quê. Đến tận giữa thập niên 1920 vẫn còn khoảng 10,000 chủ đất trước đây sống trên các thái ấp của họ cùng với nông dân, tương đương với mười phần trăm tổng số các chủ đất ở Nga trước năm 1917.

Nhà Rudmev, một gia đình điền chủ trung bình ở tỉnh Simbirsk, là một ví dụ điển hình. Họ đã quyết định ở lại trên điền trang gia đình vì nghĩ rằng sự lộn xộn do cách mạng gây ra sẽ ít gắt gao hơn ở vùng quê và điều kiện kinh tế của nông thôn dựa trên nông nghiệp cũng bảo đảm hơn. Sự lộn xộn của 1917 đi qua làng lặng lẽ. Nhà Rudmev trải qua mùa hè rồi mùa thu vẫn yên ổn với những trò vui thú thường lệ. Vào mùa đông theo sau họ đồng ý với yêu cầu của công xã làng giao bớt đất và tài sản cho nông dân. Họ chỉ giữ lại một trang trại nhỏ khoảng 20 desyatini (54 mẫu) gần nhà thái ấp, nơi họ tiếp tục sinh sống. Thậm chí các nông dân còn đến làm việc trên cánh đồng của nhà Rudmev trong mùa xuân và được trả công bằng rượu vodka hoặc rượu trái cây. Lượng thu hoạch nhà Rudmev cao hơn của nông dân và vì thế công xã ra lệnh cho Rudnev phải bán số thặng dư cho nông dân nghèo với giá do họ qui định. Nhưng trước khi nông sản được thu hoạch thái ấp bị một phân đội Hồng Vệ binh lục soát, và nhà Rudnev buộc phải trốn thoát.

.Đây là mô hình chung. Mặc dù hành động bạo lực, cướp bóc  và phóng hỏa của nông dân không phải là hiếm, nhưng thường do binh lính trẻ đã giải ngũ cầm đầu. Khẩu hiệu  ‘Cướp bóc bọn cướp bóc!’ được mang về làng quê bởi bọn lính trở về từ Mặt trận hoặc doanh trại  nơi chúng đã hun đúc tinh thần đồng chí đấu tranh và thấm nhuần tuyên truyền cách mạng. Họ có tổ chức vùng của riêng họ, như Liên hiệp các Quân nhân Tiền Tuyển, hoặc Liên hiệp Thương binh, cũng như các phân đội Hồng quân của riêng họ, được cơ cấu vào Xô-Viết địa phương, có thể phát huy ảnh hưởng mạnh mẽ lên làng thôn và lèo lái nó về hướng bạo lực và sách nhiễu chống lại giới quí tộc.

.* * *

Người Nga, dường như, đặc biệt có khuynh hướng trả thù tàn nhẫn và dã man. ‘Tôi đặc biệt’, Gorky viết, ‘không tin cậy một người Nga khi y nắm được quyền lực trong tay. Vừa mới đây là một nô lệ, y trở thành một tên độc tài tệ hại nhất ngay khi có cơ hội trở thành chủ nhân của hàng xóm mình.’

Vì cảnh sát và toà án hình sự cũ đã biến mất, có cảm giác chung là cách duy nhất để giải quyết vấn đề tội phạm là xét xử bởi quần chúng trên đường phố. Một tên ăn cắp đáng thương bị đám đông tóm được, được xét xử qua loa và hành hình ngay tại chỗ. Khi khủng hoảng kinh-xã càng sâu sắc, quần chúng càng tin là giai cấp tư sản phải chịu trách nhiệm, vì thế những việc xét xử của đám đông càng mang tính chất giai cấp công khai. Chúng trở thành một vũ khí trong cuộc đấu tranh giai cấp, chĩa mũi vào các tên trộm vặt thì ít mà nhiều hơn vào các nhà buôn và chủ cửa hàng hay hãng xưởng, sĩ quan quân đội, viên chức chế độ cũ và những nhân vật thượng lưu.

Người Bôn-se-vich tạo ra định chế cho lối xét xử này qua Tòa án Nhân Dân mới, nơi ‘công lý cách mạng’ được thi hành một cách sơ sài trong mọi vụ án hinh. Hệ thống hình pháp cũ, với các bộ luật chính thức, bị bãi bỏ vì được coi là tàn tích của ‘trật tự tư sản’.  12 thẩm phán được bầu chọn để hinh thành Tòa án Nhân Dân không qua trường lớp đào tạo luật nào – họ sẽ được dẫn dắt bởi ‘lương tri cách mạng’ của mình – và phần lớn chọn ra từ công nhân, nông dân và các viên chức cấp thấp của tòa án cũ. Phân nửa họ chưa được học quá tiểu học, và trong đó có.một số đảng viên Bôn-se-vich. Các phiên xử của Tòa án Nhân dân không hợp nghi thức tổ tụng nhiều hơn các vụ xét xử đường phố bao nhiêu. Không có thủ tục tố tụng theo đúng pháp lý qui định, không có luật lệ về chứng cứ rõ ràng. Việc kết án thường dựa trên cơ sở tổ cáo, do trả thù riêng, và việc tuyên án thì chìu theo tâm trạng của quần chúng, vốn được tự do phát biểu ý kiến từ khu vực dành riêng.

Hệ thống công lý cách mạng do Toà án Nhân dân thực thi về nhiều phương diện tương tự như lệ làng nông thôn cũ, với hệ thống mắt đền  mắt, răng đền răng. Đây là Hình luật được Tòa án Nhân dân đưa vào trong làng Lubny, ở tỉnh Tambov, vào tháng 5/1918:

Nếu ai đánh một người khác, người bị hại sẽ đánh lại bị can mười lần. Nếu ai đánh một người khác gây thương tích hoặc làm gãy xương, bị can sẽ bị tội chết. Nếu ai phạm tội ăn cắp hoặc nhận đồ đã bị đánh cắp y sẽ bị tội chết. Nếu ai phạm tội đốt nhà và bị bắt, y sẽ bị tội chết.

Từ lâu ý thức luật pháp của nông dân đều cho rằng một người giàu ăn cắp của người nghèo sẽ có tội gấp mười lần một  người nghèo ăn cắp của người giàu – và cũng nguyên tắc ‘công lý giai cấp’ ấy được vận dụng trong Tòa án Nhân dân. Xét xử cũng dựa vào vị thế xã hội của người bị cáo và người bị hại. Trong một Tòa án Nhân dân các bồi thẩm có thời quen quan sát bàn tay của bị can, nếu bàn tay mềm mại và sạch sẽ, thì y sẽ bị kết tội. Những con buôn đầu cơ thường bị xử rất nặng và đôi khi bị tử hình, trong khi bọn trộm cắp – và ngay cả sát nhân – mà người bị hại là giàu có  thì thường được kêu án nhẹ, có khi tha bổng nếu y van nài là vì nghèo khổ mà phạm tội. Cướp bóc bọn đã cướp bóc đã được hợp pháp hóa và như thế luật pháp đúng nghĩa đã bị thủ tiêu, chỉ còn lại sự vô pháp.

Lênin đã luôn nhấn mạnh rằng hệ thống luật pháp phải được sử dụng như một vũ khí khủng bố tập thể chống lại tư sản. Hệ thống luật pháp quần chúng tiến hóa qua các Tòa án Nhân dân đã trao cho ông thứ vũ khí khủng bố đó. Cả các Tòa án Cách mạng cũng vậy, noi theo mô hình của thời Jacobin. Chúng đã giải quyết một chuỗi mới các ‘tội phạm chống lại nhà nước’. Vào tháng hai 1918, tại thời điểm Đức xâm chiếm nước Nga, Lênin bạn hành một sắc lệnh – ‘Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa Lâm Nguy’!’ – ra lệnh các Tòa án Cách mạng bắn tại chỗ ‘mọi đặc vụ địch, bọn trục lợi, bọn cướp bóc, bọn côn đồ và bọn kích động phản cách mạng’. Nhưng ông bất mãn vì các Tòa án Cách mạng hóa ra là những công cụ thiếu hiệu quả của Khủng Bố Bôn-se-vich: có quá nhiều thẩm phán của nó bị mua chuộc dễ dàng. Nhưng đây chỉ là bước đầu của bộ máy khủng bố tập thể, và công việc của các tòa án dần dần được giao cho các Cheka địa phương, vốn không thiếu nhiệt tình cách mạng. Latsis, một trong số các ông trùm Cheka, chỉ thị cho các nhân viên của mình:

Không tim kiếm chứng cứ để chứng minh bị cáo đã hành động hoặc phát biểu chống các Xô-Viết. Trước tiên các đồng chí phải hỏi y thuộc giai cấp nào, xuất thân xã hội của y là gì, trình độ học vấn và nghề nghiệp của y ra sao. Đây chính là câu hỏi xác định nên sổ phận của bị cáo. Đó là ý nghĩa của Khủng Bố Đỏ.

 Trong những giai đoạn đầu phát triển hệ thống Cheka cục kỳ phân tán: mỗi tổ chức Cheka địa phương có luật pháp riêng. Điều này khiến Khủng Bố Cheka vừa tùy tiện vừa chịu áp lực từ bên dưới. Thực sự là bất kỳ ai cũng có thể bị bắt giữ, và gần như mọi vi phạm đều có thể bị gán nhãn ‘phản cách mạng’. Chỉ thị nội bộ của Cheka liệt việc mua bán riêng, say xỉn, và thậm chí đi làm việc muộn là hành vi ‘phản cách mạng’. Dựa trên cơ sở này toàn thế dân chúng đều phải vào tù. Nhiều nạn nhân đầu tiên của Khủng Bố Đỏ đã bắt chỉ vì một lời tổ cáo vu vơ vì tư thù. Cheka ở Omsk phàn nàn trong tháng 4 có hơn 1,000 trường hợp ‘phản cách mạng’ phải giải quyết, hơn 200 bị loại bỏ vì người tố cáo chỉ dựa vào tin đồn do hiềm khích cá nhân. Đặc biệt thông thường là con nợ tổ cáo chủ nợ là ‘bọn cho vay nặng lãi kiểu kulak’, và như thế là ‘phản cách mạng’. Và thế là người tổ cáo được xóa nợ. 

Đó là tình trạng trong thời kỳ đầu của Khủng Bố Đỏ, trước khi Trung ương nắm quyền kiểm soát và định hướng nó chống lại kẻ thù chính tri được xác định. Nhiều người dự đoán rằng việc khủng bố tập thể này sớm muộn gì cũng biến nước Nga thành một lò sát sinh trong đó không chỉ giải cấp tư sản mà ngay cả thường dân cũng sẽ bị tàn sát. Dẫn lời của tên thủy thủ vô chính phủ Zhelezniakov: ‘vi lợi ích của nhân dân Nga thậm chí một triệu người có thể bị giết chết’, Gorky cảnh báo với độc giả của tờ Novaia zhizri vào ngày 17/1:

Một triệu ‘công dân tự do’ thật ra có thể bị giết chết trong đất nước chúng ta. Thậm chí còn nhiều hơn có thể bị giết chết. Tai sao chúng không nên bị giết chết? Có nhiều người trên nước Nga và nhiều tên sát nhân, nhưng khi đụng tới việc truy tố chúng, chế độ của những  Ủy viên Nhân dân lại gặp phải những trở ngại hết sức bí ẩn, như rõ ràng trong cuộc điều tra vụ sát hại bẩn thỉu Shingarev và Kokoshkin. * Thủ tiêu hàng loạt bọn bất đồng chính kiến là một thủ đoạn cũ xưa và hiệu quả của các chính quyền Nga, từ thời Ivan Khủng Khiếp cho đến Nicholas II . . . thế nên tại sao Vladimir Lenin lại phải từ bỏ thủ đoạn đơn giản đó?

*  Những lãnh tụ Kadet, Shingarev và Kokoshkin, bị người Bôn-se-vich bắt giữ và nhốt trong Pháo đài Peter và Paul sau các cuộc biểu tình ngày 28/10 nhằm bảo vệ Quốc hội Lập hiến. Họ được chuyển đến Bệnh viện Marinskaya vào ngày 6/1 sau khi bị bệnh ngặt nghèo, và bị mưu sát tàn nhẫn tại đó vào đêm hôm sau. Thủ phạm là một nhóm thủy thủ vùng Baltic, đột nhập vào bệnh viện. Bộ Tư pháp sau đó phát hiện rằng vụ sát nhân có sự đồng loã của Hồng Vệ binh Chỉ huy bệnh viện, Stefan Basovm Y biện minh hành động sát nhân trên cơ sở ‘xã hội bớt được hai miệng ăn tư sản’. Basov bị đưa ra tòa và bị kết án, nhưng không có tên sát nhân nào bị bắt. Những lãnh đạo Bôn-se-vich lúc đầu lên án vụ sát nhan, nhưng rồi sau đó biện minh đó là hành động khủng bố chính trị.

 

 

IV Chủ Nghĩa Xã Hội Trong Một Nước

 Trong số các sắc lệnh Bôn-se-vich thông qua trong những ngày đầu tiên họ nắm quyền không có sắc lệnh nào gây xúc cảm như Sắc lệnh Hòa Bình. Cách mạng đã sinh ra từ chiến tranh – hay ít nhất từ khao khát nó sẽ sớm chấm dứt. Nước Nga đã quị xuống sau ba năm dài chiến tranh toàn bộ và nhân dân Nga muốn hòa bình hơn hết thảy mọi thứ. Vào ngày 26/10, khi Lênin đưa ra lời tuyên bố bất tử của ông với Đại hội Xô-Viết rằng ‘Giờ chúng ta sẽ tiến hành xây dựng trật tự xã hội chủ nghĩa!’, việc đầu tiên ông nhắm đến là vấn đề hoà bình. Đây từng là cơ bản trong cam kết khi nắm quyền của đảng ông, cái yêu cầu mà tất cả đại biểu đều mang từ doanh trại và nhà máy của họ đến Đại hội Xô-Viết. Khi Lênin đọc tờ sắc lệnh đầy tính khoa trương – ‘Tuyên bố đến Nhân Dân các Quốc Gia Lâm Chiến’ đề nghị một ‘nền hòa bình dân chủ và công chính’ theo công thức Xô-Viết cũ là không xáp nhập và đền bù – khán phòng Smolny dâng trào một làn sóng xúc động. ‘Thình lình’, John Reed nhớ lại, ‘như theo một hiệu lệnh, chúng tôi thấy mình đứng bật dậy, cất tiếng đồng thanh bài Quốc Tế Ca. Một người lính già dạn dày khóc sụt sùi như một đứa trẻ. Alexandra Kollontai nhanh chóng nhắm mắt để giữ dòng lệ khỏi tuôn trào. Âm thanh vang dậy khắp sảnh, làm vỡ tung cửa sổ và cửa cái, rồi bay vút lên trời cao yên ả. “Chiến tranh kết thúc rồi! Chiến tranh kết thúc rồi!”, một công nhân trẻ cạnh tôi kêu lên, ánh mắt lấp lánh.’

Nhưng dĩ nhiên chiến tranh vẫn chưa kết thúc. Sắc lệnh Hòa Bình bày tỏ niềm hi vọng, không phải là phát biểu một sự thật. Kêu gọi hòa bình là một chuyện, làm sao có được nó là chuyện khác. Những thế lực hiếu chiến khác không có dự định ký một hoà bình toàn bộ: cả hai bên đều quyết tâm hơn bao giờ phải một mất một còn dù phải kết thúc đẫm máu. Bên Đồng minh lên khí thế vì có Hoa Kỳ nhảy vào còn bên Liên minh Trung tâm thì phấn khởi trước triển vọng có thể chuyển lực lượng sang phía tây khi Mặt trận phía Đông không còn quan trọng. Không có lý do gì họ phải nghe theo lời kêu gọi hòa bình của Nga, nhất là khi giờ đây vị thế quân sự của họ rất yếu. Họ đã đánh mất tư thế trong khối Cường quốc; và lời kêu gọi một nền hòa bình toàn bộ không xáp nhập và đền bù nghe như lập luận của một kẻ bại trận.

Theo quan điểm người Bôn-se-vich, vận động hoà bình có mối liên két tinh vi với sự truyền bá của cách mạng sang phương Tây. Chính điều này sẽ mang cuộc chiến đến hồi kết cục – hoặc sẽ biến đổi nó, như Lênin đã dự đoán, thành một loạt các cuộc nội chiến trong đó các công nhân trên thế giới sẽ đoàn kết lại để lật đổ bọn cai trị đế quốc của họ. Niềm tin về một cách mạng thế giới là trung tâm của tư duy Bôn-se-vich vào mùa thu 1917. Là người Mác-xit, không thể quan niệm được là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể sống lâu dài trong một đất nước nông nghiệp lạc hậu như Nga nếu không có sự hậu thuẫn của giới vô sản trong các xứ sở kỹ nghệ tiên tiến hơn ở phương Tây. Bị cô lập, không có cơ sở kỹ nghệ để bảo vệ cách mạng, và bị bao vây bởi giới nông dân thù địch, người Bôn-se-vich tin rằng họ chắc chắn sẽ bị thảm bại. Việc chiếm lấy quyền lực Tháng Mười đã được tiến hành dựa trên tiền đề, dù ngày nay nghe như quá ngây thơ, rằng một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa toàn thế giới đang lấp ló ở góc đường. Mỗi báo cáo về các vụ đình công hoặc nổi loạn ở trời Tây đều được người Bôn-se-vich đón chào như là dấu hiệu chắc chắn là ‘nó đang bắt đầu’.

Chừng nào hi vọng này còn sống, người Bôn-se-vich không cần một chính sách đối ngoại theo nghĩa qui ước. Tất cả điều họ cần làm là quạt ngọn lửa cách mạng cháy bùng lên. ‘Loại công tác ngoại giao nào chúng ta sẽ làm đây?’ Trotsky đã tâm sự với một người bạn khi nghe tin ông được bổ nhiệm làm Dân Ủy Ngoại giao. ‘Tôi sẽ ban hành một vài tuyên bố cách mạng cho các dân tộc và rồi đóng cửa tiệm.’ Mục tiêu căn bản của vận động hoà bình Xô-Viết là để sử dụng như một phương tiện tuyên truyền cách tân; và trong ý nghĩa này nó không phải là một vận động hoà bình đúng nghĩa. Sắc lệnh Hòa Bình chỉ là lời hiệu triệu toàn dân đến với cách mạng. Nó kêu gọi nhân dân các quốc gia lâm chiến nổi dậy chống đối chiến tranh và buộc người cai trị họ nói chuyện hòa bình. ‘Đề nghị hòa bình này sẽ gặp sự phản kháng của các chính quyền đế quốc – chúng ta không tự lừa dối mình về điều ấy.’ Lênin đã cảnh báo Đại hội Xô-Viết. ‘Nhưng chúng ta hi vọng rằng cách mạng sẽ bùng phát trong tất cả các quốc gia lâm chiến; và đó là lý do tại sao chúng ta nói với các công nhân Pháp, Anh và Đức.’

Nhưng nếu cách mạng thế giới không xảy ra thì sao? Người Bôn-se-vich lúc đó sẽ thấy mình không có một quân đội, vì đã chủ trương hủy diệt quân đội của chế độ cũ, và sẽ bất lực trước mối đe doạ  xâm lăng của Đức. Cách mạng sẽ bị đánh bại và Nga sẽ bị khuất phục dưới ách cai trị của đế chế Kaiser. Khi thời gian trôi qua và kịch bản này trở nên chắc chắn hơn, người Bôn-se-vich thấy mình bị chia cắt làm hai. Đối với những người bên phía trái của đảng, như Bukharin, một nền hòa bình riêng lẻ với Đế Chế Đức sẽ biểu thị một sự phản bội đối với lý tưởng quốc tế, giết hết mọi hi vọng về một cuộc cách mạng ở phương Tây. Họ chủ trương ý tưởng chiến đấu một cuộc chiến cách mạng chống bọn xâm lược Đức: điều này, họ lập luận, sẽ giật dậy tinh thần bảo vệ cách mạng của công nhân và nông dân Nga, từ đó sẽ tạo lập một Hồng quân trong quá trình chiến đấu, và họ đến lượt mình sẽ làm gương cho quần chúng cách mạng ở nước ngoài.

Ngược lại, Lênin đều nghi ngờ cả hai cơ hội chiến đấu một cuộc chiến như thế và tiềm năng đốt lên được ngọn lửa cách mạng ở phương Tây. Mặc dù ông đã đưa ra ý tưởng về một cuộc chiến cách mạng trong Luận điểm Tháng Tư của mình, giờ ông bắt đầu nghi ngờ liệu công nhân và nông dân có sẵn sàng hăng hái bảo vệ Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa hay không. Không có quân đội, người Bôn-se-vich không có lựa chọn nào trừ dàn xếp một nền hòa bình riêng lẻ, bởi vì nếu tiếp tục chiến đấu, tàn tích của ‘quân đội nông dân, đã sức cùng lực kiệt vì chiến tranh, sẽ lật đổ chính quyền xã hội chủ nghĩa của công nhân’. Một nền hòa bình riêng lẻ với Đức sẽ cho người Bôn-se-vich ‘thở lấy sức’ để có thời gian củng cố cơ sở quyền lực, phục hồi kinh tế và thành lập quân đội cách mạng của mình. Điều này có nghĩa là ưu tiên cho chính sách củng cố cách mạng trong nước hơn là khuấy động cách mạng ở nước ngoài. ‘Chiến thuật của chúng ta’, Lênin viết, ‘phải dựa vào nguyên tắc là làm thế nào bảo đảm cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể củng cố tốt nhất để sống còn trong nước chờ thời cơ các xứ sở khác đến tham gia.’ Hơn nữa, hòa bình riêng lẻ ở phía Đông sẽ làm Liên minh Trung tâm tăng cường chiến dịch ở phía Tây và do đó sẽ kéo dài chiến tranh, và kết quả là có thêm cơ may nổ ra cách mạng ở châu Âu.

Quan điểm của Lênin, ta phải công nhận, là một đánh giá tình hình chính xác hơn chủ nghĩa quốc tế ngây thơ của cánh Tả Bôn-se-vich. Quân đội Nga đang suy sụp, khi các nông dân, nghe theo lời tuyên truyền của Bôn-se-vich, bỏ ngũ và đi về nhà. Thậm chí Bộ trưởng Chiến tranh của Kerensky, Tướng Verkhovsky, đã đi đến kết luận là không thể tiếp tục cuộc chiến và nước Nga không có lựa chọn nào khác hơn là thương lượng hòa bình. Không có lý do gì để cho rằng ý thức quốc gia của giới nông dân lớn mạnh hơn khi giờ đây Mẹ Nga đã được sơn màu Đỏ. Suy cho cùng, những nông dân này cũng là những nông dân như hồi 1914 khi không hiểu tại sao bị huy động để đánh nhau với Đức khi mình không có cãi cọ gì với họ và làng mạc xa xôi của mình chắc chắn không thể bị Đức xâm phạm. Và với những sự kiện bấp bênh của năm 1917, quan điểm hẹp hòi trên càng được củng cố. Còn Hồng Vệ binh, sẽ là cơ sở cho Hồng quân mới, thực ra không hơn những đơn vị dân quân ô hợp dùng để bảo vệ cách mạng ở vùng quê và xưởng máy riêng lẻ; họ rất ngại phải rời bỏ địa phương và hoàn toàn không được huấn luyện gì hơn là những chiến thuật du kích vặt vãnh. Đúng là mơ mộng lãng mạn của SR cánh Tả và những người Cộng sản cánh Tả khi cho rằng những vệ binh này có thể giữ vững, nói chỉ đến đánh thắng, một cuộc chiến cách mạng chống lại bộ máy chiến tranh Đức.

 Vậy mà phần đông các lãnh đạo Bôn-se-vich tiếp tục chống đối lô-gic đanh thép của Lênin. Thật khó cho họ phải từ bỏ lý tưởng cách mạng thế giới, nhất là vì quá nhiều người trong bọn họ đã bị nó thu hút đến với chủ nghĩa Bôn-se-vich ngay từ đầu,  xem đó là một  cuộc thánh chiến cứu tinh quốc tế để giải phóng thế giới. Đối với những người như Bukharin, và ở mức độ nào đó như Trotsky, những người đã trải qua một phần đời trong chốn lưu đày phương Tây, cách mạng Nga chỉ là một phần – một phần nhỏ – của cuộc đấu tranh toàn cầu giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Giới hạn thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trong một xứ, nói chi một xứ sở lạc hậu như Nga, dường như đối với họ là chấp nhận thất bại. Khi viễn ảnh của một nền hòa bình toàn bộ lùi xa dần, người Bôn-se-vich càng thêm chia rẽ giữa hai chính sách kình chống nhau của một cuộc chiến cách mạng hay một nền hòa bình riêng lẻ với Đức. Ắt hẳn đây là một trong những giờ khắc ngặt nghèo nhất trong lịch sử Đảng.

* * *

Vào ngày 13/11 Trotsky gởi đề nghị đình chiến đến Bộ Tư lệnh Đức để thương thảo một nền hòa bình dân chủ. Ba ngày sau một phái đoàn Xô-Viết khởi hành từ Petrograd đi đến thị trấn Bresty tan hoang vì chiến tranh, nơi đóng Bộ Tư lệnh Đức, để thỏa thuận đình chiến. Mục đích của phái đoàn là vì tuyên truyền cũng như vì hòa bình: đi cùng với các nhà thương thuyết Bôn-se-vich, do Yofe, Kamenev và Karakhan dẫn đầu, là các đại diện tượng trưng của quân nhân, thủy thủ, công nhân, phụ nữ và nông dân của nước Nga Vô Sản. Phái đoàn đầy đủ thành phần nhằm tạo ấn tượng là chính quyền Bôn-se-vich gồm đầy đủ các phần tử từ nền dân chủ cách mạng.

Trên đường đến Ga Warsaw, Yoffe và Kamenev thình lình nhận ra phái đoàn còn thiếu một đại diện nông dân. Khi ô tô của họ băng qua các đường phố vắng vẻ và tối tăm của Petrograd, đến một khúc quanh họ chợt trông thấy một ông lão mặc một áo khoác kiểu nông dân đang lặn lội trong tuyết, trên vai đeo một túi xách. Với chòm râu xám dài và gương mặt dạn dày sương gió, ông lão là hình ảnh kiểu mẫu của người nông dân Nga. Kamenev ra lệnh ngừng xe. ‘Ông già đi đâu đó, tovarishch (đồng chí)? ‘Đến nhà ga, thưa ngài, ý tôi là đồng chí’  lão nông trả lời.’Leo lên xe đi, chúng tôi cho ông có giang.’ Ông lao dường như vui mừng trước sự giúp đỡ bất ngờ này, nhưng khi họ tiến gần Ga Warsaw, ông lão thấy có điều gì không ổn. Ông muốn đi đến Ga Nikolaevsky, nơi tàu sẽ đi đến Moscow và Trung tâm nước Nga. Coi bộ việc này không xong rồi, Kamenev và Yoffe nghĩ, và bắt đầu cật vấn ông lão. ‘Ông theo đảng gì thế?’ họ hỏi. ‘Tôi theo Cách mạng Xã hội ( SR), các đồng chí ạ. Trong làng tôi đều theo Cách mạng Xã hội cả.’ ‘Tả hay Hữu?’ họ hỏi vặn tiếp. ‘Tất nhiên, Tả, các đồng chí, tả nhất hạng đó.’ Điều này đủ để thỏa mãn phái đoàn hoà bình Xô-Viết về phương diện lý lịch ngoại giao của thành viên cuối cùng. ‘Ông không cần phải về làng,’ họ bảo ông. ‘Đi với chúng tôi đển Brest-Litovsk và giảng hòa với bọn Đức.’ Lão nông thoạt đầu còn ngần ngại, nhưng sau khi được hứa hẹn được trả công bèn nhanh chóng đổi ý. Roman Stashkov, một dân làng giản dị, được ghi chép trong niên giám của lịch sử ngoại giao như là ‘đại điện toàn quyền của giới nông dân Nga’. Với kiểu ăn uống nông dân, ông là trung tâm chú ý tại tiệc chiêu đãi thịnh soạn dành cho phái đoàn ngoại giao. Ông vừa vượt qua cơn lúng túng không biết xử lý ra sao với chiếc nĩa và rồi bắt đầu thưởng thức bữa ăn một cách hào hứng. Ông đặc biệt khoái các loại rượu vang hảo hạng và, trong đêm đầu tiên, thậm chí tạo được nụ cười trên gương mặt lạnh như băng của tên bồi Đức, khi, được hỏi ông thích dùng rượu claret hay vang trắng cho món ăn chính ông quay sang người ngồi kế bên, Hoàng thân Ernst von Hohenlohe, và hỏi : ‘Thứ nào mạnh hơn?’

Nhiệm vụ đầu tiên của thỏa thuận – giải quyết đình chiến riêng lẻ – khá đơn giản. Ba bên đang lâm chiến mỗi bên đều có lý do riêng để muốn đình chiến: Đức muốn chuyển quân về phía tây, nơi Ludendorff đang gia tăng sức ép cho một ván bài cuối cùng; người Áo muốn nghỉ ngơi bình lính và dân chúng đã mệt mỏi, đang tỏ ra bất mãn vì gánh nặng của cuộc chiến; và người Nga, cũng vậy, muốn dưỡng quân cũng như có thời gian để  vận động hoà bình nhằm phát động cách mạng ở phương Tây. Thoạt đầu, phái đoàn Nga khăng khăng nguyên tắc đình chiến toàn bộ: Lênin hi vọng với tư thế đó có thể lôi kéo phe Hiệp ước (Đồng minh), do nhân dân thúc đẩy, đến bàn thương lượng. Chính sách của Bôn-se-vich là khuyến khích binh lính của mình kết thân và thỏa thuận đình chiến tại chỗ ở Mặt trận, sẽ tạo một mục đích tuyên truyền tương tự. Nó vừa là phương tiện xén bớt quyền hành các tư lệnh Nga cũ (và có tiềm năng là phản cách mạng) vừa lan truyền tư tưởng hiếu hòa đến quân địch. Người Bôn-se-vich phát hành một số lượng lớn tài liệu tuyên truyền phản chiến bằng tiếng Đức, Hung, Tiệp khắc và Romania và lưu hành phía sau chiến tuyến địch. Tướng Dukhonin, quyền Tống Tư lệnh và cảm tình viên với Kornilov, làm những gì có thể để chống lại thế tiến công hòa bình này. Ông thậm chí từ chối thi hành lệnh của N. V. Krylenko, Ủy viên Chiến tranh của Bôn-se-vich, để mở cuộc thương thảo đình chiến toàn bộ dọc theo Mặt trận. Nhưng Dukhonin, theo cấu trúc tư lệnh nói chung, thực sự không có quyền hành. Krylenko cách chức ông và ra tận Stavka để thay thế ông. Nhưng trước khi ông đến Mogilev bình sĩ đã bắt giữ Dukhonin và đánh đập ông dã man đến chết. Đó là hành động trả thù của họ cho việc phóng thích Kornilov khỏi Tu viện Bykhov, và tiếp theo là trốn đến Don, mà họ tin là do Dukhonin  đã ra lệnh. Một khi Krylenko đã nắm được quyền kiểm soát Bộ Tổng Tham mưu, binh sĩ tiếp tục thương thảo đình chiến tại chỗ ở Mặt trận, nhưng gương của họ không có binh sĩ Âu châu nào noi theo, và vào ngày 2/12, các cường quốc trong Hiệp ước vẫn quyết tâm như bao giờ tiếp tục chiến đấu, phái đoàn Nga cuối cùng bắt buộc phải chấp nhận một cuộc  đình chiến riêng lẻ kéo dài một tháng ở Mặt trận phía Đông.

Người Nga muốn đình chiến sáu tháng hơn, như họ đã đề nghị. Chiến lược của họ là câu giờ, hi vọng cuộc vận động hoà bình sẽ phát động một cuộc cách mạng ở phương Tây. Đó là lý do tại sao họ khăng khăng đòi thương thảo một nền hòa bình toàn bộ  – không hẳn bởi vì họ nghĩ rằng các Đồng minh có thể được thuyết phục để tham gia đàm phán, nhưng bởi vì họ hiểu rằng những nỗ lực để thuyết phục họ sẽ khiến việc đàm phán kéo dài ra lâu hơn, cho họ cái cớ cần thiết để xúc tiến việc tuyên truyền trên vũ đài quốc tế. Bằng cách thay thế Yoffe với Trotsky làm trưởng đoàn đàm phán vào giữa tháng 12, Lênin nhận biết rằng, không có triển vọng ngay tức thì về một cuộc cách mạng ở phương Tây, nên rất cần kéo dài cuộc đàm phán về hòa bình càng lâu càng tốt. ‘Để trì hoãn cuộc thương thảo,’ ông nói với Trotsky khi bổ nhiệm ông ta, ‘phải có người thích hợp cho công việc này.’ Và Trotsky, tất nhiên, là sự lựa chọn hiển nhiên. Với năng lực ngôn từ xuất sắc, cả tiếng Nga lẫn Đức, ông làm các chính khách và các vị tướng nước ngoài như bị thôi miên khi chuyển một cách tinh tế trọng tâm thảo luận từ những chi tiết về đường biên giới lãnh thổ, nơi vị trí quân Nga rất yếu, đến những điểm tổng quát về nguyên tắc, nơi ông thông thạo ăn đứt người Đức. Nam tước Kuhlmann, người cầm đầu phái đoàn Đức, yếu kém điển hình kiểu Đức về lý luận biện chứng kiểu Hegel, dễ dàng rơi vào bẫy của Trotsky. Vài ngày đã trôi qua trong khi hai người so kiếm nhau về các nguyên tắc trừu tượng của ngoại giao. Khi họ bàn đến phần nhập đề của bản nháp văn kiện hòa ước, ông thậm chí trì hoãn bằng cách chỉnh đối cụm từ tiêu chuẩn rằng các bên thương thảo mong muốn chung sống trong hòa bình và hữu nghị. ‘Tôi xin mạn phép,’ ông nói chống chế, ‘đề nghị xóa bỏ cụm từ thứ hai (‘và hữu nghị’) . . . Những tuyên bố như thế chưa bao giờ đặc tính hóa mối liên hệ thực sự giữa các nhà nước.:

Vào cuối tháng 12, Bộ Tư lệnh Đức, chưa bao giờ tha thiết với chính sách đàm phán một nền hòa bình toàn bộ của Kuhlmann, cuối cùng mất hết kiên nhẫn với các chính Khách. Cuộc đàm phán hòa bình đã gãy đổ và sa lầy qua Giáng Sinh khi người Đức từ chối trả lại Nga phần lãnh thổ tranh chấp Courtland, Lithuania và Ba Lan, nơi họ đặt các căn cứ quân sự quan trọng. Hơn nữa, vẫn chưa có dấu hiệu cho thấy các cường quốc Hiệp ước tính đến việc tìm kiếm hòa bình toàn bộ. Ludendorff và Hindenburg đều tin rằng người Bôn-se-vich ra sức kéo dài đàm phán lâu như có thể để khuấy động một cuộc cách mạng Đức (có những dấu hiệu cho thấy tình trạng suy sụp tinh thần sẽ làm tê liệt Đức trong năm 1918 đã bắt đầu bắt rễ). Họ thuyết phục Kaiser (Chính quyền Đức), vốn cũng đang mất kiên nhẫn với Kuhlann, cần phải cứng rắn với người Nga và ép buộc nền hòa bình riêng lẻ ở phía đông. Phần thưởng của việc này, họ nhấn mạnh, là cơ hội chuyển quân về phía tây, nơi Ludendorff tin rằng cuộc chiến có thể kết thúc thắng lợi vào mùa xuân nếu có đủ lực lượng yểm trợ, cùng lúc mở ra triển vọng sẽ biến nước Nga thành thuộc địa của Đức.

Bành trướng về phía Đông, Der Drang nach Osten, từ lâu đã là mục tiêu trung tâm của Đế Chế Đức. Không phải là một đế chế có thuộc địa để đối đầu với Anh và Pháp, Đức nhìn về Nga như một nguồn tài nguyên cần thiết để trở thành một cường đế quốc chủ yếu. Đối với các chủ ngân hàng và các kỹ nghệ gia Đức, vùng Eurasia mênh mông có thể thay thế châu Phi lại ở ngay sau nhà. Tham vọng về phía Đông của Đức có thể thành tựu phụ thuộc vào việc giữ cho Nga luôn yếu, và chia rẽ đế chế Nga. Phần đông các nhà lãnh đạo Đức chào đón việc Bôn-se-vich chiếm quyền, mặc dù triều đình Kaiser có quan hệ bà con với dòng họ Romanov. Họ tin rằng người Bôn-se-vich sẽ đưa nước Nga đến chỗ lụn bại, sẽ cho phép Đế Chế tan rã và sẽ chịu ký một nền hòa bình riêng lẻ với người Đức. Nhưng chính sách chia cắt nước Nga của Đức trông cậy nhiều vào các nhà dân tộc chủ nghĩa Ukraine. Phong trào độc lập của Ukraine mở ra những triển vọng về một nền hòa bình riêng lẻ với Kiev và việc định hướng lại nguồn tài nguyên phong phú (lương thực, sắt, và trên hết là than) cho quân đội của phe Trung tâm. Người Đức đã bắt đầu đàm phán với những lãnh đạo tương lai của Ukraine từ 1915. Trong thời gian đàm phán hòa bình tạm nghỉ vì Giáng Sinh, một phái đoàn từ Rada đến Brest-Litovsk. Các nhà dân tộc chủ nghĩa Ukraine xem việc phụ thuộc kinh tế của đất nước vào Berlin ít tệ hại hơn là phụ thuộc chính trị vào Petrograd. Từ cuối tháng 11, khi Rada tuyên bố Ukraine độc lập, các lực lượng Bôn-se-vich đã tập trung ở Kharkov, một thành phố kỹ nghệ ở Đông Ukraine nơi chủng tộc Nga chiếm đa số, để chuẩn bị  (ít nhất là đối với các nhà dân tộc Ukraine) xâm chiếm Kiev. Phe Liên minh Trung tâm là lực lượng duy nhất hậu thuẫn Rada. Họ công nhận nó là chính quyền hợp pháp của Ukraine, và vào ngày 9/2, khi lực lượng Bôn-se-vich đánh chiếm Kiev, họ ký một nền hòa bình riêng lẻ với các lãnh đạo Rada. Hiệp ước đã biến Ukraine thành một quốc gia bảo hộ của Đức, mở đường cho quân Đức và Áo tiến vào chiếm đóng nó. Người Bôn-se-vich phải buộc lòng bỏ Kiev chỉ sau ba tuần và tháo chạy về đông trở lại Kharkov.

Với việc Ukraine tách khỏi Nga, Đức củng cố thêm vị thế của mình trên bàn đàm phán Brest-Litovsk. Triển vọng chiếm đóng Ukraine cho họ mối đe doạ quân sự mạnh mẽ có thể được sử dụng để áp đặt một nền hòa bình sai khiến cho người Nga; và khi cuộc đàm phán với Nga bắt đầu lại cuối tháng 12, họ tiến lên đòi thêm các yêu sách lãnh thổ mới, bao gồm việc chia cắt Ba Lan khỏi Nga và xáp nhập Lithuania và Latvia vào Đức. Trotsky kêu gọi đình hoãn và trở lại thủ đô Nga để bàn bạc với các lãnh đạo của Bôn-se-vich.

Ba phe lộ diện tại buổi họp quyết định của Ủy ban Trung ương vào ngày 11/1. Phe Bukharin, đông nhất, với 32 phiếu trong tổng số 63 tại một phiên họp đặc biệt các lãnh đạo đảng vào 8/1, và sự hậu thuẫn của cả hai đảng bộ Petrograd và Moscow, chủ trương chiến đấu vì cách mạng chống Đức, để đốt lên ngọn lửa cách mạng ở châu Âu. Bukharin lập luận ở Ủy ban Trung ương. ‘ Để bọn Đức đánh đi, để chúng tiến thêm một trăm dặm nữa, điều quan tâm nhất của chúng ta là điều này sẽ ảnh hưởng thế nào đối với phong trào quốc tế.’ Phe Trotsky, đông thứ hai, với 16 phiếu tại buổi họp ngày 8/1, cũng quan tâm không nên mất hi vọng về một cuộc cách mạng ở phương Tây  (đã có những dấu hiệu về bước ngoặt nổi bật trong các vụ đình công ở Đức và Áo) nhưng không tin các đạo quân du kích nông dân, mà Bukharin kêu gọi,  có thể chặn đứng được cuộc xâm lăng của Đức. Do đó Trotsky đưa ra một khẩu hiệu bất thường ‘Không chiến cũng không hòa’, mục đích cơ bản là để hoãn binh. Phái đoàn Xô-Viết sẽ tuyên bố chiến tranh kết thúc tại Brest-Litovsk, nhưng không chịu ký hiệp ước hòa bình có điều kiện xáp nhập. Nếu Đức xâm chiếm , dù người Bôn-se-vich không thể ngăn cản bất kỳ cách nào, thì ít nhất đối với dư luận thế giới rõ ràng đó là một hành động xâm lấn một đất nước yêu hòa bình.

Theo quan điểm của Lênin, đứng đầu phe thứ ba, ít người nhất, khẩu hiệu của Trotsky là một ‘đòn phù phép chính trị quốc tế’ sẽ không ngăn được bọn Đức tiến công. Không có một quân đội  sẵn sàng chiến đấu, Nga không thể nào chơi trò hoãn binh được lâu. Nga không có lựa chọn nào khác ngoài việc ký một hiệp ước hòa bình riêng lẻ, trong trường hợp đó thì tiến hành càng sớm càng tốt. ‘Giờ chỉ còn vấn đề làm thế nào bảo vệ Tổ quốc,’ Lênin lập luận với một giọng điệu yêu nước khá mới lạ. ‘Chắc chắn đó sẽ là một nền hòa bình đáng xấu hổ, nhưng nếu lao vào chiến tranh, chính quyền của chúng ta sẽ bị quét sạch.’ Không có lý do đặt cược toàn bộ thành quả cách mạng lên một cơ may cuộc cách mạng Đức sẽ bùng phát. ‘Đức chỉ mới đang thai nghén với cách mạng, còn chúng ta đã hạ sinh một đứa con hoàn toàn khỏe mạnh’. Việc tái thiết nước Nga và chuẩn bị cho nội chiến cả hai đều đòi hỏi một nền hòa bình tức thì, hoặc như cách Lênin diễn tả với tính thẳng thừng quen thuộc: ‘Bọn tư sản phải bị chặn họng và để làm được việc đó chúng ta cần rảnh cả hai tay.’

Chỉ với Stalin, Zinoviev và ba người khác hậu thuẫn ở Ủy ban Trung ương, và chỉ được 15 phiếu tại phiên họp đảng vào ngày 8/1, Lênin bắt buộc đồng minh với Trotsky để chống lại phe Bukharin. Liều để mất Estonia cho Đức, hoặc bị buộc phải nhượng bộ những yêu sách của họ ngay đầu mũi súng, dường như vẫn còn là cái giá hợp lý phải trả để ngăn ngừa điều mà ông thấy là chính sách tự sát của một cuộc chiến vì cách mạng. Khẩu hiệu khốn khổ của Trotsky ‘Không chiến cũng không hòa’ được Ủy ban Trung ương chuẩn y, và thế là Trotsky trở lại Brest-Litovsk để cù cưa tiếp.

Thêm ba tuần nữa Trotsky câu giờ, trong khi Bộ Tư lệnh Đức càng mất kiên nhẫn. Rồi cuối cùng việc gì đến phải đến. Ngày 9/2 một điện tín gởi từ Kaiser ở Berlin ra lệnh cho Kuhlmann đưa ra yêu sách của Đức như một tối hậu thư. Nếu nó không được ký vào ngày hôm sau, quân Đức và Áo sẽ được lệnh tiến lên. Kaiser đã cuối cùng bị Bộ Tư lệnh thuyết phục là đàm phán chỉ mất thì giờ, và người Nga chỉ sử dụng nó để xúi giục binh sĩ nổi dậy, rằng hiệp ước với Rada, được ký cùng ngày với điện tín, mở ra cánh cửa cho việc áp đặt một nền hòa bình riêng lẻ lên người Nga qua việc chiếm đóng Ukraine. Rõ ràng không còn lý do để cù cưa, ngày hôm sau Trotsky thông báo trước một hội nghị sửng sốt là Nga sẽ từ bỏ cuộc chiến nhưng từ chối ký hiệp ước hòa bình với Đức. Chưa từng có sự kiện gì giống như thế trong lịch sử ngoại giao – một nước nhìn nhận thất bại và tuyên bố mình không đánh nữa nhưng đồng thời từ chối chấp nhận điều kiện của bên chiến thắng như một cách để chấm dứt chiến tranh. Khi Trotsky nói xong các chính khách lặng im  nhìn nhau ngơ ngác, chết đứng trước cú diễn này. Rồi không khí im lặng cuối cùng bị phá vỡ khi Tướng Max von Hoffman la lên bực tức: Unerhort! (Tiếng Đức: Không sao tin nỗi!)

Khi cú sốc ban đầu đã qua, Bộ Tư lệnh Đức thấy rõ là phải tiếp chiêu  tháu cáy của Trotsky. Vì không có ký kết hòa bình, nên Đức vẫn trong tình trạng chiến tranh với Nga. Được lệnh từ Ludendorff, ngày 16/2 Kuhlmann thông báo Đức sẽ nối lại hoạt động chiến tranh chống Nga từ ngày 18/2. Trở lại Smolny, vào ngày 17/2, Ủy ban Trung ương họp khẩn cấp. Yêu cầu của Lênin là nên chấp nhận hiệp ước với Đức ngay lập tức bị đánh bại với sáu phiếu chống năm. Chính sách của Trotsky là cứ cho Đức phát động tấn công trước khi ký hoà bình với hi vọng rằng cảnh tượng quân địch tấn công vào  nhân dân Nga vô tội sẽ cuối cùng kích động tầng lớp lao động Đức đứng lên nổi dậy.

Vào ngày 18/2 quân Đức tiến lên. Dvinsk và Lutsk lập tức bị chiếm không gặp kháng cự.  Binh lính Nga cuối cùng còn lại đều tan rã và vào cuối ngày thứ năm quân của Hoffman đã tiến sâu 150 dặm. Số lượng này gần như bằng với đoạn đường mà toàn thể quân đội Đức tiến lên được trong ba năm chiến đấu vừa qua. ‘Thật là một cuộc chiến khôi hài tôi chưa từng gặp, ‘ Hoffman viết trong nhật ký của mình. ‘Nó gần như là được tiến hành bằng tàu hỏa và ô tô. Chúng tôi chất lên tàu một nhúm binh lính với súng máy và một khẩu pháo rồi lên đường đến nhà ga tiếp theo; đến đó họ đánh chiếm nó, bắt một số Bôn-se-vich làm tù binh, rước thêm một số lính rồi đi tiếp. Dù sao đánh giặc kiểu này cũng có nét duyên dáng của sự tân kỳ.’

Khi tin tức về cuộc tiến công của Đức đến, Ủy ban Trung ương họp khẩn cấp hai phiên liên tiếp vào ngày 18/2. Lênin nổi giận. Vì không chịu ký vào hiệp ước Đức mà đối thủ của ông ở Ủy ban Trung ương đã tạo cơ hội cho quân địch tiến công. Lênin rõ ràng sợ rằng Đức chuẩn bị đánh chiếm Petrograd và đuổi cổ người Bôn-se-vich – phải lập tức đánh điện chấp nhận hòa bình ngay. Khi Bukharin và Trotsky đề nghị hoãn thêm, Lênin nổi cơn thịnh nộ. Nhưng ông còn thiếu số phiếu ủng hộ chính sách của mình, bị đánh bại với 7 chống 6 tại phiên họp sáng của Ủy ban Trung ương. Giới lãnh đạo Bôn-se-vich dường như trên bờ vực chia rẽ trầm trọng khi đối mặt với thảm bại. Nhưng vào chiều có tin Đức tiến quân vào Ukraine, Trotsky liền quay sang ủng hộ Lenin. Trong phiên họp chiều ông đề nghị yêu cầu người Đức xác định lại điều khoản của họ. Lênin cho yêu cầu này là điên rồ, đã quá muộn để cù cưa ngoại giao. Sau ba giờ tranh luận sôi nổi thêm nữa cuộc bầu lấy quyết định lời đề nghị chấp nhận hòa bình của Lênin gởi cho Đức. Nó được thông qua xít xao với 7 chống 5, với Trotsky chuyển qua phe Lênin vào phút cuối cùng. Nếu Trotsky đã về phe của Bukharin chống đối giải pháp hòa bình, Lênin ắt hẳn đã từ chức Ủy ban Trung ương, như ông đã hăm dọa, và vận động sự hậu thuẫn của hàng ngũ Bôn-se-vich cấp dưới. Đảng do đó sẽ bị chia rẽ và không có Lênin, vị thế đứng đầu đảng của Trotsky sẽ cực kỳ dễ tổn thương – như những chứng cứ sau này sẽ chứng tỏ.

Vào nửa đêm, sau cuộc bỏ phiếu quyết định ở Ủy ban Trung ương, đích thân Lênin gởi điện đến Berlin chấp nhận điều khoản đầu hàng của Đức đề ra ở Brest-Litovsk. Tuy nhiên, trong vài ngày quân địch tiếp tục tiến sâu vào lãnh thổ Nga và Ukraine mà không biết chuyện điện tín đã được gởi đi. Dường như rõ ràng người Đức đã quyết định đánh chiếm Petrograd và lật đổ chế độ Bôn-se-vich. Giờ Lênin quyết tâm chiến đấu – hoàn toàn lật ngược quan điểm trước đó – và kêu gọi quân tình nguyện. Sự yểm trợ quân sự được nhắm vào Đồng minh, vốn quan tâm giữ nước Nga ở lại cuộc chiến hơn là quan tâm đến bản chất của chinh quyền của nó và sẵn sàng hướng ứng sự hỗ trợ quân sự. * Theo lệnh Lenin, người Bôn-se-vich chuẩn bị di tản thủ đô đến Moscow, khiến Petrograd hoảng loạn. Các ga tàu chật ních người trốn khỏi thủ đô, trong khi hàng ngàn người lội bộ di tản mỗi ngày. Luật pháp và trật tự đều sụp đổ, khi những băng đảng vũ trang thi nhau cướp bóc các cửa hiệu và nhà cửa bỏ lại và những công nhân phẫn nộ, đối mặt với các hãng xưởng dời di, cố gắng bù lại những tuần chưa nhận lương bằng cách cuỗm đi đồ đạc trong kho. Chính tại lúc này, khi thủ đô trượt dài vào tình trạng vô chính phủ, mà Lênin ban hành Sắc lệnh ‘Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa Lâm Nguy!’

*  Việc Đồng minh chỉ xem tình thế ở Nga theo phối cảnh của cuộc chiến ắt sẽ giúp cho người Bôn-se-vich vững mạnh vào lúc nguy cấp này. Chính phủ Pháp quyết định giúp đỡ quân sự cho người Bôn-se-vich cùng lúc với việc hủy bỏ hậu thuẫn cho Quân đội Tình nguyện, vốn được thành lập để lật đổ chế độ Bôn-se-vich. Các chính quyền Đồng minh tất cả đều nhận được thông tin không chính xác về tình hình ở Nga, và đặt quá nhiều lòng tin là rốt cục nước Nga cách mạng sẽ nối lại cuộc chiến.

 

Vào ngày 22/2 Ủy ban Trung ương họp lại để bàn luận về việc nhận hỗ trợ quân sự từ các nước Đồng minh. Với sự hậu thuẫn của Trotsky và Lênin (vắng mặt), kiến nghị tán thành việc đó được thông qua – mặc dù chỉ vừa đủ, vì Bukharin và những người khác chủ trương chiến tranh cách mạng cực lực phản đối nhận viện trợ từ các đế quốc. Khi bỏ phiếu, Bukharin hăm dọa từ chức khỏi Ủy ban Trung ương. ‘Chúng ta đang biến đảng thành đống phân,’ ông phàn nàn với Trotsky và rồi bật khóc.

Rốt cục hóa ra vấn đề nhận viện trợ của Đồng minh không thích hợp nữa. Vào ngày 23/2 người Đức cuối cùng gởi đến các điều khoản hòa bình mới nhất. Berlin giờ đây yêu sách rằng tất cả vùng lãnh thổ mà quân đội họ chiếm được trong quá trình chiến tranh, bao gồm những vùng chiếm được trong năm ngày cuối cùng. Cụ thể, điều này có nghĩa Đức sẽ xáp nhập Ukraine và hầu hết vùng Baltic. Ủy ban Trung ương lại họp ngay. Lênin hăm dọa từ chức nếu điều khoản hòa bình không được chấp nhận. Dù điều khoản mới quá khắc nghiệt, ít nhất chúng vẫn để người Bôn-se-vich nắm quyền. ‘Đây là vấn đề’, Lênin cảnh báo, ‘ký vào điều khoản hòa bình ngay bây giờ hay ký bản án tử của Chính quyền Xô-Viết ba tuần sau.’ Trotsky không đồng ý về điều này, những biết rằng một đảng chia rẽ, hậu quả của việc Lênin từ chức, không thể tiến hành chiến tranh cách mạng, và trên cơ sở này ông không bỏ phiếu về đề nghị của Lênin. Đề nghị được thông qua với 7 phiếu chống 4 với bốn thành viên không bỏ phiếu. Chỉ có phe Bukharin, đang sẵn sàng , theo lời của Lomov, ‘nắm quyền không có Ilich (Lênin) và ra Mặt trận chiến đấu’, vẫn còn chống đối đến phút cuối cùng và từ chức Ủy ban Trung ương để rảnh tay vận động hàng ngũ đảng và dân chúng chống hòa bình. Đến đêm Lênin trình bày đề nghị hòa bình cho ban Điều hành Xô-Viết, và được thông qua với 116 phiếu chống 85. Trong suốt bài diễn văn Lênin nhiều lần bị la ó ‘Đồ phản bội!’ và ‘Judas!’ từ các người SR cánh Tả và nhiều người bên cánh tả trong đảng ông. Vào đầu sáng sớm ngày hôm sau ông gởi đến Berlin lời chấp nhận vô điều kiện các điều khoản của Đức.

.

* * *

Hiệp ước Brest-Litovsk cuối cùng được ký ngày 3/3. Không nhà lãnh đạo nào muốn đến Brest-Litovsk và đặt chữ ký của mình lên hiệp ước mà khắp nước Nga gọi là một ‘nền hòa bình đáng hổ thẹn’. Yoffe từ chối thẳng thừng; Trotsky lẫn tránh được sự bất hòa bằng cách từ chức Dân Ủy Ngoại giao; Sokolnikov đề cử Zinoviev, trong khi Zinoviev lại đề cử Sokolnikov. Cuối cùng, phái đoàn phải được thành lập bởi những lãnh đạo đảng hạng hai, gồm G. V. Chicherin, cháu nội của một nhà quí tộc và chính khách thời sa hoàng nổi tiếng, thay thế Trotsky làm Dân Uỷ Ngoại giao.

Theo điều khoản của hiệp ước, Nga buộc phải nhượng hầu hết lãnh thổ của mình trên lục địa châu Âu. Ba Lan, Courtland, Phần Lan, Estonia và Lithuania tất cả đều được trao độc lập trên danh nghĩa dưới sự bảo hộ của Đức. Binh sĩ Nga phải rút khỏi Ukraine. Tính hết thì Nga mất 34 phần trăm dân số của mình (55 triệu tất cả), 32 phần trăm đất nông nghiệp, 54 phần trăm số xí nghiệp kỹ nghệ và 89 phần trăm trữ lượng than. Là một cường quốc Âu châu, nước Nga, theo thuật ngữ kinh tế và lãnh thổ, đã giảm vì thế còn ngang với Muscovy thể kỷ 17.

Như một hậu quả trực tiếp của hiệp ước, Đức có thể dấn tới mà không gặp chống đối để hoàn thành tham vọng đế chế của mình về phía đông. Vùng Ukraine ngay lập tức bị nửa triệu binh lính Đức và Áo chiếm đóng. Nói chung, họ được chào đón bởi các tầng lớp giàu có thành thị, phần đông là người Nga và đã chán ngấy với các chính sách xã hội và dân tộc của chính quyền Rada. Nhưng ở vùng quê, nơi binh lính trưng thu thẳng tay lương thực cho các công dân Áo thiếu ăn, các nông dân Ukraine chống đối cay đắng với sự hiện diện của Đức. Thoạt đầu, trách nhiệm thu gom thóc lúa được giao cho Rada. Nó phải giao 300 xe tải thóc mỗi ngày – một hình thức triều cống cho Berlin, được thỏa thuận trong Hiệp ước Hòa bình ngay 9/2, để trao đổi cho sự bảo hộ của Đức nền độc lập của Ukraine chống lại Nga. Các nông dân Ukraine trước đây ủng hộ các đảng Rada trong năm 1917; nhưng chủ nghĩa dân tộc của họ không bao gồm việc xuất khẩu thóc gạo Ukraine cho nước ngoài. Họ dần dần giảm việc gieo trồng và giấu giếm thóc gạo khỏi sự dòm ngó của Rada. Khi Rada luôn giao nộp chậm trễ, quân Đức bèn đoạt lấy công việc, họ đi vào tận các làng và thu gom lúa gạo. Họ trưng thu bừa bãi, lấy đi thóc giống và lương thực nuôi sống từ nhiều nông trại của nông dân và, không được Rada tán thành, trừng trị những nông dân từ chối đóng góp trong các tòa án binh. Hàng triệu mẫu đất ruộng không chịu gieo trồng bị thu hồi để trả lại cho những điền chủ trước đây với mục đích trừng phạt những nông dân chống đối. Kết quả là một làn sóng các vụ nổi dậy của nông dân và chiến tranh du kích nổ ra nhằm cắt đứt sự trưng thu: cầu và đường sắt bị phá hủy và các đơn vị Đức bị tấn công từ rừng rậm. Vùng quê Ukraine lâm vào cảnh rối loạn. Người Đức đổ lỗi cho Rada không kiểm soát được tình hình. Cuối tháng 4, trong một cú đảo chính do các chủ đất bị Nga hoá, vốn cũng chống đối với các cuộc chiến nông dân này, họ bắt giữ chính quyền Rada và dựng lên một chính quyền bù nhìn với Hetman Skoropadsky cầm đầu. Ông là vị tướng của một trong những lữ đoàn Ukraine hóa đầu tiên và là một trong những địa chủ giàu nhất Ukraine đã từng là phụ tá quân sự của Nicholas II.

Trong nước Nga hiệp ước cũng bảo đảm vị thế đặc quyền cho những hoạt động kinh tế của Đức. Tài sản Đức được miễn phải quốc hữu hóa – thậm chí đất đai và cơ xưởng bị tịch thu sau năm 1914 phải trả lại cho chủ cũ người Đức. Theo hiệp ước người Đức cũng có thể mua những bất động sản Nga và do đó miễn trừ khỏi sắc lệnh quốc hữu hóa của Bôn-se-vich. Hàng trăm xí nghiệp Nga được bán cho người có quốc tịch Đức theo cách này, do đó cho họ quyền thống trị lãnh vực tư nhân.

Đối với những Nga yêu nước, từ lâu bị ám ảnh bởi ý nghĩ người Slav nằm dưới ách thống trị kinh tế của người Teuton (chủng tộc Đức), Hiệp ước Brest-Litovsk là một thảm cảnh quốc gia. Hoàng thân Lvov, người đang sống ở Tiumen vào thời gian đó, gần như muốn tự tử và, theo người cô của ông, ông nằm liệt giường nhiều ngày liền. Còn tướng Brusilov, người chiến sĩ kiên cường của lý tưởng Đại-Slav, bị sầu não vùi dập khi nghe tin. Với cái chân còn bó bột trong vụ đánh nhau ở Moscow, ông nằm trên giường nhiều ngày rên rỉ cho thảm họa của nước Nga. Ông tìm an ủi trong tôn giáo. Ông ắt hẳn không nghiêng về việc tham gia nội chiến chống hiệp ước, mặc dù cơ quan Cheka, vốn không hiểu tại sao một nhà quí tộc như thế lại không gia nhập Bạch vệ , sau này tống giam ông với giả định là ông đã làm thế thật. Việc Brusilov từ chối cầm vũ khí chống lại chế độ Xô-Viết dựa vào quyết đoán, như ông đã giải bày trong một bức thư cho em trai, là ‘nhân dân đã quyết định vận mệnh của nước Nga’. Mặc dù chắc hẳn trái tim ông dành cho Bạch vệ, ông biết quá rõ là lý tưởng của họ chắc chắn thất bại vì họ ủng hộ tiếp tục cuộc chiến. Nếu có một điều Brusilov học được từ kinh nghiệm 1917, thì đó là nhân dân Nga muốn hòa bình bằng mọi giá, và rằng mọi lời bàn ra tán vào của các đảng phái yêu nước về việc bảo vệ Mẹ Nga và biên cương đều hoàn toàn xa lạ với họ.

Lực lượng chống đối hiệp ước không chỉ giới hạn trong nhóm người chống Xô-Viết. Phe Bukharin và các SR cánh Tả xích lại gần nhau vì cùng bác bỏ ‘hoà bình nhục nhã’ và phối hợp lực lượng chống đối mạnh mẽ trong ban Điều hành Xô-Viết. Các SR cánh Tả từ chức khỏi Sovnarkom để phản đối hiệp ước, và sau đó sử dụng biện pháp khủng bố, kế cả việc ám sát Đại sứ Đức. Sự xuất hiện của phe Bukharin, những người Cộng sản cánh Tả, nhóm lại nhau quanh tờ báo Kommunist, chia cắt Đảng Bôn-se-vich ra làm hai. Nhiều đảng viên trẻ tuổi có đầu óc lý tưởng, ít nhiều giống Bukharin, liên kết hậu thuẫn nhằm chống lại sự xích lại gần giới tư sản mà Lênin kêu gọi trong mùa xuân dưới cương lĩnh ‘chủ nghĩa tư bản nhà nước’. Họ chống đối bất kỳ ý tưởng nào đòi lắng dịu cuộc đấu tranh chống tư sản – hoặc trong hình thức hoà bình với bọn đế quốc nước ngoài, hoặc thỏa hiệp với giới tư bản trong nước. Họ xem cách mạng như một cuộc thánh chiến chống chủ nghĩa tư bản và, không như Lênin, việc này có thể được duy trì bền vững nhờ năng lượng cách mạng của nông dân và công nhân bên trong một hệ thống phi tập trung và dân chủ thực sự của quyền lực Xô-Viết.

* * *

Hiệp ước Brest-Litovsk đánh dấu sự hoàn thành cách mạng của Lênin: nó là cực điểm của Tháng Mười. Trong cuộc đấu tranh của ông vì hiệp ước, cũng như trong cuộc đấu tranh giành quyền lực, Lênin lúc nào cũng không nhượng bộ. Không có hi sinh nào mà ông không sẵn sàng để củng cố cách mạng theo chuẩn mực của mình. Do hậu quả của tính ngoan cường của mình, giờ đây người Bôn-se-vich đã bị cô lập với những đảng phái cách mạng khác và bản thân bị chia rẽ ở những biện pháp chủ yếu. Việc cướp chính quyền, việc đóng cửa Quốc hội Lập hiến và việc ký Hiệp ước Brest-Litovsk, tất cả những điều này đã được thì hành do sự xúi giục của Lênin, đã nhận chìm đất nước càng ngày càng lún sâu vào nội chiến. Bản thân nước Nga đã thôi không còn là một cường quốc trên thế giới. Nó buộc phải co người lại khỏi lục địa châu Âu, xoay người lại về phía đông. Sau Hiệp ước Brest-Litovsk không còn triển vọng thực sự cho cách mạng lan tràn về phía tây. Lênin đã rất quyết liệt về điều này, và tất cả lý lẽ của ông về ‘cuộc cách mạng không tránh khỏi ở Đức’ sẽ hủy bỏ những tổn thất mà hiệp ước gây ra không có gì hơn là một trò lừa phỉnh để tuyên truyền và vực dậy tinh thần của đảng. Đúng là trong năm 1919 và 1920 Lênin có lởn vởn ý định xuất khẩu Chủ nghĩa Cộng sản qua tổ chức Comintern (Quốc tế Cộng sản); nhưng không đi đến đâu. Đối với mọi toan tính và chủ đích, ‘cách mạng thường trực’ đã đến hồi kết, và từ giờ trở di, theo cụm từ nổi tiếng của Lênin, mục tiêu của chế độ sẽ giới hạn vào việc củng cố Chủ nghĩa Xã hội trong Một Nước.

Việc di dời thủ đô về Moscow là biểu tượng của sự tách rời đang lớn dần khỏi phương Tây. Petersburg đã từng là một thành phố Âu châu, ‘cửa sổ nước Nga mở ra phía Tây’; Moscow, ngược lại, nhắc ta nhớ đến các truyền thống Á châu. Vị Sa Hoàng đang bị cầm tù ắt hẳn thấy việc di dời có phần nào mỉa mai, vì ông luôn thích thủ đô cũ hơn Petersburg. Sau hiệp ước, quân Đức vẫn tiếp tục tiến quân, ép buộc  người Bôn-se-vich rút lui về đông, về trung tâm của nước Nga triều Muscovite. Vào ngày ⅔ máy bay Đức ném bom xuống Petrograd. Lênin tin rằng người Đức định đánh chiếm thủ đô và thanh toán người Bôn-se-vich. Việc yểm trợ của Đồng minh một lần nữa được yêu cầu – Kamenev được phái đến London và các đạo quân Anh đổ bộ ở Murmansk – trong khi người Bôn-se-vich chuồn đến Moscow.

Lênin và Trotsky nhanh chóng chuyển về khu vực trước đây của Sa Hoàng trong điện Kremlin. Đồng hồ phát nhạc trên Tháp Spassky, qua đó ô tô của họ đi vào Kremlin, được sửa chữa để chuông ngân Nga giai điệu của bài Quốc Tế Ca thay vì bài ‘Chúa Phù Hộ Sa Hoàng’. Phần đông những người phục dịch Sa Hoàng trước đây  thoạt đầu được giữ lại. Một trong số họ, ông già Stupishin, người từng phục vụ vài hoàng đế trong đời mình, chẳng mấy chốc  đã gắn bó với cả Lênin lẫn Trotsky, ắt hẳn đã nhận xét, như Trotsky đã viết sau đó, ‘rằng chúng tôi trân trọng tính ngăn nắp và sự chăm sóc của ông’. Trong bữa ăn, lão quản gia nhỏ người ngăn nắp sẽ tới lui ‘như một cái bóng phía sau ghế’ và lặng lẽ quay những chiếc đĩa thế này thế nọ sao cho hình đại bàng hai đầu trên mép đĩa ở đúng vị trí thẳng đứng. Trotsky nghĩ rằng Điện Kremlin, ‘với các bức tường thời trung cổ và vô số vòm cuốn mạ bạc, là một nghịch lý hoàn toàn với vai trò một thành lũy cho chuyên chính cách mạng’. Nhưng thật ra nó là một kiến trúc rất thích hợp, thậm chí có tính biểu tượng cao, và không chỉ vì người Bôn-se-vich xử sự như những ‘sa hoàng’ mới của Nga. Bởi vì một chế độ thời nội chiến mà giờ đây họ đang lao vào được dàn dựng theo nhiều cách để đem nước Nga trở lại với những tập quán của triều đại đã qua.

(còn tiếp)

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s