Lịch sử Trung Quốc cận đại: Quốc Cộng đại chiến rồi hoà giải

2

Hồ Bạch Thảo

Chương 1 : Quốc Dân Đảng đánh đuổi Trung Cộng (1931-1937)

1

1.Tình hình Trung cộng sau khi Nhật gây hấn tại Đông Tam Tỉnh [18/9/1931] 1

Nội bộ tranh chấp là vết thương chí mệnh của Quốc dân đảng ; rồi Nhật Bản ra tay xâm lược, lại phải chịu đựng những trận đánh lớn ; nhưng đối với Trung Cộng đó là thời gian có lợi. Việc vây đánh Hồng quân tại Giang Tây, nhân quân Quảng Tây tiến lên Hồ Nam mà phải đình đốn ; sự biến tại Thẩm Dương [Shanyang, Liêu Ninh] bởi Nhật, khiến Quốc dân đảng không còn sức để đối phó riêng với Trung Cộng. Trung ương Trung cộng lấy danh nghĩa chống Nhật, ra sức cổ động ; ngày 22/9/1931 gửi điện hô hào tổ chức quần chúng đấu tranh phản kháng đế quốc chủ nghĩa Nhật Bản xâm lược, lật đổ chính phủ Quốc dân đảng, đánh đuổi quân đội Quốc dân đảng. Cùng trong ngày lệnh cho đảng viên rằng cuộc biến tại Thẩm Dương lần này là bước mở đầu chủ nghĩa đế quốc chống lại Liên Xô, nhiệm vụ giai cấp vô sản phải vũ trang bảo vệ Liên Xô, cấp tốc tổ chức lãnh đạo quần chúng trực tiếp đấu tranh cách mệnh, phản đối chính sách bạo lực của Nhật Bản, cùng tiêu diệt chính phủ Quốc dân đảng. Trong tuyên ngôn ngày 30, vẫn tiếp tục phản đối đế quốc Nhật Bản cùng Quốc dân đảng, phủ nhận hợp tác với Quốc dân đảng chống Nhật. Tháng 11, thành lập chính phủ lâm thời Trung Hoa Xô Viết cộng hoà quốc. Tháng 12 Cộng sản quốc tế ra chỉ thị rằng lật đổ Quốc dân đảng là điều kiện tiên quyết để phản đối đế quốc Nhật Bản, cùng toàn thể đế quốc chủ nghĩa nói chung ; cần phải phát triển bãi công, vận động học sinh, quân đội, dân chúng chống chủ nghĩa đế quốc và Quốc dân đảng. Cùng tháng, Trung Cộng sách động cánh quân tiền phương 2 vạn người của Tôn Liên Trung, phản biến tại huyện Ninh Đô [Ningdu, Giang Tây], để theo Hồng quân. Tôn Liên Trung vốn là bộ hạ của Phùng Ngọc Tường, sau cuộc chiến Trung Nguyên, mang bộ hạ 3 vạn người theo quân trung ương, Tưởng Giới Thạch bèn điều đến Giang Tây tiễu Cộng. Bộ hạ của Tôn đều là người miền bắc, không quen thuỷ thổ phương nam, nên sinh oán ; ngoài ra Tham mưu trưởng Triệu Bác Sinh, Lữ trưởng Đổng Chấn Đường đều là đảng viên Trung cộng, nên thừa dịp Tôn Liên Trung không ở trong quân, bèn liên hợp với Lữ trưởng Quý Chấn Đồng cùng phản biến, biên chế thành Hồng Đệ ngũ quân đoàn.

Tháng 2/1932, nhân chiến tranh Trung, Nhật tại Thượng Hải, Trung cộng ban bố cương lãnh chiến đấu, nội dung không ngoài việc tổng bãi công, quân đội và dân chúng vũ trang liên hợp chống đế quốc Nhật và Quốc dân đảng ; lại đặc biệt gửi cáo thư cho quân chính phủ lộ 19 chiến đấu tại Thượng Hải, cùng công nhân, nông dân. Sau đó chính lược, chiến lược của Trung cộng đều giữ thế công, hiệu triệu công nhân toàn quốc liên hiệp chống Nhật, tổ chức “ Kháng Nhật cứu quốc hội ” ; khuếch đại Hồng quân và khu Xô Viết ; đem các khu Xô Viết thuộc phía đông và phía tây sông Cống Giang [Ganjiang River, Giang Tây] liên hợp làm một. Tháng 3, Đệ tam quân đoàn của Bành Đức Hoài vây đánh Cống Châu [Ganzhou, Giang Tây] nhưng không hạ được. Tháng 4, Đệ nhất quân đoàn của Chu Đức vào tỉnh Phúc Kiến, chiếm lãnh Chương Châu [Zhangzhou, Phúc Kiến]. Vào ngày 26 cùng tháng chính phủ lâm thời trung ương Xô Viết ban bố tuyên ngôn chống Nhật, tái cường điệu lật đổ Quốc dân đảng thống trị, thành lập chính phủ Xô Viết, tổ chức nghĩa vụ quân kháng Nhật và công nông Hồng quân.

Lúc bấy giờ khu Xô Viết trung ương tại Giang Tây diện tích khoảng 50 000 km2, nhân khẩu 3 triệu ; Đệ nhất phương diện Hồng quân ước 7 vạn người. Đệ tứ phương diện Hồng quân tại vùng biên khu Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy, trước đó vào tháng 12/1931 chiếm Hoàng An [Huang’an, Hồ Bắc], tiêu diệt 1 sư đoàn quân Quốc dân đảng ; tháng 2/1932 chiếm lãnh huyện Thương Thành [Shangcheng] phía nam tỉnh Hà Nam, tháng 4 chiếm lãnh Tân Xuân thuộc phía đông tỉnh Hồ Bắc. Tháng 5 và tháng 6 liên tiếp phá quân Quốc dân đảng, bắt làm tù binh khoảng 15 000 người. Khu Xô Viết tại Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy lúc bấy giờ diện tích đến 40 000 km2, nhân khẩu 2 triệu, quân số Hồng quân hơn 4 vạn người. Đồng thời Hồng quân tại 3 tỉnh này, đánh phá 4 phía ; phía tây Hồ Bắc đánh phá Hồng Hồ [Honghu, Hồ Bắc], xung quanh Vũ Hán [Wuhan, Hồ Bắc] nơi nơi đều có Hồng quân.

2. Quân chính phủ đánh dẹp 3 tỉnh Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy, Đệ tứ phương diện rút đến Tứ Xuyên

Trung cộng bảo “ Kháng Nhật trước hết phải đánh Tưởng 抗日必先反蒋 ”, quyết đánh tan Quốc dân đảng ; phe Quốc dân đảng lại chủ trương “ Chống ngoại xâm phải bình định trước bên trong 攘外必先安内 ”, nhắm dẹp hết “ Cộng phỉ ”. Đường sắt Bình Hán [Bắc Bình – Hán Khẩu], Tân Phố [Thiên Tân – Phố Khẩu] cùng sông Trường Giang là đường giao thông huyết mạch nam bắc, đông tây ; Hồ Bắc là vùng gan ruột, đều bị Trung cộng uy hiếp. Lúc này Tưởng Giới Thạch thay đổi chiến lược, đánh Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy trước ; rồi mới bình định tỉnh Giang Tây sau. Sau khi chiến sự tại Thượng Hải kết thúc, Tưởng đích thân đảm nhiệm Tổng tư lệnh “ Tiễu Phỉ ” tại 3 tỉnh ; dùng chính trị làm gốc, động viên 20 vạn quân, quá một nửa là quân trung ương chiến đấu giỏi.

Việc Quốc dân đảng mang đại binh đến đánh, gây yếu tố bất ngờ ngoài sự tiên liệu của Trương Quốc Đảo, lãnh đạo Xô viết tại 3 tỉnh Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy. Tháng 7/1932, cánh phía đông đại bại Hồng quân tại Hoắc Khâu [Huoqiu, An Huy], gây tổn thất trên 3 000 quân, chẳng khác gì chặt một cánh tay. Tại phía tây, Hồng quân dưới quyền Từ Hướng Tiền giao chiến với Quốc quân tại châu Thất Lý Bình [Qilipingzhen] phía đông Hồ Bắc, chết hơn 2 000. Tháng 9, Quốc quân đánh phá sào huyệt chính phủ Xô Viết thuộc 3 tỉnh Hồ Bắc, Hà Nam, An huy tại Tân Tập [Xinji, Hà Nam] ; lại kết hợp với đạo quân phía đông đánh phá căn cứ địa Kim Gia Trại [Jinjiazhai, Hà Nam]. Trương Quốc Đảo, Từ Hướng Tiền, cùng Uỷ viên chính trị Trần Xương Hạo quyết định di chuyển lực lượng sang phía tây tuyến đường sắt Bình Hán [Bắc Bình – Hán Khẩu], chỉ lưu lực lượng Từ Hải Đông tại vùng biên khu Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy. Cũng vào tháng này Đệ tứ phương diện quân 16 000 người từ phía nam tỉnh Hà Nam khởi hành ; tháng 10, vượt quá đường sắt Bình Hán. Vào các tháng 7, 8, lực lượng của Hạ Long bị cánh quân tây lộ Quốc quân đánh bại, phải bỏ vùng Hồng Hồ [Honghu, Hồ Bắc], chạy lên phía bắc tỉnh Hồ Bắc, rồi sang phía tây Hà Nam ; lại chạy về biên giới của 4 tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Quý Châu. Cuộc tấn công vào 3 tỉnh Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy cáo chung một giai đoạn, Hồng quân bị tổn thất lớn.

Đệ tứ phương diện Hồng quân lúc đầu định lập căn cứ tại phía bắc tỉnh Hồ Bắc, nhưng bị Quốc quân truy kích, thương vong nhiều, kiệt sức tránh giao tranh. Tháng 11 băng qua phía tây tỉnh Hà Nam đến tỉnh Thiểm Tây, gần Tây An [Xian], đồ trang bị nặng mất gần hết, gặp mùa đông chỉ có y phục mùa hè. Rồi vượt Tần Lĩnh [Qinling] đến phía nam Thiểm Tây, chuẩn bị lập cơ sở, nhắm khai thông quốc tế lộ tuyến đến Nga Xô. Nhưng Quốc quân truy đến cùng không tha, bèn chuyển hướng sang tỉnh Tứ Xuyên. Bấy giờ quân phiệt Tứ Xuyên đang hăng tranh giành, phía bắc Tứ Xuyên là đất phòng thủ của Điền Tụng Nghiêu, Điền chỉ lo Quốc quân lấy danh nghĩa “ Tiễu phỉ ” đoạt mất địa bàn hoạt động, nên cự tuyệt Quốc quân nhập cảnh. Tháng 12, Hồng quân vượt qua núi Đại Ba, vào phía bắc Tứ Xuyên, cuộc hành quân dài 5 000 km, còn lại không đến 1 vạn quân. Tháng 1 năm sau [1933] chiếm lãnh huyện Thông Giang [Tongjiang, Tứ Xuyên], đây là chi thứ nhất của Hồng quân trường chinh.

Hồng quân vào tỉnh Tứ Xuyên, tuyên bố chống quyên góp nặng và thu nhiều thứ thuế, giảm tô giảm tức 2 ; lại thanh ngôn không có ý thù địch quân Tứ Xuyên, hy vọng chia đất phòng thủ ; Điền Tụng Nghiêu mang quân đánh, bi thua. Từ tháng 3 đến tháng 6/1933 Hồng quân chiếm trọn đất phía đông sông Gia Lăng [Jialingjiang], binh lực tăng đến 3 vạn. Tháng 8, Trương Quốc Đảo thành lập chính phủ Xô viết Xuyên Thiểm [Tứ Xuyên, Thiểm Tây] cùng Tây bắc cách mệnh uỷ viên hội. Chính phủ Nam Kinh sai Lưu Tương làm Tổng tư lệnh tiểu phỉ Tứ Xuyên, nhưng không làm được gì hơn. Tháng 8/1934, Hồng quân tăng đến 5 vạn, chiếm cứ hơn 10 huyện. Tháng 12, trở lại phía nam Thiểm Tây, định thông đường Tứ Xuyên – Thiểm Tây nhưng không thành công, lại trở về Tứ Xuyên. Tháng 3/1935 vượt sông Gia Lăng, mưu chiếm phía tây bắc Thành Đô [Chengdu, Tứ Xuyên]. Tháng 6 cùng Đệ nhất phương diện Hồng quân từ Giang Tây đến hội hợp tại phía tây sông Minh Giang [Minjiang].

3. Cuộc vây đánh tại Giang Tây vào giai đoạn sau

Hồng quân và khu Xô viết tại Giang Tây do Mao Trạch Đông một tay lập nên ; với chức vụ Thư ký uỷ viên hội Hồng quân tiền địch và Tổng uỷ viên chính trị, nắm quyền lớn cả đảng và quân đội. Sau khi khu Xô viết trung ương, cục trung ương thành lập, tiền địch uỷ viên hội bị triệt tiêu ; Chủ tịch cục trung ương cách mệnh uỷ viên hội, Chu Ân Lai, lại thay lảm Tổng uỷ viên chính trị. Chu và phái quốc tế từ lâu chỉ trích Mao. Tháng 8/1932, khu Xô viết trung ương cùng Trung ương cục có cuộc họp khuếch đại tại Ninh Đô [Ningdu, Giang Tây], bàn về chiến lược chống vây tiễu lần thứ 4 của Quốc quân. Trong cuộc hội, phê bình Mao Trạch Đông trong quá khứ thi thố không đúng, dùng chiến lược phòng ngự, đem Hồng quân đến chỗ hoang tịch, phạm lỗi hữu khuynh cơ hội chủ nghĩa. Từ nay trở về sau theo hướng tiến công, phát triển khu Xô viết, trước tiên chế ngự địch, chủ động đánh. Mao chê phái quốc tế chỉ lo ngồi tụng giáo điều Lenin, không căn cứ vào tình huống thực tế và kinh nghiệm cách mệnh để quyết định chính sách. Mao sau này mỗi đề cập đến, lấy làm tức giận và chỉ trích năm 1931 đến năm 1935 là đệ tam thứ tả khuynh lộ tuyến 3.

Sau hội nghị tại Ninh Đô, Hồng quân Giang Tây làm sách ứng cho Đệ tứ phương diện tại phía bắc sông Trường Giang tác chiến ; cùng chiến đấu với quân chính phủ tại miền đông, miền trung Giang Tây trong 4 tháng trời, có lúc thắng, lúc bại. Tháng 1/1933 Tưởng Uỷ viên trưởng đích thân đến Nam Xương [Nanchang, Giang Tây] đốc quân ; Tưởng áp dụng sách lược “ Phân cận hợp kích 分近合击 ” tức điều quân từ nhiều phía tiến đến gần, rồi tập trung lại đánh. Tháng 2, Quốc quân chia làm 3 lộ tiến đánh sào huyệt Trung cộng, Trần Thành chỉ huy trung lộ gồm 12 sư đoàn quân chính phủ, có 2 sư đoàn gặp phục kích tại huyện Nghi Hoàng [Yihuang, Giang Tây] bị thua, tổn thất 2 vạn quân ; tháng 3 lại có 1 sư đoàn thất lợi. Lúc bấy giờ mất Nhiệt Hà, quân Nhật đến Trường Thành ; Tưởng phải rời Nam Xương lên phía bắc, cuộc vây tiễu lần thứ tư đành phải đình chỉ.

Trung cộng chiến thắng, dựa vào chính trị không kém phần quân sự. Quân chính phủ trải qua 3 lần thất bại, đã nhận thức được điều đó. Trước khi vây đánh lần thứ tư, Tưởng cũng quy định chính trị nặng hơn quân sự, nhưng chưa thực hiện được, thì phía Trung cộng đã ra tay trước. Tháng 4/1933 Tưởng trở lại Nam Xương, chuẩn bị cho cuộc vây tiễu lần thứ 5, với phương châm “Dùng 3 phần quân sự, 7 phần chính trị采三分军事七分政治”, cùng chiến thuật “ Lớp lớp xây đồn, từng bước tiến chiếm层层筑堡、逐步推进”; nghiêm mật thi hành chính lược, cải tiến chiến lược, tổ chức yên ỗn dân chúng, phong toả kinh tế quân sự khu Xô viết. Nhắm thực hiện tốt kế hoạch, trước đó Tưởng cho huấn luyện quan quân trung, sơ cấp về quân sự, chính trị tại Lô Sơn [Lushan, Giang Tây], và mua từ ngoại quốc một số lượng lớn vũ khí mới. Quân đội đến nơi nào lập tức xây cất đồn luỹ, mở đường sá, xây đắp kiên cố, từng bước tiến bức, khẩn mật bao vây; gây khốn khó cho Hồng quân từng sở trường về du kích chiến, vận động chiến; khiến chiến thuật dụ địch, để tập trung tiêu diệt của Hồng quân không thi triển được, rồi sau đó Quốc quân tìm chủ lực đánh mạnh. Đối với khu Xô viết, giao thông ra bên ngoài thì triệt để ngăn cấm, khiến mọi loại vật tư không được đưa vào, các đặc sản không được vận chuyển ra; chân chính được gọi là “Vây tiễu” mới bắt đầu từ đó. Vào cuối năm 1933, tại phía tây và nam tỉnh Giang Tây đã xây dựng được 2.900 đồn, giữa đồn và đồn tạo thành luỹ hoả tuyến. Sách lược này tuy có kiến nghị của Cố vấn Đức, nhưng Quốc quân cũng rút kinh nghiệm qua lịch sử từ việc quan quân đánh Bạch Liên giáo thời Gia Khánh, Tăng Quốc Phiên đánh Niệm thời Đồng Trị.

Sở dĩ Hồng quân dùng chính sách tiến công, do hoạch thắng lợi trong quá khứ, niềm tự tín tăng cao, mưu đột phá bao vây. Thư ký đảng bộ Trung cộng tỉnh Phúc Kiến, La Minh, nhận thấy quân địch thế mạnh, chủ trương theo sách lược cơ động của Mao Trạch Đông, tuỳ lúc bỏ một số thành trấn, dụ địch thâm nhập rồi tiêu diệt. Trung cộng trung ương chỉ trích rằng đó là chủ trương thoái rút trốn chạy hữu khuynh, phản đối lộ tuyến La Minh, tức lộ tuyến của Mao. Sau khi thắng lợi trong đệ tứ thứ vây tiễu, trung ương Trung cộng mưu đối kháng đệ ngũ thứ vây tiễu, động viên mọi lực lượng, không tiếc hy sinh, “Đánh giặc tại cửa ngõ”, không để một thước đất khu Xô viết vào tay địch. Một mặt giữ vững trận địa, một mặt tung quân ra đánh “Dùng hai tay đánh địch một lúc”, thực hành sách lược của Cộng sản Cố vấn quân sự người Đức Braun “Toàn tuyến ngự địch, đoản xúc đột kích全线御敌短促突击” để chống lại “Đồn luỹ chủ nghĩa堡垒主义” của đối phương. Tháng 9/1933, Quốc quân đánh chiếm huyện Lê Xuyên [Lichuan, Giang Tây], tháng10 Hồng quân phản công, cuối cùng không đánh được đồn luỹ của Quốc quân, nên phải rút.

Ngày 21/11/1933, chính phủ Xô viết trung ương cùng Hồng quân cùng chính phủ Phúc Kiến và lộ quân 19 thiết lập hiệp định đồng minh, hai bên đình chỉ hành động chống đối quân sự, khôi phục mậu dịch, cùng hợp tác. Chính phủ Phúc Kiến cùng lộ quân 19 đồng ý cho cách mệnh tổ chức hoạt động tại Phúc Kiến. Một tuần lễ sau, “Tiêu Tức báo” tại Mạc Tư Khoa chỉ trích rằng chính phủ Phúc Kiến không có chút nào quan hệ với cách mệnh chân chính; “Chân Lý báo” cho rằng sự biến tại Phúc Kiến dẫn đến tranh chấp giữa Anh, Mỹ, Nhật. Ngày 5/12 trung ương Trung cộng cũng tuyên bố sự biến xẩy ra do tranh chấp nội bộ Quốc dân đảng, không chân chính phản đế quốc chủ nghĩa, không có hành động thực tế phản quân phiệt, quan liêu, địa chủ, cường hào, thân sĩ; tất nhiên sẽ thất bại. Ngày 20/12 Mao Trạch Đông, Chu Đức yêu cầu Lý Tế Thâm, Trần Minh Khu có hành động dứt khoát, triển khai đấu tranh quần chúng, chống Nhật, chống Tưởng, cùng Hồng quân lập hiệp định tác chiến; nhưng Lý, Trần không quyết tâm. Cho đến ngày chính phủ Phúc Kiến sụp đổ, Mao và Chu vẫn còn khuyên Trần, Lý hợp tác, nhưng không có khả năng thực hiện, đây là một thất bại của Trung cộng.

Tháng 1/1934, Trung cộng mở khoá 6 trung ương uỷ viên toàn thể hội nghị lần thứ 5, suy cử Tần Bang Hiến, Trần Thiệu Vũ, Trương Văn Thiên, Chu Ân Lai, Trương Quốc Đảo làm Uỷ viên bộ chính trị; Tần tiếp tục làm Tổng thư ký. Tháng 2 cử hành đại hội đại biểu Xô viết lần thứ 2, vẫn cử Mao Trạch Đông làm Chủ tịch ban chấp hành Xô viết toàn quốc; còn Chủ tịch nhân dân uỷ viên hội vào tay Trương Văn Thiên, như vậy quyền lực Mao bị tước giảm. Sau khi Quốc quân bình định xong cuộc biến tại Phúc Kiến, tiếp tục đem toàn lực vây đánh Hồng quân; trong quá khứ phía Phúc Kiến là khâu yếu, lúc này được tăng cường nhiều. Tháng 3, Trần Thành chỉ huy 10 vạn quân thuộc lộ phía bắc chiến thắng tại Nam Phong [Nanfeng], Hồng quân tử thương mấy ngàn người. Ngày 10/ 4, Quốc quân 11 sư đoàn, chia làm 2 cánh tiến đánh Quảng Xương [Quangchang, Giang Tây]. Phía Hồng quân liên tục tác chiến, rất mệt mõi, tổn thất rất nhiều; quân chủ lực Hồng quân gồm quân đoàn 1, Quân đoàn 3, quân đoàn 9, cùng 2 sư đoàn 13, 23 của quân đoàn 5, tổng cộng 9 sư đoàn, dưới quyền các danh tướng Lâm Bưu, Bành Đức Hoài. Hai bên quân tập trung đối chọi tập trung, đồn luỹ dối chọi đồn luỹ, trận địa đối chọi trận địa, kịch chiến. Do Quốc quân chiếm ưu thế về binh lực, hoả lực; Hồng quân xoay vần khổ chiến, khó bề ứng phó, mất các vị trí chiến lược như trấn Cam Trúc [Ganzhuzhen, Giang Tây], núi Đại La, núi Diên Phúc. Ngày 19/4 Cộng quân phản công, mưu chiếm cao điểm Diên Phúc, nhưng bị đẩy lui đến chân thành Quảng Xương. Ngày 27/4 Quốc quân tổng công kích thành Quảng Xương, Hồng quân tử thương đến 5.500 quân, nên nhân ban đêm rút ra khỏi thành.

Tháng 6/1934, khu Xô viết chỉ còn 9 huyện; tháng 7, lộ phía bắc Quốc quân tiếp tục tiến, Cộng quân không địch nỗi. Tháng 8, kịch chiến tại các huyện Quảng Xương [Guangchang, Giang Tây], Thạch Thành [Shicheng, Giang Tây]; Quốc quân dùng đại pháo, phi cơ đánh mạnh; phía Hồng quân do Chu Ân Lai đích thân đốc chiến, đây là cao trào của cuộc vây tiễu lần thứ 5, Quốc quân chiếm được vùng đất phía bắc trấn Dịch Tiền [Yiqianzhen, Quảng Xương]. Tháng 9, lộ phía đông từ Phúc Kiến tiến quân, Quốc quân chiếm được lãnh Y Dương thuộc huyện Trường Đính [Changting, Giang Tây], phía đông Thuỵ Kim [Ruijin, Giang Tây]. Ngày 6/10, lộ phía bắc, tả dực Quốc quân đánh chiếm Thạch Thành, hữu dực đánh chiếm Hưng Quốc [Xingguo, Giang Tây], Hồng quân hoàn toàn bi vây hãm. Vây tiễu lần thứ 5 thu hoạch thắng lợi, chiến dịch này Quốc quân sử dụng 50 vạn binh, 200 phi cơ; phía Cộng quân tham chiến 15 vạn. Quốc quân trang bị tốt, bổ sung tiện lợi, Hồng quân không thể so sánh được; riêng miền nam Giang Tây, phía tây Phúc Kiến nhân tài vật lực hạn chế, Quốc quân dùng đồn luỹ phong toả càng làm cho Cộng quân thêm khó khăn. Lúc này tình báo của Cộng quân ngầm đặt tại hành doanh Nam Xương báo cho Chu Ân Lai biết rằng Quốc quân sắp sửa phát động tối hậu tổng công kích, Trung cộng bèn quyết định bỏ khu Xô viết trung ương, rút ra khỏi Giang Tây.

4. Lực lượng Hồng quân trung ương làm cuộc trường chinh

Tháng 7/1934, Tiêu Khắc, Nhiệm Bật điều động quân đoàn thứ 6, khoảng 6.000, tại biên khu các tỉnh Giang Tây, Hồ Nam tiến về phía tây, mưu phối hợp với quân của Hạ Long tại vùng biên giới Quí Châu, Hồ Nam; rồi hợp với Đệ tứ phương diện quân tại tỉnh Tứ Xuyên do Trương Quốc Đảo chỉ huy. Tháng 9, Tiêu Khắc, Nhiệm Bật đến phía đông Quí Châu; tháng 10 hợp với Đệ nhị quân đoàn của Hạ Long, thành lập Đệ nhị phương diện quân, quân số ước 1 vạn 5 ngàn, do Hạ Long Tổng chỉ huy.

Hồng quân Đệ thập ngũ quân lưu tại biên khu Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy do Từ Hải Đông chỉ huy, vào tháng 10 cũng di chuyển sang phía tây. Đến tháng 6/1935 tiến vào tỉnh Thiểm Tây, xuyên qua phía đông Cam Túc. Vào tháng 9, họp với đơn vị Hồng quân phía bắc Thiểm Tây do Lưu Chí Đan chỉ huy tại vùng phụ cận Diên An [Yan’an, Thiểm Tây], thành lập Đệ thập ngũ quân đoàn, tổng cộng khoảng 7 ngàn quân, do Từ Hải Đông Tổng chỉ huy.

Tại Giang Tây, từ ngày 15/10/1934, Hồng quân tại các huyện Thuỵ Kim [Ruijin], Vu Đô [Yudu] bắt đầu rút lui sang phía tây. Các quân đoàn 1, 3 do Lâm Bưu, Bành Đức Hoài chỉ huy lãnh nhiệm vụ tiên phong; quân đoàn 5 dưới quyền Đổng Chấn Đường làm hậu vệ; quân đoàn 8,9 do Chu Côn, La Bỉnh Huy chỉ huy lo yểm hộ; nhân viên các cơ quan biên chế thành đội trung ương, trong đó những nhân vật quan trọng như Tần Bang Hiến, Trương Văn Thiên, Mao Trạch Đông; riêng Chu Ân Lai, Chu Đức giữ chức chỉ huy tối cao. Lại cử Hạng Anh làm Tư lệnh quân khu Xô viết trung ương, Trần Nghị Chủ nhiệm bộ chính trị, Cung Sở Tham mưu trưởng, với 3 vạn quân lưu tại phía nam Giang Tây và nam Phúc Kiến, nhưng sau đó bị Trần Thành chỉ huy Quốc quân đánh tan.

Nhắm ngăn cản Hồng quân phá vòng vây, đầu tháng 9 Tưởng uỷ viên trưởng mệnh tây lộ quân Hồ Nam, nam lộ quân Quảng Đông cẩn mật chuẩn bị; nhưng hai lộ quân này chưa làm xong đồn luỹ. Tưởng tiên liệu Hồng quân sẽ rút lui về phía tây nam, nên dồn binh lực, đặt sẵn 4 tuyến ngăn chặn. Cuối tháng 10, Hồng quân đột phá tuyến thứ nhất phòng thủ tại phía nam, rồi vượt sông Cống Giang theo hướng tây vào tỉnh Hồ Nam. Tháng 11 đột phá tuyến thứ hai tại biên giới Quảng Đông, Hồ Nam cùng tuyến thứ ba tại đường sắt Việt Hán [Quảng Đông-Hán Khẩu] để vào tỉnh Quảng Tây. Tưởng ra lệnh Tiết Nhạc mang 8 sư đoàn quân trung ương tiến đánh, lại ra lệnh Hà Kiện mang 7 sư đoàn quân Hồ Nam truy kích. Hồng quân mang theo số lớn cơ khí, điện đài; hành động trì trệ, lòng quân kinh hoảng, vừa đi vừa đánh, lâm vào cảnh bị động. Khi đến biên giới Quảng Tây, Hồ Nam, bị Bạch Sùng Hy mang 5 sư đoàn quân Quảng Tây cùng quân Hồ Nam đánh kẹp. Từ ngày 27/11 đến ngày 1/12, suốt 5 ngày, từ huyện Hưng Yên [Xingwen] đến huyện Kim Châu [Quanzhou] tỉnh Quảng Tây Hồng quân cố gắng vượt qua sông Tương Giang, giao tranh liên tục, sau khi đột phá được phòng tuyến thứ tư, tổn thất đến quá nữa, tổng số quân trên 8 vạn, chỉ còn lại trên 3 vạn; riêng quân đoàn 8 tổn thất rất nặng, đến nỗi bị xoá sổ. Tháng 12 qua phía nam Hồ Nam, rồi đi vào phía đông tỉnh Quí Châu, mưu hợp với quân Hạ Long không thành, bèn quyết định lập căn cứ địa tại Quí Châu. Quân Quí Châu sợ rút, tháng 1/1935 Hồng quân vượt sông Ô Giang [Wujiang] chiếm lãnh Tuân Nghĩa [Zunyi] tại phía bắc tỉnh Quí Châu; đây là giai đoạn 1 của cuộc trường chinh.

Từ ngày 6 đến ngày 8/1/1935 Trung cộng trung ương cử hành khuyếch đại hội nghị chính trị cục tại Tuân Nghĩa. Bành Đức Hoài, Lâm Bưu, Mao Trạch Đông đều trách trung ương lãnh đạo không đúng, chiến lược sai lầm; Chu Ân Lai cũng đồng ý, quyết cải tổ trung ương. Trương Văn Thiên thay Tần Bang Hiến làm Tổng thư ký; Mao Trạch Đông được bổ sung vào uỷ viên chính trị, thay Chu Ân Lai giữ chức Chủ tịch Quân sự uỷ viên hội trung ương cách mệnh; Chu Ân Lai và Chu Đức giữ chức Phó chủ tịch. Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình từng tham gia cuộc trường chinh, qua lời tuyên bố năm 1980, đánh giá cao hội nghị Tuân Nghĩa như sau “ Vào năm 1935, lịch sử cuộc trường chinh của chúng ta nỗi danh với hội nghị Tuân Nghĩa, xác lập được địa vị lãnh đạo trong đảng và quân đội của Đồng chí Mao Trạch Đông; đảng Cộng sản Trung Quốc thành hình sự lãnh đạo chân chính, còn lãnh đạo trước đó hoàn toàn không ỗn định, lại chưa thành thục!” Rồi từ đó chỉnh đốn lại Hồng quân, bỏ những đồ vật nặng nề, mưu vượt sông Trường Giang [Changjiang], cùng thông tri với Đệ tứ phương diện tại phía bắc Tứ Xuyên phối hợp hành động. Mao Trạch Đông bắt đầu nắm quyền lực trung ương Trung cộng, đây là đệ nhị giai đoạn của cuộc trường chinh.

Từ ngày 28/1 đến 9/2 quân Trung cộng giao tranh ác liệt với Quốc quân dưới quyền Quách Huân Kỳ, tranh dành thành Tuân Nghĩa, hai bên cùng bị tổn thất nặng. Rồi Cộng quân vượt sông Xích Thuỷ [Chishui, Quí Châu], tái chiếm Tuân Nghĩa. Ngày 21/3, lại vượt sông Xích Thuỷ 3 lần sang phía đông tại thác Nhị Lang, cửa Cửu Khê, bến Thái Bình; nên sử gọi là “Tứ độ Xích Thuỷ”. Cuối tháng 3 vượt sông Ô Giang [Wujiang, Quí Châu], ngày 25/4 tiến vào tỉnh Vân Nam. Hai lộ quân làm ra vẻ tiến chiếm Côn Minh [Kunming, Vân Nam], riêng một lộ quân khác tìm cách vượt sang hữu ngạn Kim Sa Giang [thượng du sông Trường Giang]; đây là giai đoạn 3 của cuộc trường chinh.

Đầu tháng 5, Hồng quân trải qua 7 ngày 7 đêm vượt sông Kim Sa Giang [Jinsha river] hướng Tây Khang [Xikang, Tây Tạng]. Đến hạ tuần tháng 5, chiếm lãnh Đại Độ hà [Daduhe], cầu Lô Định, vào phía bắcTứ Xuyên. Vào ngày 16/6, Mao Trạch Đông, Trương Văn Thiên, Chu Đức đốc suất Đệ nhất phương diện quân, cùng với Trương Quốc Đảo, Từ Hướng Tiền, Trần Xương Hạo và Đệ tứ phương diện quân hội sư tại Mậu Công [Xiaojin], thuộc biên giới tỉnh Tứ Xuyên. Đây là giai đoạn thứ tư của cuộc trường chinh.

Hồng Đệ tứ phương diện quân, khoảng 4 vạn người, quân dung tương đối khởi sắc; riêng Hồng đệ nhất phương diện trải qua 8 tháng bôn ba mệt nhọc, đạn dược thiếu hụt, quân trang rách rưới, chỉ còn hơn 1 vạn người; nên Đệ tứ phương diện không khỏi kiêu căng cao ngạo; Trương Quốc Đảo từng giữ chức tại trung ương cao hơn Mao Trạch Đông, nay tỏ ra bất mãn về việc Mao nắm đại quyền. Ngày 25/6 Trung Cộng tại Phủ Biên phía bắc Mậu Công mở hội nghị quân sự. Mao chủ trương lên Ninh Hạ [Ningxia] phía bắc, gần Ngoại Mông Cổ, hy vọng có thể nhận được viện trợ từ Nga Xô. Trương nêu lên 3 giải pháp, trong đó có giải pháp 2 tương tự như ý kiến của Mao Trạch Đông, nên cuối cùng hội nghị thống nhất chọn Ninh Hạ. Ngoài ra hội nghị cử Trương làm Phó chủ tịch trung ương cách mệnh quân sự uỷ viên hội; giao Đệ nhất và Đệ tứ phương diện cho trung ương cách mệnh quân sự uỷ viên hội chỉ huy, rồi tiếp tục bắc tiến. Kế hoạch điều quân, Đệ nhất phương diện làm tả lộ, do Lâm Bưu, Bành Đức Hoài chỉ huy; Đệ tứ phương diện làm hữu lộ, do Từ Hướng Tiền, Trần Xương Hạo chỉ huy, đơn vị này phụ trách kháng cự Quốc quân tại mặt phía đông, cùng yểm trợ tả lộ tiến lên phía bắc.

Sau hội nghị tại Phủ Biên, mối chia rẽ giữa Trương Quốc Đảo và Mao Trạch Đông càng thêm sâu; Đệ tứ phương diện quân cũng không thích Mao, thậm chí còn cho là bị kỳ thị. Chu Đức đứng bên điều giải, để Trương làm Tổng chính trị uỷ viên Hồng quân, cùng Chu chỉ huy toàn quân. Nhưng Mao vẫn là Chủ tịch trung ương cách mệnh quân sự uỷ viên hội, độc đoán thi hành. Trung tuần tháng 7, trung ương chính trị cục cùng quân sự uỷ viên hội cử hành liên tịch hội nghị tại Trác Khắc Cơ, phía tây bắc Phủ Biên, Mao phê bình Đệ tứ phương diện trong dĩ vãng phạm nhiều sai lầm, Trần Xương Hạo đề xuất hội nghị Tuân Nghĩa có hợp pháp hay không, trung ương lãnh đạo có chính xác hay không, chủ trương cải tổ trung ương do Trương Quốc Đảo làm Tổng thư ký. Đệ nhất phương diện quân đả kích Trương Quốc Đảo là cơ hội chủ nghĩa, làm hư hỏng trung ương. Lúc này quân tiến tiễu của Tiết Nhạc đã vào phía nam tỉnh Tứ Xuyên, Quốc quân do Hồ Tông Nam chỉ huy từ Cam Túc đã khống chế Tùng Phiên [Songpan, bắc Tứ Xuyên], quân Tứ Xuyên trên đường tiến bức, nên quyết định bắc tiến gấp, sau đó sẽ tiếp tục mở hội nghị thảo luận.

Ngày 6/8 Trung cộng trung ương lại cử hành hội nghị tại Mao Nhi Cái phía tây bắc Trác Khắc Cơ; Mao Trạch Đông, Trương Quốc Đảo lại tiếp tục tranh chấp. Do nơi này lương thực không đủ, không dám dừng lâu, quyết định tiến thẳng đến miền nam tỉnh Cam Túc. Trương Quốc Đảo, Chu Đức, Từ Hướng Tiền, Trần Xương Hạo chia nhau nắm giữ Đệ tứ phương diện quân, phụ trách tả lộ và hữu lộ. Bành Đức Hoài, Lâm Bưu chỉ huy Đệ nhất phương diện quân, giữ trung lộ và hộ vệ nhân viên trung ương; Đổng Chấn Đường, La Bỉnh Huy cầm một chi Đệ nhất phương diện quân, làm hậu vệ.

Vào ngày 23/8, ba lộ Hồng quân xuất phát, đi qua vùng lầy lội cỏ tranh, muôn phần gian khổ; Chu Đức, Trương Quốc Đảo tại tả lộ bị mưa to ngăn trở. Đầu tháng 9, Từ Hướng Tiền, Trần Xương Hạo thuộc hữu lộ thắng Quốc quân tại Bảo Toạ, phía tây bắc Tùng Phiên; Mao cùng trung lộ Bành Đức Hoài, Lâm Bưu thừa dịp tiến nhanh, cải xưng là “Chi đội điều phía trước tiến nhanh”; đây là giai đoạn 5 của cuộc trường chinh.

Trương Quốc Đảo cho rằng đã bị Mao Trạch Đông bán đứng, tả lộ quân thương vong nặng nề, Quốc quân đã chuẩn bị tiếp tục bắc tiến, có khả năng toàn quân bị sụp đổ; bèn ra lệnh hai lộ quân tả hữu tách ra, rồi quay lại phía nam, chiếm vùng tây bắc Thành Đô [Chengdu, Tứ Xuyên], Chu Đức cùng đi theo. Trương chỉ trích Mao thiếu dũng khí cách mệnh, không để ý giúp Đệ tứ phương diện quân, chỉ muốn đến vùng đất gần Nga Xô. Mao kết tội Trương giao động, phản đảng, phản trung ương, sợ hãi phi cơ đại pháo của Quốc quân; chỉ muốn tạm thời yên ỗn tại vùng Tứ Xuyên, Tây Khang. Vào trung tuần tháng 9, Mao điều động Chi đội điều phía trước khoảng 7.000 quân, tiến đến phía nam tỉnh Cam Túc, không gặp đề kháng mạnh, bèn vượt núi Mẫn Sơn [Minxian], qua miền trung Cam Túc để đến phía bắc tỉnh Thiểm Tây. Ngày 22/10 hợp với quân đoàn 15 Hồng quân của Từ Hải Đông, Lưu Chí Đan; đây là giai đoạn 6 của cuộc trường chinh.

Kể từ khi đột vây tại Giang Tây, thời gian 1 năm, quân hành 25.000 lý, từ 9 vạn quân chỉ còn lại 3.000 quân; thêm vào số Hồng quân tại phía bắc tỉnh Thiểm Tây, tổng số không quá 1 vạn người.

Trương Quốc Đảo, Chu Đức theo Đại Kim Xuyên [Jinchuan, Tứ Xuyên] xuống Trác Khắc cơ; vào trung tuần tháng 9 hội nghị với Từ Hướng Tiền, Trần Xương Hạo, không thừa nhận chính quyền trung ương cũ, lập riêng lâm thời trung ương, Trương làm Tổng thư ký, tiếp tục xuống phương nam. Tháng 11 chiếm các huyện Thiên Toàn [Tianquan, Tứ Xuyên], Lô Sơn [Lushan, Tứ Xuyên]; vùng này khí hậu hoà hoãn, lương thực không thiếu. Tháng 12, nhân bị Quốc quân dưới quyền Tiết Nhạc đánh mạnh, phi cơ oanh kích, Hồng quân tỗn thất hơn 5.000; quân Tứ Xuyên hơn 10 vạn hợp vây, người Tây Tạng tại phía tây cũng ghét người Hán, nên không dễ đặt chân. Tháng 2 năm 1936, lại bị quân của Tiết Nhạc đánh bại, bị ép chạy lên phía tây bắc; không ít chết trận và chết đói. Tháng 4, xuống vùng Cam Tư [Garze, Tây Tạng] phía tây nam, số còn lại hơn 3 vạn.

Lúc bấy giờ Hạ Long, Nhiệm Bật lãnh đạo Hồng Đệ nhị phương diện quân, vì không thể hội với Đệ nhất phương diện quân, nên nấn ná tại vùng biên giới Hồ Nam, Quí Châu. Tháng 8/1935 di chuyển sang hướng tây; qua phía đông và tây tỉnh Quí Châu đến Vân Nam. Tháng 4/1936 vượt sông Kim Sa [Jinsha river] vào Tây Tạng, tháng 6 hợp quân với Đệ tứ phương diện; nguyên quân số 1 vạn , đến lúc này chỉ còn 3.000 người.

Nói chung cuộc trường chinh có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử cận đại Trung Quốc, phần lớn các lãnh đạo Trung Hoa nhân dân cộng hoà quốc như Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Trần Vân, Đặng Tiễu Bình đều tham gia trường chinh; trong tổng số 10 đại Nguyên soái, ngoại trừ Trần Nghị, 9 người kia đều tham gia trường chinh.

5. Hồng quân sau khi di chuyển đến miền tây bắc

Sau năm 1932, Lưu Chí Đan lãnh đạo Hồng quân tại miền bắc Thiểm Tây, đến năm 1935 thế lực mỗi ngày một khuyếch trương. Quân chính phủ gồm 14 sư đoàn dưới quyền Vu Học Trung, trước kia trú đóng tại miền đông bắc tỉnh Hà Bắc, bị quân Nhật làm áp lực, nên điều đến Thiểm Tây, Cam Túc. Vu Học Trung được cử làm Tổng tư lệnh “Tiễu phỉ” biệt khu Xuyên-Thiểm-Cam, nhưng không tỏ ra chú ý nhiều đến lực lượng Lưu Chí Đan. Sau khi quân Lưu Chí Đan hội hợp với Từ Hải Đông, vào tháng 10/1935 mấy lần đánh phá quân Vu Học Trung tại miền nam Diên An [Yan’an, Thiểm Tây], bắt sống hơn 5.000 người. Sau khi lực lượng của Mao Trạch Đông đến, tháng 11 lại chiến thắng, tiêu diệt quân của Vu 1 sư đoàn, chiếm trọn miền bắc Thiểm Tây. Trung Cộng tuy bị mất các khu Xô Viết tại hai miền nam, bắc sông Trường Giang; nhưng vùng căn cứ địa tại phía bắc Thiểm Tây đã trở nên ỗn định.

Miền bắc tỉnh Thiểm Tây nghèo lạnh, phía nam lại bị phong toả, không đủ cơm áo. Vào ngày 10/2/1936, lấy danh nghĩa “Kháng Nhật tiên phong đội”, Cộng quân vượt sông Hoàng Hà, hướng vào miền trung và nam tỉnh Sơn Tây, chiếm cứ hơn 10 huyện. Tưởng Uỷ viên trưởng mang quân tăng viện, quân Sơn Tây ra sức đánh; nên sau khi lấy được vật tư, Trung cộng bèn rút quân trở về miền bắc Thiểm Tây; trong chiến dịch này Lưu Chí Đan bị tử trận, bộ hạ do Cao Cương thay thế chỉ huy.

Vào tháng 6/1936 Lưỡng Quảng lại lấy danh nghĩa chống Nhật, mang quân đến Hồ Nam, quân trung ương từ tây bắc phải điều xuống phương Nam. Lúc này Trương Học Lương tại vùng tây bắc tỏ ra dễ dãi, nên quân chủ lực Trung cộng chuyển sang Ninh Hạ, Cam Túc.

Trương Quốc Đảo lưu tại Tây Khang, được Cộng sản quốc tế điều giải nên đổi lâm thời trung ương cục thành trung ương tây nam cục. Vì lương thực tại Tây Khang thiếu thốn, khó có thể sinh tồn, nên vào tháng 7 năm này cùng Chu Đức, Hạ Long, Từ Hướng Tiền dùng con đường biên giới thảo dã, lên phía bắc tỉnh Cam Túc. Trương muốn tây tiến, tổ chức tây lộ quân; Từ Hướng Tiền, Trần Xương Hạo cầm 2 vạn lãnh tiên phong, Trương tự cầm 1 vạn quân đi sau. Tháng 10, Từ, Trần từ Ninh Hạ [Ningxia] tiến vào Hà Tây [Jinchang, Cam Túc], Trương bị ngăn tại phía đông sông Hoàng Hà, nên bất đắc dĩ phải quay sang đông đến phía bắcThiểm Tây. Sau khi Trương Quốc Đảo đến nơi, bị Mao Trạch Đông chỉ trích, nên hết sức bất đắc chí. Ngày 12/11 Từ Hướng Tiền, Trần Xương Hạo mấy lần bị kỵ binh Hồi đánh bại; Tháng 1/1937, trong chiến dịch tại Cao Thai [Gaotai, Cam Túc] thương vong trầm trọng. Tháng 3 lại bị bại tại Túc Châu [Suzhou, Cam Túc], chỉ còn 700 tàn quân chạy sang tỉnh Tân Cương, được Nga Xô cho người dẫn qua biên giới, rồi chuyển về căn cứ tại Diên An.

1  Đông Tam Tỉnh : ba tỉnh phía đông bắc Trung Quốc, tức Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh.
2  Gỉảm tô giảm tức : giảm nạp lúa, tiền mướn ruộng ; giảm tiền lời vay nợ.
3  Theo Mao, thời Cù Thu Bạch [1927-1928] là đệ nhất tả khuynh lộ tuyến ; thời Lý Lập Tam [1928-1930] là đệ nhị tả khuynh lộ tuyến.

 

Chương 2 Cuộc vận động liên hiệp kháng Nhật [1930-1937]

3

1. Kháng Nhật và chống Quốc dân đảng

Trước thời kỳ bắc phạt và lúc khởi đầu cuộc bắc phạt, các phe kỳ vọng Quốc dân đảng quá cao. Sau khi bắc phạt, nội bộ Quốc dân đảng không ngớt tranh giành, chiến loạn không dứt, làm tàn tạ tinh thần, kiêu căng tự đại, trở thành giai cấp đặc quyền, khiến lòng dân thất vọng, nặng nề nhất là phần tử trí thức. Kể từ năm 1930, các đoàn thể tả khuynh xuất hiện, như “ Tự do đại đồng minh ”, “ Tả dực văn nghệ tác gia liên minh ”, “ Mã Khắc Tư [Karl Marxchủ nghĩa văn nghệ nghiên cứu hội ”, “ Văn nghệ đại chúng hoá nghiên cứu hội ”, “ Quốc tế văn hoá nghiên cứu hội ”, “ Xã hội khoa học gia liên minh ”, “ Phản đế đại đồng minh ” ; thanh niên, học sinh là đối tượng chủ yếu được những tổ chức này tranh thủ ; tuy họ không hoàn toàn theo Cộng sản, nhưng bất mãn với Quốc dân đảng. Những người tin ở dân chủ và tự do thường phản đối một đảng độc quyền, càng phê bình Quốc dân đảng. Ngược lại Quốc dân đảng dùng chính sách đàn áp nặng, không ít những người bị gán tội Cộng sản rồi bách hại ; như tháng 2/1931, 24 tác giả Tả dực văn nghệ bị xử tử, riêng Lỗ Tấn trốn được.

Khi cuộc biến tại Thẩm Dương [Shanyang, Liêu Ninh] phát sinh, cả nước phẫn giận, đều trách chính phủ không chịu đề kháng ; tại Thượng Hải [Shanghai] đại hội kháng Nhật cứu quốc, yêu cầu chính phủ định ngày bắt quân Nhật rút lui. Học sinh Nam Kinh ẩu đả với Bộ trưởng ngoại giao ; học sinh Thượng Hải đến Nam Kinh thỉnh nguyện, yêu cầu tuyệt giao với Nhật và tuyên chiến. Ngày 26/11/1931, hơn 1 vạn học sinh tại Bắc Bình [Bắc Kinh], Nam Kinh, Thượng Hải bao vây Quốc dân chính phủ. Ngày 5/12 học sinh tại Bắc Kinh tổ chức đoàn thị uy, tung hô “ Dân chúng bị áp bức toàn quốc liên hiệp lại ”, “ Đả đảo chính phủ bán nước ”, chiếm trạm xe lửa, kiên quyết tiến vào kinh đô. Ngày 9/12, học sinh Thượng Hải phá huỷ trụ sở thị đảng bộ Quốc dân đảng, vây văn phòng Quốc dân chính phủ ; các nơi khác như Hàng Châu [Hangzhou, Chiết Giang], Vũ Hán [Wuhan, Hồ Bắc] cũng có hành động tương tự. Ngày 19, Tống Khánh Linh [vợ Tôn Trung Sơn] tuyên bố rằng Quốc dân đảng đã đánh mất địa vị tập đoàn cách mệnh, nay cần dựa vào thế lực cách mệnh của quần chúng mới có thể bài trừ chủ nghĩa đế quốc ; trong nội bộ Quốc dân đảng cũng có thành phần phản đối chính phủ Nam Kinh dấy lên. Ngày 11/12 học sinh tập trung tại Nam Kinh thị uy, nêu khẩu hiệu “ Đả đảo Quốc dân đảng ”, “ Tranh thủ phản đế, cùng giành tự do ”, “ Nông, công, binh liên hợp lại ”. Ngày 15/12 lại đại náo tại bộ ngoại giao, trụ sở đảng bộ Quốc dân đảng ; người vốn được sùng kính như Giáo sư Thái Nguyên Bồi cũng bị đánh chửi, làm nhục. Cùng trong ngày, Tưởng Giới Thạch từ chức Chủ tịch Quốc dân chính phủ và Viện trưởng hành chánh. Vào ngày 17, học sinh phá huỷ trụ sở báo Quốc dân đảng trung ương, tại các thủ phủ tỉnh như Tây An [Xian, Thiểm Tây], Thái Nguyên [Taiyuan, Sơn Tây], trụ sở đảng bộ Quốc dân đảng cũng bị phá huỷ. Đây là giai đoạn một của cuộc vận động kháng Nhật cứu quốc của học sinh sau biến cố “ Cửu Nhất bát ”.

Lúc này tổ chức của học sinh còn thiếu nghiêm mật, bị chính phủ đàn áp trở nên tiêu trầm. Tháng 1/1932, quân Nhật chiếm Sơn Hải Quan [Shanhaiguan, Hà Bắc], học sinh Bắc Bình tuy “ Có lòng ái quốc, nhưng không có cách cứu nước ” chỉ biết bãi khoá, bãi thí ; nhưng trào lưu chung có những biến chuyển tích cực. Tháng 2/1932, phe tả Thượng Hải lập “ Trước tác giả kháng Nhật hội ” yêu cầu toàn quốc kháng Nhật. Tháng 4, học sinh Tây An [Xian, Thiểm Tây] tổ chức Kháng Nhật hội, lại phá huỷ trụ sở Quốc dân đảng. Tháng 5, đoàn thể cứu quốc tại Thượng Hải chủ trương chống nội chiến, thành lập “ Phế chỉ nội chiến đại đồng minh” ; lại tranh luận với đại biểu Nhật, đi đến chỗ ẩu đả với đại biểu Quách Thái Kỳ. Tháng 6 tại Thượng Hải, “ Cứu quốc đoàn thể liên hiệp hội ” kháng nghị chính phủ phong toả ngôn luận. Tháng 12, Tống Khánh Linh, Thái Nguyên Bồi, Lỗ Tấn thành lập “ Trung Quốc dân quyền bảo chướng 1 đồng minh ”. Tháng 4/1933, Mã Lương, Chương Bỉnh Lân đả kích chính phủ về việc bỏ Nhiệt Hà [Chengde, Hà Bắc]. Tháng 9, Quốc tế phản đế chống chiến tranh, tổ chức “ Trung Quốc phân hội đồng minh phản chiến ”. Ngày 20/4/1934, Tống Khánh Linh và bọn Mã Lương phát biểu tuyên ngôn chống Nhật cùng cương lãnh cơ bản yêu cầu lập tức đình chỉ nội chiến, động viên toàn thể nhân dân, do đại biểu công nhân, nông dân, học sinh, thương nhân, binh lính tổ chức hơn 30 đoàn thể như “ Trung quốc dân tộc tự vệ vũ trang uỷ viên hội ”, “ Hoa bắc các giới cứu quốc liên hiệp hội ”, “ Bắc phương nhân dân cứu quốc đại đồng minh ”, “ Bình-Tân [Bắc Bình, Thiên Tân] học sinh cứu quốc liên hiệp hội ”.

Năm 1935, học sinh đối với các sự kiện tại Hà Bắc, Sát Cáp Nhĩ [Chahar youyi] vừa mới tỏ thái độ xong ; thì kế tiếp đến vụ “ Tự trị vận động ” tại Hoa bắc, lại trào dâng lên niềm phẫn nộ. Ngày 1/11, hội học sinh 10 trường gửi thư cho Quốc dân đảng, mãnh liệt công kích việc chính phủ mấy năm gần đây bách hại thanh niên. Ngày 18/11 Bắc Bình học sinh liên hiệp hội khôi phục.Ngày 3/12, xuất hiện “ Ký bắc [Hà Bắc] phòng Cộng tự trị hội ”, học sinh diễn hành phản đối, có vợ chồng Ký giả Mỹ Edgar Snow tham dự. Ngày 9/12, hơn 1.000 học sinh mở cuộc thị uy, phản đối vận động tự trị Hoa bắc, yêu cầu đình chỉ mọi cuộc nội chiến ; rồi xô xát với quân cảnh, nên một số người bị bắt, sự kiện được gọi là “ Nhất nhị cửu vận động ”. Ngày 16/12, lại do việc thiết lập “ Ký, Sát chính vụ uỷ viên hội ”, học sinh chỉ trích rằng thực chất đó là biến tướng của chính phủ tự trị, nên tổ chức 2 lần diễn hành, tham gia gần 1 vạn người ; hơn 370 người bị đả thương, 14 người bị bắt. Phong trào lan ra đến Quảng Châu [Guangzhou], Thượng Hải, Tế Nam [Jinan, Sơn Đông], Vũ Hán [Wuhan, Hố Bắc], Trường Sa [Changsha, Hồ Nam], Tây An [Xian, Thiểm Tây], Thiên Tân [Tianjin, Hà Bắc], Hàng Châu [Hangzhou, Chiết Giang], Nam Kinh, Khai Phong [Kaifeng, Hà Nam] ; lại còn đòi đến Nam Kinh gửi thỉnh nguyện thư, nên các nơi như Nam Kinh, Thượng Hải, Hán Khẩu [Hankou, Hồ Bắc] đều bị giới nghiêm. Trung Cộng lại tuyên bố ủng hộ ; cổ vũ công nhân, nông dân, học sinh, binh lính tổ chức chính phủ để giữ nước. Tháng 1/1936, Tưởng Giới Thạch mời hiệu trưởng các trường trung cấp trở lên, cùng đại biểu học sinh đại học đến nói chuyện, bảo rằng quyết không ký bất cứ điều ước nào phạm đến chủ quyền ; nếu sự kiện đi đến cùng, thì đánh cũng không tiếc. Nhưng các học sinh thuộc phái tả vẫn còn bất mãn, bộ giáo dục tuyên bố lúc này cần xử trí nghiêm khắc. Tháng 3, mấy chục học sinh tại đại học Thanh Hoa, Bắc Bình ; đại học Phục Đán, Thượng Hải bị bắt. Tháng 4, hội Cứu quốc liên hiệp tại Vũ Hán bị giải tán. Tháng 5, học sinh tại Bắc Bình, Thiên Tân, Thượng Hải phản đối Nhật Bản ra quân tại Hoa Bắc, cùng việc người Nhật ra vào buôn bán; bèn bãi khoá, diễn hành. Đây là cuộc vận động kháng Nhật cứu quốc của học sinh thuộc giai đoạn hai.

2. Lập trường của Trung Cộng về chiến tuyến dân tộc thống nhất kháng Nhật

Từ “ Cửu nhất bát sự biến ”, Trung Cộng tuy vẫn tuyên bố chống Nhật xâm lược, nhưng không bỏ lập trường lật đổ chính phủ, phủ nhận hợp tác kháng Nhật, cùng hô hào vũ trang bảo vệ Liên Xô. Mùa thu năm 1932, Hồng Đệ tứ phương diện quân tại Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy thua bại, phải chạy sang phía tây ; quân chính phủ sắp sửa thực hiện cuộc vây tiễu lần thứ 4 Hồng Đệ nhất phương diện quân tại Giang Tây ; còn phía Nhật chiếm đoạt Sơn Hải quan, chuẩn bị tấn công Nhiệt Hà. Cộng sản quốc tế chỉ thị Trung Cộng hãy lợi dụng Trung Quốc gia tăng nguy cơ, ý thức dân tộc dâng cao, cùng các lực lượng bộ đội vũ trang và đoàn thể, kết hợp làm liên minh kháng Nhật. Do đó vào ngày 17/1/1933 Chủ tịch chính phủ Trung Hoa Xô Viết Mao Trạch Đông, Chủ tịch quân sự uỷ viên hội Trung Quốc công nông Hồng quân cách mệnh Chu Đức ra tuyên ngôn, chủ trương đình chỉ tấn công khu Xô Viết, bảo đảm quần chúng quyền lợi dân chủ, bảo vệ Trung Quốc, tranh thủ độc lập thống nhất cùng lãnh thổ hoàn chỉnh, khai triển dân tộc cách mạng chiến tranh ; đấu tranh chống Nhật Bản, mọi chủ nghĩa đế quốc, cùng Quốc dân đảng. Nguyện đình chỉ nội chiến, vũ trang nhân dân để thực hành chống Nhật ; cùng bất cứ bộ đội vũ trang nào đính lập hiệp định đình chiến. Qua tuyên ngôn này, có thể nói sách lược Cộng sản quốc tế chuyển biến để cho Trung cộng mở cuộc vận động thống nhất chiến tuyến chống Nhật, nhưng không bao quát Quốc dân đảng trong đó, vẫn công nhận “ Kháng Nhật trước hết phải phản Tưởng ”, mục đích chỉ muốn phân hoá quân chính phủ, giảm thiểu áp lực đối với Hồng quân. Chẳng bao lâu Phùng Ngọc Tường tổ chức Dân tộc độc lập đồng minh quân, cùng Phúc Kiến nhân dân chính phủ của Lý Tế Thâm, Trần Danh Khu trước sau xuất hiện, nhưng cũng không lay động quân chính phủ quyết tâm tiễu Cộng.

Sau khi Phúc Kiến nhân dân chính phủ tan rã, cuộc vây tiễu lần thứ 5 kịch liệt triển khai, Hồng quân lâm vào hoàn cảnh chí nguy. Vào ngày 10/4/1934, Hồng quân phát xuất “ Thư bố cáo dân chúng toàn quốc về việc đế quốc Nhật Bản tiến công Trung Hoa ”. Nội dung hiệu triệu dân tộc đấu tranh cách mệnh ; tại chiến tuyến chống đế quốc, bất phân khuynh hướng chính trị, bất phân nghề nghiệp trai gái, cộng đồng liên hợp ; tuyệt giao, chiến đấu chống Nhật, đình chỉ tấn công khu Xô Viết. Phản đối chính sách đầu hàng bán nước của Quốc dân đảng ; phản đối hiệp định Đường Cô [Tanggu, Thiên Tân], cùng Trung Nhật trực tiếp giao thiệp. Cần khuếch đại chiến tuyến dân tộc chống Nhật, cho dù ý kiến chính trị bất đồng, cũng nguyện cùng liên hiệp. Theo bố cáo này thì liên hiệp ngay cả với Quốc dân đảng, chỉ phản đối chính sách Quốc dân đảng đối với Nhật ; hy vọng chính là đình chỉ tấn công khu Xô Viết. Đầu tiên hưởng ứng là “ Trung Quốc dân tộc vũ trang tự vệ uỷ viên hội ” của Tống Khánh Linh, kế đến là “ Các giới cứu quốc hội ”.

Sáu tháng sau đó, Hồng quân buộc phải rút lui từ tỉnh Giang Tây qua miền tây nam, vào các tháng 6, 7/1935 bị vây khốn tại vùng ven biên tỉnh Tứ Xuyên, thế không dễ sinh tồn. Từ ngày 25/7 đến ngày 2/8, Cộng sản quốc tế tổ chức đại hội thế giới lần thứ 7 tại Mạc Tư Khoa, thông qua “ Phương án thống nhất đấu tranh phản đối chủ nghĩa phát xít ” chỉ rõ Trung Quốc cần đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc liên hợp với chống phát xít, thu hút lực lượng dân tộc chống Nhật, khuếch đại chiến tuyến dân tộc đấu tranh. Ngày 1/8 đại biểu Trung Cộng tại Cộng sản quốc tế Trần Thiệu Vũ, với tư cách Trung Hoa Xô Viết nhân dân chính phủ uỷ viên, cùng Trung cộng trung ương uỷ viên, phát xuất “ Thư bố cáo đồng bào toàn quốc về việc kháng Nhật cứu nước ” ; thực tế nhắm hô hào Quốc dân đảng, văn bản này còn được gọi là “ Nhất Bát tuyên ngôn ” ; trích dịch như sau :

“ Không kể các đảng phái tại quá khứ hoặc hiện tại có bất cứ sự bất đồng nào về chính kiến hoặc lợi, hại ; không kể các giới đồng bào có bất cứ chính kiến hoặc lợi, hại khác nhau ; không kể các quân đội trong quá khứ hoặc hiện tại có bất cứ hành động đối địch nào, đều cần chân thành giác ngộ, trước tiên đình chỉ nội chiến, tập trung mọi lực lượng, vì sự nghiệp thần thánh, đấu tranh kháng Nhật cứu nước. Chính phủ Xô Viết cùng đảng Cộng sản lại trịnh trọng tuyên ngôn rằng chỉ cần Quốc dân đảng đình chỉ hành động tấn công khu Xô Viết, chỉ cần bất cứ lực lượng bộ đội nào đối Nhật kháng chiến ; không quản họ và Hồng quân có sự chia rẽ về vấn đề đối nội, Hồng quân không chỉ đối với họ đình chỉ hành động chiến đấu, lại còn nguyện cùng họ nắm tay cùng cứu nước… Triệu tập các cơ quan chân chính đại biểu đồng bào, để tiện thảo luận vấn đề cụ thể liên quan đến kháng Nhật cứu nước… Do chính phủ lãnh đạo về quốc phòng, tổ chức thành bộ tư lệnh liên quân kháng Nhật.”

Tháng 11/1935, Trần Thiệu Vũ lại giải thích xác minh thêm về ý nghĩa thống nhất chiến tuyến, chỉ trích trong quá khứ có sai lầm về quan môn chủ nghĩa 2, bèn phái Lâm Hữu Anh đến miền bắc tỉnh Thiểm Tây truyền đạt. Phái quốc tế Trung cộng đương nhiên nghiêm nhặt phụng mệnh, nhưng người đương quyền, Mao Trạch Đông, vẫn còn nghi ngờ. Mao một mặt sai Phan Hán Niên đến Mạc Tư Khoa xin chỉ thị, một mặt vào ngày 28/11 ra tuyên ngôn, cũng tương đồng với tuyên bố của Trần về “ Kháng Nhật cứu nước ”nêu trên. Sau khi Phan Hán Niên đến nơi, ngày 25/12 cục chính trị Trung cộng trung ương mở cuộc hội nghị tại Ngoả Diêu Bảo [Baota, Diên An], thông qua nghị quyết “ Xem tình hình chính trị trước mắt cùng quyết định nhiệm vụ của đảng ” : thứ nhất, phát động mọi lực lượng cách mệnh phản Nhật, phản Tưởng ; thứ hai, bất luận người nào, phe phái nào, lực lượng nào ; chỉ cần phản Nhật, phản Tưởng đều đáng liên hợp vào chiến tuyến dân tộc thống nhất, tổ chức chính phủ quốc phòng, cùng liên quân kháng Nhật ; thứ ba, cải Xô Viết công, nông, cộng hoà quốc thành Xô Viết nhân dân cộng hoà quốc, “ Hồng quân, Bạch quân 3 liên hiệp lại ” ; thứ tư, thuyết phục công, nông, binh, giai cấp tiểu tư sản, từng lớp trí thức cùng đồng minh với cách mệnh hãy tin Trung cộng đại biểu cho lợi ích toàn nhân dân. Ngày 27, Mao Trạch Đông luận về sách lược đối Nhật, thuyết minh việc lập chiến tuyến dân tộc thống nhất, cùng Nhân dân cộng hoà quốc. Bảo rằng con đường cách mệnh quanh co, trận tuyến giữa cách mệnh và phản cách mệnh có khả năng biến động, dùng thủ đoạn ngang dọc, đóng mở, đem đội ngũ phản cách mệnh sáp nhập vào cách mệnh. Ngày 21/2/1936, chính phủ trung ương Xô Viết cộng hoà quốc gửi điện “ Tuyên ngôn về đông chinh ” yêu cầu thủ tiêu đảng chuyên chế như Quốc dân đảng, đình chỉ nội chiến, đối Nhật tuyệt giao và tuyên chiến, thành lập chính phủ quốc phòng và liên quân kháng Nhật ; trong điện văn chỉ nói kháng Nhật, không đề cập phản Tưởng. Ngày 25/4 Trung cộng ra tuyên ngôn, trực tiếp yêu cầu Quốc dân đảng cùng ứng phó với quốc nạn, sáng lập trận tuyến nhân dân chống Nhật. Ngày 5/5, Mao Trạch Đông, Chu Đức cùng gửi điện “ Tuyên ngôn rút quân ”, đình chiến nghị hoà, nhất trí kháng Nhật ; hy vọng chính phủ Nam Kinh thành ý triệt để cải hối ; trước hết đình chiến tại Thiểm Tây, Cam Túc, Sơn Tây; cùng gửi đại biểu đến hiệp thương.

Cuộc thị uy vào ngày 9/12/1935 của học sinh tại Bắc Bình có tên là “ Nhất Nhị Cửu vận động ”, tuy do Trung cộng lãnh đạo, nhưng không đề cập rõ về thống nhất chiến tuyến. Ngày 31/5/1936, thành lập Cứu quốc liên hiệp hội toàn quốc tại Thượng Hải, đã đề xuất chính quyền thống nhất chống kẻ thù. Ngày 13/7, yêu cầu Quốc dân đảng tuyên chiến với Nhật, đình chỉ nội chiến. Ngày 10/8, Mao Trạch Đông gửi thư yêu cầu các lãnh tụ Cứu quốc liên hiệp hội thu xếp để các đảng phái tiến hành hợp tác đàm phán. Ngày 25, Trung cộng chính thức gửi thư cho Quốc dân đảng, gọi Quốc dân đảng là “ Quý đảng ”, gọi Tưởng là “ Uỷ viên trưởng ” ; bảo rằng trong báo cáo cùng giải thích về ngoại giao của Uỷ viên trưởng trước hội nghị toàn thể uỷ viên ban chấp hành trung ương Quốc dân đảng rất cần thiết, có một số tiến bộ, Trung cộng thành khẩn hoan nghênh. Nguyện tán trợ thành lập nước dân chủ cộng hoà thống nhất toàn quốc, ủng hộ đại hội đại biểu kháng Nhật cứu quốc, cùng chính phủ quốc phòng thống nhất, Quốc dân đảng và Trung cộng lại có hợp tác mới. Ngày 23/9, Mao Trạch Đông gửi thư cho Thái Nguyên Bồi, yêu cầu khuyên chính phủ Nam Kinh đình chỉ nội chiến ; cùng thông báo cho Tống Khánh Linh, Hồ Thích, Uông Triệu Minh. Ngày 1/12, Mao Trạch Đông, Chu Đức, Trương Quốc Đảo, Chu Ân Lai, liên danh gửi thư cho Tưởng, khuyên theo thời cơ mà quyết đoán, tiếp thu lời yêu cầu cứu nước của họ, biến địch thành bạn, cùng chung đánh Nhật.

3. Biến cố Tây An

Sau khi tuyên ngôn về đình chỉ nội chiến của Mao Trạch Đông, Chu Đức đưa ra được 6 tuần, vào ngày 28/2/1933 thư của Tưởng Giới Thạch với tiêu đề “ Cáo Cộng sản đảng cán bộ nhân viên thư 告共产党干部 人员书  ” khuyên Cộng sản đừng mê mộng, chủ trương nhất trí kháng Nhật. Riêng tuyên ngôn của Trung cộng đề ngày 10/4/1934, với nhan đề “ Thư bố cáo dân chúng toàn quốc về việc đế quốc Nhật Bản tiến công Trung Hoa ”, không nhận được phúc đáp của Tưởng. 6 tháng sau, khi cuộc vây tiễu lần thứ 5 kết thúc, nhận định rằng Trung cộng không đủ gây mối hoạ lớn, nếu như tổ chức này từ bỏ Hồng quân, có thể giải quyết bằng chính trị ; Tưởng bèn sai Trần Lập Phu tiến hành thăm dò ; sau đó đại biểu của Trần Lập Phu và Đại biểu Trung cộng gặp nhau tại Thượng Hải. Ngày 1/9/1935, Chu Ân Lai gửi thư cho Trần Lập Phu, Trần Quả Phu ; trình bày lập trường đình chiến kháng Nhật của Trung cộng ; ngày 18/9, Thượng Hải kháng Nhật cứu quốc đại đồng minh ra tuyên ngôn cũng tương tự. Tiếp theo báo chí tại Đông Kinh đăng tải tin tức Quốc dân đảng dung Cộng vả Tưởng Giới Thạch hoà hoãn với Hồng quân ; Trương Xung Toàn, từng du học tại Nga, từ Nam Kinh đến khu vực Trung cộng tại miền bắc Thiểm Tây thương thảo ; rồi Stalin trực tiếp yêu cầu Tưởng sai người đến Mạc Tư Khoa. Ngày 24/12, Trần Lập Phu cùng Trương Xung đến Bá Linh, nhưng rồi không đến Mạc Tư Khoa ; có thể Stalin cho rằng lúc này Trung cộng đã vững chân, nên hãy chờ thời cơ xem sao.

Tháng 4 và tháng 5/1936, Trung cộng liên tục ra tuyên ngôn nội dung cùng đương đầu với quốc nạn, nhất trí kháng Nhật. Vào mùa thu cùng năm, Chu Ân Lai, cùng Đại biểu Cộng sản quốc tế Phan Hán Niên, họp với Trương Xung tại Thượng Hải, rồi Xung trở về Nam Kinh bàn với Trần Lập Phu. Trần Lập Phu yêu cầu Trung cộng tuân thủ Tam dân chủ nghĩa, phục tùng Tưởng Uỷ viên trưởng chỉ huy, thủ tiêu Hồng quân cải thành Quốc quân, thủ tiêu Xô Viết cải thành chính quyền địa phương. Đầu tháng 12, hai bên tương đối thông hiểu, đàm phán chấm dứt một giai đoạn, Chu dùng đường Tây An [Xian, Thiểm Tây] trở về Diên An [Yan’an, Thiểm Tây].

Cuộc vận động thống nhất chiến tuyến dân tộc chống Nhật đầu tiên được nhân sĩ phái tả tại Thượng Hải ủng hộ, kế đến ảnh hưởng phe quân nhân tại Tây An. Trong vòng 5 năm trở lại, Trương Học Lương bị người Nhật làm nhục, cùng dư luận trong và ngoài nước chê trách, nội tâm không khỏi đau buồn. Năm 1933 bất đắc dĩ rởi chức, bỏ ăn chơi, du lịch Âu châu 8 tháng, đối với những lãnh tụ độc tài như Hitler, Mussolini cũng chịu ảnh hưởng. Năm 1934 trở về nước, giữ chức Phó tư lệnh tiễu phỉ tại 3 tỉnh Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy ; tập hợp cán bộ trung ương và đông bắc tổ chức “ Tứ duy học hội ” hô hào tăng cường đoàn kết, ủng hộ Tưởng Giới Thạch phục hưng.

Tháng 10/1935, trung tâm tiễu Cộng dời sang miền tây bắc. Bấy giờ quân đông bắc được điều đến Thiểm Tây, Cam Túc ; Tưởng làm Tổng tư lệnh tiễu phỉ ; Trương Học Lương vẫn giữ chức Phó, nhưng thực tế trực tiếp phụ trách. Lúc này quân đông bắc mới cùng Hồng quân giao chiến, liên tiếp bị bại. Ngày 1/10/1935 quân đoàn thứ 25 Hồng quân phục kích quân đoàn quân đông bắc dưới quyền Vương Dĩ Triết tại Lao Sơn [Laoshan, Thiểm Tây] phía nam Diên An, khiến Sư trưởng Hà Văn Lập tử trận. Ngày 25/10, một sư đoàn quân đông bắc tao ngộ với quân đoàn 15 Hồng quân tại cầu Du Lâm [Yulin, Thiểm Tây], giao chiến trong 5 giờ ; quân đông bắc tử thương hơn 300 người, bị bắt hơn 1.800 ; trong đó có Lữ trưởng Cao Phúc Nguyên. Trung cộng đem những người bị bắt cho huấn luyện rồi phóng thích toàn bộ. Nội dung huấn luyện với luận điệu rằng Tưởng lấy danh nghĩa tiễu Cộng, đẩy quân tây bắc và Hồng quân giao tranh, khiến cả hai đều bị tổn thương ; chỉ có cách là liên hiệp chống Nhật, quân đông bắc mới được trở về cố hương ; Quân đông bắc nếu không tiến đánh, Hồng quân quyết không xâm phạm, nguyện cùng chung chống Nhật.

Chu Ân Lai cũng gửi thư cho Trương Học Lương, lời lẽ tương đồng. Trương Học Lương vì hận nước, thù nhà ; nên những lời thuyết phục của Chu dễ lọt vào tai. Hơn nữa trong vòng 9 năm nay, quân trung ương với sức mạnh to lớn mà không dẹp hết Trung cộng, thì quân đông bắc làm sao đủ sức ? Ngoài ra quân đông bắc và quân trung ương đãi ngộ có sai biệt ; Thiểm Tây là vùng cằn cỗi khó có thể thu thập thêm ; lại không có ngày trở về Hoa bắc, hoặc đông bắc, việc tiễu Cộng lại liên tiếp thất bại, tử trận không được phủ tuất xứng đáng, nên quân mất tinh thần, căm phẫn, tâm lý dao động ; cho rằng đánh Trung cộng chết, so với việc kháng Nhật cứu quốc chết, chẳng vinh hơn sao ? Vì tương lai quân đông bắc và bản thân Trương, chỉ có con đường mở ra là hợp tác với Trung cộng.

Qua tuyên ngôn của Mao Trạch Đông đề ngày 28/11 [đề cập tại phần trên], Trương càng tin rằng vấn đề Trung cộng có khả năng giải quyết bằng hoà bình. Vào tháng 12 Trương đến Thượng Hải gặp những nhân vật trong hội Cứu quốc và nhân sĩ thiên cộng ; họ trách Trương không nên đi vào con đường tử lộ tiễu Cộng, mà cần phải chống Nhật. Ngày 25/1/1936 Tướng lãnh Hồng quân gửi thư cho Tướng lãnh quân tây bắc, hy vọng hiệp thương chống Nhật. Ngày 26, Trương đến Nam Kinh muốn xin Tưởng cho Hồng quân trở lại hợp tác, tuy chưa dám nói ra lời, nhưng trong lòng đã có ý định.

Chủ nhiệm Tây An tuy tĩnh và Tư lệnh lộ quân thứ 17 Dương Hổ Thành xuất thân từ thảo khấu, theo Hồ Cảnh Thạc, rồi Quốc dân quân của Phùng Ngọc Tường. Sau chiến tranh trung nguyên phò trung ương, được giữ chức Chủ tịch tỉnh Thiểm Tây, tự cho là khuynh tả. Sau khi bị giải trừ chức Chủ tịch tỉnh, đâm ra bất mãn với Tưởng, dưới quyền có những phần tử Trung cộng, nên dễ hợp tác với Trương Học Lương.

Tháng 2/1936 Hồng quân tiến sang đông vào tỉnh Sơn Tây, Trương Học Lương không những không thừa cơ tấn công lên phía bắc Thiểm Tây, lại để cho chỉ huy quân sự, Vương Dĩ Triết liên lạc với Trung cộng. Từ ngày 26 đến 28/2, đại biểu Trung cộng Lý Khắc Nông, hội đàm với đại biểu quân đông bắc Vương Dĩ Triết, đạt được hiệp nghị bằng miệng rằng : Hai bên không tương xâm, mỗi bên giữ nguyên địa điểm phòng thủ. Hồng quân đồng ý khôi phục giao thông vận chuyển, kinh tế thông thương cho quân đông bắc tại vùng Cam Tuyền [Ganquan, Thiểm Tây] và Diên An [Yan’an, Thiểm Tây]. Tháng 3/1936 Trương đến Lạc Xuyên [Luochuan, Thiểm Tây] hội đàm với Lý Khắc Nông, phần lớn các vấn đề khác đều dễ nhất trí, riêng thái độ đối với Tưởng thì ý kiến hai bên khác hẳn nhau ; Trương tôn phò Tưởng, Trung cộng chống Tưởng. Ngày 21, Trương lại đến Thượng Hải gặp Đại biểu Trung cộng Phan Hán Niên, đối với việc Trần Lập Phu sang Âu Châu và việc chính phủ Nam Kinh liên lạc với Trung cộng cũng từng được nghe. Ngày 20/5, Mao Trạch Đông triệu tập hội nghị quân sự tại Diên Xuyên [Yanchuan, Thiểm Tây], thảo luận việc hợp tác với Trương. Ngày 30, hội Học sinh cứu quốc tại Thượng Hải ra tuyên ngôn “ Ủng hộ Trương Học Lương chủ trương đình chỉ tiễu Cộng ”. Tháng 6 đại biểu Trung cộng, Đặng Phát, tới Tây An ; cùng tháng Trương và Chu Ân Lai gặp nhau tại Diên An. Chu bảo Trung cộng nguyện ủng hộ Trương phản Tưởng kháng Nhật, có thể được Liên Xô yểm trợ. Trương chủ trương ủng hộ Tưởng kháng Nhật, yêu cầu bỏ danh xưng Hồng quân biên chế thành quốc quân, Trung cộng không được nằm trong quân tuyên truyền, đình chỉ mọi đấu tranh, không tái tục phản đối chính phủ, công kích lãnh tụ ; chính phủ để Trung cộng hoạt động tự do, đến lúc kháng Nhật thắng lợi, thừa nhận Trung cộng là chính đảng hợp pháp. Chu đồng ý liên Tưởng chống Nhật, Hồng quân rút ra phía sau, Trương cấp tiếp tế. Dương Hổ Thành hết sức chủ trương liên Cộng, nếu như Tưởng không đồng ý, đợi lúc đến Tây An sẽ thực hành “ binh gián ” 4. Trung cộng phái Diệp Kiếm Anh, Lý Khắc Nông đến trú tại Tây An, huấn luyện cán bộ quân đông bắc. Trương sai Đại biểu đến Thái Nguyên [Taiyuan, Sơn Tây], Diêm Tích Sơn bảo “ Tiễu Cộng không phải là kế hay, lo đối nội không còn thực lực để đối ngoại ”, khiến lòng tin liên Cộng của Trương lại càng mạnh.

Ngày 17/9/1936 trung ương Trung cộng nghị quyết đình chỉ nội chiến, nhất trí kháng Nhật, thành lập chính phủ cộng hoà ; có tin đồn rằng 4 tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc, Sơn Tây, Tuy Viễn sẽ liên Nga độc lập. Ngày 3/10 Trương Học Lương phủ nhận việc này với ký giả Anh, chỉ hy vọng Hồng quân với lòng thành trở về ; đồng thời lại sai người đến Thái Nguyên, rồi lại đích thân đến thương lượng với Diêm Tích Sơn. Những động thái của Trương, Tưởng đã được báo cáo qua, nên ngày 22/10 đích thân đến Tây An thuyết trình trước các tướng lãnh rằng phương châm kháng Nhật cần ra sức tảo thanh Cộng sản trước, nặng nề trách một số người ý chí không kiên. Ngày 30, Diêm Tích Sơn mời Trương Học Lương đến Lạc Dương [Luoyang, Hà Nam] để yêu cầu Tưởng đình chỉ tiễu Cộng, Tưởng nghiêm lời cự tuyệt. Diêm bảo Trương rằng “ Xem ra bất tiện đem lời khuyên, hãy từ từ tuỳ cơ mà làm ”. Trương báo cho Trung cộng biết ngay bây giờ khó có thể đình chiến ; Trung cộng biểu thị vẫn tiếp tục hợp tác. Trương liên tiếp báo cáo Tưởng bộ thuộc bất ổn, tình thế Thiểm Tây gấp rút. Ngày 1/12 yếu nhân Trung cộng gồm 19 người như Mao Trạch Đông, Chu Đức, Trương Quốc Đảo, Chu Ân Lai gửi thư cho Tưởng Giới Thạch xin xét thời cơ hiện tại mà hứa chấp nhận yêu cầu cứu quốc, biến địch thành bạn. Ngày 3 cùng tháng, Trương Học Lương lại đến Lạc Dương, khẩn xin Tưởng đến Tây An. Tưởng không nghe lời khuyên của đám thân cận, ngày hôm sau đến Tây An, đối Trương đề xuất hai phương án : hoặc đem toàn bộ quân đông bắc và quân Dương Hổ Thành tiến lên phía bắc đánh Cộng sản ; hoặc chia ra điều đến các tỉnh Phúc Kiến, An Huy ; cả hai điều Trương và Dương đều không đồng ý. Ngày 7, Trương tiếp tục điều trần đình chỉ tiễu Cộng, nhất trí kháng Nhật, Tưởng nghiêm lời đả kích ; chiều hôm đó Dương thượng lượng mật với Trương về “ binh gián ”. Ngày 9, Tưởng lại tiếp tục khuyên bọn Trương rằng việc tiễu Cộng chỉ còn lại 5 phút cuối cùng. Cũng ngày hôm đó học sinh Tây An đến cung Hoa Thanh 5 cũ, nơi Tưởng Giới Thạch lưu ngụ để đề đạt nguyện vọng ; Trương bảo đảm trong một tuần lễ sẽ có đáp ứng ; sau việc này Tưởng đem lời trách, hai bên lời lẽ xung đột. Ngày 10, Tưởng triệu tập tướng lãnh trung ương hội nghị, phái Tưởng Đỉnh Văn làm Tổng tư lệnh tiền địch “ tiễu phỉ ” tại tây bắc, có tin truyền rằng Trương sắp bị bãi chức, quân đông bắc sẽ được cải biên ; Trương, Dương quyết định hành động.

Sáng sớm ngày 12/12 quân Trương Học Lương vây kín chỗ Tưởng lưu ngụ tại cung Hoa Thanh cũ, giết 30 hộ vệ ; Tưởng được cận vệ giúp trèo tường trốn, nhưng bị bắt ; các quan văn võ trung ương, 10 người bị giam kín. Trương Học Lương và Dương Hổ Thành tuyên bố 8 hạng chủ trương, gồm :

– Thứ nhất, cải tổ chính phủ Nam Kinh, dung nạp các đảng phái, cùng chung cứu nước.

– Thứ hai, đình chỉ mọi nội chiến.

– Thứ ba, lập tức phóng thích các lãnh tụ ái quốc bị bắt tại Thượng Hải.

– Thứ tư, phóng thích các chính trị phạm toàn quốc.

– Thứ năm, khai phóng vận động toàn dân ái quốc.

– Thứ sáu, chính trị tự do, bảo đảm nhân dân lập hội, kết xã.

– Thứ bảy, xác thực tuân hành Tổng lý [Tôn Trung Sơn] di chúc.

– Thứ tám, lập tức triệu tập hội nghị cứu quốc.

 

Ngày hôm sau, 13, thành lập Uỷ viên hội quân sự kháng Nhật liên quân.

Ngay trong ngày xẩy ra cuộc biến, Trương Học Lương gửi điện cho Tưởng phu nhân Tống Mỹ Linh, Phó viện trưởng viện hành chánh Khổng Tường Hy báo rằng tạm mời Tưởng tại Tây An để phản tỉnh, quyết không làm nguy hại. Phương châm xử sự của chính phủ Nam Kinh gồm đánh dẹp và tìm cách khai thông. Đái Truyền Hiền chủ trương đánh dẹp, cho rằng kỷ cương cần phải duy trì, không thể tỏ ra yếu. Chủ trương khai thông có Khổng Tường Hy, Tống Tử Văn, Trần Quả Phu, Trần Lập Phu ; cho rằng cần chiếu cố đến sự an toàn của Tưởng, căn cứ vào điện văn của Trương thì vẫn còn có chỗ để thảo luận. Ngay lúc này biện pháp nghiêm là cách chức Trương, điều binh đến Đồng Quan [Tongquan, Thiểm Tây], phi cơ bay trên vùng trời Tây An để đề phòng trường hợp chuyển Tưởng đi nơi khác. Về mặt khai thông, dùng viên Cố vấn cũ của Trương Học Lương là W. H. Donald [người Úc], đáp phi cơ đến Tây An khuyên bảo. Đối với động thái của Nga Xô hết sức lưu ý, vì cho rằng sự biến có liên quan đến Trung cộng, Nga Xô là đầu mối sách hoạch. Thực hiện phương sách nước sôi rút củi, Trần Lập Phu yêu cầu Phan Hán Niên chuyển lời đến Cộng sản quốc tế rằng nếu như Tưởng có điều bất hạnh, Trung Quốc mất người lãnh đạo, Nhật Bản sẽ tiến công Liên Xô. Khổng Tường Hy mời Đại biện Nga Xô đến gặp, thúc dục Nga Xô cùng Cộng sản quốc tế chú ý đến tính cách nghiêm trọng của sự biến ; nếu như Tưởng bị nguy hiểm, Trung Quốc sẽ bị Nhật ép cùng chống đối Nga ; lại mệnh Đại sứ Trung Quốc tại Nga trình bày thêm. Ngày 14 và 15, Trần Lập Phu lại gặp Phan Hán Niên nói chuyện thêm, hy vọng Chu Ân Lai điều giải, tìm cách cứu Tưởng.

Trước khi sự biến xảy ra, Trung cộng không hề biết, đến khi được tin, kinh ngạc, vui mừng lẫn lộn ; nhận thấy đây là cơ hội báo thù Tưởng. Chính trị cục Trung cộng hội nghị, Mao chủ trương đưa Tưởng ra xét xử ; nhắm chế tài gấp, điều quân xuống phía nam, trợ giúp Trương Học Lương tác chiến. Một mặt phái Chu Ân Lai tới Tây An, đồng thời báo tin cho Mạc Tư Khoa.

Người mưu sâu tính toán kỹ như Stalin, đã có liệu định sẵn trước khi chính phủ Nam Kinh thỉnh cầu và Trung cộng cộng báo cáo. Ngày 12/12 đánh điện cho Trung cộng chỉ rõ sự biến do âm mưu của Nhật, Nga Xô quyết không chi viện cho Trương Học Lương và minh xác phản đối. Trung Quốc cần thống nhất chiến tuyến để đánh Nhật, tối trọng yếu là đoàn kết hợp tác, không thể chia cắt, nội chiến. Trương Học Lương không thể lãnh đạo kháng Nhật, nếu như Tưởng hồi tâm chuyển ý, thì chính y là người lãnh đạo duy nhất để chống Nhật. Trung cộng đối Tưởng không thể giữ chủ nghĩa báo thù, hoặc duy trì nội chiến ; nếu làm như vậy là phù hợp nguyện vọng của bọn quân phiệt và thân Nhật, đối với Nga Xô và Trung cộng đều bất lợi. Cần lập tức tranh thủ hoà bình, giải quyết cuộc biến, lợi dụng thời cơ này để đối xử hữu hảo với Tưởng, trên cơ sở có lợi, khôi phục tự do cho Tưởng. Ngày 14, báo Tin Tức (Izvestia) tại Mạc Tư Khoa bình luận hành vi phản động của Trương Học Lương phá hoại tinh thần đoàn kết và trận tuyến chống Nhật của Trung Quốc; ngày hôm sau, báo Sự Thật (Pravda) cũng bình luận rằng phản biến của Trương Học Lương ngăn trở chính phủ Nam Kinh tiến hành đoàn kết chống Nhật, gây cho đất nước này phân chia, khiến Trung Quốc trở thành vật hy sinh cho ngoại quốc xâm lược ; hy vọng nhân dân Trung Quốc đừng để cho Nhật Bản và Hán gian lừa dối. Ngày 16, Đại sứ Trung Quốc, Tưởng Đình Phất, gặp Ngoại trưởng Nga Xô Lý Duy Nặc Phu, yêu cầu giúp Trung Quốc giải quyết sự biến ; Lý đáp rằng mấy năm gần đây Nga Xô hoàn toàn không có quan hệ với Trương Học Lương, chỉ mong sự biến giải quyết được tốt đẹp ; cùng ngày Cộng sản quốc tế phúc đáp Phan Hán Niên, đồng ý Chu Ân Lai hoà giải. Ngày 17, Ngoại trưởng Nga Xô phản đối Đại sứ Tưởng Đình Phất việc Trung Quốc cấm các báo thông tin những bài xã luận trên báo Tin Tức, Chân Lý của Nga Xô, biểu thị nghi ngờ Nga Xô có quan hệ với Trương Học Lương, điều này thiếu hữu nghị ; lại nhấn mạnh rằng việc duy nhất có thể giúp Trung Quốc là thông báo lập trường của Nga Xô cho Trung cộng biết.

Điện báo của Stalin đến ngày 14, do Tống Khánh Linh [Tôn Trung Sơn Phu nhân] chuyển đến sào huyệt Trung cộng tại Bảo An [Bao’anzhen, Thiểm Tây] ; thái độ của Trung cộng chuyển biến, lập tức thông báo cho Chu Ân Lai trên đường đi Tây An. Trương Học Lương sau khi gây biến trong lòng hy vọng ; nhưng trong mấy ngày ngoài Nga Xô, Trung Cộng, phản ứng trong nước cũng không tốt. Diêm Tích Sơn, người cùng Trương đồng ý đình chỉ tiễu Cộng, cũng chất vấn “ Làm sao có thể tốt lành về sau ? Có hay không giảm thiểu lực lượng kháng chiến ? Có hay không gây nên cuộc tàn sát cực đoan trong nước ? ” Những lãnh tụ quân nhân địa phương từ trước hay có ý kiến với Tưởng, đối với hành động của Trương cũng chê trách. Quân của Dương Hổ Thành hoàn toàn vô kỷ luật, tướng lãnh quân đông bắc không phải ai cũng cho Trương là đúng ; quân đông bắc trú tại Lạc Dương, cự không nhất trí hành động. Quân trung ương tại Hà Nam cấp tốc chiếm cứ Đồng Quan, quân tại Cam Túc tiến hướng Thiểm Tây, không quân trung ương bay trên bầu trời Tây An giám thị, dư luận rầm rộ đả kích, khiến Trương không khỏi thất vọng, lo âu. Nếu như chống lại thì không khỏi bị tiêu diệt, nội chiến không tránh khỏi, chỉ có Nhật Bản thu lợi. Trương đọc qua nhật ký của Tưởng, phát hiện Tưởng đích xác quyết tâm chống Nhật, rất có lòng ái hộ Trương. Vào ngày 15, đem Tưởng từ phạm vi thế lực của Dương Hổ Thành, đến nơi gần Trương trú ngụ ; Tưởng trình bày rõ kế hoạch kháng Nhật, trách Trương lỗ mãng. Ngày 16, Trương diễn giảng trước thị dân Tây An, chủ trương dưới sự lãnh đạo của Tưởng, các đảng phái thực hành cứu nước.

Vào buổi chiều ngày 16/12, Chu Ân Lai đến Tây An ; Trương Học Lương biết rõ hoàn toàn chủ trương của Trung cộng, Nga Xô. Ngày 17, Chu theo Trương gặp Tưởng, thái độ khiêm cung thành khẩn, trình bày Trung cộng không có ý đồ hại Tưởng ; hy vọng mọi người giải trừ thành kiến, đoàn kết chống địch, ủng hộ Tưởng làm lãnh tụ toàn quốc. Tưởng cẩn thận nghe, nhận thấy phù hợp với sự suy nghĩ trong lòng, bèn đích thân viết công hàm truyền lệnh cho tân Tổng tư lệnh thảo nghịch Hà Ứng Khâm đình chỉ hành động quân sự, trong 2 ngày Tưởng sẽ trở về Nam Kinh. Ngày 19, Trương điện cho ký già Thượng Hải, Luân Đôn rằng Tưởng đã bằng lòng ý kiến của y, đợi người của Nam Kinh tới, Tưởng sẽ trở về. Đại khái Tưởng chỉ đồng ý trên nguyên tắc, đối với cụ thể sự kiện từ chối đàm phán ; bởi vậy Trương muốn mời người thứ ba để thuyết phục thêm. Trung cộng gửi điện kiến nghị quân đội Nam Kinh và Tây An lấy Đồng Quan làm giới hạn ; do các đảng, các phái, các quân đề xuất kháng Nhật cứu nước thảo án, cùng thảo luận cách xử trí đối với Tưởng, lại mở hội nghị hoà bình tại Nam Kinh.

Ngày 20 Tống Tử Văn đến Nam Kinh, Trương Học Lương yêu cầu thực hành một, hai việc trong 8 điều đã nêu, nhưng Tưởng không bằng lòng. Tống Tử Văn dừng lại một hôm, rồi trở lại Nam Kinh. Ngày 22, Tống và Tưởng phu nhân [Tống Mỹ Linh] cùng đến, Phu nhân khuyên Tưởng nên tìm cách rời Tây An rồi nói chuyện khác. Ngày 23, Phu nhân nói với Trương rằng nàng thay mặt Tưởng bảo đảm rằng Tưởng đáp ứng việc cải tổ chính phủ, đình chỉ tiễu Cộng ; Trương và Chu Ân Lai rất mãn ý. Ngày 24, Chu Ân Lai tường thuật cho Tưởng Phu nhân về vấn đề cách mệnh, cùng những sự phiền não của Trung cộng ; cuối cùng nói “ Việc nước như ngày hôm nay, bỏ Uỷ viên trưởng ra, thực không có người thứ hai có thể lãnh đạo ”, “ Chúng tôi không phải không tin lòng cứu quốc chân thành của Uỷ viên trưởng, nhưng chỉ hận rằng không thể cấp tốc mà thôi ” ; Phu nhân bảo rằng Tưởng cũng rõ đại thể. Không ngờ giữa Trương Học Lương và Dương Hổ Thành ý kiến khác nhau ; Trương chủ trương lập tức đưa Tưởng về Nam Kinh, Dương quyết liệt phản đối, đến lúc quyết liệt, Chu Ân Lai ra sức điều giải. Buổi sáng ngày 25, Tưởng và Phu nhân tiếp kiến Chu Ân Lai, Chu một lần nữa hy vọng nội chiến đình chỉ ; Tưởng phu nhân nói rằng “ Trung cộng quả có thành ý phục vụ nhân dân, nên cùng nỗ lực dưới sự lãnh đạo của chính phủ, mới là con đường chính… Quyết không nên tàn sát lẫn nhau, vấn đề nội chính nên giải quyết bằng đường lối chính trị, không nên dùng vũ lực. Đó là chủ trương nhất quán của Uỷ viên trưởng ”. Chiều hôm đó vợ chồng Tưởng rời Tây An bay qua Lạc Dương, ngày hôm sau đến Nam Kinh ; Trương Học Lương đi theo, biểu thị bản thân chịu trách nhiệm mọi việc.

Trương Học Lương đột nhiên theo ra Tưởng đi, kẻ ở tại Tây An cảm thấy kinh hãi. Trương Học Lương bị kết tội, nhưng được đặc xá, bị quản thúc ; quân trung ương chuẩn bị tây tiến, Dương Hỗ Thành và tướng lãnh đông bắc bị chỉ trích là bội phản. Trung cộng lo rằng Tây An và Nam Kinh gây nên sự xâu xé, làm vỡ lỡ công trình sắp thành công, nên ngày 8/1/1937 thông điện hiệu triệu hoà bình, đình chỉ nội chiến. Đám quân nhân trẻ tại đông bắc, do việc Trương Học Lương không trở về Tây An, đâm ra giận dữ tướng lãnh cao cấp. Ngày 2/2 giết Quân trưởng Vương Dĩ Triết ; rồi cuối cùng bị dẹp ; quân trung ương vào đóng tại Tây An, quân đông bắc được điều ra khỏi tỉnh Thiểm Tây, Dương Hổ Thành bị triệt chức ; tập đoàn Trương, Dương giải thể. Trung cộng chân chính hưởng lợi, không chỉ chuyển nguy thành an, lại còn khuếch trương rộng địa bàn, chính quyền trung ương Trung cộng từ Bảo An dời đến Diên An, thời đại Mao Trạch Đông bắt đầu ; nhưng cái lợi chung lớn nhất là chiến tuyến thống nhất kháng Nhật biến thành sự thực.

Sau đây là những lời bình về biến cố Tây An của những yếu nhân đương thời :

– Tưởng Giới Thạch trong Tây An bán nguyệt ký viết “ Cuộc biến này gây đình đốn tổn thất lớn cho quá trình cách mệnh của chúng ta ; công trình tiễu Cộng trong 8 năm có kế hoạch trong vòng 2 tuần đến 1 tháng khuếch trương lớn, đi đến chỗ huỷ bỏ trong một sớm. Còn về việc quốc phòng, giao thông, kiến thiết kinh tế ; mấy năm trời kinh doanh tâm huyết, đã bắt đầu có quy mô, qua cuộc phản loạn này, tổn thất khó kể ra hết. Muốn cho địa phương có trật tự, kinh tế tín dụng khôi phục như cũ không phải trong thời gian ngắn ngủi mà làm được. Xét ra trình độ kiến quốc, tụt hậu đến 3 năm, thật đáng đau buồn ! ”

– Trương Học Lương vào cuối đời [năm 1992, 92 tuổi] tại Hawaii, nhân Giáo sư sử học Đào Đức Cương làm cuộc phỏng vấn, in trong Trương Học Lương thế kỷ truyền kỳ phát biểu như sau “…Còn việc các anh hỏi tôi tại sao làm cuộc biến Tây An, tôi có thể nói như vầy; tôi tin rằng Trung Quốc nhất định phải được thống nhất, cần cầm súng chống ngoại xâm, không chống nội bộ. Đó là niềm tin nhất quán của tôi, kể từ khi tự nguyện đổi cờ 6, đến sự biến Tân An đều chung một niềm tin như vậy. Không thể nói được có hối hận hay không hối hận ! ”

– Chu Ân Lai phát biểu “ Lịch sử có sự phán xét công bình, cuộc biến Tây An do tự Tưởng Giới Thạch bức bách thành.”

– Hồ Thích, học giả đương thời nhận xét “ Trung Quốc hình thành một lãnh tụ không dễ, nếu như Tưởng Giới Thạch gặp bất hạnh, Trung Quốc thụt lùi 20 năm ”. Có thể minh xác sự biến tại Tây An “ Trên danh nghĩa Trương Học Lương chống địch, nhưng thực chất là phá hoại bức trường thành ”, đúng là “ Tội phạm của dân tộc ”. Lại bảo “ Không có sự biến Tân An, đảng Cộng sản bị tiêu diệt mau chóng… Sự biến tại Tây An là tổn thất cho quốc gia, không có cách gì bổ cứu ! ”

4. Quốc Cộng hợp tác lần thứ hai

Vào ngày 14/12, sau khi Trung cộng nhận được điện của Stalin, đối với việc khôi phục tự do của Tưởng thì không có ý khác, duy chỉ muốn chiếm nhiều lợi ; chủ trương triệu tập hội nghị hoà bình thảo luận cách xử sự với Tưởng, không muốn Tưởng được rời Tây An ngay. Nhưng lúc nào thả, thì do Trương Học Lương quyết định. Ngày 26, Mao được tin Trương theo Tưởng bay về Nam Kinh thì trong lòng kinh hãi không thua gì Dương Hổ Thành và đám quân nhân trẻ đông bắc ; cho rằng Trương đã đầu hàng Tưởng, đem sự biến đổ trách nhiệm cho Trung cộng, Tưởng sẽ mang quân báo thù. Mao bèn ra lệnh Chu Ân Lai ra sức gây cảm tình với Tưởng, thuyết minh Tưởng được an toàn thoát hiểm, do sức Trung cộng. Rồi biết được sau khi trở về Nam Kinh, Tưởng nói rằng qua sự thuyết phục, Trương Học Lương, Dương Hổ Thành hối hận tỉnh ngộ ; Mao lại thêm nghi ngờ lo lắng. Ngày 28, Mao tuyên bố rằng lời Tưởng hàm hồ, duy đáng tán dương ở chỗ “ Ông ta [Tưởng] nói một đoạn về ‘Ngôn tất tín, hành tất quả’ 7; ý tứ cho rằng khi ông ta tại Tây An đề xuất điều kiện với Trương, Dương, tuy không viết lên giấy và ký tên ; nhưng vẫn nguyện thu nạp những điều có lợi cho quốc gia dân tộc, chứ không phải vì không ký tên mà không thủ tín ”. Lại nói rầng “ Sở dĩ ông ta được an nhiên ra khỏi Tây An….do sự điều đình của Cộng sản có ảnh hưởng ; sự việc từ nay trở về sau do ông ta có thực hành đúng theo lời hứa hay không ”. Bắc phương cục của Trung cộng cũng phát biểu “ Tuyên ngôn về việc giải quyết hoà bình trong sự biến Tây An ” nội dung cho rằng sự biến không phải do Trung cộng gây ra, tiếp đến hô hào nhân dân toàn nước yêu cầu chính phủ Nam Kinh từ bỏ chính sách tiễu Cộng. Những sự kiện nêu trên, nguyên nhân do tâm lý lãnh tụ Trung cộng sợ Tưởng Giới Thạch tiếp tục tiễu Cộng.

Trong vòng 3 năm trở lại, danh vọng của Tưởng Giới Thạch lên cao hơn hẳn thời kỳ bắc phạt. Học giả Hồ Thích, một người từng có những lời phê bình bất mãn với Quốc dân đảng và Tưởng Giới Thạch, vào tháng 8/1935 nói rằng Tưởng có tư cách lãnh tụ “ Gần đây [Tưởng] khí độ lớn hơn, tỏ ra hoà bình hơn… Con mắt và tấm lòng nhân dân toàn quốc đều hiểu rằng chỉ một mình ông vùi đầu, khổ sở gánh vác, không từ lao khổ, không từ oán báng ; lại có thể dung nạp những yêu cầu khác với mình, tôn trọng giải pháp của kẻ khác. Tưởng tiên sinh được toàn quốc công nhận là một lãnh tụ, đó là sự thực, nhân vì trong nước không có ai cạnh tranh địa vị lãnh tụ của ông ”. Sự biến Tây An phát sinh, cả nước kinh hoàng ; đến khi Tưởng thoát được trở về, tiếng hoan hô rầm rộ. Với thanh vọng của Tưởng đương thời, cùng được nhân dân ủng hộ, có khả năng lớn trong việc dùng binh với Trung cộng ; nhưng Tưởng không làm việc đó, nguyên nhân lớn vì biết rằng chiến tranh với Nhật không thể tránh được, cần đoàn kết nội bộ và tìm ngoại viện. Qua cuộc biến Tây An, Tưởng tin rằng Nga Xô có lòng thành chi viện Tưởng đánh Nhật, nên cần liên lạc, đối với Nhật không chịu thoái nhượng thêm. Liên kết tốt với Nga Xô, tất phải hoà giải với Trung cộng ; tình hình tương tự với việc trước kia Quốc dân đảng liên Nga dung Cộng lần thứ nhất. Ngày 5/1/1937, chính phủ bắt đầu triệt bỏ Tổng tư lệnh tiễu phỉ đông bắc.

Ngày 10/2/1937, Trung cộng gửi điện cho Quốc dân đảng, mừng sự biến Tây An đã được giải quyết, cùng quốc nội đi đến thống nhất, hy vọng dùng 5 điều sau đây làm quốc sách : Thứ nhất, đình chỉ mọi nội chiến, tập trung quốc lực, nhất trí đối ngoại. Thứ hai, tự do ngôn luận, hội họp, lập hội, phóng thích chính trị phạm. Thứ ba, triệu tập các đảng, các phái, các giới hội nghị, tập trung nhân tài cộng đồng nỗ lực cứu quốc. Thứ tư, cấp tốc hoàn thành đối Nhật chuẩn bị kháng chiến. Thứ năm, cải thiện sinh hoạt của dân. Đồng thời đề xuất 4 điều bảo đảm : Một, đình chỉ vũ trang bạo động lật đổ Quốc dân chính phủ. Hai, chính phủ Xô Viết cải tên thành chính phủ Trung Hoa dân quốc đặc khu, Hồng quân cải tên thành Quân dân cách mệnh quân ; trực tiếp chịu sự chỉ đạo của chính phủ Nam Kinh, cùng Quân sự uỷ viên hội. Ba, tại đặc khu thực hiện chế độ phổ thông đầu phiếu. Bốn, đình chỉ chính sách tịch thu ruộng đất, chấp hành cộng đồng chiến tuyến kháng Nhật. Ngày 12/2, Tưởng tuyên bố khai phóng ngôn luận, tập trung nhân tài, tha chính trị phạm ; đó là một bộ phận đáp ứng Trung cộng ; cùng ra lệnh Trương Xung đến Tây An tiếp tục thương lượng với Chu Ân Lai. Ngày 3/3, Vương Sủng Huệ thay Trương Quần làm Bộ trưởng ngoại giao, tức bài trừ phần tử thân Nhật, biểu thị thuận tiện liên lạc với Anh, Mỹ, Nga.

Đảng viên trung ương Trung cộng coi điện báo ngày 10/2 giống như đầu hàng Quốc dân đảng, tỏ ra rất phẫn khích ; nên ngày 15/2 giải thích rõ thêm rằng : Quyết sách này mục đích nhắm thủ tiêu trong nước có 2 chính quyền đối lập, nhắm tiện tổ chức thành chiến tuyến dân tộc thống nhất kháng Nhật, cấp tốc thực hiện đối Nhật kháng chiến ; chế độ Xô Viết tuy thủ tiêu, nhưng không buông bỏ quyền lợi chính trị của công nhân và nông dân ; Hồng quân tuy đổi tên nhưng không bỏ sự lãnh đạo chính trị và tổ chức ; đình chỉ tịch thu đất đai, nhưng không khôi phục bóc lột đất đai tại khu Xô Viết. Đối với cái gọi là “ Trung cộng dâng hiến lòng thành ”, “ Tuyệt gốc hoạ Cộng sản ”, trên bình diện tình cảm Trung cộng không kham được. Mao Trạch Đông cũng nhận thấy rằng Quốc dân đảng cao ngạo tự đại, khinh rẻ người ; nhưng muốn Hồng quân sinh tồn trước hết phải đình chỉ tiễu cộng. Hơn nữa quân đông bắc và quân Dương Hổ Thành không phản kháng, quân trung ương đã vào Tây An ; nên chỉ có cách nhẫn nại, không kể đến danh, chỉ mong thực tế yên ổn để đợi thời cơ. Ngày 12/3, Trung cộng chính thức tiếp thụ Quốc dân đảng quyết nghị “ Tuyệt gốc hoạ Cộng sản ”. Nhưng ngày 15/4 Trung cộng ban bố “ Thư gửi các đồng chí toàn đảng vì củng cố hoà bình trong nước, tranh thủ quyền lực dân chủ, thực hiện đấu tranh đối Nhật kháng chiến ” bảo rằng “ 4 điều bảo đảm ” không có nghĩa rằng Trung cộng đầu hàng Quốc dân đảng, chỉ là sự nhượng bộ để thoả hiệp. Bằng cách này có cơ hội hoạt động công khai trên toàn quốc, khuếch đại ảnh hưởng chính trị và tổ chức lực lượng của đảng Cộng sản, thực hiện thống nhất chiến tuyến kháng Nhật; quyết không phải thủ tiêu hoặc hạ thấp tính độc lập và phê phán của đảng Cộng sản, cũng không bỏ sự lãnh đạo của lực lượng cách mệnh. Đảng viên Trung cộng cần phải giữ nguyên tắc bí mật của đảng, cùng kỷ luật sắt, nỗ lực khuếch đại và củng cố nội bộ, kiến lập cơ sở kiên cố nghiêm túc, khiến Trung quốc Cộng sản đảng chiếm được địa vị lãnh đạo cách mệnh dân tộc. Những điều nêu trên có thể giải thích rõ động cơ và chính sách từ nay trở về sau của Trung cộng đối với Quốc dân đảng.

Mao Trạch Đông đối với sự tính toán thực của Tưởng, chỉ dò dẫm nhưng không biết rõ ràng ; Tưởng có thể thi hành kháng Nhật, mà cũng có thể đàn áp Trung cộng. Nếu như chiến tranh với Nhật nhất thời chưa xảy ra, Tưởng có thể điều Hồng quân đi nơi khác, thủ tiêu Hồng quân và khu Xô Viết tại bắc Thiểm Tây ; bởi vậy cần kiên định Hồng quân phải ở lại đặc khu, nhân viên đặc khu do Trung cộng bảo quản, kéo dài cho đến lúc chiến tranh chống Nhật, thì mới có lợi cho Trung cộng. Ngày 3/5, Trung cộng triệu tập đại hội đại biểu khu Xô Viết, thông qua báo cáo của Mao Trạch Đông “ Nhiệm vụ Trung Quốc kháng Nhật thống nhất chiến tuyến trong giai đoạn trước mắt ” cùng với “ 4 điều bảo đảm ” Trung cộng đã nêu lên, rồi do Chu Ân Lai cùng Quốc dân đảng bàn chi tiết về vấn đề cải sửa biên chế Hồng quân ; nhưng cuộc bàn chưa xong thì chiến tranh Trung Nhật bạo phát toàn diện.

1 Bảo chướng 保障 : có nghĩa là bảo hộ [quyền lợi, sinh mệnh, tài sản, dân quyền] không bị xâm hại.

2 Quan môn chủ nghĩa : Chủ nghĩa đóng cửa, từ ngữ Trung cộng dùng để chỉ sự thiên lệch, cự tuyệt một số người có đủ phẩm chất điều kiện gia nhập đảng.

3 Bạch quân : đây chỉ các lực lượng vũ trang không Cộng sản tại Trung Quốc.

4 Binh gián : dùng biện pháp quân sự để can gián.

5 Cung Hoa Thanh : một trong những cung nổi tiếng tại kinh thành Trường An xưa, nay thuộc Tây An, trong cung có ao Hoa Thanh nước ấm bốn mùa. Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi từng ngự tại cung này ; riêng Dương Quý Phi từng tắm tại ao Hoa Thanh, câu chuyện được mô tả trong Trường hận ca của Bạch Cư Dị.

6 Năm Trương Học Lương 28 tuổi, cha chết lên nắm quyền, bèn tự nguyện đưa quân phiệt Phụng hệ trở về với chính phủ trung ương, nhân đổi cờ Phụng hệ sang cờ Dân quốc.

7 Ngôn tất tín, hành tất quả : giữ lời thủ tín thì việc làm có kết quả.

 

Chương 3 : Điểm qua những tiến bộ của chính phủ Nam Kinh trong 7 năm đầu 1930 [1930-1937]

4

1. Tưởng Giới Thạch thành công trong việc thống nhất

Sau cuộc biến Cửu Nhất Bát [18/9/1931], chính sách trị an nội địa của Tưởng, trước tiên mưu cầu cho nội bộ Quốc dân đảng nhất trí. Tưởng từ chức, chủ yếu muốn chính phủ Nam Kinh và Quảng Châu [Guangzhou, Quảng Đông] đoàn kết. Trong kế hoạch tổng quát về kháng Nhật đề ra vào tháng 2/1931, đặc biệt chú trọng về kinh doanh tại hậu phương. Sau cuộc tiễu Cộng tại 3 tỉnh Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy kết thúc ; bèn mệnh quân bản bộ dưới quyền Hồ Tông Nam, di chuyển sang tỉnh Cam Túc, kiến trúc đường sá, chuẩn bị lúc khai chiến với Nhật sẽ dời chính phủ sang tây bắc. Sau cuộc vây tiễu lần thứ 5 hoàn thành, tháng 10/1934 chỉnh đốn hành chính, xúc tiến kiến thiết ; rồi đại quân đến Tứ Xuyên, lập hành doanh tại Trùng Khánh [Chongqing], điều khiển quân chính miền tây nam, quyền lực trung ương khuếch trương đến 3 tỉnh vùng này. Đây là sự kiện từ 20 năm nay chưa xẩy ra, cải định Tứ Xuyên thành căn cứ địa chống Nhật trong tương lai. Tháng 4/1936 Tưởng lại đến quan sát chỉ đạo tại Thành Đô [Chengdu, Tứ Xuyên], Côn Minh [Kunming, Vân Nam], Quý Dương [Guiyang, Quí Châu] ; lập phân hiệu trường huấn luyện quan quân trung ương tại Thành Đô, nhận thức rằng Tứ Xuyên là căn cứ địa thiên nhiên của quốc gia.

Đối với nhà đương cục hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Tưởng khuyên hợp tác, khẩn mời Hồ Hán Dân lên Nam Kinh. Tháng 11/1935, hội nghị toàn thể ban chấp hành trung ương Quốc dân đảng, cùng Đại biểu đại hội lần thứ 5, Hồ Hán Dân được suy cử Chủ tịch uỷ viên thường vụ hội, Uông Triệu Minh làm Chủ tịch trung ương chính trị hội, Tưởng Giới Thạch làm Phó chủ tịch hai hội trên ; mặt nổi 3 nhân vật đứng đầu Quốc dân đảng ra vẻ đoàn kết. Rồi Uông thụ thương vì bị đâm 1, Hồ tuy hứa vào kinh nhưng chậm đến ; việc trung ương do một mình Tưởng chủ trí.

Lãnh tụ quân sự Lưỡng Quảng, Trần Tế Đường, Lý Tông Nhân, Bạch Sùng Hy thành kiến đối với Tưởng cũng chưa rửa hết ; người Nhật lại tìm cách xui dục. Tháng 5/1936, Hồ Hán Dân bệnh mất ; tình huống tại Quảng Châu thình lình sinh biến ; Trần Tế Đường lấy danh nghĩa chống Nhật, mang quân sang Hồ Nam. Tưởng một mặt kêu gọi muốn cứu nước phải tập trung quốc lực, không thể khinh suất tranh chấp nội bộ ; một mặt điều quân đến Hồ Nam để phòng bị, đóng trước tại Hoành Châu [Hengzhou] ; quân Quảng Đông, Quảng Tây bèn rút. Tưởng thanh minh quán triệt chính sách hoà bình thống nhất, nguyện thành khẩn thương thảo. Trần Tế Đường mang quân lên phía bắc hết sức mất nhân tâm, các đảng viên Quốc dân đảng lâu năm phản đối, Tướng lãnh cao cấp như Dư Hán Mưu, Lý Hán Hồn đều ủng hộ trung ương ; tháng 7, Trần bị ép ra ngoại quốc.

Lưỡng Quảng được yên, trung ương chỉ định Lý Tông Nhân, Bạch Sùng Hy làm làm chánh, phó Chủ nhiệm tuy tĩnh Quảng Tây. Rồi lại điều đi ; khiến Lý, Bạch chống mệnh không nhận chức. Tưởng đích thân đến Quảng Châu và dàn binh tại biên giới Quảng Tây ; cùng sai Trần Thành đến gặp Lý, Bạch, trình bày quyết tâm và kế hoạch kháng Nhật, đồng ý cho lưu lại Quảng Tây. Tháng 9, mọi việc kết thúc trong hoà bình ; càng biểu hiện tinh thần nhẫn nhịn vì nước.

Sau khi mất Đông Tam Tỉnh 2, Nhiệt Hà [Chengde], chính phủ Nam Kinh trên danh nghĩa có 24 tỉnh ; trong đó 14 tỉnh ở thế bán tự chủ, 7 tỉnh bị Hồng quân chiếm một phần. Sau khi Hồng quân chạy sang phía tây, thế lực trung ương vươn ra đến vùng tây nam ; thu hoạch lớn ngoài sự mong ước. Đến lúc này ngoại trừ Đông Tam Tỉnh và Nhiệt Hà, một phần tỉnh Hà Bắc và Sát Cáp Nhĩ [Chahar youyi] bị Nhật chiếm ; một phần Tân Cương bị Nga Xô khống chế ; một bộ phận tại miền bắc tỉnh Thiểm Tây và phía đông Cam Túc thuộc Trung Cộng ; kỳ dư phần còn lại đều chịu mệnh lệnh của chính phủ trung ương.

2. Tiến bộ về quốc phòng và kiến thiết

Sau bắc phạt 6 năm, việc làm của Quốc dân chính phủ phần lớn bị người chê trách, nhưng chính phủ không phải không để ý đến việc kiến thiết quốc gia. Năm 1934, việc tiễu cộng tại vùng hạ lưu sông Trường Giang kết thúc một giai đoạn, lại càng ra sức thi thố, nên những lãnh vực quân sự, tài chính, kinh tế, giao thông, giáo dục, học thuật thu hoạch được thành tựu tương đối. Từ năm 1927, Quốc dân chính phủ không dùng Cố vấn Nga Xô, chuyển sang thu dùng Cố vấn Đức. Đầu tiên vào năm 1928, Thượng tá Max Bauer được mời làm Cố vấn trưởng với Cố vấn đoàn 40 người ; từng tham dự cuộc chiến giữa quân chính phủ trung ương và quân Quảng Tây vào năm 1929. Chẳng bao lâu Max Bauer bị bệnh mất, Tướng quân Georg Wetzell kế nhiệm, từng tham dự cuộc chiến trung nguyên với Diêm Tích Sơn và Phùng Ngọc Tường ; từ đó Cố vấn đoàn công tác được triển khai mạnh. Tháng 1/1933, cựu Bộ trưởng quốc phòng Đức, Tát Khắc Đức [Hans von Seekt], được mời đến, lưu lại trong 2 tháng ; khuyên Tưởng lập một đạo lục quân hiện đại, trước tiên lập đoàn Cố vấn, lần lượt huấn luyện quan quân, cùng thiết lập công nghiệp quốc phòng. Cùng năm, đoàn huấn luyện mở tại Lô Sơn [Lushan, Giang Tây], trước sau huấn luyện 7.500 quan quân ; Cố vấn đoàn có hơn 100 người ; chiến lược, chiến thuật tiễu Cộng cải tiến rất nhiều. Tháng 3/1934, Tát Khắc Đức lại đến, chính thức giữ chức Cố vấn trưởng, nửa năm sau trở về nước. Người kế nhiệm là Fabul, sau đó là Alexander von Falkenhausen. Alexander von Falkenhausen tại Trung Quốc 4 năm, là người có ảnh hưởng rất lớn trong kế hoạch 5 năm quốc phòng ; như thống nhất biên chế lục quân, thi hành luyện binh tinh nhuệ, tăng gia không quân, tạm hoãn hải quân, xây đường sắt phía nam sông Trường Giang, thông Nam Kinh với các tỉnh tây nam, xây dựng pháo đài, cửa ải tại các yếu điểm dọc sông, biển. Tháng 3/1935, lập Chỉnh lý xứ lục quân tại Vũ Xương [Wugang, Hồ Bắc], Trần Thành giữ chức Xứ trưởng ; mỗi năm chỉnh đốn 20 sư đoàn, trong 3 năm chỉnh đốn xong 60 sư đoàn ; định năm 1938 hoàn chỉnh các binh chủng đặc biệt, cơ giới hoá quân đội. Chế tạo binh khí cùng cải lương bổ sung các loại súng cá nhân, súng máy, bích kích pháo, tạc đạn. Về công sự quốc phòng xây dựng nhiều tại Hoa bắc, Hoa đông, Hoa nam ; đặc biệt chú trọng vùng phụ cận Nam Kinh, cùng các xứ như Tô Châu [Suzhou, Giang Tô], Vô Tích [Woxi, Giang Tô], Giang Âm [Jianyin, Giang Tô].

Về không quân, vào năm 1928 phụ thiết lập đội hàng không vào Trung Quốc quân quan học hiệu ; năm 1931 thành lập hàng không học hiệu. Năm 1933 tích cực phát triển, đặt hàng không uỷ viên hội phụ trách tổng quát, dùng Cố vấn Ý ; đưa học sinh sang Ý, Mỹ thụ huấn. Năm 1934, mở xưởng chế tạo phi cơ, năm 1936 lập trường không quân cơ giới. Đến năm 1937, tổng kết có hơn 600 máy bay, phần lớn mua từ Mỹ hoặc Ý ; trong nước chia thành 6 quân khu.

Tháng 7/1928, Uỷ hội tài chính toàn quốc hoạch định quan thuế ; các loại thuế bông vải, bột mì, thuốc lá, rượu, thuế thi hành qua tem phiếu [Stamp Duty], do trung ương phụ trách ; thuế doanh nghiệp, ruộng đất, thuế chấp chiếu [tax on licenses] do các tỉnh đảm trách. Bắt đầu từ tháng 1/1931, bỏ thuế ly kim 3, tăng thuế hải quan. Trước kia thuế khoản hải quan do ngân hàng ngoại quốc nắm giữ ; kể từ năm 1932 tập trung vào ngân hàng Trung Quốc. Nhân viên quan thuế cải dùng người Hoa, về ngành muối cũng giảm bớt nhân viên ngoại quốc. Tổng thu nhập năm 1929 là 33.000 vạn nguyên, đến năm 1937 tăng đến hơn 87.000 vạn nguyên. Nhưng thu, chi không quân bình, số bội chi năm 1929 là 10.000 vạn nguyên, năm 1937 hơn 30.000 vạn nguyên ; toàn dựa vào công trái, khố khoán 4, tiền mượn, để bù vào. Quân phí chi rất lớn, thường chiếm vào nửa phần hoặc quá nửa tiền thu nhập.

Trước kia bạc lượng và đồng nguyên bạc cùng lưu hành song song, tháng 4/1933 bỏ bạc lượng, chỉ dùng nguyên bạc ; mọi giao dịch đều dùng đồng nguyên bạc mới đúc, khiến tiền tệ thống nhất. Rồi nước Mỹ thu mua bạc, giá bạc tăng trên trường quốc tế, khiến nguyên bạc Trung Quốc lưu hành ra ngoài. Hậu quả trong nước thiếu nguyên bạc, ngân hàng gặp khó khăn, sản phẩm bị hạ giá. Chính phủ theo lời kiến nghị của nhà tài chính người Anh, Leith-Ross, tháng 11/1935 thực hành cải cách tiền tệ, biến ngân bản vị thành hối đoái bản vị, liên hệ với đồng Mỹ kim và đồng Bảng Anh ; cấm lưu hành nguyên bạc ; định 3 ngân hàng Trung Ương, Trung Quốc, Giao Thông phát hành “ Pháp tệ ” 5 mà thôi. Trung Ương ngân hàng thu mua nguyên bạc, nắm giữ được 800 triệu nguyên ; giải pháp này được dân ủng hộ và nước Anh chi trì, Nhật Bản dùng nhiều cách phá hoại, nhưng vẫn thi hành thuận lợi.

Năm 1929, chính phủ đặt phương án kiến thiết kinh tế, chú trọng công nghiệp ; đến năm 1932 tích cực thi hành. Trên nguyên tắc, chính phủ trung ương phụ trách công nghiệp nặng, công nghiệp hoá học, khoáng sản ; riêng các bộ môn khác giao địa phương cùng tư nhân hợp doanh ; công nghiệp nhẹ do tư nhân kinh doanh, chính phủ chỉ giúp đỡ và tưởng lệ. Từ đó buôn bán với nước ngoài, nhập siêu giảm. Năm 1936 tơ lụa sa nhập khẩu so với năm 1928, giảm 38 %, sợi vải bố nhập khẩu giảm 20 %, bột mì nhập khẩu giảm xuống 15 %. Cố nhiên điều này còn do ngoại quốc tăng gia lập xưởng, nhưng sản lượng của các xưởng người Hoa gia tăng, cũng là nguyên nhân. Cùng các năm trên, số sắt thép nhập khẩu tăng lên 20 % ; một mặt có thể chứng minh rằng công nghiệp nặng của Trung Quốc còn lạc hậu, mặt khác chứng minh công nghiệp của Trung Quốc trên đà phát triển, nên cần nhiều sắt thép. So sánh năm 1936 với năm 1933, việc sử dụng cơ khí để khai thác than đá tăng 10 %, cùng năm sản lượng gang sắt tăng 32 %, số thép luyện được tăng cao 30 %.

Việc cải cách về nông nghiệp, bắt đầu vào năm 1933 cũng tỏ ra tích cực. Chính phủ đặc cách thiết lập Nông thôn phục hưng uỷ viên hội, Trung ương nông nghiệp thí nghiệm sở, Cải tiến sở lúa toàn quốc, Cải tiến sở sản xuất bông. Năm 1934 thành lập hợp tác xã, giúp cho nông dân vay vốn phát triển sinh sản. Nông bản cục thành lập năm 1936, giúp điều hoà sản xuất nông nghiệp, xúc tiến vận chuyển tiêu thụ. Trong vòng mấy năm sản lượng gia tăng, tiểu mạch và bông vải có thể tự túc tự cấp, số lúa gạo nhập cảng giảm nhanh. Ngoài ra có những kẻ sĩ có tâm huyết, nỗ lực cải lương hương thôn, giải trừ thống khổ cho dân ; như An Dương Sơ soạn sách học với 1.000 chữ để giúp dân thoát nạn mù chữ nhanh, lãnh đạo bình dân học vụ tại huyện Định [Dingzhou], tỉnh Hà Bắc; hoặc Lương Nộn Minh lãnh đạo dân huyện Trâu Bình [Zouping] tỉnh Sơn Đông kiến thiết tự trị ; ngoài ra những người trong giáo hội cũng ra sức làm những công tác như vậy, tạo thành một phong trào tương đối rộng rãi.

Trước năm 1931, tổng số đường sắt tại Trung Quốc là 11.000 km, 92 % do người ngoại quốc kinh doanh ; người trong nước chỉ làm được khoảng 1.000 km. Từ năm 1933 đến 1937, ngoại trừ Đông Tam Tỉnh do Nhật chiếm ; đã kiến thiết được 3.300 km đường sắt, do người Trung Quốc tự làm. Liên tiếp các tuyến đường sắt Hổ Hàng [Thượng Hải – Hàng Châu], Việt Hán [Quảng Đông – Hán Khẩu] hoàn thành năm 1936, tạo thành tuyến đường từ Thượng Hải, qua Chiết Giang, Nam Kinh, Giang Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam đến Quảng Châu [Guangzhou, Quảng Đông]. Tuyến đường ngang Lũng-Hải [Cam Túc, Giang Tô] vượt quá Đồng Quan [Tongguan, Thiểm Tây], năm 1937 thông đến Bảo Kê [Baoji, Thiểm Tây].

Công lộ tiến triển lại càng nhanh, năm 1937 hoàn thành 110 ngàn km, phần lớn tại phía nam sông Hoàng Hà. Về tây nam, từ Nam Kinh đến Vân Nam, về tây bắc từ Hán Khẩu [Hankou, Hồ Bắc] đến Tân Cương, xe hơi có thể đến nơi. Số thuyền máy, năm 1928 Trung Quốc chế tạo được 29 vạn tấn, năm 1935 tăng lên 67 vạn tấn. Hàng không dân dụng, Trung, Mỹ hợp tác lập công ty hàng không Trung Quốc; đến năm 1931, Trung, Đức hợp tác lập công ty hàng không Âu Á ; rồi đến năm 1933 lập công ty hàng không tây nam ; đường bay qua các vùng Thượng Hải, Nam Kinh, Hán Khẩu, Quảng Châu, Tây An [Xian, Thiểm Tây], Lan Châu [Lanzhou, Cam Túc], Trùng Khánh [Chongquing, Tứ Xuyên], Thành Đô [Chengdu, Tứ Xuyên], Phúc Châu [Fuzhou, Phúc Kiến], cùng các tỉnh Vân Nam, Tân Cương.

Về giáo dục, từ sau năm 1928, số học sinh tiểu học, trung học gia tăng ; năm 1929 có 17 % số trẻ em thuộc tuổi đi học đến trường, năm 1936 tăng đến 43 % ; học sinh trung học tăng 60 % ; thầy giáo đào tạo đúng quy định. Trừ một vài nơi xa xôi, các tỉnh đều có trường Đại học, trường chuyên nghiệp công lập, tư thục và của giáo hội ; năm 1929 có hơn 3 vạn sinh viên, năm 1936 tăng đến 6 vạn ; các Giáo sư phần nhiều tốt nghiệp tại Mỹ. Sau năm 1932, kinh phí giáo dục không thiếu, nên sinh hoạt của Giáo sư ổn định. Các tổ chức Trung Hoa giáo dục văn hoá cơ kim hội, Trung Anh Canh Tý bồi khoản uỷ viên hội không ngừng hỗ trợ thiết bị cho đại học, nên phong cách nghiên cứu ngày một thịnh, trình độ học thuật được đề cao. Các đại học công lập nổi tiếng như Bắc Kinh đại học, Thanh Hoa đại học tại Bắc Bình, Trung Ương đại học tại Nam Kinh ; về tư thục có Nam Khai đại học tại Thiên Tân, Yên Kinh đại học tại Bắc Bình. Viện nghiên cứu trung ương, sở địa chất điều tra là những trung tâm nghiên cứu, cống hiến nhiều cho học thuật. Có thể nói thời gian 5 năm cho đến năm 1937 là giai đoạn hoàng kim về giáo dục học thuật của chính phủ dân quốc.

(Tham khảo từ : Cận Đại Trung Quốc Sử Cương, Quách Đình Dĩ ; Xô Nga Tại Trung Quốc, Tưởng Trung Chính ; Trương Học Lương Thế Kỷ Truyền Kỳ, Vương Thư Quân; Wikipedia Anh văn, Trung văn ; Bản đồ Google)

1 Vào ngày 1/11 khai mạc ban Chấp hành trung ương Quốc dân đảng, Uông Triệu Minh bị đâm, sau đó ra ngoại quốc.

2 Đông Tam Tỉnh : ba tỉnh phía đông bắc Trung Quốc, tức Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh.

3 Ly kim : một loại thuế phụ thu thêm, ngoài chính thuế.

4 Khố khoán : dùng tài sản quốc gia bảo đảm, để ngân khố phát hành tiền.

5 Pháp tệ : tiền tệ quy định bởi pháp luật.

part1o

Nguồn bài đăng

 

One thought on “Lịch sử Trung Quốc cận đại: Quốc Cộng đại chiến rồi hoà giải

  1. Tác giả chưa xét tới thuở đầu thành lập của Quốc Dân Đảng. Tại sao có Quốc Dân Đảng ? chẳng phải là do Liên Xô viện trợ cho thành lập sao? ngay cả Tưởng cũng là học ở trường quân sự phương đông matxcova hay sao? tiền bạc mua súng ống hay mở trường quân sự Hoàng Phố đều do Liên Xô tài trợ cả. Sau này sau khi tiêu diệt các sứ quân miền Bắc, thực lực mạnh lên Tưởng mới ly khai Liên Xô, nhận viện trợ các nước tư bản phương Tây, tiêu diệt các đảng viên Cộng Sản, như vậy Tưởng mới là kẻ lật lọng đầu tiên.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s