Cộng đồng thương nhân Trung Quốc đầu tiên ở Đông Nam Á trong thế kỉ XV

junk-ship-sail-boats

“Chinese Junk”, by Adolf Bock

Tác giả: Pin-tsun Chang

Nguyễn Quốc Vương dịch

Dẫn Nhập 

Theo ước đoán năm 1960 tộc người Hoa ở Đông Nam Á vào khoảng 12 triệu người[1]. Phần lớn những người Trung Quốc này di cư đến Đông Nam vào khoảng giữa năm 1880 và 1930, khi các công ty châu Âu ở đó đòi hỏi thêm lao động và chính phủ thực dân châu Âu thi hành chính sách nhập cư tự do. Bất chấp dòng chảy đột ngột của họ vào các thị trường địa phương, người Trung Quốc vẫn nổi trội và quan trọng hàng đầu ở Đông Nam Á bởi ưu thế của họ trong lĩnh vực thương mại. Từ buôn bán nhỏ lẻ địa phương tới thương mại quốc tế, người Trung Quốc là những người năng động nhất trong số các dân tộc ở Đông Nam Á.

Trên thực tế, người Trung Quốc đã từng hoạt động tích cực trong lĩnh vực kinh tế biển của Đông Nam Á trong nhiều thế kỉ. Năm 1511 người Bồ Đào Nha chiếm đóng Malacca, nơi họ tìm thấy 5 chiếc thuyền buôn của người Trung Quốc[2]. Năm 1571 khi người Tây Ban Nha chộp lấy Manila, họ đã gặp 150 thương nhân Trung Quốc cư trú ở đó[3]. Năm 1619  khi người Hà Lan chiếm Batavia, ở đó đã có hẳn một cộng đồng người Trung Quốc với quy mô ấn tượng, chủ yếu bao gồm các thương nhân và thợ thủ công[4]. Bất cứ chỗ nào khi người châu Âu tới Đông Nam Á họ đều gặp người Trung Quốc, nhiều người trong số họ đã hiển nhiên định cư ở đó một thời gian dài trước khi người châu Âu đến. Đã có sự hưng thịnh của thương nhân Trung Quốc trước khi Đông Nam Á có mối liên hệ với người châu Âu và điều đó sẽ được nhấn mạnh ở đây.

Phần đầu của bài báo này sẽ tóm tắt các “sự thực” phần lớn là dựa theo nguồn tư liệu tiếng Trung, phần thứ hai sẽ bàn về  các nhân tố có thể đã tạo ra cộng đồng thương nhân người Trung Quốc. Về mặt địa lý, sự bàn luận sẽ giới hạn ở các quốc gia biển nằm trên các hòn đảo và các quốc gia Đông Nam Á lục địa. Tuy nhiên, An Nam sẽ bị loại ra bởi vì quốc gia này đã bị nhà Minh biến thành thuộc địa từ năm 1407 đến năm 1427 và do đó hầu như bản thân nó đã trở thành một phần của Trung Quốc.

Sự nổi lên của cộng đồng  thương nhân Trung Quốc

Cộng đồng thương nhân Trung Quốc nổi lên ở Đông Nam Á lần đầu tiên khi nào? Không thể có câu trả lời chính xác cho câu hỏi này. Các nguồn tư liệu lịch sử ít ỏi và tản mát vì thế nó chỉ đem lại những ý kiến mơ hồ về các hoạt động trên biển của người Trung Quốc trước thế kỉ 15. Người ta tin rằng trong thời kì Nam Tống (1127-1279) và Nguyên (1271-1368) là thời kì hoàng kim của thương mại biển Trung Quốc. Thời kì này chứng kiến  sự tham dự tích cực  vào thương mại biển của cả triều đình Trung Quốc và cá nhân người dân. Ngoại thương nở rộ và kĩ nghệ đi biển đã phát triển đạt tới mức độ tuyệt vời có lẽ là vô địch ở thế giới đương thời. Cho dù có được những thành tựu như vậy nhưng không có sự định cư nào của người Trung Quốc được  ghi lại tồn tại ở Đông Nam Á cho tới thế kỉ 14.

Các ghi chép rời rạc chỉ nói lên rằng  một vài người đã  sống ở Đông Nam Á trong thế kỉ 14. Chou Ta-kuan, người đã ở  Cam-pu-chia trong một năm với tư cách là sứ giả của Trung Quốc đã viết một cuốn sách về những trải nghiệm ở nước ngoài của ông ta trong năm 1310 có liên quan đến  những cuộc hôn nhân của người Trung Quốc với phụ nữ Cam-pu-chia và việc buôn bán của các thương nhân người Trung Quốc ở quốc gia đó[5].  Trong những năm 1340 Ibn Batuta, người đã đi tới Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Quốc nói cho chúng ta biết về các con thuyền của người Trung Quốc rất ấn tượng nhưng không hề ghi chép gì về sự cư trú của những người Trung Quốc ở  Đông Nam Á[6]. Tuy nhiên, Wang Ta-yuan, bạn đồng nghiệp của Ibn Batuta đã để lại cho chúng ta một cuốn sách ở đó ông đã đưa ra những dấu hiệu về sự có mặt của người Trung Quốc ở Cam-pu-chia[7].  Ngoài những ghi chép của Chou và Wang có liên quan đến những cư dân người Trung Quốc ở quốc gia đó không hề có sự miêu tả bằng văn bản chi tiết nào khác về sự di cư của người Trung Quốc tới Đông Nam Á trước khi nhà Minh thành lập (1368-1644).

Các nguồn tư liệu của nhà Minh soi sáng hơn sự cư trú của người Trung Quốc ở nước ngoài mặc dù vẫn còn cách rất xa sự mong muốn của chúng ta. Chúng diễn tả rằng một vài người Trung Quốc đi ra nước ngoài vào cuối thế kỉ 14 và có nhiều người đi ra nước ngoài hơn vào thế kỉ tiếp theo. Vào năm 1407 một thủ lĩnh cướp biển người Trung Quốc tên là Ch’en Tsu-I (Trần Tổ Nghị), một người Quảng Đông đã bị bắt giữ trong chuyến hành trình vĩ đại của Trịnh Hòa tại Palembang ở Sumatra và ông ta đã bị xử tử ở Nam Kinh sau đó không lâu. Ch’en, một người Quảng Đông, đã dẫn toàn bộ gia đình mình trốn khỏi Trung Quốc tới  Palembang dưới thời vua Hồng Vũ (1368-1398). Ở đó ông ta đã tập hợp hàng trăm đệ tử người Trung Quốc để cướp bóc các thương nhân buôn bán trên biển dọc theo miền duyên hải[8]. Năm 1411, một viên chức người Lưu Cầu (Ryukyu – nay là Okinawa của Nhật, chú thích của người dịch) là Ch’eng Fu đã thỉnh cầu triều Minh cho ở lại Trung Quốc khi ông ta đến đó trong đoàn triều cống. Trước đấy, ông ta đã dời Trung Quốc và  phục vụ  vương quốc của người Lưu Cầu trong 40 năm và giờ đây ở tuổi 81 ông ta muốn nghỉ ngơi ở quê nhà  Quảng Tây. Thỉnh cầu này của ông ta được chấp nhận[9]. Các ví dụ như vậy nói lên rằng  vào cuối thế kỉ 14 có thể đã có một số lượng lớn người Trung Quốc cư trú ở nước ngoài.

Mặc dù chúng ta có thể phỏng đoán sự tồn tại của những người Trung Quốc ở nước ngoài và sự cư trú của họ ở khu vực Đông Nam Á vào thế kỉ 14 nhưng chúng ta không chắc chắn liệu họ có đủ đông đúc và trải rộng để tạo ra một cộng đồng người Trung Quốc tha hương ấn tượng hay không. Tuy nhiên, vào các thập kỉ đầu của thế kỉ 15, hồ sơ về cộng đồng người này và  mạng lưới thương mại bận rộn của người Trung Quốc đã  nổi lên rõ ràng hơn. Chính cộng đồng này đã phát triển và tồn tại cho đến tận ngày hôm nay.

Các nguồn tư liệu lịch sử của thế kỉ 15 hầu như là nghèo nàn giống như ở các thế kỉ trước nhưng chúng cũng có ghi chép nhiều hơn về các hoạt động của người Trung Quốc ở nước ngoài. Trong khi ba tư liệu cá nhân về bảy chuyến đi của Trịnh Hòa đã cung cấp rất nhiều các thông tin hữu ích[10]. Những tài liệu làm bằng chứng trong MSL (Minh thực lục – Người dịch chú)  duy trì một nguồn thông tin lớn nhất cho chúng ta tìm kiếm. Một tác phẩm chính thức khác là Li-tai-pao-an, liên quan đến những người Trung Quốc  được chính phủ Lưu Cầu thuê mướn làm việc trong các công ty biển của Lưu Cầu do đó nó soi sáng thêm các hoạt động thương mại ở Đông Nam Á một cách gián tiếp[11].  Cuối cùng là một số lượng các tác phẩm tư nhân đầu thế kỉ 16 ghi chép các hoạt động thương mại biển của Trung Quốc ở các thế kỉ trước đó[12]. Tuy nhiên ngoại trừ các trường hợp không có chủ định còn lại nguồn tư liệu được liệt kê cuối cùng này đơn giản chỉ là sự sao chép lại những gì được ghi lại trong 3 tài liệu  ở thế kỉ 15 có liên quan tới các cuộc viễn chinh của Trịnh Hòa. Vì thế chúng không mấy hữu ích. Các nguồn tư liệu lịch sử khác thậm chí còn ít có liên quan hơn nữa tới cuộc tìm kiếm của chúng tôi.

Dựa trên các nguồn tư liệu được đề cập bên trên, có thể nói rằng người Trung Quốc sống ở Đông Ấn Độ và bán đảo Đông Dương  có thể được chia thành ba nhóm: nhóm thứ nhất cư trú vĩnh viễn ở nước ngoài và không hề trở lại Trung Quốc, nhóm thứ hai sống ở nước ngoài trong một thời gian, đôi khi là trong một thời gian rất dài nhưng cuối cùng thì trở lại Trung Quốc, nhóm cuối cùng đơn giản là các thương nhân những  người đến và đi trên những chiếc thuyền buôn sống ở các cảng biển trong một vài tháng hay cùng lắm là vài năm. Ba nhóm này đã tạo ra cộng đồng người Trung  Quốc tha hương ở Đông Nam Á.  Mặc dù không thể xác định chính xác được có bao nhiêu người Trung Quốc trong cộng đồng này ở từng thời điểm. Tuy nhiên, chúng tôi có thể  chắc chắn một sự thực là cộng đồng này đã thay thế cho những người thương nhân Tây Á và Ấn Độ, những người đã rất tích cực trong khu vực này ở các thế kỉ trước đó và người Trung Quốc đã thống trị thương mại biển của biển Đông Á trong thế kỉ 15. Sự vượt trội của người Trung Quốc ở nhiều vùng trong thương mại ở Đông Á là vững chắc và tiếp tục cho tới tận cuối thể kỉ 18 bất chấp sự xâm nhập của người châu Âu vào khu vực này từ thế kỉ 16 và ngày càng tăng lên. Hơn nữa, trong một thời gian dài sự có mặt của người châu Âu là hữu ích hơn là có hại đối với sự lớn mạnh của cộng đồng người Trung Quốc tha hương và đối với việc liên kết sức mạnh của nó trong kinh tế biển như điều sẽ được miêu tả dưới đây. Bức tranh về cộng đồng người Trung Quốc tha thương trong thế kỉ 15 có thể được tái dựng từ các nguồn tư liệu giống như là sự chắp nhặt từ nhiều mảnh vụn, thứ cung cấp cho ta một cái nhìn thoáng qua về các thời điểm và nơi chốn khác nhau. Bởi vậy bức tranh này không phải là bức chân dung hoàn hảo về cộng đồng nói trên nhưng nó cũng chỉ ra các đặc điểm của nó tương đối rõ.

Trong bức tranh này các cuộc viễn chinh của Trịnh Hòa (1405-1433) là điểm xuất phát thuận lợi.  Trong quá trình tiến hành các cuộc viễn chinh thuyền của người Trung Quốc đã dong buồm tới tận Hồng Hải và bờ biển Đông Phi. Sau năm 1433 các thuyền của Trung Quốc hiếm khi thám hiểm xa hơn eo Malacca. Malacca và Aceh ở vùng tây bắc Sumatra đã trở thành các cảng đầu chót dành cho các thủy thủ Trung Quốc, thế giới ở phía kia eo biển là thuộc về tây Á. Kết quả là Malacca nổi lên như là một nơi buôn bán chính nơi người Trung Quốc, người Phương Tây và Đông Nam Á gặp nhau và nó đã phát đạt trong suốt thể kỉ 15.

Bên trong thế giới biển Đông Nam Á nhiều trung tâm thương mại khác đã xuất hiện trong cách thức tương tự và phần lớn thường là kết quả từ các hoạt động thương mại của người Trung Quốc. Điều này đúng với Xiêm (Ayuthya), Patani, Java (Sunda), Malacca, Sumatra (Aced), Palembang, Brunei, Sulu, Champa (Cha Ban) và những nơi khác và tất cả những nơi này đều được ghi nhận là nơi phát đạt về thương mại trong thế kỉ 15. Thậm chí một vài nơi còn có sự phát triển khá ổn định và kéo dài tới tận thế kỉ 16, những nơi khác nổi lên rồi suy sụp giữa các khoảng thời gian xen kẽ nhau.  Chính tại những trung tâm thương mại này người ta nhận ra rằng người Trung Quốc đã tập họp ở đây và với vai trò là cư dân hay người lưu động họ đã có cuộc sống chủ yếu dựa vào buôn bán.

Trong một vài nơi như thế sự cư trú của người Trung Quốc có quy mô rất ấn tượng và nó đã tồn tại vào khoảng đầu thế kỉ 15. Ví dụ như cộng đồng người Trung Quốc tại Palembang, sau vụ Trịnh Hòa bắt giữ Chen Tsu-I  năm 1407, đã được coi như là cộng đồng có tới hàng ngàn người đặt dưới sự lãnh đạo của Shih Chin-ching. Dòng họ Shih duy trì lòng trung thành đối với nhà Minh và gửi nhiều đoàn sứ thần triều cống tới Trung Quốc cho tới tận năm 1425[13]. Sau đó Palembang không còn được nhắc đến trong các hồ sơ tài liệu tiếng Trung trong thế kỉ 15 nữa. Có lẽ cộng đồng người Trung Quốc đã phân tán đi nơi khác do sự suy sụp của cảng này.

Aceh ở tây bắc Sumatra cũng hấp dẫn các thương nhân  đầu thế kỉ 15. Mặc dù các tư liệu  không nói đến các cư dân Trung Quốc ở đây nhưng các  du khách người Trung Quốc chắc chắn đã duy trì vị trí của mình ở Aceh. Đây là bằng chứng từ sự thực rằng năm 1439 một người Trung Quốc có tên Sung Yun đã được vua Sumatra phái đi với tư cách như là sứ giả của sứ đoàn triều cống tới Trung Quốc. Ông ta về sau bị người Java giết chết và vợ ông ta đã thỉnh cầu triều Minh cứu giúp và ở lại Quảng Đông cho tới năm 1446[14]. Vợ của Sung là người Sumatra bản xứ, điều này gợi ý chúng ta rằng Sung Yun đã sống  ở đó trong một thời gian dài – dài đủ để  kết hôn với một người phụ nữ bản xứ và có được một vị trí có giá dưới ngai vua. Cũng cần chú ý rằng  các đơn vị đo lường Trung Quốc dường như đã thịnh hành ở các khu chợ ở Sumatra với đơn vị catty gồm 16 Ao-xơ (1 Ao-xơ  tương đương với 28, 35 g – chú thích của người dịch)[15]. Các thương nhân người Trung Quốc ở Aceh phải có số lượng lớn và có thế lực thực sự để có khả năng chuyển tải phong tục buôn bán của họ tới nơi này.

Đầu thế kỉ 15 Java cũng đã có các cộng đồng người Trung Quốc. Năm 1410 triều Minh yêu cầu sứ đoàn triều cống Java giúp gửi những người nhập cư Trung Quốc trở lại Trung Quốc[16]. Người ta nói rằng ở Tuban và Majapahit  nhiều người Trung Quốc đã  cư trú ở đó cùng với những người Java bản xứ và những thương nhân Hồi giáo. Gresik hầu như bao gồm người Trung Quốc với tổng số hơn 1000 dòng họ và sau đó nó được đổi tên thành Hsin-tsun (Tân Thôn) trong tiếng Trung Quốc và trưởng thôn là một người Quảng Đông. Ở tất cả các nơi này, tiền đồng Trung Quốc được lưu hành như là phương tiện trung gian trao đổi và các đơn vị đo lường Trung Quốc được sử dụng trong việc buôn bán[17]. Các cư dân người Trung Quốc thường được dùng trong các sứ đoàn  do vua Java phái tới Trung Quốc và nhớ đó ông ta có được những mối lợi trong thương mại. Trong suốt thế kỉ 15, các sứ đoàn triều cống người Java thường được phái đi và tổng số sứ đoàn của nó chỉ đứng sau số lượng sứ đoàn được phái đi từ Xiêm và Champa. Một vài người Trung Quốc – những người đã chạy tới Java đã trở lại Trung Quốc cùng với các sứ đoàn này. Ví như sứ giả năm 1436  nói rằng ông ta đã bị  cướp biển bắt và bị đưa tới  Java và do đó đã được yêu cầu trở lại quê hương ở Lung-hsi  thuộc tỉnh Phúc Kiến[18]. Năm 1438 sứ giả cùng hai phiên dịch viên, tất cả đều là người Lung-hsi, muốn trở về với gia đình để xây dựng từ đường và nơi thờ cúng của gia đình. Một người trong số họ đã quyết định ở lại vĩnh viễn[19].  Trong năm 1444 có 55 người buôn lậu từ Ch’ao-chou (Triều Châu) thuộc tỉnh Kwangtung (Quảng Đông)  được ghi nhận có buôn bán với Java trong số họ có 22  người ở lại Java[20]. Năm 1465 sứ giả Java, vốn hoàn toàn thuộc dòng dõi người Quảng Đông, đã gặp nhiều người Quảng Đông quen biết tham gia buôn lậu. Ông ta được dẫn tới Triều Châu  để buôn bán,  nơi ông ta đã phải chịu đựng nhiều tổn thất do sự hăm dọa tống tiền của các viên chức địa phương[21]. Năm 1500 vài người Trung Quốc những người đã buôn bán với Java thậm chí đã giả vờ là các sứ giả triều cống người Java để kiếm lấy giấy phép vào Trung Quốc. Họ bị phát giác và bị trừng phạt[22]. Tất cả những sự kiện này chỉ ra nhập cư liên tục của người Trung Quốc vào Java. Cho dù một vài người trong số họ đã trở lại Trung Quốc sau đó, phần lớn họ vẫn còn ở lại Java.

Malacca đã nổi lên như là một kho hàng giữa Đông Á và Tây Á vào khoảng năm 1400 và thịnh vượng cho tới khi người Bồ Đào Nha chộp lấy nó vào năm 1511. Liệu đã có một cộng đồng người Trung Quốc ở Malacca hay không là câu hỏi rất khó trả lời mặc dù có lẽ điều ấy là sự thực. Fei Hsin (1388-1436), người cùng thời với Trịnh Hòa, đã nói về một vài người Malacca với nước da nhạt. Người ta nói rằng những người này là hậu duệ của những người Trung Quốc[23].  Tác phẩm Hai-yu, được biên soạn năm 1536, đã ghi chép về một cộng đồng người Trung Quốc ở Malacca với những thành viên bị người Hồi giáo Malacca căm ghét bởi vì họ ăn thịt lợn[24].

Năm 1508 viên phó sứ của sứ đoàn triều cống Malacca bị khám phá ra là người Trung Quốc xuất thân từ huyện Wan-an của tỉnh Quảng Tây, người đã phạm tội trước khi trốn đến Malacca[25]. Cùng với những chiếc thuyền buôn chở thương nhân nhập cư, tất cả những điều trên chỉ ra rằng có một nhóm người Trung Quốc đã sinh sống ở Malacca suốt thế kỉ 15.

Những sự liên quan tới sự nhập cư của người Trung Quốc vào Xiêm trong thế kỉ 15 thường  được tìm thấy trong các nguồn sử liệu. Ngày từ năm 1409 hoàng đế Vĩnh Lạc (1403-24) đã đưa  một sứ đoàn triều cống người Xiêm để mặc cả vua của họ gửi trả lại những người Trung Quốc đã chạy trốn tới đó[26]. Một sứ giả của Xiêm có dòng dõi là người Trung Quốc là Ma Yung-liang năm 1447 đã thỉnh cầu nhà Minh cho phép trở lại huyện Lung-hsi ở Phúc Kiến nơi ông ta muốn được tiến hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên mình[27]. 10 năm sau,  một sứ giả người Xiêm đã mua những đứa trẻ người Trung Quốc từ những gia đình chết vì nạn đói trong thời gian nạn đói đang hoành hành ở tỉnh Shantung (Sơn Đông). Những đứa trẻ này đã được gửi về Xiêm như những người hầu hạ trong nhà[28]. Năm 1477 Tu Wen-pin, một sứ giả người Xiêm khác đã bị lừa trong một phi vụ buôn bán. Sau cuộc điều tra ông ta đã bị phát hiện là người Trung Quốc ra đi từ huyện Ting-chou thuộc Phúc Kiến, người đã từng là một kẻ buôn lậu muối và chạy trốn tới Xiêm năm 1448. Ở đó ông ta đã đường hoàng trở thành một viên chức phục vụ cho chính quyền Xiêm[29]. Một lần nữa trong sứ đoàn triều cống năm 1497 cũng có hai người phiên dịch là người gốc Trung Quốc. Một người mong muốn được thăm nghĩa địa tổ tiên ở huyện Ch’ing-liu của Phúc Kiến trước khi trở lại Xiêm, người kia muốn trở về nghỉ ngơi ở quên hương mình là Nan-ch’eng ở Quảng Tây[30]. Tuy nhiên bằng chứng thuyết phục nhất về  sự tồn tại của cộng đồng người Trung Quốc ở Xiêm lại đến từ Hai-yu nơi rằng vài người Trung Quốc đã  sinh sống dọc theo một con đường ở Ayuthya (Xiêm)[31].  Trước đó người ta đã đề cập rằng Chou Ta-kuan  đã ghi lại sự có mặt của người Trung Quốc ở Cam-pu-chia trong suốt đầu thế kỉ 14 và một vài người Trung Quốc đã lấy những người phụ nữ địa phương làm vợ. Rõ ràng là sự nhập cư của người Trung Quốc vào quốc gia này đã tiếp tục trong thế kỉ 15. Ví dụ như vào năm 1404, các thành viên của sứ đoàn sắc phong đã  rời đoàn và trốn ở lại Cam-pu-chia.  Để che đậy sự việc vua Cam-pu-chia đã  lệnh cho ba người Cam-pu-chia nhập vào sứ đoàn người Trung Quốc khi đoàn về Trung Quốc. Tuy nhiên họ đã bị hoàng đế Trung Quốc gửi trả về Cam-pu-chia và vị hoàng đế này khăng khăng đòi lại những người Trung Quốc cứng đầu kia[32].  Người ta cũng ghi lại rằng vào những ngày đó những người Trung Quốc đã nhận được sự đối xử ưu đãi hợp pháp ở Cam-pu-chia:  những người Cam-pu-chia giết người Trung Quốc sẽ phải nhận án tử hình trong khi những người Trung Quốc đánh người Cam-pu-chia sẽ chỉ bị phạt bằng tiền. Nếu họ không trả nổi họ sẽ bị biến thành nô lệ trong một thời gian[33].

Trong số tất cả các nhà nước trên biển ở Đông Nam Á ngoại trừ An Nam, nước chúng tôi sẽ không đề cập đến ở đây, Champa có lẽ là nước bị Trung Quốc hóa  và có mối liên hệ gần gũi nhất với Trung Quốc trong thế kỉ 15. Vương quốc này đã phái các sứ đoàn triều cống với số lượng lớn nhất tới Trung Quốc (xem bảng). Ngay từ năm 1371 nó đã gửi học sinh tới đó học và năm 1369 đã có ba ngàn bản sao lịch Trung Quốc được triều Minh gửi tới vương quốc này[34]. Thật là bí ẩn khi Champa có mối quan hệ tốt với Trung Quốc nhưng lại không có sự cư trú nào của người Trung Quốc được tìm thấy ở quốc gia này trong suốt thời nhà Minh. Cho dù các thương nhân đi biển của Trung Quốc thường xuyên ghé thăm các cảng của nó trên đường tới các nước Đông Nam Á khác.

Trong thế kỉ 15 người Trung Quốc cũng đã định cư ở nhiều nơi khác thuộc Đông Nam Á. Có người Trung Quốc ở Bru-nây[35] và các ông vua của quần đảo Sulu luôn yêu cầu các thương nhân người Trung Quốc  ở lại sau khi họ kết thúc công việc buôn bán với hy vọng rằng những người đồng hương của họ sẽ quay lại tiếp tục buôn bán với quần đảo[36].  Người Trung Quốc cũng được ghi nhận là đã định cư với số lượng lớn tại Patani tới mức mà “gót chân của họ chạm vào nhau”[37].

Quần đảo Lưu Cầu nằm ngoài phạm vi bài viết này nhưng chúng tôi đề cập ngắn gọn rằng kể từ đầu thế kỉ 15 một vài người Trung Quốc đã định cư ở đó. Làng Chiu-mi gần cảng Naha đã trở thành nơi cư trú của người Trung Quốc nhập cư và con cháu họ. Những người Trung Quốc này được chính phủ Lưu Cầu thuê mướn để buôn bán trong vùng biển Đông Á bao gồm Đông Nam Á. Họ đã giúp xây dựng kinh tế biển thịnh vượng cho vương quốc Lưu Cầu trong thế kỉ 15 và giúp duy trì mạng lưới thị trường ở vùng biển Đông Á nơi người Trung Quốc chiếm ưu thế[38]..

Những điều trên nói rằng cộng đồng người Trung Quốc tha hương đã nổi lên trong thế kỉ 15 ở Đông Nam Á. Và trong thế kỉ 16 cộng đồng này đã lớn mạnh cùng với sự có mặt của người Châu Âu. Do vậy các quận người Trung Quốc được lập ra liên tiếp ở Malacca, Manila và Batavia. Và không chỉ có thế: cộng đồng người Trung Quốc vốn có ở đó, những người tham gia vào hoạt động buôn bán ở vùng biển Đông Á đã tạo nền tảng sẵn có thuận lợi cho những người châu Âu.  Có vẻ như cộng đồng này đã sống cộng sinh cùng với những người châu Âu vượt biển và nó đã đóng góp nhân tố quyết định đối với sự nổi lên của kinh tế thế giới theo sau kỉ nguyên “phát kiến”.

Các nhân  tố  tạo ra sự nổi lên của cộng đồng người Trung Quốc tha hương.

1. nhân  tố kinh tế.

Các sự thực rất dễ nhận ra nhưng rất khó giải thích. Trong phần này chúng tôi sẽ cố gắng nhận dạng và đánh giá một vài nhân tố có khả năng đã đóng góp vào sự ra đời của cộng đồng người Trung Quốc tha hương ở Đông Nam Á. Chúng tôi dự kiến sẽ thảo luận nó theo trật tự sau: nhân tố kinh tế, nhân tố lịch sử, nhân tố tổ chức và các nhân tố khác.

Cơ hội kinh tế ở nước ngoài- một nhân tố  hút- và sự thiếu vắng các cơ hội ở trong Trung Quốc- một nhân tố đẩy- có lẽ là lý do quan trọng nhất khiến người Trung Quốc đi ra nước ngoài. Nó là một phần trong thực tế rằng các sản phẩm nhiệt đới từ Đông Nam Á đã được chào đón với nhu cầu lớn ở Trung Quốc và các sản phẩm của Trung Quốc cũng được đánh giá cao ở nước ngoài- một tình huống dẫn dụ tới sự trao đổi một cách tự nhiên giữa cả hai phía và tạo ra sự nổi lên của các công việc mới ở thị trường và lĩnh vực dịch vụ. Những người nhập cư, các thương nhân Trung Quốc  phần lớn đến từ các huyện như Chang-chou, Ch’uan-chuo và Chao-chou (Triều Châu) đã nhanh chóng chiếm lấy những công việc đó, thứ vốn có sẵn ở Đông Nam Á.

Điều quan trọng nữa là phải chú ý rằng tỉ lệ giữa đất đai và dân số ở Chang-chou, Chuan-chou và Chao-chou đặc biệt không thích hợp. Do đó nhiều người đã buộc phải ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp để tìm kiếm cơ hội việc làm khác. Những cơ hội này đã không được thị trường trong nước mang lại và họ phải ra nước ngoài tìm kiếm[39].

Nhưng tất cả điều này không giải thích cho toàn bộ lịch sử. Cơ hội thị trường đã tồn tại trong nhiều thế kỉ trước,  thời kì được thảo luận ở đây và sự khổ sở vì thiếu đất đai được đề cập đến ở trên ít nhất cũng đã tồn tại từ thế kỉ 12. Trên thực tế  nhiều vùng duyên hải khác  ở Trung Quốc  cũng bị đe dọa bởi áp lực dân số. Bởi vậy, tại sao những người từ ba quận huyện này lại có khả năng nhất trong việc khai thác cơ hội kinh tế ở biển Nam Trung Hoa trong thế kỉ 15 vẫn còn là câu hỏi chưa được trả lời. Bởi vì không có cách gì để đo lường áp lực dân số ở các nơi khác nhau cũng như không có cách nào để đo cơ hội ở các thời thời kì khác nhau, chúng ta buộc phải nhìn sang những nơi khác nữa để tìm lời giải thích.

2. Nhân tố lịch sử.

Bằng “nhân tố lịch sử” chúng tôi muốn nói tới di sản lịch sử ở hai lĩnh vực: kĩ nghệ đóng thuyền và mối quan hệ buôn bán.

Trong thế kỉ 12 việc đóng thuyền của người Trung Quốc đã tiên tiến hơn kĩ nghệ đóng thuyền của các nước khác ở Viễn Đông. Sự ưu việt này đã được duy trì tốt  trong thế kỉ 16 thậm chí là xa hơn. Các con thuyền của người Trung Quốc được biết đến như là phương  tiện vận tải tốt nhất vận tải hàng hóa, hành khách và các thủy thủ Trung Quốc có kiến thức đi biển tốt mà người các nước Đông Á khó vượt qua. Sự ưu việt của Trung Quốc trong kiến thức hàng hải và kĩ nghệ đóng thuyền có lẽ được minh chứng rõ nhất trong quá trình tiến hành 7 cuộc viễn chinh của Trịnh Hòa, thứ cũng diễn tả sự cực thịnh của hải quân Trung Quốc.

Cả thuyền và các thủy thủ Trung Quốc đã được săn đón bởi các nhà nước bên ngoài trong thế kỉ 15. Các tư liệu chỉ ra rằng các quốc gia đó như Xiêm, Java hoặc Malacca đã nhiều lần thỉnh cầu triều Minh ban tặng thuyền cho họ hoặc cho phép họ đóng thuyền ở Trung Quốc[40]. Và chắc chắn rằng các tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông, đặc biệt là vùng Chang-chou và Chuan-chou là nơi có truyền thống về kĩ nghệ đóng tàu và có kĩ nghệ đóng tàu tiên tiến nhất. Điều này có thể giúp giải thích tại sao chính những người ở vùng này thường xuyên được đề cập đến trong mối liên hệ thương mại của Trung Quốc với Đông Nam Á.

Mối quan hệ thương mại, nhân tố thứ hai,  có thể được lần tìm trở lại từ thời Nam Tống (1127-1279) khi các thương nhân Trung Quốc bắt đầu xuất hiện ở biển Nam Trung Hoa và Ấn Độ Dương. Vào khoảng thế kỉ 15 các thương nhân này đã tích lũy đủ tri thức về tình hình sản xuất và thị trường ở Đông Nam Á đến độ họ có khả năng thu thập và phân phối sản phẩm bằng phương cách ở đó họ thu được nhiều lợi nhuận nhất. Mặc dù nhiều người trong số đó có lẽ đã thất bại trong việc buôn bán ở nhà, họ đã làm ăn tốt ở nước ngoài. Thêm nữa, điều này dường như đặc biệt đúng với những người Phúc Kiến, những người thuộc nhóm lớn nhất trong cộng đồng người Trung Quốc tha hương trong thế kỉ 15. Bởi vậy không có gì là ngạc nhiên khi số lượng những tên buôn lậu, cướp biển tăng nhanh ở Viễn Đông từ cuối thể kỉ 15 trở

về sau và chúng thường là người Phúc Kiến từ Chang-chou và Chuan-chou[41].

Tuy nhiên tư liệu tham khảo liên quan đến di sản lịch sử về kĩ năng đóng thuyền, buôn bán  lại không giải thích đầy đủ tại sao thế kỉ 15 là thời kỳ cộng đồng người Trung Quốc tha hương bành trướng nhất. Chúng ta lại phải nhìn vào nhân tố tổ chức để tìm lời giải thích.

3. Nhân tố tổ chức.

Không giống như các triều  đại trước đó,  nhà Minh (1368-1644) đã đặt ra các phương tiện đặc biệt trong chính sách biển để đối phó với các quốc gia nước ngoài[42]. Thứ này gồm hai bộ phận chính: thương mại triều cống và cấm biển. Tất cả các quốc gia nước ngoài mong muốn buôn bán với Trung Quốc đã phải triều cống triều Minh. Nói chung  các nhà nước triều cống đã phải chấp nhận phong tục Trung Quốc và lịch Trung Quốc cũng như  ưng thuận sự sắc phong chính thức từ Trung Quốc và do vậy công nhận  Trung Quốc là tôn chủ. Dưới tình huống như vậy khi một đoàn triều cống tới Trung Quốc nó được yêu cầu gửi một phần thành viên và hàng hóa tới kinh đô tại Nam Kinh từ 1368 tới 1417 và sau đó là Bắc Kinh. Sau khi triều cống được dâng lên hoàng đế tại triều đình, đoàn triều cống sẽ được tiếp đón long trọng và được thưởng. Các hàng hóa còn lại  được phép bán cho các viên chức trong chính quyền Trung Quốc hoặc cho người dân Trung Quốc. Đổi lại sứ đoàn triều cống có thể mua các hàng hóa Trung Quốc. Tất cả những sự giao dịch này phải được tiến hành tại cảng biển vào Trung Quốc hoặc ở kinh đô và cần phải nói ngay nó diễn ra dưới sự giám sát của các viên chức đặc biệt của chính phủ. Các cảng ghé lại là Ning-po (Ninh Ba), được thiết kế dành cho sứ đoàn triều cống Nhật Bản, Chuan-chou (sau năm 1472 được thay thế bằng cảng Fu-chou), được dành cho sứ đoàn triều cống Lưu Cầu, và Quảng Đông được dành cho các nhà nước phía Nam và Đông Nam Á. Số lượng thành viên của đoàn triều cống, số người và mức độ thường xuyên của đoàn được quy định bởi nhà Minh nhằm kiểm soát thiệt hại do việc triều cống gây ra.

Khi chủ quyền của nhà nước triều cống bị tiêu diệt hay thuộc về một nhà nước mới, triều Minh thường phái một sứ đoàn tới nói lời chia buồn trước cái chết của chư hầu và tìm kiếm một vị vua mới. Trong khi thực thi bổn phận sứ đoàn này được phép buôn bán ở nước thực thi triều cống. Tất cả mọi người trong sứ đoàn có thể mang các sản phẩm của nước ngoài về để kiếm lợi nhuận.

Ngoài thương mại do các sứ đoàn triều cống và sứ đoàn sắc phong tiến hành, thương mại biển giữa người Trung Quốc và người nước ngoài  là bất hợp pháp. Không có cá nhân người dân Trung Quốc nào được phép đi thuyền ra nước ngoài và không một người nước ngoài nào được phép tới Trung Quốc trừ phi dưới danh nghĩa thực thi triều cống. Đây là chính sách cấm biển do nhà Minh ban hành kể từ ngay khi triều đình ra đời.

Chính sách biển của Minh được thiết kế nhằm đảm bảo độc quyền thương mại của nhà nước trong quan hệ thương mại giữa Trung Quốc với nước ngoài. Tuy nhiên hoàng đế nhà Minh không hứng thú với việc  thu nhận những lợi nhuận từ sự độc quyền này. Trên thực tế, cán cân thương mại triều cống không mấy làm Trung Quốc hài lòng vì  họ phải thực hiện theo nguyên tắc “cho nhiều nhận ít” và bởi vì các sứ giả triều cống phải được tiếp đón trọng thể với chi phí lớn do triều Minh đảm nhận trong thời gian dài họ ở Trung Quốc. Với hệ thống triều cống, giá trị của các sản phẩm nước ngoài đã vượt quá giá trị trong khi các hàng hóa của Trung Quốc bị định giá quá thấp. Trên thực tế thương mại triều cống là một sự thỏa hiệp giữa  lợi ích thương mại và lợi ích  chính trị trong đó sứ đoàn triều cống nhận được cái đầu tiên và Trung Quốc hưởng cái thứ hai.

Để duy trì hệ thống thương mại triều cống, triều Minh đã  nhiều lần lệnh cho người Trung Quốc  định cư ở nước ngoài và ban tặng các con thuyền Trung Quốc cho nước ngoài. Vào đầu thế kỉ 15, 36 gia đình người Phúc Kiến đã được định cư ở quần đảo Lưu Cầu nơi họ và con cháu họ giúp đỡ tiến hành thương mại biển và tổ chức các sứ đoàn triều cống tới Trung Quốc[43]. Rất nhiều người Trung Quốc bỏ trốn ở Đông Nam Á đã được nhà chức trách địa phương thuê mướn để điều hành thương mại triều cống với Trung Quốc như đã được chỉ ra bên trên hoặc quản lý thương mại biển ở những nơi khác, nơi họ sẽ đóng vai trò như là thủy thủ, phiên dịch hay quản lý thương mại. Những người này và một số thuyền Trung Quốc cũng đã được cấp không cho Java Xiêm, Malacca và trên hết là vương quốc Lưu Cầu để phục vụ chuyên chở triều cống, đã đóng góp cho sự nổi lên đều đặn của mạng lưới thương mại ở Đông Nam Á. Ở tất cả các cảng thương mại chủ yếu ở Đông Nam Á, các thương nhân Trung Quốc lưu động sẽ tìm các thương nhân Trung Quốc cư trú ở đó để giao dịch buôn bán. Người Trung Quốc đã trở thành lingua franca (cầu nối) trong thế giới thương mại của Đông Á và hệ thống kí tự Trung Quốc đã được du nhập phục vụ mục đích ngoại giao giữa các quốc gia Đông Á. Sự tồn tại của mạng lưới này tất nhiên đã mở ra những cơ hội mới để cho ngày càng nhiều người Trung Quốc đi ra nước ngoài và họ cũng là người tác động trở lại làm mở rộng mạng lưới này.

Với ý nghĩ này thì người ta lại phải đặt ra câu hỏi chìa khóa  rằng suy cho cùng thì chính sách biển của nhà Minh đã có đóng góp hay là mang tính phá hoại đối với sự phát triển của cộng đồng người Trung Quốc tha hương sống ở Đông Nam Á. Những ví dụ dẫn ra ở trên chứng minh rằng các công dân Trung Quốc riêng lẻ đã biết tận dụng chính sách này để  thu lấy lợi ích của bản thân. Đổi lại điều này đã dẫn đến sự phát triển lọt ra ngoài vòng dự tính của nhà Minh của cộng đồng người Trung Quốc tha hương.  Nói một cách khác  cộng đồng người tha hương trưởng thành vượt qua giới hạn của sự kiểm soát của chính phủ và sự dẫn dụ của chính quyền đối với sự phát triển của nó đã thất bại. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu như nhà Minh theo đuổi chính sách thương mại biển tự do hơn giống như truyền thống của nhà Tống- Nguyên, thứ cho phép tham dự vào tất cả các hoạt động trên biển? Người ta cho rằng rất có thể một cộng đồng người Trung Quốc tha hương trưởng thành đầy đủ hơn sẽ nổi lên. Câu trả lời dành cho câu hỏi ở trên có thể sẽ là sự “thỏa hiệp”:  đối với chính sách ở đầu triều Minh khi nó không hoàn toàn ngăn trở sự thành lập của cộng đồng người Trung Quốc tha hương thì nó có thể được coi như là nhân tố đóng góp, còn chính sách tạo ra sự cản trở  trong tương quan so sánh với chính sách biển tự do ở thời kì trước đó thì lại tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực.

4. Các nhân tố khác

Có rất nhiều nhân tố khác đáng được đề cập như:  sự bất đồng quan điểm chính trị, đặc trưng của hệ thống gia đình, dòng dõi  Trung Hoa, ảnh hưởng của địa lý tự nhiên ở Phúc Kiến và Quảng Đông, thế giới thương mại biển tự do rộng lớn ở Đông Á…Có nhiều nhân tố khác nữa có thể liệt kê ra đây nhưng chúng tôi sẽ dừng lại ở đây và chỉ thảo luận một nhân tố cuối cùng: Sự kiện vĩ đại về 7 chuyến đi của Trinh Hòa diễn ra năm 1405 đến năm 1433.

Vị vua sáng lập nhà Minh – Hồng Vũ (1368-98) và con trai ông ta là hoàng đế Vĩnh Lạc (1402-24) đã rất hứng thú với việc thúc đẩy hệ thống thương mại triều cống. Họ đã gửi rất nhiều các sứ giả tới các nhà nước bên ngoài ở  Đông Á và Nam Á. Các con thuyền của các sứ giả Trung Quốc này thường đưa theo về Trung Quốc các sứ đoàn triều cống. Điều tương tự cũng đúng với các cuộc viễn chinh của Trịnh Hòa nhưng dự án của Trịnh Hòa thì rất độc đáo trong lịch sử hàng hải Trung Quốc bởi vì nó là chiến dịch lớn nhất và thành công nhất.  Ví dụ như hạm đội của lần viễn chinh thứ hai (1407-1409) đã được tổ chức với 48 chiếc thuyền lớn chở số thuyền viên lên đến hơn 27.000 người và dưới tay Trịnh Hòa giới hạn địa lý hàng hải và ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc đã mở rộng tới vùng Cận Đông và Đông Phi[44]. Trong số các sứ giả nước ngoài được đưa về Trung Quốc và được tiếp đãi tại khu nhà dành riêng để tiếp đón sứ giả nước ngoài (Hui-t’ung-kuan-Hội đồng quán) có các sứ giả người châu Phi, người Hồi giáo từ bán đảo Ả-rập và các thương nhân đến từ những nơi xa xôi khác. Đôi khi Hui-t’ung-kuan trở nên đông đúc với hàng ngàn người nước ngoài[45] và có lúc có cả các ông vua nước ngoài tới Trung Quốc để chứng tỏ sự “phục tùng” của họ[46]. Theo tôi thì các cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa ra đời xuất phát từ các quyết định chính trị nhưng hệ quả nó mang lại thì không chỉ là chính trị. Hạm đội của ông ta đã chở về Trung Quốc  một số lượng lớn các sản vật nhiệt đới kích thích mối quan tâm của người Trung Quốc tới các cuộc thám hiểm này[47]. Trái lại các sản phẩm của Trung Quốc được phân phối với số lượng khổng lồ tới bất cứ nơi nào mà hạm đội đến. Sự gia tăng nhu cầu thị trường ở cả hai bên đã tăng cường sự trao đổi nguồn nguyên liệu vào những thập kỉ đầu của thế kỉ 15. Khi các dự án thám hiểm trên biển được hủy bỏ sau 1433, nhu cầu thị trường này đã được đáp ứng bằng cách thức khác. Thương mại triều cống là một cách và “buôn lậu” là một cách khác. Bất chấp sự im lặng của các nguồn tư liệu lịch sử, chúng tôi cho rằng thương mại tư nhân, thứ có tính chất “bất hợp pháp” trên danh nghĩa, đã được mở rộng như là kết quả  của  các cuộc viễn chinh chính thức do Trịnh Hòa tiến hành. Giờ đây ngày càng nhiều người Trung Quốc cảm thấy được khích lệ bởi các cơ hội thị trường đã được mở ra vào đầu thế kỉ 15 ở Đông Nam Á. Có lẽ các cuộc viễn chinh của Trịnh Hòa cũng lát đường cho các cuộc khám phá trên biển mang tính chất tư nhân của người Trung Quốc. Hơn nữa, sự đạt được tri thức hàng hải và các kĩ năng khác của các thương nhân chắc chắn đã  giúp họ dễ được chấp nhận hơn ở các xã hội nước ngoài. Ở nhiều nơi những người Trung Quốc này có vẻ như được tôn trọng cao. Cũng cần phải nhớ rằng trong khi phần lớn thủy thủ đoàn  và quân đội của Trịnh Hòa  trở về Trung Quốc sau nhiều năm sống trên biển, chỉ có một số ít trốn tránh và ở lại Đông Nam Á[48]. Những người Trung Quốc này một cách tự nhiên đã mời gọi những người đồng hương cùng với họ khai thác cơ hội kinh tế ở hải ngoại. Tóm lại, nhân tố các cuộc viễn chinh của Trịnh Hòa là nhân tố tích cực đối với sự nổi lên của cộng đồng người Trung Quốc tha hương ở Đông Nam Á.

Kết luận.

Bài báo này đã bàn luận về sự nổi lên của một cộng đồng người Trung Quốc tha hương ở Đông Nam Á và những nhân tố góp phần tạo ra cộng đồng đó. Mặc dù có một hai sự định cư của người Trung Quốc đã tồn tại vào thế kỉ 14 nhưng chúng đã không mỏ rộng và tồn tại lâu dài. Từ những nguồn tài liệu còn lại đến ngày nay, chúng ta có thể phát biểu có căn cứ rằng cộng đồng người Trung Quốc tha hương đầu tiên  đã không nổi lên cho tới đầu thế kỉ 15. Tuy nhiên, ngay khi nó xuất hiện ở Đông Nam Á, nó đã được chọn là điểm cư trú và lớn mạnh  với sự mở rộng của kinh tế quốc tế. Sự có mặt của người châu Âu ở các thế kỉ tiếp theo đã được chứng minh như là một nhân tố thúc đẩy hơn là nhân tố ngăn trở sự lớn mạnh của nó.

Những người Trung Quốc tỏa đi khắp thế giới biển ở Đông Nam Á đã hầu như tham dự vào những ngành nghề dịch vụ thị trường. Họ đã đóng vai trò đi đầu trong thương mại triều cống Trung Quốc-nước ngoài,  kênh hợp pháp duy nhất trong trao đổi kinh tế Trung Quốc – ngoại quốc ở vào thời đó. Họ có lẽ cũng đóng vai trò lớn trong thương mại bất hợp pháp giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Do thương mại triều cống hiếm khi đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường của cả hai bên nên “buôn lậu” đã lan rộng một cách tự nhiên. Và bởi vì người Trung Quốc kiểm soát thị trường, họ chắc chắn đã chiếm phần chính trong số những “người buôn lậu”. Điều này được minh chứng bằng sự náo động lan tràn của thương mại bí mật và cướp biển trong nửa đầu thế kỉ 16, đặc biệt là hai thập kỉ của những năm 1540 và 1550. Tuy nhiên, người ta cũng đã làm rõ là chỉ có một số ít cướp biển như vậy, phần lớn trong số những người được gọi là “cướp biển” về cơ bản là những tên buôn lậu có vũ trang có nguồn gốc Trung Quốc.

Sự nổi lên của cộng đồng người Trung Quốc đầu tiên ở Đông Nam Á là một sự kiện lịch sử. Những nhân tố như áp lực dân số ở Trung Quốc, cơ hội kinh tế ở nước ngoài, di sản lịch sử của người Trung Quốc trong kĩ nghệ đóng thuyền và mối quan hệ thương mại, sự cấm biển và thương mại triều cống, các cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa, mỗi yếu tố đã đóng một vai trò nhất định đối với sự nổi lên của cộng đồng này. Chúng tôi đã đánh giá chức năng của các nhân tố đó nhưng tránh việc quy cho nhân tố nào là nhân tố quan trọng chủ yếu trong số các nhân tố đó.  Tất cả các nhân tố này trên thực tế có mối quan hệ tương hỗ với nhau và việc tách riêng từng nhân tố ra là không phù hợp. Hơn nữa, cũng có sự sắp xếp khác đối với các nhân tố đã được chúng tôi đề cập ở đây. Do vậy những ảnh hưởng phức hợp được tạo ra từ các nhân tố đã liệt kê cũng chỉ là sự giải thích không hoàn chỉnh đối với sự nổi lên và trưởng thành của cộng đồng người Trung Quốc tha hương.

Năm 1981, giáo sư D.G.E chuyên nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á, đã nhắc lại sự cần thiết phải nghiên cứu thế giới này trong cái nhìn tự thân. Ông tuyên bố:  “Lịch sử của nó không thể được nhìn nhận một cách tin cậy từ bất cứ một vị trí nào trừ phi nó được nhìn nhận từ chính bản thân nó”[49]. Mặc dù tôi hoàn toàn đồng ý với ông ở ý này nhưng tôi không thể  hoàn toàn nghiên cứu vấn đề của cộng đồng người Trung Quốc tha hương đầu tiên  từ góc độ là một người Trung Quốc. Cả nguồn tư liệu lịch sử và mối quan tâm cá nhân đã định vị ý kiến của tôi. Ở đây lịch sử của cộng đồng người Trung Quốc tha hương được thảo luận ở bài báo này nên được coi như là sự mở rộng của lịch sử Trung Quốc hơn là lịch sử của Đông Nam Á.

Bảng: Các sứ đoàn triều cống tới Trung Quốc từ các nước Đông Nam Á (1370-1500).

Năm/Nước

Cam-pu-chia

Champa

Java

Malacca

Palembang

Xiêm

Sumatra

1370-79

3

9

7

 

7

15

 

1380-89

6

9

2

   

12

 

1390-99

1

3

1

   

9

 

1400-09

3

6

11

1

3

10

2

1410-19

3

7

7

7

1

6

7

1420-29

 

7

14

4

1

9

2

1430-39

 

10

7

4

 

6

2

1440-49

 

10

5

1

 

4

 

1450-59

 

3

3

3

 

3

 

1460-69

 

5

2

2

 

1

 

1470-79

 

3

 

1

 

4

 

1480-89

 

2

     

4

2

1490-99

 

3

     

3

 

Ghi chú: các nước khác cũng gửi triều cống tới Trung Quốc nhưng không thường xuyên. Ví dụ như suốt thời kỳ 1370-1500, Bru-nây gửi 10 sứ đoàn, Sulu gửi 3 sứ đoàn, Pahang gửi 2 sứ đoàn và Luzon gửi 1 sứ đoàn. Trung Quốc cũng gửi nhiều sứ thần tới các nước Đông Nam Á vào cùng thời gian. Tất cả số liệu trên dựa trên MSL (Minh thực lục-Người dịch chú) trang 1-58.

 


 

Chú thích:

[1] Victor Purcell, The Chinese in Southeast Asia (London, 1966), trang 3.

[2] Chang T’ien-tse, Sino-Portuguese Trade from 1514 to 1644. A Synthesis of Portuguese and Chinese Sources (rpt. Leyden, 1969), trang 33.

[3]  Ch’en Ching-ho, Shih-liu shih-chi chih Fei-lu-pin hua-ch’iao (Hongkong, 1963), trang 25.

[4]  Leonard Blusse, Strange Company: Chinese Settlers, Mestizo Women and the Dutch in VOC Batavia (Dordrecht, 1986), trang 81-84.

[5] Chen-la feng-t’u chi chiao-chu của Chou Ta-kuan, Hsiang Ta biên tập (Bắc Kinh, 1981), trang 110, 146.

[6]  Henry Yule dịch,  “Ibn Batuta’s travel in Bengal and China”, trong Yule, Cathay and the Way Thither, 4 tập (London, 1913-16), tập 4, trang 24-25, 96 và 145.

[7] TICL, trang 10-11.

[8]  Shu-yu chou tzu lu, của Yen Ts’ung-chien (rpt.of 1583 ed., Taipei, 1968), ch.8, 21a; MSL, các phần viết về hoàng đế Vĩnh Lạc 3/1 wu-wu (chương 10, trang 646), 3/11/chia-yin (chương 10, trang 734), 4/7/pin-ch’en (chương 11, trang 834), 5/9/jien-tzu (chương 11 trang 987).

[9] MSL, Vĩnh Lạc 9/4/kuei-ssu (chuwowng12, trang 1464).

[10]  Ba tác phẩm này là  YYSL của Ma Huan ( xuất bản lần đầu 1416), Hsing-ch’a sheng-lan của Fei Hsin ( xuất bản lần đầu 1436), His-yang fan-kuo-chih (xuất bản lần đầu năm 1434) của Kung Ch’en.  Các phiên bản mới và tốt nhất là   Ying-yai sheng-lan chiao-chu, biên tập bởi Feng Cheng-chun (Đài Bắc 1962, in lần đầu năm 1935), Hsing-ch’a sheng-lan chiao-chu, biên tập bởi Feng Cheng-chun (Đài Bắc 1970, in lần đầu năm 1936), His-yang fan-kuo chih, do Hsiang Ta biên tập  ( Bắc Kinh, 1961).

[11] Li-tai pao-an, Kobata Atsushi biên soạn (Đài Bắc, 1961).

[12] Ví dụ như Hai-yu của Huang Chung (viết năm 1536, Pi-chi Hsiao-shuo ta-kuan biên tập, ser.4. vol 5) và HYCKTL của Huang Sheng-tseng (Preface 1520, in lại theo văn bản của Ssu-k’u chuan-shu, Ming-ch’ing shih-liao hui-pien biên soạn, ser.1, no 2).

[13]  MSL, Vĩnh Lạc 5/9/wu-wu (chương 11 trang 994); Shu-yu chou tzu lu, chương 8, 21a.

[14] MSL, Cheng-tung 4/4/china-chen (chương 24, trang 1046), 11/5/chi-ssu (chương 28, trang 2783).

[15] Hsing-chua sheng-lan chiao-chu, trang 27.

[16]  MSL, Vĩnh Lạc 8/12/wu-hsu (chương 12, trang 1416).

[17] YYSL, trang 7-14; Hsing-cha sheng-lan chiao-chu, trang 13-14, HYCKTL, chương 1, 8a-b.

[18]  MSL, Cheng-tung 1/intercalary 6/jen-chen (chương 23, trang 385).

[19] MSL, Cheng-tung 3/6/wu-wu (chương 24, trang 831).

[20] MSL, Cheng-t’ung 9/2/chi-hai (chương 27, trang 2278).

[21] MSL, Ch’eng-hua 1/7/wu-shen (chương 40, trang 379).

[22] MSL, Hung-chih 14/3/jen-tzu (chương 58, trang 3128).

[23]  Hsing-ch’a sheng-lan chiao-chu, trang 20.

[24] Hai-yu, chương 1, 2a.

[25] MSL, Cheng-te 3/12/i-hai (chương 63, trang 1028), 5/1/chi-mao (chương 64, trang 1312).

[26] MSL, Vĩnh Lạc 7/10/chi-hai (chương 12, trang 1280).

[27] MSL, Cheng-t’ung 12/9/jen-yin (chương 29, trang 3075).

[28] MSL, Tien-shun 1/6/kuei-ssu (chương 36, trang 5967).

[29]  Sự kiện này được đề cập chi tiết trong Chusei Nanto Tsuko Boeikishi no kenkyu (Tokyo, 1939) của Kobata Atsushi, trang 410-414.

[30] MSL, Hung-chih 10/9/hsin-ch’ và i-ssu (chương 56, trang 2277 và 2279).

[31] Hai-yu, chương 1, 1a.

[32]  MSL, Vĩnh Lạc 2/9/hsin-ch’ou (chương 10 trang 597-598).

[33]  TICL, trang 70-71.

[34]  Hsien pin lu của Lo Yueh-ch’iung, Yu Ssu-li biên tập ( lời nói đầu 1591, Bắc Kinh, 1983), trang 135, MSL, Hồng Vũ 2/12/chia-hsu (chương 3, trang 937).

[35] Hsien pin lu, trang 163; HYCKTL, chương 1, 15b.

[36]  Ming-shan ts’ang của HO Ch’iao-yuan, trong Chung-kuo ku-chi yu-kuan Fei-lu-pin tzu-liao hui-pien (Bắc Kinh, 1980), trang 90.

[37]  Tung-his-yang k’ao, của Chang Hsieh, Hsieh Fang biên tập (in lần đầu 1618, Bắc Kinh 1981), trang 55-59.

[38]  Điều này được bàn kĩ trong Chusei Nanto của Kobata Atsushi, phần II và III.

[39]  Chang Pin-tsun, Chinese Maritime Trade: The Case of Sixteenth Century Fu-chien (Fukien) (luận văn tiến sĩ, Đại học Princeton, 1983).

[40] MSL, Ching-Tai 3/5/ting-hai (chương 33, trang 466).

[41] Sự bàn luận ngắn gọn về buôn lậu và cướp biển có trong Tanaka Takeo, Wako (Tokyo, 1986)

[42]  Để biết thêm chi tiết về thể chế này xem Chang Pin-tsun, Chinese Maritime Trade, trang 11-35 và 165-169.

[43] Kobata Atsushi, Chusei Nanto, phần II, III.

[44]  Paul Pelliot, Cheng Ho hsia  His-yang k’ao ( Feng Ch’eng-chun dịch và chú thích) (Đài Bắc, 1966), trang 28-54).

[45] MSL, Vĩnh Lạc 21/9/jen-hsu (chương 14, trang 2403).

[46]  Ví dụ như vua của Malacca, Java, Sulu và Bru-nây đã tới Trung Quốc dưới triều vua Vĩnh Lạc. Xem MSL, Vĩnh Lạc 6/8/i-wei (chương 11 trang 1106), 9/7/chia-hsu và i-hai (chương 12, trang 1487), 15/8/chia-shen (chương 13, trang 2021), 22/3/ting-yu (chương 14, trang 2440).

[47] T’ien Ju-kang, “Cheng Ho’s voyage and the Distribution of Pepper in China”, Journal of the Royal Asiatic Society of Great Britain and Ireland, 2/1981, trang 186-197.

[48] MSL, Hsuan-te 1/6/chia-hsu (chương 17, trang 480), Cheng-t’ung 1/5/keng-yin (chương 22, trang 341-342).

[49]  D.G.E Hall, A History of Southeast Asia (New York, 1981), lời nói đầu, trang 16 và 29.

 

Nguồn bài đăng

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s