Nhà Tây Sơn sụp đổ và những câu sấm Trạng Trình

tayson.jpg

GS  Cao Ngọc Lân

1. Bức tranh toàn cảnh nhà Tây Sơn

Vào thời điểm vinh quang nhất của phong trào Tây Sơn trong công cuộc thống nhất đất nước 1786 – 1787 mà Nguyễn Huệ là người tiêu biểu nhất thì phong trào Tây Sơn đã bị Nguyễn Nhạc phong kiến hóa, phân phong làm ba khu vực cai quản đất nước. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự mâu thuẫn giữa anh em vua Thái Đức, khiến kẻ địch lợi dụng ngay lập tức. Ở phía Bắc, họ Trịnh ngóc đầu dậy rồi Nguyễn Hữu Chỉnh ra sức hoành hành. Ở phía Nam, Nguyễn Ánh cũng nhân cơ hội lực lượng Tây Sơn bị chia sẻ để quay trở về đánh lại Gia Định (tháng 7 năm 1787).

Người em Đông Định Vương Nguyễn Lữ hèn yếu, chưa đánh nhau với địch đã bỏ chạy về Biên Hòa, bỏ Gia định cho Phạm Văn Tham giữ. Sau đó, Nguyễn Lữ lại chạy luôn một mạch về Quy Nhơn rồi ốm và qua đời khiến vua Thái Đức mất một chỗ dựa về tinh thần. Mặc dù tháng 10 năm 1787, ông đã điều Nguyễn Văn Hưng vào tiếp viện cho Phạm Văn Tham, nhưng sau khi hai người vây đánh Nguyễn Ánh ở Mỹ Lung không hạ được nên Nguyễn Văn Hưng tự ý rút quân về Quy Nhơn. Mặc dù Nguyễn Văn Hưng tự ý rút nhưng Thái Đức hoàng đế không trừng phạt tướng này cho thấy Thái Đức không còn quyết tâm và đủ nhuệ khí với chiến trường Nam bộ nữa, hoàn toàn phó thác cho Phạm Văn Tham. Những diễn biến sau này từ chiến trường Nam bộ cho thấy đây là sai lầm lớn của ông.

Không có người hợp sức, Phạm Văn Tham bị đơn độc và dần dần trở nên yếu thế trước lực lượng ngày càng lớn mạnh của Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh chuyển từ phòng ngự sang tấn công. Tới tháng 8 năm 1788, thành Gia Định mất, Phạm Văn Tham phải bỏ thành mà chạy. Phạm Văn Tham chiến đấu bền bỉ đến tận đầu năm 1789 nhưng vì bị Nguyễn Ánh vây ngặt và chặn đường biển về Quy Nhơn nên buộc lòng phải đầu hàng.

Trong khi đó, vua em Bắc Bình Vương đang quyết chí theo đuổi ý tưởng chinh phục phía Bắc để xây dựng sự nghiệp riêng. Không phải vua em không quan tâm tới chiến trường Nam bộ nhưng nguy cơ ở Bắc Hà liên tiếp xảy ra không yên, từ họ Trịnh rồi Nguyễn Hữu Chỉnh và sau đó là Vũ Văn Nhậm và chính Lê Chiêu Thống dẫn quân Thanh về không phải nhỏ. Do đó Nguyễn Huệ không thể dồn hết lực lượng vào chiến trường Nam bộ lúc đó. Lực lượng của vua Thái Đức đã hao mòn, lại mất hết nhuệ khí và ông cũng không có phương pháp nào vực dậy.
Giữa anh em vua Thái Đức dù giảng hòa nhưng chưa hoàn toàn xóa bỏ hiềm nghi. Hành động chống đối vua em của người con rể vua Thái Đức là Vũ Văn Nhậm chứng tỏ lo lắng của vua em là có sơ sở. Do đó, dù vua anh đã bất lực nhìn Nam bộ từng ngày mất về tay Nguyễn Ánh thì việc vua em cầm quân qua địa phận vua anh để Nam tiến cũng không phải là dễ dàng.

Chính sau cái chết của Vũ Văn Nhậm và diễn biến chiến trường Nam bộ, vua Thái Đức đã nhận ra tuổi già, sự bất lực của mình với đại cuộc. Ông thấy ngoài việc không thể kìm chế người em hùng lược, ông cũng không nên ngăn cản em mình lo việc chung của nhà Tây Sơn nữa. Chính vì vậy, cuối năm 1788, vì cơ nghiệp chung, ông từ bỏ đế hiệu và niên hiệu Thái Đức, tự xưng là Tây Sơn vương. Ông nhiều lần viết thư cho Nguyễn Huệ, chỉ xin giữ Quy Nhơn và nhường toàn bộ binh quyền, đất đai trong cả nước cho vua em; đồng thời ông cầu khẩn vua em mang gấp đại binh vào cứu Nam bộ (chiếu lên ngôi của Quang Trung nói rõ vấn đề này).

Tuy nhiên lức đó Bắc Bình vương dù biết lời cầu khẩn của ông nhưng không thể vào Nam tham chiến vì 20 vạn quân Thanh do Lê Chiêu Thống rước về đã vượt qua biên giới. Nguy cơ phía Bắc rõ ràng gặp nguy lớn hơn nên vua em buộc phải hoãn việc Nam tiến thêm một thời gian nữa. Mặc dù vua em Quang Trung đã đại thắng quân Thanh (1789) nhưng sau đó vẫn phải lo ổn định tình hình Bắc Hà do tàn dư của nhà Lê còn sót lại và sức ép ngoại giao từ phía nhà Thanh. Vì vậy, Nguyễn Ánh được người Pháp hỗ trợ kéo ra đánh Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh, quân của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc liên tiếp bại trận và mất mấy thành này. Cho tới năm 1791, ông chỉ còn cai quản Quy Nhơn, Phú Yên và Quảng Ngãi.
           
2. Mâu thuẫn anh em nhà Tây Sơn

Khi Nguyễn Nhạc là Trung Ương hoàng đế đóng ở Bình Định, giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nảy sinh mâu thuẫn. Hai kẻ thù là Nguyễn Ánh và nhà Thanh muốn nhà Tây Sơn sớm bị diệt nên tìm cách phá long mạch. Theo dân gian kể lại, trước nhà tổ của Nguyễn Nhạc có một cánh rừng lớn như một con rồng chầu vào cửa nên một vài thầy phong thủy nói với Nguyễn Nhạc, muốn phát huy sự thịnh vượng thì phải chặt cánh rừng này đi. Nguyễn Nhạc theo lời đó mà cho chặt cánh rừng đi, thế là long mạch bị phá. Năm 1792, Nguyễn Huệ đột ngột từ trần trong lúc đang chuẩn bị kế hoạch chi tiết để diệt Nguyễn Ánh ở Gia Định. Khi Nguyễn Huệ chết thì truyền ngôi lại cho con là Quang Toản.

            Năm Quý Sửu (1793) Quang Toản chính thức lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh, sai Ngô Thì Nhậm sang nhà Thanh báo tang và xin sắc phong. Vua Thanh vốn đã sắc phong cho Quang Toản làm Thái tử khi vua Quang Trung còn sống nên lập tức xuống chỉ phong Toản làm An Nam Quốc vương. Án sát Quảng Tây được lệnh làm sứ thần đến Bắc Thành, Quang Toản cũng sai người đóng giả nhận thay. Sứ thần nhà Thanh có biết việc ấy song không có phản ứng gì.

            Quang Toản lên ngôi lúc tuổi còn nhỏ nên không đủ năng lực và uy tín để điều hành công việc quốc gia. Mọi việc đều được quyết định bởi Bùi Đắc Tuyên. Từ đó Đắc Tuyên ngày càng chuyên quyền, trong ngoài đều oán hận. Đại thần trong triều ngoài trấn nghi kỵ lẫn nhau, Quang Toản không ngăn được đành chỉ khóc lóc mà thôi. Giữa lúc đó lại có cận thần gièm pha rằng, oai quyền của Trần Quang Diệu quá lớn, mưu đồ cướp ngôi. Quang Toản tin là thật, liều rút hết binh quyền của Trần Quang Diệu. Trần Quang Diệu gửi mật thư vào Quy Nhơn hẹn với Lê Văn Trung đem quân ra phế hạ Quang Toản, lập Quang Thiệu lên ngôi. Việc không thành, Quang Thiệu bị giết còn Lê Văn Trung bị chém. Con rể Lê Văn Trung là Lê Chất sợ hãi, bỏ Tây Sơn sang đầu hàng Nguyễn Ánh.

          Năm 1793, khi Nguyễn Nhạc đang ốm thì Nguyễn Ánh đem quân vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc sai con là Bảo đem quân chống lại nhưng tình hình rất nguy kịch. Nguyễn Nhạc viết thư cầu cứu Quang Toản. Quang Toản sai các tướng Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Huấn, Ngô Văn Sở đem 17.000 bộ binh, 80 thớt voi, 30 chiến thuyền chia đường vào cứu viện Quy Nhơn. Quân Nguyễn Ánh phải rút lui. Các tướng của Quang Toản vào thành Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc sai đem vàng, bạc mỗi thứ một mâm khao quân. Thái úy của Quang Toản là Phạm Công Hưng kê khai kho tàng, thu lấy giáp đinh và chiếm luôn thành Quy Nhơn. Quá uất ức trước việc làm đó, Nguyễn Nhạc thổ ra máu mà chết. Sau khi Nguyễn Nhạc mất, Quang Toản phong cho con của Nguyễn Nhạc là Bảo làm Hiếu Công, cắt cho Bảo huyện Phù Ly làm ấp ăn lộc gọi là Tiểu Triều. Mẹ Bảo uất hận nói với con rằng:

            – Khai thác cõi đất này đều là công của cha mày, nay chỉ ăn lộc có một huyện, nếu sống  mà chịu nhục thì chẳng thà chết còn hơn.

            Từ đó, Bảo có chí hàng Nguyễn Ánh. Bảo cho người đi đưa tin thì bị quân Quang Toản bắt được. Quang Toản cho Bảo uống thuốc độc chết. Do long mạch bị triệt phá nên anh em nhà Tây Sơn lại đánh giết lẫn nhau. Nhà Tây Sơn suy vong dần.
           
            3. Quang Trung qua đời

Năm 1792, quân Tây Sơn đóng thủy quân ở cửa Thi Nại để Nam tiến. Nhưng lúc đó là mùa gió nồm, chỉ thuận cho quân Nam ra, phải đợi đến mùa đông mới thuận gió cho quân Tây Sơn vào. Nguyễn Ánh thừa dịp cùng quân Pháp, Bồ Đào Nha đánh úp cửa Thi Nại, đốt cháy nhiều thuyền chiến của Tây Sơn. Quân Tây Sơn không phòng bị, lại phải thu quân về Quy Nhơn.
Để báo thù trận đó, vua Quang Trung dự định phát động chiến dịch rất lớn, huy động hơn 20 vạn quân thủy bộ, chia làm ba đường:

* Vua Thái Đức cùng với quân “Tàu ô” theo đường bộ từ Phú Yên vào đánh Gia Định.

* Quân bộ của Quang Trung từ Phú Xuân đi thẳng qua lãnh thổ Vạn Tượng tới Nam Vang (Chân Lạp), từ đó cùng quân Chân Lạp kéo về Gia Định, bao bọc đường chạy của Nguyễn Ánh không cho sang Xiêm.

* Quân thủy của Quang Trung sẽ tiến vào đón lỏng tận Hà Tiên đổ bộ lên đất liền để ngăn Nguyễn Ánh chạy ra biển.

Chính các giáo sĩ Pháp giúp Nguyễn Ánh lúc đó cũng rất lo lắng và dự liệu Nguyễn Ánh khó lòng chống lại được Tây Sơn trận này. Tuy nhiên, cái chết đột ngột của vua Quang Trung khiến kế hoạch Nam tiến này không bao giờ trở thành hiện thực.

Tháng 9 năm 1792, vua Quang Trung đang ngồi bỗng thấy hoa mắt, sầm tối mặt mũi, mê man bất tỉnh. Người xưa gọi đó là chứng “huyễn vận” (ngày nay y học gọi là tai biến mạch máu não). Khi tỉnh dậy được, nhà vua cho triệu trấn thủ Nghệ An Trần Quang Diệu về triều bàn việc thiên đô ra Nghệ An. Nhưng việc chưa quyết xong thì bệnh của nhà vua ngày càng nguy kịch. Trước khi mất, nhà vua dặn Trần Quang Diệu và các quần thần:

– Ta mở mang bờ cõi, khai thác cả cõi Nam này. Nay đau ốm, tất không khỏi được. Thái tử Nguyễn Quang Toản tư chất thông minh nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định (Nguyễn Ánh) là quốc thù, trong khi Thái Đức Nguyễn Nhạc tuổi già, ham phú quý, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang cần đơn giản thôi. Các ngươi nên hợp sức giúp Thái tử sớm Thiên đô về Vĩnh Đô (Vinh ngày nay) để khống chế thiên hạ. Bằng không, quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn đâu!

            Ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) vào khoảng 11 giờ khuya, Quang Trung từ trần. Quang Trung ở ngôi được 5 năm, thọ 40 tuổi. Miếu hiệu là Thái tổ Vũ hoàng đế. Thi hài của ông được táng ngay trong thành, tại phủ Dương Xuân. Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, sai sứ sang nhà Thanh báo tang và xin tập phong. Vua Càn Long thương tiếc tặng tên hiệu là Trung Thuần, lại thần làm một bài thơ viếng và cho một pho tượng, 300 lạng bạc để sửa sang việc tang. Sứ nhà Thanh đến tận mộ ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.
 
4. Trận chiến cuối cùng

Ở phía Nam Nguyễn Ánh nhờ người Pháp giúp đỡ nên đem quân đánh ra Quy Nhơn. Năm 1799, Nguyễn Ánh chiếm được Quy Nhơn và đổi tên thành Bình Định. Từ đó Nguyễn Ánh bắt đầu dành được thế áp đảo. Nguyễn Quang Toản non yếu, nội bộ lục đục không chống nổi nên bị Nguyễn Ánh tiêu diệt. Tháng 6 năm 1801, Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân. Bùi Thị Xuân cưỡi voi liều chết đánh lũy Trấn Ninh, nơi Nguyễn Ánh đang cố thủ, từ sáng đến chiều, máu và mồ hôi ướt đẫm áo giáp. Rồi Bùi Thị Xuân còn giành lấy dùi tự tay thúc trống liên hồi. Lúc bấy giờ Nguyễn Ánh cùng tướng tá đã hốt hoảng vội chia quân vượt sông Linh Giang đánh bọc hậu hòng mở đường máu thoát thân. Nào ngờ vua Cảnh Thịnh nhát gan thấy quân Nguyễn Ánh tràn qua nhiều, tưởng nguy khốn liền cho lui binh. Khi thấy Quang Toản quay ngựa bỏ chạy thì Bùi Thị Xuân nắm lấy cương ngựa rồi nói: “sắp chiến thắng rồi, bệ hạ đi đâu vậy?”. Quang Toản gạt tay Bùi Thị Xuân ra và nói:“để Trẫm về lấy thêm quân, sau đó sẽ tiếp tục đánh Nguyễn Ánh”.

Ngay lúc đó, Bùi Thị Xuân cũng nhận được tin Nguyễn Văn Trương phá tan thủy binh của Tây Sơn ở cửa biển Nhật Lệ (Quảng Bình) cướp được hầu hết tàu thuyền và tướng giữ cửa Nguyễn Văn Kiên cũng đã đầu hàng. Biết được tin này, quân Nguyễn Ánh cố đánh để thắng nên làm quân Tây Sơn chồn chân. Trước tình thế đang thắng thành bại này đội quân Tây Sơn bỏ cả vũ khí, đạn dược để tháo chạy. Đây có thể nói là trận chiến đấu oanh liệt cuối cùng của Bùi Thị Xuân nhằm cứu vãn tình thế. Nhưng ngờ đâu nhà Tây Sơn, sau trận này thêm trượt dài trên đà suy vong, không sao gượng lại được nữa. Quang Toản thua trận, chạy ra Bắc Hà. Tháng 6 năm 1802, Nguyễn Ánh huy động toàn bộ quân thủy bộ đồng loạt tiến ra Bắc. Nguyễn Quang Toản chạy ra Bắc Giang rồi bị bắt. Triều đại nhà Tây Sơn chấm dứt từ đấy. Triều đại Tây Sơn chỉ tồn tại 25 năm với ba đời vua là Thái Đức (1778 – 1793), Quang Trung (1789 – 1792) và Cảnh Thịnh (1793 – 1802).
 
5. Sấm Trạng Trình về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn

Hai câu thơ

Chấn cung xuất nhất
Ðoài cung vẫn tinh

Nghĩa là:

Mặt trời xuất hiện ở phương Ðông
Sao sa ở phương Tây

Theo bát quái, có tám cung là: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Ðoài. Chấn thuộc về phương Ðông. Theo kinh Dịch, cung Chấn thuộc về người trên (anh cả). Ý muốn nói người anh cả của họ Nguyễn Tây Sơn là Nguyễn Nhạc sẽ dấy nghiệp. Sao sa ở phương tây: ý nói nhà Tây Sơn xuất hiện.

Hai câu:

Hà thời biện lại vi vương
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn

Nghĩa là:

Làm thế nào thời ấy tên biên lại làm vua,
Lúc ấy Bắc phải hết, Nam cũng chạy.

Hai câu trên đây ám chỉ Nguyễn Nhạc, làm chức biện lại ở huyện Vân Ðồn, tỉnh Quy Nhơn khởi nghĩa dấy binh tự xưng là Tây Sơn Vương. Nhà Tây Sơn nổi lên diệt chúa Trịnh ở phương Bắc, đuổi chúa Nguyễn ở phương Nam lập nên đế nghiệp.

Sáu câu:

Bao giờ trúc mọc qua sông,
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây.
Ðoài cung một sớm đổi thay,
Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn.
Ðầu cha lộn xuống chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.

Câu 1+ câu 2: Những câu này ứng nghiệm việc Tôn Sĩ Nghị đem quân Thanh sang cướp nước Nam. Khi đến Thăng Long Thành, Tôn Sĩ Nghị cho quân bắc một chiếc cầu nổi bằng tre ngang sông Hồng Hà. Trước khi đánh dẹp giặc Thanh, Nguyễn Huệ xưng là Quang Trung Hoàng đế (hai câu 1-2). Nhờ tài ngoại giao của Ngô Thời Nhiệm, Quang Trung được vua Nhà Thanh là Càn Long phong chức An Nam Quốc Vương, một vương hiệu chính thức được Trung Hoa thừa nhận.

Câu 3+câu 4: Sau hai năm lên ngôi vua, Hoàng đế Quang Trung mất (Ðoài cung) ở câu 3 có nghĩa là phương tây. Theo kinh Dịch, cung Ðoài là phần đuôi, ý nói người em của nhà Tây Sơn là Nguyễn Huệ mất. Sau khi vua Quang Trung mất, năm sau Nguyễn Nhạc vì tức vua Cảnh Thịnh, tức Nguyễn Quang Toản (con vua Quang Trung) chiếm thành Quy Nhơn và biên tịch tài sản nên thổ huyết mà chết. (Chấn cung ở câu 4 ám chỉ Nguyễn Nhạc. Theo kinh Dịch cung Chấn là người trên, người anh của Tây Sơn).

Câu 5 ám chỉ tên của vua Quang Trung và vua Cảnh Thịnh.Theo phép chiết tự, chữ “Quang” (光) của vua Quang Trung có chữ “Tiểu” ở trên mà chữ “Cảnh” (景) của vua Cảnh Thịnh lại có chữ “Tiểu” ở dưới. Cho nên mới gọi là: Ðầu cha lộn xuống chân con.

Câu 6 ám chỉ nhà Nguyễn Tây Sơn chỉ làm vua được 14 năm là dứt.

Chú thích:
[1] Trước khi cất đại quân bắc tiến đánh quân Thanh, Nguyễn Huệ đã sai một cận thần là Diệm cầm thư vào Nam cho Phạm Văn Tham, dặn rằng cố gắng phòng thủ rồi đại quân quân Tây Sơn sẽ ứng cứu. Nhưng đầu năm 1789, khi Diệm vào tới nơi thì Phạm Văn Tham đã đầu hàng Nguyễn Ánh. Diệm bí mật tìm gặp Phạm Văn Tham và đưa thư của Nguyễn Huệ cho Phạm Văn Tham. Phạm Văn Tham đọc thư ân hận, bèn lưu Diệm trong quân của mình để chờ thời cơ. Việc bị tiết lộ, Phạm Văn Tham bị Nguyễn Ánh giết chết.

Nguồn bài đăng

Advertisements

15 thoughts on “Nhà Tây Sơn sụp đổ và những câu sấm Trạng Trình

  1. Trước xin cảm ơn giáo sư đã cất công viết.

    Có khá nhiều chi tiết trong bài không đúng sự thật, có vài chi tiết hoang đường và còn nhiều điều cố tình đổ vấy cái sai, cái dở cho kẻ khác.

    Tựu chung, anh em nhà Tây Sơn quân phỉ “phù Lê” rồi tự cắn xé, tài không so được với Gia Long thì chịu cái thế vong âu cũng là lẽ thường.

    Nguyễn Huệ chưa bao giờ là người “mở mang cõi Nam” cả. Công trạng ông chỉ có đánh quân Thanh chạy mất vía là nhất.

    Cuối cùng, xin góp ý cùng giáo sư về việc nên tra khảo tư liệu thật kỹ rồi viết, bớt phủ màu mờ ảo thần thánh cho lịch sử.

    Trân trọng

    • Gia Long có tài gì mà ông nói anh em Nguyễn Huệ không so được? Hay là tài chạy, tài lạy lục van xin, tài bán đứng nhân dân để cầu lợi cho riêng mình?
      Ông đọc lại lịch sử đi, nếu Nguyễn Huệ mà không mất quá sớm, giả sử ông sống được thêm cỡ 5-10 năm nữa thì lịch sử VN không có tên Gia Long đâu!

      • Nguyễn Huệ không chết sớm thì triều đình Tây Sơn cũng sụp đổ, có thể là chậm hơn thôi. Cơ sở xã hội của Tây Sơn là ở đâu, trong thành phần dân chúng? Nông dân? Thương nhân? Trí thức? Không, Tây Sơn không hề có được sự ủng hộ rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân, nhất là vùng Nam Hà, (nơi chúa Nguyễn Ánh rất được lòng dân) và càng không được ủng hộ của dân Bắc Hà.
        Tây Sơn thật sự đã có công lao gì trong lịch sử dân tộc Việt, ngoài vụ đánh quân Thanh mùa xuân Kỷ Dậu? Tây Sơn phát triển kinh tế, văn hóa? Tây Sơn mở mang bờ cõi? Tây Sơn cách mạng thể chế xã hội, hình thức nhà nước? Không. Tây Sơn chỉ là một bọn lục lâm, nhờ hoàn cảnh mà cướp được chính quyền rồi sau đó lặp lại toàn bộ những sai lầm, những tha hóa, thối nát… của những vương triều mà nó đã lật đổ. Dưới thời Tây Sơn, sưu cao thuế nặng, mua quan bán tước, tham nhũng hối lộ… còn ghê gớm hơn dưới thời chúa Nguyễn, chúa Trịnh. Đây là những việc mà lịch sử ghi lại. Bằng chứng hùng hồn: sau khi Nguyễn Huệ chết, lập tức ngay trong nội bộ Phú Xuân đã đâm chém nhau để tranh quyền đoạt lợi. Điều đó chỉ ra: Tây Sơn chưa và không thể là một tập đoàn xứng đáng cai trị và điều hành đất nước ở giai đoạn đấy. Một bọn cướp thì bạo phát rồi cũng đến bạo tàn. May cho Tây Sơn là còn chiến công Kỷ Dậu. Chiến côngeesddos như cái khăn chùi đi ít vết nhơ trên bộ mặt lấm bùn của họ.

      • bạn nói rất đúng ý mình…
        cái lịch sử dân tộc việt nó như vậy..như bị quỷ ám..lúc mà Quang Trung lên làm vua đưa ra rất nhiều quyết sách hay như tổ chức kỳ thi hay biên soạn sách bằng chử nôm…phát triển kinh tế để vùng cửa hội trở thành trung tâm giao thương lớn mạnh khắp vùng tàu thuyền nhật ấn đều có qua lại giao thương mua bán chứng tỏ tầm nhìn vượt thời đại.. lại lấy phật giáo đại thừa làm nền tảng văn hóa chứ không phải nho giáo……trong lich sử việt nam chưa có vị vua nào đánh đâu thắng đó và có nhiều chiến công oanh liệt như Quang Trung..

        còn Nguyễn Ánh…..hậu duệ họ nguyễn tìm mọi cách để phục hưng lại quyền lợi dòng họ mình mà năm lần bảy lượt cầu viện xiêm la (thái lan) rồi sau đó lại cầu viện pháp để rồi sau khi chiến thắng quân tây sơn thực dân pháp xâm lược việt nam để đưa dân tộc đến một thời đại tăm tối mới…. dường như Nguyễn Ánh là đại diện cho phần xấu và phần ác đố kj trong con người việt..chiến đấu và chiến thắng để trả thù chứ không vì lợi ích dân tộc…
        cứ xem cách đối xử với kẻ bại trận của Nguyễn Huệ với Nguyễn Ánh
        nói không ngoa cách đối xử với kẻ bại trận của Nguyễn Huệ như là cách mà người Mỹ đối xử với nhau (Nội chiến Hoa Kỳ (1861–1865)

        còn cách đối xử của Nguyễn Ánh với nhà Tây Sơn chẳng khác gì Cộng Sản miền bắc đối với Việt Nam cộng hòa…

  2. Nếu như bài viết của bác nói về người anh (Nguyễn Nhạc) và người em (Nguyễn Lữ) hay người con (Quang Toản) của Nguyễn Huệ thì tôi công nhận là đúng, vì họ chính là những nhân tố gây sụp đổ cho triều đại Tây Sơn, còn nếu sử dụng để nói về Nguyễn Huệ thì hoàn toàn sai, hoặc do bác cố tình hoặc bác chưa bao giờ đọc các tài liệu nói về Nguyễn Huệ.
    1 thằng chíp con bất tài và hèn hạ như Nguyễn Ánh mà lại đi so với 1 người Anh Hùng vĩ đại như Nguyễn Huệ thì chứng tỏ kiến thức của bác chẳng có bao nhiêu, hoặc giả dòng họ nhà bác có mối thâm thù gì hay bị mất đặc quyền, đặc lợi khi chúa Trịnh, chúa Nguyễn bị đánh đổ.
    Bác nói là nhà Tây Sơn không có công lao gì trong lịch sử của dân tộc Việt, vậy thì ai đã đánh đổ các triều đại thối nát là triều Nguyễn ở Đàng trong và triều Lê – Trịnh ở Đàng ngoài? Ai đã giải thoát nhân dân VN khỏi sự xâm lược và đô hộ của bọn giặc Xiêm ở miền Nam và giặc Thanh ở miền Bắc? Nếu như Nguyễn Huệ không đuổi được 2 đám giặc ấy đi thì liệu đất nước VN có được hình dáng như ngày nay không hay thậm chí còn không có đất nước VN trên bản đồ? Thằng Nguyễn Ánh bất tài, hèn nhát, nham hiểm, hèn hạ chỉ trông vào sự may mắn thì liệu có làm được những việc ấy không? Tôi không tin là Nguyễn Ánh với tài bỏ chạy, lạy lục và sự nhỏ nhen trả thù đối thủ một cách hèn hạ khi họ đã ngã ngựa có thể làm được.
    “Dưới thời Tây Sơn, sưu cao thuế nặng, mua quan bán tước, tham nhũng hối lộ… còn ghê gớm hơn dưới thời chúa Nguyễn, chúa Trịnh”: điều này tôi công nhận là có thể có trong khu vực quản lý của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ, tuy nhiên về mức độ cao như bác nói thì bác lại chẳng có bằng chứng gì, đặc biệt càng không đúng trong khu vực quản lý của Nguyễn Huệ. Ở bài trước và bài này tôi đang so sánh giữa Nguyễn Ánh với Nguyễn Huệ, nên bác đừng có đánh đồng Nguyễn Huệ với nhà Tây Sơn, hay Nguyễn Ánh với các chúa Nguyễn đời trước nhé.
    Tôi không phủ nhận công lao mở đất của các chúa Nguyễn, nhưng khi thấy bác đề cao tài năng của thằng hèn nhát Nguyễn Ánh và xổ toẹt công lao của nhà Tây Sơn (đặc biệt là Nguyễn Huệ) thì thấy bất bình nên viết như vậy thôi.

    • “Đọc sử” ở đâu và của ai thế bác? Đọc sử mà bác phát ngôn như trên thì tôi viết reply này có nội dung ra sao thì âu cũng dư thừa.

      Đức Gia Long bao đời chúa, Nguyễn Huệ xuất thân lục lâm thảo khấu!

      1, quân Xiêm âu chỉ là đám binh dư tướng già được “cấp” bù.
      2, đám quân Thanh số lượng không lấy gì làm to lớn. Có đông thì âu là nội dân gốc Hoa là chính.

      “Lịch sử phần lớn là giả dối, còn lại là đố kỵ”.

      Chỉ riêng cái công thống nhất đất nước của Gia Long là Nguyễn Huệ đã không thể so bì rồi…

      Cuối cùng, cám ơn bác đã nhắc tôi nhớ về lịch sử “mậu dịch” mà chúng ta đã đọc, duy bác thì nhớ còn tôi không tin.

      • “Anh Hùng chẳng quản xuất thân”, một vị vua lỗi lạc vẫn có thể sinh ra 1 thằng con bất tài và hèn nhát. Lý Công Uẩn, Lê Lợi cũng xuất thân từ một người dân thường nhưng vẫn làm nên được nghiệp lớn lưu danh sử sách.
        Vì vậy, nếu vẫn khăng khăng quan điểm căn cứ vào xuất thân để đánh giá một con người thì có lẽ tôi không nên mất công tranh luận với bác.

    • Tựu chung, một số người ủng hộ Nguyễn Huệ, một số tôn sùng Gia Long trong đó có tôi, tôi không bài bác quan điểm ngược lại nhưng cũng không quy chụp.

      Sở tôi nói đến cái xuất thân là vì mưu cầu và ý định của nhà Tây Sơn cũng bịp y chang các nhà khác. Phò Lê? Để lại một bắc hà cướp-hiếp-giết tan hoang, dân sợ quân Tây sơn chả khác sợ Kiêu binh.

      Chiến tranh dù quy ước hay bất quy ước thì chỉ có -thắng-hòa-thua. Mà thua thì phải chạy, vì không chạy là chết. Tôi chưa thấy vị vua nào trải qua chiến tranh mà chưa từng thua chạy.

      Nếu Nguyễn Huệ còn sống thêm vài chục năm nữa thì sao? Đất nước này sẽ ra sao? Bác có thể dự cho tôi nghe không? Còn theo tôi thì:

      1. Không còn một Việt nam thống nhất nữa vì mấy ông bợm Tây sơn sẽ chia chác đất đai thành các nước nhỏ cho nhau.
      2. Thống nhất một Việt Nam trải qua đẫm máu, anh em cắn xé, chiến tranh kéo dài miên man.

      Ngoài hai khả năng này thì còn khả năng nào khác để “Anh hùng chẳng quản xuất thân” có thể đẻ ra hay chẳng?

      • Ha ha.. những người đọc lịch sử nhưng giữ quan điểm thủ cựu, bảo hoàng thế này thảo nào ở Việt Nam bao năm nay, bao triều đại thay đổi nhưng cứ có cái gì mới, tiên tiến là bài xích và tìm cách trù dập, tiêu diệt.
        Sớm hơn thời Quang Trung thì có nhà Hồ, nhà Mạc, thực hiện biết bao cải cách để trung hưng quốc gia nhưng vẫn không thành công vì bị lực lượng thủ cựu – bảo hoàng chống lại và kích động nhân dân không theo. Đến thời Quang Trung cũng có biết bao cải cách tiên tiến với sự giúp đỡ của nhiều nhân sỹ Bắc Hà nhưng cũng không thành công, phần vì ông mất quá sớm, phần cũng vì lực lượng thủ cựu còn quá nhiều.
        Rồi sau đó, khi đã lên nắm quyền, Nguyễn Ánh đã xổ toẹt tất cả những nỗ lực của Quang Trung, thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng khiến đất nước đi thụt lùi cả chặng đường dài so với thế giới. Cũng đúng thôi bởi vì với tài năng, sự nhận thức non kém của Nguyễn Ánh thì những cải cách của Quang Trung quả là điều quá xa vời và phi thực tế, (mặc dù sau này thế giới văn minh đã chứng minh sự hiệu quả của những chính sách đó). Với Nguyễn Ánh thì dân phải càng ngu muội, trung thành với tư tưởng nho giáo phong kiến thì càng dễ trị, nếu để họ tiếp xúc với nền văn minh bên ngoài nhỡ họ phát hiện ra sự yếu kém của chính quyền sở tại và nổi loạn thì dẹp thế chó nào được???
        Vua nào khi đi chinh chiến cũng có lần chạy, hoặc là do rút lui chiến thuật, hoặc là họ thua thật phải chạy để bảo toàn mạng sống, nhưng vua mà hầu như lần nào cũng thua, lần nào cũng chạy, mà thua đến “không còn manh giáp” và chạy đến vãi cứt vãi đái, vứt cả hậu cung, cha mẹ anh em lại như Nguyễn Ánh khi đánh nhau với Quang Trung thì trên đời này chỉ có duy nhất một người thôi!
        Nói thêm 1 chút, không biết là bác không biết thật, hay là cố tình không biết vì vào cuối thời Tây Sơn, sau khi Quang Trung đánh đuổi được quân Thanh thì lúc ấy Nguyễn Lữ đã chết, Nguyễn Nhạc đã già yếu và không còn chí tiến thủ, nên có thể nói là mọi quyền uy, sức mạnh của nhà Tây Sơn đều đã ở trong tay Nguyễn Huệ. Bởi vậy nên tôi mới nói là giá như ông sống được lâu hơn thì việc thống nhất quốc gia và trung hưng đất nước là trong tầm tay của ông. Ông vẫn có thể cắt vùng đất Quy Nhơn cho Nguyễn Nhạc cai quản như một vị Vương thì có gì là nghiêm trọng, cũng giống như vua của các triều đại khác cắt đất phong vương cho anh em của mình nhưng cũng có loạn đâu?
        Tóm lại tôi thấy giả thuyết loạn lạc, anh em chém giết lẫn nhau nếu Nguyễn Huệ còn sống của bác là chả có căn cứ gì!

      • bạn nên biết là toàn bộ nỗi đau của dân tộc việt đều do từ phương bắc hay các quấc gia bên ngoài..nguyễn Ánh thấy tài hèn lực mỏng không đủ sức thì vay mượn sức thanh rồi đến xiêm la về dày xéo dân tộc…..cuối cùng là mượn thực dân pháp..cuối cùng rồi thực dân pháp cũng xâm lược Việt Nam..
        Nguyễn Huệ khác..tuy có học hỏi khoa học kỹ thuật thông thương để phát triển nhưng coi thường người pháp..hay Phương tây..có lần oogn so sánh bọn tây như nhưng cái xác chết trôi từ phương bắc các ngươi không nên lây làm lo sợ
        về tầm nhìn học hỏi có thể cảm nhận Nguyễn Huệ có những bước tư tưởng khai phóng trước cả Nhật Bản…

  3. Tôi là người Việt nên rất yêu mến Cội Nguồn người Việt.
    Tôi thường nghe thầy tôi là Đức Hư Không Tạng Diệu Không kể lại rất nhiều lịch sử, nhưng đáng chú ý nhất đó là lịch sử Tiên Rồng.
    Thầy tôi kể, lịch sử Tiên Rồng là một lịch sử có thật, lịch sử tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Đã trải qua nghìn năm Văn Hiến do các Vua Hùng tôn thờ truyền lại. Thầy tôi nói, Quốc Tổ Hùng Vương là Đấng Chí Tôn Thiên Đế lâm phàm, đã để lại cho con cháu Việt Nam. Hai di sản quí hiếm.
    1: Là di sản Non Sông Tổ Quốc.
    2: Là di sản Văn Hóa Cội Nguồn.
    Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc. Nền Quốc Đạo Tiên Rồng là Tinh Hoa vũ trụ, là tiền đồ ung đúc bao thế hệ tinh thần Dân Tộc, trở thành Dân Tộc Thần Thánh. Rừng vàng biển bạc Non Sông đất nước là tiền đồ ung đúc lên sự giàu sang ấm no hạnh phúc.
    Tôi lại hỏi. Thưa thầy: Nền Quốc Đạo Tiên Rồng tốt đẹp như vậy, sao không phát triển truyền bá rộng rải cho thế hệ con cháu gìn giữ?
    Thầy nói. Nền Quốc Đạo Tiên Rồng là Nền Thiên Luật vũ trụ, Hiến Pháp Đại Đồng Tạo Hóa, Đạo Trời, Thiên Đạo. Chỉ dành riêng cho Vua thờ, không phải Đạo của dân thờ. Hơn nữa trình độ dân trí thời ấy quá lạc hậu, tập tục mê tín dị đoan quá lớn. Hơn nữa Nền Quốc Đạo Tiên Rồng lời lẻ thâm sâu khó hiểu nên không thể truyền rộng rãi xuống dân được. Chỉ vào ngày hội lớn mới được nghe. Nhưng đó chỉ là lời truyền dạy khuyến thiện mà thôi, còn Tinh Hoa của Nền Quốc Đạo thời dân khó mà được nghe.
    Nền Quốc Đạo Dân Tộc là Nền Hiến Pháp, Luật Pháp trị Quốc an dân, Nền Quốc Học Văn Minh thời đại. Nhất là lọt vào Tà Ma Ngoại Đạo thời nguy hiểm cho đất nước, họ lợi dụng chánh giáo mê hoặc dân chúng, y giáo một đường giảng một nẻo. Bốp méo Luật Thiên chuyện không nói có chuyện có nói không. Nhất là kẻ thù có dã tâm xâm lược. Thời tai họa không biết đâu mà lường.
    Thầy nói. Giữ Tổ Quốc Non Sông đã khó. Giữ gìn Nền Quốc Đạo lại càn khó hơn, vì thế Văn Hóa Cội Nguồn được coi như là báu vật vô giá, được giữ gìn nghiêm ngặt. Hơn nữa Thiên Cơ chưa đến thời cơ chưa phù họp. Thời xa xưa ấy Dân Tộc Văn Lang nói riêng, nhân loại thế giới nói chung. Khoa học thế giới vật chất trên đà đang hình thành tượng búp, chưa thành búp nói gì đến nở hoa khoa học Văn Minh vật chất. Nên chưa chế tạo ra giấy bút tinh vi. Chỉ dùng da Thú thay cho giấy. Còn dùng thanh tre thay cho giấy là sau này mới có. Không những nền Văn Minh vật chất chưa thành búp mà ngay cả chữ viết cũng còn thô sơ lạc hậu không kém. Khó mà diễn tả ý của Văn Kinh. Lấy việc khắc tượng, vẽ hình họa cảnh lên đất, lên đá, lên cây để truyền dạy cho thế hệ sau. Sự truyền dạy ấy không mấy đem lại kết quả. Quốc Tổ Vua Hùng cũng thấy rõ được điều này.
    Nên nói rằng ta sẽ trở lại trần gian ở kỳ 3. Là thời kỳ trình độ dân trí lên cao. Khoa học vật chất đã nở hoa rực rỡ. Văn Hóa Cội Nguồn ra đời không có điều kiện để lại Kinh Luân. Mọi chuyện truyền giáo chỉ truyền khẩu cho nhau, thông qua khẩu tự ngôn từ Từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cứ thế kéo dài mấy nghìn năm thời chuyện gì xảy ra. Đó là tam sao thất bổn. Làm sai lệch chính văn là đều không tránh khỏi vì thế Nền Tinh Hoa Quốc Đạo cũng dần dần biến mất, thay vào đó là những chuyện sai lệch.
    Có thể nói buổi ban đầu truyền giáo, Quốc Tổ Vua Hùng thuyết kể về Con Rồng Cháu Tiên thật. Về sau qua nhiều thế hệ truyền giáo thuyết kể Con Rồng Cháu Tiên, qua những lý luận mơ hồ, kể lần ra loài Rắn nước không còn chút uy lực nào cả. Rồi bị ngoại xâm biến thành con giun dưới chân của chúng, Dân Tộc Tiên Rồng trở thành dân tộc nô lệ. Thế hệ con cháu Vua Hùng càng về sau càng đánh mất Tinh Hoa Văn Hóa Cội Nguồn. Từ một lịch sử anh linh cao đẹp, rồi trở thành một tập quán truyền thuyết chân lý mơ hồ. Từ đây con cháu Tiên Rồng sa vào cảnh tối tăm. Nô lệ ngoại bang, nô lệ Thần Quyền, nô lệ Kiến Thức. Nhất là những thức vô cùng độc hại dẫn đến cảnh nồi da nấu thịt, anh em tàn sát lẩn nhau. Đạo Đức xã hội xuống cấp trầm trọng, dẩn đến chiến tranh truyền miên khó mà kết thúc. Đói nghèo lạc hậu đeo bám cuộc đời. Thương thay. Thương thay.
    Sau đây là toàn bộ câu chuyện về cuộc đời Quốc Tổ Vua Hùng mời quý độc giả xem Bộ Kinh Long Hoa Mật Tạng sẽ rõ.
    http://caoducthangqn.blogspot.com/2016/10/long-hoa-mat-tang-quyen-1.html

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s