Lịch sử xứ Gotland

 

 

Tác phẩm Gutasaga

bản tiếng Anh:  Peter Tunstall

Hà Khánh dịch

Lịch sử xứ Gotland (Gutasagan) là một câu chuyện viết về lịch sử của xứ Gotland trước thời kỳ bị Ki tô hóa. Nó đã được ghi lại vào thế kỷ 13 và tồn tại trong chỉ có duy nhất một bản thảo, Holm Codex. B 64, có niên đại từ năm 1350, lưu giữ tại Thư viện Hoàng gia Thụy Điển ở Stockholm cùng với bản thảo Gutalag, văn bản các điều luật của xứ Gotland. Nó được viết trong ngôn ngữ Gutnish cổ của vùng Bắc Âu.

Gotland  được phát hiện lần đầu tiên bởi một người đàn ông được gọi là Thielvar. Lúc bấy giờ vùng đất Gotland bị phù phép để nó chìm vào ban ngày và chỉ nổi lên vào ban đêm. Nhưng người đàn ông đã mang lửa đến vùng đất này lần đầu tiên, và sau đó nó không bao giờ chìm xuống nữa.

Thielvar có một con trai được gọi là Hafthi. Và vợ của Hafthi là Whitestar. Hai người đầu tiên định cư trên Gotland. Đêm đầu tiên họ ngủ với nhau, cô mơ thấy ba con rắn cuộn tròn trong lòng. Và dường như chúng trượt ra khỏi lòng cô. Cô ấy nói  giấc mơ của cô cho Hafthi chồng mình. Ông giải thích như sau:

“Tất cả được buộc buộc với vòng đeo cổ,
vùng đất này sẽ có dân đến cư ngụ
và chúng ta sẽ có ba con trai. “

Trong khi các con vẫn còn chưa ra đời, ông đã đặt tên cho họ:

“Guti sẽ sở hữu Gotland,
Graip sẽ là người con thứ hai,
và Gunfiaun thứ ba “.

Những người này sau đó chia Gotland thành ba phần, Graip người lớn tuổi nhất được một phần ba ở miền Bắc, Guti miền giữa, và Gunfjaun người trẻ nhất được phía nam. Sau đó, trong một thời gian dài, người dân có nguồn gốc từ ba người này nhân rất nhiều mà đất không thể cung cấp tất cả mọi người. Khi đó, họ buộc phải rút thăm, những người được chọn phải mang tất cả của cải rời đi nơi khác ngoại trừ đất đai của họ. Tuy họ không muốn rời khỏi nhưng miễn cưỡng đi đến vùng Torsburgen và định cư ở đó. Và rồi những cư dân của Gorland lại đông thêm mà đất đai không đủ cung cấp, họ lại phải ra đi.

Sau đó, họ đi đến vùng Faro và định cư ở đó. Họ lại không thể tự cung cấp đủ cho mình ở nơi đó, vì vậy họ đã đi đến một hòn đảo nào đó ngoài khơi bờ biển của Estland, được gọi là Dago, và định cư ở đó và xây dựng một thị trấn mà vẫn có thể được nhìn thấy. Nhưng rồi lại thiếu đất đai, vì vậy họ đã đi lên sông Dvina, qua Nga. Họ đi xa hơn nữa đến đất của người Hy Lạp. Họ yêu cầu sự cho phép của vua Hy Lạp được ở lại đó trong thời gian mặt trăng tròn rồi lại khuyết. Nhà vua cho phép và nghĩ rằng thời hạn là trong một tháng. Và rồi, sau một tháng, ông muốn đưa họ đi, nhưng họ trả lời rằng mặt trăng thịnh rồi suy mãi mãi và luôn luôn, và họ nói rằng họ đã được phép ở lại. Lời tranh chấp của họ đến tai nữ hoàng. Cô nói, “Thưa đức vua của thiếp, ngài đã cho phép họ ở lại trong thời gian tròn và khuyết của mặt trăng; điều đó là mãi mãi và luôn luôn, vì vậy ngài không thể nuốt lời với họ được”. Vì vậy, họ được định cư ở đó, và sống ở đó cho mãi đến ngày nay, và ngôn ngữ của họ vẫn tồn tại.

Trong thời kỳ đó người dân ở đây đặt niềm tin vào sức mạnh của đồi núi, rừng cây, thung lũng, những khu vực thiêng liêng và những vị thần dị giáo. Họ thực hành sự thờ cúng hiến dâng cả những đứa con trai, con gái của họ và gia súc cho các vị thần trong những buổi yến tiệc ăn uống. Họ đã tin tưởng một cách lầm lạc. Mỗi sự hy sinh là để hiến tế cho vùng đất này tuy nhiên mỗi khu vực lại có những sự tế lễ riêng và những khu vực nhỏ có sự cúng tế ít hơn với thực phẩm, gia súc và rượu. Họ gọi nhau là “bằng hữu của nước sôi” vì họ cùng nấu nướng (trong lễ hiến tế) cùng với nhau.

Nhiều vị vua đã tiến hành chiến tranh với Gotland khi nơi đây còn trong thời kì dị giáo nhưng cư dân Gotland luôn giữ vững được tôn giáo và luật pháp của riêng họ. Sau đó Gotland gửi nhiều sứ giả đến Thụy Điển để đàm phán nhưng không ai trong số họ mang đến hoa bình cho đến lúc Awair Strawlegs vùng Alvar xuất hiện, ông ta là người đầu tiên thiết lập hòa bình với vua Thụy Điển.

Khi người Gotland yêu cầu ông ra đi, ông nói ” các bạn thấy đấy tôi là một người già cả cận kề cái chết, nếu các bạn muốn tôi ra đi trong cảnh hung hiểm hãy cho tôi ba khoản bồi thường, một cho tôi, một cho vợ và một cho con tôi.” Danh tiếng của ông như một người giỏi thuyết phục, thông thái và uyên bác vì thế lan xa. Ông thiết lập một hiệp ước giữa Gotland với Thụy Điển với một khoản cống nạp hằng năm là 60 mươi đồng bạc, 40 mươi hco nhà vua và 20 cho các quý tộc.

Từ đó, cư dân Gotlander quy thuận vua Thụy Điển với điều kiện rằng họ có thể đi bất cứ nơi nào ở Thụy Điển tự do và không bị trói buộc bởi lệ phí hoặc bất kỳ nghĩa vụ nào. Cũng như vậy, người Thụy Điển có thể đến để Gotland mà không có lệnh cấm nhập khẩu ngũ cốc hoặc bất kỳ các hạn chế khác. Nhà vua phải cung cấp cho viện trợ và giúp đỡ bất cứ khi nào họ cần. Nhà vua có thể gửi sứ giả đến Gotland để quản lí, và tương tự như vậy đối với các quý tộc để thu thuế của họ. Những sứ giả này phải đảm bảo cư dân Gotland đi lại tự do trên biển, đến tất cả những nơi mà nhà vua Thụy Điển đã thống trị. Và cũng cho phép  bất cứ ai đi lại ở những nơi đó đi tới Gotland.

Mặc dù dân Gotlande theo dị giáo, họ  buôn bán đến tất cả các vùng đất, Kitô giáo và ngoại đạo. Sau đó, các thương nhân tìm thấy niềm tin Kitô giáo ở các vùng đất Kitô giáo. Sau đó, một số đã tự rửa tội, và đưa linh mục đến Gotland. Botair của Akebäck là tên của người đầu tiên xây dựng một nhà thờ ở nơi mà bây giờ gọi là Kulstäde. Tuy nhiên cư dân vùng này không chấp nhận và đốt cháy nó. Vì vậy, nơi được gọi là Kulstäde đến tận bây giờ.

Một thời gian sau đó có hiến tế ở khu hành lễ . Botair đã lại xây dựng một nhà thờ khác ở đó. Cư dân muốn đốt nhà thờ này . Lúc này, đích thân ông leo lên  nhà thờ, và nói, “Nếu bạn muốn đốt nó, thì bạn sẽ phải đốt cháy tôi cùng với nhà thờ này.”

Ông là một người đàn ông quan trọng và kết hôn với con gái của người đàn ông quan trọng nhất, người được gọi là Lickair Snielli. Ông là một nông dân tại  Stenkyrka. Ông này cân nhắc giúp Botair người bà con của ông và nói: “Đừng đốt người đàn ông này hoặc nhà thờ của ông ta , bởi vì nó đứng trên đất thánh, trong đền dưới Kinten”.

Và do đó,  nhà thờ không bị cháy. Nó đã được thánh hiến trong tên của tất cả các thánh tại nơi bây giờ gọi là Nhà thờ Thánh Phêrô. Đó là nhà thờ đầu tiên còn tiếp tục hiện diện ở Gotland.

Một thời gian sau đó, cha vợ của Botair  Lickair cũng đã tự rửa tội cùng với vợ, con của mình  và xây dựng một nhà thờ tại trang trại riêng của mình, mà bây giờ được gọi là Stenkyrka (Stonechurch). Đó là nhà thờ đầu tiên  ở một phần ba phía Bắc Gotland.

Khi cư dân thấy con đường Ki tô họ đã học tập và hiểu được niêm tin tôn giáo mới. Khi tất cả mọi người trở thành Kitô hữu, nhà thờ khác được xây dựng trên đảo, tại Atlingbo. Đó là một trong những nhà thờ đầu tiên ở miềnTrung của đảo. Sau đó, một nhà thờ thứ ba được xây dựng ở phía Nam, tại Fardhem. Sau đó, nhà thờ mọc lên khắp nơi trên Gotland, bởi vì mọi người xây dựng nhà thờ thuận tiện hơn.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s