Việt Nam thiên sử bi hùng 1945-1975- Bài Cuối

Max Hastings

Trần Quang Nghĩa dịch

CHƯƠNG 28 : RỒI SAO ĐÓ

1 Báo Thù

Khi tiếng súng im bặt, chuyến trở về nhà của các cựu binh cộng sản chiến thắng tỏ ra cũng chán nản như của các kẻ thù Mỹ trước đây của mình.  Một người Miền Nam,  Châu Phát, mỉa mai nói, ‘Người Miền Bắc thấy chiến thắng ít có ý nghĩa hơn họ kỳ vọng nhiều.’ Bảo Ninh mô tả trong quyển tiểu thuyết tự thuật Nỗi Buồn Chiến Tranh chuyến trở về Hà Nội sau chiến dịch 1975:  ‘Trên tàu Thống Nhất chuyến ấy toàn là thương phế binh và lính về vườn. Ba lô ken dày trên giá, võng chăng dọc ngang lòng toa biến đoàn tàu thành một bãi khách. Thoạt đầu, tâm trạng chung phải nói là khá chua chát. Không kèn, không trống, không khúc khải hoàn thì đã đành rồi nhưng đến một chút đối xử có trước có sau người ta cũng chẳng buồn giành cho bộ đội. Cảnh chợ chiều nhốn nháo, nháo nhào không khác gì lại một thứ tùy nghi di tản. Đã thế lại còn kiểm tra lên, kiểm tra xuống, lục lọi săm soi từng cái túi cóc ba lô tuồng như người ta cho rằng một núi của cải ở miền Nam sau giải phóng bị hư hao thất thoát, bị xâu xé, tranh đoạt, bị hốt vơ cào xúc cho đến sạch sành sanh là bởi anh bộ đội chứ không phải bởi bọn người nào khác… Tại các ga mà đoàn tàu dừng bánh các loa phóng thanh oang oang trút vào tai đám lính đui què mẻ sứt mắt trắng môi thâm này hàng lô xích xông những lời dạy bảo trớ trêu nhất đời nào chống cầu an, chống đạn bọc đường, chống thói đam mê các tàn tích của xã hội phồn vinh giả tạo và nào là cần đặc biệt chống tư tưởng công thần?’ Ninh và phần đông các đồng chí anh đều khinh bỉ các hàng rào phi lý này’.

Cán bộ nằm vùng và bộ trưởng tư pháp CPCMLT Trương Như Tảng thuộc trong số những người cay cú và ly khai do cung cách trong đó ‘việc giải phóng’ Miền Nam được cơ cấu: Đảng Cộng sản Hà Nội tập trung quyền lực vào tay các viên chức  tham nhũng và bất tài  và cơ quan an ninh tàn bạo. Họ tranh giành nhau chiếm đoạt những ngôi nhà tốt nhất, những đồn điền giàu có nhất  và hàng hiệu chợ đen.’ Tảng không bao giờ quên đại hội Đảng tại đó người Miền Bắc xác nhận ý định cai trị của họ, bác bỏ các yêu sách của cựu binh MTGPMN – trong đó có chính Tảng: ‘Không có tấm ảnh chụp nào được phổ biến về Vũ trường Rex, khung cảnh của sự bẽ mặt cuối cùng của cách mạng Miền Nam  vào ngày 18 tháng 7 1975.’ Ông thấy bạn bè quở trách ông thậm tệ: ‘Ít nhất dưới thời Diệm và Thiệu  bọn ăn cắp cũng có danh dự. Nhưng những đảng viên này nuốt mọi thứ trong tầm mắt. Đánh đuổi người Mỹ có thực sự là một ý tốt không?’ Các cán bộ Miền Bắc,  ‘sau nhiều năm chịu đựng cảnh ngặt nghèo của đời sống quân đội bỗng thình lình đối mặt [tại Sài Gòn] với điều dường như đối với họ là của cải trong truyện thần tiên, của cải để họ chiếm lấy.  Như thể thành phố đã bị giặc cào cào xâm lăng.’

Trong khi đó những người Mỹ cuối cùng hồi hương xấu hổ vì giữa cảnh hỗn loạn của cuộc di tản,  quá nhiều đồng minh của họ đã bị bỏ lại đối mặt với sự trừng phạt của cộng sản.  Frank Snepp bảo một đám thính giả tại Viện Ngoại vụ Washington tháng 8 1975: ‘Chúng ta bỏ lại sau trên đường băng hoặc bên ngoài tường bao sứ quán 4 đến 5 trăm người thuộc lực lượng cảnh sát đặc biệt mà chúng ta đã đào luyện … khoảng 1,200 nhân viên tổ chức tình báo trung ương của Sài Gòn  … và 30,000 cán bộ của chương trình chống khủng bố Phượng hoàng.’ Ông nhấn mạnh việc không tiêu hủy hồ sơ chứa hàng vạn tên nhân viên Việt đã phục vụ cho người Mỹ hoặc chế độ,  và ước tính chỉ khoảng một phần ba những thành viên dễ bị tổn thương nhất thoát khỏi. Thính giả của Snepp, viên chức từ các cơ quan chính trị, lắng nghe trong bàng hoàng. Họ ân hận không phải về những gì người Mỹ đã làm,  hoặc không làm được,  mà là những vạch trần của Snepp về nó. Tác phẩm phẫn nộ xuất bản 1977 Decent Interval (Khoảng Cách Hợp Lý) khiến chính quyền Mỹ truy tố và tịch thu tiền bản quyền, cùng với việc áp đặt một vị thế thấp kém lên tác giả bởi cộng đồng tình báo.  Về phần những người đào thoát khỏi Việt Nam trong các hoàn cảnh hãi hùng như thế,  số lượng vượt quá khả năng cứu vớt của tàu Mỹ. Khi tàu tị nạn quá tải của Trung uý Nguyễn Khiêm gặp một tàu chiến ở ngoài khơi Biển Đông, thủy thủ đoàn Mỹ khăng khăng bảo họ ra đi bằng cách bắn tung tóe lên sóng nước bằng vũ khí tự động, như một cử chỉ từ chối giúp đỡ.  Tiếp tục hải trình dựa vào các vì sao,  họ cuối cùng đến được Singapore sau những mạo hiểm và đói khát  phi thường. Tại Sài Gòn, cha của Khiêm bị cấm hành nghề vận tải và đúng ra bị tước đoạt hết cả tài sản. 

Mẹ anh mở một quán cà phê để hỗ trợ gia đình cho đến khi họ được phép rời xứ sở 7 năm sau đó, bần cùng như họ đã từng khi di cư khỏi Hà Nội vào năm 1954. Theo cụm từ đáng thương của Khiêm,  ‘Thế là, hai lần trong đời,  chúng tôi trắng tay.’

Nguyễn Thị Chinh bay khỏi Sài Gòn mang theo thông hành ngoại giao mà bà được  đặc quyền hưởng như một minh tinh màn bạc tiên phong. Tuy nhiên,  khi bà đến Singapore,  nơi bà gần đây đóng phim, bà bị giữ lại: với sự sụp đổ của chế độ Thiệu, giấy tờ của bà trở thành mớ giấy lộn, chẳng khác nào danh thiếp của người thua cuộc. Sau hai ngày bà bị trục xuất, có trên tay một vé máy bay vòng quanh thế giới do bạn bè mua cho. Nhờ đó bà lao vào một hành trình cô độc: ở Paris bà được nhìn em gái qua khung kính của phòng nhập cảnh trước khi bị xô đi tiếp đến London. Tại đó bà lại bị chặn lại. Trở lại bên kia Đại Tây Dương, bà lại bị sân bay JFK ở New York quay mặt đi. Vào ngày 2 tháng 5, bà cuối cùng được Toronto tiếp nhận: ‘Tôi trở thành người Việt Nam tị nạn đầu tiên ở Canada.’ Chỉ mới mấy ngày trước bà là một phụ nữ tương đối giàu có,  nhưng mọi thứ bà sở hữu đều bỏ lại Saigon, mãi mãi ngoài tầm với. Phúc lợi xã hội Canada phát cho bà một áo khoác và $75; như một điều khoản nhập cư, và bà được yêu cầu phải tìm kiếm việc làm ngay.

Trong một kịch bản dường như không thể tin được trong một phim hư cấu,  bà trở thành một nhân viên vệ sinh trong một trang trại chăn nuôi gà, được trả $2 một giờ cho công việc sử dụng vòi phun rửa chuồng trại.

Trong nỗi tuyệt vọng bà lướt qua tài sản duy nhất của mình, một sổ tay địa chỉ, và gọi các cuộc đường dài mắc mỏ đến các ngôi sao Hollywood  mà bà đã quen hoặc từng làm việc với họ. Trước tiên bà gọi William Holden, nhưng ông đang ở châu Âu. Quản gia của Glenn Ford thì xin lỗi ngôi sao vĩ đại không nhớ bà là ai. Văn phòng của Burt Reynolds cứ khăng khăng không liên lạc được với ngài Reynolds. Cuối cùng,  gần như với đồng tiền cuối cùng, bà điện thoại cho một phụ nữ bà chỉ gặp đúng một lần – Tippi Hedren. ‘Tôi là một người đang chết chìm. Tôi khóc trong điện thoại – và bà ấy cũng khóc.’ Rồi Hedren nói,  ‘Đọc chậm lại,’ và ghi lại chi tiết của Chinh. Trong vòng  ba ngày ngôi sao Hitchcock trước đây có thể đưa nữ tài tử Việt Nam thoát khỏi trại gà đầy ác mộng, gửi bà một vé máy bay và một giấy nhập cảnh vào Mỹ, tại đó Hedren mời Chinh đến nhà mình, mở tủ áo cho vị khách nghèo mạt lựa chọn. Khi Bill Holden trở lại từ chuyến đi săn, ông gửi bà một lẵng hoa hồng lớn nhất bà từng thấy, với cánh thiệp ghi dòng chữ ‘Chào mừng đến nước Mỹ. Hãy chọn nơi đây làm quê hương.’ Chinh là một trong số ba phần tư triệu người Miền Nam làm điều đó ngay trong 1975 và các năm sau đó: bà xuất hiện trong hơn 100 phim nữa, được thế giới biết dưới nghệ danh Kiều Chinh.

Trong những ngày sôi động sau khi Sài Gòn thất thủ,  một vị tướng Miền Bắc gửi đến các đồng chí mới của ông ở Miền Nam một cái gật đầu hướng về hoà giải,  nói: ‘Chi có người Mỹ là kẻ bại trận.’ Nhưng gia đình một sinh viên khoa sử 20 tuổi Kim Thanh, sống gần Tân Sơn Nhất, suốt hai ngày vẫn ẩn núp trong hầm trong nhà ông bác cô. Ông bác, cũng như cha mẹ cô, đã di cư từ Miền Bắc năm  1954: ‘Họ hiểu rõ người cộng sản,  và những gì họ sẽ làm.’ Khi cuối cùng gia đình ló mặt ra, họ chứng kiến những biểu hiện đầu tiên của thắng lợi Miền Bắc: những xác người nằm giữa đường phố,  nạn nhân của các vụ hành quyết tự phát.  Công bằng mà nói, phần đông con số không xác định được các vụ tàn sát xảy ra trong mùa hè 1975 – ắt hẳn chỉ vài ngàn  – là sáng kiến của địa phương do cán bộ và VC ra tay vì lòng căm thù,  không phải do chỉ thị của bộ chính trị. Những làn sóng truy sát trả thù như thế thường bùng phát vào cuối các cuộc chiến: vào khoảng năm 1944-45 ở Pháp, chẳng hạn, trong ‘l’épuration’ – ‘vụ thanh trừng ‘ – những chiến sĩ Kháng chiến trước đây tàn sát hoặc hành quyết đồng bào nào được cho là đã hợp tác với bọn Quốc xã chiếm đóng. Một số người Miền Nam chọn cách quyên sinh để khỏi rơi vào số phận không sao tránh được, như người đưa tin VC chủ chốt của sĩ quan Ngành Đặc biệt Tây Ninh Phan Tấn Ngưu,  Võ Văn Ba. Ông bảo với Ngưu trước khi tự kết liễu: ‘Vì tôi biết cộng sản quá rõ, tôi biết dưới chế độ họ cuộc sống sẽ ra sao.’

Khi những người cai trị mới siết chặt gọng kìm, nhân dân Miền Nam dần dần hiểu được ý nghĩa của ‘chủ nghĩa cộng sản’, từ trước đến nay chỉ là một danh từ dùng làm vũ khí, được vung lên hoặc gạt đỡ bởi các chiến binh kình địch. Lê Đức Thọ đã trấn an các  người nước ngoài trong cuộc hòa đàm Paris: ‘Chúng tôi không muốn áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên Miền Nam.’ Nhưng giờ đây, theo lời của Michael Howard, ‘một tấm vải liệm toàn trị xám xịt’ đã phủ lên đất nước.  Một bác sĩ Hà Nội thanh tra trang thiết bị của bệnh viện chính tại Sài Gòn,  nói, ‘Các anh có quá nhiều.  Chúng tôi điều trị nhiều bệnh mà không có tất cả các thứ này.’ Từng số lượng lớn các thiết bị y tế bị lấy đi để chở về bắc, cùng với nhiều thứ khác. Các cán bộ trục xuất toàn bộ gồm một ngàn thương binh QĐVNCH ra khỏi Quân Y Viện Cộng Hoà. Họ đập phá nghĩa trang quân đội chính của Miền Nam dựng lên một bảng yết thị ngay ngoài cổng: ‘Ở đây yên nghỉ các binh sĩ tay sai của Mỹ đã phải trả giá cho tội ác của mình.’

Suốt hàng hàng trời sau khi cuộc chiến kết thúc, người Miền Bắc ở Miền Nam vẫn cảnh giác vũ trang và canh gác vì sợ bị các kẻ hậu thuẫn cho chế độ sụp đổ cay cú trả thù,  nhưng rất hiếm có chuyện đó xảy ra. Một trung sĩ Miền Nam trước đây khoái trá nhìn phản ứng của các bộ đội Miền Bắc khi chứng kiến cảnh sung túc của thủ đô trước đây,  nay đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh: ‘Mắt họ mở to: họ nhìn thấy cái gì chúng tôi có mà họ không có.’ Người cộng sản lâu năm Nam Lý, vốn đã tập kết ra Hà Nội vào năm 1955 trong khi gia đình bà vẫn ở lại, giờ trở về nam, mang theo quà sum họp cho mẹ đã mất liên lạc 20 năm: một chục bát gạo, hai ký đường, hai hộp sữa đặc. Lý đã nuốt trôi mà không thắc mắc lời dạy của Đảng rằng nhân dân Miền Nam là nạn nhân thiếu thốn hơn họ rất nhiều. 

Sau hai tháng, Kim Thanh được phép đi học lại ở Đại học Sài Gòn tại đó giáo trình sử đã bị cải biên hoàn toàn: ‘Một số hoàng đế chúng tôi được dạy là xấu nay hóa ra tốt, và ngược lại.’ Cha cô, một thượng sĩ hồi hưu,  sở hữu một nông trại,  liền bị tịch thu sung vào nông trang tập thể.

Việc phát hành giấy bạc mới không được đền bù tiêu hủy tiền dành dụm của hàng vạn gia đình. . Đến cuối năm 1975, nhiều hộ gia đình Miền Nam chật vật để mưu sinh,  và tình trạng đói kém nghiêm trọng giáng xuống vài tháng sau đó.  ‘Không có gạo để ăn. Chúng tôi ăn bắp, khoai lang, khoai mì – mọi món trước đây chúng tôi hiếm khi gặp.’ Nỗi lầm than của nhân dân Miền Nam suốt những năm sau đó, với sự thất bại trong chính sách kinh tế của Hà Nội  và hành động cướp bóc người thua cuộc để cung phụng người thắng cuộc,  đúng là tàn ác. Người cộng sản thuộc đủ mọi cấp bậc thả bộ vào nhà khá giả, lấy đi mọi thứ họ thích.

Người Miền Bắc xem người Miền Nam  – nhất là những thành phần có thể dán nhãn hiệu tay sai của chế độ ngã ngựa – là những con bò vắt sữa, nguồn cung chiến lợi phẩm.  Người Xô viết nhận phần chia khiêm nhường của mình bằng hiện vật  – 10,000 khẩu M-16 và 10 triệu viên đạn,  mà ông trùm KGB Yuri Andropov bảo đảm với Giáp ‘sẽ được sử dụng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và thỏa mãn nhu cầu các phong trào giải phóng dân tộc ‘.

Trong năm tiếp sau ‘giải phóng’, khoảng 300,000 người Miền Nam bị giam giữ. Tất cả những ai có dính líu nhỏ nhất với chính quyền sụp đổ đều bị chụp mũ, suốt đời không rửa sạch: tuy thu ngân viên tại Khách sạn Majestic Sài Gòn thoát khỏi tù tội,  ông bị cho nghỉ việc và bị thẩm vấn nhiều lần, vì ông nhận quá nhiều tiền chi trả trong hoá đơn của người Mỹ. Xấp xỉ hai phần ba những người bị giam giữ,  kể cả cựu sĩ quan, được gửi đến các trại cải tạo nơi họ ở lại từ 3 năm đến 17 năm. Những người chống đối nổi tiếng chế độ Thiệu cũng không được miễn trừ: trong số những người bị quản thúc có nhà sư Phật giáo Trí Quang, người đã tạo ra biết bao lộn xộn cho các tướng lĩnh Sài Gòn. 

Một cuốn phim do nhà thơ tiếng tăm Nhã Ca viết kịch bản đã bị cấm bởi chính quyền trước kia vì tội cổ vũ tính chủ hòa. Trở lại năm 1968, tuy nhiên,  bà có mặt tại Huế trong vụ thảm sát của cộng sản, và cho in một khúc bi ca đầy xúc động,  ‘Vải Khăn Xô Cho Huế’. Vì tác phẩm này giờ bà bị bắt giam vào trại cải tạo,  và một bản in của tác phẩm Huế của bà được trưng bày trong Bảo Tàng Tội Ác Chiến Tranh tại Hà Nội như một mẫu vật về ‘những dối trá của bọn tay sai’. Các tù nhân không được ấn định thời hạn giam cầm, mà thời hạn chỉ căn cứ vào tùy hứng của Đảng. Lê Minh Đảo, tư lệnh Sư đoàn 18 trấn giữ Xuân Lộc,  ở lại trong vòng rào kẽm gai tận năm 1991 – lâu hơn cả thời hạn Stalin giam giữ các tướng lĩnh Phát xít sau Thế Chiến II. 

Hàng ngàn cựu sĩ quan Miền Nam bị chở ra các trại tập trung ở Miền Bắc, tại đó một tổ lao động bị canh gác bỗng thấy một ông lão trong làng tiến đến quở trách: ‘Từ năm 1954, chúng tôi đã chờ đợi các anh đến giải phóng.  Giờ các anh lại đến đây như những tù nhân. Các anh thật đáng xấu hổ! Chỉ vì các anh chiến đấu không tốt,  các anh dung túng tham nhũng,  các anh chỉ biết hưởng thụ.  Các anh đã phản bội chúng tôi,’ Trong số người nghe được những lời thấm thía này, Thiếu tá Luân,  viết: Chúng tôi nín lặng nuốt những lời đay nghiến này như một cách trừng phạt mình xứng đáng nhận lãnh.’ Chính ông bị giam giữ 7 năm, rồi vất vả mưu sinh tại Sài Gòn thêm 9 năm nữa trước khi thoát được đến Mỹ. Người trung sĩ canh gác  bảo ông lúc ông được trả tự do: ‘Anh sắp sửa rời bỏ nhà giam nhỏ để bắt đầu sống trong một nhà ngục lớn hơn với tôi và 70 triệu đồng bào.’

Cựu Trung uý Nguyễn Quốc Sĩ lao động trên biên giới Cao Miên,  trong những điều kiện khá hơn một chút so với trại tù binh Nhật thời Thế Chiến II.  Anh và các đồng đội trải vô số giờ viết kiểm thảo về những tội ác mình không gây ra. Họ được bảo là chỉ được phóng thích khi xét thấy thích hợp để sống có ích trong Xã hội Mới. Hoang mang không biết khi nào có thể về khiến một số người hóa điên: ‘Một bác sĩ quân y cắt đứt mạch máu ở cổ tay – rồi sáng hôm sau chúng tôi thấy tên anh trong danh sách được phóng thích.’ Vì thuốc tây duy nhất có ở trại cải tạo là aspirin,  nên bệnh nào cũng có thể gây chết người.  Cha của Sĩ, một sĩ quan cảnh sát Sài Gòn trước đây 59 tuổi, qua đời trong những tháng đầu vào trại,  ắt hẳn do bệnh gan mãn tính, nhưng gia đình không hề được thông báo.  Một bạn tù của Sĩ chết vì bị suyễn. Một người khác không quen với công việc nhà nông, bị thương đến chết vì một thân tre chót nhọn quật lại chém khi anh đốn không đúng cách. Bệnh tiêu chảy là đặc hữu.

Bỏ đói được sử dụng như một vũ khí tâm lý.  Sĩ quan quân y QĐVNCH trước đây Lý Văn Quý nổi điên trước hành vi của một người trong đội 8 tù nhân của anh: khi phân phối khẩu phần cơm mỗi ngày từ một thùng đạn, gã này luôn lấy thêm một phần cho mình.  Cuối cùng Quý nhịn không được, chồm lên, tính giết tên ăn chận. Gã kia phản đòn, sức yếu làm Quý ngã bật nhào trước khi có thể đấm y một quả. ‘Đêm đó tôi cảm thấy quá xấu hổ. Tôi suy nghĩ: đây chính xác là điều  bọn cộng sản muốn chúng tôi làm thế với nhau.  Tôi đang chơi trò họ bày ra.  Tôi không bao giờ xử sự như thế lần nữa.’ Quý làm công việc chôn cất tại trại đầu tiên.  Ba năm sau khi anh có dịp quay lại chỗ cũ, thì thấy nghĩa địa đã được nới rộng ra nhiều. 

Thông lệ trại bắt đầu lúc 5 giờ sáng, khi mỗi tù nhân được phát một nắm cơm là khẩu phần của cả ngày, rồi đi bộ ra ruộng hoặc rừng. Mỗi tổ 8 người cử ra một người đi xục xạo tìm những gì ăn được trong rừng trong khi những người khác góp sức hoàn thành chỉ tiêu cho y – một thương lượng giúp sống sót được bên bờ tử thần do thiếu ăn. Họ trở về trại lúc 6 giờ chiều; và dành buổi tối để học chính trị. Chẳng mấy chốc hầu hết mọi người đều hăng hái nói mọi thứ,  nhất trí mọi thứ, để đổi lấy tự do. Sĩ nói: ‘Nếu người ta bảo tôi phải khóc nhiều thì sẽ được ra trại,  tôi sẽ trở thành người khóc la tốt nhất trong trại đó. Tôi đã thấy tóc một thanh niên chỉ mới 22 tuổi đã bạc trắng.’

Một số những người đi học tập cải tạo là dân thành thị tương đối lớn tuổi,  khó thích nghi với cuộc sống sơ khai, vệ sinh ở mức tối thiểu và bệnh sốt rét rừng thì tối đa. Không ai biết có bao nhiêu người thiệt mạng, nhưng một tử xuất 5%, một ước tính chừng mực, sẽ chỉ ra ít nhất 10,000 người.  Sau khi được thả ra, họ vẫn không nhận được các quyền lợi dân sự: phần đông bị đuổi về ‘Vùng Kinh Tế Mới ‘, những vùng đất hoang sơ ven rừng nơi họ được kỳ vọng sẽ tạo ra một cộng đồng sống trong thiếu thốn bớt  khắc nghiệt hơn trong trại cải tạo một chút. Một số cuối cùng nhận được giấy phép xuất cảnh, đổi lấy mọi của cải phải bỏ lại. Khi Nguyễn Thị Minh Hà ra đi năm 1980, người quả phụ cùng khổ này chỉ mang theo bên mình hủ cốt của người chồng,  đã qua đời trong trại cải tạo. Cuối cùng bà rải tro cốt của chồng xuống bờ biển Anh quốc. Anh bà Sĩ, được phóng thích năm 1978, được phép thăm nhà ở Sài Gòn một thời gian ngắn trước khi bị đưa đến Vùng Kinh tế Mới.  Vào năm sau,  được sự giúp đỡ của bạn bè ở hải ngoại và giao nộp nhà cửa, anh được phép rời bỏ Việt Nam với 20 đô la.  Anh đã bí mật cưới Kim Thanh,  người anh đã quen từ thời đi học và giờ là cô giáo; chỉ đến năm 1984 cô mới được bảo lãnh đoàn tụ với chồng ở Anh. Hàng trăm ngàn người Việt không thể có giấy nhập cảnh trở thành ‘thuyền nhân’, đương đầu với hiểm họa và gian nan khủng khiếp để qua mặt hệ thống công an và vượt biển trốn khỏi đất nước nơi đã trở thành một nhà tù rộng lớn.  

Một số người Miền Nam khá giả hơn thoạt đầu chấp nhận kết cục của cuộc chiến,  cho dù kết quả  không như họ đã mong muốn.Trong số này có bà vợ của đại tá Miền Nam Lý Văn Quang, có ba con trai phục vụ trong quân đội,  một đứa khác đã chết trong trận Lam Son 719. Anh bà là Lê Thiện, một tướng lĩnh trong quân đội Miền Bắc: bà đường đột tin rằng mối quan hệ này sẽ giúp gia đình khỏi bị bức hại.  Nhưng rồi ba con trai bà – cháu của Lê Thiện – vẫn phải đi học tập cải tạo nhiều năm trời. Gia đình lấy làm khó hiểu khi trong lúc đó cha họ lại được để yên. Chỉ sau đó khá lâu việc bất thường này mới được bật mí: suốt 20 năm làm sĩ quan Dù, Đại tá Quang được một phụ tá thân cận phục vụ tận tình  có tên là Thông. Người này thân thuộc với gia đình vị tá như người bà con trong nhà đến nỗi các con ông đều xưng y là ‘chú Thông’. Được sự đề bạt của vị đại tá Thông được thăng đến cấp bậc đại uý. Một năm sau khi Sài Gòn thất thủ Thông xuất hiện lại trong nhà Đại tá dưới bộ quân phục một sĩ quan cộng sản,  và tiết lộ rằng trong hơn một thập niên ông ta đã nằm vùng. Ông ta bảo đảm với gia đình là họ sẽ không bị làm hại, vì có ông bảo lãnh Đại tá Quang là một người tốt bụng và liêm khiết. Thay vì biết ơn, người cựu bình già tái mặt vì giận dữ và ném một chiếc ghế vào người ơn,  quát lên,  ‘Ra khỏi nhà tao,  đồ khốn nạn phản trắc!’ Con trai ông nói, ‘Đối với cha tôi, mọi thứ chỉ có đen và trắng.’

Nguyễn Công Hoan, một người Miền Nam phản chiến phục vụ hai nhiệm kỳ Quốc Hội sau 1975 trước khi vượt biên bằng thuyền, nói sáu năm sau đó: ‘Tôi rất ân hận sao trước đây mình không hiểu rõ người cộng sản.  Họ luôn phát biểu những lời lẽ cao cả kêu gọi đến phần tốt đẹp của con người. Rồi những lời ấy lại được sử dụng cho một mục đích bi thảm. Tôi đã sai lầm khi tin tưởng họ.’ Hai Thuận, một cựu binh đã đứng vào hàng ngũ Việt Minh và sau đó sống ở Miền Bắc suốt cuộc chiến,  trở lại Sài Gòn làm việc trong Bộ Tư Pháp mới. Ông sững sờ khi biết tin con trai mình, một sĩ quan Miền Nam trước đây,  đã bị đưa đi cải tạo, Ông  tranh đấu kịch liệt lên tận bộ chính trị nhưng lời cầu xin của ông bị bỏ ngoài tai.  Một buổi sáng đẹp trời, Thuận gieo mình từ mái nhà một cao ốc trên đường Lê Lợi, để lại hai bức thư tuyệt mạng. Một gửi cho lãnh đạo Đảng, lên án tính tàn nhẫn và dối trá của Đảng. Thư thứ hai xin vợ và con trai tha thứ cho mình.

Trương Như Tảng,  bộ trưởng tư pháp trong CPCMLT,  thấy mình không khá hơn người Miền Nam nào khác khi muốn biết tin tức của hai em trai,  bị giam giữ ở Long Thành. Cuối cùng ông xin được phép thăm nuôi tại trại cải tạo, nhưng bị cấm không cho tiếp xúc trực tiếp với họ. Chỉ thoáng nhìn được họ ngắn ngủi,  ông viết: ‘Thậm chí đến giờ phút này gương mặt họ còn ám ảnh tôi: xanh xao, gầy guộc, sợ sệt,  đội mắt họ như đông cứng vô hồn. Thậm chí tôi không thể biết họ sẽ nghĩ gì khi thấy tôi ngồi trong băng sau của một ôtô nhà nước đi quanh quẩn khu vực đó.’ Ông cuối cùng xin bảo lãnh tha cho một người em , nhưng người kia bị chuyển ra bắc ở lại hơn một thập niên nữa, bởi vì ông ta có liên hệ với Quốc Hội Sài Gòn trước đây. Tảng đã tham gia phong trào kháng chiến vì ‘tin tưởng Hồ Chí Minh,  Phạm Văn Đồng vad Đảng Cộng sản Việt Nam là những người yêu nước đặt lợi ích quốc gia trên các mục tiêu cá nhân và ý thức hệ. Vì tình yêu đất nước tôi bỏ gia đình,  bỏ mọi thứ, cho ước mơ này. Tôi đã không vâng lời ba tôi răn dạy, “Để đổi lấy công lao của con, bọn cộng sản thậm chí sẽ không bán bố cho con một phần nhỏ những gì con đang có hiện giờ. Tệ hơn, chúng sẽ phản bội và hành hạ con suốt đời.”‘ Đó là điều họ đã làm. ‘Chính sách thực sự của bộ chính trị,’ Tảng cay đắng viết, ‘là thâm hiểm và rốt ráo sẽ hủy diệt quốc gia.’

Sĩ quan Ngành Cảnh sát Đặc biệt Phan Tấn Ngưu thoát khỏi hành quyết  – may mắn như số phận vài đồng nghiệp của ông  – nhưng phải bị giam giữ 17 năm dài. Bà xã ông hoàn tất 5 năm ‘học tập’, rồi trong lần vượt biên thứ 4 đến được nước Mỹ cùng với các con. Gia đình cuối cùng đoàn tụ khi Ngưu được cho phép xuất cảnh vào năm 1996, sau hơn 20 năm xa cách. Giờ đây hai trai ông đang là sinh viên Đại học Y Johns Hopkins – cả hai trở thành những bác sĩ giải phẫu thành công. 

Phan Phương, con gái một sĩ quan Ngành Đặc biệt khác,  chỉ mới 15 tuổi khi Sài Gòn thất thủ, phải xa rời người cha thân yêu bị giam giữ 8 năm. Lúc đầu, cô và 8 em trai có thể tiếp tục việc học hành. Mẹ cô buôn bán nhỏ ở chợ và, như bao nhiêu gia đình Miền Nam khác, phải bán dần tài sản để mưu sinh. Rồi mẹ cũng đi tù một năm,  và Phương trở thành người kiếm cơm duy nhất trong nhà, làm kem chuối để bán. Cô phải xin thêm thực phẩm nuôi các em, trong một thế giới mới trong đó việc sống sót trong tuyệt vọng là mục tiêu duy nhất: một hôm, nhìn người láng giềng có một giỏ khoai lang,  cô chỉ xin một củ cho gia đình  nhưng vẫn bị từ khước. ‘Mỗi đêm tôi cầu nguyện một phép lạ sẽ xảy ra,  cho đến khi cuối cùng mẹ được thả ra. Tôi quá đổi vui mừng.’ Gia đình cuối cùng thoát khỏi Việt Nam vào năm 1991.

Doug Ramsey cho biết không có gì ngạc nhiên trước sự nhẫn tâm của người cộng sản: ‘Nếu có, tôi chỉ ngạc nhiên là họ không khắc nghiệt hơn – hãy xem nguyên tắc của cộng sản Trung Quốc trả thù ít nhất đến ba đời, đôi khi đến 7 đời.’ Cựu binh Miền Bắc Bảo Ninh nói rằng sau khải hoàn của Hà Nội,  ‘Bảo bên chiến thắng không lợi dụng cơ hội để bắt kẻ thua cuộc chấp nhận lối suy nghĩ của mình là đòi hỏi hơi quá. Nhưng trại cải tạo kéo dài quá lâu.’

Trong tác phẩm bán chạy nhất 2016 ‘Cảm Tình Viên’ của Nguyễn Thanh Việt, có đề cập đến một âm mưu của những người lưu vong tiến hành một chiến dịch du kích chống chế độ Hà Nội.  Một âm mưu như thế thực ra đã được tiến hành vào năm 1977: kêu gọi ráo riết cộng đồng tị nạn Việt Nam tại Mỹ  tiền đóng góp để thành lập một trại huấn luyện tại bắc Thái Lan. Một ít năm sau Frank Scotton, khi đó đang làm việc tại sứ quán Mỹ tại Bangkok, thấy mình được uỷ nhiệm giải tán những người phản cách mạng đầy ảo tưởng đó. Ông bảo họ nên xấu hổ khi bừa bãi đem người vào chỗ chết một cách vô ích. Nhưng họ vẫn tiến hành cho đến cuối thập niên 1980, tìm cách xâm nhập du kích qua Lào: vài trăm ‘chiến binh kháng chiến’ hy sinh,  kể cả lãnh tụ của họ, một cựu sĩ quan hải quân Miền Nam, trong một loạt cuộc hành quân tỏ ra bi thảm vì vô ích.

Việc chấm dứt chiến tranh giáng một cú sốc không chào đón vào các nhà lãnh đạo Việt Nam: các siêu cường Đông và Tây hạ giá xứ sở họ – vốn hai thập niên nay duy trì được tiếng tăm vượt xa kích cỡ hoặc sức mạnh của nó – đến bên lề của tình hình thế giới. Trung Quốc càng ngày càng trở nên thù địch.  Vào cuối thập niên 1970, các viên chức Bắc Kinh có nhắc tới với vẻ khinh bỉ một thành viên bộ chính trị mà họ gọi là ‘tên xin ăn’ vì y nhiều lần xin viện trợ.  Vào năm 1979 Trung Quốc và Việt Nam tiến hành một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu tại biên giới. Viện trợ của Nga teo tóp một cách ấn tượng,  và biến mất cùng với sự sụp đổ của Liên bang Xô viết. Vào năm 1980 Việt Nam giàu tài nguyên đã trở thành một trong nhóm các quốc gia nghèo nhất thế giới.  Qua thập niên tiếp theo, nhân dân lâm vào cảnh lầm than,  nhưng các lãnh đạo già cổi của họ vẫn không muốn buông bỏ chủ nghĩa tập thể, hoặc giao thiệp với các nước phi cộng sản , vì sợ gây ô nhiễm cho tính thuần khiết ý thức hệ của mình. Chỉ sau Đại hội Đảng 6 1986 bộ chính trị Hà Nội mới hậm hực bắt đầu điều chỉnh một vài chính sách, cho phép người miền nam ve vãn trở lại với thương mại,  vì họ rành rẽ hơn các đồng bào miền bắc của họ nhiều. Nạn đói kém năm 1980 quét qua một vài khu vực miền bắc, khiến hơn 9 triệu dân lâm vào cảnh cùng khổ: số người chết không được biết. Nhưng vẫn còn có các nhà ý thức hệ cùng với một số tướng lĩnh và nhất là các thành viên của bộ máy tình báo hùng mạnh, thấy khó hòa giải với tính hợp lý kinh tế. Tận đến tháng 9 năm 1989 Nguyễn Văn Linh còn nói trong một bài diễn văn đọc tại Viện Giáo dục Chính trị của Đảng: ‘Chủ nghĩa Tư bản chắc chắn bị thay thế bởi chủ nghĩa xã hội, bởi vì đó là qui luật của lịch sử nhân loại, mà không ai có thể phủ nhận.’ Lê Đức Thọ viết một bài thơ không lâu trước khi ông chết vào năm 1990, ca tụng những niềm vui đã mất khi được chia sẻ thiếu thốn và gian khổ:

Trong quá khứ chúng ta có tình cảm mạnh mẽ

Chia sẻ cuộc sống và cái chết, chia sẻ một bát cơm và một tấm áo

Nhưng giờ người ta lấy tiền

Và cá tính làm thước đo cho tình cảm

Tình đồng chí đã dần phai nhạt

Lê Duẩn mất năm 1986, nhưng những người kế vị ông và Thọ vẫn tỏ ra không chủ trương nới rộng quyền tự do cá nhân hoặc hy sinh một chút xíu quyền lực thống trị của Đảng: thuyết Mác-Lê tiếp tục được dạy trong mọi trường trung học. Giới lãnh đạo già nua của Hà Nội chỉ nhìn nhận sự cần thiết phải cho phép cá thể làm ra tiền,  tạo ra của cải, và một số tỏ ra thành công nổi bật.

Về phần các nước láng giềng, phần đông binh sĩ Hà Nội rút khỏi Lào vào năm 1988, và khỏi Cao Miên vào năm sau. Bang giao với Mỹ được lập lại vào năm 1995. Năm đó Việt Nam cũng gia nhập tổ chức chính trị và mậu dịch ASEAN, và WTO một thập niên sau. Quy trình chọn lãnh đạo của Hà Nội vẫn phủ kín trong vòng bí mật, nhưng rõ ràng một liên minh các ông già ôm ấp tính siêu việt ý thức hệ Việt Nam,  và các ông bà mới thuộc gia đình đã từng nắm quyền lực bên trong Đảng, tiếp tục bóp nghẹt tự do hóa. Nhiều người đã trở thành những kẻ thụ hưởng giàu chất ngất nhờ lợi lộc kinh tế của đất nước.

Về phần cộng đồng lưu vong khổng lồ và đang lớn mạnh, Đạo luật Hỗ trợ Di dân và Tị nạn Đông Dương năm 1975 của Quốc Hội Hoa Kỳ biểu thị một đáp ứng ban đầu thông hiểu cho một khủng hoảng nhân đạo. Dù sao đi nữa,  Châu Phát nói, ‘Không ai có lý do để sung sướng về hậu quả của cuộc chiến,  nhưng bị dán nhãn hiệu thua cuộc cũng khó sống hơn so với những người được gọi là thắng cuộc.’ Nhiều người trong số kẻ bắt đầu cuộc sống mới ở nước ngoài đã phấn đấu trong các năm đầu: ‘Họ đã nhận thông tin sai quá lâu. Họ tưởng người Mỹ đã đến Việt Nam để giúp đỡ họ. Thật ra họ đến chỉ để sử dụng đất nước Việt như một nền tảng để thách thức chủ nghĩa quốc tế cộng sản.’ Chính Phát đã trở thành một doanh nhân và mạnh thường quân thành công, giờ được biết dưới tên Frank Jao.

Sĩ quan không lực trước đây Nguyễn Khiêm cũng bắt đầu cuộc sống mới ở nam California  nơi anh làm lao động chân tay với giá $2.50 một giờ cho đến khi anh học tập để trở thành một chuyên viên máy tính. Một hôm ngay sau khi vừa mới đến,  một gã tài xế xe tải ló đầu ra khỏi cửa xe và quát anh,  ‘Cút về nhà!’ ‘Nghe mà đau điếng,’ Khiêm nói, nhưng rồi anh thêm, ‘Sau này tôi cũng gặp được nhiều người tốt.’ Như một số lớn đáng kinh ngạc những người Mỹ gốc Việt, anh đã tạo dựng một sự nghiệp thành công trong cuộc sống mới. Don Graham thuê mướn 30 dân tị nạn để làm việc tại Tòa báo của gia đình ông, Washington Post: ‘Họ chứng tỏ là những nhân viên chăm chỉ và trung thành nhất chúng tôi có.’ Nguyễn Trí, từng là chỉ huy trẻ nhất trong hải quân Miền Nam,  đã trở thành một công dân mãn nguyện của Quận Cam. Anh nói: ‘Giờ đây tôi đơn giản tự hào mình là một người Mỹ. Tôi muốn sống cho tương lai,  không cho quá khứ.  Tôi chỉ tiếc là sau khi người cộng sản chinh phục Miền Nam,  họ không đối xử khoan dung như quân Miền Bắc sau Nội Chiến Mỹ.’

2 Kiểm Toán Cuộc Chiến

Những trang đúc kết trong lịch sử chiến tranh 8 cuốn của Việt Nam,  tựa đề Toàn Thắng, đưa ra các con số thương vong: gần 2 triệu dân thường bị giết; 2 triệu người bị què quặt hoặc tàn tật; thêm 2 triệu bị phơi nhiễm chất hoá học độc hại. Trên chiến trường Hà Nội ước tính 1.4 triệu người bị giết và mất tích,  cùng với 600,000 người bị thương.  Số thương vong dân thường dường như phóng đại,  nhưng số thống kê quân sự có vẻ là con số đúng – không ai biết chắc. Đáng chú ý rằng các cựu binh QĐVNCH, và nhất là thương phế binh, đến hôm nay vẫn chưa phải là con người trong mắt các nhà cai trị Việt Nam. Các tác giả kết luận trong lời kết: ‘Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền Việt Nam đã thực hiện thành công khái niệm chiến lược mà Bác Hồ đã vạch ra trong ‘Thư Chúc Tết’ 1969 của Người: ‘Đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào.” Đất nước ta đã thống nhất  … nhân dân Việt Nam đã đánh bại chiến dịch gây hấn thực dân mới lớn nhất, lâu dài nhất và tàn bạo nhất kể từ Thế Chiến II.’ Robert McNamara có lần hỏi Giáp ai là vị tướng tài giỏi nhất của cuộc chiến, vị tướng Việt Nam trả lời với tính đúng đắn mang tính ý thức hệ không thể kích bác được: ‘Nhân dân.’ Ngược lại, Ronald Reagan nói một thập niên sau đó khi Sài Gòn đã thất thủ: ‘Đây là thời điểm chúng ta phải nhìn nhận cuộc chiến của chúng ta, đúng ra, là một cuộc chiến chính nghĩa cao quý.’ Trong khi tác giả bảo thủ Mỹ Michael Lind nhìn nhận cuộc chiến là ‘mot thảm bại khủng khiếp … tiến hành bởi những phương thức thường là phản tác dụng và đôi khi có thể xem là vô đạo đức ‘, ông và phe của ông ngày nay xem nó chỉ là một chiến dịch thất bại trong một cuộc chiến toàn cầu thành công  … vốn phải được chiến đấu để gìn giữ uy tín quân sự và ngoại giao của Hoa Kỳ.’

Hậu thế sẽ tiếp tục bàn cãi liệu thành tựu đáng ca tụng củ Hồ Chí Minh và phe ông trong việc đánh đuổi thực dân Pháp khỏi Đông Dương có biện minh được cho bi kịch kinh tế và xã hội mà sau đó họ gây ra cho nhân dân Việt Nam hay không, trước tiên ở Miền Bắc và sau đó trên toàn quốc. Nhiều người Miền Nam đi theo lý tưởng cộng sản cho đến 1975 từ bỏ lý tưởng đó sau khi trải nghiệm sự áp đặt ý thức hệ của Hà Nội. 

Việc dính líu của người Mỹ có thể nào đưa đến một kết cục khác hay không? Nhiều người Mỹ – như Frank Scotton, Doug Ramsey, Sid Berry – đến Việt Nam do hứng khởi từ những lý tưởng phục vụ cao đẹp nhất.  Scotton nhớ một nhận xét của đồng nghiệp cũ của mình  John Paul Vann: ‘John nói chúng ta hỗ trợ người Việt bay cao trên bầu trời bằng một bộ máy nặng hơn không khí, và phải giúp họ đáp xuống nhẹ nhàng như có thể,  chứ không phải rơi xuống. ‘ Sotton hỏi ông có gì khác. Vann trả lời: ‘Cách đó có nhiều người sống sót hơn.’ Hai người có lần đáp một trực thăng tải thương nhỏ xíu xuống một tiền đồn Địa phương quân đã bị địch đánh chiếm trong đêm. Họ có phần nào nghiêng người ép mạnh một binh sĩ Việt bị thương nặng trong buồng lái, rồi hướng nhanh về Pleiku. Người thương binh ra máu khắp phần bụng của Scotton, trước khí tắt thở trong không trung. Khi họ đáp xuống Vann cứ đứng đập bàn tay vào tấm kính chắn một cách tức tối, nói hết lần này đến lần khác ‘Chỉ trễ 20 phút thôi! Chỉ trễ 20 phút thôi nếu không thì anh ấy đã sống được!’ Scotton nghĩ: ‘Đây là một chàng trai mà John chưa hề gặp trong đời: vậy mà anh vẫn quan tâm tận tình đến cậu ấy, vì cậu ấy thuộc phe chúng tôi.’

Câu chuyện này thật xúc động, nhưng việc cam kết của người Mỹ sai sót một cách chết người vì không đặt trên nền tảng lợi ích của nhân dân Việt Nam,  mà do các yêu cầu đòi hỏi của chính sách đối nội và đối ngoại của Hoa Kỳ, việc ngăn chặn Trung Quốc là ưu tiên hơn tất cả. Các quyết định leo thang của các bộ máy hành pháp liên tiếp gây bối rối cho hậu thế,  bởi vì những tay chơi chủ chốt nhận ra sự thiếu xót của chế độ Sài Gòn mà họ nhờ cậy để cung cấp một mặt tiền bản địa cho dinh thự Hoa Kỳ.  Vào năm 1965 các Tham mưu trưởng Liên quân cảnh báo McNamara về ‘tình trạng khiếm khuyết của một cấu trúc chính trị/kinh tế … của tính ổn định trong chính quyền trung ương,  tình trạng thấp kém của tinh thần chiến đấu của giới lãnh đạo,  và viên chức hành chính thiếu đào tạo  … Giải quyết,  chủ yếu mang tính chính trị, các vấn đề này là tối thiết để kết thúc rốt ráo sự nổi dậy của cộng sản.’ Nhưng các nhà lãnh đạo Mỹ đã mắc ảo tưởng là tất cả những thách thức phức tạp này có thể giải quyết bằng cách thì triển áp đảo sức mạnh quân sự, như thể sử dụng súng phun lửa để diệt cỏ dại trong một bồn hoa

Vì đây là thất bại về chính sách cốt lõi của Hoa Kỳ, nên dường như không thích hợp để đổ tội nặng nề cho các tướng lĩnh, phần nhiều không ấn tượng  trừ một số khá ấn tượng. Vào năm 1964 William Westmoreland vui mừng khi được giao trọng trách tư lệnh chiến trường quan trọng nhất từng đặt trên vai bất kì quân nhân nào từ thời đình chiến  Triều Tiên. Lúc mà ông hồi hương bốn năm sau đó, ông đã biến thành một gã bung xung cho nỗi sỉ nhục quốc gia.  David Elliott nói đúng: ‘Không hề có một cách khôn khéo để tiến hành chiến tranh.’ Tướng James Gavin là một trong số những người cảnh báo ngay từ đầu: ‘Nếu một ngôi làng bị đánh qua lại 5 hoặc 6 lần, rất nhiều thường dân bị thiệt mạng. Toàn thể kiểu dạng của cuộc sống sẽ thay đổi  … Khi cuộc chiến kéo dài, chúng ta sẽ hủy diệt ngay các mục tiêu vì chúng mà chúng ta chiến đấu.’

Thậm chí trước khi xem xét các hậu quả động lực, những nhà hoạch định chính sách Mỹ quên nhận ra tác động kinh tế và văn hoá của một đạo quân ngoại bang khổng lồ lên một xã hội nông nghiệp Á châu. Một thư ký người Việt làm cho Mỹ kiếm được đồng lương cao hơn một đại tá QĐVNCH. Xe ủi đất và các côngtenơ, cột anten và xe bọc thép,  tháp canh, bao cát và hàng rào thép gai an ninh tàn phá môi trường ngay cả trước khi súng bắt đầu nổ, trực thăng quay quắt trên đầu,  binh sĩ to xác mua tình dục các phụ nữ nhỏ gọn. Đây không phải một lời nguyền rủa độc nhất đối với Việt Nam,  mà treo lơ lửng trên mọi cuộc can thiệp quân sự của Tây Phương tại những xứ sở xa xôi,  dù có thiện ý thế nào. 

Người cộng sản hưởng được lợi thế tuyên truyền quan trọng là họ gần như là vô hình đối với phần đông dân chúng, phần lớn thời gian. Họ đặt một dấu chân nhẹ phớt trên mặt đất, khác xa với bước chân người Mỹ, bước chân của họ – đối với những người Việt có văn hoá – có thể sánh với và thực ra đã được sánh với  bước chân các gã khổng lồ của phim khoa học giả tưởng, lết đi ngang qua khung cảnh, phá tan sự tĩnh lặng,  đập vỡ các công trình trên đường đi của gã. Trong thế kỷ 21, các tư lệnh Tây Phương còn chưa hiểu rõ tính điên rồ của việc tung quân ‘gây chiến trong dân chúng” mà lại mang kính râm, đội mũ sắt, mặc áo giáp khiến họ trông như thể các rô bốt được nạp năng lượng để giết, không biết thương xót hoặc thậm chí nhận ra là con người bằng xương bằng thịt.

Ở cả Miền Bắc lẫn Miền Nam, nơi nào người cộng sản thống trị họ truyền bá khủng bố và tịch thu quyền tự do cá nhân. Với tất cả sự a dua mà Cánh Tả Tây Phương chất đống lên Hồ Chí Minh và Lê Duẩn, họ chủ trì một chế độ toàn trị cơ bản là phí nhân.  Vậy mà quyền lực của nó dường như đáng tin hơn của đối thủ. Trong hầu hết xã hội, kể cả nước Mỹ hiện đại,  cư dân nông thôn thường theo bản năng không mấy tin cậy giới tinh hoa đô thị.  Ở Miền Nam càng đặc biệt nhức nhối,  nơi Sài Gòn được xem như hiện thân của thuộc địa Pháp hơn là một nền văn hoá bản địa.  Trong khi có it người quan tâm nhiều đến chủ nghĩa Mác-Lê, thì nhiều người ấn tượng trước lời hứa cải cách ruộng đất nhằm thoát khỏi ách của điền chủ và bọn cho vay, xiển dương chính quyền bởi nhân dân và vì nhân dân,  đánh đuổi ngoại bang.  Châu Phát Miền Nam nói: ‘Người cộng sản lúc nào cũng nhắc nhở chúng tôi bị xâm chiếm là điều sỉ nhục nhất.’ Cha ông, một người Bắc di cư, nói ngay từ ngày đầu của cuộc chiến,  ‘Không có hi vọng gì đâu. Chúng ta sẽ bại trận.’ Con trai ông nói: ‘Cha tôi có thể nhìn vào đầu óc những người ông quen biết rằng bên kia có được độc quyền yêu nước.’

Trương Như Tảng của CPCMLT nói với vẻ khinh thị về việc người cộng sản thao túng giới truyền thông Tây phương quá dễ dàng,  nói, ‘Chúng tôi không lo tìm kiếm những người hậu thuẫn nhiều như tìm kiếm những đối thủ của chế độ Mỹ và Sài Gòn  … Không chỉ công luận Miền Nam và Mỹ tin vào những điều dối trá của người công sản. Ngay cả bọn chúng tôi sống giữa rừng và hy sinh và chiến đấu cùng với họ … cũng làm nạn nhân.’ Chỉ một thời gian sau 1975 khi sống dưới chế độ cộng sản, nhân dân Miền Nam, và cả thế giới, mới thấm thía câu nói của Nguyễn Văn Thiệu, có lẽ là di sản duy nhất của ông để lại cho hậu thế: ‘Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm.’

Người Miền Bắc lệ thuộc vào tiền bạc và vũ khí của Trung Quốc và Liên Xô,  nhưng nhân dân Miền Nam chưa hề gặp người cung cấp vũ khí ngoại bang này, mà chỉ trông thấy các anh em đồng bào cộng sản của họ, đập ngay vào mắt họ là cảnh thiếu thốn sở hữu vật chất, bên cạnh của cải lồ lộ thu vén được của các công bộc Sài Gòn.  Đối với giới nông dân thấp hèn nhất cũng thấy rõ ràng những người cai trị Miền Nam,  dù mặc quân phục hay áo vét, không thể thức dậy vào buổi sáng mà quên hỏi các ông chủ trả tiền mũi lõ của mình phải xuống giường bên nào. Ít người Mỹ nào nhận thức tình trạng khống chế lộ liễu các đồng minh của họ làm cùn nhụt trầm trọng biết bao đến nỗ lực chiến tranh. Thắng lợi của cộng sản là nhờ vào kỹ năng quân sự của quân đội Miền Bắc và VC thì ít mà vào sự kiện họ là người Việt thì nhiều. Hà Nội đưa ra nhiều lời dối trá về đủ thứ chuyện,  nhưng họ nói lên sự thật khi xác quyết rằng chế độ Sài Gòn là bù nhìn.

Đôi khi người ta cho rằng không có sự tương tự giữa Việt Nam và các trận chiến thế kỷ 21 của phương Tây ở Iraq và Afghanistan.  Nhưng một điều hiển nhiên là Hoa Kỳ và đồng minh trải nghiệm những khó khăn mãn tính trong việc chuyển dịch những thắng lợi trên chiến trường thành chính thể bền vững. Sĩ quan Mỹ xuất sắc đó Trung tướng H.R. McMaster có lần mô tả (với tác giả vào năm 2006) trải nghiệm và thành tựu của mình khi chỉ huy một trung đoàn xe bọc thép tại Iraq 2004-05. Ông buồn rầu kết luận: ‘Vấn đề là không có gì để kết nối đến.’ Neil Sheehan nói: ‘Ở Miền Nam, cũng vậy,  không hề có gì được kết nối đến.’ Vắng mặt nền trị vì địa phương đáng tin cậy, thì đánh thắng trận chiến là, và luôn luôn là, điều vô nghĩa.  Tại Việt Nam,  người cộng sản là phe tham chiến duy nhất biết tiến hành một cuộc chiến tích hợp chính trị và quân sự.

Nhưng nếu cuộc chiến không thể thắng trên chiến trường,  người Mỹ có thể đã xoay sở để gây ra ít thiệt hại hơn, qua sự dư thừa các lực lượng vũ trang,  trên vị thế của mình là  ngọn cờ đầu  cho các giá trị văn minh. Một ảo tưởng thông thường là cho rằng bên dưới lớp quân phục các chàng trai Tây phương ra nước ngoài chiến đấu vẫn giữ nguyên cốt cách là các chàng trai nông thôn hiền lành.  Một số đúng là như vậy, nhưng số khác thì không. Binh lính được huấn luyện để thành kẻ giết người.  Tình huống tác chiến buộc họ phải sống một cuộc sinh tồn bán động vật khiến cảm xúc họ chai đá. Nhiều chiến binh đâm ra coi rẻ mạng sống người ngoài cuộc, những người mà họ không quen biết,  nhất là khi họ chịu nhiều thương vong.

Tại Việt Nam, binh sĩ Mỹ thường bực mình bởi Quy tắc Giao tranh được ấn định để giảm tổn thất cho dân thường. Một binh sĩ phản đối với Michael Herr, ‘Đó sẽ là một cuộc chiến chết tiệt… Ý tôi là nếu chúng ta không thể bắn những người này,  thì chúng ta ở đây làm gì?’

Thật khó để chỉnh đốn tác phong của các chàng trai sở hữu trong tay những vũ khí giết người vốn – như hầu hết các binh sĩ của thời đại  – thường nóng bức hoặc rét lạnh,  bẩn thỉu, đói khát, bị táo bón hoặc tiêu chảy,  cô độc, mệt mỏi,  dốt nát, căng thẳng thần kinh, luôn ghì chặt súng và sẵn sàng bóp cò vì chỉ như thế mới mong sống còn. Tiền lệ của Xô viết và Quốc xã cho thấy rằng bọn chiếm đóng không biết thương xót chỉ cần dùng bạo lực là có thể dẹp tan bọn kháng cự. Tại Việt Nam,  Quân đội Hoa Kỳ tỏ ra đường đột và khinh miệt chủng tộc  – đôi khi cũng hiếu sát  – đủ liều lượng để gây hận thù nơi dân chúng; nhưng không đủ dã man để ngăn được nhiều nông dân tiếp tay cho cộng sản. Lính Mỹ đốt làng mạc đủ nhiều để khiến thế giới khiển trách,  nhưng quá ít để ngăn cản dân địa phương che giấu du kích quân. 

Cũng đáng sợ không kém là đồng bào họ muốn phủi tay khỏi vụ Mỹ Lai cùng những trò khủng khiếp tương tự: một cuộc thăm dò của báo Time 1969 cho thấy 69 phần trăm người Mỹ hậu thuẫn mệnh đề ‘Những chuyện như thế xảy ra trong thời chiến.’ Một thước đo đúng đắn trong bất kì xã hội nào không phải liệu binh lính của nó có bốc đồng phạm những trò tàn bạo hay không, mà liệu các điều này có được xem là chấp nhận được về mặt thể chế hay không,  như trong quân đội của Hitler và của các đối tác Nga và Nhật thời Thế Chiến II, không quân đội nào dường như là kiểu mẫu thích đáng cho một nền dân chủ Tây Phương hiện đại. Những hành động thái quá của lực lượng Mỹ tại Việt Nam, mặc dù không có tính phổ quát, nhưng đủ bình thường để chứng tỏ rằng nhiều quân nhân Mỹ xem người Việt là những con người hạ cấp, cuộc sống của họ kém giá trị hơn cuộc sống của người ‘mũi lõ’. Vào tháng 8 1967 Chiến dịch Benton, mà dường như không ai nghe đến, là chiến dịch tim-và-diệt  cỡ trung đoàn tiến hành chống lại một trung đoàn Miền Bắc. Trong quá trình của nó khoảng 10 ngàn người Việt ở tỉnh Quảng Tín phía nam Đà Nẵng mất hết nhà cửa.  Trong một khu vực 6 dặm nhân 13 dặm, 282 tấn bom và 116 tấn bom napan được bỏ xuống; 1,000 rốc két, 132,820 đạn 20mm, 119,350 đạn 7.62mm và 8,488 quả pháo được bắn đi. Đếm xác địch thông báo 397 người, 640 dân thường được di tản đến trại tị nạn. Một công việc hai tuần như thế có thể coi là tiêu biểu. Hơn nữa,  thật là một lỗi lầm kinh khủng mang tính biểu tượng khi cho phép người Việt đánh giày trận cho các binh nhất khiêm nhường nhất và làm vệ sinh khu vực sinh hoạt. Các chỉ huy Mỹ dành khá nhiều công sức cho các chương trình hoạt động dân sự. Tuy nhiên,  là các chiến binh chuyên nghiệp,  họ được điều kiện hóa để xem trận chiến như là hoạt động chính của mình. Phần đông cảm nhận từ trong xương tủy rằng nếu binh sĩ mình không chiến đấu,  họ không đáng nhận lương. 

Hơn nữa,  các sĩ quan chuyên nghiệp có tham vọng đánh bóng tên tuổi và thành tích để được thăng cấp. Không chắc họ có thể đạt được điều này nếu báo cáo một danh sách các trường học và làng mạc mở cửa cho chương trình nhân đạo y tế: không ai được Huy chương Danh Dự vì phân phát bánh kẹo cho các viện mồ côi. Tiêu chuẩn vàng phải là số quân địch giao tranh và bị tiêu diệt.  Mỗi quốc gia đều cần binh sĩ bảo vệ cho những lợi ích của mình, nhưng có nguy cơ dung túng cho họ quá nhiều tự do trong lòng xã hội dân sự. Bác sĩ quân y Russ Zajtchuk đâm ra không ưa các chuyến thăm viếng của Chương trình Nhân đạo Y tế: ‘Khi bạn bỏ bom một ngôi làng và làm nhiều dân thường bị bỏng nặng, rồi sau đó bạn đến cho một số vitamin và xà phòng,  tôi không bao giờ cảm thấy thoải mái về chuyện đó. Đúng ra tôi thấy mình như một tên đạo đức giả.’

Trong các giai đoạn sau của cuộc chiến,  chiến tranh du kích nhường chỗ cho xung đột vũ trang quy ước trong đó lực lượng Mỹ có thể đã đánh bại cộng sản nếu ý chí của nhân dân Mỹ đã không sụp đổ. Tuy nhiên,  cho dù hỏa lực đã lấn át,  cũng khó hình dung kết cục sẽ tốt đẹp đến đâu. Chế độ Sài Gòn không tranh thủ được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của dân chúng: vẫn ‘không có kết nối đến’. Có thể cho rằng nhân dân Miền Nam phải trải nghiệm mô hình cộng sản,  như họ đã làm với cái giá đáng sợ sau 1975, trước khi họ có thể loại bỏ nó.

Cuộc chiến tiêu tốn của Mỹ $150 tỷ, ít hơn nhiều so với Iraq hai thế hệ sau. Nhưng cái giá thực sự  phải trả không chỉ tính bằng tiền, thậm chí không bằng 58,000 sinh mạng binh lính Mỹ – so tỷ số quân tham chiến, tổn thất không bằng chiến tranh Triều Tiên – nhưng tính bằng nỗi tổn thương mà nó gây ra. Neil Sheehan nhận xét rằng trải nghiệm lịch sử trước đây đã cho người Mỹ thấy các cuộc chiến ở nước ngoài là một điều tốt đẹp: ‘Bạn đánh thắng; bạn được chào đón khi về nước.  Rồi Việt Nam đến. Nhiều người hy sinh không vì điều gì. Tất cả đài tưởng niệm chiến tranh khác vinh danh chiến thắng.  Riêng đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam truy niệm nỗi buồn và sự lãng phí.’ Lục quân và Hải quân Hoa Kỳ phải mất 15 năm mới phục hồi sau sự xuống dốc gần như thành một đám hỗn binh nổi loạn, để một lần nữa trở thành một lực lượng chiến đấu nổi bật. 

Niềm tin của nhân dân Mỹ vào tính chính trực đạo lý và sức mạnh quân sự vô địch của mình, sinh ra sau kết quả của Thế Chiến II và đi kèm một thành tựu kinh tế quá hoành tráng đến nỗi dường như là hợp lý để tin rằng nó phản ánh ý muốn của Ơn Trên, giờ hứng chịu một tổn thương hủy diệt.  Tướng Walt Boomer nói: ‘Chiến tranh Việt Nam làm thay đổi đất nước này hơn bất kì sự kiện nào trong lịch sử gần đây của chúng ta.  Nó tạo ngờ vực và mất lòng tin mà chúng ta không bao giờ cứu chuộc được.’

Cho dù những kẻ cuồng tín trẻ tuổi của phong trào phản chiến phô trương sự ngây thơ của họ khi ca tụng đức hạnh của Hồ, Mao Trạch Đông, Che Guevara, thì những người hậu thuẫn nó nhận diện đúng đắn Việt Nam là một thảm họa.  Khi Daniel Ellsberg được hỏi làm thế nào ông có thể biện minh cho việc tiết lộ động trời 7,000 trang tối mật của Tài Liệu Ngũ Giác Đài, ông trả lời với người cật vấn: ‘Tôi tự hỏi liệu có khi nào anh có dịp hỏi bất kì viên chức nào khác [dính líu vào việc điều hành cuộc chiến] làm thế nào họ tự biện minh cho việc họ không làm như tôi đã làm hay không? Điều gì khiến họ cảm thấy mình có quyền giữ im lặng về những dối trá đã nói ra… những tội ác đã vi phạm, những hành động phi pháp, lừa gạt công luận Mỹ?’

Ellsberg đưa ra một luận điểm công bình, đúng ra là gây chấn động. Walt Boomer, tiếp tục chỉ huy Lực lượng Viễn chinh TQLC trong Chiến Tranh Vùng Vịnh 1991, nói rằng bài học lớn nhất ông mang về nhà từ Việt Nam là: ‘Kể ra sự thật.’

Một phi hành viên Không lực Mỹ trước đây viết về trải nghiệm Việt Nam của mình: ‘Dù tôi tự hào đã phục vụ như một thành viên phi hành đoàn B-52, tôi đã trải 40 năm dư vừa qua cố gắng quên cuộc chiến chết tiệt đó . .  . một sự lãng phí thời gian, tiền bạc  và sinh mạng con người.  Và vào phút cuối  … các lãnh tụ của chúng ta chạy cụp đuôi,  bỏ rơi chính những người mà mình đã đưa ra quá nhiều lời hứa hẹn.’  Frank Scotton phân biệt hai câu chuyện đối đầu nhau trong lòng nước Mỹ ngày nay: ‘Khi nhiều cựu binh Mỹ gặp nhau,  họ kể cho nhau nghe người Miền Nam sống khổ sở ra sao.  Còn khi người lưu vong Miền Nam gặp nhau,  họ lại bảo người Mỹ khổ sở thế nào.’ Sau chiến tranh chính ông cũng ‘cảm thấy phần quan trọng nhất của đời mình đã qua.  Tôi không bao giờ muốn đặt cuộc sống mình trên chiến tuyến cho một chính nghĩa một lần nào nữa. ‘ Tại nam California ông cuối cùng làm hòa với Kim Vui, người yêu lâu năm mà ông đã bỏ rơi ở Đà Lạt vào năm 1966, và họ cưới nhau vào tháng 11 năm 2015: ‘Bà ấy nói tôi nợ bà 50 năm.’ Còn Doug Ramsey cuối cùng chuyển về sống ở nhà cũ của cha mẹ tại Boulder City, Nevada: ‘Đây hình như là một nơi tốt đẹp để phục hồi lại tâm thức bình thường như có thể,  mặc dù ngày nay tôi biết rằng tôi nên ở quanh quẩn Washington để tiện việc chăm sóc sức khỏe.’ Gần như hoàn toàn tật nguyền, bắt buộc phải trông cậy vào Bảo hiểm Y tế và lương hưu,  ông nói: ‘Tôi chia sẻ với các cựu binh Việt Nam niềm tin là chúng tôi đã bị chính quyền mình gây bao nhiêu khổ sở.’ Ramsey mất vào tháng 2 2018.

Sĩ quan không lực trước đây Nguyễn Khiêm nói rằng ông còn tìm cách tránh mặt với người Miền Bắc: ‘Chúng tôi cùng dân tộc, nhưng một số người thân,  bạn bè,  binh sĩ tôi đã chết dưới tay họ.’ Ngày nay ông không còn đầy hận thù,  nhưng không sao quên được.  Bộ đội Miền Bắc Phạm Thành Hưng, người bị thương nặng ở chiến trường Quảng Trị 1972, cũng không thể quên được: ‘Đôi khi tôi còn gặp ác mộng thấy mình bị không kích – ác mộng tồi tệ hơn thấy mình bị gọi nhập ngũ trở lại  để chiến đấu một cuộc chiến mới. Tôi, và một số người thuộc thế hệ tôi, cảm thấy phần nào bị lường gạt bởi những gì đã xảy ra với chúng tôi.’

Thiếu tá Don Hudson, người chỉ huy một đại đội bộ binh vào năm 1970, nói về các vỡ mộng của cựu binh Mỹ: ‘Họ tưởng khi đi về nhà trong bộ quân phục và huy chương,  mọi người sẽ thực sự sung sướng tay bắt mặt mừng với mình.  Nhưng họ nhận ra là không phải vậy.’ David Rogers thuộc số những người còn nhìn lại với nỗi xúc động sâu xa: ‘Trải nghiệm quá lớn lao.  Tôi không có ý nghĩ gì to lớn  – phần nhiều chỉ mang tính riêng tư.  Tôi cố viết một cuốn sách, nhưng không có khả năng thực hiện.  Tôi gặp nhiều vấn đề khi trở về  và thường đi nhà thờ. Tôi.không sao xưng tội được. Tôi thấy mình dơ bẩn. Tôi đã dự phần giết chóc.’ Một số người đương thời xa lánh anh chỉ vì anh dính líu với cuộc chiến: ‘Một bạn gái nông nổi đã bỏ tôi để đi Canada với một bạn trai.’ Ký ức duy nhất còn ý nghĩa với Rogers, như hàng triệu người trước đây,  là ký ức về trung đội mình: ‘có thể nói rằng là một quân y tá tôi đã ở đó vì họ.’

Khoảng một phần ba đồng đội anh bị giết hoặc bị thương. Sống gần bạn Washington D.C., anh thỉnh thoảng đến thăm viếng Bức Tường tưởng niệm lúc 5, 6 giờ sáng. ‘Tôi không đi đến đó khi có người.khác quanh quẩn. Đối với tôi đó là mộ bia lớn.  Tôi mừng vì nó ở đấy.  Tôi có khoảng 10 cái tên – Tony ở Chicago, Jerry Johnson ở Minnesota, Sam và một vài người nữa. Hồi ức lại trở về. Nhìn hàng cây phía sau các ao muối tại Vườn Nho của Martha tôi nghĩ: sao mà giống Việt Nam: những cảnh tượng xinh đẹp nhất tôi nhìn thấy ở đó là các trực thăng bay trên các hàng cây. Đọc các tác giả như Neil Sheehan tôi căm phẫn với những người điều hành nước Mỹ. Họ biết chuyện gì đang xảy ra.  Chúng tôi thì không.  Tôi chỉ đếm bước mà thôi.’ Thượng sĩ Jimmie Spencer nói: ‘Dân chúng đang đánh giá lại. Ít nhất bây giờ chúng ta có thể tách riêng cuộc chiến ra khỏi các chiến binh. Họ bị đổ tội cho những điều họ không khởi xướng. Không bao giờ một lần nữa chúng tôi cho phép nhóm cựu binh này quay lưng với nhóm cựu binh kia.’

Bức Tường Tưởng Niệm Chiến tranh.Việt Nam

Ở khoảng cách thời gian này,  cũng nên mở rộng lòng tha thứ cho một số ‘Ông Lớn’ đã đưa ra các quyết định thảm khốc đày đọa tiếng tăm lịch sử của mình, nhưng họ biết ân hận.  Một buổi chiều cuối năm 1967 tại văn phòng Ngũ Giác Đài to rộng của McNamara,  ông đang bàn luận chỉ tiêu quân nhu với tham mưu William Brehm.

‘Xem nào. Như vậy là 2,000 viên đạn cho mỗi tên địch xâm nhập. Vậy là đủ rồi.’ Rồi Brehm nhận thấy thân hình vị bộ trưởng quốc phòng rung động; ông đang nhìn lên bức chân dung của người tiền nhiệm James Forrestal treo trên tường, nước mắt tuôn xuống má. Ông ta biết rằng,  Forrestal, như chính mình đã bị hủy hoại bởi trải nghiệm của chức vụ.’

Tướng TQLC trước đây Al Gray nói rằng ông từ chối thăm Việt Nam ‘cho đến khi tôi chắc chắn rằng mọi tù binh của chúng ta đều ra khỏi trại giam’. Nước Mỹ đã bị hành hạ nhiều năm liền vì những tin đồn, những lời buộc tội, những vụ bê bối bao quanh số phận những quân nhân mất tích.  Nhưng vẫn còn đó những nạn nhân của mọi cuộc chiến không thể giải thích,  trong đó có nhiều người Việt: trên khắp Miền Nam vẫn còn nhiều mộ bia bộ đội Miền Bắc đề chữ Liệt sỹ Vô danh. Không có bằng chứng đáng tin là Hà Nội còn giữ lại tù binh Mỹ trái với ý muốn của họ (Hạ sĩ Robert Garwood chọn ở lại Miền Bắc cho đến năm 1979, khi ông trở về Mỹ và bị ra tòa án binh.) Bob Destatte, dành ra 23 năm nghiên cứu các trường hợp Mất tích và Tù binh cho Cục Tình báo Quốc phòng, nói: ‘Chúng ta không bỏ lại sau người nào.’ Ông là một người thông minh có nhiều trải nghiệm bản thân về Việt Nam; không có lý do để ngờ vực kết luận của ông.

Những giả định trái với thực tế thường ít khi có lợi cho sử gia hay độc giả,  nhưng có hai giả định đường như đáng được lưu ý. Thứ nhất, người Miền Bắc không bao giờ mang cuộc chiến của họ đến phương Tây, cụ thể đến lục địa Mỹ, bằng hình thức khủng bố, như bọn nổi dậy Hồi giáo hiện đại đã làm: chắc chắn không bao giờ có chuyện Hà Nội cử người làm thế, trong những ngày đó trước khi có toàn cầu hóa. Sự nhẫn nhục có lợi cho người cộng sản,  vì nhờ thế người Mỹ không có lý do tức thì và hiển hiện để xem nhân dân của Hồ là kẻ thù trực tiếp – một mối đe dọa đến chính thể của họ. Cũng rất hứng thú khi suy đoán các hậu quả,  nếu Miền Bắc kiềm chế việc hậu thuẫn cuộc đấu tranh vũ trang tại Miền Nam. Có khả năng MTGPMN bị ngăn chặn . Trong nhiều xứ sở Á châu khác giữa những năm 1960 và 1990, nền cai trị quân sự độc tài đã nhường chỗ cho dân chủ.  Không có chiến tranh, năng lượng và tài khéo của người Miền Nam có thể đã khiến kinh tế Miền Nam phát triển thịnh vượng. Chế độ Hà Nội ắt hẳn phải phấn đấu vượt qua cơn bão tố thay đổi kinh tế và chính trị đang quét qua thế giới trong các thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, làm mất uy tín chủ nghĩa Mác.

Thành tựu biện minh cho tất cả: không ai trừ Bình Nhưỡng ngày nay đặt nghi vấn về tính hợp pháp của Nam Hàn như là một nhà nước, vì nó là một nền dân chủ có hiệu quả với nền kinh tế năng động.  Trong khi đó đối thủ cũ của họ Bắc Hàn là hình mẫu của sự thất bại của chủ nghĩa cộng sản toàn trị.  Nhưng trong nhiều thập niên sau đình chiến 1953 Miền Nam nằm dưới sự cai trị của một chế độ độc tài áp bức không kém đối thủ Bắc Hàn. Chế độ Seoul có may mắn là duy trì được hậu thuẫn quân sự và kinh tế của người Mỹ,  cùng với sự đồng thuận khá đủ của nhân dân chịu đựng sống quá trải nghiệm này và tiến lên những điều tốt đẹp hơn. Miền Nam cũng là một nhà nước độc lập đáng tin cậy không hơn không kém đối tác Hàn quốc của nó. Được nhận cùng những cơ hội, nó cũng có thể  duy trì vị thế và phát triển thịnh vượng – nhưng chúng ta làm sao biết được. 

Trong khi đó chỉ cần ‘Cuộc Đấu Tranh Giải Phóng’, và cuộc khải hoàn quân sự của Hà Nội,  cũng đủ đem lại uy tín và tính hợp pháp khiến chế độ Hà Nội giữ được quyền lực đến tận ngày nay,  bám lấy chiếc lá vả trang trí của cách mạng. Giáo sư Oxford Archie Brown, không phải người bạn của chủ nghĩa cộng sản, tuy vậy cũng lưu ý rằng nội sự kiện đấu tranh thống nhất thành công đã tăng thêm quyền lực cho các nhà cách mạng lão thành Hà Nội kể từ đó: ‘Mặc dù chế độ có khắt khe… họ không khó để lợi dụng hình ảnh của kẻ thù Mỹ và không ngừng gợi lên những ký ức khủng khiếp của chiến tranh để tranh thủ lòng biết ơn của nhân dân đối với các nhà lãnh đạo thời bình của Việt Nam cho việc xây dựng lại đất nước.’

Vào năm 1993 David Rogers trở lại Việt Nam với tư cách một phóng viên,  và được đưa tới vùng đất gần Tây Ninh nơi đơn vị ông đã chiến đấu. Ông thấy mình được các cán bộ VC trước đây tiếp đãi nồng hậu: ‘Họ theo lệnh phải thực sự tử tế với người Mỹ , vì họ cần Quốc Hội thông qua một hiệp ước thương mại.’ Nhiều du khách Mỹ bị chinh phục trước sự tiếp đón nồng ấm nhận được tại Việt Nam,  từ những thanh niên phần đông chưa ra đời khi cuộc chiến đang tiếp diễn. Một phần lý do là đại đa số dân chúng giờ nhìn nhận ưu điểm của nền dân chủ tự do. Tổng thống Barack Obama được đón tiếp nhiệt liệt khi ông đến thăm Việt Nam vào năm 2015, trái ngược với thái độ lạnh nhạt thể hiện một năm trước đối với chuyến viếng thăm của Chủ tịch Tập Cận Bình.

Các du khách ấn tượng trước các tòa tháp hào nhoáng của Sài Gòn, vẻ đẹp thiên nhiên của vùng quê, thường quên chú ý cảnh nghèo khó ngặt nghèo ở nông thôn và quyền tự do ngôn luận bị hạn chế. Những nhà cai trị của Việt Nam thế kỷ 21 nhượng bộ cho nhân dân mình một số hoạt động làm ra tiền, nhưng không được quyền bày tỏ chính kiến,  cũng như không được thẳng thắn tranh luận quá khứ.  Nhiều sử gia Mỹ sai sót khi xem cuộc chiến như thể đó chỉ là hậu quả của những hành động từ phía một bên, người Mỹ: một phần bởi vì họ có  được một kho tài liệu to lớn chứng cứ về các hoạt động của Mỹ, trong khi thông tin về các tiến trình chiến tranh của Miền Bắc được múc ra từng muỗng tiện tặn như cháo bố thí trong trại tế bần.  Nhiều điều đã được nói về ‘khoảng cách tin cậy’ của MACV trong cuộc chiến; nhưng ở Hà Nội, sự giả dối vẫn còn là định chế. Một bài học rõ ràng trong thế kỷ vừa qua là các lực lượng kinh tế ít nhất cũng quan trọng như các lực lượng quân sự trong việc xác định cục diện chiến tranh.  Các nhà cách mạng đã quá cố ở Hà Nội ắt hẳn đã giật nảy mình ghê tởm trước cảnh tượng Sài Gòn hiện đại  – tên Thành phố Hồ Chí Minh đang từ từ bị thất sủng , vá sẽ chắc chắn trôi vào quên lãng như cách Leningrad trở thành Petersburg một lần nữa.  Các cửa hiệu sáng loáng,  mỗi cửa hiệu là một điện thờ của chủ nghĩa tiêu thụ,  bùng nổ với các thương hiệu, nữ trang và quần áo thời trang.  Có thể hợp lý khi cho rằng trong khi Hoa Kỳ thua cuộc về mặt quân sự cách nay gần nửa thế kỷ, từ đó đã chứng kiến một kết quả bị đảo ngược bởi ảnh hưởng kinh tế và văn hoá của nó. Chỗ mà các lực lượng vũ trang thất bại với các B-52, các chất làm trụi lá và tàu chiến,  thì YouTube và Johnny Depp đã chứng tỏ là không thể kháng cự lại được. 

Nếu đánh nhau trở thành lẽ sống chủ yếu cho sự tồn tại của chế độ Sài Gòn đã quá cố, thì điều tương tự cũng đúng với chính quyền Hà Nội.  Trong vòng một ít năm sau ngày thất thủ của Sài Gòn,  các cựu binh cộng sản không ngừng ôm ấp hoài niệm về các phẩm chất lĩnh hội được trong thời kỳ đấu tranh.  Các chính sách khác càng thất bại ê chề,  người Miền Bắc càng tôn sùng thần thánh cuộc đấu tranh thống nhất: David Elliott nhận xét rằng một thế hệ già nua nhìn lại nó như ‘một thời kỳ của sự giản đơn, niềm tin, son sắt một lòng, bình đẳng trong gian khổ. Người ta giúp đỡ nhau. Một ý thức về sứ mạng.’ Bảo Ninh kết luận trong tiểu thuyết chiến tranh của mình bằng cách khơi gợi niềm hoài cảm của vai chính, Kiên, vốn là điều bình thường trong số các cựu binh của mọi cuộc chiến: ‘Anh sẽ được trở lại với tình yêu, tình bạn tình đồng chí những tình cảm đã giúp chúng ta vượt qua muôn ngàn đau khổ của chiến tranh.Tôi [người kể chuyện] cảm thấy ghen ty với niềm cảm hứng, niềm lạc quan quay ngược về quá khứ của anh. Bởi vì nhờ thế mà anh vĩnh viễn được sống trong những ngày tháng đau thương nhưng huy hoàng những ngày bất hạnh nhưng chan chứa tình người, những ngày mà chúng ta biết rõ vì sao chúng ta cần phải bước vào chiến tranh, chúng ta cần phải chịu đựng tất cả và hy sinh tất cả. Ngày mà tất cả đều còn rất son trẻ, trong trắng và chân thành.’

Nhưng ngày nay chính tác giả cũng chối bỏ tính đa cảm như thế: ‘Ảo tưởng về lòng nhân đạo và tình đoàn kết bị cường điệu quá nhiều,  thật ra đã trở thành một huyền thoại.  Mối gắn kết giữa bộ đội với bộ đội là có thực  nhưng ở Miền Bắc cũng đầy dẫy bất công xã hội.  Người nghèo tiếp tục ra trận trong khi những người khác có đặc quyền chính trị có thể gửi con trai ra nước ngoài học tập, và một số họ hưởng thụ cuộc sống xa hoa. Thời kỳ đó tàn khốc không thể tin được: cuộc chiến cứ tiếp tục kéo dài quá lâu, và dân chúng trở nên vô cùng mệt mỏi. Nhiều thứ đã bị tàn phá  – không chỉ nhà cửa mà còn các định chế,  tác động xã hội.’ Bảo Ninh nhận xét rằng người Anh khá may mắn khi  được tự do trong năm 1945 truất phế khỏi chức vụ trong cuộc bầu cử phổ thông vị lãnh tụ thời chiến vĩ đại của mình Winston Churchill, ‘trong khi tại Việt Nam các tướng lĩnh vẫn bám lấy quyền lực.’

Trương Huy San (bút danh Huy Đức) là cậu bé 13 tuổi vật lộn đùa giỡn với một cậu bạn trên một sườn đồi ở Miền Bắc vào năm 1975 khi các loa phóng thanh trong làng báo tin Sài Gòn đã được ‘giải phóng’. ‘Theo những gì chúng tôi được dạy ở trường,’ ông nói rất lâu sau đó trong tác phẩm Người Thắng Cuộc,  ‘việc này sẽ kết thúc hai thập niên gian khổ cho Miền Nam. Tôi nghĩ: ” Chúng tôi phải nhanh chóng khởi sự giáo dục cho các đứa trẻ không được dạy dỗ đó.”‘ Nhưng vào năm 2012 cũng cậu bé đó nhận xét: ‘Nhiều người đã thận trọng ôn lại quá khứ  … đều choáng váng khi biết rằng dường như bên thực sự được giải phóng là Miền Bắc.’ Miền Nam,  ông thuyết phục,  đã chứng tỏ là người chiến thắng lịch sử,  bởi vì các giá trị của nó không ngừng khống chế toàn bộ đất nước.

‘Toàn bộ điều này là thế nào?’  Walt Boomer trầm ngâm. ‘Tôi buồn bực là chúng ta đã không học được nhiều. Nếu học được, chúng ta đã không xâm lăng Iraq.’

Giá của thảm bại: cảnh một buổi học tập cải tạo của cựu binh sĩ QĐVNCH

Thuyền nhân Miền Nam


 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s