Nguồn gốc các hành động của Campuchia chống người nhập cư bất hợp pháp Việt Nam

Kể từ năm 2015, chính phủ Campuchia đã giải quyết vấn đề nhạy cảm về mặt chính trị và ngoại giao của người Việt Nam nhập cư bất hợp pháp thông qua các phương pháp như cung cấp giấy tờ, trục xuất, trục xuất, di dời và đăng ký. Trong ảnh này, Thủ tướng Campuchia Hun Sen (R) và người đồng cấp Việt Nam khi đó là Nguyễn Xuân Phúc (L) duyệt đội danh dự trong lễ đón tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội ngày 4 tháng Mười 2019. Ảnh: Nhac NGUYEN / AFP.

Jing Jing Luo và Kheang Un

2022/81

Biên dịch: GaD

TÓM TẮT

  • Kể từ năm 2015, chính phủ Campuchia đã giải quyết vấn đề nhạy cảm về mặt chính trị và ngoại giao của người Việt Nam nhập cư bất hợp pháp thông qua các phương pháp như cung cấp giấy tờ, trục xuất, trục xuất, di dời và đăng ký.
  • Những hành động này là phản ứng của Đảng Nhân dân Campuchia cầm quyền đối với việc Đảng Cứu nguy Quốc gia Campuchia chính trị hóa thành công tình cảm chống Việt Nam trong cử tri Campuchia.
  • Các chính sách dành cho người Việt Nam nhập cư của chính phủ Campuchia cũng phục vụ mục tiêu phát triển sinh thái nhằm cải thiện hệ thống nước của Campuchia, cũng như làm đẹp và phát triển các khu vực đô thị của nước này.
  • Với mối quan hệ quyền lực bất cân xứng của Campuchia với Việt Nam và vấn đề nhạy cảm của người Việt Nam nhập cư bất hợp pháp, sự gắn bó chặt chẽ hơn giữa Campuchia và Trung Quốc là yếu tố tạo điều kiện cho Chính phủ Campuchia áp dụng các chính sách cứng rắn hơn.
  • Tuy nhiên, các biện pháp của chính phủ Campuchia sẽ không làm giảm bớt nỗi sợ hãi của nhiều người Campuchia về sự thống trị của Việt Nam cũng như không làm giảm bớt tình trạng thất bại tiềm tàng về ngoại giao.

GIỚI THIỆU

Kể từ năm 2015, chính phủ Campuchia, dưới sự kiểm soát của Đảng Nhân dân Campuchia (CCP), đã thực hiện các biện pháp để giải quyết vấn đề lâu nay của người nhập cư Việt Nam sống ở Campuchia. Các biện pháp này bao gồm lập hồ sơ, trục xuất, trục xuất, tái định cư và đăng ký lại người nhập cư Việt Nam. Trong bối cảnh đó, các tài liệu còn tồn tại đã tập trung vào những tranh cãi về những cáo buộc vi phạm nhân quyền của người nhập cư Việt Nam, tư cách công dân danh nghĩa của họ và tình cảm chống Việt Nam ở Campuchia.[1] Không giống như các tác phẩm đó, bài viết này đưa ra một phân tích sơ bộ về các yếu tố chưa được thảo luận làm cơ sở cho các chính sách hiện tại của chính phủ Campuchia đối với người nhập cư Việt Nam. Chúng bao gồm:

(1) Đảng Cứu nguy Dân tộc Campuchia (CNRP) chính trị hóa thành công tình cảm chống Việt Nam trong cử tri; 

(2) Năng lực nhà nước được cải thiện và nhu cầu thay đổi của Campuchia; và

(3) Khoảng cách ảnh hưởng của Việt Nam với Campuchia ngày càng thu hẹp do quan hệ Trung-Campuchia ngày càng khăng khít.

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM TẠI CAMPUCHIA

Ảnh hưởng của triều đình Việt Nam đối với Campuchia trong những năm 1600 đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc định cư của tộc Việt tại nước này. Pháp đô hộ Đông Dương thế kỷ  19 càng tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển của tộc Việt vào Campuchia. Đặc biệt, các chính sách phát triển nông nghiệp và củng cố hành chính của thực dân Pháp đã dẫn đến việc tuyển dụng người gốc Việt vào các cơ quan hành chính thực dân Pháp và làm việc trong các đồn điền cao su Campuchia.[2] Chính quyền thực dân Pháp cũng khuyến khích thương nhân Việt Nam sang Campuchia định cư. Một lượng lớn người Việt tiếp tục sinh sống tại Campuchia sau khi Việt Nam giành được độc lập từ Pháp vào năm 1945. Cộng đồng người Việt tại Campuchia sau đó đã phát triển, lên đến khoảng 450.000 thành viên vào năm 1970.[3] Từ năm 1970 đến 1979, nhóm thiểu số này phải đối mặt với các chiến dịch chống người Việt Nam do nhà nước phê chuẩn, dẫn đến việc trục xuất khoảng 200.000 người gốc Việt sang Việt Nam dưới chế độ Lon Nol (1970-1975). Tệ hơn nữa, chính quyền Khmer Đỏ theo chủ nghĩa cực đoan đã buộc nhiều người phải chạy sang Việt Nam và thực hiện các chính sách thanh lọc sắc tộc chống lại những người còn lại ở Campuchia.[4]

Sau cuộc can thiệp quân sự của Việt Nam vào Campuchia năm 1979, nhiều người gốc Việt trước đây bị buộc phải rời Campuchia đã trở về. Ngoài những người trở về này còn có những người Việt Nam nhập cư mới đến định cư tại Campuchia. Các phong trào kháng chiến của người Khmer chống lại quân đội Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân mới của Kampuchea tuyên bố rằng một “cuộc thực dân định cư ở Campuchia” đang xảy ra. Hoàng Minh Vũ phản bác lại một tuyên bố như vậy, cho rằng cuộc di chuyển của người dân từ Việt Nam sang Campuchia trong những năm 1980 là kết quả của một “cuộc khủng hoảng tị nạn” do “sự sụp đổ kinh tế” liên quan đến “những cải cách hà khắc về kinh tế, tiền tệ, đất đai và chính trị” Do chính quyền cộng sản áp đặt lên miền Nam Việt Nam sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975.[5] Ông nói thêm rằng “Chính phủ Việt Nam không cần thiết phải đưa ra chính sách định cư chủ nghĩa thực dân; mọi người chỉ đơn giản là bỏ phiếu bằng chân của họ.”[6] Đây là tâm điểm của cuộc tranh cãi về người gốc Việt ở Campuchia. Các nguồn độc lập ước tính số lượng người gốc Việt sinh sống ở Campuchia là từ 400.000 đến 700.000.[7] Những người nhập cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế đa dạng như buôn bán, bán lẻ, mộc, sửa chữa cơ khí, nhà hàng, xây dựng và đánh cá. Một số lớn trong số họ sống trên những ngôi nhà nổi trên sông và hồ, đặc biệt là hồ Tonle Sap và sông Mekong và sông Bassac. Có một niềm tin phổ biến trong người Campuchia rằng hầu hết các dân tộc Việt Nam ở Campuchia không phải là con cháu của những người đã sống ở đất nước này trước chiến tranh. Đúng hơn, họ là những người đã đồng hành cùng quân đội Việt Nam xâm lược năm 1979 và con cháu của họ, hoặc những người nhập cư gần đây hơn.

Kể từ năm 2015, chính phủ Campuchia đã xác định được khoảng 70.000 người Việt Nam có “giấy tờ hành chính bất thường”.[8] Luật nhập cư mới yêu cầu những người này phải nộp lệ phí cho thẻ cư trú, thẻ này có thể được gia hạn hai năm một lần; vào năm thứ bảy, họ đủ điều kiện để nộp đơn xin nhập quốc tịch.[9] Chính phủ Campuchia cũng thắt chặt các chính sách nhập cư và kể từ năm 2015, đã trục xuất 5.223 người Việt Nam ra khỏi nước này.[10]

NGUYÊN NHÂN VIỆC CHỐNG NGƯỜI NHẬP CƯ VIỆT NAM BẤT HỢP PHÁP

Chống lại sự trỗi dậy của CNRP

Kể từ khi Campuchia cho phép bầu cử đa đảng vào năm 1993, tộc Việt đã trở thành một trong những vấn đề cốt lõi trong chiến dịch tranh cử của các đảng đối lập. Họ liên kết sự hiện diện của người gốc Việt với ý định rộng lớn hơn là “nuốt chửng Campuchia” của Việt Nam. Những tuyên bố như vậy đã gây được tiếng vang trong nhiều người Campuchia, trong bối cảnh lịch sử thù hận lâu dài giữa hai nước và việc Campuchia mất lãnh thổ trước sự bành trướng về phía nam của Việt Nam. Do không có các cuộc thăm dò ý kiến ​​về việc xuất cảnh và dữ liệu khảo sát về hành vi của cử tri, nên hiệu quả của việc kêu gọi các cử tri đối lập đối với những tình cảm chống Việt Nam vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên, các cuộc khảo sát kéo dài nhiều năm của Viện Cộng hòa Quốc tế (IRI) về ý kiến ​​của người Campuchia về tương lai của Campuchia cho phép chúng tôi đánh giá mức độ hấp dẫn chung của các luận điệu chống Việt Nam của các đảng đối lập. Các cuộc điều tra của IRI chỉ ra rằng nhiều người Campuchia coi “người nhập cư bất hợp pháp” là một vấn đề cấp bách đối với Campuchia, ở mức độ nổi bật như các vấn đề tham nhũng, lạm phát, chuyên chế, nghèo đói và môi trường.[11] Hơn nữa, vào năm 2013, 17% số người trả lời Khảo sát của IRI đã xếp hạng “người nhập cư bất hợp pháp” là lý do khiến Campuchia đi sai hướng.[12]

Do đó, vấn đề người Việt Nam nhập cư bất hợp pháp, theo cách nói của Tiến sĩ Kin Phea, là “một vết thương chính trị cho CPP.”[13] Có thể cho rằng, sự thiếu quyết đoán của chính phủ CPP trong việc giải quyết vấn đề đã khiến phe đối lập lấy cớ gán cho CPP là “một con rối Việt Nam”; điều này khiến đảng mất nhiều sự ủng hộ trong cuộc bầu cử quốc gia năm 2013.[14]

Cần lưu ý rằng trước cuộc bầu cử quốc gia năm 2013, vấn đề người nhập cư Việt Nam đối với kết quả bầu cử của CPP đã được giảm nhẹ bởi một số yếu tố khác. Đầu tiên là sự chia rẽ trong phe đối lập. Những điều này, được kết hợp bởi một hệ thống bầu cử ủng hộ các đảng chính trị lớn, đã mang lại cho CPP một lợi thế trong việc giành được phiếu bầu.

Yếu tố thứ hai là sức mạnh thể chế và nguồn lực của CPP cho phép CPP duy trì mạng lưới bảo trợ trên toàn quốc và từ trên xuống, và do đó, sự thống trị của bầu cử.[15] Tuy nhiên, trong những năm trước cuộc bầu cử quốc gia năm 2013, sự chuyển đổi nhanh chóng về kinh tế – xã hội đã làm giảm bớt sự thống trị của CPP. Sự gia tăng dân số trong những thập kỷ gần đây có nghĩa là thanh niên chiếm đa số trong số cử tri. Được giáo dục nhiều hơn, hoạt động chính trị và tham gia nhiều hơn, đồng thời được vận động nhiều hơn nhờ công nghệ thông tin, thanh niên Campuchia bắt đầu tìm kiếm những thay đổi đối với hiện trạng do CPP thống trị.[16]

Yếu tố thứ ba là sự hợp nhất của Đảng Nhân quyền và Đảng Sam Rainsy thành CNRP – một liên minh cung cấp cho phe đối lập một mặt trận thống nhất ở nông thôn và thành thị. Những thay đổi này, kết hợp với việc CNRP tăng cường chính trị hóa vấn đề người Việt nhập cư, đã thúc đẩy tỷ lệ thắng cử của đảng này trong cuộc tổng tuyển cử năm 2013 lên mức gây sốc cho CPP. Đặc biệt, ở những khu vực có đông người Việt Nam nhập cư, CNRP vượt trội hơn CPP.[17] Đây là lần đầu tiên một đảng đối lập có thể mở rộng và đào sâu dấu ấn bầu cử của mình ở vùng nông thôn Campuchia, thành trì của CPP.[18] Chính ở thời điểm quan trọng này, CNRP đã trở thành một mối nguy hiểm rõ ràng và hiện tại đối với CPP. Những điều kiện này buộc CPP phải đưa ra các chính sách mới nhằm tăng cường năng lực nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế và giải quyết vấn đề người Việt Nam nhập cư.

Mục tiêu phát triển và nâng cao năng lực nhà nước

Nếu người nhập cư Việt Nam chỉ là một vấn đề bầu cử đối với CPP, thì về mặt logic, bất kỳ biện pháp nào để giải quyết vấn đề đó sẽ không cần thiết sau khi CNRP bị giải thể vào năm 2017. Tuy nhiên, như đã đề xuất trước đó, một trong những yếu tố làm suy yếu hoạt động bầu cử của CPP. Năm 2013, người Campuchia không hài lòng với sự phát triển dựa trên sự bảo trợ của CPP và năng lực nhà nước thấp của nó. Với việc giải thể đối thủ chính trị chính – CNRP – CPP nhận ra rằng tính hợp pháp trong tương lai và do đó sự thống trị chính trị phụ thuộc vào khả năng tăng cường năng lực nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế trên diện rộng, cải thiện trật tự xã hội và củng cố chủ quyền quốc gia. Để nâng cao năng lực của nhà nước, CPP đã tập trung vào việc tăng cường huy động nguồn thu của nhà nước. Nguồn thu từ thuế tăng đáng kể từ 12,1% GDP năm 2013 lên 15,25% vào năm 2016, 19,4% vào năm 2019,[19] và 20% vào năm 2020.[20] Các chỉ số về hiệu quả quản trị được cải thiện đáng kể 46,15 điểm phần trăm (từ -0,91 năm 2013 lên -0,46 năm 2020).[21] Năng lực nhà nước tăng lên như vậy cho phép chính phủ giải quyết các mục tiêu phát triển của mình, bao gồm cải thiện hệ thống nước của Campuchia, làm đẹp các thành phố và thị trấn, và lập lại trật tự để thu hút đầu tư.

Bắt đầu từ năm 2012, nằm trong kế hoạch phát triển của chính phủ, Phnom Penh và các thành phố thủ phủ của tỉnh đã phải tham gia một cuộc thi cho “thành phố đẹp nhất”. Sự thăng tiến tiềm năng của các thống đốc tỉnh và thị trưởng thành phố một phần nhờ vào thành công của các tỉnh trong việc làm đẹp các thủ phủ của tỉnh. Hơn nữa, cần lưu ý rằng việc “dọn sạch” các cộng đồng nổi (chủ yếu nhưng không phải là người gốc Việt) ở Phnom Penh đã mở ra các khu bất động sản đắc địa ven sông để đầu tư, đặc biệt là từ Trung Quốc. Ở Kampong Chhnang, các cộng đồng nổi cũng nằm trong vùng lân cận của tỉnh lỵ. Các cộng đồng nổi “lộn xộn”, có các thành viên nuôi cá trong lồng, bị cáo buộc làm ô nhiễm hệ sinh thái của khu vực, vi phạm ý thức trật tự của mọi người, và do đó làm giảm giá trị của các bất động sản và các khoản đầu tư gần đó.[22] Các cộng đồng nổi này bao gồm các dân tộc Việt Nam, Khmer và Chăm (còn gọi là Khmer Islam). Do đó, việc phát triển thành phố và cải thiện môi trường đòi hỏi phải trục xuất và tái định cư người Việt Nam ven sông và hồ.

Quan hệ Trung Quốc-Campuchia: Một yếu tố thúc đẩy

Với mối quan hệ chặt chẽ trong lịch sử giữa các đảng cầm quyền của hai nước – CPP và Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) – Việt Nam và Campuchia đã duy trì hợp tác toàn diện trong các vấn đề chính, bao gồm thương mại, an ninh và ngoại giao.[23] Kim ngạch thương mại hai chiều tăng đều từ đầu những năm 2000. Xuất khẩu của Việt Nam sang Campuchia tăng từ 81 triệu USD năm 2000 lên 182 triệu USD năm 2005, 501 triệu USD năm 2010, 1,682 tỷ USD năm 2017 và 2,725 tỷ USD năm 2019.[24] Xuất khẩu của Campuchia sang Việt Nam cũng tăng đáng kể từ 20 triệu USD năm 2000 lên 46 triệu USD năm 2005, 96 triệu USD năm 2010, 326 triệu USD năm 2017 và 359 triệu USD năm 2019.[25] Đến năm 2019, Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của Campuchia sau Trung Quốc và Hoa Kỳ.[26] Việt Nam hiện là nhà đầu tư lớn thứ ba tại Campuchia sau Trung Quốc và Hàn Quốc.[27]

Về mặt ngoại giao, hai nước cũng đã duy trì các cuộc đối thoại cấp cao giữa đảng và chính phủ.[28] Việt Nam là đối tác an ninh quan trọng của CPP, cung cấp hỗ trợ về đào tạo và chăm sóc y tế cho các sĩ quan cấp cao của quân đội Campuchia. Trong các cuộc xung đột biên giới của Campuchia với Thái Lan vào năm 2008 và 2011, Việt Nam đã cung cấp hỗ trợ an ninh – mặc dù có giới hạn về phạm vi – để đáp ứng yêu cầu của chính phủ Campuchia.[29] Hơn nữa, các đảng cầm quyền của hai nước đã hợp tác chặt chẽ để chống lại các lực lượng bị coi là “thù địch” và “không thân thiện” đối với chính phủ của họ.[30]

Đồng thời, cũng có những vấn đề có khả năng phá vỡ mối quan hệ Việt Nam-Campuchia tưởng chừng như khăng khít. Ngoài vấn đề người Việt Nam nhập cư vào Campuchia, một số đoạn biên giới hai nước chưa được phân định khiến tranh chấp biên giới kéo dài. Đây là những vấn đề thách thức trong bối cảnh mối quan hệ quyền lực bất cân xứng giữa hai nước. Vì Việt Nam có thế mạnh hơn Campuchia, nước đi sau cần thận trọng để tránh gây ra phản ứng từ phía trước theo những cách có thể tác động tiêu cực đến an ninh và lợi ích kinh tế của Campuchia. Những phản ứng như vậy có thể là sự bất hợp tác của Việt Nam trong các vấn đề biên giới hoặc huấn luyện quân sự chẳng hạn.

Nhưng mối quan hệ quyền lực bất đối xứng của Campuchia với Việt Nam bắt đầu thay đổi trong những năm đầu của thế kỷ 21 khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tạo cơ hội mới cho Campuchia để cân bằng với các nước láng giềng hùng mạnh hơn, Việt Nam và Thái Lan, và các cường quốc phương Tây. Trung Quốc trở thành đồng minh tự nhiên của Campuchia nhờ tiềm lực kinh tế và sức hấp dẫn về ý thức hệ. Campuchia cũng là đầu tàu cho việc Trung Quốc đưa quyền lực mềm vào Đông Nam Á.[31] Năm 2010, Trung Quốc và Campuchia đã nâng cấp quan hệ của họ lên mức “đối tác chiến lược toàn diện”. Do đó, khối lượng thương mại hai chiều tăng từ 1,4 tỷ đô la Mỹ năm 2010 lên 9,53 tỷ đô la Mỹ vào năm 2020.[32] Trong cùng thời gian, viện trợ của Trung Quốc cho Campuchia đã tăng từ 54,1 triệu đô la Mỹ năm 2010 lên 420,56 triệu đô la Mỹ năm 2020, trong khi đầu tư của họ vào Campuchia đã tăng từ chỉ hơn 1 tỷ đô la Mỹ[33] năm 2010 lên 2,96 tỷ đô la Mỹ vào năm 2019.[34] Quan hệ quân sự Trung-Campuchia cũng được tăng cường, bằng chứng là sự gia tăng viện trợ quân sự, huấn luyện và các cuộc tập trận quân sự chung hàng năm.[35] Trung Quốc cũng tài trợ cho việc cải tạo Căn cứ Hải quân Ream, nơi đã thu hút nhiều sự giám sát và nghi ngờ về tham vọng địa chiến lược của Trung Quốc.[36] Rõ ràng, quan hệ Trung-Campuchia gần gũi hơn đã tạo thêm đòn bẩy cho Phnom Penh và giúp nước này thu hẹp khoảng cách ảnh hưởng từ Việt Nam. Do đó, Campuchia đã có thể khẳng định lại chủ quyền của mình và giải quyết vấn đề nhạy cảm của người nhập cư Việt Nam mà không quá lo lắng về sự trả đũa từ Việt Nam.[37] 

Chính phủ Việt Nam đã không công khai phản đối các chính sách nhập cư của chính phủ Campuchia. Thay vào đó, nó đã mở rộng hỗ trợ của mình bằng cách hỗ trợ người nghèo Việt Nam trả phí thẻ cư trú và tạo cơ hội việc làm cho những người tái định cư từ Biển Hồ thông qua các công ty Việt Nam hoạt động tại Campuchia.[38] Có thể cho rằng, việc Chính phủ Việt Nam không phản đối công khai cho thấy Việt Nam lo ngại rằng việc đối đầu với Campuchia về vấn đề này có thể đẩy nước này đi xa hơn vào quỹ đạo của Trung Quốc. Với xung đột lãnh thổ đang diễn ra với Trung Quốc ở Biển Đông và những nỗ lực trong quá khứ của Trung Quốc nhằm bao vây Việt Nam thông qua liên minh với Kampuchea Dân chủ, chính phủ Việt Nam dường như lo sợ lịch sử lặp lại.

PHẦN KẾT LUẬN

Việc mở rộng lãnh thổ trong quá khứ của Việt Nam và các cuộc chiến tranh với Campuchia đã khiến người gốc Việt ở Campuchia trở thành một vấn đề chính trị bùng nổ, thậm chí đạt đến mức độ phân biệt đối xử và thảm sát do nhà nước chấp nhận vào những năm 1970. Mức độ hài lòng của công chúng Campuchia đối với các hành động gần đây của chính phủ họ đối với người nhập cư Việt Nam, cũng như phản ứng của chính phủ Việt Nam vẫn còn được xem xét. Nếu 70.000 người Việt Nam được tạm trú bị từ chối quyền công dân và bị trục xuất về Việt Nam, rất có thể sẽ bị chính phủ Việt Nam phản ứng mạnh mẽ. Tuy nhiên, nhiều người Campuchia sẽ thất vọng nếu việc trục xuất không xảy ra. Quy chế công dân của hàng nghìn người Việt Nam đang sinh sống tại Campuchia vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi và do đó, những tình cảm chống đối Việt Nam sẽ tiếp tục nổi lên ở Campuchia trong tương lai gần.

Tuy nhiên, chính sách gần đây của Chính phủ Campuchia về việc cấp tạm trú cho người Việt Nam sinh sống tại Campuchia với khả năng họ trở thành công dân Campuchia là một bước đi đúng hướng trong việc giải quyết một vấn đề gây tranh cãi lâu nay.

Cần lưu ý rằng chính sách như vậy chỉ có hiệu lực khi chính phủ của cả Campuchia và Việt Nam thực hiện hai biện pháp bổ sung. Thứ nhất, hai chính phủ cần tăng cường nỗ lực chung trong việc tuần tra các đường biên giới xốp của họ để chống lại dòng người Việt Nam nhập cư bất hợp pháp mới vào Campuchia. Thứ hai, chính phủ Campuchia cần tăng cường năng lực và giảm bớt sự kiểm soát của cơ quan nhập cư.

* Jing Jing Luo là Nhà nghiên cứu sau Tiến sĩ, Trường Công vụ, Đại học Hạ Môn, Trung Quốc. Kheang Un là Giáo sư Khoa học Chính trị, Đại học Bắc Illinois, Hoa Kỳ.

Phối cảnh ISEAS 2022/81, ngày 11 tháng Tám 2022

Nguồn: https://www.iseas.edu.sg/articles-commentaries/iseas-perspective/2022-81-the-roots-of-cambodias-actions-against-illegal-vietnamese-immigrants-by-jing-jing-luo-and-kheang-un/

[1] Ví dụ, xem Christoph Sperfeldt, “Người thiểu số và không quốc tịch: Sự loại trừ xã ​​hội và quyền công dân ở Campuchia.” International Journal On Minority And Group Rights  27, số. 1 (2020): 94-120; Ben Mauk, “Một người ở Limbo, Nhiều người sống hoàn toàn trên mặt nước”, Tạp chí New York Times, ngày 28 tháng 3 năm 2028, https://www.nytimes.com/interactive/2018/03/28/magazine/cambodia-persecuted -minority-nước-nơi ẩn náu.html .

[2] David Chandler, Lịch sử Campuchia, (Oxford, Vương quốc Anh: Routledge, 2008).

[3] Ramses Amer, “Người Việt Nam ở Campuchia: Một dân tộc thiểu số đang gặp rủi ro?” Contemporary Southeast Asia 16, số 2 (1994), tr. 214.

[4] Ben Kiernan,  Chế độ Pol Pot: Chủng tộc, Quyền lực và Sự diệt chủng ở Campuchia dưới thời Khmer Đỏ, 1975-79 (New Haven, Connecticut: Yale University Press, 2002).

[5] Hoàng Minh Vũ, “Việt Nam Gần Nước? Quan hệ Việt Nam-Campuchia trong viễn cảnh lịch sử và khu vực, 1975 đến nay”, báo cáo trình bày tại Hiệp hội Nghiên cứu Châu Á thường niên, tháng 3 năm 2019.

[6] Đã dẫn.

[7] Nhóm Quyền thiểu số Quốc tế, Campuchia: Dân tộc Việt Nam, tại https://minorityrights.org/minoaries/eosystem-vietnamese/.

[8] Ate Hekstra và Meta Kong, “Người Việt Nam ở Campuchia: Không quốc tịch, bị phân biệt đối xử và lo sợ bị trục xuất”, LICAS.NEWS, ngày 15 tháng Chín 2015, https://www.licas.news/2020/09/15/vietnamese- in-cambodia-không quốc tịch-phân biệt đối xử-và-sợ-bị trục xuất /.

[9] Đã dẫn.

[10] Tổng cục xuất nhập cảnh, Thống kê trục xuất người nước ngoài, 2015-2022. Giao tiếp cá nhân của Kheang Un.

[11] Viện Cộng hòa Quốc tế, Khảo sát Dư luận Campuchia, ngày 30 tháng 11 đến ngày 15 tháng Mười Hai 2011, tại https://www.iri.org/wp-content/uploads/2012/05/201220May201020Survey20of20Cambodian20Public20Opinion2C20November203020E2809320December20252C202011.pdf ; Ngày 12 tháng 7 đến ngày 6 tháng Tám 2010, tại https://www.iri.org/wp-content/uploads/legacy/iri.org/2011 Cuộc khảo sát ý kiến ​​công chúng Campuchia ngày 20 tháng 1, ngày 12 tháng 7 đến ngày 6 tháng Tám 2010.pdf .

Cần lưu ý rằng cuộc khảo sát không đề cập rõ ràng “người nhập cư bất hợp pháp” là người Việt Nam, nhưng dựa trên các tài liệu hiện có và nghiên cứu của chính tác giả, chắc chắn rằng những người được hỏi coi “người nhập cư bất hợp pháp” chủ yếu là người Việt Nam nhập cư bất hợp pháp.

[12] Viện Cộng hòa Quốc tế, “Khảo sát Ý kiến ​​Công chúng.” Ngày 12 tháng 1 đến ngày 2 tháng 2 năm 2013, tại https://www.iri.org/wp-content/uploads/2013/05/Cambodian20Poll20920Final20PUBLIC.pdf.

[13] Tiến sĩ Phea Kin, Giám đốc, Viện Quan hệ Quốc tế, Học viện Hoàng gia Campuchia, phỏng vấn các tác giả, ngày 7 tháng Tư 2022.

[14] Đã dẫn.

[15] Kheang Un, Campuchia: Trở lại chủ nghĩa độc quyền (Cambridge, Vương quốc Anh: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 2019). Xem thêm David Craig và Kimchoeun Pak, “Tài trợ của Đảng cho các dự án đầu tư địa phương: Sự bảo trợ của giới tinh hoa và quần chúng”, trong Chuyển đổi kinh tế của Campuchia,  được biên tập bởi Caroline Hughes và Kheang Un (Copenhagen, Đan Mạch: NIAS, 2011), trang 219-244.

[16] Caroline Hughes và Netra Eng. “Facebook, Cạnh tranh và Chính trị của Người nghèo: Kéo dài Sự Chia rẽ Thành thị – Nông thôn ở Campuchia?” Journal of Contemporary Asia  49, số. 3 (2019): 365-388.

[17] Tiến sĩ Phea Kin, phỏng vấn các tác giả qua Zoom, ngày 7 tháng Tư 2022.

[18] Kheang Un, Campuchia.

[19] Ngân hàng Thế giới, https://data.worldbank.org/indicator/GC.TAX.TOTL.GD.ZS?locations=KH (truy cập ngày 20 tháng Tư 2022).

[20] Bộ Kinh tế và Tài chính, Cuộc họp đánh giá thường niên, “Báo cáo giám sát và đánh giá việc thực hiện PFMRP và Chương trình PFMRP quý 4 và 2021.” Ngày 23 tháng 3 năm 2022 (buổi giới thiệu power point, thuộc quyền sở hữu của Kheang Un).

[21] Các chỉ số này đo lường “nhận thức về chất lượng của các dịch vụ công, chất lượng của nền công vụ và mức độ độc lập của nó trước các áp lực chính trị, chất lượng của việc xây dựng và thực thi chính sách, và độ tin cậy của cam kết của chính phủ đối với các chính sách đó” . Mức điểm dao động từ -2,25 (yếu) đến +2,25 (mạnh). Để biết thêm chi tiết, hãy xem Ngân hàng Thế giới, Các Chỉ số Quản trị Toàn cầu, tại http://info.worldbank.org/governance/wgi/Home/Documents (truy cập ngày 20 tháng Tư 2022).

[22] Nhà nghiên cứu Campuchia, phỏng vấn các tác giả qua Zoom, ngày 3 tháng Tư 2022.

[23] Steve Heder, “Campuchia-Việt Nam: Mối quan hệ đặc biệt chống lại các lực lượng thù địch và không thân thiện.” Trong Southeast Asian Affairs 2018, được biên tập bởi Malcolm Cook và Daljit Singh (Singapore: ISEAS – Yusof Ishak Institute, 2018), trang 113–32.

[24] Giải pháp Thương mại Tích hợp Thế giới, Campuchia, tại 

https://wits.worldbank.org/CountryProfile/en/Country/KHM/StartYear/2015/EndYear/2019/TradeFlow/Import/Indicator/MPRT-TRD-VL/Partner / VNM / Sản phẩm / tất cả các nhóm (truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2022).

[25] Giải pháp Thương mại Tích hợp Thế giới, Campuchia, tại 

https://wits.worldbank.org/CountryProfile/en/Country/KHM/StartYear/2015/EndYear/2019/TradeFlow/Export/Indicator/XPRT-TRD-VL/Partner / VNM / Sản phẩm / tất cả các nhóm (truy cập ngày 20 tháng Tư 2022).

[26] Giải pháp Thương mại Tích hợp Thế giới, Campuchia, tại 

https://www.google.com/search?q=cambodia+largest+trading+partners&rlz=1C1HIJC_enUS838US838&oq=Cambodia+largest+trading+&aqs=chrome.0.0i512j69i57j0i390l3.8320j69i57j0i390l3.8320jid1j4.8 chrome & ie = UTF-8 (truy cập ngày 20 tháng Tư 2022).

[27] Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Tuyên bố về Môi trường Đầu tư năm 2021: Campuchia, tại 

https://www.state.gov/reports/2021-investment-climate-statements/cambodia/#:~:text=Investment%20into%20Cambodia % 20is% 20 chiếm ưu thế, bởi% 20the% 20end% 20of% 202020 (truy cập ngày 20 tháng Tư 2022).

[28] Heng Kimkong, “Quan hệ Campuchia-Việt Nam: Những vấn đề chính và con đường tiến lên,” ISEAS Perspective, số 36, 2022, ngày 12 tháng Tư 2022, tại / article-commentaries / iseas-perspective / 2022-36-cambodia-vietnam- quan hệ-chìa khóa-các vấn đề-và-con đường-phía trước-do-kimkong-heng / (truy cập ngày 20 tháng Tư 2022).

[29] Chanborey Cheunboran. Chiến lược Trung Quốc của Campuchia: Tình huống khó xử về an ninh khi ôm rồng. Routledge, năm 2021.

[30] Heder, “Campuchia – Việt Nam.”

[31] Jing Jig Luo và K. Un, “Campuchia: Điểm đến khó cho quyền lực mềm của Trung Quốc?” ISEAS Perspective, Số phát hành 2020, số. 111, ngày 6 tháng Mười 2020, tại 

/wp-content/uploads/2020/09/ISEAS_Perspective_2020_111.pdf (truy cập ngày 22 tháng Tư 2022).

[32] OEC, Campuchia / Trung Quốc, tại https://oec.world/en/profile/bilateral-country/khm/partner/chn?redirect=true (truy cập ngày 21 tháng Tư 2022).

[33] Prak Chanthul, “Trung Quốc thúc đẩy nền kinh tế Campuchia, nhưng với cái giá phải trả nào?” Reuters, ngày 5 tháng Tư 2011, tại https://www.reuters.com/article/idINIndia-56123620110405 (truy cập ngày 26 tháng Tư 2022).

[34] Heimkhmera Suy, “Không có giải pháp đơn giản nào cho sự thống trị của Trung Quốc ở Campuchia.” East Asia Forum, ngày 26 tháng Mười Hai 2020, tại https://www.eastasiaforum.org/2020/12/26/no-simple-solution-to-chinas-dominance-in-cambodia/ (truy cập ngày 24 tháng Tư 2022).

[35] Jing Jing Luo và Kheang Un, “Vai trò của Trung Quốc trong nỗ lực tìm kiếm chính sách hợp pháp của Đảng Nhân dân Campuchia”,  Contemporary Southeast Asia  43, số. 2 (năm 2021): 395-419.

[36] Ellen Nakashima và Cate Cadell, “Trung Quốc bí mật xây dựng cơ sở hải quân ở Campuchia, các quan chức phương Tây nói,” Washington Post, ngày 6 tháng Sáu 2022, https://www.washingtonpost.com/national-security/2022/06/06/ cambodia-china-navy-base-ream / .

[37] Nhà nghiên cứu Campuchia, phỏng vấn các tác giả qua Zoom, ngày 3 tháng Tư 2022.

[38] Hoàng Minh Vũ, phỏng vấn các tác giả, ngày 3 tháng Mười 2019. Xem thêm Kheang Un và Jing Jing Luo, “Campuchia năm 2019: Thực hiện Quy tắc Một Đảng và Khẳng định Chủ quyền Quốc gia trong Kỷ nguyên Chuyển dịch Địa chính trị Toàn cầu.” Trong Southeast Asian Affairs 2020, được biên tập bởi Malcolm Cook và Daljit Singh (Singapore: ISEAS – Yusof Ishak Institute, 2020), trang 117-134.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s