Việt Nam thiên sử bi hùng 1945-1975- Bài 3

Max Hastings

Trần Quang Nghĩa dịch

CHƯƠNG 3:  KHÔNG BAO GIỜ LÀ PHÁO ĐÀI

1 Đợi Giáp

Có quá nhiều ‘quyết định chết người’ đến nỗi sẽ xúc phạm nếu chỉ ra cái nào là chủ yếu, nhưng quyết định đưa ra vào tháng 11 1953 loại bỏ bất kỳ mối hoài nghi nào còn phân vân về việc ai sẽ trở thành người chiến thắng,  ai là kẻ bị khuất phục. 

Điện Biên Phủ là một trận tương đối nhỏ, giao tranh với phía thực dân chỉ vỏn vẹn một sư đoàn.  Vậy mà nó nắm giữ tầm ý nghĩa tinh thần quyết định, bởi vì nó được tiến hành theo sáng kiến của Pháp,  với mục tiêu rõ ràng là dụ Việt Minh vào trận, và rồi thua vì các lý do phản ánh sự vụng về ấn tượng. Các ông chủ của Navarre ở Paris trong ngày tháng đó gần như hoang mang như chính vị tướng, không biết nên bỏ cuộc hay đánh tiếp. Ủy ban Quốc Phòng Pháp kết luận tại một phiên họp vào tháng 11 rằng mục tiêu chiến lược là ‘buộc kẻ địch phải thừa nhận là không thể đạt được một kết quả quân sự có tính quyết định.’  Điều này chỉ có thể đạt được bằng cách giáng các quả đấm trừng phạt cho một số hoặc tất cả sáu đội hình chính quy của Giáp,  triển khai ở phía bắc. Vậy mà Đô đốc Georges Cabanier được phái đi đến Sài Gòn, mang theo chỉ thị cho Navarre  là không làm gì quá tham vọng: mọi việc quan trọng từ nay trở đi nên để cho các nhà chính trị.

Vào ngày 2 tháng 11, tuy nhiên,  vị tướng đã quyết đinh tái chiếm bằng võ lực một căn cứ cũ tại Điện Biên Phủ, cách Hà Nội 175 dặm về phía tây và sát với biên giới Lào. Quyết định được đưa ra mà không có nhiều tin tức tình báo về vị trí hoặc dự tính của địch: Giáp luôn được thông tin tốt hơn đối thủ Pháp của mình,  một phần qua các người cộng sản được cài hiệu quả ở Paris, mà lòng trung thành của họ trước tiên là Đảng hơn là cho lá cờ tam sắc. Tuy thế, Navarre nói sau này,  ‘Chúng tôi tuyệt đối tin vào ưu thế của mình trong các vị trí phòng thủ được củng cố.’ Người phó của ông về vấn đề Bắc Kỳ, Thiếu tướng René Cogny, 49 tuổi, to con, luôn coi mình là quan trọng, từng bị Gestapo bắt giam thời Thế Chiến II.  Cogny chuộng giải pháp tập trung quân phòng thủ đồng bằng sông Hồng, nhưng cũng miễn cưỡng đồng ý với kế hoạch mới của Navarre. 

Bằng cách tạo một căn cứ cho không lực và bộ binh xa về phía tây,  họ lý luận rằng lực lượng đồn trú có thể xông ra ngăn cản Việt Minh chuyển quân, và cho kẻ địch chảy máu mũi nếu  chúng dám tấn công căn cứ. Đánh chiếm một cụm các ấp có tên Điện Biên Phủ sẽ cản đường Giáp tiến  vào vùng trồng lúa và cây thuốc phiện lớn. Mặc dù đường bay của nó nằm xa Hà Nội,  Cogny có thể nhờ đến 69 chiếc  C-47 Dakota đáp ứng yêu cầu 80 tấn hàng cung cấp mỗi ngày. Phần lớn mối nguy hiểm cho lực lượng Pháp được xem là nằm ở  cú nhảy dù đầu tiên xuống vùng đất DZ (vùng phi quân sự) ‘nóng’, tại đó được biết là có một tiểu đoàn Việt Minh đang đóng quân.

Navarre,  một cựu binh thời Thế Chiến I, cho là có thể chấp nhận được. Ông là một sĩ quan lạnh lùng, táo bạo và đẹp trai rạng ngời, không mấy kinh nghiệm ở chức vụ tư lệnh cao cấp,  nhưng có dáng dấp ghê gớm, và thật ra rất tự phụ. Ông đã đến Đông Dương vào tháng năm vừa qua mang theo một mệnh lệnh sẽ trở nên thân thiết một cách nghiệt ngã đối với những người Mỹ kế vị ông: tạo điều kiện cho một thỏa thuận ra đi trong thế mạnh. Ở Washington ngoại trưởng Foster Dulles, vị luật sư 65 tuổi nghiêm khắc, không khoan nhượng, kể về tiền lệ ở Triều Tiên,  nơi lực lượng Liên Hiệp Quốc đã chiến đấu dữ dội đến phút cuối – chỉ 6 tháng trước  – để thêm sức mạnh cho phái đoàn đàm phán của Liên Hiệp Quốc tại Bàn Môn Điếm. Bất cứ điều gì các phụ tá của Navarre nói sau đó, không có chứng cứ thuyết phục cho thấy có ai cho rằng nhược điểm có nguy cơ của Điện Biên Phủ chỉ là các đau đầu về chiến thuật – chắc chắn không thể dẫn nhanh đến thảm họa.

Hai tiểu đoàn dù đầu tiên của Pháp và Việt Nam nhảy xuống vào lúc 10:35 thứ sáu ngày 20/12 , ngay trước khi Navarre tiếp Cabanier, vị khách của ông từ Paris.  Vị tướng gần như biết chắc chắn nội dung của chỉ thị mà vị đô đốc mang tới – đừng cố mà liều lĩnh – nên đã cố tình chặn đầu trước.

Rủi thấy, sáng kiến của Pháp phù hợp hoàn toàn với mong đợi của Hồ Chí Minh, Giáp và nhà ý thức hệ dẫn đầu Trường Chinh. Tại cuộc họp tháng 10 trong một căn nhà tre giản dị sâu trong núi, họ đã nhất trí rằng tranh chấp đồng bằng sông Hồng chỉ khiến quân Pháp thi triển lực lượng và hỏa lực ngay sát  căn cứ của họ. Mục tiêu của Việt Minh là phải dụ cho được địch thay vì phân tán chúng, rồi đánh khi chúng liều lĩnh tiến xa nhất. Với một cử chỉ đặc trưng và hình thái tu từ, Hồ giơ cao nắm tay siết chặt  tượng trưng cho sức mạnh của Pháp ở phía đông,  rồi nói, ‘Nhưng nếu ta xòe bàn tay ra, bẻ gãy từng ngón một thật dễ dàng.’ Navarre, bằng cách chỉa một ngón tay về phía tây đến Điện Biên Phủ, đã hoàn thành vai trò mà Hồ kỳ vọng cho mình.

Nước cờ đầu tiên khởi động khi lính nhảy dù Pháp và Việt bắt đầu nhảy xuống các mục tiêu định sẵn từ các chiếc C-47, khi nhận được khẩu lệnh  ‘Nhảy! Nhảy! Nhảy!’ và bị đẩy ra từ thân máy bay tối mờ giữa tiếng gầm rú của động cơ, bắn ra không khí mát lạnh rực rỡ ánh mặt trời bên trên vùng đổ bộ ẩm thấp khoảng 600 bộ. Tiên phong trong số các sĩ quan Pháp dạn dày lắc lư bên dưới tán dù là Đại tá Pierre Langlais, người quê quán tỉnh Breton 44 tuổi, vô cùng gan dạ nhưng kém hiểu biết và mang tiếng xấu tính. Họ đáp xuống vùng hoả lực mà họ chờ đợi: một sĩ quan quân y,  lần đầu tiên nhảy dù, hứng một viên đạn vào đầu trước khi chân chạm đất. Đến chiều tối thì lực lượng tấn công đã buộc Việt Minh rút lui với tổn thất khá nặng: họ giữ được phòng tuyến vành đai, với tổn thất 15 người của Langlais chết và 34 bị thương. Ông  chửi thề nhiều hơn thường lệ, vì ông vỡ mắt cá chân khi chạm đất   như nhiều người nhảy dù thường gặp,  và phải di tản để nằm bó bột một tháng.

Ngày hôm sau các máy bay C-119 của Mỹ lượn trên đầu,  thả xuống trang thiết bị nặng và quân xa – máy bay chưa thể đáp xuống đường băng vì lỗ chỗ hố đạn do Việt Minh bắn phá. Lúc mà trận Điện Biên Phủ cuối cùng kết thúc, người Pháp đã sử dụng ở đó gần 60,000 dù, đến nỗi những đốm trắng và có màu, như những nốt bệnh dịch,  gần như lấn át trên các không ảnh. Sau khi xe ủi đã san bằng các đường băng,  một dòng thác đồ tiếp viện đến, mở rộng lực lượng đồn trú đến đỉnh cao hiện thời là 12,000 người.

Chỉ huy của căn cứ là Đại tá

Christian de Castries, một nhà quý tộc quân sự 51 tuổi, từng huênh hoang trong dòng họ mình có đến một thống chế, một đô đốc và 9 tướng lĩnh. Một kỵ sĩ nổi tiếng từng thắng nhiều giải thưởng và từng bị hành hạ vì vết thương trúng mìn ở Đông Dương, ông sau đó bị chỉ trích là hèn nhát  bởi những kẻ cho rằng ở Điện Biên Phủ ông luôn núp dưới boongke. Theo hồ sơ của de Castries lời vu cáo ấy là không có căn cứ. Tuy nhiên, về khía cạnh đạo đức, lời buộc tội ấy ít bảo đảm hơn: ông ta thiếu tài năng lãnh đạo gây cảm hứng. Khi tình thế khó khăn nghiêm trọng hơn,  ông gần như buông xuôi cho số mệnh. Đổ tội cho ông về hậu quả cuộc chiến là bất công  – Navarre và Cogny mới chính là kiến trúc sư của trận đánh. Nhưng ông cũng phạm nhiều lỗi lầm chiến thuật, cả về nhiệm vụ lẫn sự thiếu sót.

Danh từ ‘pháo đài’ thường được lặp đi lặp lại để mô tả Điện Biên Phủ, vậy mà nó không hề như thế. Đúng hơn,  nó là dãy đồi thấp giữa một bình nguyên nhìn qua những ngọn núi rậm rạp cây cối, và bây giờ được đào chiến hào chung quanh với sự cẩu thả đáng kinh ngạc.  Hiếm có vị trí phòng thủ nào được tạo ra trong những tháng trước cuộc tấn công của Việt Minh là đủ vững chắc: nhiều binh sĩ đồn trú khá dũng cảm,  nhưng coi thường việc đào công sự. Chỉ huy của họ ỷ lại vào sự kết nối hàng không 24/7 với Hà Nội. 

Trong khi đó, xa tận trong vùng đồi, Giáp biết được sự triển khai của địch: báo chí Pháp,  mà ban tham mưu của ông kiên trì đọc, báo cáo về chủ định của Navarre quyết đứng vững và chiến đấu. Quyết định của vị tướng Việt Minh trực tiếp thách thức vị tổng tư lệnh của kẻ thù – tung lực lượng lớn tấn công căn cứ  – được hình thành dựa vào sự thay đổi trong cán cân quân sự, lúc đầu bộ chỉ huy Pháp tại Hà Nội không hay biết. Trung Quốc đã cung cấp cho Việt Minh các pháo tự hành M2A1 105mm do Mỹ chế tạo mà họ đã tịch thu được của bọn Quốc Dân Đảng tháo chạy,  cùng với súng cối 120mm và súng phòng không 37mm. Các vũ khí này giúp  tăng cường hoả lực của đội pháo thủ Giáp, và trên hết là tầm bắn  – một quả pháo 105mm có thể bay đến mục tiêu từ ụ pháo cách đó 12,000 ya (khoảng 11,000 mét).

Lời kêu gọi quan trọng nhất, và thật ra có tính lịch sử, mà Giáp đưa ra là về hậu cần, trong đó các cố vấn Trung Quốc của ông đóng một vai trò có thể gây ảnh hưởng, tuy chưa được minh chứng: tự tin thuyết phục bộ chính trị rằng binh sĩ ông có thể kéo các khẩu pháo này, mỗi khẩu nặng hơn 2 tấn, vượt 500 dặm qua một số địa hình hiểm trở nhất của châu Á, và duy trì hàng tiếp tế hàng tháng trời cho lực lượng vây hãm gồm 4 sư đoàn.  Để đạt được điều này,  vào ngày 6/12 lệnh tổng động viên được ban hành trên toàn ‘vùng giải phóng’, để huy động một số lớn nông dân khuân vác,  thay phiên nhau mỗi người phải phục vụ ít nhất một tháng trước khi loạng choạng trở về nhà, kiệt sức, hốc hác, bệnh tật hành hạ. Để động viên các nam nữ này, Việt Minh loan báo cải cách ruộng đất sắp đến gần, để thưởng công họ góp phần vào thắng lợi. Thêm vào khẩu hiệu chiến đấu quen thuộc ‘Tất cả cho chiến trường,  tất cả cho thắng lợi’ xuất hiện một khẩu hiệu mới: ‘Đất về tay nông dân!’

Giáp dời bộ chỉ huy tiền phương 300 dặm,  đến một nhóm hang động tránh được bom và đào những đường hầm cách căn cứ Pháp 9 dặm, tại đó ông bày ra bàn bản đồ của mình vào ngày 5 tháng giêng 1954. Bộ tham mưu của ông bắt đầu phát hành bản tin cho binh sĩ. Trong số các báo cáo mới và lời hô hào là các tranh biếm họa khủng khiếp. Một bức tranh như thế mô tả nước Pháp là một mụ đàn bà xấu xí thô lỗ hạ sinh ra Điện Biên Phủ, và nằm đó bao vây bởi những nhân vật nhỏ xíu vận đồ đen đang cắt dây rốn là đường liên kết hàng không – đúng như việc họ sẽ làm, chỉ độ vài tuần nữa thôi.

Lực lượng hậu cần và kỹ sư Cộng sản vất vả trên lộ trình tiếp vận, một số đoạn đường có khả năng thích ứng với xe tải Molotova của Xô viết hoạt động tiếp sức,  bốc hàng và dỡ hàng bởi đám khuân vác. Gạo được chở phà nửa đoạn đường từ Trung Quốc đi theo sông Đà.  Giáp yêu cầu kho dự trữ chiến trường gồm một ngàn tấn đạn dược – mỗi quả pháo 105mm nặng hơn 20 ký. Bộ đội Việt Minh bắt đầu di chuyển về hướng Điện Biên Phủ, khi đến nơi họ được phát xẻng để sử dụng và dây thừng để kéo. Dọc theo lộ trình, điều cần chú ý sát sao dành cho công tác ngụy trang. Trong rừng, các chòm cây được buộc vào nhau để tạo thành một đường hầm,  trong khi cầu được dựng lên vô hình bên dưới mặt nước sông.  Ở vùng quê lộ thiên từng đoàn người đi theo xe,  dùng lá cây quét sạch dấu vết bánh xe tố giác mình. Khi phi cơ Pháp có phát hiện ra họ, thì việc cứu trợ duy nhất mà người bị thương nhận được là các sinh viên y khoa, chỉ có giẻ rách và thuốc giảm đau dân gian.

Về phần pháo, sĩ quan Việt Minh Trần Độ mô tả công việc thường nhật lặp lại nhiều tuần liền: ‘Mỗi đêm khi sương mù dày đặc buông xuống thung lũng, từng nhóm người tụ tập… Đường mòn quá hẹp , và chẳng bao lâu bùn ngập đến mắt cá chân, trơn trượt đến nỗi  bánh xe chỉ đi lệch một chút có thể khiến pháo lao xuống khe vực.  Chỉ bằng mồ hôi và nước mắt chúng tôi mới kéo được chúng vào vị trí từng khẩu một, sức người thay thế xe tải… Chúng tôi sống nhờ cơm gạo gần như lúc nào cũng sống sượng hoặc khê khét, bởi vì nhà bếp không được bốc khói vào ban ngày và không có tia lửa  vào ban đêm.  Khi lên núi, hàng trăm người kéo pháo bằng dây thừng dài,  với cái tời ở trên đỉnh để ngăn không cho chúng trượt xuống.  Đoạn xuống dốc thì gay go hơn, pháo trở nên nặng hơn, đường mòn uốn khúc và quanh co. Đội pháo thủ bẻ lái và chèn nêm, trong khi bộ đội điều khiển dây thừng và tời. Trọn một đêm dưới ánh đuốc lập lòe chỉ di chuyển một khẩu pháo đi được 500 hoặc 1,000 mét.’ Bộ phận tuyên truyền Việt Minh phong tặng anh hùng cho một bộ đội liều  lấy thân mình chèn bánh xe một khẩu pháo sắp trượt xuống vực. Tình báo Pháp, ra sức theo dõi hoạt động sôi nổi này ở  vùng tây-bắc, ước tính Giáp chỉ có thể huy động 20,000 phu khuân vác, và chỉ có thể nuôi ăn số binh sĩ lớn chừng ấy. Trong thực tế, tuy nhiên,  cộng sản động viên đến 60,000 người. Những chiếc xe đạp thồ được gia cố trở thành mắc xích quyết định trong dây chuyền tiếp tế, mỗi xe đạp thồ chở được 120 cân, lúc khẩn cấp có khi đến 200 cân. Các chỉ huy cộng sản cổ vũ không chỉ các chiến binh của họ mà còn động viên các nông dân khuân vác, đạt đến một mức độ nỗ lực thể xác  và hi sinh mà ít người Pháp hoặc lính đánh thuê nào có khả năng bì kịp. Một tù binh có ấn tượng sâu sắc khi chứng kiến 10 chiến sĩ Việt Minh giơ tay khi một cán bộ kêu gọi người tình nguyện đi vứt bỏ những quả bom nổ chậm của Pháp. 

Chiến dịch triển khai chậm chạp, trong khoảng thời gian hơn 100 ngày giữa thời điểm nhóm lính dù đầu tiên nhảy xuống ngày 20/11 và đợt tấn công đầu tiên của Giáp vào tháng 3. Ngay từ đầu, những cuộc tuần tra của Pháp vượt quá vành đai phòng thủ đều bị trừng phạt: vào tháng 12 hai tiểu đoàn dò dẫm về hướng một ngôi làng xa 9 dặm bị Việt Minh bao vây và xé nát, buộc phải rút về. Navarre phát đi lệnh mới cho de Castries: chỉ phải giữ vững căn cứ bằng bất cứ giá nào. Sau khi người Pháp đã chở đến bốn khẩu 155mm cũng như pháo tự hành 105mm và súng cối 120mm, họ cảm thấy yên tâm là đã có hỏa lực vượt trội. Nhưng thật bực bội khi xác định rất khó khăn mục tiêu: chất lượng kém của bản đồ khu vực gây khó khăn cho quan sát  viên không lực và pháo binh; vũ khí hạng nặng của địch thì ít khi nhìn thấy.

Qua tháng 12 tư lệnh tối cao Pháp chỉ nhận được tin tình báo nhỏ giọt khiến Navarre Cogny rất bực mình  – mặc dù không trầm trọng như đáng ra phải thế. Họ bây giờ biết rằng bốn sư đoàn Việt Minh đang chuyển quân lên vùng núi phía bắc, nhưng vẫn không chắc chúng đến đâu – lực lượng nghi bình của địch tại Cao nguyên Trung phần và châu thổ sông Hồng gây hoang mang cho Hà Nội. Trong suốt cuộc chiến từ trước đến giờ, cuộc tấn công của Việt Minh nào gặp phải sức kháng cự mạnh mẽ của Pháp đều thất bại: các tướng lĩnh do đó tin rằng quân Giáp gặp phải một cuộc đẩy lui đắt giá tại Điện Biên Phủ ắt sẽ  cuốn giáp chạy dài. Một thông tín viên của báo Le Monde đến thăm căn cứ bảo với độc giả là tinh thần lấn át của binh sĩ Điện Biên Phủ là  On va leur montrer! – ‘Chúng tôi sẽ cho chúng biết tay!’

Khi năm sắp hêt,  Navarre mới biết tin Việt Minh đang triển khai pháo tự hành: ngày 31 tháng 12 ông báo cáo về Paris rằng có thể căn cứ không thể bảo vệ được. Vậy mà trong suốt những tuần đầu năm 1954, không khí buồn chán là kẻ thù chính của quân đồn trú. Đại tá Langlais trở lại từ bệnh viện với một mắt cá bó cứng, cưỡi một chú ngựa con đi lững thững chung quanh. Đội tuần tra chịu nhiều thương vong.  Nhiều người khao khát Việt Minh tấn công, để có thể ném chúng trở về chốn ẩn náu rừng núi, cởi trói cho họ được về bù khú với gái gú Hà Nội. Nhưng cũng có một số dự cảm u ám: Trung tá Jules Gaucher viết cho vợ vào ngày 11/1: ‘Thời gian trôi qua chậm chạp và không có gì thú vị xảy ra. Họ kháo với bọn anh là khó khăn sẽ đến, sẽ giật phắt bọn anh ra khỏi cuộc sống thường nhật.  Có tin đồn bọn anh thế nào cũng bị hi sinh.’

Trong những tuần sau đó, lực lượng đồn trú phát động một số cuộc xuất kích nhắm vào pháo binh địch,  nhưng đều thất bại. Nỗ lực cắt đứt đường tiếp tế của Giáp từ trên không cũng không thành công, một phần cũng vì hạn chế của phi đội B-26 Marauder của Pháp : Langlais có lần thấy các vị trí của mình dường như bị phi đội Trung Quốc tấn công, rồi sau đó mới phát hiện chúng bị đánh bom bởi một phi cơ Pháp bị lạc địa chỉ. Không có gì ngạc nhiên khi nhiều bom được thả xuống từ độ cao 12,000 bộ. Cách xa Điện Biên Phủ,  Việt Minh tiến hành các cuộc tấn công biệt kích đêm nhằm làm tiêu hao không lực Pháp và đánh lạc hướng sự chú ý của Navarre.  Hai mươi máy bay, phần lớn là C-47 quý giá, bị phá hủy trong các cuộc đột kích vào sân bay quanh Hà Nội và Hải Phòng.  Từ tháng 12 trở đi Navarre và các chiến hữu của ông nhận được đầy đủ tin tình báo,  được chia sẽ với các cấp trên của mình ở Paris, để chứng tỏ rằng họ đối đầu với một viễn cảnh của một thảm họa đầy máu đổ. Vậy mà họ vẫn bền lòng bởi vì một ly cốc tai của lòng kiêu hãnh, thuyết định mệnh, sự ngu muội và tinh thần yếu đuối  ngăn cản họ nhận ra lỗi lầm của mình. Nếu quân đồn trú Điện Biên Phủ đã được di tản, không ai ở ngoài Việt Nam sẽ nghe biết về nó. Đó sẽ chỉ là một cuộc rút quân địa phương thuộc loại đã hóa thân thuộc. Navarre chịu trách nhiệm chính, nhưng toàn bộ giới lãnh đạo quân sự và chính trị Pháp đáng phải chia sẻ. Đó là vận xui của đất nước bị trị vì và chỉ huy bởi những con người đã đeo nặng sự sỉ nhục của thập niên trước đây, và do đó bị hạn chế trong mọi quyết định bởi lòng khao khát phục hồi danh dự quốc gia, phục sinh vinh quang của tổ quốc. Trong một tinh thần thách thức họ phạm vào một trong những tai họa quân sự dễ tránh khỏi nhất của thế kỷ 20.

Trong tuần cuối của tháng giêng, phe phòng thủ bị đặt trong tình trạng báo động cao: Tình báo báo cáo địch sẽ tổng tấn công trong vài giờ tới. Tin tình báo rất đúng: đó là kế hoạch; nhưng giờ cuối Giáp đổi ý. Nền tảng các thắng lợi gần đây của vị tư lệnh Việt Minh là nhờ vào chuẩn bị tỉ mỉ. Trước sự bực bội của các phụ tá,  Giáp xác định các điều kiện ở Điện Biên Phủ chưa chín mùi. Quân lính đầy đủ nhưng dự trữ đạn pháo và súng cối còn chưa như Giáp muốn.  Ông cho hoãn lại trận tấn công đã lên kế hoạch.

Thời khóa mới được duyệt lại có nghĩa là trận đánh sắp đến phải tiếp tục vào mùa mưa, mà trong vùng đó sẽ rất ẩm ướt. Giáp tính toán bộ đội của mình,  dàn quân trên các ngọn đồi, chịu đựng ít hơn quân địch đồn trú trên đồng bằng.  Ở Paris một sĩ quan cao cấp có cùng ý kiến, nhận xét u ám rằng vào tháng 4, tại bộ chỉ huy căn cứ de Castries sẽ lội trong ba tấc nước: ‘Chúng ta tưởng mình có thể tiêu diệt ba sư đoàn tinh nhuệ Cộng sản. Nhưng thay vào đó kẻ địch đã trói buộc một phần quan trọng lực lượng chúng ta, và chính địch mới là người điều khiển chúng ta.’ Có thêm cuộc bàn cãi về di tản, nhưng một lộ trình như thế có nghĩa là bỏ lại kho dự trữ khổng lồ vật liệu và gần như chắc chắn  là đội hậu quân sẽ bị tiêu diệt. Thay vào đó,  Navarre củng cố. 

Trong bảy tuần sau đó, dường như bất tận với người vây hãm cũng như với người bị vây hãm, các đối thủ đăm đăm nhìn nhau qua rặng cây và đồi núi. Phi cơ bay đến rồi bay đi. Xảy ra các vụ đột kích bên ngoài căn cứ, và một dòng khách quan trọng đến thăm  – những ông lớn quân sự và chính trị,  tiểu thuyết gia Graham Greene,  Mike O’Daniel của quân đội Hoa Kỳ – tất cả bọn họ đều ra đi bình yên.

Trong khi đó không kích vào đường tiếp tế của Việt Minh không tác động nhiều. Phi hành đoàn còn non nớt, họ gọi các máy bay cũ tơi tả của mình là ‘cái bẫy chết người’.  Nhiều người trong số 650 phi công Pháp tử trận ở Đông Dương là nạn nhân của hỏng hóc  kỹ thuật hoặc lỗi vận hành hơn là do kẻ địch. Việt Minh biết rằng tuy các trận không kích của địch ồn ào, chúng gây it thương vong một cách đáng ngạc nhiên. Một thanh niên sống sót trong một trận oanh kích ngôi làng mình đã viết: ‘Ném bom và pháo kích làm dân chúng khiếp đảm hơn là nó thực sự gây thương vong… Ném bom thường xuyên có thể khiến dân chúng bớt sợ.’ Hơn nữa  phi cơ Pháp ngày càng đương đầu với hỏa lực ác liệt của súng phòng không 37mm của Xô viết.  Vào tháng 12, 53 phi cơ bị trúng đạn it nhiều nghiêm trọng. Sau đó, khi thời tiết ít nhiều bị ảnh hưởng của mùa màng, các phi công trông cậy vào công nghệ phi hành của Thế Chiến II đối mặt với rủi ro càng lớn hơn, tổn thất càng gia tăng. 

Theo quan điểm của Navarre, đáng báo động hơn cả câu chuyện chiến trường là tin tức từ châu Âu qua một đêm đã nâng cao tiền đặt cược vào Điện Biên Phủ: phải có một hội nghị thượng đỉnh các Siêu Cường; một thỏa hiệp. Binh lính Pháp cảm nhận trong không khí một mùi quen thuộc đầy khốn khổ đối với người Pháp: mùi của sự phản trắc lù lù bốc lên. Không muốn nhìn nhận những nỗ lực bắn và pháo của mình, con đường đi đến chiến thắng ở Đông Dương, đang thất bại,  họ bỗng thấy mình sắp sửa trở thành nạn nhân cho các mưu mô của bọn chính trị gia mà họ khinh bỉ.

Ở Hoa Kỳ và châu Âu, tình trạng hoảng hốt đã lớn dần theo chiến sự Đông Dương.  Trong những năm đầu tiên của Thế Chiến Dự án Manhattan nhằm tìm cách chế tạo các quả bom nguyên tử đầu tiên, thủ tướng Anh Winston Churchill biểu lộ sự ngây thơ và thậm chí vô tư về các hàm ý của nó. Một thập niên sau, tuy nhiên, cho dù ở tuổi lão suy, vị chính khách già nua còn nhạy cảm về rủi ro trong việc sử dụng vũ khí hạt nhân hơn cả nhiều người Mỹ, kể cả Tổng thống Dwight Eisenhower. Churchill và ngoại trưởng Anthony Eden của ông hiểu rằng bom H vừa mới chế tạo  không chỉ là một món đồ chơi chiến tranh khác; thậm chí răn đe sử dụng nó để hoàn thành các mục tiêu trong chính sách đối ngoại là một dự định cực kì hệ trọng.

Khi hành pháp Hoa Kỳ xét đến các lựa chọn, nổi bật trong số đó là bỏ bom hạt nhân Trung Quốc, để trừng phạt Mao Trạch Đông vì việc hậu thuẫn Việt Minh.  Viễn ảnh như thế làm khiếp đảm người Anh. Mặc dù chỉ một ít người Mỹ – một số mặc quân phục có gắn sao tướng lĩnh – nói toạt ra việc bỏ bom hạt nhân Trung Quốc,  một khi  xung đột bắt đầu không biết nó sẽ đi đến đâu. Người Anh  tin vào chính sách ngoại giao của mình mà chính quyền Eisenhower không chia sẻ, và ngày càng tỏ ra khinh bỉ sự nhút nhát của đồng minh lớn nhất của mình.  Phe bảo thủ Mỹ lên án ý muốn của Anh tham gia đàm phán ngoại giao với Trung Quốc và Liên bang Xô viết, coi đó là hành động  nhân nhượng. 

Tiến trình ra khỏi Đông Dương của Pháp được đẩy nhanh hơn sau một phiên họp căng thẳng và khó khăn vào tháng giêng 1954 giữa các ngoại trưởng tại Berlin.  Vyacheslav Molotov, đại diện cho Nga, thúc giục triệu tập hội nghị mà Trung Cộng – từ trước đến giờ bị gạt ra khỏi các hội nghị quốc tế do Mỹ áp lực – sẽ được tham dự. Hội nghị sẽ giải quyết các vấn đề nổi cộm ở châu Á,  nhất là Triều Tiên và Đông Dương. 

Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles khựng lại. Khái niệm tham dự một hội nghị với phe cộng sản đã lật đổ Trung Quốc là điều đáng nguyền rủa. Vậy mà Eden hậu thuẫn ý tưởng này, với sự chống lưng của Churchill. Về phần Pháp,  Georges Bidault nhất trí: chính quyền chập chững mà ông là ngoại trưởng rất muốn mở cuộc đối thoại với Bắc Kinh về việc họ hậu thuẫn Việt Minh.  Dulles phải bất đắc dĩ chấp nhận. Vào ngày 18/2 các ngoại trưởng thông báo hội nghị sẽ bắt đầu ở Geneva vào ngày 26/4, tại đó mọi bên liên quan sẽ được mời,  đồng chủ tọa là Anh và Nga.

Cả hai quân đội ở Đông Dương giờ bị thúc ép trước tình hình khẩn trương mới, phải đạt cho được vị thế chiến trường mạnh nhất có thể trước bàn hội nghị. Navarre và các phụ tá bỏ đi các dự đoán bập bênh họ đã đưa ra từ tháng 12 và bày tỏ niềm hy vọng trống rỗng của chiến thắng. Táo bạo hẳn lên nhờ vào lòng tin cậy của binh sĩ, chính quyền Paris bác bỏ thẳng tay một đề nghị của nhà lãnh đạo Ấn Độ Jawaharlal Nehru cho một cuộc ngừng bắn lập tức ở Đông Dương.  Không chắc là Việt Minh sẽ chấp nhận một cuộc hưu chiến như thế,  nhưng người Pháp đã bác bỏ một cơ hội – cơ hội cuối cùng có thể nghĩ ra – để rút lại tiền cá cược của mình đã đặt trên bàn Điện Biên Phủ.

2 Thảm Họa Ra Dấu

Ở xa Paris, giữa các giao thông hào đất đỏ, các xe jeep chạy nhốn nháo khi đạn pháo bất ngờ chụp xuống tiền đồn hoang vu ở phía tây Bắc Kỳ, người Pháp nhận ra một diễn tiến không ngờ khác bên phe địch. Theo kiến thức quy ước dàn pháo nên được bố trí trên bờ nghiêng ngược lại,  ngoài  tầm nhắm trực tiếp của địch. Vậy mà Giáp, đặt ra quy luật mới, đặt các pháo tự hành của mình trên mặt dốc phía trước, để nòng pháo chĩa thẳng xuống các cứ điểm của de Castries, với sức vươn tới đầy đủ để cào cấu nhiều nhất. Dù ở vị trí đó, các khẩu pháo của Giáp gần như không thể bị tổn thương bởi các vụ phản pháo của Pháp, bởi vì chúng được cất giữ trong đường hầm chỉ được kéo ra khi lâm trận. Đồng bằng Điện Biên Phủ nằm trên độ cao 1,000 bộ so với mặt nước biển; vị trí cao nhất của Pháp cao hơn 600 bộ (khoảng 180 mét). Vậy mà chỉ cách đó 5,000 ya (khoảng 4,500 mét), cộng quân án ngữ một phòng tuyến trên đồi ở độ cao trung bình 3,600 bộ (khoảng 1,100 mét). Pháo của Giáp sẽ sớm có thể tàn phá mọi di chuyển của quân Pháp. 

Pháo và súng cối của de Castries đứng trong hố, phơi bày lộ liễu một cách kinh khủng.  Một ít xe tăng Chafee 18 tấn được tháo rời chở đến căn cứ bằng máy bay rồi ráp lại, cung cấp hỏa lực cơ động. Nhưng các sĩ quan Pháp sẽ sớm hiểu rằng mình đối mặt với một thử thách khốc liệt bởi pháo kích mà không mấy ai đã từng trải nghiệm. Pháo kích ngày một tăng dần có nghĩa là ít người ở vị trí tiền tiêu có thể hưởng được thú vui tại hai nhà thổ dã chiến ở căn cứ.

Vào giữa tháng 2, mặc dù không có cuộc tấn công nào của Việt Minh,  10 phần trăm quân số đồn trú đã bị thương vong. Tần suất sử dụng các C-47 đã sút giảm gây thiếu thốn trong việc vận chuyển đồ tiếp tế và quân nhu.

Vào ngày 11 /3, Việt Minh bắt đầu pháo kích vào các máy bay đổ cạnh đường băng Điện Biên Phủ.  Từ ngày 13 mỗi chuyến cất cánh và đáp xuống đều nằm trong hỏa lực: không phận bên dưới 7,000 bộ trở thành không an toàn. Vào ngày 12 René Cogny đến thăm,  không ngờ là chuyến thăm cuối cùng của mình: máy bay của ông khởi hành giữa mịt mù đạn pháo, và vị tướng ba hoa may mắn thoát chết. Hàng tuần liền quân Giáp chỉ đào, đào  và đào trên một quy mô mà không quân đội nào sánh được kể từ Mặt trận Phía tây thời Thế Chiến I. Một người trong nhóm viết: ‘Chiếc xẻng trở thành vũ khí quan trọng nhất của chúng tôi.’ Họ đào chung quanh vành đai phòng tuyến địch một mạng lưới hầm và hố vừa để che chở vừa để che giấu sự tiếp cận. Các cứ điểm của Pháp tập trung trên 9 ngọn đồi,  mỗi đồi được gắn một tên của phái đẹp.  Isabelle và Béatrice được xem là mạnh nhất, mặc dù một sĩ quan nhảy dù mới đến nhận ra một cách khiếp đảm tính không an toàn của các hố cá nhân và ụ pháo: quân đồn trú có thể đã ở tình trạng tốt hơn nếu binh sĩ trong các tuần trước chịu khó đào hăng hái như phe vây hãm.

Vào buổi sáng 13/3, Sư đoàn 312 của Giáp được nghe đọc thông điệp của Hồ Chí Minh,  rồi đồng thanh hát quốc ca Việt Minh.  Chiều đó,  binh sĩ  Giáp tập kích Béatrice, cứ điểm phía đông của Pháp,  cách đường băng không đến 2 dặm.  Lúc 17:05, khi lực lượng phòng thủ trông thấy Việt Minh bắt đầu chuyển quân,  họ chuẩn bị ra lệnh súng cối phòng vệ và hỏa lực pháo thì Giáp đã ra tay trước.  Một trận bão lửa của pháo và đạn súng cối hạng nặng ập xuống không chỉ Béatrice, mà còn vào các mục tiêu phân tán rộng khắp  căn cứ, nhất là các vị trí pháo và bộ chỉ huy. Cuộc oanh kích vô cùng chính xác, ắt hẳn đã được các cố vấn Trung Quốc đi theo đội pháo thủ  trợ giúp, mà suốt nhiều tuần lễ rảnh rỗi đã mặc tình tính toán tầm bắn và xăm xoi các điểm mạnh của de Castries. Lực lượng tuần tra Việt Minh đã thám sát địa hình với lòng dũng cảm và kiên nhẫn vô song,  bò hàng giờ trong bóng đêm giữa hàng rào kẽm gai và công sự Pháp . Đặc biệt, họ xác định chính xác đài anten vô tuyến đánh dấu trung tâm chỉ huy.  Nhóm của Pierre Langlais thoát chết chỉ nhờ phép màu. Vị đại tá đang đứng trần truồng dưới vòi nước hoa sen làm bằng thùng phuy đục lỗ khi pháo kích bắt đầu, ông chạy thụt mạng vào boongke, không kịp mặc quần áo, vài giây trước khi một quả pháo rơi trúng nóc hầm. Ông và các sĩ quan choáng váng giữa một đống hỗn loạn các thanh gỗ, mảnh vụn, đất cát  và máy móc vỡ vụn rơi xuống; chưa kịp định thần thì một quả thứ hai rơi xuống, may mà không nổ. Ở đằng xa, một quả cầu lửa màu cam đỏ đánh đấu kho xăng và kho bom napan phát nổ. Tất cả chỉ trừ một máy bay chỉ điểm của de Castries đều bị phá hủy.

Khi ánh sáng phai nhạt vào ngày 13/3, các chỉ huy Pháp bỗng thấy mình bị tê liệt. Nhiều dây điện thoại bị cắt đứt, và các đài phát hoạt động chập chờn trong không khí đặc sệt thường lệ của buổi chiều tối. Tiểu đoàn Lê Dương Viễn Chinh 450 người chống giữ Beatrice đã xuống sức và thiếu sĩ quan. Các chỉ huy chờ đợi một cuộc tấn công, nhưng chỉ khi đêm xuống.  Việt Minh đã đào các hầm hố chỉ cách chu vi Béatrice khoảng 50 ya (khoảng 45 mét) và từ những vị trí này bộ bình của họ tràn về phía trước giữa tiếng  la hét và tiếng kèn xuất quân, theo sau là các ngư lôi

bangalore (thuốc nổ nén trong các ống tre) phát nổ bên dưới hàng rào kẽm gai của địch.  Pháo tung ra những quả đấm chết người: lúc 18:30 một quả pháo nổ trúng đài chỉ huy của  Béatrice.  Khi bóng đêm sâu dần, những binh sĩ trong mỗi boongke trên đồi buộc phải chiến đấu đơn độc dưới ánh lóe sáng của hỏa châu. Một số Lê Dương giáng cho bọn tấn công những tổn thất nặng nề trước khi bị khuất phục. Tuy nhiên,  trong vòng một giờ, bất chấp thương vong, coi thường mạng sống, Việt Minh chiếm được các vị trí sâu bên trong phòng tuyến. Một chỉ huy đại đội Pháp tiếp tục gọi điện đài kêu yểm trợ pháo thậm chí khi công sự của ông đã bị tràn ngập: ‘Bên phải 100 … 100 gần hơn  … 50 gần hơn… Cứ pháo lên người tôi! Địch đang tràn lên đầu  chúng tôi!’ Rồi chỉ còn tiếng rít của tĩnh điện, khi tiếng người câm lặng. Đại tá  Gaucher, người đã dự đoán u ám với vợ rằng mình và đồng đội ‘thế nào cũng hy sinh’, bị tử thương. Langlais được lệnh thay thế, nhưng thiếu điện thoại và điện đài. Ngay sau nửa đêm Việt Minh chiếm quyền kiểm soát Béatrice, giết hơn 100 binh sĩ phòng thủ và bắt tù binh gấp hai lần số đó, phần đông là bị thương. Chỉ 100 người do một thượng sĩ dẫn đầu thoát được. Khi mặt trời lên lúc 06:18 vào ngày 14, một sự tĩnh lặng kỳ lạ bao trùm lên trận địa,  dưới cơn mưa rả rích rồi trở nên nặng hạt. Đội y tế căn cứ  ra khỏi boongke ngột ngạt, mắt nhấp nháy và mệt phờ, suốt đêm qua đã xử lý 10 ca bụng dưới  và 10 ca vùng ngực, 2 chấn thương sọ não, 15 gãy xương và 14 cắt chi. Mảnh vỡ rải rác khắp nơi: xe cộ cháy đen và cháy rụi, phi cơ và thiết bị vỡ nát. Một cuộc không kích muộn màng và vô ích được tiến hành chống lại các vị trí pháo của  Việt Minh. 

Rồi một tù binh sĩ quan bị thương, Trung úy Frédéric Turpin, loạng choạng bước từ

Béatrice đến Dominique, mang một đề nghị hưu chiến của Việt Minh để di tản người chết và bị thương, và bộ chỉ huy Cogny cho phép. Đây là một chiêu trò tâm lý chiến sắc sảo của Giáp, vì nó giao lại cho quân đồn trú trách nhiệm chăm sóc 8 người bị thương nặng , và nhìn nhận quân ông là người chiến thắng. Turpin khá may mắn được di tản hàng không đến Hà Nội. Về phần những người ở lại, Pierre Rocolle viết: ‘Một tâm trạng sững sờ buông xuống những người không tham gia vào nhiệm vụ khẩn cấp. Sĩ quan và binh lính không thể ngừng tự hỏi: “Làm sao một đơn vị Lê Dương đã bị quét sạch quá nhanh chóng như vậy?”‘ Đáp ứng của  Cogny là củng cố đội quân đồn trú thêm một tiểu đoàn dù nữa. 

Giáp chuẩn bị lặp lại thắng lợi,  tấn công Gabrielle, xa hơn về phía bắc, được lực lượng Tirailleurs Algeria thứ 7 phòng thủ. Họ đã ăn súp sớm để dự phòng một đêm bận rộn. Đúng như dự đoán,  lúc 18:00 giờ  ngày 14, ngay trước khi mặt trời lặn,  bộ đội Việt Minh thuộc Sư đoàn 308 xung phong. Một trận đánh ác liệt kéo đài đến tận đêm,  dưới ánh sáng hỏa châu máy bay Dakota bay vòng thả xuống.  Trong vài giờ đầu lực lượng phòng thủ bám vững trận địa, với sự yểm trợ của pháo gây khổ sở cho bộ binh Việt Minh.  Tuy nhiên,  lúc 03:30 giờ ngày 15, hoả lực cải tiến của cộng sản rơi trên đồi, dội trúng đồn chỉ huy giết và làm bị thương gần hết người trong đó. Quân Pháp hy vọng phản công vào rạng sáng, và các sĩ quan phấn chấn hẳn lên khi nghe tin xe tăng và lính dù tập trung đang sẵn sàng. Tuy nhiên, binh lính Algeria đã chịu hết thấu. Lúc 07:00 ngày 15 các binh sĩ Việt Minh đầu tiên đã xuất hiện trên đỉnh Gabrielle. Lực lượng Tirailleurs, trong đó có một đại đội không giao tranh, bỏ chạy tán loạn ra khỏi hố và chạy hỗn loạn xuống đồi. Việt Minh chiếm đồi, và tìm thấy vị đại tá choáng váng của tiểu đoàn trong số 350 tù binh và 80 người chết. Tiểu đoàn người Việt mới đến tăng viện có nhiệm vụ phản kích trên trận địa trống trải,  nhưng đối mặt với hoả lực pháo liền nao núng: cuộc tấn công bị bỏ dỡ khi các Tirailleur trốn thoát lần lượt lẻ tẻ bước vào vành đai phòng thủ đã thu hẹp. Các lãnh đạo Pháp lảo đảo dưới quả đấm thứ hai này trong vòng 24 giờ, và tìm cách đổ lỗi việc Gabrielle thất thủ cho các sĩ quan của nó. Navarre nhận xét trong một bức thư gửi cho Thống chế Juin ở Paris rằng tinh thần sụp đổ là điều ‘thấy rõ nhất trong hàng ngũ chỉ huy, vốn trước đây đã thể hiện một niềm tin tưởng cao độ (quá cao là đằng khác) và đã xoay chiều từ thái cực này sang thái cực khác’. Vị tướng phái hai đại tá tình nguyện đến Điện Biên Phủ để thay thế những người ngã xuống.  Với không lực rõ ràng không thể ngăn trở đường tiếp tế của Giáp,  Navarre thay vào đó đề xuất một kế hoạch lố bịch là tạo mưa nhân tạo trên vùng rừng rậm gây lũ lụt cho bọn cộng sản. Trong căn cứ,  một số sĩ quan trong bộ chỉ huy của de Castries có những dấu hiệu sụp đổ tinh thần: tham mưu trưởng ngồi bất động trong boongke của mình, không chịu bỏ mũ sắt. Chính de Castries ban hành lệnh nhưng không thi triển sự lãnh đạo: ông không hô hào hùng hồn cũng không cổ vũ tình đồng đội với các binh sĩ dưới quyền,  mà rõ ràng chỉ biết buông xuôi cho thảm họa rơi xuống.

Pháo tự hành của Cộng sản quay hướng chú ý vào các ụ pháo của Pháp, khiến các pháo thủ chịu đựng khủng khiếp: một phần ba pháo đội 155mm và hơn phân nửa đội súng cối 120mm của Pháp thương vong. Sang ngày thứ ba  của trận đánh, phân nửa kho đạn 27,000 quả pháo của quân đồn trú đã xài hết. Người Pháp đã mất các vị trí quan sát tiền tiêu, thành ra các khẩu pháo còn lại buộc phải bắn gần như mù, lệ thuộc vào các mục tiêu trên các không ảnh chụp phòng tuyến của Giáp và in ra giấy ở Hà Nội, rồi thả dù xuống căn cứ.

Chỉ huy pháo binh của  de Castries,  Đại tá Charles Piroth vui tính, đã hấp tấp hứa rằng mình có thể dập tắt bất kì khẩu pháo nào mà người cộng sản bố trí.  Giờ thì ông phải đón nhận những lời đay nghiến của Langlais về thất bại của dàn pháo của ông trong hai trận đánh đêm vừa qua. Viên đại tá rút về boongke của mình, bật khóc một cách tuyệt vọng, ‘Tôi bị sỉ nhục hoàn toàn.’ Sự thật, chính các cấp trên của ông mới đáng bị sỉ nhục,  vì đã chọn một trận địa như thế, và xua 12,000 binh lính Pháp và thuộc địa chống lại một quân số gấp 5 lần của Việt Minh,  được một tướng lĩnh cự phách cầm đầu. Dù vậy,  Piroth cũng chụp lấy một quả lựu đạn siết chặt vào lồng ngực và rút chốt. De Castries tìm cách lấp liếm vụ tự tử của viên đại tá,  nhưng tin tức  nhanh chóng tiết lộ ra ngoài, và xuất hiện trên mặt báo Le Monde.  Vào đêm 14 vài quả pháo rơi trúng phòng băng bó, giết 14 người trong phòng sàng lọc bệnh và 9 ca hậu phẩu,  cũng như phá hủy phòng X-quang. Từ đó về sau thương binh chịu đau đớn khủng khiếp: trước khi kết thúc cuộc chiến, bác sĩ và phẫu thuật viên điều trị cho 2,665 người,  giải phẫu 934 ca và theo dõi 319 người chết. Đường băng của căn cứ tiếp tục bị cào nát bằng hỏa lực tiêu hủy 10 máy bay bị kẹt lại vì thời tiết xấu.

.

Hai ngày sau,  15-16 tháng 3, trôi qua không có sự cố gì.  Các loa tuyên truyền của Việt Minh phát đi lời kêu gọi đầu hàng cho lực lượng phòng thủ bằng tiếng Pháp,  tiếng Việt,  tiếng Ả Rập  và Đức.  Việc này không phải là không có tác dụng: Cogny đã bổ sung vào lực lượng đồn trú Điện Biên Phủ một tiểu đoàn Việt và hai tiểu đoàn Thái được cho là không đáng tin cậy, mặc dù de Castries đã mạnh mẽ bày tỏ không mong muốn. Các sĩ quan Pháp đã từng sợ rằng thỏa hiệp hòa bình sẽ khiến các lực lượng bản địa buông lỏng và đi nhanh đến thảm họa, thực sự đúng như vậy: Theo sau loan báo về cuộc hội nghị Geneva sắp tới, nhiều người Việt làm cho Pháp nhìn biết ai đang thắng cuộc chiến Đông Dương  – và đó không phải là bọn thực dân.  Trong đêm 15/3, đầu tiên là nhỏ giọt rồi ào ạt thành sông lớn các vụ đào ngũ xảy ra từ tiểu đoàn Thái Lan án ngữ cứ điểm  Anne-Marie, cách Gabrielle một dặm rưỡi về phía tây-nam: một cứ điểm mạnh hoàn toàn bị bỏ trống. Không lâu sau đó một trận pháo kích đẩy nhanh tiến độ tháo chạy trên diện rộng.  Một quan sát viên tiền phương điện về cụt ngũn: ‘Tụi Thái giông rồi.’ Anne-Marie 1 và 2 rơi vào tay Giáp gần như không tốn một giọt máu, và ông nhanh chóng dựng lại ở đó dàn súng cối và súng không giật. Tinh thần chiến đấu của quân đồn trú vỡ vụn đến nỗi lực lượng Giáp có thể tiến lên đánh chiếm toàn bộ căn cứ  – như các phụ tá của ông nôn nóng muốn làm. De Castries về sau viết về khoảng cách to lớn giữa tinh thần của người phòng thủ và tinh thần kẻ địch như ‘giữa quân đội nhân dân chiến đấu giành độc lập … và một lực lượng lính đánh thuê thuê thực hiện một hợp đồng.’ Tuy nhiên,  Giáp không muốn hấp tấp. Sự chuẩn bị kiên trì, có phương pháp đã có kết quả.

Hơn nữa, các đội hình của ông đã tổn thất nặng nề trong các thắng lợi ban đầu: một phần tư bộ đội tấn công Béatrice được cho là đã hy sinh, và một tiểu đoàn tấn công Gabrielle tổn thất 240 người.  Sáu nhân viên y tế Việt Minh đang được đào tạo phải gồng mình chăm sóc cho 700 thương binh. 

Giữa trận mưa đạn pháo và miển đạn súng cối, lực lượng vây hãm phải trả giá đắt vì thiếu thốn mũ sắt, và vì các vụ tấn công ‘biển người’ ban đầu. 

Giáp mỗi ngày đều kiểm tra số lượng tiếp tế.  Một buổi sáng ông hỏi chỉ huy hậu cần tại sao đêm trước chở đến thiếu một tấn gạo, và được trả lời do có mưa như trút nước. Vị tướng phán, ‘Dù có mưa hay bão, chúng ta không cho phép bộ đội ta chiến đấu với cái bụng rỗng!’ Đây chỉ là ngôn từ chính trị: ông hẳn hiểu rõ là nhiều binh sĩ mình đang đói. Họ hiếm hoi mới nhận được thịt thà hoặc rau củ, vào giữa tháng 3 phải ăn ‘gạo hẩm đến nỗi chúng tôi không biết nấu thế nào ‘, theo lời một người thuộc Sư đoàn 312. Họ không còn lãnh được thuốc lá, phải lặn lội tìm lá hoặc rễ cây rừng ăn được.

Vậy mà Giáp vẫn khăng khăng chọn lối tấn công theo kiểu ban đầu, kiên trì bảo đảm thành công mọi mũi tấn công,  không cho kẻ địch hy vọng sống còn nào. Pháo phòng không 37mm của ông giáng đòn chí mạng cho không lực địch, vì thế hiếm có máy bay nào trở về từ căn cứ mà lành lặn. Suốt những ngày rồi những tuần theo sau sự thất thủ của 3 trong 9 ngọn đồi của de Castries,  pháo binh Việt Minh không ngừng quấy phá đường băng. Mỗi lần phi cơ sơ tán y tế đáp xuống đường băng là các hành khách thương bình hoảng sợ phải chạy ùa tới khoang máy bay để nó nhanh chóng cất cánh thoát khỏi vùng tử thần. Phóng viên ảnh

Jean Péraud mô tả cảnh tượng mà ông cho là không khác Đức 1945: ‘Nhũng tiếng la hét. Những giọt nước mắt. Những người bị thương chạy rầm rập về phía cửa máy bay. Chưa hề thấy cảnh nào như thế kể từ trại tập trung.’ Vào ngày 17, Việt Minh lại có một ‘hành động nhân đạo’ được sắp xếp khéo léo, giao cho quân đồn trú 86 tù binh bị thương. Tất nhiên, điều nầy chỉ làm tăng sức ép cho bộ phận y tế vốn đã quá tải: trong số các lúng túng của bác sĩ có việc không biết phải vứt bỏ cả núi tứ chi đứt lìa ở đâu. Vào ngày 23/3 một trực thăng H-19 không  theo lệnh đáp xuống một địa điểm trống trải nguy hiểm.  Trong lúc thương binh được chuyển lên phi hành đoàn tránh đi chỗ khác, nhờ đó thoát khỏi một quả pháo rơi trúng phá hủy máy bay và những người bên trong, trong đó có con trai một vị tướng. 

Tinh thần quân đồn trú xuống thấp.  Không chỉ lính dù người Nam không chịu lấy lại Gabrielle vào ngày 15 mà một tiểu đoàn Algeria đã bỏ rơi vị trí, lẻn đi vào bụi rậm và xóm làng bên ngoài vành đai phòng tuyến, nơi có khoảng vài trăm ‘con chuột Nậm Rốn’, tên họ được gọi, sống lây lấy cho đến khi cuộc chiến kết thúc bằng đồ tiếp tế cướp được. Các pháo thủ và kỹ sư Bắc Phi vẫn kiên định một cách ấn tượng,  dù chịu tổn thất 50 thương vong mỗi ngày.

Không phải de Castries là linh hồn của công cuộc phòng thủ, mà chính là Langlais, theo lời kể một đồng đội Lê Dương, ông ‘hát Marseillaise (quốc ca Pháp) 56 ngày liền.  Ông không hề thối chí.’ Vào ngày 16 Langlais được Thiếu tá Marcel Bigeard, một đồng đội cũ mới đến tiếp tay,  người sẽ trở thành một huyền thoại khác của cuộc vây hãm. Nhưng cả ông và Langlais thích hợp trong vai trò chịu hình phạt đóng đinh trên thập giá hơn là khởi xuống một cuộc phục sinh.

Một vài chuyến xuất kích thành công gây phấn khích đôi chút cho tinh thần quân đồn trú,  nhưng de Castries buộc phải cân nhắc lợi ích của các hành động như thế,  và ngay cả của việc tuần tra thường lệ,  với giá sinh mạng bỏ ra. Cơn thống khổ của thương binh tồi tệ hơn: một trung sĩ Leroy nào đó bị trọng thương bởi một mảnh pháo trên đồi Isabelle vào ngày 16 tháng 3, và đang nằm hồi phục tại phòng hồi sức thì bị pháo, làm anh bị thương lần nữa.  Anh được xe tải chở về Isabelle đúng lúc một cuộc pháo kích mới, giết chết tài xế xe tải. Sau khi cứu sống từ đống đổ nát anh trải qua một cuộc giải phẫu dạ dày, rồi trải qua ba đêm sau đó trong một mương thoát nước trước khi được máy bay chở về Hà Nội vào ngày 25/3.

Từ ngày 13 đến ngày 27, 324 thương binh được di tản, nhưng vào ngày 28 pháo Việt Minh phá hủy một máy bay Dakota trên đường băng. Pháo của Giáp  giờ có thể vươn đến đâu theo ý muốn,  và thiếu tá Bigeard dẫn 1,200 lính dù trong một trận xuất kích tuyệt vọng chống lại họ. Trong trận giao tranh đó Việt Minh được tính là đã mất 350 người,  cùng với nhiều dàn phòng không bị phá hủy. Nhưng phía Pháp chịu 110 thương vong- một đại đội bị xoá sổ mà không đạt được kết quả quyết định nào.

Đường băng không còn hữu dụng gì nữa: ‘Cầu không vận’, trên đó toàn bộ kế hoạch Điện Biên Phủ được xây dựng,  đã tan tác. Binh sĩ bắt đầu tháo dỡ những tấm thép từ đường băng để lợp nóc hầm và boongke: máy bay không còn cần đến chúng nữa. 

Từ lúc này trở đi, nỗi khổ của thương binh trở nên khủng khiếp thực sự. Đồ tiếp tế thiếu hụt rượu vang nặng, chất kích thích đã từng ăn vào máu bao thế hệ binh lính Pháp.  Vào ngày 29 tháng 3 nỗi khốn khổ của cả hai phe càng tăng thêm do trận mưa như thác, kéo dài qua các tuần lễ còn lại của cuộc chiến: người ta chiến đấu và giết chóc nhau giữa biển bùn lầy. Giờ thì quân đồn trú lệ thuộc vào đồ tiếp tế thả dù, tình trạng thiếu hụt hỗ trợ hàng không phơi bày trần trụi. Phòng không địch quá lợi hại buộc phải bãi bỏ những  chuyến vận tải tầm thấp vào ban ngày, mà chỉ thả dù tầm cao xuống về đêm, khiến một số lớn hàng tiếp tế rơi vào tay địch. Vị tư lệnh Việt Minh nhận xét khô khan rằng  ‘những chuyến thả dù của địch tạo thành nguồn tiếp tế không phải không đáng kể, chẳng khác quà từ trên trời rơi xuống!’.

Phòng tuyến Pháp lừng danh nhất của thế kỷ 20 là phòng tuyến Verdun vào năm 1916, nơi các lực lượng của Tướng Philippe Pétain giữ vững được nhờ vào con đường tiếp tế mỏng manh đơn lẻ đi vào lịch sử dưới tên ‘con đường thiêng liêng’. Vào ngày 20 tháng 3 Đại tá de Castries nhận xét trong một bức thư riêng gửi Tướng Cogny rằng Điện Biên Phủ đang trở thành một Verdun của Đông Dương,  với một khiếm khuyết trầm trọng: không có con đường thiêng liêng.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s