Mười chiến dịch của Liên Xô năm 1944

Long Phan

1. Chiến dịch Leningrad-Novgorod (từ tháng 1 đến tháng 3-1944): Sau khi phá thủng tuyến phòng ngự được chuẩn bị kỹ lưỡng của quân Đức ở ngoại ô Leningrad, quân đội Xô viết đã đẩy lùi Đức ra xa 200-280km về phía Tây, qua đó dỡ bỏ hoàn toàn cuộc phong tỏa thành phố quan trọng thứ hai này của Liên Xô. Các tập đoàn quân số 16 và 18 thuộc Cụm Tập đoàn quân Phương Bắc của Đức chịu thất bại nặng nề và buộc phải tháo chạy về tuyến phòng thủ Panther nằm trên biên giới Estonia.

2. Chiến dịch Dnepr-Carpath (từ tháng 12-1943 đến tháng 4-1944): Trận chiến hữu ngạn Ukraine đã trở thành một trong những trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh Vệ quốc của nhân dân Liên Xô (1941-1945). Trong trận này có tới 4 triệu binh sĩ hai bên tham gia. Phần lớn cuộc tấn công của Hồng quân Liên Xô diễn ra trong điều kiện khó khăn, khi mùa Xuân gặp đường lầy lội khó đi do băng tan và thời tiết xấu kéo dài. Mặc dù vậy, quân đội Xô viết đã giải phóng phần lớn Ukraine và một phần ba lãnh thổ Moldova, cũng như tiến đến biên giới với Romania. Vì thất bại trong trận đánh này, Thống chế Erich von Manstein bị cách chức Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân Phương Nam của Đức.

3. Chiến dịch Odessa và Crimea (từ tháng 3 đến tháng 5-1944): Nếu như năm 1941, quân đội Đức mất 250 ngày để chiếm căn cứ chủ lực Hạm đội Biển Đen của Liên Xô là thành phố Sevastopol, thì đến năm 1944, Hồng quân chỉ mất 3 ngày để giành lại nó. Việc giải phóng miền Nam Ukraine và Crimea giúp bảo đảm an toàn cho hai bên sườn của quân đội Xô viết khi đó đang tiến vào Romania, cũng như cho phép các tàu chiến quay trở lại căn cứ của mình trên bán đảo Crimea. Nhờ đó mà chẳng bao lâu sau, Hồng quân đã kiểm soát toàn bộ khu vực Biển Đen.

4. Chiến dịch Vyborg-Petrozavodsk (từ tháng 6 đến tháng 8-1944): Mục đích chính của cuộc tấn công quy mô lớn ở Karelia vào tháng 6-1944 là để kéo Phần Lan ra khỏi cuộc chiến. Mặc dù quân địch đã tập trung hơn 70% lực lượng của mình vào eo đất Karelia, nhưng Hồng quân Liên Xô vẫn phá vỡ được hàng phòng ngự và chiếm được hai thành phố Vyborg và Petrozavodsk. Trước tình thế quân đội Xô viết tiến sâu vào lãnh thổ nước này, chính phủ Phần Lan bắt đầu tìm kiếm khả năng ký kết thỏa thuận hòa bình với Liên Xô.

5. Chiến dịch Belarus (từ tháng 6 đến tháng 8-1944): Trong chiến dịch tiến công Belarus mang tên “Bagration”, Hồng quân đã cho quân đội Đức thấy được thế nào là chiến lược “chiến tranh chớp nhoáng” theo kiểu của Liên Xô. Chiến dịch được chuẩn bị trong điều kiện tối mật đã gây bất ngờ hoàn toàn. Chỉ trong hai tháng chiến đấu, quân của ba mặt trận Liên Xô, bằng sự phối hợp hành động nhuần nhuyễn với nhau, đã tiến về phía Tây 600km, đánh tan Cụm Tập đoàn quân Trung tâm và giải phóng lãnh thổ Belarus, miền Đông Ba Lan và một phần khu vực Baltic.

6. Chiến dịch Lvov-Sandomierz (từ tháng 7 đến tháng 8-1944): Kết quả của chiến dịch Lvov-Sandomierz là Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraine của Đức chịu thất bại nặng nề, 32 sư đoàn tổn thất tới 70% binh sĩ, 8 sư đoàn bị tiêu diệt hoàn toàn. Hồng quân đã giải phóng hoàn toàn Ukraine và cắt đứt liên lạc giữa Cụm Tập đoàn quân Phương Bắc và Cụm Tập đoàn quân Phương Nam của Đức, buộc Đức lúc này chỉ có thể liên lạc theo đường vòng qua lãnh thổ Hungary và Tiệp Khắc.

7. Chiến dịch Yassy-Kishinev và Bucharest-Arad (từ tháng 8 đến tháng 10-1944): Thất bại chí mạng của quân Đức tại Moldova và cuộc đột kích của Hồng quân vào Romania đã dẫn đến việc ngày 23-8-1944, Nhà vua Romania Mihai I tiến hành đảo chính, bắt giữ Nguyên soái Ion Antonescu và các thành viên chính phủ nước này. Romania sau đó chuyển sang phe liên minh chống Đức và quân đội nước này đã giúp Phương diện quân số 2 Ukraine của Nguyên soái Rodion Malinovsky giải phóng gần như toàn bộ lãnh thổ Romania khỏi quân Đức vào cuối tháng 10-1944.

8. Chiến dịch Baltic (từ tháng 9 đến tháng 11-1944): Mặc dù sau chiến dịch tiến công Belarus mang tên “Bagration”, các binh sĩ Cụm Tập đoàn quân Phương Bắc đóng tại vùng Baltic đứng trước nguy cơ bị cô lập khỏi các lực lượng nòng cốt của Đức, nhưng Adolf vẫn ra lệnh giữ vững khu vực này đến cùng. Trong những trận đánh ác liệt, Hồng quân Liên Xô đã vượt qua các tuyến phòng thủ được bố trí sâu của đối phương, đặc biệt là ở khu vực Riga và trên các đảo thuộc quần đảo Moonsund. Ngày 10-10-1944, khi đưa quân đến bờ biển Baltic ở phía nam thành phố Klaipeda của Litva, quân đội Liên Xô đã chặt đứt Cụm Tập đoàn quân Phương Bắc của Đức ở phía Tây Latvia. Bị Hồng quân bao vây tại Courland, cụm quân Đức chỉ còn tồn tại cho đến khi nước Đức đầu hàng và được các binh sĩ Liên Xô đặt cho một biệt danh hài hước là “trại tù binh vũ trang”.

9. Chiến dịch Đông Carpath và Belgrad (từ tháng 9 đến tháng 10-1944): Đầu tháng 9-1944, Hồng quân Liên Xô đã phải tấn công vào dãy núi Carpath một cách vội vã và không có sự chuẩn bị thích hợp. Bởi khi đó, những người tham gia cuộc nổi dậy nổ ra ở Slovakia vào cuối tháng 8 đã đề nghị giúp đỡ. Mặc dù quân đội Xô viết không thể tiến đến và tiếp cận quân nổi dậy, nhưng vẫn đánh bại Cụm Tập đoàn quân Heinrici và chiếm được miền Đông Slovakia. Đồng thời, binh sĩ Phương diện quân số 3 Ukraina của Nguyên soái Fyodor Tolbukhin đã phối hợp với các binh đoàn của Quân Giải phóng Nhân dân Nam Tư đánh bật Đức ra khỏi phần lớn lãnh thổ Nam Tư và ngày 20-10-1944 thì tiến vào Belgrade.

10. Chiến dịch Petsamo-Kirkenes (từ tháng 10 đến tháng 11-1944): Tại vùng Cực Bắc của Liên Xô, quân Đức đã không thể giành được thắng lợi đáng kể nào trong suốt cuộc chiến. Tuy nhiên, đầu tháng 10-1944, họ vẫn kiểm soát lãnh thổ của Liên Xô ở khu vực phía Tây Murmansk, nơi có con đường dẫn đến các mỏ đồng, niken và molypden tại những vùng phía Bắc của Na Uy và Phần Lan. Những mỏ quặng này là vô cùng quan trọng đối với Đức. Vượt qua các tuyến phòng ngự kiên cố của đối phương trong điều kiện địa hình hiểm trở, binh sĩ Phương diện quân Karelia của Tướng Kirill Meretskov, với sự hỗ trợ của các tàu chiến Hạm đội Phương Bắc và quân đổ bộ đường biển, đã giải phóng khu vực này và đến cuối tháng 10-1944 thì tiến vào lãnh thổ Na Uy.

10 chiến dịch tiến công chiến lược lớn, nhờ đó đã giải phóng gần như toàn bộ lãnh thổ Liên bang Xô viết, đánh tan hơn 130 sư đoàn đối phương. Trong khi đó, Bulgaria, Romania và Phần Lan chuyển sang ủng hộ liên minh chống Đức, còn chế độ của Đức đứng bên bờ vực sụp đổ hoàn toàn. Đặc điểm nổi bật của các chiến dịch này là tốc độ tiến công thần tốc của Hồng quân, sự phối hợp hành động của tất cả các binh chủng lực lượng vũ trang, tính bất ngờ về tác chiến và chiến thuật, cũng như sự chuẩn bị hiệu quả về không quân và pháo binh. Ngày 4-11-1944 tại Moscow, trong bài phát biểu nhân kỷ niệm 27 năm Ngày Cách mạng Tháng Mười Nga, nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin lần đầu tiên đề cập đến những chiến dịch này, gọi chúng là “những đòn đánh”. Kể từ đó, cách nói “10 đòn đánh của Stalin” bắt đầu trở nên phổ biến.

Link:

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s