Thời đại Thái cực 1914- 1991 (Phần 16)

Chương 16 :  SỰ CÁO CHUNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

thái cực

Eric Hobsbawm

Nguyễn Ngọc Giao dịch

Sức khỏe của đất nước này [nước Nga cách mạng] cần một điều kiện là không hình thành một thứ chợ đen về quyền lực (như bản thân Giáo hội đã sa vào cái nạn này). Nếu quyền lực và tiền bạc kết hợp theo kiểu châu Âu cũng thâm nhập vào nước Nga, thì nước sẽ không mất, đảng có lẽ cũng sẽ còn, nhưng chủ nghĩa cộng sản sẽ tiêu ma ở Nga”.

Walter BENJAMIN, (1979, tr. 195-6)

Một xác tín chính thức duy nhất không còn là kim chỉ nam duy nhất hướng dẫn hành động nữa. Hơn là một hệ tư tưởng, có một thứ hỗn hợp cung cách suy nghĩ và khuôn khổ quy chiếu, pha trộn và chung sống với nhau, không những trong xã hội mà trong cả nội bộ Đảng và nội bộ lãnh đạo […]. “Chủ nghĩa Mác-Lêcứng nhắc và pháp quy chỉ còn trong mỹ từ diễn văn chứ không đáp ứng được những nhu cầu thực sự của chế độ.

LEWIN, Kerblay (1983, tr. XXVI)

Chìa khóa của hiện đại hóa là phát triển khoa học và kĩ thuật. Cứ ngồi mà lải nhải thì cương lĩnh hiện đại hóa của ta sẽ chẳng đi tới đâu; chúng ta cần tri thức và chuyên gia… Thế mà ngày nay xem ra Trung Quốc chậm tới 20 năm so với các nước phát triển về mặt khoa học, kĩ thuật và giáo dục… Ngay từ thời Minh Trị, người Nhật đã hết sức cố gắng trong các lĩnh vực này. Cuộc Phục hưng Minh Trị có thể nói là một đợt hiện đại hóa do giai cấp tư sản Nhật Bản mới ra đời thực hiện. Là những người vô sản, chúng ta cần phải, chúng ta có khả năng, làm tốt hơn thế.

ĐẶNG Tiểu Bình, Tôn trọng tri thức, tôn trọng chuyên gia (1977)

I

Trong những năm 1970, có một nước XHCN rất lo lắng về sự lạc hậu tương đối của mình về mặt kinh tế, vì ở ngay cạnh Nhật Bản, thành tựu ngoạn mục nhất của các nước tư bản. Không thể coi chế độ cộng sản Trung Quốc đơn thuần là một biến tướng của chế độ cộng sản Liên Xô, lại càng không thể coi đó là một nhân tố trong hệ thống chư hầu của Liên Xô. Trước hết là vì chủ nghĩa cộng sản đã thắng lợi ở một nước đông dân hơn hẳn Liên Xô, cũng như hơn mọi nước trên thế giới. Mặc dù thống kê dân số Trung Quốc không có gì chắc chắn, song có thể khẳng định cứ năm người sống trên mặt đất thì có một người ở CHND Trung Hoa. (Lại có cả một khối người Hoa khá đông ở Đông Á và Đông Nam Á). Hơn nữa, đứng về mặt dân tộc, Trung Hoa là một nước thuần nhất hơn phần đông các nước khác (người Hán chiếm gần 94% dân số); không những thế, có lẽ từ ít nhất 2.000 năm nay, đó là một thực thể chính trị thống nhất và duy nhất, dù đã kinh qua những thời kỳ rối ren. Lại nữa, trong phần lớn thời gian 2.000 năm ấy, Đế chế Trung Hoa, và có lẽ phần đông những người dân Trung Hoa có một ý niệm nào đó về vấn đề này, đều nghĩ rằng Trung Quốc là trung tâm, là mô hình của nền văn minh thế giới. Ngoại trừ một vài biệt lệ nhỏ, tất cả những nước khác có chế độ cộng sản, kể cả Liên Xô, đều là những nước lạc hậu và đứng ngoài lề về mặt văn hóa, và họ tự coi như vậy khi so sánh với bất luận một trung tâm văn hóa tiên tiến và mẫu mực nào. Một triệu chứng rất hiển lộ của mặc cảm tự ti này là việc Liên Xô thời Stalin nói rất hăng là không hề lệ thuộc phương Tây về trí tuệ và công nghệ, khăng khăng nói rằng tất cả những phát minh lớn, từ điện thoại tới hàng không, đều là những phát minh bản địa.[1]

Trường hợp Trung Quốc thì khác. Nước Trung Hoa có lí để nghĩ rằng nền văn minh cổ điển, nghệ thuật, văn tự và hệ thống giá trị xã hội của mình là nguồn cảm hứng và mẫu mực đối với những nước khác – nhất là chính nước Nhật. Chắc chắn Trung Quốc không hề có mặc cảm tự ti về trí tuệ hay văn hóa, trên bình diện tập thể cũng như trên bình diện cá nhân. Bản thân việc không có nước láng giềng nào có thể đe dọa được Trung Quốc, dù là đe dọa nhẹ nhàng thôi, và việc Trung Quốc có thể đẩy lui “bọn man di” ở biên thùy từ ngày họ sử dụng súng ống, càng củng cố mặc cảm tự tôn của mình, dù cho đã không hề chuẩn bị đối phó với sự bành trướng của đế quốc phương Tây. Sự lạc hậu kĩ thuật lại càng bộc lộ rõ rệt vào thế kỉ XIX bởi vì nó thể hiện qua sự thua kém về quân sự; nhưng sự lạc hậu ấy không phải do bất lực kĩ thuật hay giáo dục thiếu sót, mà nó gắn liền với sự độc lập, với niềm tin vào nền văn minh Trung Hoa cổ truyền. Chính vì thế mà Trung Quốc không chịu noi gương Nhật Bản sau cuộc Cách mạng Minh Trị 1858, không chịu lao mình vào cuộc “hiện đại hóa” một cách có hệ thống theo mô hình Âu Tây. Điều này chỉ có thể tiến hành trên hoang tàn của đế chế cũ, người duy trì nền văn minh lâu đời, với cái giá phải trả là một cuộc cách mạng xã hội đồng thời là cách mạng văn hóa, chống lại hệ thống Khổng giáo.

Chủ nghĩa cộng sản Trung Hoa vì vậy vừa có tính chất xã hội vừa có tính chất dân tộc (nếu từ này không gây ra hiểu lầm). Chất nổ xã hội của cuộc cách mạng cộng sản ở đây là tình trạng nghèo khổ và ách thống trị cùng cực mà nhân dân phải chịu đựng: trước hết là quần chúng lao động ở các đô thị duyên hải ở miền trung và miền nam Trung Quốc là những vùng hõm đặt dưới sự thống trị của đế quốc hoặc những vùng công nghiệp – Thượng Hải, Quảng Châu, Hongkong – sau đó là nông dân, chiếm 90% dân số to lớn của Trung Quốc. Hoàn cảnh của nông dân còn tệ hại hơn hẳn dân chúng đô thị, với tiêu thụ bình quân theo đầu người gần gấp rưỡi nông thôn. Người phương Tây khó lòng hình dung được cái nghèo của Trung Quốc ra sao. Cụ thể, vào thời kì cộng sản giành được chính quyền (số liệu năm 1952), bình quân mỗi người Trung Quốc sống với nửa kg gạo hay ngũ cốc mỗi ngày, và tiêu thụ chưa tới 0,08 kg trà mỗi năm. 5 năm mới sắm một đôi giầy mới (China Statistics, 1989, bảng 3.1, 12.5, 15.5).

Yếu tố dân tộc của chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc tác động thông qua giới trí thức xuất thân từ lớp thượng lưu hay giai cấp trung gian – phần lớn những người lãnh đạo các phong trào chính trị thế kỉ XX đều xuất thân từ đó – và thông qua tâm trạng chắc khá phổ biến trong quần chúng theo đó “bọn Tây dương” không mang lại điều gì cho những người Trung Hoa tiếp xúc với họ cũng như cho đất nước Trung Hoa nói chung. Trung Quốc đã bị xâm lược, đánh bại, chia cắt và bóc lột bởi tất cả các nước ngoại quốc đã tiếp cận đất nước này từ giữa thế kỉ XIX: ý tưởng ấy không có gì xa vời hiện thực cả. Những phong trào phản đế có tính chất quần chúng trong khuôn khổ hệ tư tưởng cổ truyền đã có từ trước ngày lụi tàn của Đế chế Trung Hoa. Chẳng hạn như phong trào Nghĩa Hòa Đoàn năm 1900. Nhưng hiển nhiên là cuộc kháng chiến chống Nhật đã làm thay đổi vị thế của người cộng sản Trung Quốc: từ vị trí những phần tử sách động xã hội liên miên thất bại của giữa thập niên 1930, họ đã trở thành những lãnh tụ và đại biểu cho toàn dân. Đối với quần chúng (chủ yếu ở nông thôn) lời kêu gọi giải phóng và phục hồi dân tộc của họ lại càng thuyết phục hơn nữa vì họ thêm yêu cầu khai phóng người nghèo về mặt xã hội.

Nhờ đó, đảng Cộng sản chiếm thế thượng phong trên đối thủ Quốc dân đảng là tổ chức đã cố gắng xây dựng một nước Trung Hoa Dân quốc thống nhất và hùng mạnh trên hoang tàn của chế độ quân chủ đã bị các lực lượng quân phiệt tranh giành xâu xé nhau từ năm 1911 khi triều đình nhà Thanh sụp đổ. Về mặt ngắn hạn, mục tiêu của đảng Cộng sản và Quốc dân đảng không mâu thuẫn nhau. Cả hai, về cơ bản, đều bắt rễ ở các thành phố tiên tiến miền nam Trung Hoa (là nơi chính quyền cộng hòa đặt thủ đô), cán bộ lãnh đạo đều xuất thân từ thành phần ưu tú có học, Quốc dân đảng thì có xu hướng dành ưu tiên cho doanh nhân, còn đảng Cộng sản thì ưu tiên cho công nông. Ví dụ, tỉ lệ cán bộ xuất thân từ giai cấp địa chủ và thành phần sĩ phu (tức là bộ phận ưu tú của xã hội Trung Hoa) trong hai đảng ngang bằng nhau, chỉ khác là đảng Cộng sản có nhiều cán bộ lãnh đạo Tây học có trình độ đại học hơn Quốc dân đảng (North/Pool, 1966, tr. 378-382). Cả hai nhóm đều xuất phát từ phong trào phản phong năm 1900, sau đó được bố sung nhờ Phong trào Ngũ Tứ (cuộc nổi dậy của sinh viên và giáo giới Bắc Kinh sau năm 1919). Tôn Dật Tiên (Tôn Văn), lãnh tụ Quốc dân đảng, là một nhà ái quốc, dân chủ và XHCN, dựa vào sự giúp đỡ và ủng hộ của nước Nga Soviet – cường quốc cách mạng và phản đế duy nhất – và cho rằng mô hình Nhà nước – độc đảng theo kiểu Bolshevik thích hợp với tình hình Trung Quốc hơn là các mô hình phương Tây. Sự thật, chính là nhờ sự liên kết với Liên Xô mà đảng Cộng sản đã trở thành lực lượng hàng đầu, vì họ tham gia phong trào dân tộc chính thức, và sau khi Tôn Dật Tiên từ trần, tham gia cuộc Bắc phạt, mở rộng quyền kiểm soát của chính quyền Dân quốc lên một nửa đất nước. Tưởng Giới Thạch (1887-1975), người kế vị Tôn Dật Tiên, thật ra chưa bao giờ thu được cả giang sơn vào một mối, và năm 1927 lại tuyệt giao với Nga, quay lại diệt cộng sản mà cơ sở lúc đó chủ yếu ở trong giai cấp công nhân thành thị còn nhỏ yếu.

Bắt buộc phải tập trung vào nông thôn, cộng sản mới phát động chiến tranh du kích chống Quốc dân đảng: nói chung không mấy thành công – chủ yếu vì chia rẽ nội bộ và lung tung, cũng có phần vì Moskva quá xa lạ với thực tại Trung Quốc. Năm 1934, quân đội cộng sản buộc phải rút lui về một vùng hẻo lánh tây-bắc: đó là cuộc “Vạn lí trường chinh” anh hùng. Từ đó, Mao Trạch Đông – người từ lâu đã chủ trương chiến lược nông thôn – trở thành lãnh tụ không tranh cãi của đảng Cộng sản tại nơi đào vong Diên An. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, cuộc trường chinh này không mang lại cho cộng sản một viễn tượng phát triển nào. Ngược lại, Quốc dân đảng không ngừng mở rộng vùng kiểm soát của mình trên phần lớn lãnh thổ, cho đến khi Nhật Bản xâm lăng năm 1937.

Nhưng Quốc dân đảng thực sự không có gì hấp dẫn quần chúng Trung Hoa. Nó đã từ bỏ cương lĩnh cách mạng đồng thời cũng là một dự án hiện đại hóa và phục hưng đất nước: nó không còn thế lực để chống trả đối thủ cộng sản. Tưởng Giới Thạch sẽ không bao giờ trở thành một Ataturk, lãnh tụ của một cuộc cách mạng dân tộc khác, chống đế quốc, duy tân, đã thiết lập quan hệ hữu nghị với nước cộng hòa Soviet non trẻ, sử dụng những người cộng sản bản địa trước khi cắt quan hệ với họ, nhưng không cắt bạo tàn như Tưởng Giới Thạch đã làm. Cũng như Ataturk, Tưởng có quân đội, nhưng quân đội của ông thật sự không có nhiệt tình yêu nước và về tinh thần lại thua kém quân đội cộng sản. Gia nhập Quân đội Trung Hoa Dân quốc là những người sống trong thời loạn và sụp đổ xã hội, bộ quân phục và khẩu súng đối với họ là một lối thoát. Còn các sĩ quan, thì họ biết rất rõ – không khác gì Mao – là trong thời buổi như vậy, quyền lực “ở đầu súng”, cũng như tiền tài. Tưởng có hậu thuẫn rộng lớn trong giới tư sản thành thị, và có lẽ mạnh hơn nữa trong giới Hoa kiều giàu có: nhưng 90% người dân Trung Hoa sống ở xa thành phố, mà thành phố chỉ là một bộ phận nhỏ bé trên lãnh thổ. Người dân nông thôn sống dưới sự kiểm soát – khi mà họ bị kiểm soát – của những hào lí và chức dịch địa phương – từ những tướng quân, có lính tráng vũ trang, cho đến những gia đình địa chủ và một vài nhân vật tàn dư của đế chế cũ mà Quốc dân đảng kết bè kết cánh. Khi Nhật Bản thực sự xâm chiếm Trung Quốc, các đội quân của Quốc dân đảng không thể ngăn cản quân Nhật nhanh chóng chiếm đóng các thành phố ven biển, là nơi tập trung thực lực của Quốc dân đảng. Ngoài các thành phố, Quốc dân đảng trở thành một chính quyền vốn là bản chất tiềm thể của nó: một chế độ thối nát không kém chính quyền của các sứ quân và địa chủ, hoàn toàn không có khả năng kháng cự lại ngoại xâm. Trong khi đó, tại các vùng của họ, người cộng sản biết huy động nhân dân chống Nhật một cách hiệu quả. Và năm 1949, khi giành được chính quyền, sau một cuộc nội chiến ngắn ngủi, dễ như trở tay, quét sạch quân đội Tưởng Giới Thạch, chính quyền cộng sản trở thành chính quyền chính đáng duy nhất của Trung Quốc, người thực sự kế thừa các triều đại đế vương sau 40 năm giao thời – người duy nhất phản đối điều ấy là những lực lượng tàn dư của Quốc dân đảng đã bỏ chạy (sang đảo Đài Loan). Đảng Cộng sản càng dễ được chấp nhận bởi vì, với kinh nghiệp của một đoàn thể mác- xít lê-nin-nít, họ đã tạo dựng nên, từ trung ương tới những thôn xã hẻo lánh của đất nước mênh mông này, một tổ chức toàn quốc có kỉ cương – tương xứng với quan niệm của đông đảo người Trung Hoa về một đế chế đàng hoàng. Chủ nghĩa Bolshevik của Lenin đã thay đổi thế giới trước hết là nhờ tổ chức hơn là do một học thuyết.

Nhưng, tất nhiên, người cộng sản Trung Hoa không chỉ đơn thuần là đại diện cho một đế chế được phục hưng, dù rằng rõ ràng họ được thừa hưởng những sự liên tục của lịch sử: khái niệm “thiên mệnh” quy định quan hệ của người thường dân đối với chính quyền, và đồng thời quy cách mà chính quyền ấy phải tuân thủ để thi hành “mệnh trời”. Ngoài Trung Quốc ra, không có một nước cộng sản nào mà trong tranh luận chính trị, người ta lại có thể viện dẫn lời một trung thần trách cứ hoàng đế Gia Tĩnh triều Minh thế kỉ XVI.[2] Đó chính là ý nghĩa câu nói của một chuyên gia lõi đời về Trung Quốc vào những năm 1950 – thông tín viên của báo Times (London) – khi ông ta không ngần ngại gây sốc đối với giới thân thuộc của mình (trong đó có tác giả cuốn sách này) mà tuyên bố rằng sang thế kỉ XXI chủ nghĩa cộng sản sẽ biến mất trên thế giới, nhưng vẫn còn ở Trung Quốc, dưới hình thái một hệ tư tưởng quốc gia. Đối với đông đảo người Trung Hoa, cuộc cách mạng cộng sản trước hết là một cuộc phục hưng quốc gia: chấn hưng lại trật tự và bình an, phúc lợi, một chế độ cai trị mà viên chức căn cứ vào tiền lệ từ đời Đường, đồng thời là phục hồi thanh thế của một đế chế khổng lồ, của một nền văn minh kiệt xuất.

Và trong những năm đầu tiên của chế độ mới, tình hình diễn ra có vẻ như vậy. Từ 1949 đến 1956, nông dân đã tăng sản lượng ngũ cốc lên 70 % (China Statistics, 1989, tr. 165), có lẽ vì họ được tự lo liệu lấy một mình. Khi Trung Quốc can thiệp vào chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) tạo ra một cơn gió hoảng loạn, thì hiệu năng chiến đấu của quân đội Trung Quốc (lúc đầu thắng, sau đó cầm cự được với Hoa Kỳ hùng mạnh) đã tạo ra ấn tượng lớn. Ngay từ đầu thập niên 1950, Trung Quốc bắt đầu kế hoạch hóa công cuộc phát triển công nghiệp và giáo dục. Nhưng chẳng bao lâu, nhà nước Cộng hòa Nhân dân, dưới sự lãnh đạo không thể tranh giành, và cũng không ai đã tranh giành, của Mao Trạch Đông, đã khai trương hai thập niên tai họa rất võ đoán do chính Người Cầm lái Vĩ đại gây ra. Bắt đầu từ năm 1956, quan hệ với Liên Xô xấu đi một cách nhanh chóng, tới năm 1960 thì hai cường quốc cộng sản lớn tiếng đoạn tuyệt với nhau. Moskva chấm dứt khối lớn viện trợ vật tư, kĩ thuật và nhiều thứ khác. Sự kiện này làm phức tạp thêm con đường gian khổ của nhân dân Trung Quốc, nhưng không phải là nguyên nhân gây ra những đau khổ ấy. Ba bước đường chính: cuộc hợp tác hóa chớp nhoáng trong nông nghiệp vào những năm 1955-1957; cuộc “Đại Nhảy vọt” trong công nghiệp năm 1958, với nạn đói 1959-61 xảy ra sau đó – có lẽ là nạn đói lớn nhất thế kỉ XX[3] –  và tiếp theo là 10 năm “Cách mạng văn hóa” kết thúc với cái chết của Mao năm 1976.

Theo nhận định chung, những đại họa ấy chủ yếu là do Mao gây ra. Đường lối ấy gặp sự dè dặt miễn cưỡng của ban lãnh đạo – nhất là trong vụ “Đại Nhảy vọt” – sau đó là sự chống đối trực diện mà Mao chỉ có thể khắc phục bằng cách phát động “Cách mạng Văn hóa”. Nhưng ta không thể nào hiểu nổi tình hình ấy nếu không nắm rõ những điểm kì dị của cộng sản Trung Quốc mà Mao là người phát ngôn. Khác hẳn cộng sản Nga, cộng sản Trung Quốc trên thực tế không liên quan trực tiếp gì tới Marx và chủ nghĩa mác-xít. Là một phong trào ra đời sau Cách mạng tháng Mười, nó khám phá Marx thông qua Lenin, hay chính xác hơn, thông qua “chủ nghĩa Mác-Lê” của Stalin.

Dường như toàn bộ hiểu biết của Mao về lí luận mác-xít nằm trong cuốn sách năm 1939 của Stalin: Lịch sử đảng Cộng sản Liên Xô (b): Giáo trình sơ giản. Lớp vỏ ngoài Mác-Lê này che giấu một chủ nghĩa không tưởng đặc biệt Trung Quốc – biểu hiện rõ ràng ở trường hợp Mao Trạch Đông, cho đến ngày lên làm chủ tịch nước, chưa hề đặt chân ra nước ngoài, và quá trình học tập hoàn toàn mang tính chất bản địa. Chủ nghĩa Không tưởng của Mao đương nhiên gặp chủ nghĩa Marx ở một số điểm, vì tất cả các Không tưởng xã hội – cách mạng đều có một cái gì chung, và Mao – chắc là thực tâm thôi – nắm lấy một vài khía cạnh trong tư tưởng của Marx và của Lenin ăn khớp với cái nhìn của mình và sử dụng điều đó để biện minh cho quan điểm riêng. Song ý tưởng của Mao về một xã hội lí tưởng, được thống nhất bởi sự nhất trí tuyệt đối, trong đó “sự hy sinh toàn diện của cá nhân, hòa mình hoàn toàn vào tập thể, là tiêu biểu cho điều cao cả tối thượng, […] một điều thần bí tập thể chủ nghĩa” đối nghịch hẳn với chủ nghĩa Marx kinh điển, vốn chủ trương (ít nhất về mặt lí luận, và coi như mục đích cuối cùng) giải phóng hoàn toàn và phát huy con người của mỗi cá nhân (Schwartz, 1966). Đặc trưng nhấn đi nhấn lại tới sức mạnh của sự biến đổi tinh thần để tiến lên xã hội lí tưởng phần nào cảm hứng từ Lenin, rồi Stalin, cả hai đều nhấn mạnh tới tự giác và chủ nghĩa Ý chí, nhưng nó đi xa hơn thế nhiều. Lenin tin tưởng vào vai trò của hành động và quyết định chính trị nhưng không bao giờ quên – mà làm sao có thể quên – rằng hoàn cảnh cụ thể áp đặt những sự ràng buộc sít sao đối với hiệu quả hành động; vả bản thân Stalin cũng thừa nhận quyền lực của mình cũng bị hạn chế. Một điều chắc chắn, là nếu không tin chắc “sức mạnh chủ quan” là vô hạn, nếu không tin chắc rằng con người có khả năng dời núi và tấn công lên trời, thì đã chẳng có cơn điên cuồng “Đại Nhảy vọt”. Cứ để các chuyên gia tha hồ nói cái này làm được, cái kia không thể, mặc kệ, nhiệt tình cách mạng sẽ vượt qua mọi chướng ngại vật chất, tinh thần sẽ biến đổi vật chất. “Hồng” không những quan trọng hơn “chuyên”, mà còn thay thế được cả “chuyên” nữa. Thế là năm 1958, một cao trào cách mạng khí thế xung thiên sẽ công nghiệp hóa Trung Quốc ngay tức khắc, Trung Hoa sẽ nhảy vọt vào tương lai, trong đó chủ nghĩa cộng sản sẽ phát huy toàn diện ngay lập tức. Vô vàn những lò luyện thép tí hon dựng lên ở sân nhà, chất lượng tất nhiên là tồi tàn, trong vòng một năm sẽ nhân tổng sản lượng thép của Trung Quốc lên gấp đôi – trên thực tế, năm 1960 đã nhân gấp ba, đến năm 1962 thì tụt xuống mức thấp hơn thời kì trước “Đại Nhảy vọt” – chỉ là một trong những khía cạnh của cuộc cải tạo. Một khía cạnh khác là năm 1958, chỉ trong vòng hai tháng,

24.000 “công xã nhân dân” của nông dân đã được thành lập, vận hành theo nguyên tắc “cộng sản 100%”. Mọi phương diện của đời sống nông dân được tập thể hóa, kể cả đời sống gia đình: nhà trẻ và căng-tin được mở ra ở mỗi công xã, phụ nữ không phải lo việc nhà cửa, con cái, tất cả được tập hợp thành những đơn vị như quân đội để ra đồng làm việc, sáu dịch vụ cơ bản được cung cấp miễn phí, thay thế cho lương bổng và thu nhập bằng tiền mặt: ăn uống, y tế, giáo dục, tang ma, cắt tóc và xem phim. Thất bại là tất nhiên, và kinh khủng. Trong vòng vài tháng, sự kháng cự thụ động của nông dân đã buộc phải bãi bỏ những mặt cực đoan nhất của hệ thống, trước khi mà hậu quả của công xã (cũng tương tự như chính sách tập thể hóa của Stalin) kết hợp với thiên tai đã dẫn tới nạn đói năm 1960-1961.

Trong một chừng mực nào đó, niềm tin vào khả năng cải tạo duy ý chí đó bắt nguồn từ một niềm tin đặc biệt mao-ít: “nhân dân” sẵn sàng chịu cải tạo và sẽ tham gia cuộc “tiến lên” vĩ đại, với tất cả óc sáng tạo, trí tuệ và khôn lanh cổ truyền của người Trung Hoa. Đó là quan niệm cực kì lãng mạn của một nghệ sĩ, mà theo ý kiến của những người thẩm định ca từ và thư pháp của Mao, là một nghệ sĩ khá tầm thường (“Không dở như tranh Hitler, nhưng thua hội họa của Churchill”, theo lời nhà Đông phương học Arthur Waley). Năm 1956-1957, với cái nhìn ấy, gạt phăng những ý kiến hoài nghi và thực tế của những lãnh đạo khác, Mao đã kêu gọi những trí thức thuộc tầng lớp ưu tú cũ hãy thi thố tài năng trong phong trào “Trăm hoa”, với tin tưởng là cách mạng, và có lẽ bắt đầu bằng Mao, đã cải tạo họ rồi. (“Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”). Đến khi tự do tư tưởng đã nở rộ, như lời tiên đoán của những đồng chí “thiếu nhiệt tình”, không đồng thanh ca ngợi chế độ mới, thì Mao lại càng thấy xác nhận sự nghi ngại cố hữu của mình đối với trí thức. 10 năm sau, sự nghi ngờ ấy thể hiện rõ rệt trong “Cách mạng văn hóa”. Trong thời kì này, hệ thống đại học gần như tiêu tan,[4] trong khi đông đảo trí thức phải đi “lao cải” ở nông thôn để “tái sinh”. Tất cả những sự việc đó không làm suy suyển niềm tin ở Mao của nông dân là người phải giải quyết mọi vấn đề sản xuất trong cuộc “Đại Nhảy vọt”, theo nguyên tắc “trăm nhà (nhà đây là “gia”, nghĩa trường phái, kinh nghiệm địa phương) đua tiếng”. Và đây là một khía cạnh khác của tư tưởng cá nhân mà Mao cho rằng được biện chứng pháp mác-xít xác nhận (theo cách nhìn của ông). Mao rất tin tưởng ở tầm quan trọng của đấu tranh, của xung đột và căng thẳng: đó không những là cốt lõi của cuộc sống mà còn có thể ngăn chận, không để cho rơi trở lại vào những nhược điểm của xã hội Trung Hoa cũ đã quá chú trọng vào sự hài hòa và vĩnh hằng. Người ta chỉ có thể ngăn cản không cho cách mạng, không cho cộng sản thoái hóa, tê liệt bằng một cách duy nhất là đấu tranh, đấu tranh liên tục. Cách mạng không bao giờ kết thúc.

Đó là cái dị biệt của chính trị mao-ít: “một hình thái Tây hóa cực đoan đồng thời là phần nào quay trở lại những mô thức cổ truyền”. Chủ nghĩa Mao dựa rất nhiều vào những mô thức ấy, vì ít trong những giai đoạn mà hoàng đế có trong tay uy quyền vững mạnh, nghĩa là có “chính nghĩa”, Đế chế Trung Hoa đặt trên nền tảng cực quyền của hoàng đế và sự thuần phục của thần dân (Hu, 1966, tr. 241). Chỉ một sự việc thôi cũng rất có ý nghĩa: trong vòng một năm (1956) mà 84% các hộ nông dân đã chấp nhận hợp tác hóa mà dường như không xảy ra những hậu quả như ở Liên Xô trong thời kì tập thể hóa. Trong khi đó, ưu tiên tuyệt đối dành cho công nghiệp hóa theo mô hình Liên Xô, nghĩa là đặt trọng tâm vào công nghiệp nặng. Sự điên cuồng phi lí của cuộc Đại Nhảy vọt có thể lí giải bằng niềm tin mà Bắc Kinh chia sẻ với Moskva, theo đó nông nghiệp phải vừa tự nuôi vừa nuôi công nghiệp mà không rót đầu tư công nghiệp vào nông nghiệp. Thực chất là muốn lấy kích thích “tinh thần” thay thế kích thích “vật chất”, nghĩa là thay thế công nghệ thiếu vắng bằng khối dự trữ cơ bắp hầu như vô hạn. Nông thôn vẫn là nền tảng của chế độ mao-ít như nó vẫn luôn luôn là thế trong thời kì chiến tranh du kích. Khác Liên Xô ở điểm này: mô hình Đại Nhảy vọt lấy nông thôn làm lò đốt ưu tiên cho cuộc công nghiệp hóa. Một điểm khác nữa là: dưới thời Mao, Trung Quốc không đô thị hóa ồ ạt như Liên Xô. Mãi đến những năm 1980, tỉ số dân chúng nông thôn mới xuống dưới mức 80%.

Người ta có đủ lí do chính đáng để sửng sốt trước thành quả 20 năm của chủ nghĩa Mao: vô nhân đạo, ngu dân kết hợp những ngôn từ phi lí siêu thực mà người ta giương lên, nhân danh tư tưởng của nhà lãnh tụ được thần thánh hóa. Song cũng không nên quên rằng, so với Thế giới thứ Ba khổ cực, số phận của người Trung Quốc cũng tương đối khả quan. Vào cuối thời Mao, tiêu thụ lương thực bình quân (tính bằng calori) của Trung Quốc ở trên một chút so với mức trung tuyến của toàn thế giới: đứng trước 14 nước châu Mỹ Latin, 38 nước châu Phi; ở châu Á, Trung Quốc ở mức trung bình và khá hơn toàn bộ Nam Á và Đông Nam Á, trừ Malaysia và Singapore (Taylor/Jodice, 1983, bảng 4.4). Tuổi thọ trung bình từ 35 tuổi năm 1949 tăng lên 68 tuổi năm 1982 – chủ yếu là do giảm hẳn và tiếp tục giảm tỉ lệ tử vong (ngoại trừ những năm xảy ra nạn đói) (Liu, 1986, tr. 323-324). Nếu căn cứ vào tăng trưởng dân số – từ 540 triệu năm 1949 lên 950 triệu năm Mao từ trần, mặc dù xảy ra nạn đói lớn trong thời gian đó – thì rõ ràng nông nghiệp Trung Quốc đã đủ nuôi dân chúng – so với đầu thập niên 1950 thì có khá lên một chút. Đồng thời, cái mặc cũng có một chút tiến bộ (China Statistics, bảng T 15.1). Giáo dục, chỉ tính riêng cấp tiểu học, đã phải chịu hậu quả nặng nề của nạn đói (số học sinh giảm 25 triệu) và của Cách mạng văn hóa (giảm 15 triệu học sinh). Tuy nhiên, phải thừa nhận là số học sinh đến trường tiểu học năm Mao chết (1976) đông gấp 6 lần số học sinh tiểu học năm 1949 khi Mao lên cầm quyền: 96% trẻ em đi học (năm 1952, số này chưa tới 50%). Nhưng cũng phải thêm: năm 1987, hơn 1/4 số dân trên 12 tuổi còn mù chữ hoặc “mờ chữ” (đã học nhưng quên mất), tỉ số này lên tới 38% trong phái nữ. Nói đi, thì cũng cần nói lại: học chữ Hán là một công việc rất khó, trong số những người Trung Quốc ra đời trước năm 1949 (34% dân số), chỉ có một số nhỏ là thực sự quan tâm. Tóm lại, thành quả của chế độ Mao trong lãnh vực này chẳng có gì sáng giá đối với những nhà quan sát phương Tây có óc hoài nghi (mà khá đông nhà quan sát lại không biết hoài nghi), nhưng cũng gây ấn tượng đối với người Ấn Độ hay người Indonesia; và đối với 80% người Trung Quốc sống ở nông thôn, biệt lập với thế giới, mà tuổi thọ cũng không hơn gì thế hệ cha ông, thì kết quả ấy cũng không bi quan cho lắm.

Về mặt quốc tế, điều không thể chối cãi được là Trung Quốc đã mất thế từ sau cách mạng, nhất là so sánh với các nước láng giềng không cộng sản. Tỉ lệ tăng trưởng kinh tế tính theo đầu người, dù là đáng kể dưới thời Mao (1960-1975), vẫn thua Nhật Bản, Hongkong, Hàn Quốc và Đài Loan – đây là chỉ kể tên những nước Đông Á mà các nhà quan sát Trung Quốc tất nhiên phải theo dõi tình hình tiến triển. Dù là lớn, nhưng GDP của Trung Quốc cũng chỉ ngang ngang với GDP của Canada, thua Italia, và chỉ bằng 1/4 GDP của Nhật Bản (Taylor/Jodice, bảng 3.5, 3.6). Con đường zik-zak tai họa bắt đầu từ giữa thập niên 1950, sở dĩ Người Cầm lái Vĩ đại vẫn duy trì được là bởi năm 1965, với hậu thuẫn của quân đội, Mao đã phóng tay phát động phong trào vô chính phủ của đám “Hồng vệ binh” trẻ tuổi tiến công vào ban lãnh đạo (những người này trước đó đã lặng lẽ cho Mao “ngồi chơi xơi nước”), và tiến công vào tất tật mọi giới trí thức. Đó là cuộc Đại cách mạng văn hóa đã phá phách tan tành đất nước Trung Quốc trong suốt một thời gian, cho mãi đến khi Mao ra lệnh cho quân đội thiết lập lại trật tự, ít nhất cho đến khi bản thân Mao tái lập được một phần quyền bính trong đảng. Rõ ràng là Mao đã suy nhược, chủ nghĩa Mao không Mao khó mà tồn tại vì chẳng có mấy hậu thuẫn thực thụ, cho nên đến năm 1976, khi Mao chết, và gần như ngay sau đó, “bè lũ bốn tên” do bà vợ góa Giang Thanh cầm đầu bị bắt giam, thì chủ nghĩa Mao coi như không còn. Ngay sau đó, Trung Quốc đi theo phương hướng của một lãnh đạo thực dụng, Đặng Tiểu Bình.

II

Định hướng mới của Trung Quốc thực là một lời thú nhận thẳng thắn: “chủ nghĩa xã hội hiện tồn” cần phải thay đổi sâu sắc về cấu trúc. Nhưng càng về cuối thập niên 1970, bước sang những năm 1980, càng thấy rõ là tất cả các hệ thống mệnh danh XHCN đều mắc những thứ bệnh trầm kha. Kinh tế Liên Xô trì trệ trông thấy: kể từ năm 1970 trở đi, tất cả các chỉ số quan trọng và có thể hạch toán được đều giảm đi đều đặn từ 5 năm này sang 5 năm tiếp theo: sản lượng nội địa ròng, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, chi tiêu cho đầu tư, năng suất lao động, thu nhập thực thụ tính theo đầu người. Nền kinh tế không suy thoái nhưng bước ì ạch như con bò già. Thêm nữa, không những Liên Xô không trở thành một trong những khổng lồ công nghiệp trên thương trường thế giới mà dường như lại thụt lùi trên sân khấu quốc tế. Năm 1960, Liên Xô xuất khẩu đủ loại máy móc, sản phẩm thiết bị, phương tiện vận tải, thép và hạng mục kim khí; năm 1985, xuất khẩu chủ yếu (53%) là năng lượng (dầu khí). Ngược lại, gần 60% nhập khẩu là máy móc, kim khí và hàng hóa tiêu dùng công nghiệp (SSSR, 1987, tr. 15-17, 32-33). Liên Xô đã trở thành một thứ thuộc địa cung cấp năng lượng cho những nước công nghiệp tiến triển hơn, cụ thể là những nước chư hầu ở phía tây, trong đó có Tiệp Khắc và CHDC Đức – công nghiệp của hai nước này có được Liên Xô làm thị trường có nhu cầu gần như vô hạn mà lại dễ tính, nên họ ít nghĩ đến khắc phục những khiếm khuyết.[5]

Trong những năm 1970, không những tăng trưởng kinh tế chậm rì, mà ngay cả những chỉ số xã hội cơ bản như tỉ lệ tử vong đã khựng lại, không tiến lên nữa. Hơn cả những điều khác, chính việc này đã làm băng hoại niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, bởi vì khả năng chủ nghĩa xã hội cải thiện cuộc sống của người dân bình thường thông qua sự công bằng xã hội khả quan hơn không chỉ dựa vào khả năng tạo thêm của cải. Việc tuổi thọ trung bình ở Liên Xô, Ba Lan và Hungary hầu như không nhúc nhích trong suốt thời gian 20 năm trước ngày chế độ cộng sản sụp đổ – thậm chí đôi khi còn tụt xuống – là một mối lo ngại, nhất là trong khi đó, tuổi thọ vẫn tiếp tục tăng ở phần lớn các nước khác (trong đó có cả Cuba và những nước cộng sản châu Á, ít nhất ở những nước mà ta có số liệu thống kê). Năm 1969, cả người Áo, Phần Lan và Ba Lan đều có hi vọng sống tới tuổi 70,1, nhưng đến năm 1989, tuổi thọ trung bình của người Ba Lan đã tụt đi 4 năm so với người dân hai nước kia. Có thể là sức khỏe của người dân hai nước này tốt hơn, theo ý kiến của một số nhà dân số học, nhưng điều đó có nghĩa là, sự thật, những người có thể sống lâu hơn trong nước tư bản, lại chết đi khi sống trong những nước XHCN (Riley, 1991). Ở Liên Xô và các nơi khác, những nhà cải cách đều quan sát xu hướng này và ngày càng lo lắng (World Bank Atlas, 1990, tr. 6-9 và World Tables, 1991, tản mạn nhiều chỗ).

Thời kì ấy, danh từ nomenklatura trở thành thời thượng (hình như từ giới li khai lan truyền sang phương Tây) phản ánh thêm một triệu chứng nữa của sự Liên Xô thoái trào đã được nhìn nhận. Trước đó, thế giới bên ngoài nhìn đội ngũ cán bộ đảng, hệ thống lãnh đạo của các nhà nước lê-nin-nít bằng sự kính trọng pha trộn khâm phục miễn cưỡng, trong khi đó thì những người đối lập nội bộ đã thua cuộc như trốt-kít, hay Milovan Djilas (Djilas, 1957) ở Nam Tư, đã cảnh báo về nguy cơ thoái hóa quan liêu và tham nhũng cá nhân. Trong những năm 1950 và cho đến những năm 1960, trên thực tế, giọng điệu chung của các nhà bình luận phương Tây, nhất là Mỹ, thường là thế này: bí quyết sự bành trướng của cộng sản thế giới nằm trong hệ thống tổ chức của các đảng Cộng sản và đội ngũ cán bộ, nhất trí thành một khối và tận tụy, áp dụng “đường lối” một cách trung thành, dù đôi khi áp dụng một cách thô bạo (Fainsod, 1956; Brzezinski, 1962; Duverger, 1972).

Trước 1980, từ ngữ nomenklatura chẳng mấy ai biết, chỉ sử dụng trong biệt ngữ hành chính của ĐCS Liên Xô. Bây giờ nó lại ám chỉ những nhược điểm của bộ máy quan liêu vụ lợi dưới thời Brejnev: vừa vô dụng vô hiệu vừa thối nát. Ngày càng thấy rõ Liên Xô chủ yếu dựa trên một hệ thống bè phái, bồ bịch và móc ngoặc.

Ngoại trừ biệt lệ là Hungary, tại các nước XHCN ở châu Âu, mọi nỗ lực cải tổ nền kinh tế cuối cùng đều bị hủy bỏ sau mùa Xuân Praha. Còn những đôi ba toan tính trở lại kinh tế kế hoạch hóa kiểu cũ – dưới hình thái kiểu Stalin như ở Romania của Ceaucescu; kiểu Mao như ở Cuba, trong đó Fidel Castro muốn dùng chủ nghĩa ý chí và nhiệt tình thay thế kinh tế – chỉ chẳng đáng nói làm gì. Chính vì chế độ chẳng còn muốn làm gì để đưa kinh tế thoát khỏi sự suy sụp hiển nhiên, nên các nhà cải cách mới gọi thời kì Brejnev là “thời kì trì trệ”. Mua lúa mì trên thị trường quốc tế dễ dàng hơn là tìm cách khắc phục việc kinh tế Liên Xô không nuôi nổi người dân. Dùng hệ thống móc ngoặc và hối lộ để bôi dầu vào cỗ máy kinh tế sét rỉ dễ hơn là tháo nó ra, cạo rửa rồi lắp lại, càng dễ hơn là thay nó đi. Ai biết được là về dài hạn, điều gì sẽ xảy ra ? Nhìn ngắn hạn, thì quan trọng nhất có lẽ là nên thỏa mãn nhu cầu của người tiêu thụ, hay ít nhất, duy trì sự bất mãn của họ trong những giới hạn nhất định. Chính vì thế mà trong nửa đầu thập kỉ 1970, phần đông dân chúng Liên Xô đều thấy (hay cảm thấy) là đời sống khá hơn mội thời kì trước đó như họ còn nhớ lại.

Vấn đề của “chủ nghĩa xã hội thực sự tồn tại” ở châu Âu là: khác hẳn thời kì giữa hai cuộc Đại chiến, nghĩa là thời gian mà Liên Xô biệt lập đối với nền kinh tế thế giới, nên không bị tác động bởi cuộc Đại Khủng hoảng, từ nay Liên Xô ngày càng hội nhập, do đó không tránh khỏi những cú sốc của thập niên 1970. Lịch sử thật trớ trêu, nền kinh tế của “chủ nghĩa xã hội hiện tồn” ở châu Âu và Liên Xô, và cả nhiều khu vực trên Thế giới thứ Ba, đã trở thành nạn nhân thực sự của cuộc khủng hoảng tư bản chủ nghĩa sau Thời đại Hoàng kim, trong khi các “nền kinh tế thị trường phát triển” tuy có bị rúng động, nhưng đã kinh qua những năm khó khăn ấy mà không bị rối ren cho lắm, ít nhất cho đến đầu thập niên 1990. Thật vậy, cho đến thời điểm ấy, một số nước, như (Tây) Đức và Nhật Bản, hầu như chỉ bị chậm đi tí chút trên con đường tăng trưởng. Trong khi ấy, “chủ nghĩa xã hội hiện tồn” phải đương đầu không những với những “lỗi hệ thống” ngày càng vô phương cứu chữa của riêng họ, mà còn với cả những vấn đề của một nền kinh tế thế giới biến thiên, nan giải mà trong đó họ càng ngày càng thêm hội nhập. Tình hình này có thể minh họa bằng một ví dụ hai nghĩa – bởi tác động của nó vừa tích cực vừa tiêu cực – đó là cuộc khủng hoảng dầu mỏ quốc tế đã làm thay đổi thị trường thế giới về năng lượng từ sau năm 1973. Dưới áp lực của OPEC, tổ hợp các nước sản xuất dầu, giá mỗi thùng dầu vốn thấp – nếu tính giá thực, thì từ sau thế chiến, đã giảm xuống – năm 1973 nhân gấp 4 lần, rồi đến cuối thập niên 1970, hôm sau cuộc cách mạng Iran, lại nhân gấp ba. Thực ra biên độ tăng giá còn choáng ngợp hơn thế: năm 1970, giá bán trung bình một thùng dầu là 2,53$, cuối 1980 lên tới khoảng 41$.

Cuộc khủng hoảng dầu mỏ thoạt xem có hai hậu quả đáng mừng. Đối với các nước sản xuất dầu, trong đó Liên Xô là một thành viên lớn, chất lỏng màu đen đã biến thành vàng. “Vàng đen” này cũng giống như tấm vé xổ số tuần nào cũng trúng. Đô la chảy vào hàng triệu mà không tốn sức, người ta cảm thấy không cần cải tổ kinh tế, và Moskva có thể nhập khẩu thêm nhiều hàng hóa của phương Tây tư bản chủ nghĩa. Từ 1970 đến 1980, xuất khẩu của Liên Xô sang các “nước kinh tế thị trường phát triển” tăng từ dưới mức 19% tổng giá trị xuất khẩu lên 32% (SSSR, 1987, tr. 32). Có người cho rằng món tiền to lớn và bất ngờ thu được này, đã kích thích chính quyền Brejnev lao vào chính sách quốc tế tranh đua tích cực hơn với Hoa Kỳ vào giữa thập niên 1970, vào lúc mà một đợt sóng xáo động cách mạng lan tràn ở Thế giới thứ Ba (xem ch. 15), và nhất là vào cuộc thi đua vũ trang có tính tự sát trước ưu thế của Mỹ (Maksimenko, 1991).

Một hậu quả thoạt trông đáng mừng nữa của khủng hoảng dầu mỏ là lưu lượng hàng tỉ Đô la từ nay tuôn ra từ các nước OPEC

(thường là những nước thưa dân), mà hệ thống ngân hàng thế giới phân phối trở lại dưới dạng tín dụng cho bất cứ người nào muốn vay mượn. Hiếm có nước đang phát triển nào cưỡng lại được sự cám dỗ, họ đua nhau vay đầy túi, dẫn tới cuộc khủng hoảng nợ toàn cầu vào đầu thập kỉ 1980. Đối với những nước XHCN đã bị cám dỗ – trong đó phải kể Ba Lan và Hungary – các khoản vay được coi là món quá trời cho để đầu tư cho tăng trưởng gia tốc và nâng cao đời sống nhân dân.

Tất cả những nhân tố ấy càng làm cho cuộc khủng hoảng thập niên 1980 thêm phần gay gắt vì nền kinh tế của các nước XHCN – đặc biệt là Ba Lan quen thói tiêu pha không tính toán quá cứng rắn để có thể sinh lợi từ dòng chảy tài nguyên. Chỉ một việc là tiêu thụ dầu mỏ của Tây Âu (1973-1985) đã giảm đi 40% vì giá dầu tăng, còn Liên Xô và Đông Âu chỉ giảm hơn 20% một chút trong cùng thời gian cũng đủ nói lên rất nhiều (Köllö, 1990, tr. 39). Việc tăng cao giá thành và cạn kiệt mỏ dầu Romania càng làm lộ rõ việc hệ thống XHCN hiện tồn không có khả năng tiết kiệm năng lượng. Sang đầu thập niên 1980, Đông Âu trải qua một cuộc khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng, với hậu quả là khan hiếm thực phẩm và hàng công nghiệp (trừ phi, như ở Hungary, vay thêm nhiều tiền, làm tăng tốc lạm phát và giảm đồng lương thực thụ). Đó là thực trạng của các nước “XHCN hiện tồn” ở châu Âu khi bước vào thập niên cuối cùng của họ. Giải pháp hiệu quả tức thời duy nhất để đối phó với cuộc khủng hoảng là quay trở lại phương pháp Stalin cổ truyền, với những mệnh lệnh nghiêm ngặt của trung ương và hạn chế mọi thứ, nếu còn có thể thực hiện chế độ kế hoạch hóa hữu hiệu (ở Ba Lan hay Hungary thì hầu như không thể). Điều này đã được tiến hành trong thời gian 1981-1984. Các món nợ giảm từ 35 đến 70% (trừ trường hợp hai nước kể trên). Từ đó lại dấy lên hi vọng hão huyền là trở lại tình trạng tăng trưởng năng động mà không cần cải tổ sâu rộng, gây ra một cuộc “Đại nhảy lùi, trở lại cuộc khủng hoảng nợ và suy sụp triển vọng kinh tế” (Köllö, tr. 4). Chính ở thời điểm này, Mikhail Sergeyevitch Gorbachev trở thành lãnh tụ Liên Xô.

III

Đến đây, chúng ta phải dẹp lại kinh tế để nói đến chính trị của “chủ nghĩa xã hội hiện tồn”, bởi vì chính là chính trị – chính trị cao siêu cũng như chính trị thấp hèn – đã dẫn tới sự sụp đổ năm 1989-1991 của khối Soviet châu Âu.

Về mặt chính trị, Đông Âu là cái gót chân Achilles của hệ thống Soviet, và Ba Lan (Hungary nữa, nhưng ở một phạm vi nhỏ hơn) là tử huyệt. Như đã thấy, sau mùa Xuân Praha, các chế độ chư hầu tại phần lớn khu vực này không còn chút gì chính nghĩa.[6] Chúng còn duy trì được là qua cưỡng bức và đe dọa Liên Xô sẽ can thiệp – ở Hungary thì khá hơn, người công dân có những điều kiện vật chất và tự do tương đối khá hơn mức trung bình ở Đông Âu nhưng với cuộc khủng hoảng kinh tế, chính sách này không thể tiếp tục được nữa. Ngoại trừ một trường hợp cá biệt, không thể nào có được một lực lượng đối lập công khai, về chính trị hay gì khác. Biệt lệ đó là Ba Lan, nơi hội tụ ba nhân tố. Công luận Ba Lan có những điểm nhất trí khá cao: thù nghịch chế độ, chủ nghĩa dân tộc bài Nga (và kỳ thị Do Thái), và dứt khoát Công giáo; Giáo hội Công giao có tổ chức độc lập trên toàn quốc; và từ giữa thập niên 1950 trở đi, giai cấp công nhân đã thường kì phô trương sức mạnh chính trị của nó thông qua những cuộc đình công rộng lớn. Từ lâu, chính quyền đành chịu mặc nhiên khoanh tay, thậm chí phải lùi bước (thí dụ như năm 1970, các cuộc đình công đã buộc nhà lãnh đạo cộng sản phải từ chức), chừng nào phe đối lập chưa có tổ chức, song phải nói dư địa hành động của chính quyền tiếp tục thu hẹp lại một cách nguy hiểm. Từ giữa thập niên 1970 trở đi, nó phải đối mặt với một phong trào công nhân được tổ chức về mặt chính trị, và được sự ủng hộ của một nhóm tư vấn bao gồm những trí thức lão luyện về chính trị, và của một Giáo hội ngày càng hung hăng, năm 1978 lại được tiếp sức bởi sự tấn phong giáo hoàng người Ba Lan đầu tiên trong lịch sử, Karol Wojtyla (John Paul II).

Năm 1980, thắng lợi to lớn của công đoàn Solidarnosc (Đoàn Kết) – phong trào đối lập công khai và toàn quốc, mà vũ khí là những cuộc đình công ồ ạt – chứng minh hai điều: chế độ cộng sản Ba Lan đã hết hơi, nhưng đồng thời, sự sách động của phe đối lập cũng chưa đủ để lật đổ chế độ. Năm 1981, nhà nước và Giáo hội thỏa thuận ngầm với nhau để tránh nguy cơ Liên Xô can thiệp vũ trang (chủ trương can thiệp đã được bàn tính kỹ càng) bằng tình trạng thiết quân luật kéo dài mấy năm, dưới quyền chỉ huy của vị tướng tổng tư lệnh, và nhân vật này nhờ đó có được, ở một mức độ nhất định, tính chính đáng vừa dân tộc vừa cộng sản. Trật tự đã được tái lập không mấy khó khăn, không phải bằng quân đội mà bằng công an. Nhưng chính phủ không còn khả năng xử lí các vấn đề kinh tế, trong tay chẳng còn lá bài nào khi phải đối diện với một phe đối lập đại diện cho công luận toàn quốc. Hoặc là người Nga quyết định can thiệp, hoặc là, sớm muộn chính quyền phải từ bỏ cái chìa khóa của các chế độ cộng sản, nghĩa là chế độ độc đảng, với “vai trò lãnh đạo” của đảng Cộng sản, nói toạc ra là phải từ chức. Trong khi mà chính quyền các nước chư hầu khác bồn chồn theo dõi kịch bản Ba Lan, đồng thời loay hoay ngăn chặn không cho dân chúng làm như vậy – phần đông không ngăn nổi – thì ngày càng rõ ràng là Liên Xô chẳng sẵn sàng can thiệp.

Năm 1985, một nhà cải cách nhiệt tâm, Mikhail Gorbachev lên cầm quyền ở cương vị tổng bí th ư ĐCS Liên Xô. Đây không phải là một điều ngẫu nhiên. Sự thật, sự thay đổi lẽ ra đã có thể xảy ra từ một hai năm trước, nếu không có cái chết của Yuri Andropov (1914-1984) sau cơn bệnh nặng. Tổng bí thư Andropov nguyên là người nắm bộ máy an ninh, đã dứt khoát đoạn tuyệt với thời kì Brejnev từ năm 1983. Đối với tất cả các chính quyền cộng sản, ở trong hay ở ngoài quỹ đạo Liên Xô, rõ ràng là Liên Xô sắp sửa thay đổi, nhưng chẳng ai biết được, kể cả tân tổng bí thư Gorbachev, sự thay đổi sẽ dẫn tới đâu.

“Thời kì trì trệ” (zastoi) mà Gorbachev lên án thực ra là một thời kì lên men chính trị và văn hóa sôi động của thành phần ưu tú trong xã hội Liên Xô. Hiện tượng này không chỉ thu hẹp vào một nhóm tương đối hẹp gồm những lãnh đạo chóp bu của Đảng tự tuyển chọn lấy nhau – đó là cấp thực sự quyết định về đường lối chính trị. Nó liên quan tới một nhóm đông đảo trong giai cấp trung gian, có học, sành sỏi về kĩ thuật, những nhà quản lí kinh tế vận hành bộ máy: giới đại học, trí thức kĩ thuật, chuyên gia và cán bộ lãnh đạo các ngành. Về một số phương diện, Gorbachev tiêu biểu cho lớp cán bộ sáng suốt này. Ông ta đã học đại học luật khoa, trong khi lộ trình cổ điển của cán bộ kiểu Stalin (kể cũng lạ) thường là: công nhân ở cơ sở, học trung cấp kĩ thuật hay nông học trước khi tham gia bộ máy. Ta không thể đo sự lên men sâu rộng bằng số lượng những phần tử li khai thời đó: tổng cộng họ không quá mấy trăm người. Phê bình và tự phê bình (thông qua tác động của các tổng biên tập rất dũng cảm của tạp chí Novy Mir nổi tiếng), bị cấm hay bán hợp pháp, đã tràn ngập các giới văn hóa thành thị Liên Xô dưới thời Brejnev, trong đó có những bộ phận quan trọng của đảng và nhà nước, đặc biệt trong hai ngành an ninh và ngoại giao. Thấy rõ điều đó mới giải thích được tại sao lời kêu gọi glasnost (“mở cửa”, “trong suốt”) của Gorbachev lại được hưởng ứng đông đảo và bất ngờ như vậy.

Nhưng đó là sự đáp ứng của các tầng lớp chính trị và trí thức, chứ không phải là phản ứng của đông đảo quần chúng thuộc các dân tộc Liên Xô. Khác hẳn trường hợp các nước cộng sản châu Âu khác, đối với nhân dân các nước cộng hòa thuộc Liên bang Soviet, chế độ Liên Xô là chính đáng và được chấp nhận, có thể vì một lẽ đơn giản là họ chưa hề biết hay có thể biết có chế độ nào khác (ngoại trừ thời gian bị Đức chiếm đóng, 1941-1944, tất nhiên không có gì hấp dẫn). Năm 1990, những người Hungary trên 60 tuổi còn giữ được kỉ niệm tuổi niên thiếu hay trưởng thành về chế độ tiền – cộng sản, còn ở Liên Xô, người nào dưới 88 tuổi không hề có một trải nghiệm bản thân như vậy. Chính quyền của nhà nước Soviet tồn tại liên tục kể từ thời nội chiến cho đến khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, song về mặt cương vực lãnh thổ, thì tính liên tục còn lâu đời hơn nhiều (ngoại trừ những vùng đất phía tây mới sở hữu, hay phục hồi vào năm 1939-1940). Đó là đế quốc Sa hoàng cũ đặt dưới sự cai quản của chính quyền mới. Có thể mở ngoặc để nói là do đó, cho đến cuối thập niên 1980 không có dấu hiệu nào về yêu cầu li khai ngoại trừ các nước vùng Baltic (từ năm 1918 đến năm 1940 là những nước độc lập), miền tây Ukraine (năm 1918 không thuộc đế quốc Nga mà là đất của đế quốc Áo Hung dưới triều Habsburg), có thể cả vùng Bessarabia (Moldavia) từ năm 1918 đến năm 1940 thuộc lãnh thổ Romania. Ngay ở ba nước Baltic, phong trào li khai chính trị công khai cũng không mạnh hơn gì so với Nga (Lieven, 1993).

Thêm nữa, chế độ Soviet không chỉ đơn thuần là một chính thể bản địa và bắt rễ vững chãi: khởi thủy nó cơ sở trong dân chúng Đại Nga nhiều hơn hẳn các vùng khác, nhưng theo dòng thời gian, sự kết nạp và tuyển dụng ở các nước cộng hòa trên đất châu Âu hay vùng bên kia núi Kapkaz tỉ tệ cũng ngang nhau. Một điều nữa, khó nói cho chính xác: người dân xem ra đã thích ứng với chế độ, cũng như chế độ cũng thích ứng với người dân. Nói mỉa mai như nhà văn trào phúng thuộc xu hướng li khai Zinoviev, đã tồn tại “một con người Soviet mới” (“người đàn ông” trong nguyên tác, vì đàn bà nào có sá chi), dù cho nó chẳng dính dáng gì tới hình tượng chính thống của “con người mới” ở Liên Xô cả. Và con người Soviet này luồn lách rất thoải mái trong chế độ (Zinoviev, 1979). Chế độ cung cấp cho anh ta những phương tiện sinh tồn cần thiết và một chế độ bảo hiểm xã hội khiêm nhường nhưng có thực, một xã hội bình đẳng về kinh tế – xã hội, thỏa mãn ít nhất một khát vọng truyền thống của chủ nghĩa xã hội, là “quyền lười biếng” của Paul Lafargue (Lafargue, 1883). Mặt khác, đối với đa số công dân Liên Xô, thời kì Brejnev không hề đồng nghĩa với “thời kì trì trệ”, mà là thời gian họ, cha mẹ họ, thậm chí ông bà họ, sống khá nhất từ trước đến nay.

Bởi thế, không có gì ngạc nhiên là các nhà cải cách đã đụng phải cả người dân bình thường lẫn tầng lớp quan liêu Soviet. Dưới đây là lời của một trong những nhà cải cách ấy, với cái giọng bực bội khá tiêu biểu của giới thượng lưu khinh thị tiện dân:

Chế độ của chúng ta đã sản sinh ra một loại người quen sống trợ cấp, thích nhận hơn là thích cho. Đó là hậu quả của chính sách gọi là chủ nghĩa bình quân

đã… chiếm ngự xã hội Soviet… Xã hội ấy chia làm hai hạng người, những người quyết định và ban phát, những người bị chỉ huy và nhận sự ban phát. Đó là cái phanh kìm hãm sự phát triển của xã hội. Homo sovieticus, con người Soviet vừa là lớp sỏi ba-lát vừa là cái phanh. Một mặt, anh ta chống lại cải cách, mặt khác, anh ta là nền tảng của chế độ hiện tồn.

(Afanassiev, 1991, tr. 13-14)

Về mặt chính trị cũng như xã hội, Liên Xô về cơ bản là một xã hội ổn định, chắc chắn một phần là do chính quyền bưng bít và kiểm duyệt nên người dân không biết gì về các nước khác, nhưng đó không thể là nguyên nhân duy nhất. Có phải ngẫu nhiên mà ở Liên Xô không hề có một sự kiện gì tương tự như cuộc nổi dậy của sinh viên năm 1968, khác hẳn Ba Lan, Tiệp Khắc và Hungary ? Mà, ngay dưới thời Gorbachev, phong trào cải cách chưa hề huy động được đông đảo thanh niên (trừ một vài vùng dân tộc chủ nghĩa ở miền tây) ? Mà rốt cuộc lại là “cuộc nổi loạn của những người 30 – 40 tuổi”, nghĩa là của thế hệ ra đời sau khi thế chiến kết thúc và trước khi bắt đầu những năm “lừ đừ” phải nói là cũng không đến nỗi nào của thời Brejnev ? Áp lực để thay đổi ở Liên Xô không biết từ đâu đến, nhưng chắc chắn không phải từ cơ sở.

Thực ra áp lực phát xuất từ đỉnh. Và cũng không thể khác. Người ta vẫn chưa biết làm thế nào mà ngày 13 tháng ba 1985, một người cộng sản có đầu óc say mê thực sự muốn cải cách lại có thể trở thành người kế vị Stalin cầm đầu ĐCS Liên Xô. Và cũng sẽ không biết gì hơn chừng nào mà những thập niên cuối cùng của Liên Xô chưa trở thành đối tượng nghiên cứu lịch sử mà vẫn còn là những lời buộc tội hay tự bạch. Dầu sao, điều quan trọng không phải là những chuyện thâm cung trong điện Kremlin, mà bối cảnh nào đưa một người như Gorbachev lên cầm quyền. Trước tiên, nạn tham nhũng lan rộng ngày càng lộ liễu của lãnh đạo ĐCS dưới quyền Brejnev gây ra phẫn nộ trong bộ phận những đảng viên còn tin tưởng, dù là gián tiếp vào hệ tư tưởng cộng sản. Song, một đảng Cộng sản, dù đã biến chất tới đâu, không thể không có một vài lãnh đạo tin tưởng ở chủ nghĩa xã hội, cũng như Giáo hội Công giáo dẫu sao cũng phải có vài giám mục và hồng y là Ki-tô hữu – cả hai tổ chức này đều dựa trên những hệ thống tín điều thực thụ. Thứ nữa, giới cán bộ có học và có khả năng kĩ thuật (là những người vận hành bộ máy kinh tế) biết rất rõ rằng nếu không thay đổi quyết liệt và cơ bản thì nền kinh tế sớm muộn nhất định sẽ sụp đổ, không những vì hệ thống đã vô hiệu lại cứng nhắc từ bản chất, mà những yếu kém của nó lại càng trở nên nghiêm trọng vì yêu cầu duy trì vị trí siêu cường mà nền kinh tế suy vong này không còn kham nổi nữa. Thật vậy, từ năm 1980 trở đi áp lực quân sự trên kinh tế đã gia tăng tới một mức nguy hiểm khi mà quân đội Liên Xô, lần đầu tiên từ nhiều năm, phải trực tiếp tham gia một cuộc chiến tranh. Liên Xô đã phải đưa quân sang Afghanistan để áp đặt một tình trạng ổn định nhất định ở đây: từ năm 1978, đảng cầm quyền là đảng Dân chủ Nhân dân, chia rẽ thành hai phái cộng sản, cả hai đều gặp sự chống đối của địa chủ, của giáo hội Islam và của tất cả những lực lượng muốn giữ chặt nguyên trạng xã hội, khi cộng sản tiến hành những chính sách “báng bổ”, “phản đạo” như là cải cách ruộng đất và bảo vệ quyền lợi phụ nữ. Từ đầu thập niên 1950, Afghanistan đã lặng lẽ nằm trong vùng ảnh hưởng của Liên Xô mà không gây ra căng thẳng với thế giới phương Tây. Nay Hoa Kỳ coi, hay giả bộ coi việc Liên Xô đưa quân sang Afghanistan là một cuộc tấn công quân sự đánh vào “thế giới tự do”. Qua ngả Pakistan, tiền bạc và vũ khí gần như vô tận được đưa vào cho những người sơn cước theo xu hướng toàn thủ Islam. Như có thể tiên đoán, với viện trợ to lớn của Liên Xô, chính quyền Afghanistan giữ vững được các thành phố mà không mấy khó khăn, nhưng cái giá phải trả của Liên Xô lên quá cao. Như một số người ở Washington hi vọng, Afghanistan đã trở thành Việt Nam của Liên Xô.

Nhưng nhà lãnh đạo mới có thể làm gì để thay đổi tình hình Liên Xô, ngoài việc nhanh chóng chấm dứt cuộc đối đầu Chiến tranh Lạnh với Hoa Kỳ đang làm cho nền kinh tế Liên Xô mất máu ? Đương nhiên đó là mục tiêu đầu tiên của Gorbachev, cũng là thành công lớn nhất của ông: trong một thời gian hết sức ngắn, Gorbachev đã thuyết phục được ngay cả những chính quyền phương Tây hoài nghi ngờ vực. Điều này giải thích tại sao ở phương Tây, Gorbachev được cảm tình rộng rãi và bền lâu, trái nghịch với tình hình ở Liên Xô, tại đây hình ảnh của ông ngày càng xấu đi, đến năm 1991, sẽ biến ông thành nạn nhân. Gì thì gì, Gorbachev là người chấm dứt được 40 năm Chiến tranh Lạnh trên thế giới.

Từ những năm 1950, tham vọng của những nhà cải cách là biến một nền kinh tế kế hoạch hóa ngoan ngoãn trở thành hợp lí hơn, mềm dẻo hơn, bằng cách đặt ra một cơ cấu quy định giá cả thông qua thị trường và hạch toán khấu hao, lời lãi cho các xí nghiệp. Các nhà cải cách Hungary đã thực hiện được một số tiến bộ theo hướng này, và nếu quân đội Liên Xô không chiếm đóng năm 1968, các nhà cải cách Tiệp Khắc chắc còn đi xa hơn nữa: tất cả họ đều hi vọng là sau đó sẽ dễ dàng tự do hóa và dân chủ hóa hệ thống chính trị hơn. Đó cũng là quan điểm của Gorbachev.[7] Ông đương nhiên coi đó là cách tái lập hay thiết lập một chủ nghĩa xã hội tốt đẹp hơn “chủ nghĩa xã hội hiện tồn”. Có thể – nhưng xác suất rất ít – cũng có một nhà cải cách có ảnh hưởng ở Liên Xô đã tính đến cả việc từ bỏ chủ nghĩa xã hội, bởi vì, trên bình diện chính trị, đó là điều bất khả. Tuy nhiên, ở ngoài Liên Xô một số nhà kinh tế học lão luyện, từng tham gia cuộc cải cách, đã đi tới kết luận là không thể nào cải tổ từ bên trong một hệ thống mà ngay tại Liên Xô trong thập niên 1980, người ta đã công khai mổ xẻ những khuyết tật.[8]

IV

Gorbachev phát động phong trào cải tổ chủ nghĩa xã hội Liên Xô với hai khẩu hiệu: perestroika, tức là tái cấu trúc (kinh tế và bộ máy chính trị), và glasnost, tức là tự do thông tin.[9]

Song giữa hai mục tiêu ấy sẽ thấy có một mâu thuẫn không thể giải quyết được. Yếu tố duy nhất có thể làm cho hệ thống Liên Xô vận hành và có thể biến đổi nó, là cơ cấu quyền lực đảng/nhà nước thừa kế từ thời Stalin. Đây là một cục diện quen thuộc trong lịch sử Nga, từ thời Sa hoàng. Cải tổ tiến hành từ trên xuống. Nhưng bộ máy đảng/nhà nước đồng thời lại là trở ngại chính cho việc cải biến hệ thống mà chính nó đã tạo ra, rồi thích ứng với nó, và nó khó hình dung ra một giải pháp thay thế.[10] Đó không phải là trở ngại duy nhất và các nhà cải cách, ở Nga cũng như ở những nước khác, thường có xu hướng đổ tội cho “bộ máy quan liêu” đã làm cho đất nước và người dân không hưởng ứng đề xướng của họ. Nhiều bộ phận lớn trong guồng máy đảng/nhà nước đã đón nhận tất cả các cuộc đại cải tổ bằng thái độ ù lỳ, gần như không che đậy sự chống đối. Mục đích của glasnost chính là để đối phó với lực cản đó bằng cách huy động sự ủng hộ từ trong và ngoài đảng. Nhưng hậu quả logic của glasnost là hủy hoại lực lượng duy nhất có khả năng hành động. Cấu trúc của hệ thống Soviet và modus operandi (phương thức thao tác) của nó, như ta đã thấy, bản chất là quân sự. Dân chủ hóa quân đội không làm cho nó thiện chiến hơn. Vả lại, nếu không muốn sử dụng bộ máy quân sự nữa, thì phải chuẩn bị sẵn một hệ thống dân sự thay thế nó, bằng không cuộc cải cách sẽ không dẫn tới tái cấu trúc mà tới sụp đổ. Nước Liên Xô của Gorbachev đã lao thẳng xuống cái vực thẳm nằm giữa glasnost perestroika ấy.

Tình hình trở nên xấu hơn nữa khi mà trong đầu óc của các nhà cải cách, glasnost là một chương trình rõ nét hơn hẳn perestroika. Glasnost bao hàm việc kiến lập, hay tái lập, một Nhà nước hiến chế và dân chủ dựa trên nền tảng một Nhà nước pháp quyền và sự thụ hưởng các quyền tự do dân sự theo cách hiểu thông thường. Điều đó đòi hỏi phải tách biệt đảng và nhà nước, và chuyển trung tâm chính quyền từ đảng sang nhà nước, đảo ngược những gì đã làm từ thời Stalin đến giờ. Hệ quả tiếp theo là chấm dứt hệ thống độc đảng, chấm dứt “vai trò lãnh đạo” của Đảng. Có nghĩa là phải hồi phục các Soviet ở mọi cấp dưới hình thái những nghị viện thực sự do nhân dân bầu ra, ở trên cùng là một Soviet tối cao đảm nhiệm vai trò quốc hội lập pháp thực sự là “cơ quan quyền lực tối cao”; quốc hội sẽ ủy quyền hành pháp cho một chính phủ mạnh đặt dưới quyền kiểm soát của nó. Về lí thuyết, ít ra là như thế.

Trên thực tế, hệ thống hiến chế cuối cùng đã được thiết lập. Ngược lại, hệ thống kinh tế mới của perestroika đến năm 1987-1988 mới chỉ được phác họa sơ qua trong đạo luật còn e dè về doanh nghiệp nhỏ (“hợp tác xã”) – nghĩa là một bộ phận lớn của “nền kinh tế thứ hai” – và quyết định nguyên tắc cho phép phá sản những doanh nghiệp công cộng bị thua lỗ một cách hệ thống. Thực tế là khoảng cách giữa mỹ từ “cải cách kinh tế” và hiện thực của một nền kinh tế đang trên đà suy sụp, ngày càng mở rộng.

Đó là một tình hình hết sức nguy hiểm. Bởi vì cuộc cải tổ hiến pháp chỉ làm một việc là dỡ tung toàn bộ cơ cấu chính trị và thay thế nó bằng một cái khác. Vấn đề tồn đọng là các định chế mới sẽ làm gì, trong tình hình là quá trình quyết định dưới chế độ dân chủ chắc chắn sẽ nặng nề hơn là trong một hệ thống chỉ huy quân sự. Đối với đa số dân chúng, khác biệt duy nhất là hay được mời đi bỏ phiếu và chọn lựa giữa những ứng cử viên chỉ trích chính quyền. Vả lại, người ta đánh giá perestroika – và phải đánh giá như thế thôi – không phải trên cơ sở những nguyên tắc vận hành kinh tế, mà trên cái cung cách mà nền kinh tế ấy vận hành hàng ngày ra sao, và đánh giá bằng những tiêu chí cụ thể và định lượng. Nó chỉ có thể được đánh giá qua các kết quả. Nghĩa là, đối với số đông công dân Liên Xô, phải xem thu nhập thực của họ biến thiên ra sao, gắng sức tới đâu để có thu nhập ấy, chất lượng và danh mục những hàng hóa và dịch vụ ở trong tầm tay của họ, và có được thì khó dễ ra sao. Nhưng trong khi các nhà cải cách kinh tế có một ý niệm rất rõ ràng về những cái mà họ lên án và muốn hủy bỏ, thì giải pháp thay thế mà họ đề xướng lại chỉ vỏn vẹn trong một công thức: một “nền kinh tế thị trường XHCN”, với những doanh nghiệp tự quản, có thể đứng vững về mặt kinh tế – công, tư hay hợp tác xã – và quản lí kinh tế vĩ mô từ một “trung tâm quyết định kinh tế”. Nói cách khác, các nhà cải cách muốn có những thuận lợi của chủ nghĩa tư bản mà lại không muốn mất đi những thuận lợi của chủ nghĩa xã hội. Cụ thể, chẳng ai có một ý niệm chính xác về sự “quá độ”, chuyển tiếp từ một nền kinh tế mệnh lệnh và tập trung sang một hệ thống mới; và cũng chẳng ai, trong một tương lai có thể dự trù, hình dung ra được sự vận hành thực sự của một hệ thống tất yếu còn tính chất “đối ngẫu”, với một khu vực quốc doanh và một khu vực phi quốc doanh. Trong con mắt của các nhà trí thức chủ trương cải cách, hệ tư tưởng của thị trường tự do triệt để theo kiểu Thatcher và Reagan rất hấp dẫn vì nó hứa hẹn giải quyết mọi vấn đề bằng một giải pháp “quyết liệt” đấy, nhưng mà tự động (và như người ta có thể tiên đoán, sự đời diễn ra không như vậy).

Có lẽ, đối với đội ngũ cải cách chung quanh Gorbachev, kí ức lịch sử mù mờ về chính sách NEP những năm 1921-1928 là cái gì gần giống nhất cái mô hình chuyển tiếp mà họ tìm kiếm. Chẳng gì, chính sách NEP “đã mang lại những kết quả ngoạn mục, làm sống lại nông nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp và tài chính liên tiếp nhiều năm sau 1921”, và đã dựng lại một nền kinh tế đã suy sụp bằng cách “giao khoán cho các lực lượng của thị trường” (Vernikov, 1989, tr. 13). Mặt khác, sau khi chủ nghĩa Mao kết thúc, một đường lối hầu như là tự do hóa thị trường và phi tập trung hóa đã mang lại cho Trung Quốc những thành quả ngoạn mục: trong thập niên 1980, tỉ lệ tăng trưởng GDP xấp xỉ 10% mỗi năm (chỉ thua Hàn Quốc; World Bank Atlas, 1990). Có điều là không thể nào so sánh nước Nga nghèo xơ nghèo xác, kĩ thuật lạc hậu, đa số là nông thôn của những năm 1920 với Liên Xô đã đô thị hóa, công nghiệp hóa của thập niên 1980, trong đó khu vực công nghiệp tiên tiến nhất, nghĩa là phức hợp khoa học–quân sự–công nghiệp (trong đó có chương trình không gian), lại lệ thuộc vào thị trường mà chỉ vỏn vẹn có một nước khách hàng. Người ta có thể khẳng định mà không sợ sai lầm rằng chính sách perestroika có thể sẽ thành công tương đối nếu như nước Nga năm 1980 (như Trung Quốc ở cùng thời điểm) vẫn còn là nước mà dân số nông thôn chiếm 80%, và khái niệm về sự giàu có (không nói đến lòng tham mơ ước) thể hiện vào cái máy thu hình (ngay từ đầu thập niên 1970, 70% người dân Liên Xô đã ngồi trước máy thu hình trung bình mỗi ngày một giờ rưỡi) (Kerblay, tr. 140-141).

Tuy nhiên, sự tương phản giữa perestroika Liên Xô và sự tái cấu trúc ở Trung Quốc không chỉ có thể lí giải bằng sự lệch pha trong thời gian, hay bằng một sự việc hiển nhiên nữa là Trung Quốc đã chú tâm duy trì nguyên vẹn guồng máy chỉ huy tập trung. Các nhà sử học của thế kỉ XXI sẽ phải quy định xem trong chừng mực nào, truyền thống văn hóa Viễn Đông, độc lập với các hệ thống xã hội, đã tạo thuận lợi cho Trung Quốc để đạt được nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao như vậy.

Ai là người có thể giả định một cách nghiêm chỉnh, vào năm 1985, rằng 6 năm sau, Liên Xô và ĐCS Liên Xô sẽ không còn nữa ? Rằng các chế độ cộng sản khác ở châu Âu cũng sẽ tiêu ma ? Chỉ cần thấy các chính quyền phương Tây hoàn toàn không chuẩn bị gì trước sự sụp đổ đột ngột năm 1989-1991, cũng hiểu là những lời tiên đoán sự sụp đổ gần kề của “kẻ thù tư tưởng” của phương Tây chỉ là chuyện tầm phào. Yếu tố đã đẩy Liên Xô xuống vực thẳm là sự kết hợp glasnost (hiểu theo nghĩa hủy hoại quyền lực) với perestroika, nghĩa là phá hủy những cơ chế vận hành kinh tế trước đó mà không đề xuất những cơ chế thay thế, khiến cho mức sống của người dân liên tục sa sút nhãn tiền. Đất nước Liên Xô tiến tới một chế độ tuyển cử đa nguyên trong khi nó lún sâu trong tình trạng vô chính phủ về mặt kinh tế: lần đầu tiên từ ngày khai sinh chính sách kế hoạch hóa, nước Nga năm 1989 không còn Kế hoạch 5 năm nữa (Di Leo, 1992, tr. 100 ct). Đó là một hỗn hợp nổ vì nó đã phá hủy nền tảng không vững chãi cho lắm của thể thống nhất chính trị-kinh tế Liên Xô.

Nguyên ủy là Liên Xô đã ngày càng phi tập trung hóa về mặt cấu trúc, tính nhất quán của các thành tố khác nhau được bảo đảm bởi những thiết chế chung của liên bang: quân đội, đảng, lực lượng an ninh và kế hoạch trung ương. Quá trình “giải tập trung” này lại tăng tốc hơn bao giờ hết dưới thời Brejnev. Trên thực tế, Liên Xô đại để đã trở thành một tập hợp bao gồm những lãnh địa phong kiến tự quản. Những thủ lĩnh địa phương – bí thư đảng của mỗi nước cộng hòa thành viên, tướng lĩnh chỉ huy lãnh thổ đặt dưới quyền bí thư, thủ trưởng các đơn vị sản xuất lớn nhỏ, tức là những người vận hành bộ máy kinh tế – chỉ gắn kết với nhau vì cũng lệ thuộc bộ máy trung ương của Đảng ở Moskva, bộ máy này có quyền bổ nhiệm, thuyên chuyển, cách chức và đề bạt họ, tùy theo yêu cầu “hoàn thành kế hoạch” do thủ đô soạn thảo. Trong phạm vi những hạn chế khá rộng rãi kể trên, các lãnh đạo địa phương có môt biên độ độc lập to lớn. Thực ra, bộ máy kinh tế này không thể nào chạy được nếu những người lãnh đạo cụ thể của các định chế ấy không tạo ra một mạng lưới quan hệ hàng ngang, độc lập với trung ương. Hệ thống hiệp ước, hàng đổi hàng, trao đổi ơn huệ giữa những cán bộ giữ những vị trí tương đương như vậy hợp thành một “nền kinh tế thứ hai” bên trong một tổng thể đã được kế hoạch hóa trên lí thuyết. Có thể nói thêm, theo dòng thời gian, khi những cán bộ phụ trách sản xuất và phân phối, nắm trong tay vận mệnh chung của người dân, dần dà họ coi các bộ và quan chức đảng ở cấp trên bằng một con mắt ác cảm, vì chức năng của những bộ máy và con người này chẳng còn gì cụ thể rõ ràng cả – ngoài cái việc là chọc gậy bánh xe, nhiều khi giữa thanh nhiên bạch nhật. Ghê tởm trước sự thối nát ngày càng hoành tráng và tràn ngập của giới nomenklatura chính là động cơ số một của cuộc cải tổ: quả vậy, chủ trương perestroika của Gorbachev đã gặp sự ủng hộ mạnh mẽ trong khối cán bộ kinh tế, nhất là trong phức hợp quân sự-công nghiệp, là những người thành thực mong muốn cải thiện sự quản lí một nền kinh tế trì trệ, bị tê liệt về khoa học và kĩ thuật. Họ là người ở vị trí tốt nhất để hiểu tại sao Liên Xô đã đi vào ngõ cụt. Vả lại, họ không cần đến Đảng để làm tròn công việc của mình. Bộ máy quan liêu của Đảng có phải biến đi mất thì họ cũng vẫn còn đó. Họ là những người cần thiết, bọn đó thì không. Sự thật là khi Liên Xô đã tiêu vong, họ vẫn ở đó, hình thành những nhóm áp lực bên trong hội “Liên hiệp khoa học và công nghiệp” (NPS) mới (1990) và những tổ chức kế tục, hoặc là, khi chế độ cộng sản đã cáo chung, họ trở thành những chủ sở hữu (tiềm thể) chính danh của những doanh nghiệp trước đây họ đã chỉ huy mà không có quyền sở hữu hợp pháp.

Tuy nhiên, hệ thống chỉ huy của Đảng, dù thối nát, vô hiệu quả và ăn bám đến đâu chăng nữa, vẫn là yếu tố cốt tử trong một nền kinh tế dựa trên sự vâng lệnh. Thay vào quyền lực của Đảng, không phải là quyền lực dân chủ và hợp hiến: ngắn hạn, đó lại là sự vắng bóng quyền lực. Tình hình đã xảy ra chính là như vậy. Gorbachev, và sau này người kế vị ông là Yeltsin, lấy nhà nước, thay đảng, làm nền tảng cho quyền lực của mình. Với cương vị tổng thống hiến định, ông ta đã thâu tóm một cách hợp pháp các quyền cai trị bằng sắc lệnh: về một số phương diện đó là những quyền lực, về lí thuyết, to lớn hơn mọi nhà lãnh đạo Liên Xô tiền nhiệm, kể cả Stalin (Di Leo, 1992, tr . 111). Điều ấy, chẳng ai để ý làm gì, ngoài vòng những nghị viện dân chủ mới, hay đúng hơn, những nghị viện hiến định công cộng, tức là Đại hội Nhân dân và Soviet tối cao (1989). Chẳng ai cầm quyền, hay đúng hơn, chẳng ai vâng lệnh ở Liên Xô nữa.

Tựa như con tàu chở dầu khổng lồ hỏng máy lừng lững tiến về bãi đá ngầm, Liên Xô không bánh lái cứ thế trôi giạt tới sự phân rã. Những đường rạn nứt đã hiện ra rõ nét: một mặt là hệ thống tự quản lãnh thổ biểu hiện trong cấu trúc liên bang của nhà nước, một mặt là các phức hợp kinh tế tự quản. Cơ sở lí luận chính thức cho sự thành lập Liên bang là quyền tự trị lãnh thổ của các nhóm dân tộc ở 15 nước cộng hòa cũng như ở các vùng và lãnh thổ tự trị ở trong mỗi nước cộng hòa;[11] sự rạn vỡ có tính chất dân tộc chủ nghĩa đã hàm chứa trong hệ thống mặc dầu, ngoài trước hợp ba nước Baltic, chưa nơi nào có tính toán đến li khai trước năm 1988. Năm ấy, khi bắt đầu chính sách glasnost, thì phản ứng đầu tiên là hình thành những “mặt trận”, hay tổ chức dân tộc chủ nghĩa (ở Lithuania, Latvia và Estonia). Tuy nhiên, ở bước này, ngay cả ở ba nước ven biển Baltic, mũi tiến công của họ ít nhắm vào chính quyền trung ương bằng nhắm vào những đảng Cộng sản địa phương theo Gorbachev, hay là chống Azerbaijan như ở Armenia. Mục tiêu của họ lúc đó chưa phải là độc lập, tuy rằng chủ nghĩa dân tộc sẽ nhanh chóng trở thành triệt để vào năm 1989-1990 do tác động của cuộc tranh cử, cũng như cuộc đấu tranh giữa những người cải cách cấp tiến và sự đề kháng có tổ chức của bộ máy Đảng cũ trong các nghị viện mới, với những xích mích giữa Mikhail Gorbachev và Boris Yeltsin, người bị Gorbachev trù ém, thù dai, trở thành đối thủ và cuối cùng đã thay thế Gorbachev.

Thực chất vấn đề là những người cải cách cấp tiến, khi vấp phải vây cánh cố thủ của các quan chức đảng, đã kêu gọi sự ủng hộ của các lực lượng dân tộc chủ nghĩa tại các nước cộng hòa trong liên bang. Nhờ đó, các lực lượng này đã củng cố được thế lực. Ngay ở Nga, lời kêu gọi bảo vệ quyền lợi của nước Nga chống lại các nước cộng hòa ngoại vi, được Nga tiếp viện và dư luận ngày càng cho rằng các nước này sống thoải mái hơn Nga, đã trở thành vũ khí hiệu quả được những người cấp tiến sử dụng để tấn công bộ máy đảng cố thủ trong các cơ quan trung ương của nhà nước. Là một lãnh đạo đảng xuất thân từ xã hội ngoan ngoãn, Boris Yeltsin có những năng khiếu cần thiết để thành đạt dưới chế độ cũ (kiên trì và khôn khéo) cũng như trong chế độ mới (mị dân, vui tính, ý thức về truyền thông): đối với Yeltsin, con đường đi lên đỉnh cao tốt nhất là nắm được Liên bang Nga, qua đó có thể đi tắt, vòng qua các định chế Liên bang Soviet của Gorbachev. Thật vậy, cho đến lúc đó, thật sự không có gì phân biệt rõ ràng giữa Liên bang Soviet và thành phần chủ yếu của nó là Cộng hòa XHCN liên bang Nga. Một khi biến nước Nga thành một nước cộng hòa như các nước cộng hòa khác, Yeltsin thực tế đã thúc đẩy sự tan rã của Liên Xô, và nước Nga dưới quyền của Yeltsin đã thay thế Liên Xô. Và điều này đã diễn ra vào năm 1991.

Sự tan rã kinh tế đã tăng tốc sự tan rã chính trị và ngược lại, tan rã chính trị càng nuôi dưỡng tan rã kinh tế. Sự cáo chung của Kế hoạch 5 năm và của các mệnh lệnh của Trung ương Đảng đã gióng hồi chuông báo tử cho mọi nền kinh tế quốc gia hữu hiệu: tại mỗi cộng đồng, lãnh thổ, trong mỗi đơn vị quản lí, người ta chạy đua với nhau để đòi tự quản và đưa ra những biện pháp bảo hộ, không kể những cuộc trao đổi tay đôi. Những người chỉ huy các vùng đô thị lớn ở các tỉnh, vốn đã quen cách làm ăn này, tha hồ trao đổi sản phẩm công nghiệp lấy thực phẩm với lãnh đạo các trang trại tập thể thuộc các vùng: ví dụ ngoạn mục nhất là Gipadov, lãnh đạo đảng ở Leningrad, để giải quyết nạn khan hiếm ngũ cốc trầm trọng của thành phố, đã điện thoại cho Nazarbayev, đồng liêu ở Kazakhstan, và tay này đã thu xếp đổi ngũ cốc lấy giày và thép (You Boldyrev, 1990). Nhưng ngay trong hình thái mậu dịch này giữa hai quan chức cao cấp của bộ máy Đảng cũ, mạng lưới phân phối toàn quốc không còn ý nghĩa gì nữa. “Chủ nghĩa địa phương, tình trạng tự cung tự cấp, và trở về những thực tiễn nguyên thủy sơ khai: đó là những hậu quả cụ thể và hiển nhiên của những đạo luật giải phóng các lực lượng kinh tế địa phương” (Di Leo, tr. 101).

Điểm “bước chân qua cấm kì trở lại” đã đạt tới vào nửa sau của năm 1989, năm kỉ niệm lần thứ 200 Cách mạng Pháp, mà những sử gia “xét lại” ở Pháp đã ra sức chứng minh là nó không liên quan gì tới, hay không phù hợp gì nữa với đời sống chính trị thế kỉ XX. Giống như tình hình nước Pháp vào thế kỉ XVIII, sự sụp đổ chính trị đã diễn ra sau khi triệu tập các nghị viện dân chủ (hay khá dân chủ). Trong vòng vài tháng quyết định, từ tháng mười 1989 đến tháng năm 1990, sự sụp đổ kinh tế đã trở thành không thể đảo ngược. Tuy nhiên, ở thời điểm này, cả thế giới chỉ chú mục tới một hiện tượng liên quan nhưng thứ yếu: sự giải thể đột ngột, một lần nữa không dự trù, của các chính thể cộng sản chư hầu ở châu Âu. Từ tháng tám 1989 đến cuối năm, chính quyền cộng sản đã từ nhiệm hay tiêu vong ở Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Romania, Bulgaria và CHDC Đức – mà không hề có nổ súng ở đâu, trừ Romania. Sau đó không lâu, hai nước ở bán đảo Balkan, không phải chư hầu Liên Xô, là Nam Tư và Albania, cũng từ bỏ chính thể cộng sản. CHDC Đức sẽ sáp nhập vào nước CHLB Đức, và Nam Tư sẽ chia cắt trong cuộc nội chiến. Quá trình này được theo sát trên màn ảnh truyền hình phương Tây, và cũng được chăm chú theo dõi ở các nước cộng sản thuộc các châu lục khác. Bất luận là những nước chủ trương cải cách rốt ráo (ít nhất về mặt kinh tế) như Trung Quốc hay vẫn trung thành với chủ nghĩa tập trung khắc nghiệt theo kiểu cũ như Cuba (x. chương 15), các nước này chắc đều hồ nghi khi thấy Liên Xô lao vào cuộc glasnost cuồng nhiệt, làm cho quyền lực suy yếu. Từ Liên Xô, phong trào tự do hóa và dân chủ lan truyền sang Trung Quốc. Cuối cùng, chính quyền Bắc Kinh, sau những do dự rõ rệt và chia rẽ sâu sắc trong nội bộ, đã quyết định lập lại trật tự bằng một phương cách không thể rõ ràng hơn: “nã một tràng liên thanh”, như lời Napoléon, là người cũng đã từng dùng quân đội để đàn áp cuộc náo động của công chúng thời Cách mạng Pháp. Quân đội Trung Quốc đã giải tán một cuộc biểu tình khổng lồ của sinh viên tại quảng trường trung tâm thủ đô: số thương vong rất lớn – có lẽ hàng trăm người chết, cho đến nay vẫn chưa có con số đáng tin. Cuộc tàn sát ở Thiên An Môn gây kinh tởm trong dư luận phương Tây, và chắc chắn ĐCS Trung Quốc đã mất hết chút ít chính danh mà nó còn giữ được trong lòng các thế hệ trí thức trẻ, kể cả đảng viên. Ngược lại, ĐCS Trung Quốc đã tiếp tục mà không mấy khó khăn trước mắt cuộc tự do hóa kinh tế rất hiệu quả. Sự sụp đổ của chế độ cộng sản sau 1989 đã chỉ hạn chế ở Liên Xô và và các nước trong quỹ đạo Liên Xô (trong đó phải kể Ngoại Mông là nước, trong thời kì giữa hai đại chiến, đã chọn sự bảo hộ của Liên Xô để tránh sự thống trị của Trung Quốc). Còn lại ba nước cộng sản ở châu Á (Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Việt Nam), và Cuba ở tận xa và đơn độc, trước mắt chưa suy suyển.

V

Hai trăm năm sau Cách mạng 1789, cũng là tự nhiên nếu người ta muốn mô tả những chuyển biến năm 1989-1990 ở Đông Âu như những cuộc cách mạng. Trong chừng mực các cuộc đổi thay dẫn tới việc chính quyền bị lật đổ hoàn toàn, từ cách mạng là chính xác, nhưng cũng dễ bị ngộ nhận. Trừ Ba Lan ra, chẳng có nước Đông Âu có một lực lượng quốc nội, được tổ chức hay không, để trở thành một mối nguy đáng kể. Và ở Ba Lan, sự tồn tại của một lực lượng đối lập chính trị mạnh mẽ trên thực tế lại bảo đảm không để cho hệ thống hôm trước hôm sau sụp đổ; sự thay đổi đã diễn ra trong một quá trình thương thảo làm bằng thỏa hiệp và cải tổ, có thể so sánh với quá trình chuyển tiếp dân chủ ở Tây Ban Nha sau cái chết năm 1975 của tướng Franco. Đối với những chế độ nằm trong quỹ đạo Liên Xô, mối đe dọa trực tiếp nhất là Liên Xô, mà Liên Xô lại nói rất rõ rằng họ đừng trông mong vào một sự can thiệp như Liên Xô đã làm năm 1956 và 1968. Lí do đầu tiên rất đơn giản: Chiến tranh Lạnh không còn nữa, nên Liên Xô không cần tới họ về mặt chiến lược quân sự như trước nữa. Moskva cho rằng, nếu các chế độ này muốn kéo dài sự tồn tại, thì họ nên đi theo con đường tự do hóa, cải tổ và mềm dẻo của những người cộng sản Ba Lan và Hungary. Nhưng mặt khác, Moskva cũng không có lí do gì mà ép buộc những con người cứng rắn ở Berlin hay Praha phải đi theo con đường này. Tóm lại, ai đi đường nấy.

Sự rút lui của Liên Xô càng làm lộ rõ thất bại của chính quyền các nước Đông Âu. Họ chỉ còn nắm được chính quyền vì đã tạo ra được khoảng trống chung quanh họ. Không có lựa chọn nào khác, không có một giải pháp thay thế cho nguyên trạng, ngoại trừ hai việc, nếu có thể, là đi ra nước ngoài, hay thành lập những nhóm nhỏ trí thức ngoài lề và li khai. Đại đa số quần chúng chấp nhận tình trạng hiện tồn: họ không có chọn lựa nào khác. Trong hệ thống như vậy, không thiếu những con người có năng lực, năng khiếu và tham vọng, vì phải có những phẩm chất ấy mới hi vọng giành được vị trí trong hệ thống, cũng như mọi tài năng muốn thể hiện công khai thì phải qua hệ thống, phải được nó cho phép: điều này được áp dụng cho cả những lãnh vực hoàn toàn phi chính trị như nhảy sào hay cờ vua. Điều này còn đúng cho cả phái đối lập “được phép”, chủ yếu trong nghệ thuật, mà các chính quyền thời suy mạt đã để cho phát triển: các nhà văn li khai mà không chịu ra nước ngoài sống lưu vong đã phải nếm vị cay đắng sau khi chế độ cộng sản sụp đổ.[12] Bởi thế cũng dễ hiểu tại sao đa số dân chúng đã chấp nhận cuộc sống hiền hòa, lâu lâu buộc phải biểu lộ một cách hình thức sự ủng hộ một chế độ mà, ngoài trừ các em bé học sinh nhỏ tuổi, chẳng còn ai tín nhiệm nữa, thí dụ như đi bỏ phiếu, tuần hành biểu tình, mặc dầu những sự trừng phạt dành cho người li khai không còn đáng sợ cho lắm. Đó một trong những lí do giải thích tại sao người ta cực lực lên án chế độ cũ sau ngày nó sụp đổ, nhất là tại những quốc gia cứng rắn như Tiệp Khắc và CHDC Đức:

Đại đa số tham gia những cuộc bầu cử gian lận để tránh những hậu quả bất lợi, tuy không mấy nặng nề; người ta tham gia vào những cuộc tuần hành bắt buộc. […] Công an rất dễ tuyển mộ những người chỉ điểm thèm muốn những ơn huệ rẻ mạt: bình thường chỉ cần dọa bóng dọa gió một chút và họ nhận lời thôi.”

KOLAKOWSKI, 1992, tr. 51-56

Song chẳng còn ai còn tin tưởng hay trung thành với chế độ nữa, kể cả những người cầm quyền. Đúng là chính quyền cũng bất ngờ khi thấy quần chúng bỗng nhiên rũ bỏ thái độ thụ động để biểu lộ sự bất đồng: tháng 12, 1989, ống kính camera đã ghi rõ sự kinh ngạc của Ceaucescu khi thấy đám đông được triệu tập tới để tung hô ông ta bỗng nhiên lại la ó phản đối. Bất ngờ không phải ở sự li khai, mà ở hành động. Tới giờ phút chân lí, không một chính phủ Đông Âu nào ra lệnh cho lực lượng vũ trang nổ súng. Tất cả đều lặng lẽ thoái vị, trừ trường hợp Romania, nhưng ngay cả ở đây, sự kháng cự cũng rất ngắn. Chẳng thấy những người cộng sản cực đoan ở nước nào vì niềm tin mà tử thủ trong boong-ke, hay đứng ra bảo vệ thành quả của 40 năm chế độ cộng sản, mà tại một vài nước, thành quả ấy không nhỏ chút nào. Bảo họ bảo vệ cái gì đây ? Chẳng lẽ bảo vệ một hệ thống kinh tế mà ai cũng thấy là thua kém các nước láng giềng phương Tây ? Chẳng lẽ bảo vệ những hệ thống đã mất hết sinh khí, rõ ràng là không thể nào cải tổ được, ngay khi người ta đã ra sức cải tổ một cách nghiêm chỉnh và thông minh ? Bảo vệ những hệ thống đã mất tiêu lí do tồn tại, ngay trong con mắt của những cán bộ cộng sản lão thành, là sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa tư bản mà nó có nhiệm vụ thay thế ? Ai còn có thể tin vào điều đó, dù cho vào những năm 1940, thậm chí 1950, đó là điều không nhất thiết là khó tin ? Các quốc gia cộng sản đâu còn đoàn kết với nhau nữa, thậm chí còn đánh nhau (thí dụ như Trung Quốc và Việt Nam đầu thập niên 1980), nên không thể nói tới “phe XHCN” nữa. Có lẽ ngoài Trung Quốc ra, tất cả các chính quyền cộng sản và khá nhiều đảng Cộng sản, nhiều nước và phong trào ở Thế giới thứ Ba đều biết hơn ai hết là họ đã nhờ Liên Xô giữ vai trò đối trọng đối với sự thống soái kinh tế và chiến lược của phe đối địch. Nhưng giờ đây, Liên Xô rõ ràng là đang trút đi gánh nặng chính trị – quân sự mà nó không còn kham nổi. Ngay những nước cộng sản không hề phụ thuộc Moskva (Nam Tư, Albania) cũng nhận ra rằng sự mai một của Liên Xô đã đưa họ vào thế yếu tới mức nào.

Bất luận thế nào, ở châu Âu cũng như ở Liên Xô, thế hệ những người cộng sản có niềm tin như trước đây đã thuộc về quá vãng. Vào năm 1989, trong những người dưới 60 tuổi, hiếm ai đã kết hợp trải nghiệm cộng sản và yêu nước ở nhiều nước, cụ thể là Thế chiến thứ Hai và Kháng chiến. Ngay những người dưới 50 tuổi còn giữ được kỉ niệm cá nhân về thời này cũng hiếm lắm. Đối với tuyệt đại đa số dân chúng, chuyện chính danh của các nhà nước chỉ là văn bia hình thức hay là chuyện “biết rồi khổ lắm nói mãi” của mấy cụ lão thành.[13] Ngoại trừ những người cao tuổi nhất, đảng viên không còn là những người cộng sản theo nghĩa cố hữu nữa: đó là những người, đàn ông và đàn bà (thực ra rất ít đàn bà) muốn thăng quan tiến chức trong những nước cộng sản. Khi thời thế đổi thay, nếu có cơ hội, họ trở cờ một sớm một chiều không chút ngần ngại. Tóm lại, những người cầm đầu các nước chư hầu của Liên Xô đã mất hết niềm tin, đó là giả sử họ đã từng có niềm tin. Ngày nào chế độ còn vận hành, thì họ còn làm chạy guồng máy. Khi Liên Xô trôi giạt không biết về đâu, thì những người cải cách (như ở Ba Lan và Hungary) tìm cách thương lượng quá trình chuyển tiếp hòa bình. Những phần tử cứng rắn, như ở Tiệp Khắc và CHDC Đức, thì không chịu nhúc nhích, cho đến ngày rõ ràng là người dân không chịu nghe lệnh nữa, cho dù quân đội và công an vẫn còn phục tùng. Trong cả hai trường hợp, nhà cầm quyền một khi hiểu rằng thời thế đã xoay vần, đã lẳng lặng rút lui; vô hình trung họ đã phủ nhận những lời tuyên truyền ở phương Tây rằng các chế độ “toàn trị” sẽ không bao giờ chịu như vậy.

Họ đã nhường chỗ, trong một thời gian rất ngắn, cho những người đàn ông và đàn bà (một lần nữa, phải nói là quá ít đàn bà) đã từng hiện thân cho sự bất đồng hay đối lập, đã tổ chức hay, tốt hơn nữa, kêu gọi quần chúng biểu tình thành công, đánh dấu sự thoái vị hòa bình của chế độ cũ. Không kể trường hợp Ba Lan là nơi mà Giáo hội Công giao và các công đoàn hợp thành cột xương sống của lực lượng đối lập, ở các nước khác, đó là một nhóm nhỏ những trí thức – không ít người rất dũng cảm – một đội ngũ bé nhỏ của những người đầu đàn, trong một thời gian ngắn được đưa lên vị trí lãnh đạo nhân dân: nhà sử học liên hệ ngay tới các cuộc cách mạng 1848, vì những nhân vật này thường là giới đại học hay nghệ thuật. Có lúc người ta đã định đưa những nhà triết học bất đồng chính kiến (Hungary) hay những học giả về thời Trung cổ (Ba Lan) lên làm tổng thống hay thủ tướng. Và thực sự là một tác giả kịch, Vaclav Havel, đã làm tổng thống Tiệp Khắc, chung quanh ông là một nhóm cố vấn rất độc đáo, từ một ca sĩ nhạc Rock người Mỹ chuyên gây scandal cho tới một nhà quý tộc dòng Habsburg (hoàng thân Schwarzenberg). Người ta được chứng kiến hằng hà sa số những diễn từ về “xã hội dân sự”, nghĩa là tập hợp những tổ chức tự nguyện của công dân hay những hoạt động tư, thay thế những nhà nước cực quyền,về sự trở lại những nguyên tắc của các cuộc cách mạng trước khi bị chủ nghĩa Bolshevik làm biến dạng.[14] Khốn nỗi, cũng như năm 1848, thời điểm tự do và chân lí ấy kéo dài không lâu. Chính trị và chuyện quốc gia lại rơi vào tay những người thường nắm giữ chức năng ấy. Các thứ “mặt trận” và “phong trào công dân” được thành lập với những mục tiêu cụ thể đều đã sớm nở tối tàn.

Tình hình tương tự đã diễn ra ở Liên Xô, nơi mà sự sụp đổ của đảng và nhà nước diễn ra chậm chạp hơn, kéo dài đến tháng tám 1991. Ngày càng rõ ràng là chính sách perestroika thất bại, và người dân bài bác Gorbachev. Điều này, người ta không ý thức đầy đủ ở phương Tây là nơi Gorbachev vẫn được lòng người và xứng đáng được như vậy. Thành ra quốc trưởng Liên Xô buộc phải tiến hành một loạt manœuvres chính khách, xoay xở liên minh với những nhóm chính trị và quyền lực ra đời trong quá trình “nghị viện hóa” sinh hoạt chính trị Soviet. Điều này khiến cho những phần tử cải cách lúc đầu tập hợp chung quanh Gorbachev – và đã được Gorbachev huy động để thay đổi nhà nước – đâm ra nghi ngờ ông, chẳng khác khối quyền lực đã rạn vỡ của đảng mà Gorbachev đã triệt tiêu quyền bính. Gorbachev sẽ đi vào lịch sử như một nhân vật bi tráng: một “Sa hoàng cộng sản khai phóng”, giống như Alexander II (1855-1881), người đã phá tan cái mà ông muốn cải tổ, và cuối cùng, vị Sa hoàng này đã bị quá trình ấy cuốn đi trong cơn lốc.[15]

Gorbachev là một người khả ái, thành thực, thông minh, thực sự thiết tha với những lí tưởng của chủ nghĩa cộng sản mà ông cho rằng chúng đã bị thoái hóa từ khi Stalin cầm quyền. Điều nghịch lí là tạng con người này phù hợp với việc tổ chức cuộc đời chính trị dân chủ ồn ào mà ông đã khởi xướng, phù hợp với công việc trong một ủy ban hơn là người quyết đoán. Ông quá xa lạ với trải nghiệm của một nước Nga công nghiệp và thành thị (chưa bao giờ Gorbachev lãnh đạo vùng này) để có nhận thức về thực địa của một thủ lãnh đảng. Vấn đề của Gorbachev không phải là thiếu vắng một chiến lược hiệu quả để cải tổ nền kinh tế – chẳng ai đề ra được chiến lược này, sau khi Gorbachev bị hạ bệ cũng thế – mà là không có kinh nghiệm ngày thường của đảng Cộng sản.

Ta có thể rút ra những nhận xét thú vị nếu so sánh Gorbachev với một lãnh đạo cộng sản khác cùng thế hệ hậu chiến (cả hai đều khoảng 50 tuổi). Đó là Nursultan Nazarbayev, năm 1984 thừa hưởng nước Cộng hòa Kazakhstan ở châu Á trong bối cảnh cuộc cải cách. Khởi đầu, Nazarbayev làm việc ở cấp cơ sở trước khi trở thành một nhân vật công cộng toàn thời. Lộ trình này rất giống lộ trình của nhiều người lãnh đạo chính trị ở Liên Xô, nghĩa là rất khác lộ trình của Gorbachev cũng như của hầu hết các nhà lãnh đạo quốc gia ở những nước không cộng sản. Nazarbayev chuyển từ bộ máy đảng sang bộ máy nhà nước, trở thành tổng thống, và vẫn duy trì được vị trí này sau khi Gorbachev mất chức và sau khi đảng của Liên Xô sụp đổ, hai biến cố mà ông không mấy phấn khởi đón nhận. Ông còn là một trong những nhân vật quan trọng của “Cộng đồng các quốc gia độc lập” huyền ảo. Nhưng Nazarbayev là một người thực dụng, tìm mọi cách để tối ưu hóa vị trí của Kazakhstan (và dân chúng Kazakhstan); ra sức cải cách thị trường mà không gây ra rối loạn xã hội. Chấp nhận thị trường, nhưng tuyệt đối không rơi vào nạn giá cả tăng vọt ngoài vòng kiểm soát. Chiến lược tâm đắc nhất của ông là kí kết hiệp định thương mại tay đôi với các nước cộng hòa Soviet (hay cựu Soviet) – Nazarbayev tán thành chủ trương thành lập một thị trường chung Soviet ở Trung Á – và thành lập những liên doanh (joint venture) với các nhà đầu tư nước ngoài. Ông ta cũng không phản đối những nhà kinh tế học “cấp tiến”, bằng chứng là đã đích thân chiêu mộ một vài người từ Nga sang; ông còn chiêu dụng cả những người không cộng sản và mời cả một trong những bộ óc đã tạo ra phép mầu kinh tế Hàn Quốc – điều đó chứng tỏ Nazarbayev biết đánh giá chính xác sự vận hành hiện thực của các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã thành công sau Thế chiến thứ Hai. Con đường tồn vong, và có lẽ cả con đường thành công, được trải bằng những hòn đá cứng rắn của chủ nghĩa hiện thực hơn là bằng những ý đồ tốt đẹp.

Những năm tháng cuối đời của Liên Xô là một tai họa chậm rãi. Sự sụp đổ của các chế độ chư hầu năm 1989 và sự thống nhất nước Đức, mà Moskva miễn cưỡng chấp nhận, đã cho thấy rõ rằng Liên Xô không còn là một cường quốc quốc tế nữa, nói chi đến siêu cường. Tình trạng này càng trở nên hiển nhiên khi Liên Xô bất lực, không giữ được vai trò nào, dù là nhỏ nhoi, trong cuộc khủng hoảng vùng Vịnh Persian. Trên bình diện quốc tế, Liên Xô giống như một nước tan hoang, vừa trải qua một cuộc đại chiến – có điều là chẳng có cuộc chiến tranh nào đã xảy ra. Song đất nước này vẫn còn nguyên vẹn các lực lượng vũ trang và Phức hợp quân sự – công nghiệp của siêu cường trước đó. Tình thế này đặt ra cho nó những hạn chế nghiệt ngã trong đường lối chính trị. Tuy nhiên, mặc dầu sự suy tàn quốc tế đã kích thích xu hướng li khai tại những nước cộng hòa mà chủ nghĩa dân tộc trỗi lên mạnh mẽ, nhất là ở ba nước Baltic và Georgia – Lithuania đã “nhúng chân xuống nước” vào tháng ba 1991 bằng hành động khiêu khích là tuyên bố hoàn toàn độc lập[16] – sự tan rã của Liên bang Soviet không phải là do các lực lượng dân tộc chủ nghĩa.

Nguyên nhân chủ yếu của sự tan rã này là sự tan rã của quyền lực trung ương, khiến cho mỗi vùng, mỗi đơn vị nhỏ của liên bang trước hết phải nghĩ đến mình, đặc biệt là làm sao cứu vãn nền kinh tế, chừng nào hay chừng ấy, để nó không lún sâu vào sự hỗn loạn. Đằng sau những trầm luân của Liên Xô trong hai năm chót, đã hiện ra bóng ma của nạn đói và khánh kiệt. Phần đông xuất thân từ giới đại học đã được thừa hưởng chính sách glasnost, các nhà cải cách bí lối đã sa vào chủ nghĩa cực đoan “tận thế”: không thể làm gì được chừng nào hệ thống cũ và tất cả những hệ lụy của nó chưa bị phá hủy toàn bộ. Về mặt kinh tế, họ chủ trương tận diệt nó bằng cách tư hữu hóa toàn diện và, bằng mọi giá, thiết lập ngay thị trường 100% tự do. Những kế hoạch triệt để đã được đưa ra để thực hiện mục tiêu ấy trong vòng mấy tuần vài tháng (có cả một kế hoạch mang tên “chương trình 500 ngày”). Các chính sách này không hề dựa trên sự hiểu biết cụ thể về thị trường và kinh tế tư bản chủ nghĩa: tuy thế, chúng đã được sự khuyến nghị mạnh mẽ của những nhà kinh tế và chuyên gia Anh – Mỹ ghé thăm Liên Xô, ý kiến của họ hoàn toàn không căn cứ vào sự hiểu biết về thực trạng Soviet. Cả hai nhóm (các nhà cải cách bản địa và các chuyên gia Anh – Mỹ) đều có lí khi họ cho rằng trong hệ thống hiện tồn, hay đúng hơn, chừng nào hệ thống này còn tồn tại, thì nền kinh tế kế hoạch hóa rất thua kém các nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu và doanh nghiệp tư nhân, và hệ thống cũ, dưới dạng thức được sửa đổi đi nữa, không thể tồn tại được nữa. Nhưng không có nhóm nào biết nhìn thẳng vào vấn đề thực chất, là làm thế nào cải biến một nền kinh tế kế hoạch hóa thành một nền kinh tế lấy thị trường làm động lực, dưới dạng này hay dạng kia. Họ chỉ biết nhắc đi nhắc lại những luận chứng trừu tượng về ưu điểm của thị trường mà người ta có thể tìm thấy trong các giáo trình kinh tế học năm thứ nhất. Cứ nghe họ nói, thì chỉ việc trả tự do cho luật chơi cung cầu, thì ngay lập tức các cửa hàng sẽ tràn ứ hàng hóa đủ loại mà người sản xuất không chịu bán ra theo giá cả hiện nay. Chịu khổ quen rồi, đa số người dân Liên Xô biết rõ sự việc không đơn giản như thế. Khi Liên Xô không tồn tại nữa, người ta đã thi hành nhanh gọn liệu pháp sốc ấy mà không mang lại kết quả dự trù. Vả lại, trong số những nhà quan sát nghiêm chỉnh, không ai chờ đợi là đến năm 2000, nhà nước và khu vực công trong nền kinh tế Liên Xô lại thu hẹp tới mức tối thiểu. Các đồ đệ của Friedrich Hayek và của Milton Friedman lại kết án mọi hình thái kinh tế hỗn hợp kiểu này. Họ chẳng có được một ý kiến nào về những phương tiện để quản lí hay cải biến nền kinh tế đó.

Tuy nhiên, khi cuộc khủng hoảng chung cuộc xảy ra, đó không phải là khủng hoảng kinh tế, mà chính trị. Sự sụp đổ toàn bộ của Liên Xô là một ý tưởng không thể chấp nhận được, đối với hầu hết bộ máy quyền thế ở Liên Xô: Đảng, các nhà làm kế hoạch, các nhà khoa học, nhà nước, cũng như quân đội, các cơ quan an ninh hay giới lãnh đạo thể thao. Phải chăng sự tan vỡ này là ý muốn hay sự mường tượng của đa số công dân Soviet (không kể ba nước ven biển Baltic), ít nhất sau năm 1989 ? Thật khó trả lời, nhưng ít có khả năng là có: trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1991, 76% cử tri (dù người ta có thể bảo lưu về giá trị con số này) tán thành việc duy trì Liên Xô dưới hình thái một “Liên bang đổi mới các nước Cộng hòa chủ quyền và bình đẳng, trong đó các quyền và tự do của mỗi người, bất luận quốc tịch, được bảo vệ” (Pravda, 25 tháng giêng 1991). Điều này không nằm trong cương lĩnh của bất cứ một nhân vật đáng kể nào ở Liên Xô. Tuy nhiên, sự giải thể trung ương rõ ràng đã củng cố những thế lực li tâm, làm cho sự tan vỡ trở thành tất yếu, nhất là với chính sách của Boris Yeltsin, mà ngôi sao tiếp tục lên cao trong khi ngôi sao của Gorbachev ngày càng lu mờ. Từ nay, Liên bang chỉ còn là bóng ma: chỉ còn các nước cộng hòa là tồn tại. Cuối tháng tư, Gorbachev, với sự ủng hộ của chín nước cộng hòa lớn,[17] thương lượng đi tới một “Hiệp ước Liên bang”, tương tự như Thỏa hiệp Áo-Hung 1867, nhằm duy trì sự tồn tại của một chính quyền liên bang trung ương (với một tổng thống liên bang được bầu trực tiếp), phụ trách các lực lượng vũ trang, chính sách đối ngoại, phối hợp chính sách tài chính và quan hệ kinh tế với các nước ngoài. Hiệp ước này sẽ được thực thi vào ngày 20 tháng tám.

Đối với đa số thành viên của đảng cũ và của giới quyền bính Soviet, hiệp ước này chỉ là một trong những thứ công thức trên giấy khác của Gorbachev, và cũng chịu chung một số phận hẩm hiu. Cho nên họ coi đó là cái bia mộ của Liên bang. Hai ngày trước ngày hiệu lực của Hiệp ước, hầu hết những nhân vật nặng kí của chính quyền Liên bang – các bộ trưởng quốc phòng, nội vụ, thủ trưởng KGB, phó chủ tịch kiêm thủ tướng Liên Xô và những cột trụ của Đảng – tuyên bố một Hội đồng Khẩn cấp sẽ cầm quyền trong khi chủ tịch kiêm tổng bí thư vắng mặt (sự thật là Gorbachev bị quản chế tại nơi nghỉ hè). Đó cũng chẳng phải là một cuộc đảo chính – ở Moskva không có ai bị bắt, đài phát thanh và truyền hình cũng không hề bị chiếm – mà chỉ là một lời tuyên cáo: cơ chế quyền lực thực sự hoạt động trở lại, với hi vọng được đồng bào hoan nghênh, hay ít ra cũng bình thản chấp nhận việc tái lập trật tự và chính quyền. Mưu toan này thất bại không phải do một cuộc cách mạng hay do nhân dân nổi dậy, vì dân chúng Moskva vẫn yên ắng, và lời kêu gọi đình công phản đối đảo chính không gây ra tiếng vang nào. Như đã thường xảy ra trong lịch sử Liên Xô, tấn bi kịch diễn ra trong nội bộ một nhóm nhỏ ở “trên cao”, nhân dân ở bên dưới quen chịu đựng từ lâu lắm rồi.

Nhưng không hẳn như thế. 30 năm, thậm chí 10 năm trước, chỉ cần đưa ra một tuyên cáo, cho biết quyền lực đang ở tay ai, là thừa đủ. Lần này cũng thế, phần đông các công dân Soviet đã cúi đầu im lặng: 48% dân chúng (theo một cuộc thăm dò ý kiến) và – điều này không lạ lắm – 70% các đảng ủy tán thành cuộc “đảo chính” (Di Leo, 1992, tr. 141, 143 chú thích). Cũng ý nghĩa không kém, khá nhiều chính phủ các nước tin là cuộc đảo chính thành công, tuy họ không nói ra miệng.[18] Nhưng cung cách khẳng định quyền lực trước đây của đảng và nhà nước dựa trên sự ưng thuận toàn bộ và tự động: không bao giờ phải đặt ra vấn đề đong đếm quân số. Song, vào năm 1991, chính quyền trung ương không còn, sự ưng thuận toàn quốc cũng không có nốt. Một cuộc đảo chính thực sự cũng có thể áp đặt được trên phần lớn lãnh thổ và dân chúng Liên Xô; dù nội bộ quân đội và bộ máy công an có chia rẽ lừng khừng tới đâu, cũng có thể tìm ra đủ số đơn vị tin cậy được để bảo đảm cho cuộc đảo chính thành công ở thủ đô. Chứ còn chỉ tuyên cáo thôi không đủ. Gorbachev nói đúng: perestroika đã làm thất bại âm mưu đảo chính vì perestroika đã làm thay đổi xã hội Liên Xô. Nhưng perestroika cũng đã sa thải chính Gorbachev.

Một sự kháng cự có tính chất tượng trưng cũng có khả năng làm thất bại một cuộc đảo chính tượng trưng, bởi vì những người âm mưu đảo chính không sẵn sàng, và có lẽ cùng không muốn gây ra nội chiến. Thật ra, hành vi của họ chính là nhằm ngăn chặn điều mà họ lo ngại: viễn tượng một cuộc nội chiến. Trong khi những định chế mờ ảo của Liên Xô đứng về phía âm mưu, thì những định chế cũng không kém mờ ảo của nước Cộng hòa Nga, mà tổng thống là Boris Yeltsin vừa thắng cử với một đa số to lớn, lại không chịu. Nhóm mưu phản đành chịu thua sau khi Yeltsin, với mấy ngàn người đến trụ sở ủng hộ, cho diễu hành những chiếc xe tăng trước ống kính của truyền hình thế giới. Dũng cảm đấy, nhưng chẳng mấy nguy hiểm. Yeltsin, một người mà tài ba chính trị và cá tính quyết đoán tương phản với phong cách Gorbachev, đã nắm ngay cơ hội thuận lợi để giải tán và trục xuất đảng Cộng sản, và giành luôn toàn bộ tài sản còn lại của Liên Xô cho Cộng hòa Nga. Vài tháng sau, Liên Xô chính thức cáo chung. Gorbachev cũng rơi vào quên lãng. Thế giới lúc đầu coi như sẵn sàng chấp nhận “đảo chính” nay lại càng chấp thuận cú “phản đảo chính” hiệu quả hơn hẳn của Yeltsin, và, ở Liên Hợp Quốc cũng như những nơi khác, đối xử với nước Nga như là người kế thừa tự nhiên của nước Liên Xô đã quá cố. Thế là mưu toan cứu vãn cấu trúc cũ của Liên Xô rốt cuộc đã hủy hoại nó một cách đột ngột và dứt điểm hơn người ta có thể tưởng tượng.

Tuy nhiên, trên bình diện kinh tế cũng như trên bình diện nhà nước và xã hội, chưa có một vấn đề nào được giải quyết. Có mặt, tình hình còn thêm phần nghiêm trọng vì các nước cộng hòa khác bây giờ lại sợ ông “anh cả” là Nga chứ trước đây họ không sợ một Liên Xô “không dân tộc” như thế, nhất là để lấy lòng quân đội – mà hạt nhân vẫn là những người Đại Nga – thì chủ nghĩa dân tộc Nga là con bài tốt nhất Yeltsin có thể sử dụng. Yeltsin đẩy nhanh quá trình phân cách và còn hàm ý phải đàm phán trở lại về đường biên giới giữa các nước cộng hòa. Ngay lập tức, Ukraine đòi độc lập. Lần đầu tiên, dân chúng ở các nước cộng hòa, vốn cam chịu sự áp bức “không thiên vị” của chính quyền trung ương đặt trên đầu mọi người (kể cả người Đại Nga), nay có lí do để lo sợ sẽ bị Moskva áp bức vì quyền lợi của riêng nước Nga. Điều này đã triệt tiêu mọi hi vọng duy trì được cấu trúc Liên bang dù chỉ là vỏ ngoài: cái gọi là “Cộng đồng các quốc gia độc lập” mờ mờ ảo ảo, thay thế cho Liên Xô, đã nhanh chóng mất hết thực chất. Di sản cuối cùng của Liên bang, là đội tuyển quốc gia tham gia Thế vận hội, một đội tuyển gắn bó, thắng trội Hoa Kỳ tại Thế vận hội 1992, xem ra cũng yểu mệnh. Sự cáo chung của Liên Xô cũng đã phá tan thành quả của gần 4 thế kỉ lịch sử Nga, đưa đất nước này trở lại vị trí quốc tế trước triều đại của Peter (Piotr) Đại Đế (1672-1725). Nước Nga thời Sa hoàng cũng như thời Liên Xô, từ giữa thế kỉ XVIII trở đi, là một đại cường quốc. Sự tan rã của nó để lại, trong không gian quốc tế, một khoảng trống to lớn giữa Trieste và Vladivostok. Một khoảng trống chưa từng có trong lịch sử thế giới cận đại, nếu không kể thời gian ngắn, 1918-1920, của cuộc nội chiến: một khu vực mênh mông, hỗn loạn, giao tranh, tai họa tiềm thể. Đó là những vấn đề trong nghị trình của các nhà ngoại giao và các tổng tư lệnh quân đội vào cuối thiên niên kỉ thứ hai.

VI

Để kết thúc cái nhìn “quay một vòng chân trời” này, cần nêu ra hai nhận xét. Nhận xét thứ nhất: sự chế ngự của chủ nghĩa cộng sản xem ra rất hời hợt trên vùng đất mênh mông mà nó đã chinh phục một cách nhanh chóng, nhanh chóng hơn mọi hệ tư tưởng nào khác trong lịch sử, kể từ thế kỉ đầu của Islam. Một thứ kinh kệ Mác-Lê sơ giản đã trở thành giáo điều chính thống (thế tục) của mọi công dân sống từ sông Elbe đến Biển (đông) Trung Hoa, thế mà hôm trước hôm sau đã biến mất, cũng với những chính thể đã áp đặt nó. Để giải thích hiện tượng lịch sử khó hiểu này, có thể gợi ý hai nguyên nhân. Chủ nghĩa cộng sản không phải là thứ tôn giáo mà đại chúng đua nhau đi theo, nó là niềm tin của cán bộ, hay nói như Lenin, của những “đội tiên phong”. Ngay như hình ảnh của Mao, ví von du kích và nhân dân như cá với nước, cũng phân biệt yếu tố chủ động (cá) với yếu tố thụ động (nước). Trong khi các phong trào công nhân và XHCN không chính thức (và cả một số đảng Cộng sản đại chúng) có thể phát triển ra trong toàn cộng đồng hay trong quần chúng cảm tình như các làng thợ mỏ than, thì các đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo, do chọn lựa hay do “định nghĩa”, là những thiểu số “ưu tú”. Việc “quần chúng” đồng tình với chủ nghĩa cộng sản không do lòng tin, về tư tưởng hay gì khác: quần chúng đánh giá cuộc sống dưới chế độ cộng sản và so sánh tình cảnh của họ với tình cảnh người khác. Khi không cô lập được họ nữa, không ngăn cấm được họ tiếp xúc với các nước khác, hiểu biết về nước khác, thì tất nhiên là sự hoài nghi nẩy nở. Phải nói, một lần nữa, chủ nghĩa cộng sản là một niềm tin có tính chất “công cụ”, hiện tại chỉ có giá trị như là một phương tiện để đạt tới một tương lai bất định. Ngoại trừ những trường hợp hiếm hoi – chẳng hạn như trong những cuộc chiến tranh ái quốc, mọi sự hi sinh có thể được biện minh bằng chiến thắng cuối cùng – những niềm tin như vậy thích hợp với những giáo phái hay những nhóm ưu tú hơn là với những giáo hội phổ quát mà trường hoạt động là, và phải là, cuộc sống hàng ngày. Ngay cả cán bộ của các đảng Cộng sản cũng đã bắt đầu chăm lo thu vén những bổng lộc đời thường một khi mà mục tiêu “trận cuối cùng” cứ lùi xa về phía chân trời bất định, mục tiêu mà họ đã sẵn sàng hi sinh cả cuộc đời. Đến khi mà tình trạng này xảy ra, Đảng cũng chẳng hề tìm cách sửa sai. Điều này cũng rất tiêu biểu. Tóm lại, do bản chất của hệ tư tưởng nền tảng, chủ nghĩa cộng sản đòi được phán đoán, đánh giá trên thành tích của nó, và trong trường hợp nó thất bại, thì nó trắng tay, không còn lực lượng dự bị để đối phó.

Mà tại sao nó đã thất bại ? Hay, đúng hơn, tại sao nó đã sụp đổ. Nghịch lí của Liên Xô chính là ở đây: cái chết của Liên Xô xác nhận một cách hùng hồn phân tích của Marx, sự phân tích mà Liên Xô muốn minh chứng bằng sự tồn tại của mình. Marx viết năm 1859 như sau:

Trong quá trình sản xuất xã hội tạo ra cuộc sống của mình, loài người đã lập ra những mối quan hệ nhất định, tất yếu, độc lập với ý chí của mình; các mối quan hệ sản xuất ấy tương ứng với trình độ nhất định trong sự phát triển các lực lượng sản xuất vật chất. […] Tới mức độ nào đó của sự phát triển, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội xung đột với quan hệ sản xuất hiện tồn, hay là với những quan hệ về sở hữu mà cho đến lúc ấy chúng vẫn vận hành trong đó – quan hệ về sở hữu chỉ là biểu hiện pháp lí của quan hệ sản xuất. Hôm qua còn là hình thái phát triển của các lực lượng sản xuất, hôm nay những điều kiện ấy đã biến thành những chướng ngại nặng nề. Thế là bắt đầu một thời đại cách mạng xã hội.[19]

Thật hiếm thấy một ví dụ rõ ràng như vậy, nó minh họa sơ đồ mà Marx vạch ra: những lực lượng sản xuất xung đột với thượng tầng cấu trúc xã hội, định chế và tư tưởng đã biến đổi những nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp tiên tiến tới mức mà lực lượng ấy đã trở thành lực cản sản xuất. Kết quả đầu tiên của “thời đại cách mạng xã hội” này là sự tan rã của hệ thống cũ.

Nhưng nó sẽ được thay thế bằng cái gì ? Ở đây, không còn có thể lạc quan như Marx ở thế kỉ XIX khi ông tin chắc rằng sự lật đổ hệ thống cũ sẽ dẫn tới một cái gì tốt hơn, bởi lẽ “nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra những vấn đề mà mình giải quyết được”. Những vấn đề mà “loài người”, hay, đúng hơn, những người Bolshevik đặt ra vào năm 1917 không thể giải quyết được, hay chỉ có thể giải quyết không đầy đủ, trong hoàn cảnh thời gian và không gian ấy. Còn ngày nay, phải tin tưởng ghê gớm lắm mới có thể hình dung, trong một tương lai tiên liệu được, ra một giải pháp cho những vấn đề nảy sinh từ sự sụp đổ của chế độ cộng sản Soviet, hay có thể khẳng định trong thế hệ mới sẽ hiện rõ nét một giải pháp được coi là cải thiện rõ rệt cuộc sống người dân của Liên Xô cũ và các nước cộng sản cũ ở khu vực Balkan.

Cuộc trải nghiệm “chủ nghĩa xã hội hiện tồn” đã kết thúc với sự sụp đổ của Liên Xô. Bởi vì ngay khi những chế độ cộng sản còn tồn tại, và đã thành công, như ở Trung Quốc, thì họ cũng đã từ bỏ ý tưởng khởi thủy về một nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, do nhà nước lãnh đạo, dựa trên cơ sở một nền kinh tế hoàn toàn tập thể hóa, hoặc hợp tác hóa, hầu như không còn thị trường. Liệu cuộc thử nghiệm này rồi đây sẽ tái diễn hay không ? Nếu có, thì hiển nhiên không phải dưới dạng thức đã thực hiện ở Liên Xô, hay dưới bất cứ dạng thức nào khác, trừ phi nó diễn ra trong điều kiện gần như một nền kinh tế chiến tranh toàn diện hay trong một tình trạng khẩn cấp tương tự.

Nguyên do vì sao, cũng rất rõ ràng. Cuộc thử nghiệm ở Liên Xô không được quan niệm như một giải pháp thay thế cho chủ nghĩa tư bản một cách tổng thể, mà chỉ là một chuỗi những đáp án cụ thể cho tình hình đặc biệt của một đất nước rộng mênh mông và tụt hậu về mọi mặt, trong một tình huống lịch sử đặc biệt, chắc chắn sẽ không lặp lại lần nữa. Sự thất bại của Cách mạng ở các nơi khác đã buộc Liên Xô phải một mình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong một nước không hội đủ điều kiện: năm 1917, mọi người mác-xít, kể cả người Nga, đều thừa nhận như vậy. Nỗ lực để đạt cho được mục đích dầu sao cũng đã mang lại những kết quả xuất sắc – đặc biệt là khả năng đánh thắng Đức trong Thế chiến thứ Hai – nhưng với cái giá phải trả quá lớn và không thể chịu được, về mặt con người, với hệ quả là một nền kinh tế tê liệt và một chế độ chính trị không thể biện bạch (George Plekhanov, “cha đẻ của chủ nghĩa Marx ở Nga”, đã chẳng tiên đoán là Cách mạng tháng Mười giỏi lắm cũng sẽ chỉ đi tới một “Đế chế Trung Hoa sơn đỏ” đó sao ?). Các chế độ XHCN “hiện tồn” khác, ra đời trong vòng tay của Liên Xô, cũng có chung những tật nguyền nhưng ở một mức độ nhẹ hơn – so với Liên Xô – và những đau khổ không lớn như ở Liên Xô. Đổi mới hay làm lại mô hình chủ nghĩa xã hội là điều không thể và không nên, và cũng không cần thiết, giả dụ là có đầy đủ điều kiện thuận lợi để thử nghiệm.

Trong chừng mực nào, sự phá sản của trải nghiệm Soviet đã tạo ra sự hoài nghi đối với toàn bộ dự phóng của chủ nghĩa xã hội truyền thống, với một nền kinh tế cơ bản dựa trên quyền sở hữu xã hội và quản lí kế hoạch hóa trên các phương tiện sản xuất, phân phối và trao đổi ? Đây lại là vấn đề hoàn toàn khác. Dự phóng đó, trên lí thuyết, là một dự phóng hợp lí về mặt kinh tế, điều đó có những nhà kinh tế học đã thừa nhận từ trước Thế chiến thứ Nhất, cho dù, một điều cũng đáng ngạc nhiên, lí thuyết này là công trình của những nhà kinh tế học thuần túy, không có xu hướng XHCN, chứ không phải là tác phẩm của những người XHCN. Một điều cũng hiển nhiên không kém là nó cũng chứa đựng những bất tiện về mặt thực tiễn (chỉ cần nói tới nạn quan liêu). Và dứt khoát là nền kinh tế ấy phần nào cũng phải dựa trên giá cả – được quy định bởi thị trường và đồng thời trên cơ sở “giá cả kế toán” hiện thực – nếu ta muốn chủ nghĩa xã hội phải coi trọng ý muốn của người tiêu dùng, chứ không chỉ tay năm ngón cho họ biết cái gì tốt cái gì xấu đối với họ. Thật ra, các nhà kinh tế XHCN ở phương Tây suy nghĩ về các vấn đề này trong thập niên 1930 – lúc đó vấn đề này đã được thảo luận rất sâu đã tưởng tượng ra một sự kết hợp giữa kế hoạch hóa (phi tập trung là tốt hơn cả) và giá cả. Nhưng chứng minh tính khả thi của loại hình chủ nghĩa xã hội như vậy tất nhiên không có nghĩa là chứng minh rằng nó tất yếu ưu việt hơn một chế độ khác, thí dụ như một biến tướng của kinh tế hỗn hợp, mang tính công bằng xã hội, của Thời đại Hoàng kim. Và càng không chứng minh được rằng nó sẽ được dân chúng ưa chuộng hơn. Điều vừa trình bày cốt yếu là để tách bạch vấn đề chủ nghĩa xã hội nói chung ra khỏi vấn đề trải nghiệm của “chủ nghĩa xã hội hiện tồn”. Thất bại của chủ nghĩa xã hội Liên Xô không liên quan gì tới khả năng xây dựng những mô thức khác của chủ nghĩa xã hội. Thật ra, việc các nền kinh tế kế hoạch hóa và tập trung theo kiểu Soviet không tài nào tự cải tổ và tự biến đổi thành “chủ nghĩa xã hội thị trường” càng nêu rõ hố sâu ngăn cách hai hình thái phát triển.

Thảm kịch của Cách mạng tháng Mười chính là ở chỗ nó đã chỉ có thể sản sinh ra một thứ chủ nghĩa xã hội cực quyền, nghiệt ngã và thô bạo. Oskar Lange, một trong những nhà kinh tế học XHCN tinh tế nhất ở cuối thập niên 1930, đã rời Hoa Kỳ để về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở cố hương Ba Lan trước khi tạ thế tại một bệnh viện London. Trên giường trọng bệnh, ông có dịp chuyện trò với bè bạn và những người ngưỡng mộ (trong đó có tôi) vào thăm. Tôi còn ghi nhớ lời ông:

Nếu tôi sống ở Nga trong những năm 1920, chắc tôi cũng chủ trương tiệm tiến theo kiểu Bukharin. Nếu tôi được quyền tham gia quyết định về công cuộc công nghiệp hóa Liên Xô, chắc tôi sẽ đề nghị một loạt mục tiêu mềm dẻo hơn, hạn chế hơn, cũng giống như những nhà dựng kế hoạch có kinh nghiệm của nước Nga. Song bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn không ngừng tự hỏi: có giải pháp nào khác hơn là chạy lên phía trước theo đủ mọi hướng, một cách thô bạo và thực chất là chắng kế hoạch hóa gì hết của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ? Tôi cũng mong có thể trả lời là “có”, nhưng thú thực là tôi không thể. Tôi không có câu trả lời.»


[1] Thành tích trí tuệ và khoa học của nước Nga từ khoảng năm 1830 đến 1930 thật sự là xuất sắc: nhờ đó nhân loại đã thừa hưởng những cải tiến kĩ thuật nổi bật, nhưng tình trạng lạc hậu của nước Nga lại không phát huy được những phát minh ấy về mặt kinh tế. Vả lại, việc một vài người Nga nổi tiếng khắp thế giới càng làm lộ rõ sự thua kém về toàn bộ của Liên Xô so với phương Tây.

[2] Xem bài “Hải Thụy mắng vua” trên Nhân Dân Nhật Báo năm 1959. Năm 1960, tác giả bài báo là Ngô Hàm đã soạn một vở Kinh kịch “Hải Thụy bãi quan”. Vài năm sau, lấy cớ đánh vở Kinh kịch này, người ta đã phát động “Cách mạng văn hóa” (Leys, 1977, tr. 30, 34).

[3] Theo thống kê chính thức của Trung Quốc, năm 1959, dân số Trung Hoa là 672,07 triệu người. Tính theo nhịp độ tăng trưởng dân số tự nhiên của thời gian 7 năm trước đó, ít nhất là 20‰ (thực ra, trung bình những năm này là 21,7‰), thì năm 1961, dân số Trung Quốc phải lên tới 699 triệu người. Nhưng dân số thực chỉ có 658,59 triệu người, tức là ít đi 40 triệu người so với dự tính (China Statistics, 1989, bảng T 3.1 và T 3.2).

[4] Năm 1970, các “cơ sở đào tạo đại học” toàn quốc đón nhận 48.000 sinh viên; các trường kĩ thuật 23.000 (năm 1969); các trường sư phạm 15.000 (1969). Năm 1970, tổng cộng có 4.600 sinh viên bắt đầu học đại học trong các bộ môn khoa học tự nhiên, 90 khoa học xã hội. Dân số Trung Quốc lúc đó là 830 triệu ( China Statistics, bảng T 17.4, T 17.8, T 17.10)

[5] Trong con mắt của những người trách nhiệm về đường lối kinh tế thời ấy, dường như thị trường Liên Xô là vô hạn và Liên Xô có thể bảo đảm khối lượng năng lượng và nguyên liệu cung cấp cần thiết cho sự tăng trưởng kinh tế đều đặn và bền vững” (D. Rosati và K. Mizsei, 1989, tr. 10)

[6] Có lẽ bộ phận kém phát triển của bán đảo Balkan – Albania, nam Nam Tư, Bulgaria – là một biệt lệ, vì trong cuộc bầu cử đa đảng sau 1989 tại đây, cộng sản vẫn thắng cử. Tuy nhiên, chẳng mấy lúc, những khuyết nhược của chế độ này cũng đã lộ rõ.

[7] Ngay trước khi được chính thức bầu làm tổng bí thư, Gorbachev đã công khai trình bày lập trường hết sức “rộng rãi” và hầu như là Xã hội – Dân chủ, tương tự như lập trường của ĐCS Italia (Montagni, 1989, tr. 85)

[8] Những văn bản quan trọng nhất là của Janos Kornai, người Hung, trong đó phải kể The Economics of Shortage/Kinh tế học của sự thiếu hụt (Amsterdam, 1980).

[9] Điều thú vị là có sự giao thoa giữa các nhà cải cách chính thức và các nhà li khai của thời Brejnev: glasnost là yêu cầu mà nhà văn Alexander Solzhenitsyn đã nêu ra từ năm 1967 trong thư gửi gửi Đại hội của Liên hiệp các nhà văn Liên Xô trước khi ông bị trục xuất khỏi Liên Xô.

[10] Như một quan chức cộng sản Trung Quốc năm 1984 đã nói với tác giả trong quá trình một cuộc “tái cấu trúc” tương tự đang tiến hành: “Chúng tôi du nhập trở lại những yếu tố tư bản chủ nghĩa vào hệ thống, nhưng làm sao biết được là chúng sẽ đưa chúng tôi tới đâu ? Từ năm 1949 đến nay, ở Trung Quốc chẳng còn ai, ngoại trừ vài ba ông già ở Thượng Hải, đã trải nghiệm chủ nghĩa tư bản là như thế nào”.

[11][11] Ngoài RSFSR (Liên bang Nga) là nước cộng hòa rộng lớn nhất và đông dân nhất, còn có Armenia, Azerbaijan, Byelorussia, Estonia, Georgia, Kazakhstan, Kyrghyzstan, Latvia, Lithuania, Moldavia, Tadjikistan, Turkmenistan, Ukraine va Uzbekistan.

[12] Ngay một người chống cộng hăng say như Alexander Solzhenitsyn cũng đã bắt đầu sự nghiệp nhà văn của mình thông qua hệ thống: chế độ lúc đó, vì mục đích cải tổ, đã cho phép hoặc khuyến khích những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông.

[13] Đương nhiên tình hình những nước cộng sản ở thế giới thứ ba, ví dụ như Việt Nam, thì khác hẳn, vì tại đây, cuộc chiến tranh giải phóng đã kéo dài đến những năm 1970. Nhưng tâm tư con người lại khắc sâu những kí ức chia cách trong cuộc chiến tranh giải phóng.

[14] Tác giả nhớ lại một cuộc thảo luận nhân một hội nghị năm 1991 ở Washington, trong đó đại sứ Tây Ban Nha tại Hoa Kỳ đã đặt sự việc vào đúng tỉ lệ của chúng. Ông nhớ lại tâm trạng của những sinh viên và cựu sinh viên (chủ yếu thời đó là những người cộng sản tự do) năm 1975 khi Franco mới chết, đại khái cũng giống như tâm trạng người Tiệp Khắc. Theo ông, “xã hội dân sự” có nghĩa là những nhà tư tưởng trẻ tuổi – lúc đó nói lên tiếng nói của toàn dân – có xu hướng cho rằng tình trạng này sẽ kéo dài một cách thường trực.

[15] Alexander II đã giải phóng nông nô và phát động một số cuộc cải cách khác, nhưng cuối cùng đã bị ám sát bởi những phần tử thuộc phong trào cách mạng. Phong trào này, lần đầu tiên, trở thành một lực lượng thực sự là dưới thời Alexander II.

[16] Chủ nghĩa dân tộc Armenia đã gây ra sự sụp đổ của Liên bang khi nó muốn giành vùng đất Karabakh trong tay Azerbaijan, nhưng cũng không quá mức đến độ mong muốn Liên Xô biến mất, bởi nếu không có Liên Xô thì đã không có Armenia.

[17] Nghĩa là toàn bộ các nước Cộng hòa nằm trong Liên bang Soviet, ngoại trừ ba nước Baltic, Moldavia, Georgia, và vì những lí do khó hiểu, Kyrghyzstan.

[18] Ngay ngày đầu của cuộc đảo chính, bản tóm tắt tin tức chính thức của chính phủ Phần Lan đưa tin ngắn, nửa dưới trang 3 (bản tin có 4 trang), nói Chủ tịch Gorbachev bị bắt giam mà không bình luận. Phải đợi đến khi âm mưu lật đổ rõ ràng đã thất bại, bản tin mới đưa ra ý kiến.

[19] Dịch từ bản tiếng Pháp: Karl Marx, Critique de l’économie politique (Phê phán kinh tế học chính trị), trong Œuvres, Economie, vol. I, éd. M. Rubel, Paris, Gallimard, 1965, tr. 272-273.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s