Người Ai Cập cổ đại- Phần 4

THE ANCIENT EGYPTIAN

Charlotte Booth

Trần Quang Nghĩa dịch

Phần 4

Giải Thích Nghệ Thuật và Kiến Trúc Ai Cập

            Trong phần này . . .

Các nhà Ai cập học may mắn vì có quá nhiều văn bản, lăng mộ, và đền thờ còn sống sót, cung cấp một cái nhìn tròn vẹn về văn hóa cổ Ai cập. Đột phá chủ yếu trong môn Ai cập học là sự giải mã chữ tượng hình vào đầu thế kỷ 19. Trước thời điểm này, các nhà khảo cổ chỉ có thể chiêm ngưỡng trầm trồ mà không nhìn được thấu đáo văn hóa và tín ngưỡng của Ai cập.

Các đài tưởng niệm của cổ Ai cập liên hệ mật thiết vói tôn giáo, và tất cả thành phần kiến trúc của một ngôi đền đều có một mục đích. Tuy nhiên, sự phát triển của các ngôi mộ từ những huyệt đào trong đất đến kim tự tháp, và trở lại huyệt lần nữa là do tính an toàn nhiều hơn là tôn giáo. Khi các nhà mồ càng bí mật hơn chúng càng trở nên tinh tế và sắc sảo hơn, như một bù trừ. Phần này sẽ đưa bạn đến đó.    

Chương 11

 Giải Mã Nghệ Thuật và Chữ Tượng Hình Ai Cập

 Trong Chương Này

  • Gặp gỡ các nghệ sỹ
  • Thiết kế những tác phẩm lớn
  • Làm việc theo nhóm
  • Tìm hiểu các quy tắc nghệ thuật
  • Làm việc hai và ba kích thước
  • Đọc ngôn ngữ cổ

Nghệ thuật Ai Cập __ bao gồm chữ tượng hình, là những hình vẽ biểu thị mẫu tự, âm thanh, ý tưởng, và vật thể __ là đặc biệt và trông khác lạ đối với mắt người thường. Tuy nhiên, sau khi bạn bắt đầu hiểu các tiêu chuẩn đằng sau các hình vẽ ấy, những hình ảnh cổ xưa này bắt đầu nói lên và cung cấp cho bạn hàng khối thông tin về nơi chốn, sự kiện, và con người được thể hiện, bao gồm tuổi tác, thứ bậc, nghề nghiệp, và vai vế của họ.

Nghệ thuật Ai Cập sống còn được chủ yếu là sự làm đẹp các lăng mộ, đền thờ và các vật thể thẩm mỹ và hữu dụng. Xem Chương 12 để biết nhiều hơn về việc trang hoàng đền thờ và Chương 13 về việc trang hoàng lăng mộ.

Chương này sẽ chỉ cho bạn cách thức gỡ rối cẩn thận những tiêu chuẩn dựa vào hình vẽ và phát giác các bí ẩn của nghệ thuật Ai Cập.

Nhận Diện các Nghệ Sỹ

Các nghệ sỹ Ai Cập được đào tạo bài bản, và phải được huấn luyện về các quy ước của nghệ thuật Ai Cập, khiến cho các hình vẽ trên toàn xứ Ai Cập đều giống nhau.

Việc đào tạo này được tiến hành theo kiểu vừa học vừa làm, và như mọi nghề nghiệp Ai Cập, nó được cha truyền con nối, bắt đầu ngay từ lúc còn nhỏ. Trước tiên người học việc thực tập vẽ và chạm khắc trên ostraca __ những mảnh bình vỡ và đá vôi được sử dụng như giấy nháp. Thầy dạy sẽ chỉnh sửa những bức vẽ phác này bằng mực màu khác. Nhiều mẫu còn sót lại cho thấy những lỗi trò phạm và nét sửa của thầy.

Làm theo nhóm

Không giống như nghệ thuật của nhiều nền văn minh, nghệ thuật Ai Cập không thể được giao phó cho một người đặc biệt, đó là quy ước nghệ thuật nghiêm nhặt vào thời ấy.

Nói vậy, nhưng các ghi chép khảo cổ đã cung cấp tên các nghệ sỹ đã sống ở Deir el Medina và làm việc trong các lăng mộ hoàng gia. Buồn thay, mặc dù các sử gia biết được tên các nghệ sỹ và tên các lăng mộ họ đang xây dựng, tất cả các công trình nghệ thuật được thực hiện bởi các nhóm thợ gắn bó nhau, do đó các công trình đó không thể quy cho một cá nhân. Theo quan điểm ngày nay, những quy ước nghiêm nhặt của sự nặc danh và văn hóa có thể gây thất vọng cho người nghệ sỹ vì họ không có cách gì biểu lộ cá tính của mình.

Mỗi nhóm thợ gồn khoảng 30 người, bao gồm một số thợ thủ công khác nhau:

  • Thợ cả thiết kế bố cục gốc và kiểm tra và điều chỉnh việc thi công của thành viên trong nhóm
  • Thợ trát vữa chuẩn bị tường mộ cho tranh vẽ.
  • Thợ đá chuẩn bị tường cho hình chạm khắc.
  • Thợ vẽ đường bao vẽ các đường bao cho tranh vẽ và hình chạm khắc.
  • Thợ điêu khắc chạm khắc các đường bao cho hình chạm khắc
  • Họa sỹ sơn vẽ các hình cho cả tranh màu và hình điêu khắc

Tất cả thợ trong một nhóm đều cùng làm việc một lúc trên một công đoạn của dây chuyền sản xuất.

Sau khi thợ trát vữa đã chuẩn bị xong một diện tích tường, thợ vẽ đường bao vẽ phác hoạ hình và thợ trát vữa di chuyển đến một khu vực khác trên tường. Ngay sau khi thợ vẽ đường bao đã hoàn tất một phần, thợ điêu khắc sẽ bắt đầu phần việc của họ và thợ vẽ đường  bao sẽ di chuyển đến khu vực xa hơn.

Toàn bộ tiến trình được tính toán sao cho mỗi người làm được nhiều việc như có thể trong một thời gian ngắn nhất. Tiến trình được thực hiện chủ yếu trên những bức vẽ lớn từ một mét vuông đến mười mét vuông. Người thợ cả phải chuẩn bị toàn bộ công trình trước.

Theo đúng thiết kế gốc

Mặc dù các nghệ sỹ đều có tay nghề trong những đặc tính khác nhau của phong cách nghệ thuật Ai Cập, một hệ thống mạng lưới được đưa vào nhằm bảo đảm các sản phẩm nghệ thuật phải theo đúng tỷ lệ và kích cỡ trong toàn bộ lăng mộ hoặc đền thờ. Hệ thống mạng lưới này được sử dụng cho tranh vẽ lẫn tranh chạm khắc.

Tất cả bố cục đều được phác họa trên giấy cói và được sao chép và phóng đại trên tường của lăng mộ hoặc đền thờ. Các thợ vẽ sử dụng mạng lưới có trong các hình vẽ của thiết kế gốc để sao chép và phóng to lên tường để vẽ lại.

Các thợ vẽ tạo ra mạng lưới lên tường bằng cách nhúng các sợi dây vào mực đỏ, kéo căng dây qua bề mặt tường, rồi buông tay cho dây bắn vào mặt tường để tạo ra một đường thẳng đỏ. Việc này được lặp lại nhiều lần, ta sẽ được những đường ngang và dọc, dệt thành mạng lưới. Những đường này sẽ biến mất khi đá được chạm khắc hoặc được sơn vẽ lên.

Trang Bị cho Họa Sỹ

Những di vật sống động của nghệ thuật Ai Cập dưới hình thức lăng mộ, đền thờ, và các tượng chạm nổi càng đáng nể hơn khi bạn xem xét số dụng cụ giới hạn được sử dụng vào thời đó.

Cọ sơn thì hoặc là một bó cành cây nhỏ, hoặc một bó lau sậy, được dập nát ở một đầu cho nó tưa ra như đầu cọ vẽ.

Sơn thì được pha trộn bằng tay và một số phẩm màu được nhập cảng, khiến cho màu sơn rất đắt đỏ. Ngạc nhiên thay, nhiều màu vẫn còn sống động một cách đáng kinh ngạc cho dù đã được sơn cách đây hơn 3,000 năm.

Qua phân tích hóa học, các nhà nghiên cứu có thể nhận diện được các khoáng chất dùng để tạo ra sơn:

  • Đỏ được làm từ đất đỏ hoặc oxit sắt, cả hai đều là nguyên liệu của Ai Cập.
  • Xanh trời được làm từ azurit, một loại các-bo-nat đồng được tìm thấy ở Sinai và phía đông sa mạc. Màu sắc cũng được chế tạo từ sự phối hợp giữa silica, đồng, và đá vôi.
  • Vàng được làm từ đất vàng, oxit sắt, hoặc sulfit ar-sơ-nic; tất cả đều có ở Ai Cập.
  • Xanh lá được làm từ malachit ở Sinai. Có khi nó được chế tạo bằng cách pha trộn giữa thủy tinh xanh và vàng thổ, cả hai chất này đều có ở Ai Cập.
  • Đen được làm từ muội than, bồ hóng, than, hoặc cây đuôi cong, tất cả đều có sẵn ở Ai Cập.
  • Trắng được chế tạo từ thạch cao, vôi, hoặc các-bô-nát calcium, tất cả đều xuất xứ ở Ai Cập.
  • Nâu được tạo ra bằng cách sơn đỏ lên đen.

Đèn, dùng để chiếu sáng hầm mộ trong khi làm việc, cũng là yếu tố quan trọng. Những đĩa dầu được gắn bấc bằng vải lanh là loại đèn thường dùng. Vì loại đèn này tỏa ra rất nhiều khói, một số lăng mộ chưa hoàn tất cho thấy những muội khói đen bám trên trần __ lăng mộ có ám muội khói nổi tiếng nhất là lăng mộ của Tutankhamun.

Hình Dung Nghệ Thuật Ai Cập

Nghệ thuật Ai Cập không phải là một ảnh chụp. Khi xem xét nghệ thuật Ai Cập, các khán giả ngày nay phải nhớ rằng người Ai Cập hiếm khi ghi chép ‘sự thật’ __ một sự mô tả hiện thực của một vật thể hoặc một người.

Mặc dù các hình ảnh không hề được xem như một ảnh chân dung hoặc một ảnh nghệ thuật, mỗi phần tử của một bố cục được thiết kế để kể cho bạn một điều gì đó về con người, sự kiện, hoặc nghi lễ. Khái niệm này giải thích sự thiếu xót về luật phối cảnh và tính 3-D của nghệ thuật Ai Cập, cũng như phong cách biểu diễn hơi kỳ cục (ít nhất là với mắt chúng ta) về người, thú, và thần linh.

Mọi thứ trong nghệ thuật cổ Ai Cập được trình bày dưới góc nhìn dễ nhận dạng nhất, trong một nỗ lực giản lược mọi thứ mơ hồ. Tuy vậy, các nhà Ai Cập học ngày nay không phải là những khán giả được mong đợi cho những tác phẩm cổ này, vì thế một sự hiểu biết một số qui ước cơ bản là điều cần thiết để bắt đầu giải mã hình ảnh.

Những phần sau đây khám phá một số qui ước cơ bản trong nghệ thuật Ai Cập.

Đùa nghịch với cái nhìn

Để hiểu rõ một vật thể, bạn thường phải ngắm nhìn nó dưới các góc nhìn khác nhau, kể cả góc nhìn của chim (từ trên cao nhìn xuống), cách nhìn trực diện, và nhìn nghiêng. Dẫn dắt bởi qui ước, các nghệ sỹ Ai Cập sử dụng một cách nhất quán một số cách nhìn về một vật thể nào đó trong nghệ thuật của mình và đôi khi trình bày nhiều hơn một góc nhìn vật thể trong một hình vẽ duy nhất.

Chẳng hạn:

  • Một bình chứa thường được trình bày với phần chứa bên trong trên nắp, cho dù phần chứa bên trong được niêm kín.
  • Ghế được vẽ nghiêng thấy được hai chân, và chỗ ngồi được vẽ từ góc nhìn từ trên xuống. Nếu có ai đó ngồi trên ghế, nệm ghế được trải qua chỗ ngồi và vắt qua lưng ghế.
  • Giày và thạch bảng luôn được biểu thị từ góc nhìn của chim (từ trên xuống) để cho ta nhìn thấy vật thể rõ nhất.
  • Trong cảnh sân vườn, một hồ cá được nhìn từ trên xuống, trong khi cây cối chung quanh được nhìn trực diện, cho ta cảm giác chúng như nằm bẹp trên mặt đất. Các vật trong hồ, như cá, thuyền, hoặc người được vẽ phía trên mặt nước và nước không có chiều sâu.

Tạo thành một hàng thứ tự

Người cổ Ai Cập là dân tộc rất có tổ chức, và tác phẩm nghệ thuật của họ phản ánh điều này.

Tất cả tác phẩm Ai Cập được chia thành một chuỗi các quãng và cuối cùng là những cảnh hoặc hình người lớn hơn:

  • Mỗi quãng được ngăn cách bằng một đường đáy, mà đôi khi biểu thị mặt đất cho những hình người vẽ trong quãng ấy (hình dưới).
  • Những hình người lớn hơn (thường là của chủ nhân lăng mộ hay các vì vua và thần linh) thường chiếm đoạn cuối của tranh tường, bao phủ bốn hay năm quãng. Những hình người, đến một mức độ nào đó, đang nhìn bao quát những cảnh tượng nhỏ hơn.

Mặc dù nhiều cảnh lăng mộ và đền thờ trông như một đoạn phim khô hài, những cảnh nối tiếp nhau không cần thiết phải theo thứ tự thời gian. Bố cục được dàn dựng trước, nhưng những cảnh riêng rẻ thì thường được di chuyển để lấp đầy không gian trống. Do đó một thợ cả có thể sắp đặt một cảnh ngắn trên một bức tường ngắn để dành bức tường lớn hơn cho những cảnh lớn hơn, bất chấp thứ tự thời gian của câu chuyện. (Việc thiếu tính liên tục này có thể thực gây bối rối đối với những cảnh mô tả chuyến đi 12 giờ của thần mặt trời, chẳng hạn, vì giờ 1 không nhất thiết phải ngay sát cảnh giờ 2!)

Hơn nữa, các quãng không nhất thiết kết nối với cảnh lớn hơn trong bố cục, và thật ra các quãng và các cảnh có thể hoàn toàn không có mối liên hệ gì hết trong không gian và thời gian. Tuy vậy, các quãng và cảnh điển hình liên kết nhau bằng một chủ đề chung: cúng bái, săn bắn, chiến chinh, vân vân.

Những qui ước khác liên hệ đến quãng gồm:

  • Đi theo hàng. Bàn chân của mọi người Ai Cập điển hỉnh là nằm trên cùng một đường đáy và hướng theo một chiều, cho dù khi vẽ nhiều người. Người Ai Cập biểu thị văn hóa trật tự, có tổ chức của họ qua qui ước này.
  • Người nước ngoài lộn xộn. Bất cứ người nào ở ngoài biên giới Ai Cập đều được thể hiện một cách lộn xộn, không có hàng lối nào hết.
  • Vùng miền hoang dã. Bất cứ vùng nào không ở trong xứ Ai Cập __ như một sa mạc hoặc một xứ ngoại quốc __ được biểu thị qua cách sử dụng những đường đáy dợn sóng.

Biểu diễn gương mặt người   

Người cổ Ai Cập mô tả guong mặt người theo một phạm trù hình vẽ riêng, mà con mắt thời nay cho là kỳ cục.

Bạn chắc hẳn đã nhìn thấy hình vẽ ‘lối đi Ai Cập’ __ những hình người một tay trước đưa cao ngang đầu và tay kia đánh ra sau ngang eo. Mặc dù trông khôi hài, hình ảnh này không thực sự tồn tại ở đâu cả trong nghệ thuật Ai Cập; các họa sỹ ngày nay chỉ đơn giản phát triển nó qua hàng năm trời như một cách thử nghiệm biểu thị phối cảnh bất thường về hình người của cổ Ai Cập.

Các họa sỹ cổ Ai Cập mô tả thân thể con người theo cùng kiểu như các vật khác (xem ‘Đùa nghịch với cái nhìn’ ở phần trước chương này). Hình người là một tổ hợp của những bộ phận cơ thể ráp lại từ những góc nhìn dễ nhận ra nhất của họ. Vì lý do đó, hình người được vẽ trên tường lăng mộ và những tiết mục trang trí đứng ở vị trí không thể được đối với người thật __ nếu không làm trật nửa tá  khớp xương! (xem Hình 11-1.)

1

Hình 11-1

Điển hình, hình người trong nghệ thuật Ai Cập bao gồm:

  • Đầu nhìn nghiêng, nhưng mắt, chân mày thì nhìn trực diện.
  • Vai được biểu thị trực diện nhưng núm vú hoặc bộ ngực (nếu là phụ nữ) thì nhìn nghiêng.
  • Eo, khuỷu tay, chân, và bàn chân nhìn nghiêng; theo truyền thống phải vẽ cả hai bàn chân từ bên trong với một ngón duy nhất, thường là ngón cái, mặc dù từ thời Tân Vương quốc một số hình ảnh cho thấy cả năm ngón trên cả hai bàn chân.
  • Bàn tay thường thấy được toàn bộ, hoặc mở ra (từ đằng sau cho thấy móng tay) hoặc nắm chẳ (từ đằng trước cho thấy lóng tay).

  Mặc dù các hình phẳng vẽ người Ai Cập có thể trông hơi kỳ cục đối với chúng ta (với bàn tay trên cánh tay sai và bàn chân trên cái chân sai), nhiều hình vẽ cho thấy hệ cơ bắp đàng hoàng, còn các tượng phô diễn tài năng nghệ thuật đáng kinh ngạc của người Ai Cập.

2

Mặc dù các hình phẳng vẽ người Ai Cập có thể trông hơi kỳ cục đối với chúng ta (với bàn tay trên cánh tay sai và bàn chân trên cái chân sai), nhiều hình vẽ cho thấy hệ cơ bắp đàng hoàng, còn các tượng phô diễn tài năng nghệ thuật đáng kinh ngạc của người Ai Cập.

Mô tả tuổi thanh xuân vĩnh hằng

Hầu hết tranh vẽ cổ Ai Cập đều mô tả người ở tuổi sung sức nhất __ thanh xuân và cường tráng. Ngay cả cho dù những cá nhân đó thực sự đã già khi được mô tả (như Ramses II đã hơn 90 tuổi khi băng hà) cũng được vẽ như thanh niên 20 tuổi.

Việc mô tả con người của nghệ nhân cổ Ai Cập được thiết kế để mãi mãi trường tồn trên lăng mộ hay đền thờ cùng với những vật thể trang trí khác. Ai muốn hình vẽ mình đầy mục và tàn nhang cơ chứ? Con người muốn được nhớ lúc mình đang ở phong độ cao nhất, và người Ai Cậpập không khác.

Một số lăng mộ ở Deir el Medina cho thấy những người thân thích già nua, tóc muối tiêu hoặc bạc trắng. Đồng ý, da và cơ thể của họ không cho thấy sự tàn phá của thời gian,  nhưng tóc họ đã nói lên tuối tác của mình.

Lứa tuổi duy nhất dễ dàng nhận diện trong nghệ thuật Ai Cập là lứa tuổi trước dậy thì. Trẻ Ai Cập dưới tuổi này được mô tả với đầu cạo trọc hoàn toàn và một lọn tóc rũ xuống ở phía phải đầu. (Khi đến tuổi dậy thì __ khoảng giữa 10 và 15 tuổi __ lọn tóc này được cạo sạch như một nghi thức bước qua tuổi dậy thì.) Ngay cả trong các trẻ em trước tuổi dậy thì, bạn có thể phân chúng thành trẻ thơ (dưới 7 tuổi) và trẻ em (trên 7 tuổi và chưa đến dậy thì). Trẻ nít thì được vẽ trần truồng, trong khi trẻ em thì được vẽ có mặc quần áo.

Tô màu thế giới của họ

Khi mô tả con người, các nghệ nhân bám sát những qui ước về màu sắc khác nhau để nhận diện được sắc tộc của một cá nhân.

  • Đàn ông Ai Cập có da nâu đỏ, trong phụ nữ Ai Cập thường có nước da vàng.
  • Người từ vùng Nubia (Sudan ngày nay), nằm dưới quyền kiểm soát của Ai Cập __ có nước da nâu tối hoặc đen và tóc quăn, ngắn.
  • Người Cận Đông (từ những vùng hiện giờ là Israel, Lebanon, và Syria), có nước da vàng và tóc hình nấm, ngang vai, và đen.
  • Người Lybia (các bộ lạc du mục từ sa mạc phía tây) đôi khi cho thấy nước da đẹp, mắt xanh, và tóc đỏ, hoặc có lọn tóc chỉn chu rũ xuống một bên đầu.

Nếu một đám đông người có cùng chủng tộc đứng gần nhau, các nghệ nhân thay đổi sắc độ màu da từ tối hơn đến sáng hơn để da của hai người đứng cạnh nhau không có cùng sắc độ.

Xem xét phong cách

Người Ai Cập cũng chỉ được mô tả mặc y phục trắng trừ các thầy tu chức cao thì mặc áo khoác da beo.

Ngoài sự khác nhau về màu vẽ, những ngoại nhân dễ dàng phân biệt với người Ai Cập bằng phong cách ăn mặc của họ.

  • Người Nubia đeo bông tai vàng và khăn quấn hông làm bằng da bò, da hưu cao cổ, hay da báo.
  • Người Syria có tóc ngang vai có khăn quấn quanh trán. Áo khoác dài của họ màu trắng có viền đỏ.
  • Người Lybia có kiểu tóc kiểu cọ, dài ngang vai có bím trang trí lông chim. Chúng cũng mặc những áo choàng len trang trí tỉ mỉ có viền dài.
  • Người Á châu (chỉ những dân tộc sống ở vùng Syria-Palestine) để râu, mặc áo choàng trang trí tỉ mỉ.

Hầu hết nghệ thuật Ai Cập cho thấy những ngoại nhân luôn bị vua chúa Ai Cập đàn áp, bí đánh bại, bị bắt phục dịch, hoặc triều cống cho vua hoặc quan lớn Ai Cập.

Kích cỡ là trên hết

Các nghệ nhân Ai Cập sử dụng kích cỡ như là phương pháp mô tả chức vị hay thứ bậc. Trong nghệ thuật Ai Cập, hình vẽ càng lớn nhân vật đó càng quan trọng. Trong các nhà mộ, nhân vật lớn nhất bình thường là chủ nhân của nhà mộ, trong các đền thờ những hình người lớn mô tả vua hoặc thần linh.

Trong những  cảnh khi mọi người được trình bày cùng kích cỡ, bạn còn có thể nhận diện ai là nhân vật quan trọng nhất. Cá nhân có thứ bậc cao hơn có bàn chân đặt ở bậc cao hơn qua thế ngồi hoặc đứng trên một bệ hay bục.

Các Tuyệt Tác Điêu Khắc

Các nhà điêu khắc Ai Cập sáng tạo nghệ thuật trên bề mặt hai chiều __ bức tường, bia ký hoặc bảng sứ __ cũng như các tác phẩm ba chiều. Nhiều công cụ điêu khắc đá đơn giản chỉ làm bằng loại đá cứng hơn đá được khắc. Các công cụ khác gồm

  • Cưa tay bằng đồng được sử dụng từ thời Vương quốc Cổ.
  • Nêm kim loại được sử dụng để tách những khối đá.
  • Nêm gỗ được dùng để tách những khối đá. Nêm được chèn vào một khe hở trong đá rồi làm ướt. Khi gỗ nở ra đó thấm nước, đá sẽ tách ra.
  • Đục cùn được làm từ các loại đá, đôi khi với một cán gỗ. Các đục được vỗ bằng một búa đá có tay cầm gỗ.
  • Cái vùi có mũi kim loại được sử dụng từ thời Vương quốc Cổ.   

Bức tượng sau khi đã hoàn thành được chà láng bằng cát giống như ta dùng giấy nháp hiện giờ. Tượng sau đó được làm bóng bằng vải nếu tượng không dự tính sơn màu.

Tranh khắc chạm

Đối với các tranh khắc chạm , thợ điêu khắc sử dụng các cây đục bằng đồng theo một trong hai cách sau:

  • Chạm nổi là kỹ thuật đục mất hậu cảnh chỉ để lại hình nổi bật lên. Kỹ thuật tốn công hơn, phần lớn được dùng trong lăng mộ và đền thờ, vì các bóng đổ tạo ra bởi ánh sáng mờ trông rất kịch tính.
  • Chạm chìm nhanh hơn, trong đó người thợ chỉ đục phần hình vẽ ra khỏi hậu cảnh. Kỹ thuật này thường được sử dụng ở các bức tường ngoài và tạo ra những bóng đổ rất tối, làm hình ảnh rất tương phản trong ánh sáng mặt trời.

Hình chạm khắc sau đó được sơn nhiều màu, mà đối với đôi mắt tầm thường của một số khán giả ngày nay, sẽ cho là vụng về và lòe loẹt. Đối với người Ai Cập, đưa vào màu sắc là để phô trương sự giàu có và địa vị xã hội.

Chạm khắc 3D

Hàng trăm pho tượng còn sống sót từ thời cổ Ai Cập của giới hoàng tộc và quan chức. Người Ai Cập không thực sự làm tượng chỉ vì mục đích thẩm mỹ, do đó mọi pho tượng đều có một chức năng. Tượng được đặt cả trong đền thờ lẫn trong lăng mộ và toàn là tượng ka. Dù tượng đặt ở đâu, người Ai Cập tin rằng linh hồn người quá cố có thể tham dự vào các lễ cúng và vật cúng được bày ra.

Các pho tượng có kích cỡ khác nhau và làm bằng nhiều chất liệu, tùy thuộc mức độ giàu có của cá nhân. Chúng thường được làm bằng đá, kim loại, hay gỗ; loại rẽ hơn thì dùng chất liệu có sẵn trong xứ, loại đắt hơn thì dùng chất liệu ngoại nhập, như:

  • Đá vôi từ những mỏ đá ở Giza và Tell el Amarna
  • Đá granit đỏ từ Aswan
  • Đá thạch anh từ Gebel Ahmar (gần Cairo)
  • Thạch cao tuyết hoa từ Hatnub, đông nam Tell el Amarna
  • Gỗ tuyết tùng từ Lesbanon
  • Gỗ sung dâu từ Ai Cập
  • Đồng từ Sinai và Cyprus

Các pho tượng, cũng như các hình khắc chạm, tuân theo một số qui ước để chỉ thị thứ bậc và địa vị xã hội. Chẳng hạn:

  • Hình người ngồi bắt chéo chân trên sàn nhà là một thư lại.
  • Hình người hói đầu mặc áo choàng da beo là một thầy tu cao cấp.
  • Hình người đội tóc giả mặc áo choàng da beo là pháp sư an táng.
  • Hình người hói đầu có váy dài buộc ở ngực là tể tướng.
  • Từng cuộn mở ngang qua bụng dưới biểu lộ sự giàu có, sung túc.

Đọc chữ Tượng Hình

Để nhận diện rõ hơn các cảnh vẽ trong lăng mộ và đền thờ, ta cần phải biết đọc một số cartouche __ bảng khắc có khung hình ô van trong đó là các chữ tượng hình chứa tên các vì vua và các thần (xem hình dưới).

Chữ tượng hình __ một hình sử dụng để biểu thị các từ mặc dù không phải luôn luôn đơn giản như thế __ cấu thành một ngôn ngữ đúng nghĩa với các thì, động từ, danh từ, và giới từ. Hơn 700 ký hiệu tượng hình tồn tại trong thời Trung Vương quốc và số lượng tăng lên hơn 1,000 trong thời Ptolemy. (Khi những từ nước ngoài được đưa vào, người Ai Cập cần những ký hiệu mới để có thể đánh vần chúng!)

3

Mất dấu ngôn ngữ

Ngôn ngữ tượng hình xuất hiện đầu tiên ở Ai Cập vào khoảng 3100 BC và câu cuối cùng được khắc mà ta biết là ở đền Philae vào AD 394 __ một lịch sử gần 3,500 năm.

Từ AD 394 cho đến 1799, khi phát hiện được Đá Rosetta cùng với bước đầu trong công cuộc giải mã, kiến thức của ngôn ngữ cổ này đã bị thất lạc, với nhiều giả thuyết được đưa ra:

  • Vào thế kỷ 16, chữ tượng hình được tin là đã phát triển từ ngôn ngữ Armenia hay chữ Tàu.
  • Vào những năm 1630, một thầy tu và học giả dòng Jesuit, Athanasius Kircher, nỗ lực giải mã chữ tượng hình và tin rằng mỗi ký hiệu biểu diễn một khái niệm triết lý riêng biệt.
  • Vào những năm 1750, người ta tin rằng các thầy tu đã sáng chế ra chữ tượng hình để che giấu kiến thức thiêng liêng.

4

Chữ tượng hình khắc trên tường

Bật mí bí mật

`Vào cuối thế kỷ 18, một số phát hiện đã đạt được:

  • Ngôn ngữ Coptic phát triển từ ngôn ngữ cổ Ai Cập và được các người Cơ đốc giáo sử dụng ở Ai Cập. Coptic dùng mẫu tự Hy lạp thay thế các từ Ai Cập.
  • Chữ tượng hình , và chữ hieratic (một lối chữ tượng hình tốc ký được sử dụng cho các tài liệu viết trên giấy), và chữ demotic (chữ viết Ai Cập phát triển từ chữ hieratic được sử dụng từ 650 BC) có mối liên hệ với nhau.
  • Các cartouche chứa các tên của thành viên trong hoàng tộc.

Những đột phá này được bổ sung vào năm 1799 bằng sự phát hiện một khối đá có chạm khắc tại thị trấn el-Rashid (Rosetta). Bia Đá Rosetta đã thay đổi môn Ai Cập học mãi mãi. Đá được viết bằng ba ngôn ngữ:

  • Cổ Hy lạp
  • Chữ tượng hình Ai Cập
  • Chữ Demonic (một dạng bút ký của chữ tượng hình)

Hầu hết sử gia đều có thể đọc được tiếng cổ Hy lạp, vì thế bia đá này được biên dịch dễ dàng. Trong cuộc chạy đua để giải mã văn bản tượng hình, hai đối thủ chủ yếu xuât hiện:

  • Thomas Young, người cho xuất bản nặc danh công trình tìm kiếm của mình dưới tên ABCD vì ngại việc nghiên cứu tay trái của mình có thể ảnh hưởng đến tiếng tăm như một nhà vật lý của mình. Young giải mã văn bản demonic và nhận diện tên của Cleopatra và Ptolemy trong khung cartouche. Ông cũng nhận ra là các ký hiệu tượng hình có tính ngữ âm và không biểu thị những từ hoặc khái niệm một cách riêng lẻ.
  • Jean-Francois Champollion, liên lạc thư từ với Young, nhưng vẫn cạnh tranh với ông trong việc giải mã chữ tượng hình. Sau khi Young mất nằm 1829, Champollion tiếp tục công việc và làm một đột phá cuối cùng trong việc nhận diện ra các giá trị ngữ âm của nhiều ký hiệu trong nhiều bảng khắc. Ông cũng giải mã một số yếu tố ngôn ngữ học và văn phạm của ngôn ngữ.

 Cả Young và Champollion đọc các chữ Hy lạp và cặp đôi những từ đó với chữ tượng hình và demonic để nhận ra những từ tương ứng như ‘vua’ và ‘thần’ và tìm kiếm những cặp đôi khác. Chữ tượng hình đã được giải mã.

Nhận diện những ký hiệu

Nhiều ký hiệu trong ngôn ngữ tượng hình được chia thành bốn loại:

  • Ký hiệu đơn, như bảng chữ cái, chỉ có một âm mẫu tự; chẳng hạn i.
  • Ký hiệu kép, có hai âm mẫu tự (ví dụ, mn)
  • Ký hiệu cấp ba, là các ký hiệu có ba mẫu tự (như htp)
  • Ký hiệu xác định, không có âm, nhưng được đặt ở cuối một từ để nhấn mạnh ý nghĩa của nó. Chẳng hạn, từ chỉ con mèo được đánh vần (miw) và sẽ có hình con mèo ở cuối để cho thấy đó là con mèo.

Tổng quát, không có nguyên âm nào được viết ra trong chữ tượng hình, không giống như trong tiếng Anh. Đó là lý do tại sao có quá nhiều bất cập trong việc đánh vần tên các vị thần __ Amun, Amon, hoặc Amen (từ imn) __ và tên của các vì vua __ Amenhotpe hay Amenhotep (từ imn htp), chẳng hạn.

Đọc thêm: Rosetta . . . lần nữa . . . và lần nữa

Văn bản trên bia đá Rosetta cho biết rằng trong mỗi đền thờ ở Ai Cập đều dựng một bia ký stela (loại bia tưởng niệm có uốn cong phía trên). Một số stela đã được tìm thấy, và hầu hết hiện giờ nằm trong Bảo Tàng Cairo:

  • Một bia stela được tìm thấy ở Minuf (Châu thổ sông Nile), được sử dụng làm băng ghế dài trước một ngôi nhà. Văn bản khắc trên đó bằng tiếng Hy lạp và demonic, mặc dù bị hư hại nặng.
  • Một bia stela bằng đá bazan được tìm thấy gần Tell el Yahudiyeh (Đông Châu thổ) được tái sử dụng để ép dầu. Chỉ có văn bản Hy lạp còn sót lại, mặc dù bia nguyên bản khắc bằng hai thứ tiếng.
  • Những mảnh vỡ của một bia stela bằng sa thạch viết bằng ba thứ tiếng được tìm thấy ở Elephantine và hiện nằm ở Louvre. Phần bị hư hỏng nặng trên bia Rosetta được hoàn tất tại bia này.
  • Một bia stela bằng sa thạch được tìm thấy ở Naukratis có một số lỗi và rõ ràng đã được sao chép từ một bản gốc do một thợ đá không chuyên nghiệp không biết đọc chữ tượng hình.

   

Tìm hiểu hướng đọc và định vị tôn kính

Bạn có thể đọc chữ tượng hình từ phải qua trái hoặc từ trái qua phải, cũng như từ trên xuống.

Đừng hốt hoảng! Có một phương pháp dễ dàng để tìm ra hướng đọc văn bản. Nhìn vào hướng mà các con thú và chim quay mặt. Nếu chúng quay mặt sang phải, đọc văn bản từ phải sang trái, còn nếu mặt chúng quay sang trái, đọc văn bản từ trái sang phải. đơn giản quá. Nếu văn bản ở phía trên một hình người và các con thú quay cùng hướng, rõ ràng là văn bản đang mô tả nhân vật ấy.

Trong tên của vua viết bên trong cartouche, bạn sẽ tìm thấy một hệ thứ bậc các ký hiệu, khiến việc đọc chúng khá khó khăn. Nếu tên thần là một phần của tên vua (như Ramses), tên Ra được đặt ở đầu cartouche, cho dù nó không được đọc theo thứ tự đó. Điều này được gọi là định vị tôn kính, trong đó tên quan trọng nhất  được viết ra trước.

Các ký hiệu tượng hình được sắp xếp để vừa khớp bên trong một hình chữ nhật vô hình nhỏ để làm tăng tính thẩm mỹ của chúng, hơn là đặt chúng sát nhau theo một hàng dài. Việc này được thực hiện bằng cách đặt những ký hiệu nằm ngang với nhau và những ký hiệu thẳng đứng với nhau, trong khi đồng thời giữ chúng theo đúng thứ tự được đọc nhiều như có thể. Ngoài việc trông cho đẹp mắt, phương pháp xếp ký hiệu này tiết kiệm được diện tích bề mặt. Ngoài ra, không có chỗ cho những ký hiệu ngắt câu giữa các từ, để bảng khắc được chặc chẽ hơn.        

Học bảng chữ cái

Mặc dù các chữ tượng hình có hơn 700 ký hiệu, một số ký hiệu đơn có thể sử dụng như một mẫu tự. Hãy nhìn một số ký hiệu đơn thông dụng nhất trong Hình 11-2. Hình này cho thấy  chữ tượng hình và tương  đương của chúng trong tiếng Anh.

5

Hình 11-2

 

Hình 11-3 cho thấy các ký hiệu được dùng để biểu diễn những tên thông dụng ở phương Tây.

6

Hình 11-3

 Chữ viết tượng hình không chứa nhiều nguyên âm. Cũng vậy, ký hiệu ở cuối mỗi tên (ký hiệu xác định) cho bạn biết người đó là nam hay nữ.

 Đọc tên các vị thần

Hầu hết tên trong hoàng tộc và tên các vị thần đều dùng các ký hiệu kép hay bậc ba (có hai hay ba âm). Tuy nhiên, một số ký hiệu này đều dùng chung cho hoàng gia và thần linh. Hình 11-4 cho thấy một số thần nổi tiếng nhất, cũng như tên một số vì vua quen thuộc liên kết với tên thần; tất cả đều xuất hiện bên trong một cartouche. 

7

Hình 11-4

Những ký hiệu này giúp nhận diện thần và nữ thần trong hình vẽ và bảng khắc. Những ký hiệu này xuất hiện trên đầu các nhân vật và để nhận diện các món quà đặc biệt mà các vị thần ban tặng cho nhà vua.                                                

Một số tên các vị thần này xuất hiện trong tên các vì vua thông thường nhất bên trong một cartouche, như trong Hình 11-5.

8

Hình 11-5

 

Đọc nghệ thuật Ai Cập

Các chữ tượng hình cũng xuất hiện trong nghệ thuật Ai Cập để biểu thị các khái niệm và thần linh. Hiểu được một số ký hiệu trong Hình 11-6 có thể giúp giải thích nghệ thuật Ai Cập dễ dàng hơn một chút mà không cần phải đọc những bảng khắc chữ dài dòng.

Không có gì trong nghệ thuật Ai Cập mang tính ngẫu nhiên; mọi thứ đều có mục đích và được đặt cẩn thận bên trong một bố cục hoàn chỉnh để mô tả rõ điều được biểu thị.

9

Hình 11-6

Chương 12 

Thăm Viếng các Đền Thờ

 Trong Chương Này

  • Xây dựng nhà thờ cúng __ và hơn nữa
  • Làm đẹp đền thờ bằng các cột tháp, hình chạm khắc, và hình vẽ
  • Tìm hiểu vai trò của đền thờ, thầy tu, và các vì vua

Nhiều đền thờ ở cổ Ai Cập vẫn còn đứng vững trên khắp sa mạc __ một chứng tích đẹp đẽ của một tôn giáo  và một truyền thống kiến trúc và thiết kế đã lụi tàn.

Các đền thờ khổng chế phong cảnh cổ Ai Cập. Chúng là những kiến trúc đầy màu sắc, gây kính sợ. Tuy chúng ở gần khu dân cư, nhưng chỉ có thầy tu và những người trong hoàng tộc mới được quyền bước vào. Mặc dù đền thờ kín cửa đối với dân thường, các hoạt động và chức năng của đền thờ ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người.

Chương này đề cập đến việc bố trí và xây dựng những tòa nhà này, vai trò các tăng lữ và hoàng tộc, và những cơ hội thờ cúng dành cho vua chúa cũng như dân thường Ai Cập.

Xây Dựng một Đền Thờ

Người cổ Ai Cập xây hai loại đền thờ:

  • Đền thờ cúng, được xem là nhà của thần linh, dùng để thờ cúng một vị thần. Những kiến trúc này thường nằm trên bờ đông sông Nile. Mặc dù các đền thờ thường được dành cho một vị thần cá biệt (chẳng hạn Amun), những vị thần này thường là thành viên trong bộ tam bao gồm vợ và con cái. (Trong trường hợp Amun, người phối ngẫu là Mut và con trai là Khonsu.) Bộ tam do đó được thờ cúng chung trong đền. Trong một ngôi đền lớn như Karnak, nhiều vị thần khác cũng được thờ cúng bên trong một phức hợp __ mặc dù vị thần chủ là Amun.
  • Đền thờ an táng, được xem là đền thờ của hàng triệu năm, dành để thờ cúng vị vua băng hà. Những tòa nhà này giúp thần dân nuôi dưỡng được anh linh của nhà vua cho kiếp sau và thường toạ lạc bên bờ tây sông Nile. Mặc dù chúng được xây dựng liên kết với lăng mộ của vua, các đền thường ở xa lăng mộ nhằm giữ bí mật địa điểm của lăng mộ.

Nghi thức thờ cúng trong các loại đền thờ đều giống nhau, mặc dù các pho tượng bên trong thì khác nhau. Đền thờ cúng có pho tượng các vị thần như Amun hoặc Ra, và các đền thờ an táng cất giữ các pho tượng của vua.

Người cổ Ai Cập tin rằng thiết kế xây dựng __ cũng như nghệ thuật, tôn giáo, và văn chương __ được các vị thần quy định từ thời xa xưa. Vì lý do này, họ tin rằng họ không nên sửa đổi thiết kế của đền thờ, vì cải tiến một điều đã hoàn hảo là việc bất khả. Tuy nhiên, các vị vua Ai Cập vẫn cần thỏa mãn cơn thèm khát xây dựng của họ và do đó cho xây dựng các phiên bản càng ngày càng to lớn hơn của cùng một kiểu thiết kế.

Ngược về quá khứ: Những đền thờ xưa nhất

Chứng cứ về tôn giáo và các đền thờ trước 3500 BC đã được phát hiện rất giới hạn. Những đền thờ cổ xưa này đã được nhận diện không có nét nào giống với các đài tưởng niệm thời Tân Vương quốc còn đứng vững ở Ai Cập ngày nay. Các đền thờ thời Tân Vương quốc chế ngự phong cảnh hiện nay của Ai Cập đều đi theo một kiểu dạng giống nhau, phát triển qua hàng thể kỷ.

Hierakonpolis

Đền xưa nhất ở Ai Cập là tại Hierakonpolis phía bắc Luxor có niên đại khoảng 3200 BC. Công cuộc khai quật cho thấy đền thờ gồm một sân có mái che trên một mô cát cao (chắc hẳn tượng trưng cho mô đất sáng thế), nhìn qua một sân trong có tường bao. Bên ngoài sân trong, một số tòa nhà hình chữ nhật nhỏ chắc hẳn là xưởng thợ hoặc cửa hàng liên kết với việc thờ cúng.

Thần đầu ó, Horus (xem Chương 9), chắc hẳn được thờ cúng tại Hierakonpolis, mặc dù không có bia khắc hay tượng đá nào được tìm thấy tại đây. Horus có liên hệ mật thiết với hoàng gia và là vị thần được biết đến xưa nhất.

Medamud

Một đền thờ cúng xưa khác ở bắc Thebes tại không tuân theo qui ước thời Tân Vương quốc. Rủi thay, ta không biết được các vị thần được thờ cúng ở đây là ai, mặc dù về sau nơi này là trung tâm thờ cúng cho thần Montu, thần của chiến tranh.   

Một vòng tường khép kín bao quanh đền thờ này, và một cửa tháp đánh dấu lối vào đền. Lối vào này dẫn đến một sân trong hình lục giác chế ngự bởi hai mô đất, chắc hẳn cho biết đây là mô đất nguyên thủy của sự sáng thế. Hai hành lang dẫn đến đỉnh của các mô đất này.

Một gian phòng xây bằng gạch bùn ở trung tâm mọc đầy cây cối. Tại sao chúng được trồng ở đây ta không được biết, nhưng chắc hẳn nó ít nhiều liên quan đến sự sáng thế và cuộc sống nẩy mầm từ những mô đất của sự sáng thế. Dù gì đi nữa thì nó chính là ngôi nhà sinh thái xưa nhất.          

Thiết kế tiến hóa trong thời Trung Vương quốc

Vào thời Trung Vương quốc (2040 BC), các đền thờ trông rất đối xứng, mặc dù buồn thay những mẫu đền từ thời kỳ này rất hiếm, vì chúng hầu hết bị phá hủy để xây các đền tưởng niệm mới.

Hầu hết các đền thờ thời Trung Vương quốc được thay thế bởi các công trình thời Tân Vương quốc (1550 BC), nhưng di sản của Trung Vương quốc vẫn còn giữ lại trong lối thiết kế. Chẳng hạn, đền Karnak chịu ảnh hưởng của Tân Vương quốc lẫn Trung, điều này có lý vì kiến trúc mất 2,000 năm mới hoàn thiện và là trung tâm tôn giáo lớn nhất thế giới.

Các đền thờ thời Trung Vương quốc có thiết kế đơn giản, với cổng tháp án ngữ cửa vào dẫn đến một sân trong lộ thiên. Phía sau sân trong, lối đi dẫn đến ba bệ thờ. Bệ thờ ở trung tâm dành cho vị thần chủ yếu của đền, và hai bệ thờ kia dành cho người phối ngẫu và con trai.

Thiết kế thời Trung Vương quốc trở thành đền thờ truyền thống. Những đền thờ to lớn công phu thời Tân Vương quốc chỉ là phần mở rộng thiết kế truyền thống, mà mỗi vì vua mới lên ngôi thêm vào một chút cấu trúc đã hoàn chỉnh của thời Trung Vương quốc.      

Bám sát các qui ước thiết kế của Tân Vương quốc

Bắt đầu thời Tân Vương quốc (1550 BC), các nhà xây dựng tho bắt đầu đi theo một vài qui luật nào đó, và một lối thiết kế đền thờ chuẩn hóa và phong cách hóa được hình thành  

 

Xếp thẳng hàng các yếu tố

Một qui luật thiết kế bắt đầu từ Tân Vương quốc là sự định hướng của cả hai loại đền thờ cúng và an táng. Trong khi việc định hướng thay đổi tùy các đền thờ, nhưng lý tưởng nhất là chúng được xây theo trục đông-tây, hợp một góc 90o đối với sông Nile. Dĩ nhiên, đôi khi địa hình thiên nhiên làm việc định hướng là không thực hiện được,  nên một số đền thờ, như đền Luxor và Edfu, hoàn toàn bất chấp qui luật này và định hướng theo trục nam-bắc để chạy song song với các đền thờ lân cận.

Tuy vậy hướng đông-tây là phổ biến nhất. Hướng này  làm nổi bật khía cạnh thái dương của đa số đền thờ. Mặt trời mọc ở phương đông, vì thế lối đi vào đền thường đối mặt với hướng đó để chào đón mặt trời mới mọc.

Chú tâm đến những con nước dâng cao

Ngoài sự chọn đia điểm cho một đền thờ tùy thuộc hướng chảy của sông Nile, một số đền thờ được xây dựng sao cho trong mùa nước lũ hàng năm, đền thờ cũng bị lụt. Sự ngập lụt này củng cố đền thờ trong vai trò giống như vũ trụ, và một chốn thiêng liêng, vì lũ lụt tượng trưng cho con nước nguyên thủy từ đó đền thờ nhô lên như được sáng tạo từ con nước.

Cơn lũ hàng năm này đi vào mọi nơi trong đền thờ __ chỉ trừ điện thờ, là chỗ cao nhất trong đền. Sự kiện này giúp giải thích tại sao các trang trí trong đền hiếm khi tiến sát sàn, mà cách mặt đất khoảng một mét.

Tản bộ theo cung đường hành lễ

Các cung đường hành lễ tiến vào đền thờ __ đôi khi được xây thêm nhiều năm sau khi đền thờ đã hoàn thành, do các vì vua đời sau bổ sung __ thường được biết dưới tên cung đường nhân sư, vì các pho tượng nhân sư đứng thành hàng dài hai bên lề đường.

Cung đường hành lễ nổi tiếng nhất là giữa đền thờ Luxor và Karnak. Phần lớn cung đường này vẫn còn trông thấy được, nhất là đoạn gần đến đền thờ. Mặc dù chính quyền Ai Cập dự tính và các sử gia đề nghị tái thiết cung đường này cho du khách có thể đi trọn cung đường nhân sư, nhưng kế hoạch này đến nay vẫn chưa được thực hiện.

Ngoài đền Luxor và Karnak, nhiều đền khởi thủy cũng có những cung đường như thế, trong đó có đền Abu Simbei ở Nubia và Ramesseum trên Bờ Tây ở Luxor.

Bốn loại nhân sự xếp hàng cung đường hành lễ là:

  • Sư tử đầu cừu, được nhận diện là thần Amun, vị thần đôi khi được mô tả có đầu cừu. Thường một tượng nhỏ của nhà vua được đặt dưới cằm của nhân sư.
  • Sư tử đầu chim ưng, biểu thị nhà vua trong hình dạng của Horus. Việc này hiếm gặp và chủ yếu tìm thấy trong các đền thờ ở Nubia.
  • Nhân sư có đầu cá sấu, chó rừng, hoặc mãng xà, biểu thị các thần Sobek, Duamutef (Anubis) hoặc nữ thần rắn hổ mang Wadjet. Trường hợp này hiếm: Những mẫu này chỉ được tìm thấy tại đền an táng của Amenhotep III tại Luxor.
  • Sư tử đầu người (xem hình dưới), mang gương mặt của người trị vì xây dựng chúng. Những nhân sư này thường mang khăn trùm đầu hoặc vương miện vùng Thượng và Hạ Ai Cập.

10

Tượng nhân sư sư tử đầu người

Các cung đường hành lễ được sử dụng trong các lễ hội tôn giáo khi con thuyền thiêng được mang từ đến một đền thờ khác trên vai các thầy tu. Đám rước được che chắn khỏi cặp mắt xoi mói của dân chúng bằng một bức tường phía sau hai hàng nhân sư.

Bước vào đền thờ

Khu vực gần cổng vào đền luôn rộng và lộ thiên và là điểm thấp nhất của đền thờ. Các thầy tu và nhân viên trong đền diễu qua đền thờ qua một hệ thống cầu thang ngắn, để đến khu điện thờ ở phía sau đền (xem Hình 12-1).

11

Hình 12-1

Vì đền thờ đóng cửa đối với dân chúng, bên ngoài đền thờ không được thiết kế một cách mời mọc, và thật ra mọi đền thờ đều bao quanh bằng một vòng tường khép kín lớn. Tường này thường được xây bằng gạch bùn xếp qua một khung đà gỗ và các vỉ lau sậy. Tường đôi khi dày đến 10 mét, không những ngăn cách hiệu quả những người xâm nhập, mà còn bảo vệ an toàn cho hoàng gia, các thầy tu và những ai may mắn được phép vào trong những thời khắc chiến tranh hoặc xung đột.

Tường bao đôi khi được thiết kế để biểu thị con nước nguyên thủy. Bằng cách xây gạch khi lồi khi lõm để trông giống sóng nước, yếu tố này của tòa nhà còn liên kết đền thờ với hình thức biểu tượng một vũ trụ thu nhỏ.   

Trong trung tâm của tường bao là cột tháp cổng vào. Những kiến trúc này, thường xây bằng đá, thường rỗng và đôi khi chứa bên trong cầu thang hoặc phòng ốc, hoặc chỉ chứa đầy các chất độn để kiến trúc vững vàng hơn. Hình thể của các cột tháp biểu thị chữ tượng hình có nghĩa là chân trời. Nhiều cột tháp còn tồn tại ở các đền thờ Ai Cập ngày nay, trong đó có 10 cột ở Karnak, 3 cột ở Medinet Habu và 2 ở Ramesseum.

Một số cột cờ được dựng trên các cánh của cột tháp, ở hai bên cửa vào. Các cột cờ (đôi khi cao đến 60 mét và có thể làm bằng vàng hay hợp kim vàng và bạc) mang cờ có ký hiệu của thần. Hình 12-2 cho thấy lối vào đền Luxor. Hình cho thấy rõ ràng các đường rãnh cho bốn cột cờ, cũng như một cột tưởng niệm trong một cặp còn đứng vững.

12

Hình 12-2

 

Bước vào qua cửa sau

Trong đám rước, các vị thần (đúng ra là các pho tượng của họ do các thầy tăng mang đi) không phải lúc nào cũng dùng cổng tháp vào chính. Thay vào đó, hầu hết các đền thờ đều có một lối vào đường sông ngay bên ngoài tường thành của đền có thể tiếp cận từ một ke tiếp đất từ sông Nile hoặc một kênh đào gần đó. Trong lễ rước, pho tượng thiêng bắt đầu và kết thúc chuyến đi tại đây. Dân chúng có thể tụ họp tại đây để chào đón hoặc tiển đưa vị thần.

Đặt một chân vào cửa: Sân trong đầu tiên và hành lang có cột đỡ

Sau khi đi qua cổng tháp cửa vào, sân trong đầu tiên hiện ra lù lù trước mặt. Khu vực này lộ thiên và bao quanh bởi một vòng cột. Sân trong một số nhà quý tộc được tuyển chọn kỹ lưỡng trong những trường hợp đặc biệt có thể được cho phép vào để nhận quà từ nhà vua, để xin lời sấm truyền của thần, hoặc để nhận những lời tư vấn của thần thánh. Sân trong này chứa nhiều pho tượng của các nhà quý tộc, thầy tu, và hoàng gia, và là một phương tiện cho các cá nhân này mãi mãi hiện diện trong đền và bên cạnh các vị thần.

Ở phía sau sân cột đầu tiên là hành lang cột đỡ. Các cột được tin là chống trời và trần đền thường được sơn màu xanh với hàng trăm ngôi sao biểu thị bầu trời đêm. Các cột biểu miêu tả hệ thực vật mọc lên từ đầm lầy thời nguyên thủy bao quanh mô đất sáng thế. Bước vào hành lang cột đỡ là bước đi tượng trưng vào các đầm lầy thời sáng thế. Hành lang còn tồn tại ấn tượng nhất là ở đền Karnak (xem hình phía dưới); nó được thiết kế bởi Horemheb, khởi công bởi Sety I, và hoàn thành bởi Ramses II.                       

13

Một góc đền thờ Karnak

14

Cổng tháp vào đền Karnak

15

Một góc đên thờ Luxor

16

Hành lang cột đỡ ở đền Karnak

Bước đến chốn Thiêng liêng nhất

Trục trung tâm chạy qua cả sân trong có cột bao đầu tiên và hành lang cột đỡ sẽ đưa ta đến phần quan trọng nhất của đền thờ __ điện thờ (xem hình dưới). Chỉ có vua và thầy tu cao cấp mới được phép bước vào phần này của đền thờ.

17

Nền đền lên cao dần khi ta bước qua đền thờ về phía điện thờ, còn trần nhà thì nghiêng xuống. Do đó, điện thờ là điểm cao nhất của đền, nhưng có trần thấp nhất. Căn phòng lên cao và tối tăm này miêu tả mô đất của sáng thế, từ đó cuộc sống vạn vật khởi đầu.

Con thuyền thiêng thường ở bên trong điện thờ hoặc ở gần đó. Điện thờ là nơi cất giữ thuyền thiêng vác đi được của các thần linh khi xong đám rước.

Đến hồ thiêng uống nước

Vì đền thờ miêu tả vũ trụ, và điện thờ biểu thị mô đất sáng thế, nên cũng có gì đó tượng trưng cho con nước nguyên thủy. Và đúng vậy mỗi đền thờ đều có một hồ thiêng.

Hồ thiêng được lót bằng các bậc đá dẫn xuống nước. Hồ được tiếp nước từ những mạch nước ngầm thiên nhiên. Sau khi con đập Aswan được xây dựng năm 1960, tình trạng lũ lụt của sông Nile đã không còn, hầu hết các hồ này đều khô cạn.

Nước trong các hồ này được sử dụng trong các lễ vật dâng cúng và trong việc thanh tẩy đền thờ và các thầy tu. Trước khi các thầy tu bước vào đền, họ được yêu cầu ngâm mình trong hồ để được thanh  tẩy bởi dòng nước thiêng.

Chống đỡ trần

Các du khách ngày nay có thể khó tưởng tượng được đền thờ trước đây có hình dáng ra sao, vì các di tích chỉ cho thấy những nơi chốn sáng sủa, lộ thiên. Thật ra hình ảnh đền thờ ta thấy hiện nay thật trái ngược với hình dạng của đền trong thời Tân Vương quốc. Tất cả diện tích của đền thờ __ trừ hồ thiêng và sân trong có vòng cột chống đầu tiên __ đều được đóng kín với những mái đá nặng nề.

Để chống đỡ các mái này, các cột là yếu tố chủ yếu của hầu hết đền thờ, và thật ra của bất kỳ kiến trúc tổng quát nào. Các cột xuất hiện tại ít nhất hai khu vực của một đền thờ tiêu chuẩn __ sân trong có vòng cột và hành lang cột đỡ.

Vì cột là yếu tố lấn át về kiến trúc, nên người Ai Cập thường thay đổi thiết kế của chúng. Trong thời pha-ra-ông có hơn 30 kiểu cột khác nhau được sử dụng.

Tất cả các loại cột đều được trang trí bằng các hình chạm khắc và hình vẽ và chữ tượng hình. Các mô-típ gồm có

  • Hoa sen nở, với những nụ hé mở và khép kín
  • Chùm cói, với các nhụy hoa mở và khép
  • Mặt của thần đầu bò, Hathor

Xem xét cửa vào và cửa sổ

Các cửa vào có mặt trong đền thờ là một vấn đề lớn (nhiều cửa cao hơn 20 m). Hãy tưởng tượng vẻ hoành tráng của những khung cửa đồ sộ này. Chúng được làm bằng gỗ, lý tưởng là gỗ tuyết tùng nhập khẩu từ Lebanon. Những bản gỗ rộng này sau đó được khảm vàng, bạc, đá xanh lam, và nhiều loại đá bán-quý khác.

Đẹp như thế, cửa dành cho một chức năng quan trọng: Khó xâm nhập, ngăn không cho dân chúng và bất kỳ kẻ thù nào bước vào.

Các đền thờ được chiếu sáng không bằng cửa sổ, mà đúng ra là bởi các lưới ô đá ở trên cao hoặc bởi các hốc cắt vào trong khối đá trên trần, gởi các cột ánh sáng nhỏ vào đền. Xem Hình 12-3 là một ví dụ tại đền Karnak. Kết quả là trong đền rất tối và u ám, và ánh sáng lọt qua những hệ thống chiếu sáng này đứt đoạn và chắc hẳn trông rất ma quái. Để thêm ánh sáng, các thầy tu và nhân viên đền thờ sử dụng đèn dầu.         

18

Hình 12-3

Thêm những Nét Chấm Phá:

Cột Đá Tưởng Niệm và Trang Trí

Sau khi đền thờ được hoàn thành và pho tượng của thần đã được đặt trong điện thờ, đền thờ được xem như là có đầy đủ chức năng để hoạt động. Nhưng điều này không có nghĩa là các nhà vua không được bổ sung gì vào đền thờ nhằm cải thiện công trình của các vua đời trước, cũng như để chứng tỏ lòng tôn kính của mình đối với thần linh.

Vật phẩm bổ sung thường là những trang trí bằng tranh vẽ hay chạm khắc, các pho tượng, cung đường hành lễ, và cột tưởng niệm. Phần sau đây nói về các kiến trúc bổ sung này.

Hướng đến mặt trời: Cột tưởng niệm

Mọi đền thờ đều có ít nhất hai cột tưởng niệm __ những kiến trúc cao, chỉ thẳng lên trời đồng nghĩa với cổ Ai Cập. Các cột tưởng niệm có dạng vuốt thon đặc trưng như cây kim. Trên đỉnh cột là một chóp tháp được mạ vàng hoặc hợp kim, có hình dạng của một mô đất sáng thế. Một số cột tưởng niệm hoàn toàn bao phủ bằng vàng nếu kinh tế Ai Cập cho phép.

Cột tưởng niệm được làm từ một khối đá duy nhất, thường là đá granit đỏ từ Aswan. Mỏ đá ở Aswan còn lại một cột tưởng niệm chưa hoàn tất (dài hơn 41 m) cắm trong đá, cho thấy dáng vẻ (cột và chóp tháp) được khắc tại chỗ rồi sau đó di chuyển khi hoàn tất.

Trong một đền thờ chuẩn thời Tân Vương quốc, các cột tưởng niệm thường được đặt phía trước cột tháp ở cổng vào, án ngữ bên sườn của lối vào, hoặc dọc theo trục trung tâm.

19

Cột tưởng niệm ở đền thờ Karnak

 

Đọc thêm: Cột tưởng niệm của Hatshepsut

Tại đền thờ an táng của của bà tại Deir el Medina và Nhà Nguyện Đỏ bà xây dựng tại Karnak, Hatshepsut ghi chép việc bà dựng hai cột tưởng niệm tại đền Karnak. Bà còn ghi chép việc chuyên chở của cột từ mỏ đá ở Aswan nơi chúng được khởi công.

Tại Aswan, các cột tưởng niệm được cột vào những xúc gỗ, kéo lên sà lan làm bằng gỗ sung dâu, dài hơn 60 m, rồi kéo đi bằng 27 thuyền  đến Thebes qua sông Nile. Những thuyền kéo này được chèo bởi 850 tay chèo, nói lên sức nặng của tải trọng. Mỗi cột tưởng niệm có thể cân nặng hơn 450 tấn và cao đến 50 m. Cột tưởng niệm hoàn toàn được mạ vàng và tạo một cảnh quan lộng lẫy cho người xem.

Rất may là dòng chảy của sông Nile thuận lợi cho việc vận chuyển. Đồng hành cùng chuyến đi là ba thuyền chở các thầy tu đọc kinh và niệm chú cầu an. Sau khi thuyền về đến Thebes, một con bò được cúng tế dâng lên thần linh. Sau đó Hatshepsut dâng cột tưởng niệm lên thần Amun.

Toàn bộ quá trình từ mỏ đá đến đền thờ chỉ mất bảy tháng và là một thành tựu phi thường. Buồn thay, tất cả di vật còn lại của cột tưởng niệm chỉ là các đế cột, khi vàng và cột được mang đi để tái sử dụng vào thời cổ.

Một ít năm sau, Hatshepsut dựng một cặp cột tưởng niệm nữa, cao gần 30 mét, một cột hiện này còn đứng vững tại đển Karnak và là cột tưởng niệm cao nhất Ai Cập. Chỉ có phần chóp của cột là được mạ vàng, nhưng cảnh tượng cũng không kém phần ấn tượng (xem hình trên).

Đọc thêm: Chuyến đi của một đời người

Việc vận chuyển Cây Kim của Cleopatra đến Luân đôn không phải là một chuyến đi an bình. Đúng ra nó có thể được mô tả là thảm họa.

Cây Kim của Cleopatra được Mohammed Ali, Tể tướng Ai Cập dâng tặng Vương quốc Anh vào năm 1819, để tưởng niệm chiến thắng trong Mặt trận Sông Nile và Mặt trận Alexandra vào năm 1801. Kiến trúc vẫn ở lại Alexandria cho đến năm 1877 khi chi phí chuyên chở, tổng cộng lên tới 10,000 bảng, được Sir William James Erasmus Wilson tài trợ. (Trước đây không có ai muốn trả chi phí chuyên chở này.)

Cột đá tưởng niệm được đặt trong ống sắt hình trụ  28 x 4.5 m, được đặt tên là Cleopatra. Ống này được đặt nằm lên xà lan phía sau tàu kéo Olga. Khi tàu đến Vịnh Biscay, Cleopatra bị lật úp trong một cơn bão và trôi vào vịnh. Ống trụ được một tàu Anh cứu vớt và chở đến Tây Ban Nha để sửa chữa. Cuối cùng nó đến được Vương quốc Anh vào tháng giêng năm 1878 và được dựng lên tại Đê Victoria bảy tháng sáu đó (hình dưới).

Vào tháng 9/ 1917, trong Thế chiến 1, bom Đức rơi xuống gần đấy, làm hư hỏng tượng nhân sư bên phải. Nhưng nó không hề được sửa, để tưởng niệm cho chiến tranh, và các lỗ do mảnh bom cắm vào vẫn còn nhìn thấy được. Nói cho ngay, người Anh may mắn mới có được cột tưởng niệm, sá gì một vài lỗ trái phá?        

20

Trang trí đền thờ

Một trong những cách dễ dàng nhất để tạo ấn tượng là qua trang trí, và nhiều vua trang trí các bức tường hoặc phòng ốc của một ngôi đền đang tồn tại rồi cuỗm luôn công lao xây dựng. Nếu tên của ông ta được khắc hoặc vẽ lên tường, thế thì chắc hẳn hậu thế sẽ cho ông ta là người xây dựng nó.

Trong những thời kỳ kinh tế đặc biệt khó khăn, hoặc có khi chỉ là thời buổi bận rộn, các ông vua thường chỉ cần chiếm đoạt các đền thờ cho đỡ mất thời gian và chi phí xây dựng. Trong thời Tân Vương quốc, việc các vua cuỗm lấy công trình của tiên đế họ đã trở thành nếp chỉ bằng cách cho sơn phết hoặc chạm khắc lên những cartouche nguyên gốc và tuyên bố công trình là của mình. Ramses III, tuy nhiên, cương quyết không để ai có thể tiếm lấy tên tuổi của mình trên những công trình do mình xây dựng lên, ông cho khắc những cartouche thật sâu vào đá để không có vị vua đời sau nào có thể chiếm đoạt tên tuổi ông mà không phải chạm khắc sâu gần nửa mét vào bức tường.   

Chạm khắc

Hai loại chạm khắc được sử dụng trong trang trí đền thờ:

  • Khắc nổi, trong đó nền đá được đục đi, để hình chạm nổ lên. Hình thức này rất tốn thời gian nên ít được thực hiện, thường chỉ dành cho tường trong đền.
  • Khắc chìm, trong đó chủ đề được đục bỏ khỏi nền đá. Hình thức này làm nhanh, thông dụng hơn, nhất là ở những tường ngoài.

Ramses II sáng chế một cách khắc mà trông như khắc nổi tinh tế hơn, nhưng thật ra là khắc chìm nhanh và dễ làm. Kỹ thuật này là đục một đường thật sâu quanh đường bờ của hình, cho ta cảm giác của một hình khắc nổi. Hình 12-4 cho thấy một ví dụ về kỹ thuật chạm khắc này.

21                        

Hình 12-4

Sau khi hình khắc được hoàn tất, chúng được sơn màu tinh tế. Màu sơn cũng bổ sung những chi tiết nhỏ, như kiểu dạng y phục, các cánh chim, và cây cối.

Làm đẹp bên trong

Vì đền thờ miêu tả vũ trụ, trần nhà luôn được trang trí những hình ảnh liên quan đến bầu trời, trang trí gần nền luôn liên hệ đến đầm lầy. Các cột chống thường miêu tả cây cối, tạo ra một vũ trụ đá ai cũng nhận ra.

Các đền thờ cúng lẫn an táng đều thể hiện cùng những loại trang trí nghệ thuật,  bao gồm những hình ảnh mô tả

  • Các hoạt động nghi lễ, như nghi lễ thờ cúng, đám rước, và lễ vật.
  • Các hoạt động lịch sử, như trận chiến, diễu binh, lễ đăng quang, cảnh ra đời của vua chúa, và các hiệp ước ngoại giao.
  • Các cảnh về môi trường, áp dụng cho một vài yếu tố của kiến trúc đền thờ và bao gồm những miêu tả bầu trời, đầm lầy, hệ thực vật và động vật.
  • Lễ dâng cúng đến thần linh.

Những hình ảnh được xếp đặt một cách có tính toán trong đền thờ, và mặc dù các nghệ nhân có nhiều quyền tự do chọn lựa nội dung của hình ảnh, vị trí của hình ảnh thường được xác định trước. Ví dụ:

  • Điện thờ phải có hình ảnh những lễ vật dâng cúng trên con thuyền thiêng.
  • Điện thờ phải có những hình ảnh lễ vật mà nhà vua dâng lên các vị thần khác nhau.
  • Bậc cửa sổ trang trí những hình ảnh tia nắng mặt trời.
  • Trần nhà được vẽ các vì sao hoặc chim chóc để miêu tả bầu trời.
  • Nhà kho được trang trí những hình ảnh bò vỗ béo sẵn sàng hiến tế.
  • Những lộ trình của đám rước cho thấy tiến trình của đám rước.
  • Các cột đỡ và tường ngoài được trang trí những cảnh dữ dội của trận chiến, mô tả cảnh nhà vua đánh đập kẻ thù hoặc những tù binh bị trói diễu qua. Những hình ảnh này có tác dụng răn đe những kẻ thù muốn xâm hại đền thờ, Ai Cập, và nhà vua.

Trong các gian phòng không có những chức năng gì đặc biệt, nhiều dạng hình ảnh được trình bày , bao gồm những biến cố lịch sử như lễ đăng quang, hoặc diễu hành quân sự. Chẳng hạn, trong đền Edfu, các bức tường được sử dụng ghi chép những tài liệu liên quan đến quá trình xây dựng đền thờ và lịch biểu các ngày lễ hội. 

Thờ Cúng trong Đền Thờ

Đền thờ là nơi nhộn nhịp và sôi động. Mặc dù các đền thờ bế môn đối với dân chúng, các nghi lễ bên trong có tầm quan trọng đặc biệt.

Mọi hoạt động đền thờ đều xoay quanh pho tượng thiêng trong điện thờ ở phía sau đền. Pho tượng này nhỏ __ có lẽ chỉ cao khoảng 30 cm __ và được chế tác bằng vàng hoặc gỗ mạ vàng. Buồn thay, không còn pho tượng nào còn sống sót, nhưng điện thờ chứa các tượng này vẫn còn nguyên và cho phép ta ước lượng được kích cỡ của pho tượng.

Nghi lễ quan trọng nhất là nghi lễ đầu tiên trong ngày. Ngay từ lúc bình minh, tất cả nhân viên đền thờ đều thức dậy, thanh tẩy cơ thể, và chuẩn bị bữa ăn trang trọng cho pho tượng. Các trách vụ điển hình bao gồm nướng bánh mì và bánh mật ong, giết mỗ gia súc, và bày biện trái cây và rau củ quả trên các khay. Bữa ăn sau đó được dâng cúng lên thần linh.

Một nghi lễ tương tự được thực hiện vào hoàng hôn khi pho tương được đặt lên giường; xem lại Chương 9 để biết thêm chi tiết.

Suốt ngày, từng giờ các thầy tu cầu nguyện với vị thần. Họ canh giờ bằng cách quan sát mặt trời và  sử dụng đồng hồ nước, thực chất là những chén nước có đục lỗ và thời gian được đo bằng lượng nước chảy qua lỗ.

Thưởng thức lễ hội

Đền thờ cũng là nơi tổ chức những lễ hội và đám rước, là dịp để dân chúng, vốn ngày thường không được phép bước vào đền, đến thăm đền, và tham gia việc cúng kiến. Ghi chép chỉ ra rằng mỗi tháng có khi có đến mười đám rước, nhớ đó dân chúng có thể chiêm ngưỡng con thuyền thiêng và có lẽ nhận được phép lành và lời giảng dạy của các thầy tu.

Trong những dịp lễ hội và đám rước, các nhân viên đền thờ thường phân phát khẩu phần thêm cho dân chúng để họ có thể tiệc tùng và tham gia lễ hội.

Không chỉ làm lợi cho dân làng, các lễ hội còn làm lợi cho những ngôi đền nhỏ hơn. Các pho tượng thần linh từ những đền lớn, như Karnak hoặc Luxor, được rước đến những đền thờ nhỏ hơn. Để đảm bảo các thần được đón rước trọng thể, các đền thờ lớn yểm trợ các đền thờ nhỏ về mặt kinh tế, làm lợi không nhỏ cho các thầy tu làm việc ở đây.

Trân Trọng Vai Trò của Nhà Vua và Thầy Tu Cao Cấp

Nhà vua chính thức là giáo chủ của mọi giáo phái trong mọi đền thờ ở Ai Cập và được mong đợi thực thi tất cả nghi lễ cần thiết để giữ gìn trật tự vũ trụ, hoặc Maat.

Nếu nhà vua thất bại trong việc xoa dịu thần linh, đất đai sẽ sụp đỗ gây ra hỗn loạn, kết quả là đói kém, lũ lụt, hoặc ngoại xâm. Để tránh bớt áp lực, nhà vua giao công việc thờ cúng cho các thầy tu cao cấp trong đền thờ. Mọi việc ông ta làm là nhân danh nhà vua.

Bất kỳ khi nào nhà vua hiện diện tại đền, vị trưởng giáo tại đó nhường quyền hành lễ lại cho nhà vua.

Đặt nền móng

Vai trò của nhà vua trong đền thờ bắt đầu ngay khi địa điểm xây dựng đền được chọn (và thường chính ông chọn địa điểm ấy). Sau khi địa điểm được chọn và được dọn sạch, nhà vua thi hành mười nghi thức đặt nền móng sau:

  1. Căng dây định vị. Đây là nghi thức quan trọng nhất, trong đó nhà vua cắm mốc tại những điểm sau này là mỗi góc của đền thờ và rồi căng dây giữa các mốc này để tạo ra một khuôn viên của đền thờ sẽ được xây dựng.
  2. Thanh tẩy địa bàn xây dựng bằng cách rắc thạch cao.
  3. Đào những hố móng đầu tiên. Hố được đào cho đến khi mạch nước ngầm hiện lên.
  4. Đổ cát vào hố móng đầu tiên. Việc này biểu thị mô đất sáng thế nhô ra từ vùng nước nguyên thủy dưới đáy hố móng.
  5. Đúc những viên gạch xây đầu tiên.
  6. Chôn lễ vật cúng nền móng tại góc của công trình. Lễ vật có nhiều loại như đồ gốm, thức ăn mẫu, công cụ mẫu, bùa chú, có khi nữ trang, để cầu cho việc xây dựng được an toàn.
  7. Khởi công.
  8. Thanh tẩy đền thờ đã hoàn thành.
  9. Dâng đền thờ lên cho thần linh. Nhà vua đặt pho tượng của thần vào trong điện ở cuối đền. Pho tượng là tâm điểm của đền thờ. Mặc dù đền thờ có thể cúng thờ cúng nhiều vị thần, nhưng mỗi đền thờ có một vị thần chủ. (Chẳng hạn, mặc dù Amun, Mut, Khonsu, Montu, Ptah, Opet, và Amum đều được thờ tại đền Karnak, vị thần chủ là Amun. Pho tượng Amun do đó quan trọng nhất.
  10. Dâng cúng lễ vật lên thần giờ đã cư ngụ tại đền.

Nuôi sống nhân dân: Những bổn phận khác của đền thờ

Ngoài việc là ngôi nhà của thần linh tại đó các thầy tu thờ cúng và tôn kính tượng thần, đền thờ cũng là trung tâm kinh tế của thành phố.

Phần nhiều đền thờ hoạt động nhờ vào tài sản riêng, thường là đất đai của mình. Tài sản này được nhà vua hoặc những thành viên giàu có của cộng đồng đóng góp cho đền thờ vì nhờ đền thờ mà thần linh ban phước lành cho họ. Đất đai này đền cho nông dân thuê lại, bù lại nông dân phải trả cho đền thờ một phần ba thu hoạch. Nhiều lợi tức này được phân bố lại dưới dạng khẩu phần (lương) cho quân đội, cho viên chức nhà nước hoặc thầy tu, và cho chi phí xây dựng đền thờ hoặc lăng mộ của nhà vua.          

 

Gặp gỡ các thầy tu __ những công bộc (không phải thần thánh)

Trước thời Tân Vương quốc, một hệ thống tăng lữ thường trực không tồn tại. Các thầy tu làm việc trong các đền thờ trên cơ bản bán thời gian và sau đó trở về với công việc của mình trong xã hội bình thường. Trong thời Tân Vương quốc, nhiều thầy tu chủ yếu là những viên chức hành chính lo việc kiểm soát thuế và phân phối lương thực __ với chỉ một chút vai trò tôn giáo. Ngay cả trong thời kỳ này, đại bộ phận các thầy tu phục vụ một tháng mỗi bốn tháng.

Một nhóm hạt nhân nhỏ các thầy tu thường trực sống trong các đền thờ, với thầy chủ tế ở vị trí cao nhất. Hiển nhiên số nhân sự trong đền thờ thay đổi tùy theo kích cỡ của đền thờ. Karnak, chẳng hạn, có hơn 2,000 nhân viên, trong khi phần lớn các đền thờ khác chỉ có khoảng từ 10 đến 80 người giúp việc.

Làm việc như một văn phòng tư liệu cổ

Trước khi  đền thờ can dự nhiều vào nền kinh tế Ai Cập và nền hành chính liên hệ, chúng lưu giữ những ghi chép bao quát về tôn giáo khu vực, hơn là phòng lưu trữ thị trấn. Những ghi chép này được cất giữ trong Ngôi Nhà Cuộc Sống và bao gồm những chi tiết về

  • Vị trí các địa điểm thiêng liêng
  • Các cuộc hành hương, mà mọi người có thể tham gia
  • Trung tâm thờ cúng (trung tâm thờ cúng các vị thần đặc biệt) và tên các nhân sự
  • Các mùa màng địa phương
  • Các chuẩn và thần địa phương
  • Lịch các lễ hội chính
  • Những điều cấm kỵ liên quan đến các hoạt động hoặc thực phẩm
  • Các đoạn sông Nile chạy qua khu vực
  • Các cánh đồng canh tác và những vùng đất có đầm lầy
  • Các chuyến xuất hành, như đi yểm trợ các chiến dịch đến các vùng đất xa lạ, những công sự xây dựng, và vận lương.
  • Các xứ ngoại bang và nguồn tài nguyên

Ghi chép ngày tháng

Những thầy tu này cũng có trách nhiệm soạn ra hệ thống lịch. Ba hệ thống được sử dụng cho những mục đích khác nhau:

  • Lịch nông nghiệp: Được đa số dân chúng sử dụng mỗi ngày. Năm được chia thành ba mùa, mỗi mùa ba tháng __ mùa lũ, mùa trồng trọt, và mùa gặt hái.
  • Lịch thiên văn: Sử dụng trong thờ cúng và dựa trên sự chuyển động của các vì sao.
  • Lịch trăng: Sử dụng cho việc thờ cúng thần mặt trăng. Các ghi chép tỉ mỉ về các chu kỳ mặt trăng được lưu trữ và kết nối với các ngày lễ tôn giáo.

Cả ba hệ thống lịch đều có một số đặc điểm chung. Mỗi tháng gồm 30 ngày, tổng cộng 360 ngày một năm. Năm lễ hội tôn giáo được bổ sung vào cuối năm là ngày sinh các thần Osiris, Horus, Seth, Isis, và Nephthys. Dĩ nhiên, lịch 365 ngày này từ từ lệch khỏi năm thật. Mỗi bốn năm, lịch nông nghiệp kéo dài thêm một ngày, có nghĩa là cuối cùng mùa màng không còn trùng hợp với lịch. Để giải quyết sự bất cập này, ngày ngôi sao Sirius mọc luôn trùng với ngày bắt đầu của mùa lũ, được xem là Năm Mới.                                       

Chương 13 

Khai Quật Lăng Mộ: Các Ngôi Nhà của Sự Vĩnh Hằng

 

Trong Chương Này

  • Lần theo sự phát triển của lăng mộ
  • Nhận diện sự biến đổi của lăng mộ
  • Bảo vệ thi thể và kho báu khỏi bọn cướp mộ
  • Tô điểm các lăng mộ bằng hình vẽ và trang trí
  • Khám phá Thung Lũng các Vì Vua

 Ai Cập được nổi tiếng nhờ các địa điểm an táng, hoặc là kim tự tháp hoặc những lăng mộ được trang trí công phu trong Thung Lũng các Vì Vua. Chương này tập trung vào lịch sử các lăng mộ, trong khi Chương 14 đào sâu vào những bí mật của kim tự tháp.

Các lăng mộ ở Thung lũng là kết quả những năm tiến hóa sinh ra do những ưu tiên tôn giáo và những mối nguy cơ mất an toàn gia tăng.

Tuy nhiên, bất kể các lăng mộ được thiết kế kiểu nào, tín ngưỡng nền tảng về kiếp sau vẫn không thay đổi. Người Ai Cập nhìn ở kiếp sau như một nơi mà người quá cố được tái sinh và sống vĩnh hằng (xem Chương 10), tương tự như khái niệm thiên đường của Cơ đốc giáo. Thật ra, tín ngưỡng về kiếp sau đã được nhắc tới ngay từ việc án táng xa xưa nhất (trước năm 3100 BC), trước khi có sự xây cất bề thế lăng mộ, qua việc mang theo những phẩm vật tùy táng đơn giản.

Khi tín ngưỡng càng trở nên phức tạp, lăng mộ càng được xây xất nguy nga và phát triển thành những biểu tượng đẳng cấp __ như việc sở hữu xe Porche ngày nay!

Nhưng trên hết, những nơi yên nghĩ này được dự trù để tồn tại mãi mãi, như ngôi nhà cho người quá cố ở kiếp sau. Do đó chúng được gọi là Ngôi nhà của sự Vĩnh Hằng.

 

An táng người Ai Cập Cổ Nhất

Tất cả mọi nền văn minh cần phải giải quyết việc chôn cất người chết, và trong một xứ nóng như Ai Cập, sự phân hủy xảy ra tức thì. Do đó, trong thời tiền triều (trước 3100 BC), việc chôn cất là những hoạt động đơn giản:

  • Những người quá cố được chôn cất riêng lẻ trong những huyệt cạn được đào ngoài rìa sa mạc, cách khu dân cư một khoảng ngắn.
  • Thi thể được đặt trong huyệt trong tư thế của một bào thai, không có hòm hoặc vải che phủ gì hết.
  • Huyệt được lấp đầy cát, ném xuống ngay trên thi thể.

Các vật phẩm được chôn cùng người quá cố bao gồm bình và dĩa sứ, đồ trang sức, và trang điểm. Những phẩm vật này rõ ràng có mối liên hệ với người quá cố theo niềm tin vào kiếp sau nơi người quá cố sẽ cần dùng đến chúng một lần nữa.

Bao bọc người chết

Thỉnh thoảng, các con thú quấy rối các huyệt mộ, làm lộ ra những thi thể đã được chôn cất và cho thấy quá trình bảo tồn tự nhiên đã xảy ra. Đôi khi thi thể còn giữ lại da và tóc, trong khi nơi khác việc bảo tồn không hoàn toàn như thế.

Sự bảo tồn tự nhiên làm lóe ra nơi người cổ niềm tin là để sống còn ở kiếp sau các thi thể cần được bảo tồn. Từ đó, tiến trình bảo tồn nhân tạo, hoặc việc ướp xác được hình thành. Sự bảo tồn nhân tạo cũng dẫn đến sự phát triển lăng mộ như một nỗ lực xa hơn nhằm bảo tồn thi thể được vĩnh hằng.

Những cố gắng xưa nhất nhằm bảo tồn thi thể có hai hình thức:

  • Bao bọc thi thể bằng một chất liệu nào đó, như đất sét, lưới sậy, da thú hoặc vải lanh tẩn liệm.
  • Rào phần huyệt mộ bằng gạch hoặc gỗ.

Một số nghĩa trang xưa đã được phát hiện (Hierakonpolis; Minshat Abu Omar, cách Cairo 150 km; và Adaima, bắc Hierakonpolis 25 km) cho thấy những huyệt mộ đơn giản có xây tường gạch bùn bao bọc. Các bức tường không được trang trí, và đáy huyệt được phủ một lớp sậy nẹp bằng các thanh gỗ, tạo thành các tấm đệm đỡ thi thể người quá cố. Một bờ gạch chạy quanh mép trong phía trên cùng của bức tường bao, có lẽ là bệ đỡ kèo mái che. Những huyệt này sau đó được lấp đầy cát đá sa mạc để ngụy trang.

Đọc thêm: Phần mộ 100

Phần mộ 100 ở nghĩa trang tiền triều tại Hierakonpolis (khoảng 3685 BC) là phần mộ đầu tiên (và là phần mộ duy nhất từ tiền triều được phát hiện) có chứa các bức tường trang trí. Khác một huyệt mộ đơn giản, phần mộ 100 cho thấy một số các phòng ngầm liên thông bằng các bức tường phân chia. Trong phòng an táng, những bức tường này được quét vôi và sơn vẽ. Những hình vẽ người, thú, và thuyền thiêng xuất hiện dưới các màu đỏ, trắng, xanh lá, và đen trên một nền vàng.

Ít nhất ba hình trong phần mộ 100 có liên quan đến nghệ thuật Ai Cập truyền thống hơn, bao gồm những hình ảnh thường dùng để miêu tả vai trò của nhà vua. Chẳng hạn, một hình trong phần mộ 100 cho thấy một người đang đập ba tù binh bị trói bằng chùy; hình khác cho thấy một người mỗi bàn tay nắm chặt một con thú dữ; hình khác mô tả một chiếc thuyền chở theo một người, chắc hẳn là một thủ lĩnh, ngồi bên dưới một trướng che, chung quanh một nhóm người giang tay kính cẩn.

Mặc dù không có văn bản nào sống sót trong phần mộ 100, những hình vẽ về nhân vật nổi bật này gợi ý người được chôn trong phần mộ là một thủ lĩnh hoặc một vì vua. Buồn thay, vì được khai quật vào đầu thế kỷ 20 nên đến nay địa điểm phần mộ 100 đã bị thất lạc, vì thế những bức vẽ nguyên bản không thể khảo sát xa hơn được. Hình chụp và bản sao chép các hình vẽ này nay nằm ở Bảo tàng Ashmolean, Oxford, và Bảo tàng Ai Cập ở Cairo.

      

Nâng cấp huyệt mộ

Khi thời gian trôi đi, những huyệt mộ bao quanh bằng gạch đơn giản không đủ, người Ai Cập muốn điều gì đó ấn tượng hơn Ngôi Nhà của Vĩnh Hằng của họ.

Lúc đầu các hầm mộ được điều chỉnh có thêm tường phân cách, tạo ra một số phòng để cất giữ vật phẩm tùy táng. Hầm mộ lớn nhất được phát hiện là hầm mộ Uj ở Abydos từ triều đại 0 (khoảng 3100 BC). Hầm mộ có kích cỡ 9.10 x 7.30 m và được chia thành 12 phòng, chín phòng chứa hàng trăm bình lọ và nắp nhãn bằng ngà. Hầm mộ chu đáo này chắc hẳn thuộc về một lãnh chúa địa phương hoặc thị trưởng.

Tuy vậy người Ai Cập vẫn chưa bằng lòng, và muốn nâng cao thêm Ngôi Nhà của sự Vĩnh Hằng. Bầu trời mới chính là giới hạn, theo kiểu họ nói.

Biến hầm mộ thành Lâu Đài: các Mastabas

Vào đầu Vương quốc Cổ, các viên chức bắt đầu xây dựng thượng tầng kiến trúc bên trên huyệt mộ. Những gò đống sa mạc được chất lên mái gỗ của huyệt mộ càng ngày càng cao lên, khiến hầm mộ có thể phân biệt được với những cảnh vật chung quanh.

Bổ sung thượng tầng kiến trúc

Kích cỡ và thiết kế của những vật liệu đặt bên trên hầm mộ phản ảnh vị thế và sự giàu có của cá nhân và không nghi ngờ gì nữa dẫn đến khuynh hướng ngày càng cao.

Những phần mộ nhỏ hơn, ít ấn tượng hơn gồm những gò cát nhỏ không đều che phủ huyệt mộ, trong khi những lăng mộ hoành tráng hơn có thượng tầng kiến trúc gạch hình chữ nhật được xây cao 1 mét trên mặt đất.

Những thượng tầng kiến trúc này có dạng hình chiếc bàn, từ đó có tên mastaba, trong tiếng Ả rập có nghĩa là bàn (xem hình dưới). Bên ngoài được sơn vôi trắng, trong khi những ô dâng đồ cúng dọc theo bức tường phía tây được sơn màu đỏ tối. Một lối  lát bằng gạch dẫn đến các hốc và cung cấp một không gian cho những người đến viếng có thể để lại phẩm vật cúng như bánh mì, bia, và rau quả cho linh hồn người quá cố.\

23

Một mastaba

 Vì thượng tầng kiến trúc được xây dựng sau lễ an táng, nên những lối đi vào là không cần thiết. Vì không có lối đi vào nên các mastaba tránh được bọn cướp phá lăng mộ, nhưng cũng có nghĩa lăng mộ không thể bước vào lại.  Việc này mau chóng được thay đổi, vì tổ chức việc hậu sự là việc thời thượng.

Các mastaba càng ngày càng tốt hơn và lớn hơn

Vào cuối thời Vương quốc Cổ  (2333 BC), các phần mộ gia đình đều bình thường, với các phần kiến trúc phía trên (mastaba) rỗng và được xây cất kỹ lưỡng. Những mastaba này chứa nhiều phòng có trang trí, trong đó có phòng cầu nguyện và phòng chứa phẩm vật cúng cho gia quyến đến thăm để lại chứ không để ở bên ngoài. Người quá cố vẫn còn được chôn trong huyệt mộ dưới mặt đất và có thể tiếp cận qua một đường hầm dẫn lên nền mastaba (xem hình dưới).

22

Khi các mastaba trở nên ấn tượng hơn, các ông vua cần khẳng định vị thế và sự giàu có của mình, nên dẫn đến thiết kế và xây dựng các kim tự tháp bậc thang và cuối cùng là các kim tự tháp phẳng (xem Chương 14).

Hãy bước lên: Vua Djoser

Kim tự tháp đầu tiên được xây dựng cho Vua Djoser của triều đại thứ ba (2686 BC). Kiến trúc bắt đầu với một lăng mộ mastaba truyền thống ở Saqqara. Phòng an táng nằm 28 m dưới mặt đất ở cuối một đường hầm và được lát bằng đá granit. Di tích này nằm bên dưới kim tự tháp bậc thang vẫn còn ở chỗ cũ tận ngày nay.

Dẫn từ phòng an táng là bốn hành lang, đi đến một dãy phòng và nhà kho. Một số phòng này có ngói men xanh trang trí bằng những biểu tượng djed (biểu tượng hình cột, biểu thị xương sống thần Osiris, tương trưng cho sự vững chải). Đây là hình trang trí duy nhất ở đây. Di vật người duy nhất còn sót lại tìm thấy trong kim tự tháp bậc thang này là một bàn chân được ướp, cho thấy việc an táng đã xảy ra ở đây.

Phần kiến trúc bên trên mastaba được xây bằng cát đá sa mạc và đất sét, đóng trong những khung đá vôi dày 3 mét. Phần kiến trúc bên trên ban đầu dài 63 mét và cao 8 mét, bản thân nó không phải là kỳ công tầm thường.

Tại một số khâu trong viêc xây dựng mastaba, Djoser muốn làm điều gì đó ấn tượng hơn và quyết định một số thay đổi:

  • Mastaba phải mở rộng hơn.
  • Làm thêm ba kiến trúc bên trên chồng lên nhau, tạo ra kim tự tháp có bốn bậc.
  • Nền được mở rộng, và hai bậc nữa được thêm vào, kết quả là một kim tự tháp sáu tầng, dâng cao đến 60 mét trên mặt đất (xem hình).

24

Đây là kiến trúc đầu tiên trên thế giới được xây dựng hoàn toàn bằng đá. Lăng mộ này biểu tượng một bậc thang mà nhà vua sẽ bước lên trời gặp gỡ các tiên đế, đã trở thành các vì sao sau khi chết.

Sau khi kim tự tháp bậc thang được xây dựng, tiến hóa tiếp theo trong việc phát triển kim tự tháp là lấp đầy các bậc thang để tạo thành một kim tự tháp thực sự, bốn mặt đều phẳng. Một số các kim tự tháp ở Saqqara và Abusir khởi đầu là kim tự tháp bậc thang và sau được biến đổi thành kim tự tháp thực sự bằng cách lấp đầy các bậc thang.

Đẽo trong Đá

Trong thời Trung Vương quốc, mastaba bị bỏ rơi và các phần mộ an táng người không thuộc hoàng gia được đẽo vào đá. Những lăng mộ này được đục thẳng vào mặt vách đá và bổ sung một mặt tiền tưởng niệm, một sân trong thoai thoải và một hàng cột có chức năng như một phòng nguyện tại đó người thân và bạn bè có thể để lại vật cúng cho người quá cố (xem hình dưới).

25

Hàng cột bao quanh một diện tích tụ tập rộng và một phòng tượng nhỏ ở phía sau. Một đường hầm cắt ra từ nền phòng nguyện dẫn xuống phòng an táng bên dưới. Các bức tường của những lăng mộ này được trang trí tỉ mỉ với những hình vẽ cảnh sinh hoạt đời thường, huấn luyện quân sự, chiến đấu, và săn bắn.

Nếu nó không được đóng đinh . . .

Như các kim tự tháp thời Vương quốc Cổ, các lăng mộ tạc vào đá này của thời Trung Vương quốc có nguy cơ bị đột nhập cao. Các phẩm vật và đồ cúng không được gìn giữ dễ dàng bị lấy đi và bán ra thị trường.

Những gia đình sở hữu lăng mộ này cố gắng giảm thiểu nguy cơ bị trộm cắp bằng cách thăm viếng thường xuyên. Họ cũng giới hạn số lần mở cửa vào lăng mộ để chôn cất thêm thân nhân quá cố. Vì thế nên người quá cố được ướp xác vẫn giữ trong nhà cho đến kỳ hạn mở cửa lăng mộ hằng năm, hoặc hằng hai hay năm năm. Lúc đó các gia đình mới an táng tập thể những thành viên đã chết trong thời kỳ đó một lần.

Tập quán trì hoãn việc chôn cất thi thể tiếp tục suốt lịch sử pha-ra-ông. Dân chúng quan tâm đến việc trộm cướp hơn là biện pháp vệ sinh khi trong hầm nhà có vài thi thể đang chờ đợi. Nếu ngày nay thì bạn đã bị cảnh sát thẩm vấn hoặc có thể một nhà phân tâm học đến xem đầu óc bạn có bình thường không.

Tiếp tục chiều hướng

Mối quan tâm đến sự an toàn, tuy lớn, nhưng không ngăn cản người Ai Cập tiếp tục đẽo đá làm lăng mộ  đến tận thời Tân Vương quốc.

Một số lăng mộ quý tộc ở Thebes __ ở Thung lũng các Nhà Quý tộc, Deir el Bahri, và Assasif __ có những mặt tiền tạo tác công phu, nổi bật trong khung cảnh.

Một số các lăng mộ đẽo trong đá này cũng có một kim tự tháp nhỏ dựng bên trên, không có chức năng nào khác hơn là để khoa trương vị thế __ và cũng để bọn trộm mộ dễ nhận ra!

 

Các lăng mộ đường hầm

Để ngăn ngừa bọn xấu, cũng như để tiết kiệm tiền bạc, một số viên chức thời Trung và Tân Vương quốc được an táng trong các lăng mộ đường hầm. Những lăng mộ này được đào sâu trong đất trên nền sa mạc, gồm một đường hầm thẳng đứng, mở ra một phòng an táng ngầm. Nếu người quá cố giàu có, phòng an táng ngầm được trang trí tỉ mỉ hoặc gồm một dãy phòng.

Sự thuận lợi của lăng mộ đường hầm là sau khi được an táng, đường hầm được lấp đầy cát đá sa mạc, khiến bọn xấu không thể định vị được vị trí của mộ, vì không có kiến trúc bên trên ‘chỉ điểm’.

Các lăng mộ đường hầm được sử dụng đến hết thời pha-ra-ông. Ngày nay, những lăng mộ này thường được phát hiện còn nguyên vẹn.

Các lăng mộ thời Tân Vương quốc

Từ ngày đầu của lịch sử Ai Cập, các lăng mộ tiến hóa về mặt kiến trúc và ý thức hệ __ và làm nhiều việc hơn là chỉ đơn giản cung cấp một nơi để xử lý người chết.

Ý nghĩa ý thức hệ của lăng mộ thấy rõ nhất trong thời Tân Vương quốc xênh xang. Các lăng mộ thời kỳ này được chia thành ba phần

  • Bậc trên hoặc thượng tầng kiến trúc biểu thị khu vực của thần mặt trời. Mực này được biểu thị bằng một hốc nhỏ, một bia đá khắc lời tưởng niệm, hoặc một kim tự tháp nhỏ.
  • Bậc giữa bao gồm những nhà nguyện bên trong và biểu thị sự kế cận giữa khu vực người sống và người chết.
  • Bậc dưới bao gồm các phòng an táng và biểu thị khu vực người chết.

 Tuy nhiên các vì vua thời Tân Vương quốc chọn kiểu xây dựng các lăng mộ không có thượng tầng kiến trúc nhìn thấy được, để ngăn ngừa bọn trộm đạo. Trong thời kỳ này, việc xây dựng các bậc trên chỉ áp dụng cho các mộ không thuộc hoàng tộc. Nhà nguyện dâng cúng lễ vật thuộc hoàng gia (bậc giữa) tọa lạc tại rìa khu vực dân cư sát với sông Nile hơn cách lăng mộ một khoảng đường, trong khi phần mộ an táng hoàng gia (bậc thấp) được xây dựng trong Thung lũng các Vì Vua.

An Táng Thần Thánh

Thung lũng các Vì Vua trên bờ tây sông Nile ở Thebes (Luxor) được chia thành hai thung lũng:

  • Thung lũng phía Đông, chứa 63 lăng mộ đánh số theo thứ tự được phát hiện. KV (viết tắt của King’s Valley) mộ 63 được phát hiện vào tháng 2 năm 2006.
  • Thung lũng phía Tây, chứa 5 lăng mộ.

 Sự phát triển của Thung lũng các Vì Vua ở Tân Vương quốc mang lại một số cách tân trong thiết kế lăng mộ. tất cả lăng mộ trong Thung lũng các Vì Vua đều được cắt vào đá, nhưng thay vì dựng trên các mặt triền đá với các mặt tiền tạo tác công phu, các lối vào được chạm khắc trực tiếp trên nền của Thung lũng __ hoặc, nếu các lối vào được chạm khắc vào mặt triền đá, chúng không thể vào được và bị che dấu.

Mỗi lăng mộ cá nhân đều khác nhau ở một vài đặc điểm thiết kế:

  • Lăng mộ trục cong được Amenhotep II đưa vào và gồm một hành lang dài quay một góc 90o trước khi đến phòng an táng. Kiểu thiết kế này được sử dụng trong 130 năm.
  • Lăng mộ trục lệch được Horemheb đưa vào và gồm một hành lang dài và kết thúc ở phòng an táng. Tuy nhiên, trục không hoàn toàn thẳng mà lệch qua một bên sau khi qua hành lang thứ nhất.
  • Lăng mộ trục thẳng được Ramses IV giới thiệu và là một hành lang thẳng dài cắt vào nền thung lũng, và kết thúc tại phòng an táng.
  • Phòng an táng hình bầu dục được Thutmosis III giới thiệu, có mô hình của một cartouche, một khung hình ô van bao bọc tên các nhân vật hoàng gia.
  • Kiểu an táng đường hầm được sử dụng trong suốt thời kỳ sử dụng Thung lũng các Vì Vua và gồm một đường hầm thẳng đứng mở ra phòng an táng ở cuối đường hầm.

  

Không có lăng mộ nào ở Thung lũng các Vì Vua được hoàn thành thực sự. Thật ra, không có lăng mộ nào ở Ai Cập được hoàn thiện. Một số được khắc hoàn toàn từ đá và đang đợi để được trang trí, trong khi một số khác đã vẽ phác họa, sẵn sàng để được chạm khắc. Một số lăng mộ trông có vẽ đã hoàn thiện, nhưng thiếu các chữ khắc, hoặc các hình vẽ còn dang dở. Lý do chắc chắn nhất là vì cái chết đột ngột của người chủ lăng mộ, bắt buộc thợ thầy phải ngừng công việc. Thêm nữa, hoàn thiện một lăng mộ có nghĩa là công nhận nó hoàn hảo, và là nơi thích hợp cho thần linh trú ngụ. Kiến trúc sư nào dám đường hoàng tuyên bố điều này?

Số các lăng mộ chưa hoàn tất, ở một mức độ nào đó, cũng hữu ích, vì nó cho phép các nhà khảo cổ ghi chép phương pháp chạm khắc và trang trí lăng mộ.

Dạo một chuyến đến Thung lũng các Vì Vua

Thung lũng các Vì Vua là một trong những điểm du lịch được viếng thăm nhiều nhất ở Ai Cập, và gồm 63 lăng mộ được trang trí công phu. Tuy nhiên, danh hiệu Thung lũng các Vì Vua có phần nào khiến du khách hiểu lầm, vì không phải tất cả 63 lăng mộ trong Thung lũng phía Đông đều thuộc hoàng tộc. Thực ra chỉ có 23 trong số 63 lăng mộ là lăng mộ các vì vua __ tất cả ông vua trong Tân Vương quốc từ Thutmosis I đến Ramses XI. 40 lăng mộ khác đều thuộc những hoàng tử có tên hoặc vô danh, các viên chức, các thú cưng, và những cá nhân vô danh.

Các viên chức

Một số viên chức được trọng vọng cũng được an táng tại Thung lũng theo kiểu cắt vào đá hay đường hầm. Được an táng trong Thung lũng là một vinh dự tột cùng cho bất kỳ viên chứa nào. Ít nhất bảy lăng mộ được xây cất cho các viên chức:

  • KV13 thuộc về Đại pháp quan Bay dưới triều đại Sety II và Siptah.
  • KV36 thuộc về Maiherperi, một người hầu cầm-quạt tộc Nubia vào triều đại 18. Chức danh người hầu cầm-quạt là một trong những người có vị thế trọng vì lúc nào y cũng thân cận với nhà vua và biết được hết các bí ẩn của nhà vua.
  • KV45 nguyên gốc thuộc về một viên chức tên Userhet ở triều đại 18, sau đó được sử dụng lại ở triều đại 22.
  • KV46 là lăng mộ còn nguyên vẹn của Yuya và Thuya, cha mẹ của Hoàng hậu Tiye, là vợ của Amenhotep III và mẹ của Akhenaten.
  • KV48 thuộc về một viên chức có tên Amennemopet, thường được biết dưới tên Pairy, ở triều đại của Amenhotep II.
  • KV60 thuộc về Sitre-in, vú nuôi của Hoàng hậu Hatshepsut, và chứa một thi thể nữ đã được nhận diện là Sitre-in hoặc Hatshepsut.

Những người sẽ được phong vương

Thung lũng các Vì Vua cũng chứa các lăng mộ của một số hoàng hậu và hoàng tử __ một số nhà vua muốn toàn bộ gia đình họ được chôn gần nhau.

  • KV3 là lăng mộ của một người con không rõ tên của Ramses III.
  • KV5 là lăng mộ lớn nhất trong Thung lũng các Vì Vua và được dự tính an táng các con trai của Ramses II.
  • KV14 nguyên được Hoàng hậu Tawosret xây dựng cho bà và chồng bà Sety II, nhưng bị Vua Setnakht chiếm đoạt, dời thi thể bà và mở rộng lăng mộ.
  • KV19 được xây dựng bởi Montuherkhnepshef, một thái tử sau này trở thành Ramses VIII.
  • KV42 được xây dựng cho Hatshepsut Merytre, một người vợ của Thutmosis III.

Dù những lăng mộ này dành cho hoàng gia, người ngoài được an táng tại Thung lũng các Vì Vua là một đặc quyền, vì được chôn càng gần vua, địa vị của người ấy càng cao. Những cuộc an táng này cho thấy vợ và các con được chồng và cha của họ hết sức coi trọng. Trong các triều đại 19 và 20, Thung lũng các Hoàng hậu, phía nam Thung lũng các Vì Vua, được xây dựng như là một nơi chỉ dành cho các thành viên của hoàng gia và chứa tất cả 75-80 lăng mộ.

Những ngôi nhà khác cho kiếp sau của hoàng gia

Ngoài Thung lũng các Vì Vua là địa điểm an táng nổi tiếng nhất, những vì vua của các thời kỳ khác chọn những nghĩa trang khác nhau:

  • Các vì vua đầu thời Vương quốc Cổ chọn được an táng tại Abydos, nơi an táng theo thần thoại của thần Osiris.
  • Các vì vua cuối thời Vương quốc Cổ chọn được an táng tại vùng Cairo (Saqqara, Memphis, và Giza).
  • Các vua thời Trung Vương quốc chọn được an táng ở Faiyum (Hawara, Lahun, và Dashur).
  • Các vì vua đầu thời Tân Vương quốc chọn được an táng tại Dra Abu el Naga trên bờ Tây ở Thebes.
  • Akhenaten được chôn cất tại Amarna ở Trung Ai Cập.
  • Amenhotep III và Ay được chôn cất tại Thung lũng phía Tây của Thung lũng các Vì Vua, và Akhena bắt đầu xây dựng một lăng mộ ở đây trước khi dời thủ đô về Amarna (xem Chương 4).
  • Các vua trong triều đại Tanite (thứ 22) được chôn cất tại Tanis ở vùng Châu thổ.

Làm Đẹp Lăng Mộ: Trang Trí để Chết

Nhiều địa điểm chôn cất từ thời tiền triều trở đi chứa những tranh trang trí có một chức năng nào đó trong kiếp sau và được nghĩ là sẽ khiến cho cuộc sống vĩnh hằng của người chủ lăng mộ dễ chịu hơn.

Lăng mộ được trang trí sớm nhất là lăng mộ 100 ở Hierakonpolis, được xây dựng khoảng 3685 BC, là lăng mộ duy nhất được trang trí trong thời kỳ này. Có một khoảng gián đoạn chừng 1,000 năm trước khi lăng mộ được trang trí thứ hai xuất hiện vào triều đại thứ ba trong các phần mộ mastaba không thuộc hoàng tộc, và kim tự tháp triều đại thứ tư của Vua Unas, chứa các Văn bản Kim tự tháp.

Ngay cả trong thời đầu Vương quốc Cổ, là thời kỳ bắt đầu khuynh hướng trang trí phần mộ, các nghệ nhân chỉ tập trung vào những chủ đề nào đó và những chủ đề này tiếp tục phổ biến trong suốt suốt thời kỳ pha-ra-ông cho các lăng mộ của hoàng gia và không hoàng gia. Chỉ có cách miêu tả nghệ thuật của những chủ đề này thay đổi.

Trang trí cho đám đông

Từ các mastaba thời Vương quốc Cổ đến các lăng mộ cắt trong đá thời Tân Vương quốc, những chủ đề không hoàng gia trong tranh tập trung vào

  • Thực phẩm
  • Cuộc sống thường nhật
  • Tiệc tùng
  • Hậu sự

Những chủ đề này được sử dụng suốt hàng trăm năm, và không hề đánh mất ý nghĩa và tầm quan trọng của chúng. Chỉ có phong cách nghệ thuật là thay đổi __ nhưng mục tiêu chủ yếu là nhất quán.

Thực phẩm

Những cảnh cho thấy hàng dài người phục vụ mang từng mâm thức ăn đến bàn dâng cúng cho người sở hữu lăng mộ cung cấp thức ăn cho người quá cố sống ở kiếp sau. Những cảnh nông thôn cho thấy việc sản xuất lương thực bao gồm việc chăn nuôi, gieo hạt, gặt hái, sàng gạo, làm dấm, đánh cá, và săn bắn. Một số cảnh về đời sống nông thôn thời Tân Vương quốc cho thấy người chủ lăng mộ đã tham gia tích cực vào việc canh nông, chỉ ra rằng người quá cố sẽ luôn luôn có thể tự cung tự cấp lương thực cho mình.

Những cảnh khác cho thấy người quá cố cư trú trên Cánh đồng lau sậy, tương đương với thiên đường. Cánh đồng lau sậy là bản sao chính xác của Ai Cập, nhưng là Ai Cập lúc đỉnh cao, với mùa màng bội thu, nước nôi thừa thãi, hoa lá xinh tươi và muông thú  bay nhảy làm cảnh vật sống động. người quá cố thường được mô tả trong chiếc áo choàng đẹp nhất của họ, đang chăm sóc đất đai và thu hoạch mùa màng.

 

Cuộc sống thường nhật

Những cảnh trong hình vẽ cho thấy cuộc sống của người chủ lăng mộ dựa trên ngề nghiệp của người quá cố:

  • Đối với một quản đốc, mà vai trò là coi sóc tất cả xưởng thợ gắn liền với lâu đài, những cảnh cho thấy những hình ảnh chi tiết về một số nghề thủ công, bao gồm làm nữ trang, làm mộc, làm hồ, làm gạch, và rèn kim loại.
  • Đối với một quân nhân, lăng mộ bao gồm những cảnh đánh trận, chiến dịch, và huấn luyện.
  • Đối với người quản đốc nông nghiệp, nhiều cảnh nông thôn mô tả trong phần trước được sử dụng.

Vào thời Tân Vương quốc, những cảnh về cuộc sống thường nhật, nhất là những cảnh liên quan đến nghề nông, gắn liền với chu kỳ của cuộc sống và tái sinh.

Tiệc tùng

Tiệc tùng thuong được miêu tả trong các lăng mộ không thuộc hoàng tộc và cho thấy người chủ lăng mộ và vợ ông ta ngồi trước chiếc bàn cúng chất đầy lễ vật với một số khách khứa, nam nữ ngồi riêng, được tôi tớ phục vụ. Những tôi tớ tô điểm khách bằng những vòng hoa choàng quanh cổ và những ống dầu thơm đặt quanh đầu, và tiếp thức ăn và rượu luôn đầy. Các ca sĩ, nhạc công, và vũ công thường được cho thấy làm vui khách mời.

Những tiệc tùng này có thể miêu tả một trong hai điều __ miêu tả các lễ  tổ chức sau lễ an táng, hoặc Lễ hội Tươi đẹp của Thung lũng, một lễ hội an táng vùng Thebes tại đó người chết được tưởng nhớ. (Trong lễ hội này, các đám rước trên Bờ Tây được dân chúng tham gia thăm viếng các phần mộ của tổ tiên họ và tham dự các bữa tiệc với người chết.)

Hậu sự        

Các hình ảnh an táng cho thấy đám rước vào lăng mộ, cho thấy một số tôi tớ mang những hộp đựng phẩm vật. Phẩm vật gồm đồ kim hoàn, quần áo, vũ khí, tượng, và đồ đạc.

Đám rước thường được theo sau bởi những người khóc mướn chuyên nghiệp __ đó là các phụ nữ  được thuê để tru tréo và vây đất vào mặt mình nhằm phô trương sự đau buồn đóng kịch của mình. 

Những nghi thức an táng cũng thường được mô tả, bao gồm nghi thức mở miệng (xem Chương 10), giúp người quá cố thở được, nói được, và ăn được trong kiếp sau, cũng như nghi thức đập nát bình đất màu đỏ¸ một nghi thức cổ không rõ nguồn gốc hoặc ý nghĩa.

 

Trang trí cho hoàng gia

Những chủ đề của lăng mộ hoàng gia không mềm dẽo hoặc linh tinh như các lăng mộ không hoàng gia. Thay vào đó, nghệ thuật lăng mộ hoàng gia tập trung vào tôn giáo hơn là những cảnh sinh hoạt cá nhân. Những chủ đề tôn giáo này, tuy nhiên, thay đổi từ lăng mộ này đến lăng mộ khác và bao gồm:

  • Những cảnh trong văn bản an táng (xem Chương 10), chủ yếu tập trung vào chuyến đi đêm 12-giờ của thần mặt trời. Nhà vua đồng hành cùng thần mặt trời trong chuyến đi này và đối mặt với những hiểm nguy. Những văn bản an táng này bảo vệ nhà vua và thần mặt trời cho đến khi bình minh và tái sinh đến.
  • Những cảnh nhà vua dâng lễ vật đến những vị thần khác nhau, bao gồm Re-Horakhty, Osiris, Ptah, và Hathor __ tất cả các vị thần đều gắn liền với cái chết và tái sinh.
  • Những cảnh các thần linh ôm choàng đức vua và chào đón ông vào kiếp sau. Thường các vị thần được mô tả nắm lấy tay nhà vua, dẫn ông ta đến cõi địa ngục. Một biến thể của chủ đề này có thể được tìm thấy trong các lăng mộ các con trai của Ramses III, ở đó đức vua được mô tả dẫn dắt con trai mình vào kiếp sau và giới thiệu chúng với các thần.

Mặc dù vua, hoàng hậu, và các hoàng tử có ít tự do đi lệch ra khỏi những chủ đề này, họ có thể chọn từ một số văn bản an táng với một danh sách lớn các hình ảnh. Thêm vào đó, hoàng gia có thể thay đổi cách thể hiện nghệ thuật, màu sắc, và kỹ thuật, cho phép mỗi lăng mộ có bản sắc riêng mặc dù chủ đề có giới hạn. Hình như là tất cả mọi người, cổ hay kim, đều phải xoay sở để làm việc trong giới hạn nghề nghiệp nhưng vẫn còn có thể biểu hiện cá tính của mình!

    

Chương 14 

Thăm Dò Kim Tự Tháp

 

Trong Chương Này

  • Phát triển những dạng an táng ấn tượng hơn
  • Làm rõ phức hợp kim tự tháp
  • Cất giữ trong kim tự tháp những vật dụng cho kiếp sau
  • Phổ biến kim tự tháp đến người ngoài hoàng tộc

 Kim tự tháp đồng nghĩa với cổ Ai Cập. Qua năm tháng, những kiến trúc này đã là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận và sách vở __ một số có bản chất phần nào đáng ngờ.

Chức năng của các kim tự tháp thay đổi theo thời gian, với các kim tự tháp thời Vương quốc Cổ và Trung có vai trò như các phần mộ được thiết kế như một lời tuyên bố hùng hồn về sự giàu sang và quyền thế, và các kim tự tháp Tân Vương quốc được sử dụng để đặt lên một phần mộ, nhưng không có chức năng của một nơi an táng.

Lịch sử phát triển kim tự tháp là một chuyện dài, điểm xuyết những sai lầm và sai sót trước khi ‘kim tự tháp thực sự’ được hoàn thành. Ngay cả sau khi Đại Kim Tự Tháp được xây dựng, kiến trúc kim tự tháp không hoàn toàn tĩnh. Những cách tân xuất hiện trong một nỗ lực xây dựng một đài tưởng niệm hoàn hảo, một đài tưởng niệm tốt hơn các kim tự tháp của tiền nhân.

Chương này tập trung vào sự phát triển của kiến trúc hoành tráng này trong dòng thời gian hơn 3,000 năm trong lịch sử Ai Cập.

Định Hình Kim Tự Tháp

Hình dáng của kim tự tháp có ý nghĩa tôn giáo lâu dài ngay trước khi kim tự tháp được xây dựng.

Từng đống cát đá sa mạc lúc đầu được sử dụng để che phủ huyệt mộ trong thời tiền triều. Theo thời gian, những gò đống này trở nên công phu hơn và phát triển thành một thượng tầng kiến trúc (phần kiến trúc nằm bên trên, xem Chương 13) và sau đó tới kim tự tháp bậc thang. Những gò đống này được tin là miêu tả gò đống của sáng thế, từ đó tạo vật được bắt đầu. Tạo vật bắt đầu trên gò đống này, do đó hiển nhiên nó sở hữu những quyền năng sáng tạo và giúp người quá cố được tái sinh (xem Chương 9 để biết thêm về tôn giáo Ai Cập).

Hình dáng kim tự tháp chỉ là cách điệu hóa của gò đống sáng thế và được gọi là benben. Khi thời gian trôi đi, benben trở nên gắn kết mật thiết với thần mặt trời. Mối liên kết với mặt trời của kim tự tháp không thể từ khước được __ hình dáng được cho là giống tia sáng của mặt trời, và Văn bản Kim tự tháp cũng liên hệ kim tự tháp với đoạn đường dốc dẫn đến bầu trời, giúp nhà vua quá cố bước lên gặp các bậc tiên đế, đã hóa thành sao sau khi chết.

     

Lấp Đầy Khoảng Trống: Hoàn tất Hình Dáng Kim Tự Tháp Thực Sự

Sau khi hoàn thành kim tự tháp bậc thang (xem Chương 13), bước tiếp theo, bước cần thiết để tạo ra kim tự tháp thực sự dành cho người Ai Cập là lấp đầy các bậc thang bằng công trình nề. Tuy nhiên, xảy ra một ít sai sót trong tiến trình, kết quả là ta được một số đài tưởng niệm trông khá thú vị.

Indiana Jones và đền thờ Meidum

Cố gắng đầu tiên đạt được một kim tự tháp thực sự là ở Meidum, ở nam Cairo. Bạn có thể đến thăm và khám phá kim tự tháp này ngày nay (xem hình dưới). Kim tự tháp Meidum được Sneferu, vua đầu tiên của vương triều thứ tư,  xây dựng. Kim tự tháp nguyên gốc được xây dựng là một kim tự tháp bậc thang gồm bảy bậc, nhưng trước khi bậc thứ nămđược hoàn tất, toàn bộ kiến trúc được mở rộng thành tám bậc.

Tất cả cái ta nhìn thấy được hôm nay là ba bậc trên cùng, vì lớp đá bao bọc đã được dời đi. Lúc đầu nó được tin rằng kim tự tháp này sụp đỗ trong lúc xây dựng, nhưng những khai quật gần đây không tìm ra chứng cứ nào về thi thể, công cụ, hoặc dây thừng, tất cả điều này chứng tỏ kiến trúc đã thực sự hoàn tất.   

26

Phòng an táng của kim tự tháp này nằm ngang mặt nền sa mạc và đến được qua một lối đi ở tâm mặt bắc, cách mặt đất gần 17 mét. Lối vào đi xuống dưới kim tự tháp, kết thúc bằng một hành lang nằm ngang dẫn đến một đường hầm thẳng đứng, đi lên phòng an táng. Những cột gỗ tuyết tùng nhúng trong tường dẫn đến phòng này có thể đã được sử dụng để kéo cỗ áo quan lên đến phòng an táng, mặc dù cỗ áo quan không còn nằm ở đó nữa. Đường hầm này ngày nay được bắc lên bằng một cầu thang gỗ lung lay.

Phòng an táng chưa được hoàn tất, và hình như việc hậu sự không xảy ra ở đây __ mặc dù những mảnh vỡ áo quan bằng gỗ được phát hiện trong phòng an táng. Sneferu xây dựng hai kim tự tháp khác tại Dahshur và có thể đã được an táng tại một trong hai nơi này.

Phải đến Dahshur

Hai kim tự tháp của Sneferu ở Dahshur được biết đến như Kim tự tháp Cong và Kim tự tháp Bắc (hay Đỏ), chỉ thấp hơn Đại Kim Tự Tháp ở Giza. Bạn còn có thể đến thăm những kim tự tháp này ngày nay.

Bẻ cong

Kim tự tháp Cong được xây dựng trước Kim tự tháp Đỏ và mang tên này vì có nửa đoạn cong ở phần trên, gây bởi một sự thay đổi trong thiết kế bị lệch lạc. Kiến trúc lúc đầu được xây dựng với một góc 60o (kim tự tháp thực sự có góc từ 72o đến 780). Trong khi các công nhân xây dựng kim tự tháp, có một vấn đề sụt lún vì sức đè của đá. Để hóa giải sự cố này, một vòng đai được xây dựng quanh đáy kim tự tháp, thay đổi độ dốc ở đáy đến 55o. Chóp kim tự tháp được hoàn tất với độ dốc 44o, tạo ra một đoạn cong rõ rệt ở tâm, như bạn có thể thấy được trong Hình 14-1.     

27

Hình 14-1

 Kim tự tháp Cong cũng bất thường vì nó có hai lối vào, một ở mặt bắc và một ở mặt nam:

  • Lối vào phía bắc dẫn đến một phòng hẹp có mái đỡ. Phòng an táng, cũng có mái che, ở ngay bên trên, chắc hẳn lên bằng một cầu thang.
  • Lối vào phía tây dẫn qua một chuỗi các hệ thống chặn bằng khung lưới sắt đến một phòng an táng thứ hai.

Cả hai phòng an táng đều dành cho Sneferu là vua của Thượng và Hạ Ai Cập, với mỗi gian phòng ứng với một vai trò. Vào một thời điểm về sau nầy, hai phòng được nối nhau bằng một đường đi cắt qua phần đã được xây, rõ ràng do một người am tường vị trí của hai phòng __ có lẽ bởi những tên trộm rất sáng dạ.

Kim tự tháp Cong bị bỏ rơi vì kiến trúc quá yếu ớt trên một nền móng sa mạc không thích hợp. Sneferu không thối chí, và bắt đầu xây dựng Kim tự tháp Đỏ.

Màu đỏ

Kim tự tháp Đỏ là kim tự tháp thứ hai có kích cỡ chỉ sau Đại Kim Tự Tháp ở Giza và là kim tự tháp thực sự đầu tiên được xây dựng thành công. Nó có tên này vì có màu đá granit đỏ lộ ra dưới lớp đá vôi bao bọc kim tự tháp. Chóp là một kim tự tháp nhỏ miêu tả gò đống sáng thế từ đó tất cả tạo vật bắt đầu, và được tạo bởi một khối đá vôi duy nhất, mà các nhà khảo cổ phát hiện tại địa điểm. Bạn có thể đến thăm kim tự tháp này tại Dahshur.   

28

Lối vào kim tự tháp là ở mặt bắc và dẫn đến hành lang đi xuống dài 63 m, kết thúc ở hai phòng chờ. Ở phía trên tường của gian phòng thứ hai là một hành lang ngắn, nằm ngang, dẫn đến phòng an táng cao 15 mét. Phòng an táng này không phải phòng ngầm và hầu như ở ngay trung tâm của thượng tầng kiến trúc. Một số di vật người được phát hiện trong phòng an táng, mặc dù không rõ phòng này có thuộc về Sneferu hay không.

Các Vì Vua Trung Vương quốc ở Dahshur

Các vì vua thuộc Trung Vương quốc tiếp tục sử dụng Dahshur như chốn an táng hoàng gia. Senwosret III và Amenemhat III của vương triều 12 xây dựng kim tự tháp của họ ở đây.

Kim tự tháp của Senwosret III được xây dựng ở phía đông bắc của Kim tự tháp Đỏ. Chất lượng công trình đã xuống cấp trong thời kỳ này (1878-1841 BC), và kim tự tháp của Senwosret III được làm từ những viên gạch bùn kích cỡ không đều trong quá trình bậc thang, sau đó được lấp đầy bằng đá vôi. Lối vào kim tự tháp ngang mặt đất trên bờ tây của kim tự tháp và dẫn đến một lối đi dốc thoai thoải, kết thúc tại phòng kho. Phòng chờ nằm ở góc 900 với nhà kho, sau đó dẫn đến phòng an táng làm bằng đá granit. Trong phòng an táng có một cỗ áo quan bằng đá granit. Mặc dù phát hiện được một số di vật trong kim tự tháp, các nhà nghiên cứu nghi ngờ không biết Senwosret có được an táng tại đây hay không.

Như với tất cả kim tự tháp, kim tự tháp của Senwosret III là một phần của một phức hợp rộng lớn hơn gồm có

  • Bảy kim tự tháp cho các phụ nữ thuộc hoàng tộc
  • Một đền thờ an táng và đường đắp cao
  • Một đền thờ xa hơn ở phía nam

Con trai và người kế nghiệp của Senwosret III, Amenemhat III, đi theo bước chân vua cha và cho xây dựng kim tự tháp của mình tại cùng địa điểm. Ông cũng xây dựng kim tự tháp của mình bằng gạch bùn với khối đá vôi bao bọc, tất cả vật liệu này đã được dời đi để tái sử dụng. Kim tự tháp của người con trai cao 75 mét. Có hai lối vào kim tự tháp này ở mặt đông và tây, và đi qua các cầu thang chớ không dùng các đoạn đường dốc. Những cầu thang này dẫn đến một tổ hợp các hành lang và phòng ốc, một cách bố trí phức tạp hơn các kim tự tháp khác. Phức hợp này bao gồm

  • Ba phòng an táng bên trong kim tự tháp, một phòng chứa mái che của một hoàng hậu tên Aat, cho biết bà được chôn cất tại đây.

Phòng an táng tọa lạc ở phía đông của trục trung tâm chứa cỗ áo quan, mặc dù Amenehat III chắc hẳn không được an táng tại đây.

  • Vài phòng ngầm gần đó dùng làm phòng nguyện và điện thờ.

Kiến trúc này được bỏ phế trước khi hoàn thành vì các nền móng bằng đất sét không vững và sự không ổn định bên trong cấu trúc kim tự tháp gây ra do có quá nhiều phòng bên trong.

Đại Kim Tự Tháp: Hoàn tất đến chi tiết

Sau khi kim tự tháp thực sự được Sneferu hoàn thành ở Dahshur, giai đoạn sau là mở rộng kiến trúc, đó là điều mà Khufu đã thực hiện tại vùng đất mới ở Giza. Ba kim tự tháp chính ở Giza thuộc về Khufu, Khafra, và Menkaura, tất cả đều thuộc vương triều thứ tư (2613-2494 BC).

Đại Kim Tự Tháp Khufu (xem Hình 14-2) __ Khufu là con trai của Sneferu __ cao 146 mét và nguyên gốc được bọc trong những khối đá vôi, mỗi khối nặng 16 tấn. Lối vào ở mặt bắc của kim tự tháp và tiến vào một lối đi xuống, dẫn đến một phòng ngầm. Gần nơi bắt đầu của lối đi xuống là một lối đi khác lên cao đến hành lang lớn, dẫn đến phòng an táng.

Phòng an táng được xây bằng đá granit đỏ và có năm phòng giảm áp lực ở phía trên nó, chịu đựng sức nặng của kim tự tháp. Đặt chính xác bên trên trục trung tâm của kim tự tháp là một cỗ áo quan bằng đá granit đỏ, được mang vào phòng trước khi nó hoàn tất vì cửa quá hẹp không vừa một khối đá quá lớn. Phòng an táng được niêm phong bằng một dãy đá khối đan lưới và đá chận phong tỏa lối vào hành lang lớn.

29

Hình 14-2

2932

Ở dưới nền của hành lang lớn là một lối đi nằm ngang dẫn đến phòng hoàng hậu và có thể là một serdab (một phòng có một lỗ trong tường để pho tượng có thể nhìn ra ngoài) được thiết kế để giữ gìn tượng linh hồn (ka) của nhà vua (xem Chương 10). Việc chôn cất thi thể của các hoàng hậu của Khufu tiến hành trong ba kim tự tháp vệ tinh ở phía đông kim tự tháp Khufu.    

Phức hợp kim tự tháp được bao quanh bởi một bức tường đá vôi cao 8 mét, bao bọc một khoảng sân chỉ có thể đến được qua đền thờ thung lũng, đường đắp cao, và đền thờ an táng __ tất cả các thành phần tiêu chuẩn của kim tự tháp phức hợp.

Đi theo một trong số những cái vĩ đại: Kim tự tháp của Khafra

Đại Kim Tự Tháp là một trong bảy ký quan của thế giới __ thật ra, nó là kỳ quan duy nhất còn đứng vững.

Khafra, con trai của Khufu, có một quyết tâm khó thực hiện, là theo bước vua cha xây dựng kim tự tháp của mình kế bên. Vì không thể vượt qua công trình hoành tráng của cha mình, Khafra cho xây kim tự tháp của mình trên một vùng đất cao hơn nền đất ở Giza, khiến kim tự tháp của ông trông có vẻ lớn hơn, mặc dù sự thật nó nhỏ hơn.

Có hai lối vào kim tự tháp, một ở ngang mặt đất, và một cách mặt đất 11.5 m trên mặt bắc của kim tự tháp. Lối đi thấp hơn đi xuống một phòng nhỏ (chắc hẳn có vai trò của một serdab) và một lối đi nằm ngang, rồi dần dần lên dốc để gặp lối đi xuống của lối vào cao hơn. Lối đi nằm ngang này sau đó dẫn đến phòng an táng.

Cỗ áo quan trong phòng an táng được làm bằng đá granit đen, trong đó chứa xương, mà sau này được nhận diện là xương bò. Bộ xương được cho là vật hiến tế cho ka của nhà vua tại một thời điểm sau này, sau khi thi thể nhà vua đã bị bọn đào mộ cướp đi.

      

Kim tự tháp của Menkaura

Kim tự tháp của Menkaura là kim tự tháp nhỏ nhất trong ba kim tự tháp ở Giza. Phần dưới bao bọc bằng đá granit, và đá vôi được sử dụng ở phần chóp. Đá granit được xem là vật liệu xây dựng cao cấp, và rõ rằng tại thời điểm này kích cỡ không phải là ưu tiên hàng đầu. Mặc dù kim tự tháp nhỏ, Menkaura gia tăng kích cỡ của các đền thờ thung lũng và đền thờ an táng.

Cấu trúc bên trong của kim tự tháp là một tổ hợp phức tạp của các đường đắp đi xuống và các phòng được niêm phong bằng những khối lưới đá. Có hai phòng an táng, một phòng có thể là serdab, một phòng rộng hơn chứa cỗ áo quan. Bên trong cỗ áo quan là một quan tài bằng gỗ có tên Menkaura, mặc dù quan tài có niên đại từ thời kỳ trước còn xương thì có niên đại thời kỳ Cơ đốc giáo, chỉ ra rằng cỗ áo quan đã được tái sử dụng trong thời kỳ sau.

Các Công Trình Phụ của Kim Tự Tháp ở Giza

Như bất kỳ công trình đồ sộ nào, một kim tự tháp không thể hoàn tất nếu thiếu những công trình phụ thích hợp. Mỗi kim tự tháp ở Giza là một phần của một phức hợp gồm một số tòa nhà và các thành phần , bao gồm:

  • Đền thờ thung lũng
  • Đền thờ cúng
  • Lăng mộ các hoàng hậu
  • Các phòng an táng _ ba cho Khufu, một cho Khafra, và ba cho Menkaura

Khufu còn đi xa hơn và thêm hố thuyền, một nhân sự, và một đền thờ nhân sư. Những mục sau đây xem xét hố thuyền và nhân sư, xem chương 12 về đền thờ.

Dong thuyền về cõi vĩnh hằng

Năm hố thuyền với kích cỡ thực được đóng gần kim tự tháp Khufu, hai trong số chắc chắn là có chứa thuyền. Một hố được mở có chứa một thuyền dài 43.5 mét, đã bị tháo dỡ thành 1,224 mảnh. May thay, vì hố không thấm nước qua nhiều thế kỷ, nên thuyền còn sống sót và đã được dựng lại, giờ đang được trưng bày trong bảo tàng thuyền ở Giza (xem Hình 14-3).

31

Hình 14-3

Toàn bộ thuyền được làm chỉ từ bản gỗ và dây  thừng. Chứng cứ cho thấy thuyền đã được sử dụng ít nhất một lần, chắc hẳn trong ngày an táng Khufu, khi thuyền chở thi thể ông từ bờ đông sang bờ tây sông Nile. Thuyền có mười tay chèo, mỗi bên năm người, một phòng có mái che có thể đã giữ thi thể của nhà vua ở đuôi thuyền, và một điện thờ lộ thiên ở mũi thuyền có thể là nơi đặt pho tượng ka của nhà vua.

Tuy nhiên, Khufu không phải là ông vua đầu tiên có hố thuyền trong phức hợp an táng của mình:

  • Vua Khasekkhemwy của vương triều thứ hai có 12 hố thuyền bao quanh lăng mộ Abydos của ông. Mỗi hố chứa một thuyền.
  • Unas của vương triều thứ năm cũng có hố thuyền, nhưng không có chứa chiếc thuyền nào.
  • Senwosret III có sáu hố thuyền ở kim tự tháp của ông ở Dahshur.

Phu. . .ù __ nhân sư có khác!

Nhân sư là một đặc điểm nổi bật khác của bình nguyên Giza và là một biểu tượng lâu đời của cổ Ai Cập (xem Hình 14-4). Mặc dù tồn tại những nhân sư nhỏ hơn, nhân sư ở Giza là nhân sư duy nhất có kích cỡ và tiếng tăm này ở Ai Cập. Nó nằm ở cuối đoạn đường dắp dẫn đến kim tự tháp và được tạc từ khối đá thiên nhiên. Nhân sư gồm một thân sư tử, đầu người có đội khăn xếp như một pha-ra-ông.

32

Hình 14-4

Sư tử vừa là biểu tượng thái dương vừa là biểu tượng của quyền lực Pha-ra-ông. Có một đầu người trên thân mình sư tử chỉ ra rằng sức mạnh của sư tử được khống chế bởi sự thông minh và minh triết của nhà vua. Vị trí của nhân sư ở  cuối con đường đắp đi đến kim tự tháp gợi ý chức năng của nó là chức năng bảo vệ, cũng như một đài tưởng niệm lớn biểu thị uy quyền của nhà vua.

Tiến Hóa Xa Hơn: Các Kim Tự Tháp và Phức Hợp Về Sau

Qua nhiều thế kỷ, các vì vua tiếp tục xây dựng kim tự tháp và các phức hợp bao quanh các lăng mộ và đền thờ.

Unas ở Saqqara

Phức hợp kim tự tháp vương triều thứ năm của Unas ở Saqqara không được bảo tồn tốt như kim tự tháp của Djoser ở cùng địa điểm. Unas xây dựng kim tự tháp của ông bằng gạch bùn, nhưng vẫn là một mẫu hoàn hảo của một phức hợp kim tự tháp thời Vương quốc Cổ đã phát triển hoàn toàn. Phức hợp bao gồm những yếu tố mà nhà vua cần ở kiếp sau:

  • Một đền thờ thung lũng
  • Một đoạn đường đắp
  • Một kim tự tháp
  • Những hố thuyền

Kim tự tháp ở Saqqara này là kim tự tháp đầu tiên cất giữ Các Văn Bản Kim Tự Tháp (xem lại Chương 10), được chạm khắc trên các bức tường của phòng an táng và phòng chờ. Những văn bản này mô tả những việc sau:

  • Thần thoại về sáng thế
  • Thần thoại về Osiris và Isis
  • Thần thoại về Horus và Seth
  • Cách vượt qua cái chết đến kiếp sau

Thêm những kim tự tháp thời Trung Vương quốc

Kim tự tháp tiếp tục được sử dụng làm lăng mộ cho tận thời Trung Vương quốc. Mọi vì vua của vương triều thứ 12 đều có một kim tự tháp của riêng mình, với các phức hợp ở Dahshur, El Lahun, và Hawara. Một số vua của Trung Vương quốc có cả kim tự tháp và lăng mộ tạc trong đá (xem chương 13).

Vào thời Trung Vương quốc, miền Faiyum rất quen thuộc với thành phần quý tộc và hoàng tộc khi đi săn bắn. Nhờ đó khu vực cũng thường được chọn để xây dựng một số phức hợp kim tự tháp tại những địa điểm

  • Lisht: Amenehat I và Senwosret I của vương triều 12 xây dựng kim tự tháp ở đây. Phức hợp của Amenehat bao gồm một số mộ kiểu đường hầm dành an táng những bà trong hoàng tộc. Phức hợp của Senwosret cũng chứa chín kim tự tháp phụ cho các hoàng hậu của ông.
  • Lahun: Một phức hợp kim tự tháp do Senwosret II của vương triều 12. Phần nền móng xây bằng đá vôi và phần trên xây bằng gạch bùn. Có một tường bao kép bao quanh kim tự tháp với một số mộ kiểu đường hầm giữa các bức tường dành cho hoàng hậu.
  • Hawara: Kim tự tháp được Amenehat III của vương triều 12 xây dựng, và là một phần của một phức hợp chứa một tòa nhà mê cung với nhiều hành lang uốn khúc cắt nhau và các p[hòng tối liên thông nhau.

Những vật nhỏ và nhọn

Vào đầu thời Tân Vương quốc (khoảng 1540 BC), các kim tự tháp không còn được hoàng tộc sử dụng, họ đổi sang dùng những lăng mộ bí mật được tạc vào đá. Các kim tự tháp giờ chỉ có người giàu có không thuộc hoàng gia sử dụng, nhưng với kích cỡ nhỏ hơn nhiều.

Ở Deir el Medina, các công nhân xây dựng các kim tự tháp rỗng nhỏ bằng gạch bùn đặt phía trên những phần mộ ngầm. Các kim tự tháp nhỏ làm chóp của những cấu trúc này được làm bằng đá vôi và được chạm khắc hình ảnh liên quan với  người chủ lăng mộ.

Từ vương triều 19 trở đi ở Nubia, các kim tự tháp nhỏ được gắn kết với những nhà nguyện cúng người chết được xây dựng qua những mộ đường hầm bên dưới, kết hợp kim tự tháp với nơi thờ cúng thức ăn và đồ uống cho người quá cố. Những kim tự tháp này cao có mặt đáy nhỏ.

Vương triều thứ 26 (664-525 BC) chứng kiến sự phát triển cuối cùng của kim tự tháp ở Abydos và Thebes. Những kim tự tháp bằng gạch bùn này có mài vòm bên trong và giống một kho thóc hoặc lò nấu. Gắn kết với mặt của kim tự tháp là một phòng hình chữ nhật, dẫn đến mộ đường hầm bên dưới và là tâm điểm của việc thờ cúng người chết.

Trong thời kỳ này, sự tiến hóa 3,000 năm của kim tự tháp đã đến hồi kết cuộc. Các kiến trúc vẫn mãi mãi là một biểu tượng của những gì là Ai Cập, cho dù chúng chỉ là một lãnh vực nhỏ của những tín điều rộng lớn hơn về việc an táng.             


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s