Jerusalem: Những thăng trầm lịch sử – Phần 4

jerusalem

Simon Sebag Montefiore

 Trần Quang Nghĩa dịch

  PHẦN 3

CƠ ĐỐC GIÁO 

Jerusalem – đó là thành phố của vì Vua vĩ đại.

Jesus, St Matthew, 5.35

Ôi Jerusalem, Jerusalem, ngươi đã giết chết các tiên tri và ném đá họ, những người được phái đến cho ngươi.

Jesus, St Matthew, 23.37

Phá hủy ngôi đền này và trong ba ngày ta sẽ dựng nó đứng lại.

Jesus, St John, 2.19

Như Judaea được tán tụng hơn mọi tỉnh lỵ khác thì thành phố này cũng được tán tụng hơn hết ở Judaea.

St Jerome, Thư Sứ Đồ

Jerusalem giờ được biến thành một điểm đến từ mọi miền trên thế giới, và số khách hành hương đủ hai giới tính nhiều đến nỗi mọi cám dỗ đều tụ tập nơi đây.

St Jerome, Thư Sứ Đồ

CHƯƠNG 15

THỜI CỰC THỊNH CỦA BYZANTIUM 312–518 SCN

CONSTANTINE ĐẠI ĐẾ: CHRIST, VỊ THẦN CHIẾN THẮNG

Năm 312, Constantine xâm lăng Ý và tấn công đối thủ của mình là Maxentius ngay bên ngoài La Mã. Đêm trước trận đánh, Constantine nằm mơ nhìn thấy trước mắt ‘trên bầu trời dấu hiệu của thập giá ánh sáng’ in chồng lên mặt trời với khẩu hiệu: ‘Với dấu hiệu này nhà ngươi sẽ chinh phục!’ Vì thế sáng ra ông cho trang trí trên tấm khiên binh lính biểu tượng Chi-Rho, hai ký tự đầu tiên của chữ ‘Christ’ bằng tiếng Hy Lạp chồng lên nhau (hình dưới). Ngày hôm sau trong Trận Cầu Milvian, ông đánh thắng phe miền Tây. Trong thời kỳ coi trọng các điềm triệu và khải thị, Constantine tin rằng mình có được sức mạnh nhờ ‘Đấng Toàn năng’ của đạo Cơ đốc ban cho.

1

Các ký tự chi and rho (ΧΡ) – của chữ Hy Lạp ΧΡΙΣΤΟΣ (Christos) trong đó nét xổ thẳng xuống của rho giao với tâm điểm của chi.

Constantine là một quân nhân thô cộc, một người có tầm nhìn tâm linh, một nhà chuyên chế hiếu sát và một kẻ khoa trương chính trị xung sát xông đến quyền lực nhưng, một khi đã lên đến đỉnh cao siêu việt, ông hình dung một đế chế được thống nhất dưới một tôn giáo, một hoàng đế. Ông là tập hợp của những xung khắc – ông cổ bạnh, mũi khoằm và bệnh hoang tưởng của ông đôi khi nổ bùng thành những vụ sát hại bạn bè và người thân. Ông để tóc đến vai, chưng diện vòng trang sức màu mè và y phục có đính đá quí, và thích phô trương quyền lực bằng những đám rước, những cuộc tranh luận giữa các triết gia và giám mục và những dự án về thẩm mỹ kiến trúc và đột phá tôn giáo. Không ai biết tại sao ông bám lấy đạo Cơ đốc tại thời điểm đó, mặc dù, như những ai tự tin một cách lạnh lùng, ông  tôn thờ mẹ mình, Helena, một người cải đạo từ rất sớm. Nếu việc cải đạo của cá nhân ông cũng kịch tính như của Paul trên đường đến Damascus, việc bám lấy đạo Cơ đốc về mặt chính trị có tính cách tuần tự. Quan trọng hơn, Christ đã mang về thắng lợi trong trận chiến, và đó là thứ ngôn ngữ mà Constantine hiểu được: Christ Chiên Con đã trở thành thần chiến thắng. Không phải là Constantine giống như  chiên con trong bất kỳ trường hợp nào: chẳng bao lâu ông thể hiện mình như là người Đồng đẳng với các Tông đồ. Không có gì đáng nói trong việc ông tự đề cao mình là một tư lệnh quân sự được thần linh hộ mạng. Các hoàng đế La Mã, như các vua Hy Lạp, luôn đồng nhất mình với các đấng bảo hộ thiêng liêng. Cha của Constantine thờ cúng Mặt Trời Bất khuất, một bước tiến đến tôn giáo độc thần. Nhưng việc chọn lựa Christ là không thể tránh được – nó phụ thuộc đơn thuần vào tính tùy hứng nhất thời của Constantine. Năm 312, đạo Ma-ni và Mithraism phổ biến không kém đạo Cơ đốc.  Constantine cũng có thể đã dễ dàng lựa chọn một trong hai tôn giáo này – và châu Âu ngày nay có thể là những quốc gia đều theo đạo Mithraism hoặc Ma-ni. *

* Thoạt đầu, Constantine đồng nhất Mặt Trời Bất khuất với Chúa Trời của đạo Cơ đốc, in hình thập giá trên một số đồng tiền, hình Mặt Trời trên một số khác, và giữ nguyên chức vị Pontifex Maximus (Giáo chủ) của đa thần giáo. Năm 321, Constantine tuyên bố ngày chủ nhật – ngày của Mặt Trời (Sunday) – là phiên bản ngày Sabbath của Cơ đốc giáo. Đạo Mithraism là một tôn giáo bí ẩn của Ba Tư mà một số binh lính La Mã theo. Về phần đạo Ma-ni, nhà tiên tri Mani người Parthia dạy rằng sự tồn tại là một cuộc đấu tranh trường kỳ giữa ánh sáng và bóng tối, cuối cùng sẽ được Jesus Christ phán xét và khai sáng. Bấy giờ chỉ còn lại chữ viết để mô tả một thế giới quan xem cuộc đời như là trận quyết đấu giữa thiện và ác.

Năm 313, Constantine và Hoàng đế phương Đông Licinius ban bố sự khoan dung và đặc quyền cho các tín đồ Cơ đốc  bằng Chỉ dụ Milan. Nhưng chỉ đến năm 324 Constantine, giờ đã 51 tuổi, mới đánh bại Licinius để thống nhất đế chế. Ông ra sức áp đặt sự thuần khiết Cơ đốc lên khắp lãnh thổ của mình và cấm những tục hiến tế đa thần giáo, mãi dâm thiêng liêng, hành lạc tôn giáo tập thể, và những cuộc biểu diễn giác đấu, thay thế bằng trò đua ngựa. Năm đó, ông dời kinh đô về phía đông, thành lập Đệ nhị La Mã tại địa điểm của một thị trấn có tên Byzantium trên Sông Bosphorus, một cửa ngõ giữa châu Âu và châu Á (hình dưới). Nơi này sẽ sớm được biết dưới tên Constantinople với giáo trưởng riêng, giờ đây bắt tay với giám mục La Mã và các giáo trưởng  Alexandria và Antioch tạo thành những quyền lực thống trị Cơ đốc giáo. Tín ngưỡng mới thích hợp với phong cách vương trị mới của Constantine. Ngay từ những ngày đầu thời kỳ James, Giám sát viên Jerusalem, Cơ đốc giáo đã phát triển một hệ cấp bậc gồm các trưởng lão (presbyteroi) và các giám sát / giám mục (episkopoi) có nhiệm vụ coi sóc giáo khu. Constantine nhận thấy rằng Cơ đốc giáo, với hệ thứ bậc của nó, song hành với cách tổ chức của đế chế La Mã: có một hoàng đế, một nhà nước, một tín ngưỡng.

6a9dd76fc3ad1878792ef985383c24aa21c240ac

Vậy mà ông chỉ vừa mới kết chặt quyền tối cao của mình với tôn giáo đế chế thì ông phát hiện ra Cơ đốc giáo bị chia rẽ: Phúc âm mơ hồ về bản chất của Jesus và mối quan hệ của ông với Chúa Trời. Jesus có phải là con người có tính cách thần thánh nào đó hoặc là Chúa Trời cư ngụ trong cơ thể một con người? Giờ Giáo hội đã được thành lập, Cơ đốc giáo học trở nên tối quan trọng, hơn cả chính sự sống, bởi vì việc định nghĩa đúng Christ sẽ khẳng định con người có thể được cứu rỗi để bước vào thiên đường hay không. Mức độ sôi nổi và quyết liệt trong tranh cãi những vấn đề này cũng tương đương như trong thời đại thế tục ngày nay  chúng ta  tranh cãi về giải trừ vũ khí hạt nhân hoặc tình trạng ấm lên toàn cầu. Giờ Cơ đốc giáo trở thành tôn giáo quần chúng trong một thời đại mộ đạo cuồng tín và những câu hỏi này được tranh luận ngoài đường phố cũng như trong hoàng cung. Khi Arius, một giáo sĩ ở Alexandria giảng trước đám đông sử dụng những điệp ngữ thông dụng, lập luận rằng Jesus lệ thuộc vào Chúa Trời và do đó có nhân tính nhiều hơn là thánh tính, điều này khiến nhiều người băn khoăn vì họ thường coi Christ có thánh tính hơn là nhân tính. Khi thống đốc khu vực ra sức dẹp đuổi Arius, các tín đồ theo ông nổi loạn ở Alexandria.

Năm 325 Constantine, tức giận điếng người vì vụ hỗn loạn giáo điều này, triệu tập các giám mục đến dự Hội đồng Nicaea và ra sức áp đặt cách giải quyết của mình: rằng Jesus vừa thánh vừa người, ‘có cùng bản chất’ với Chúa Cha. Chính tại Nicaea (ngày nay là Isnik ở Thổ Nhĩ Kỳ), mà Macarius, Giám mục của Aelia Capitolina (trước đây là Jerusalem), gợi sự chú ý của Constantine đến số phận của thị trấn nhỏ bé bị lãng quên của ông. Constantine hiểu biết Aelia, ắt hẳn đã viếng thăm nó lúc lên 8  khi có mặt trong đoàn tùy tùng của Hoàng đế Diocletian. Giờ tha thiết muốn chào mừng sự thành công của mình ở Nicaea và phóng chiếu sự vinh hiển thiêng liêng của đế chế mình, ông quyết định phục dựng thành phố và kiến tạo điều mà Eusebius (Giám mục Caesarea và nhà viết tiểu sử hoàng đế) gọi là ‘Tân Jerusalem được xây dựng đối kháng với Cựu Jerusalem quá tiếng tăm’. Constantine ủy thác một nhà thờ biến Jerusalem thành cái nôi của Tin Lành. Công trình được đẩy nhanh tiến độ do những rối loạn nội bộ chết chóc trong hoàng tộc.

CONSTANTINE ĐẠI ĐẾ: SÁT HẠI TRONG GIA ĐÌNH

Ngay sau thắng lợi của Constantine, vợ ông Fausta tố cáo trưởng nam của ông (với người vợ trước) Crispus Caesar xúc phạm tình dục với bà. Có phải bà ta đùa cợt trên tính thuần khiết Cơ đốc mới mà ông đề cao bằng cách khai rằng Crispus đã cố tán tỉnh mình hoặc y là một tên hiếp dâm? Có phải đây thực sự là một vụ vụng trộm đã không được như ý? Crispus ắt hẳn không phải là chàng trai đầu tiên vụng trộm với mẹ kế cũng không phải là người cuối cùng muốn điều đó, nhưng có lẽ hoàng đế vốn đã đố kỵ với những thành tựu quân sự của Crispus. Chắc chắn Fausta có đủ mọi lý do để loại bỏ mối trở ngại này ngăn cản các con riêng của mình lên ngôi.

Dù sự thật là gì, Constantine, phẫn nộ trước sự vô luân của con trai, ra lệnh hành hình anh. Các cố vấn Cơ đốc của hoàng đế chán ghét và người phụ nữ quan trọng nhất trong đời ông, mẹ ông, giờ phải can thiệp. Helena đã từng là tiếp viên người Bithnia và có thể chưa hề kết hôn với cha ông, nhưng bà đã sớm cải sang đạo Cơ đốc và giờ là Augusta – thái hậu – theo đúng danh nghĩa.

Helena thuyết phục Constantine rằng ông đã bị giật dây. Có lẽ bà tiết lộ thực sự là Fausta đã cố quyến rũ Crispus, chứ không phải ngược lại. Chuộc lỗi cho một vụ sát nhân không thể tha thứ này bằng một vụ sát nhân khác, Constantine ra lệnh hành quyết vợ mình, Fausta, vì tội ngoại tình: hoặc bà bị luộc sôi đến chết hoặc bị làm ngạt thở trong phòng tắm hơi đặt nhiệt độ rất cao, một cách giải quyết đặc biệt phi Cơ đốc đối với một vấn đề nan giải rất phi Cơ đốc. Nhưng Jerusalem sẽ được lợi từ vụ sát nhân kép này,* vốn hiếm được những kẻ tán dương Cơ đốc giáo đề cập đến vì đâm ra lúng túng.

* Với việc giết con trai mình, Constantine gia nhập vào câu lạc bộ ghê tởm gồm những ông vua sát tử trong đó có  Herod Vĩ Đại, Ivan the Terrible, Peter Đại Đế, Suleiman the Magnificent. Riêng Herod, Hoàng đế Claudius và Henry VIII cũng hành hình vợ mình.

Constantine Đại Đế không phải là ông thánh – ông sát hại vợ và con trai – nhưng ông bám lấy Cơ đốc giáo và biến đổi Jerusalem, ra lệnh xây dựng Nhà Thờ Mộ Thánh, và ông phái mẹ mình Helena  đến giám sát.

Chẳng bao lâu sau đó, Helena, có được toàn quyền làm đẹp thành phố của Christ, lên đường đến Jerusalem. * Vinh quang của bà sẽ là hành động ăn năn của Constantine.

Nhưng bà không phải là phu nhân đầu tiên của hoàng gia có mặt ở đó. Eutropia, bà mẹ theo Cơ đốc giáo của Fausta, cũng đã lưu lại Jerusalem, có lẽ để giám sát các kế hoạch của hoàng đế, thì nghe tin con gái mình bị giết. Bà chia sẻ số phận của con gái và gần như bị xóa tên khỏi lịch sử.

HELENA: NHÀ KHẢO CỔ ĐẦU TIÊN

Helena, thái hậu thất tuần, có hình trên đồng tiền với gương mặt sắc cạnh, mái tóc tết lại và đội mũ tiara, đến Aelia ‘với tất cả sự năng động của tuổi trẻ’, và số tiền tài trợ kệch sù, để trở thành người kiến tạo sừng sỏ nhất và nhà khảo cổ thành tựu tuyệt diệu nhất.

Constantine biết rằng vị trí Jesus Đóng Đinh và nơi chôn cất nằm bên dưới Đền Thờ của Hadrian với bức tượng của ‘con quỷ cái dơ dáy đó tên là Vệ Nữ thần, một điện thờ tối tăm của những tên sùng bái  tượng thần vô hồn’, như lời của Eusebous. Ông đã ra lệnh cho Giám mục Macarius thanh tẩy địa điểm, phá hủy đền thờ đa thần giáo, khai quật nhà mồ gốc bên trong và xây dựng ở đó một vương cung thánh đường, sẽ trở thành công trình ‘diễm lệ nhất thế giới’ với những cấu trúc đẹp đẽ nhất, cột và đá, loại quí báu và lâu bền nhất, được tô điểm bằng vàng.

Helena quyết tâm tìm cho bằng được nhà mồ thực sự. Đền thờ đa thần giáo phải bị đập bỏ, những đá lót phải được nạy lên, đất dọn sạch và địa điểm thiêng liêng được định vị. Việc truy tìm của thái hậu khơi dậy cuộc tìm kiếm đầy sôi nổi và hái ra tiền trong khu vực Aelia nhỏ hẹp. Một người Do Thái, có lẽ trong số những người Do Thái theo Cơ đốc giáo còn ở lại, trưng ra những tài liệu dẫn đến việc phát hiện một hang động được tuyên bố là nhà mồ của Jesus. Helena cũng tìm ra vị trí Đóng Đinh và ngay cả chính cây Thập giá.

Chưa có nhà khảo cổ nào từng sánh được với kỳ tích của bà. Bà khám phá ba thập giá bằng gỗ, một bảng yết thị bằng gỗ trên đó có dòng chữ ‘Jesus xứ Nazareth, Vua Do Thái’, và những cây đinh thực sự. Nhưng thập giá nào là thập giá đúng? Người ta cho rằng thái hậu và giám mục đã mang những mảnh gỗ này đến bên giường của một phụ nữ đang hấp hối. Khi cái thứ ba được mang đến, người liệt giường ‘thình lình mở mắt, lấy lại sức lực và bật người ra khỏi giường’. Helena ‘gởi một phần di vật cùng với đinh đóng cho con trai Constantine của mình’, và hoàng đế buộc chúng vào cương ngựa. Từ lúc đó trở đi, mọi tín đồ Cơ đốc đều khao khát có được những thánh tích thường xuất xứ từ Jerusalem, và biểu hiệu thập giá bắt đầu thay thế dấu hiệu Chi-Rho trước đây, trở thành biểu tượng của Cơ đốc giáo.

Việc Helena phát hiện ra Thập giá có thể được thêm thắt sau này, nhưng chắc chắn bà đã thay đổi thành phố mãi mãi. Bà xây dựng các thánh đường Thăng Thiên và Eleona trên Núi Olives. Nhà thờ thứ ba của bà, Nhà thờ Mộ Thánh, mất tám năm để hoàn thành, không chỉ là một tòa nhà mà là một phức hợp gồm bốn phần, mặt tiền hướng về đông, có thể đi vào từ trục giao thông chính, Cardo. (Ngày nay mặt tiền quay ra hướng nam.) Các khách viếng bước lên bậc thang dẫn vào một khuôn viên có mái che dẫn qua ba lối vào Vương cung Thánh đường Martyrium, một ‘nhà thờ có vẻ đẹp kỳ vĩ’, với năm gian bên ngăn bởi các hàng cột, đến lượt mình dẫn vào Vườn Thánh qua một hậu khu. Vườn Thánh là một khuôn viên có cột, ở góc đông-nam là ngọn đồi Golgotha bao bọc bởi một nhà nguyện lộ thiên. Nhà tròn có vòm mạ vàng (Anastasis) mở ra bầu trời để ánh sáng chiếu xuống nhà mồ của Jesus. Vẻ lộng lẫy của nó khống chế khoảng không gian linh thiêng của Jerusalem, chế nhạo Núi Đền, nơi giờ đây Helena san bằng mọi điện thờ đa thần giáo và ‘ra lệnh ném các thứ ô uế tại chỗ’ để minh chứng cho sự thất bại của Chúa Trời Do Thái.*

rocio-espin-pinar-jesus-tomb-03

Chúng ta không biết thứ tự chính xác của những công trình và phát hiện này. Eusebius xứ Caesarea, người cung cấp những ghi chép đương thời, chỉ đề cập đến những mệnh lệnh của hoàng đế và hoạt động của Giám mục Macarius trong việc xây dựng Nhà thờ Mộ Thánh (nhưng không nói gì về vai trò của Helena trong việc tìm ra Thập giá). Nhưng ông ta ca tụng bà trong việc xây dựng Nhà thờ Thăng Thiên trên Núi Olives. Chuyện về Helena và Thập giá được Sozomen (cũng là một tín đồ Cơ đốc địa phương) kể lại sau này. Một số đoạn tường thành của Constantine còn có thể được nhìn thấy, bên trong Nhà Thờ Nga  Alexander Nevsky.

Chỉ một ít năm sau, vào 333, một trong những khách hành hương mới đầu tiên, một vị khách nặc danh từ Bordeaux, đã thấy Aelia biến thành một thành phố thánh Cơ đốc nhộn nhịp. Nhà thờ ‘kỳ vĩ’ chưa hoàn thành nhưng tiến độ đẩy nhanh, tuy vậy bức tượng của Hadrian vẫn còn đứng sững giữa những đổ nát của Núi Đền.

Thái hậu Helena thăm viếng tất cả địa điểm mà Jesus lui tới khi còn sống, tạo ra bản đồ lộ trình đầu tiên cho khách hành hương đang dần dần đổ xô về Jerusalem để trải nghiệm tính linh thiêng đặc sắc của nó. Helena đã gần 80 khoảng thời gian bà trở về  Constantinople nơi con trai bà giữ gìn những mảnh vụn Thập giá, gởi những mảnh khác và bảng yết thị đến nhà thờ La Mã được đặt tên một cách thích hợp Santa Croce in Gerusalemme (Thập giá ở Gerusalemme: Helena cho chở về một số đất ở Jerusalem để đổ lên đất nhà thờ La Mã nên gọi là trại là Gerusalemme).

Eusebius, Giám mục xứ  Caesarea, đố kỵ với tiếng tăm mới nổi lên của Jerusalem, không tin rằng thành phố Do Thái này, ‘sau khi đã sát hại Chúa và cư dân độc ác của nó đã nhận sự trừng phạt thích đáng’, có thể trở thành thành phố của Chúa Trời. Suy cho cùng, người Cơ đốc đã ít chú ý đến Jerusalem trong ba thế kỷ qua. Vậy là Eusebius có một luận điểm: Constantine phải đối phó với di sản của người Do Thái khi người sáng lập Tân Jerusalem phải đổi hướng tính thần thánh của những địa điểm Do Thái về cho những điện thờ mới của mình.

Khi người La Mã tôn thờ nhiều thần, họ khoan dung những vị thần khác, miễn là những vị thần lạ không đe doạ đến nhà nước, nhưng một quốc giáo độc thần lại yêu sách phải công nhận chỉ một chân lý độc nhất, một vị thần độc nhất. Việc bức hại những người Do Thái giết Christ mà những nỗi lầm than của họ minh chứng cho chân lý Cơ đốc, vì vậy trở nên bức thiết. Constantine ra lệnh bất kỳ người Do Thái nào ngăn cản anh em mình cải sang đạo Cơ đốc đều bị thiêu sống ngay lập tức. * Ở Jerusalem có một cộng đồng Do Thái nhỏ sinh sống, cầu nguyện tại một nhà thờ Do Thái trên Núi Zion, và hơn một thế kỷ qua họ thường lén lút cầu nguyện trên Núi Đền hoang vắng. Giờ đây ‘lũ Do Thái đáng ghét’, như Constantine gọi họ, bị cấm đến Jerusalem trừ mỗi năm một lần họ được phép lên Núi Đền, nơi khách hành hương Bordeaux trông thấy họ ‘than khóc và xé áo sống của mình’ lên ‘tảng đá đục lỗ – đá nền của Đền Thờ, ngày nay nằm bên trong Nhà thờ Vòm Đá Hồi giáo.

* Cho tận đến ngày khai mạc Hội đồng Nicaea, Lễ Phục Sinh vẫn còn tổ chức trừng với ngày lễ Vượt Qua, vì chính tại ngày lễ Vượt Qua mà Jesus bị đóng đinh. Giờ vốn căm thù người Do Thái  Constantine quyết định thay đổi sự kiện này vĩnh viễn. Constantine chỉ dụ rằng ngày Phục Sinh sẽ được ấn định vào Chủ nhật trăng tròn đầu tiên sau ngày xuân phân. Qui luật này được áp dụng đều khắp cho đến 1582 khi lịch phương Đông và phương Tây tách ra.

Constantine quyết định cử hành lễ kỷ niệm năm thứ 13 lên ngôi của mình tại Jerusalem nhưng còn bận phải giải quyết vụ tranh cãi đã bị giáo sĩ gây rối Arius khuấy động cho dù ông này đã từ giã cõi đời sau một sự cố vỡ ruột già. * Khi Constantine ra lệnh cho một nhà thờ Do Thái ‘giải phóng cho Giáo hội khỏi sự báng bổ và giảm nhẹ nổi lo âu của ta’, một lần nữa các đệ tử của Arius thách thức ông, làm lu mờ lễ hội Cơ đốc đầu tiên tổ chức ở Jerusalem, nơi tề tựu các giám mục đến từ khắp nơi trên thế giới. Nhưng hoàng đế bị bệnh nên không thể đến dự. Cuối cùng được rửa tội khi đang hấp hối vào năm 337, ông chia đế chế cho ba người con trai và hai người cháu. Điều duy nhất họ nhất trí là duy trì một đế chế Cơ đốc và ban hành những sắc luật bài Do Thái: năm 339, họ cấm tuyệt kết hôn với người Do Thái, mà họ gọi là ‘một nỗi ô nhục ghê tởm, man rợ’.

Arius đang trên đường đến  Constantinople sau một buổi tiếp kiến với Constantine thì ông cảm thấy ‘ruột muốn đi xổ’. Trước khi ông đến được nơi giải quyết, Socrates Scholasticus viết, thì ruột của Arius vỡ ra ngay giữa Quảng trường, bộ đồ lòng của ông gồm ruột, gan và lá lách xuất huyết và tuôn ra ngoài, một mình chứng hùng hồn về cái ác của hành động dị giáo của ông. Vậy mà giáo thuyết của ông vẫn sống sau khi Constantine qua đời, và được người kế vị ông Constantius II hậu thuẫn cho đến khi bị kết tội một lần nữa bởi Theodosius I, người mà vào năm 381 chỉ dụ rằng Jesus đứng ngang hàng với Chúa Cha trong Ba Ngôi Cha, Con và Thánh thần và có cùng bản chất.

Các người thừa kế Constantine đánh nhau trong 20 năm, một cuộc nội chiến mà thắng lợi cuối cùng thuộc về người con thứ hai Constantius. Cơn nội loạn này làm Palaestina mất ổn định. Vào năm 351, một trận động đất ở Jerusalem xua mọi giáo dân Cơ đốc ùa vào Nhà Thờ Mộ Thánh ‘điếng người vì hoảng sợ’. Khi người Do Thái ở Galilee nổi dậy, do một vị vua tiên tri cầm đầu, họ bị em họ của hoàng đế Gallus Caesar tàn sát bừa bãi khiến ngay cả người La Mã cũng buồn nôn. Vậy mà giờ đây người Do Thái tìm được cảm tình tại một nơi đáng kinh ngạc: Hoàng đế quyết định lật đổ Cơ đốc giáo – và kiến tạo lại Đền Thờ Do Thái.

JULIAN TÔNG ĐỒ: JERUSALEM PHỤC HỒI

Vào ngày 19/7/362, hoàng đế mới, cháu Julian của Constantine, đang ở Antioch trên đường xâm lược Ba Tư, hỏi một phái đoàn Do Thái: ‘Tại sao các ngươi không hiến tế?’

‘Chúng thần không được phép,’ người Do Thái trả lời. ‘Xin phục hồi thành phố cho chúng thần, xây lại Đền Thờ và Áng thờ’.  

‘Ta sẽ nỗ lực với nhiệt tình cao nhất’, Julian đáp, ‘để dụng lên Ngôi Đền của Chúa Trời Tối Thượng.’ Câu trả lời của hoàng đế khiến dân Do Thái vừa sửng sốt vừa hân hoan nhiệt liệt như thế ‘những ngày của vương quốc họ đã đến’.

Julian đảo ngược chính sách bức hại của Hadrian và Constantine, phục hồi Jerusalem về cho người Do Thái, trả lại cho họ tài sản, thủ hồi sắc thuế chống Do Thái và trao quyền đánh thuế và chức vị thái thú phán quan cho trưởng lão Hillel của họ. Người Do Thái ắt hẳn đã đổ về Jerusalem từ khắp nơi trong đế chế La Mã và Ba Tư để chào mừng phép lạ này. Họ nhận lại Núi Đền, chắc chắn là đã dỡ bộ bức tượng Hadrian và Antoninus để dựng lên một nhà thờ Do Thái tạm thời, có lẽ chung quanh những tảng đá mà khách hành hương Bordeaux gọi là Ngôi nhà của Vua Hezekiah.

Julian

Hoàng đế và triết gia Julian lật đổ Cơ đốc giáo, phục hồi đa thần giáo và trả Núi Đền lại cho người Do Thái

Julian là con người dè dặt, có tri thức và vụng về. Một người Cơ đốc có thành kiến nhớ lại ‘chiếc cổ quẹo một bên, lưng gù và vai co rút của ông, mắt dại láo liêng, tướng đi lắc lư, cách hít hơi thở vào chiếc mũi nhô cao trông kênh kiệu, tiếng cười bồn chồn, không kềm chế, cái đầu gật lia lịa và lời nói ngập ngừng’. Nhưng vị hoàng đế râu rậm và vạm vỡ cũng quyết đoán và độc đoán. Ông phục hồi đa thần giáo, ưu ái vị thần bảo trợ cũ của hoàng gia, Thần Mặt Trời, khuyến khích tập tục hiến tế tại các đền thờ đa thần giáo và bãi việc các thầy giảng Galilee (như cách ông gọi Cơ đốc) để làm giảm bớt những tình cách ủy mị, phi La Mã.

Julian chưa từng mong đợi cai trị đế chế. Ông chỉ vừa lên 5 khi Constantius sát hại cha mình và hầu hết người thân trong gia đình; chỉ còn hai người sống sót, Gallus và Julian. Năm 349, Constantius phong Gallus chức danh Caesar (chức danh dành cho người được chỉ định sẽ làm hoàng đế) để rồi trảm thủ ông, một phần vì bất lực trong việc đàn áp cuộc nổi dậy của người Do Thái. Vậy mà ông cần một Caesar ở đế chế phía tây và chỉ còn lại một ứng viên duy nhất. Julian, lúc đó là sinh viên triết học ở Athens, trở thành Caesar, cai trị từ Paris. Có thể hiểu được tại sao ông lo lắng khi vị hoàng đế khó dự đoán triệu tập ông. Hứng khởi sau một giấc mơ về Zeus, ông chấp nhận vương miện hoàng đế do binh sĩ ông trao cho. Khi ông tiến quân về phía đông, Constantius qua đời và Julian bỗng thấy mình nghiễm nhiên là người cai trị toàn đế chế.

Việc Julian tái xây dựng Đền Thờ Do Thái không chỉ đánh dấu sự khoan dung của ông mà còn để phủ định việc người Cơ đốc đã nhận mình kế thừa lãnh thổ Israel thực sự, đảo ngược sự chứng nghiệm các lời tiên tri của Daniel và Jesus cho rằng Đền Thờ sẽ sụp đổ, và một dấu hiệu cho thấy ông nghiêm túc trong việc quay ngược chính sách của bác ông. Nó cũng tranh thủ được sự hậu thuẫn của người Do Thái ở Babylon trong thời gian ông lên kế hoạch cho cuộc chiến với Ba Tư. Julian không thấy có gì xung đột giữa đa thần giáo và độc thần giáo Do Thái, tin rằng người Hy Lạp tôn thờ ‘Vị Chúa Trời Tối Thượng’ của người Do Thái như thần Zeus: Yahweh không phải là độc nhất đối với người Do Thái.

Julian chỉ định Alypius, đại diện của ông tại Anh, xây dựng lại Đền Thờ Do Thái. Hội đồng Sanhedrin băn khoăn: điều này quá tốt đẹp để có thể là sự thật? Để trấn an họ, Julian, đang trên đường ra mặt trận Ba Tư, viết ‘Gởi Cộng đồng Do Thái’, lập lại lời hứa của mình. Ở Jerusalem, người Do Thái hân hoan ‘săn tìm những thợ thủ công khéo nhất, gom góp vật tư, phát hoang đất và hăng hái lao vào công việc đến nỗi thậm chí các bà còn khuân hàng đống đất cát và mang vòng cổ của mình để thanh toán các chi phí’. Vật liệu xây dựng được cất giữ trong chỗ gọi là Chuồng Ngựa của Solomon. ‘Khi họ đã dời đi hết những tàn tích của công trình trước đây, họ bắt đầu dọn sạch nền móng.’

Khi người Do Thái nắm quyền kiểm soát Jerusalem, Julian xâm lược Ba Tư với quân đội 60,000 người. Nhưng vào ngày 27/5/363 Jerusalem hứng chịu một trận động đất khiến vật tư xây dựng bị thiêu cháy một phần.

Người Cơ đốc vui sướng trước ‘hiện tượng tuyệt vời này’, mặc dù có thể họ đã tiếp tay thêm dầu vào lửa. Alypius đáng lẽ đã có thể tiếp tục công việc, nhưng Julian đã vượt sông Tigris vào Ba Tư. Ở Jerusalem căng thẳng, Alypius quyết định đợi Julian trở về. Tuy nhiên hoàng đế đã rút quân. Vào ngày 26/6 trong một cuộc đột kích lộn xộn gần Samara, một tên lính Ả Rập (có thể là một tín đồ Cơ đốc) đâm ông vào sườn bằng một ngọn giáo. Bị đâm trúng gan, Julian cố hết sức rút ngọn giáo ra, làm đứt cả gân tay. Các tác giả Cơ đốc cho rằng những lời nói cuối cùng trước khi chết của ông là, ‘Vicisti, Galilaee!’, ‘Galilean! Nhà ngươi đã chinh phục!’ Người kế vị ông, chỉ huy đội cận vệ của ông, phục hồi đạo Cơ đốc, đảo ngược mọi chính sách của Julian và một lần nữa người Do Thái bị cấm khỏi Jerusalem: từ đó trở đi một lần nữa chỉ còn một tôn giáo, một chân lý. Năm 391-2, Theodosius I biến Cơ đốc giáo thành quốc giáo chính thức và bắt đầu cưỡng bách vào đạo. *

Không còn gì sót lại về thời kỳ bừng nở ngắn ngủi này của người Do Thái, nhưng có lẽ còn một manh mối nhỏ. Trên cao ở tường thành phía Tây, một dòng chữ khắc tiếng Hebrew đã được phát hiện đọc thấy: ‘Và khi bạn nhìn thấy điều này, tim bạn sẽ hân hoan, và xương cốt bạn sẽ nảy nở như cỏ non.’ Nó ở quá cao trên bức tường so với Đền Thờ Thứ Hai nhưng trong thời kỳ này mặt đất thì cao hơn nhiều. Một số học giả tin rằng dòng chữ này biểu lộ niềm vui của người Do Thái khi Jerusalem được phục hồi. Chắc chắn hơn, nó chỉ đến một nghĩa địa thế kỷ 10: xương cốt được tìm thấy bên dưới địa điểm này.

JEROME VÀ PAULA: THÁNH VỊ, TÌNH DỤC VÀ THÀNH PHỐ

Năm 384, một học giả La Mã u uất tên Jerome đến Jerusalem với một đoàn tùy tùng những mệnh phụ Cơ đốc giàu có. Sùng đạo đến mức ám ảnh, họ du lịch dưới sự che đậy một xì-căng-đan tình dục.

Giờ trong độ tuổi cuối tam tuần, chàng Jerome xứ Illyria đã sống như một ẩn sĩ trong sa mạc Syria, luôn bị giày vò bởi sự khao khát tình dục: ‘Mặc dù bạn đồng hành duy nhất của tôi là bọ cạp, tôi quay cuồng trong những điệu nhảy với gái, đầu óc tôi bừng bừng ham muốn.’ Sau đó Jerome làm thư ký cho Damasus I, Giám mục La Mã, ở đó giới quí tộc đã đi theo đạo Cơ đốc. Damasus thấy tự tin để tuyên bố rằng các giám mục La Mã phục vụ với hồng ân kế tục sứ mạng tông đồ trực tiếp từ St Peter, một bước lớn trong công cuộc phát triển của họ thành những giáo hoàng tột đỉnh, không thể sai lầm trong những thời đại tiếp theo. Nhưng giờ đây Giáo hội đã nhận được hậu thuẫn của giới quí tộc như thế, Damasus và Jerome bỗng thấy mình dính vào một số xì-căng-đan rất trần tục: Damasus bị kết tội ngoại tình, bị dán nhãn hiệu ‘kẻ cù tai các phụ nữ trung niên’, trong khi Jerome được cho là dan díu với một góa phụ giàu có Paula, một trong nhiều người như thế đã đi theo đạo Cơ đốc. Jerome và Paula được giải tội – nhưng họ phải rời La Mã và vì thế họ lên đường đến Jerusalem, cũng với con gái Eustochium của bà.

Chính sự hiện diện của trinh nữ thiếu niên này cũng dường như làm bốc hỏa Jerome, người vốn ngửi thấy mùi nhục dục khắp mọi nơi và bỏ nhiều thời gian trong chuyến đi để viết những giáo luận cảnh báo những tác hại của nó. ‘Nhục dục’, y viết, ‘cù những giác quan và đốm lửa dịu dàng của khoái lạc xác thịt bùng cháy rực.’ Một khi đặt chân tới Jerusalem, Jerome và các nữ triệu phú mộ đạo của mình thấy thành phố mới không khác một nồi lẩu gồm sự thánh thiện, trao đổi, mạng lưới tin đồn và tình dục. Lòng mộ đạo rất hăng say và mệnh phụ giàu có nhất trong số đám người này, Melania (người hưởng lợi tức hàng năm lên đến 120,000 cân vàng), xây dựng tu viện riêng của mình trên Núi Olives. Nhưng Jerome khiếp đảm trước những cơ hội tình dục mở ra do sự pha trộn quá nhiều đàn ông và đàn bà lạ mặt chen chúc với nhau trong cùng một chủ đề về nhiệt tình tôn giáo và hứng thú giác quan: ‘mọi loại cám dỗ đều tích tụ tại đây’, ông viết, và mọi loại người – đĩ điếm, kịch sĩ và những thằng hề’. Thật ra ‘không có loại hành vi xấu hổ nào mà họ không sa đà vào’, một khách hành hương thánh thiện nhưng đôi mắt sắc bén khác, Gregory xứ Nyssa, quan sát. ‘Lừa gạt, ngoại tình, ăn cắp, sùng bái, đầu độc, cãi cọ và sát hại là chuyện thường ngày.’

Sự bảo trợ của hoàng đế, việc xây dựng hoành tráng và dòng người hành hương giờ đây tạo ra một lịch trình lễ hội và nghi thức mới trên khắp thành phố, mà đỉnh cao là lễ Phục Sinh, và một địa lý tâm linh mới của Jerusalem, dựa trên những địa điểm trên hành trình khổ nạn của Jesus. Các tên được thay đổi,* các truyền thống bị xáo trộn nhưng ở Jerusalem mọi thứ đều thành vấn đề nếu được mọi người tin là thực. Một nữ tiên phong khác, Egeria, một nữ tu Tây Ban Nha, người đã đến thăm Jerusalem vào thập niên 380, mô tả bộ sưu tập luôn phình ra các thánh tích trong Mộ Thánh * mà giờ đây bao gồm cả chiếc nhẫn của Vua Solomon và bình bằng sừng đựng dầu xức cho David. Những vật này gia nhập cùng với mũ miện gai và cây giáo đâm qua sườn của Jesus.

*   Zion là tên gốc của thành lũy Thành phố David, phía nam Đền Thờ, nhưng giờ thành đồng nghĩa với Núi Đền. Giờ ‘Zion’ trở thành tên Cơ đốc cho ngọn đồi phía tây. Năm 333, khách Hành hương Bordeaux đã gọi nó là Zion. Năm 390, Giám mục Jerusalem xây dựng nhà thờ Zion bề thế và lộng lẫy, Nhà Thờ Mẹ trên địa điểm Coenaculum. Quà tặng của Jerusalem cho sự tái chế năng động và đánh cắp văn hóa là vô tận – nhưng nó khiến những địa danh trở nên rối ben. Lấy ví dụ này: Cổng Neapolis của Hadrian với cột đá to đùng đứng trước nó giờ trở thành Cổng St Stephen qua vài thế kỷ trước  khi người Ả Rập gọi nó là Cổng Cột, và về sau là Cổng Nablus (Neapolis là Nablus ngày nay); người Do Thái gọi nó là Cổng Shechem; người   Ottoman gọi nó tên hiện tại, Cổng Damascus. (Cổng St Stephen ngày nay nằm ở phía đông thành phố.)

Tính trình diễn và tính thiêng liêng khiến một số khách hành hương lâm vào trạng thái mê cuồng đặc trưng của Jerusalem: Thập giá Thực phải được canh gác cẩn mật vì khách hành hương thường thừa dịp hôn nó sẽ cắn trộm một miếng. Anh chàng Jerome thô lỗ đó không sao chịu được tất cả trò lố lăng này từ đó ông đến định cư ở Bethlehem để xúc tiến tuyệt phẩm của mình, dịch Kinh thánh bằng tiếng Hebrew (Do Thái cổ) ra tiếng Latinh. Nhưng ông vẫn thăm viếng thường xuyên và không hề e dè bày tỏ những quan điểm của mình. ‘Tìm đường đến Thiên đường ở Anh cũng dễ dàng như ở Jerusalem,’ ông gầm gừ trước cử toạ gồm những khách hành hương Anh mê muội. Khi ông thấy bà bạn Paula cầu nguyện một cách đầy xúc cảm trước Thập giá trong Vườn Thánh, ông len lén tuyên bố bà ta trông như ‘mình nhìn thấy Chúa đang giang tay trên đó’ và hôn nhà mồ ‘như một người khát nước quá lâu và cuối cùng mới tìm được nước’. ‘Nước mắt và lời than vãn của bà’ ồn ào đến nỗi ‘khắp Jerusalem và Chúa được bà khấn nguyện đều biết’.

Ông đánh giá cao một bi kịch diễn ra trên Núi Đền, được lưu giữ trong cảnh hoang tàn để khẳng định những tiên đoán của Jesus. Vào mỗi ngày thứ 9 tháng Ab Jerome hớn hở ngắm nhìn người Do Thái tưởng niệm ngày Đền Thờ bị tàn phá: ‘Những con người thiếu lòng tin đó đã giết tôi tớ của Chúa Trời – lũ khốn khổ đó tụ họp và, trong lúc Nhà Thờ Phục Sinh sáng rực và cờ Thập giá chiếu rọi tới từ Núi Olives, bọn đáng thương đó kêu gào trên những đổ nát của Đền Thờ. Một người lính đòi thêm tiền vì họ xin thêm thời gian để khóc lâu hơn.’ Dù thông thạo tiếng Hebrew, Jerome căm ghét người Do Thái, vì họ nuôi nấng con cái ‘như giun sán’, và hả hê với cuộc trình diễn quái đản nhưng vui thích, khẳng định chân lý thắng lợi của Christ: ‘Còn ai có thể hoài nghi khi chứng kiến cảnh tượng Ngày Khổ đau này ?’ Chính bi kịch cảnh lầm than của người Do Thái đã nhân đôi tình yêu của họ dành cho Jerusalem. Đối với Giáo sĩ Do Thái Berekhah cảnh tượng này là một nghi thức vừa thiêng liêng vừa nhức nhối: ‘Họ lặng lẽ đến và lặng lẽ đi, đến và đi đều trong nước mắt, đều trong bóng tối của đêm đen.’

Vậy mà bây giờ niềm hi vọng Do Thái dâng lên một lần nữa nhờ một Hoàng hậu đến để cai trị Jerusalem.

BARSOMA VÀ CÁC THẦY TU BÁN QUÂN SỰ

Các hoàng hậu thường hay bị các sử gia sô vanh mô tả như những ả giang hồ gớm ghê, nham hiểm hoặc là những nữ thánh quang minh, nhưng Hoàng hậu Eudocia đặc biệt khác thường khi được ca tụng vì ngoại hình sắc sảo và bản tính yêu nghệ thuật. Năm 438, người vợ kiều diễm này của Hoàng đế Theodosius II đến Jerusalem và nới lỏng ách cai trị người Do Thái. Đồng thời, một nhà khổ hạnh bài Do Thái cùng cực, Barsoma xứ Nisibis, đến Jerusalem trên một chuyến hành hương thường lệ, dẫn theo một đoàn thầy tu hổ mang bán quân sự.

Eudocia là người bảo vệ các tín đồ đa thần giáo và Do Thái vì chính bà theo đa thần giáo. Là cô con gái nổi bật của một học giả Athens, được giáo dục về tu từ học và văn chương, bà đến Constantinople để cầu cứu với hoàng đế sau khi bị các em trai giành lấy quyền thừa kế của mình. Theodosius II là một thiếu niên mềm yếu, bị bà chị Pulcherima vô duyên và mộ đạo của mình lấn lướt. Bà giới thiệu Eudocia với em mình, và hoàng đế ngay lập tức trúng tiếng sét ái tình và cưới nàng làm vợ. Pulcheria khống chế chính quyền của em trai mình, gia tăng sự bức hại người Do Thái, loại bỏ họ ra khỏi quân đội và đời sống công cộng, và gán cho họ vị thứ công dân hạng hai. Năm 425, Theodosius ra lệnh hành hình Gamaliel VI, trưởng lão Do Thái cuối cùng, để trừng phạt ông vì tội xây cất thêm đền thờ Do Thái, và bãi bỏ chức vụ đó mãi mãi. Dần dần, Eudocia củng cố quyền lực và

Theodosius đề bạt bà tước vị  Augusta, ngang hàng với chị gái mình. Một hình khảm đá của bà trong một nhà thờ ở Constantinople cho thấy phong cách vương giả của bà, mái tóc đen, vẻ diễm lệ và cánh mũi thanh tú.

Ở Jerusalem, người Do Thái, gánh chịu tình cảnh bị áp bức nặng nề từ Constantinople, cầu xin với Eudocia được đến Thành phố Thánh nhiều hơn, và bà đồng ý là họ có thể công khai đến thăm Núi Đền trong những dịp lễ chính. Đây đúng là tin tuyệt vời, và người Do Thái kêu gọi nhau đến Jerusalem để mừng Lễ  Tabernacles ‘vì vương quốc chúng ta sẽ được thiết lập’.

Tuy nhiên, niềm vui của người Do Thái làm ông khách khác đến thăm Jerusalem chán ghét. Đó là Barsoma xứ Nisibis, một thầy tu xứ Syria vốn là một cá thể trong một chủng loài mới, bọn người cầm đầu tu viện hiếu chiến. Trong thế kỷ 4, một số nhà khổ hạnh bắt đầu phản bác những giá trị thế tục của xã hội và sự hào nhoáng của thứ bậc  tăng lữ. Họ xây cất những tu viện trong sa mạc để quay về  với những giá trị của  người Cơ đốc buổi đầu. Những ẩn sĩ tin rằng hiểu thể thức đúng cho bản chất Cơ đốc là không đủ, mà còn cần phải sống công chính, vì thế họ sống độc thân, kham khổ, vị tha và giản dị trên sa mạc Ai Cập và Syria.

 Những kỳ công tự phạt roi phô trương tính thần thánh được tôn vinh, những tiểu sử của họ được viết ra, nơi ẩn cư của họ được thăm viếng và sự thiếu thốn cam khổ của họ là điều kỳ diệu. Hai Thánh Simon sống hàng thập kỷ tận trên cột cao 30 bộ. Daniel, một người cũng sống trên cột, được hỏi liệu ngài đại tiện làm sao: khô cứng, như bọn cừu, ông trả lời. Thật ra, Jerome nghĩ họ quan tâm đến sự bẩn thỉu nhiều hơn là sự thánh thiện. Nhưng các thầy tu này còn lâu mới an tĩnh. Jerusalem, hiện giờ đang bị bao vây bởi những tu viện mới và chứa nhiều tu viện của riêng nó, đang hoàn toàn dưới quyền sinh sát của những toán người cuồng tín đánh nhau trên đường phố này.

Barsoma, được cho là quá thần thánh đến nỗi ông không bao giờ ngồi hoặc nằm xuống, thấy bị xúc phạm trước cảnh sống lại của bọn Do Thái và Samaria ‘sùng bái thần tượng’  nên quyết tâm tẩy trừ chúng khỏi Palaestina. Y và bọn thầy tu thuộc hạ tàn sát người Do Thái và đốt rụi đền thờ của họ. Hoàng đế ngăn cấm bạo lực vì muốn ổn định trật tự, nhưng Barsoma phớt lờ ông ta. Giờ đây, ở Jerusalem, Barsoma cùng với đội quân xung kích tu sĩ trang bị gươm dao và chày vồ  giấu bên dưới lớp áo choàng thầy tu, phục kích người Do Thái trên Núi Đền, ném đá và giết nhiều người, ném xác họ vào các hầm chứa nước và ngoài sân. Người Do Thái đánh trả, bắt được 18 kẻ tấn công và giao nộp cho thống đốc Byzantine kết án chúng tội sát nhân. ‘Những tên giặc cướp này dưới trang phục đáng kinh của thầy tu’ được giải đến Eudocia, bà hoàng hành hương. Chúng bị kết tội sát nhân nhưng khi chúng lôi kéo Barsoma vào, y tung tin là các tín đồ Cơ đốc cao quí đang bị thiêu sống. Đám đông tụ tập về phe Barsoma, nhất là khi y nêu ra trận động đất đúng lúc vừa rồi chính là dấu hiệu thần thánh tán thành.

Nếu hoàng hậu lên kế hoạch hành hình bọn Cơ đốc khát máu này, những người về hùa với Barsoma sẽ la làng, sau đó ‘chúng ta không ngại sẽ thiêu sống bà hoàng cùng đoàn tùy tùng’. Barsoma khủng bố các viên chức bắt họ làm chứng là những nạn nhân Do Thái không bị thương tích gì: họ chết là do nguyên nhân tự nhiên. Một trận động đất lại giáng xuống càng làm tăng cơn hoảng loạn lan truyền. Thành phố hoàn toàn mất kiểm soát. Eudocia không có nhiều lựa chọn trừ ra phải chấp nhận. ‘500 thầy tu bán quân sự tuần tra khắp đường phố và Barsoma loan báo rằng ‘Thập giá đã thắng’, và tiếng hô được lặp lại khắp thành phố ‘như tiếng gầm rú của sóng’ trong khi các bộ hạ xức dầu thánh cho y bằng chất nhựa thơm đắt tiền, và bọn sát nhân được thả tự do.

Dù có vụ bạo loạn này, Eudocia vẫn yêu quí Jerusalem, ủy thác xây cất một loạt nhà thờ mới, và bà trở lại Constantinople nặng chĩu những thánh tích mới. Nhưng chị dâu Pulcheria của bà đang âm mưu hủy diệt bà.

EUDOCIA: HOÀNG HẬU CỦA JERUSALEM

Theodosius gởi Eudocia một quả táo miền Phrygia. Bà tặng nó cho người được bà bảo trợ, Paulinus, Chánh Văn phòng, và ông này không biết bèn biếu lại hoàng đế. Theodosius, cảm thấy bị xúc phạm, hỏi rõ bà vợ. Bà nói dối, khăng khăng mình đã không trao tặng ai món quà của chồng mà đã ăn nó. Nghe thế, hoàng đế trưng ra trái táo. Lời nói dối trắng trợn này khiến Theodosius tin rằng những gì bà chị bấy lâu nay tỉ tê với mình là đúng:  Eudocia đang dan díu với Paulinus. Paulinus bị hành hình năm 440, nhưng cặp đôi hoàng gia thỏa thuận phương cách để Eudocia rút khỏi kinh đô trong danh dự. Ba năm sau, bà về Jerusalem để cai trị Palaestina theo quyền hạn của mình.

Cho dù sau đó Pulcheria ra sức hãm hại bà, cử  Saturnius, Bá tước trong Đội Vệ sĩ Hoàng đế, hành hình hai thành viên trong đoàn tùy tùng của bà. Eudocia tức tốc cho người mưu sát Saturnius. Một khi tình hình âm mưu cung cấm này chùng xuống, bà được tự do thực thi theo ý mình: bà xây dựng cung điện cho chính mình và tòa giám mục, nhà tế bần ngày sát bên Mộ Thánh, sống sót qua nhiều thế kỷ. Bà xây dựng tường thành đầu tiên kể từ thời Titus, bao quanh Núi Zion và Thành phố David – những đoạn tường thành của bà đến nay vẫn còn thấy được ở cả hai nơi. Những cột trụ của nhà thờ nhiều bậc của bà quanh Hồ Siloam vẫn còn đứng trong nước ở đó.*

* Eudocia lấy cảm hứng từ Thánh thi 51: ‘Làm tốt trong sự vui sướng của ngươi cho Zion: xây dựng tường thành Jerusalem.’ Bà được sự cố vấn của thầy tu tiếng tăm gốc Amenia Euphemius mà người được ông bảo trợ Sabas đã xây dựng Tu viện đẹp đẽ một cách ám ảnh Mar Saba Monastery, ngày nay cư trú 20 thầy tu, trong vùng núi Judaea không xa Jerusalem. Armenia, trong miền Caucasus, đã từng là vương quốc đầu tiên cải sang đạo Cơ đốc vào năm 301 (sau vụ cải đạo huyền thoại của Vua Abgar xứ Edessa), tiếp theo là xứ láng giềng Georgia (được biết dưới tên Iberia) vào năm 327. Eudocia được tiếp nối bởi người được bà bảo trợ, Peter người xứ Georgia, con trai của vua xứ Iberia, xây dựng một tu viện bên ngoài tường thành. Đây là khởi đầu cho sự hiện diện của người miền Caucasus ở Jerusalem đến tận ngày nay.

 Đế chế giờ lại rối rắm bởi những tranh cãi bùng phát trở lại về Cơ đốc giáo học. Nếu Jesus và Chúa Cha có ‘cùng bản chất’, thế thì làm sao Christ có thể phối hợp cả hai nhân tính và thánh tính? Năm 428, Nestorius, Giáo trưởng mới của Constantinople, nhấn mạnh một cách cộc lốc khía cạnh con người và bản chất nhị nguyên của Jesus, tuyên bố rằng Mary Đồng Trinh không nên được coi là Theotokos, Người Có Mang Chúa, mà chỉ là Christokos, Người Có Mang Christ. Các kẻ thù của ông, phe Nhất Thể, khăng khăng cho rằng Christ có độc nhất một bản chất vừa là phàm vừa là thánh. Phái Nhị Thể chống lại phái Nhất Thể đối thủ giữa chốn triều đình và trong hẻm tối của Jerusalem và  Constantinople với tất cả bạo lực và căm thù của các hooligan bóng đá Cơ đốc. Mọi người, Gregory xứ Nyssa nhận xét, đều đồng ý: ‘Nếu bạn nhờ một người đổi hộ tiền lẻ, y sẽ giảng cho bạn một miếng triết lý liên quan đến Sự Thọ Sinh và Sự Bất Thọ Sinh; nếu bạn hỏi giá một ổ bánh mì, y sẽ trả lời “Chúa Cha thì trọng hơn và Chúa Còn thì khinh hơn”; hoặc nếu bạn hỏi liệu nước tắm đã sửa soạn xong chưa, câu trả lời bạn nhận được là Chúa Con được tạo ra từ hư không.’

Khi Theodosius mất, hai mệnh phụ đương đầu nhau qua biên giới của Cơ đốc giáo học.

Pulcheria, người đã nắm quyền ở Constantinople, hậu thuẫn phái Nhị Thể, nhưng Eudocia, như hầu hết người Cơ đốc phương Đông, theo phái Nhất Thể.  Pulcheria thẳng thừng trục xuất bà khỏi Giáo hội. Khi Juvenal, Giám mục Jerusalem, ủng hộ   Pulcheria, những người Jerusalem Nhất Thể động viên nhóm thầy tu xung kích của mình đuổi ông ta ra khỏi thành phố, một tình trạng gây go mà ông ta sẽ khai thác. Đạo Cơ đốc từ lâu đã được bốn tòa giám mục kinh đô cai trị – La Mã và các giáo trưởng phương Đông. Nhưng các giám mục Jerusalem vẫn luôn vận động xin nâng bậc trưởng giáo. Giờ Juvenal tranh thủ được điều này khi cái giá của lòng trung thành khiến ông suýt mất mạng. Cuối cùng vào năm 451, tại Hội đồng Chalcedon, Pulcheria cưỡng chế một thỏa hiệp: trong Sự Hợp nhất của Hai Bản thể, Jesus là ‘hoàn hảo trong  thánh tính, và hoàn hảo trong nhân tính’. Eudocia đồng thuận và hòa giải với Pulcheria. Sự thỏa hiệp đã kéo dài  đến tận ngày nay trong Giáo hội Chính thống giáo, Thiên Chúa và Tin Lành, nhưng nó có tì vết: Phái Nhất Thể và phái Nestoria, vì những lý do hoàn toàn đối nghịch nhau, bác bỏ nó và tách khỏi Chính thống mãi mãi.

Tại một thời điểm khi đế chế La Mã phương Tây đang bị Attila Hung nô khủng bố và đang lao nhanh về sự sụp đổ định mệnh, lão bà Eudocia đang ngồi làm thơ Hy Lạp và xây dựng vương cung thánh đường St Stephen, giờ đã tuyệt tích, nhưng ngay phía bắc Cổng Damascus vào năm 460 bà được an táng bên cạnh các thánh tích của thánh tử đạo thứ nhất.

 CHƯƠNG 16

HOÀNG HÔN CỦA BYZANTINE: CUỘC XÂM LƯỢC CỦA BA TƯ 518–630

JUSTINIAN VÀ HOÀNG HẬU  GÁI DIỄN: BYZANTINE JERUSALEM

Năm 518, ở tuổi 35, Justinian bỗng thấy mình là nhà cai trị thực sự của đế chế miền Đông khi chú mình Justin được đưa lên ngôi. Vị hoàng đế mới già nua là một nông dân dốt chữ xứ Thracia, phải nhờ cậy vào người cháu lanh lợi của mình là Peter, nhận tên mới là Justinian. *

* Một trong những quyết định sớm nhất của Justinian trong thời cai trị của chú ông là hủy diệt vương quốc Do Thái Ả Rập Yemen. Vào đầu thế kỷ 5, các Vua xứ Yemen (Himyara) đã cải sang Do Thái giáo. Năm 523, để đáp ứng với mối đe doạ Byzantine, vua người Do Thái Joseph  – Dhu Nuwas Zurah Yusuf – tàn sát người Cơ đốc ở Yemen và cưỡng chế các tỉnh láng giềng cải sang  đạo Do Thái. Justinian ra lệnh cho vua Cơ đốc giáo Kaleb xứ Axum (Ethiopia) xâm chiếm Yemen. Vua Joseph bị đánh bại vào năm 525 và phải tự tử bằng cách lao xuống biển trên lưng ngựa. Vậy mà nhiều người Do Thái vẫn ở lại Yemen và đạo Do Thái vẫn không biến mất ở Ả Rập: nhiều bộ tộc của nó vẫn còn là Do Thái trong thời kỳ Muhammad; người Do Thái ở Yemen sẽ bắt đầu định cư ở Jerusalem vào thế kỷ 19 và di dân đến Israel sau năm 1948. Đến năm 2010 chỉ còn một làng người Do Thái ở lại Yemen.

Ông không lên đến đỉnh cao quyền lực một mình: người tình của ông Theodora là con gái của một người huấn luyện gấu trong đội đua ngựa Xanh Lam, lớn lên giữa những nài ngựa đầm đìa mồ hôi, nhà tắm mờ ám và đấu trường gấu đẫm máu của sân đua ngựa Constantinople. Khởi nghiệp là một gái diễn vui nhộn trước tuổi dậy thì, bà được cho là một thành viên hoạt náo có năng khiếu vận động mà tiết mục biểu diễn đặc biệt là đang  là giang rộng chân trên sân khấu trong khi các con ngỗng mổ hạt  lúa mạch  từ ‘cái đài hoa nóng bỏng này’. Những chi tiết nhục dục chắc chắn là phóng đại bởi sử gia triều đình, vốn ắt hẳn thầm bất mãn với việc phải nịnh hót trong công việc thường nhật của mình. Dù sự thật là thế nào, Justinian thấy mình không thể kềm chế được trước sức sống của cô và phải thay đổi luật lệ để có thể cưới được cô. Mặc dù những mưu mô của cô khiến cuộc sống ông thêm phức tạp, nhưng Theodora thường tiếp thêm nghị lực mà ông thiếu. Khi ông gần như đánh mất Constantinople trong những vụ nổi loạn Nika và đang tính đào thoát, bà nói thà là chết trong bộ áo tím hoàng gia còn hơn sống mà không có nó. Liền đó bà phái những vị tướng đến tiêu diệt bọn nổi loạn.

Nhờ những chân dung hiện thực của họ trong Nhà Thờ San Vitale ở Ravenna, chúng ta biết được Justinian mặt mỏng và  không mấy thân thiện với nước da hơi đỏ, trong khi Theodora, thanh tú, xanh tái và lạnh giá, với cặp mắt sáng rực và đôi môi mím chặt, nhìn chằm chằm vào chúng ta, những dây ngọc trai điểm tô mái đầu và ngực bà. Dù cho họ xuất thân thế nào, cả hai đều nghiêm túc một cách khắt khe, không thương tiếc đối với đế chế và tôn giáo của mình.

Justinian, vị hoàng đế cuối cùng nói tiếng Latinh ở miền Đông, tin rằng sứ mạng đời ông là phục hồi đế chế La Mã và thống nhất lại vương quốc Cơ đốc giáo: một thời gian ngắn trước khi ông ra đời, vị hoàng đế cuối cùng của La Mã đã bị một tộc trưởng Đức đuổi ra khỏi thành phố. Mỉa may thay, việc này càng làm thăng hoa uy thế của các giám mục La Mã, chẳng bao lâu sẽ được biết đến như những giáo hoàng, và những khác biệt giữa đông và tây. Justinian đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc trong công cuộc xiển dương đế chế Cơ đốc giáo của mình bằng chiến tranh, lòng tin và nghệ thuật. Ông tái chinh phục Ý, bắc châu Phi và nam Tây Ban Nha, mặc dù ông đương đầu nhiều lần với cuộc xâm lược của Ba Tư có lần gần như tràn khắp miền Đông. Cặp đôi hoàng đế xiển dương đế chế Cơ đốc giáo của mình như là ‘nơi ban phước đầu tiên và vĩ đại nhất của cả nhân loại’, dập tắt nạn đồng tính, bọn đa thần giáo, bọn ngoại giáo, người Samaritan và Do Thái. Justinian hạ thấp đạo Do Thái không còn là tôn giáo được cấp phép và ngăn cấm hành lễ Vượt Qua nếu rơi đúng vào ngày Phục Sinh, cải nhà thờ Do Thái sang nhà thờ Cơ đốc giáo, cưỡng chế rửa tội những người Do Thái và trưng dụng lịch sử Do Thái: năm 537, khi Justinian dâng cúng Thánh đường có mái vòm Hagia Sofia lộng lẫy đến nín thở ở Constantinople, ông được cho là đã phát biểu, ‘Solomon, ta đã qua mặt ngươi.’

Năm 543, Justinian và Theodora bắt đầu xây dựng một vương cung thánh đường, Tân Thánh đường St Mary Mẹ của Chúa,* dài gần 400 bộ và cao 187 bộ, với tường dày 16 bộ, quay lưng về Núi Đền và được thiết kế để khống chế địa điểm của Solomon. Khi tướng Belisarius của Justinian chinh phục kinh thành Vandal của Carthage, ông tìm thấy ở đó giá đèn, bị Titus lấy cắp từ Đền Thờ. Sau khi đám rước đưa nó qua Constantinople trong lễ Khải Hoàn của Belisarius, nó được đưa về Jerusalem, ắt hẳn để tô điểm cho nhà thờ mới St Mary của Justinian.

* Phức hợp này đã mất dấu nhiều năm liền, nhưng nền móng của nó, trải dài từ Khu Do Thái dưới tường thành hiện nay ra đến bên ngoài Thành phố Cổ , được phát hiện trong các cuộc khai quật của nhà khảo cổ Nahman Avigad vào năm 1973. Justinian xây dựng tiếp một loạt các khung vòm dọc theo con dốc để nâng đỡ sức nặng của nó. Chữ khắc này được tìm thấy trong đó: ‘Và đây là công trình do lòng quảng đại của Đại Đế Flavius Justinianus nhân từ nhất của chúng ta.’

016b95663e2759ab904691d5f8df689d

Hoàng đế Byzantine Justinian I và bà vợ Theodora

Thành phố Thánh được quản trị theo nghi thức của Cơ đốc giáo Chính thống.* Khách hành hương đi qua Cổng Hadrian ở phía bắc và xuống trục Cardo, một con đường có cột và lát đá, rộng 40 bộ, đủ cho hai làn xe ngựa đi qua, hai bên là các hàng quán, chạy dài xuống tận nhà thờ St Mary. Nhà giàu sống ở phía nam và tây-nam Núi Đền trong những lâu đài hai tầng bao quanh bởi sân vườn. ‘Sung sướng thay những ai sống trong ngôi nhà này’ là hàng chữ viết ở trong một lâu đài. Nhà cửa, nhà thờ, thậm chí các cửa hàng, đều được trang trí rực rỡ bằng các hình khảm đá: các vua Armenia ắt hẳn đã ủy thác những hình khảm rực rỡ những con hạc, bồ câu và đại bàng. Bí ẩn hơn nữa là hình khảm bán Cơ đốc giáo của chàng Orpheus (một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp) đang chơi đàn lia được tìm thấy vào đầu thế kỷ ở phía bắc Cổng Damascus. Những phụ nữ Byzantine giàu có mặc y phục Hy Lạp viền vàng, đỏ và xanh lá, mang giày đỏ, vòng tay ngọc trai, vòng cổ và bông tai. Một chiếc nhẫn vàng đã được khai quật ở Jerusalem trang trí một hình mẫu Nhà Thờ Mộ Thánh.

* Năm 1884, một hình khảm đầy màu sắc được tìm thấy trên sàn của một nhà thờ Byzantine ở Madaba (ở Jordan), in dòng chữ ‘Thành phố Thánh Jerusalem’ , bản đồ Jerusalem đầu tiên cho thấy cái nhìn Byzantine về thành phố với sáu cổng chính, nhà thờ và Núi Đền ít khi đáng được mô tả gì hết. Vậy mà Núi Đền không hoàn toàn trống rỗng. Nó chưa hề được các nhà khảo cổ khai quật, nhưng vào thập niên 1940 các kỹ sư Anh phục hồi những địa điểm thiêng liêng của Hồi giáo, thăm dò nông và phát hiện những vết tích Byzantine. Các người lạc quan hi vọng đây có thể là nền móng của Đền Thờ Do Thái (chưa được xây dựng) của Hoàng đế Julian. Nhưng đây cũng có thể là vết tích của điện thờ Byzantine duy nhất tại địa điểm này – Nhà Thờ Pinnacle nhỏ đánh dấu nơi Sa tăng cám dỗ Jesus.

3

Bản đồ Madaba

Thành phố được chỉnh trang để đón tiếp hàng ngàn khách hành hương: các ông lớn thì cư ngụ với trưởng lão; khách hành hương nghèo khó thì ở tại những nhà nghỉ trong viện tế bần của Justinian có đủ giường cho 3,000 người; và các thầy tu khổ hạnh thì trong các hang động, thường là những nhà mồ cổ của người Do Thái, trong vùng đồi chung quanh. Khi nhà giàu chết, họ được an táng trong quách; được trang trí bằng những bức họa và gắn những chuông nhỏ để xua đuổi quỷ sứ. Còn các thi thể người nghèo thì bị đẩy vào những nhà mồ tập thể vô danh trong Cánh đồng Máu.

Những trò cám dỗ từng làm Jerome bực tức đều có sẵn: có những trận đua ngựa trong trường đua, với hai fan ủng hộ Xanh Lam và Xanh Lá ầm ĩ. ‘Vận số phe Xanh Lam thắng!’ một dòng chữ khắc được tìm thấy ở Jerusalem. ‘Vạn tuế!’

Theodora mất vì chứng ung thư ngay sau khi Tân Thánh đường St Mary hoàn tất, nhưng Justinian sống thọ đến bát tuần tận năm 565, đã cai trị gần 50 năm. Ông đã mở rộng đế chế hơn bất kỳ ai khác trừ Augustus và Trajan, nhưng vào cuối thế kỷ nó quá bành trướng và dễ tổn thương. Vào năm 602, một vị tướng chiếm đoạt ngai vàng và bám víu vào nó bằng cách xua phe đua ngựa Xanh Lam chống lại kẻ thù của mình, được phe Xanh Lá  hậu thuẫn, và ra lệnh buộc người Do Thái phải cải đạo. Phe Xanh Lam và Xanh Lá, luôn là sự kết hợp nguy hiểm giữa các fan thể thao và bọn đâm thuê chém mướn, đánh nhau vì Jerusalem: ‘những tên ác xấu và nham hiểm làm ngập ngụa thành phố bằng tội ác và sát nhân.’ Phe Xanh Lá thắng, nhưng binh lính Byzantine chiếm lại thành phố và dập tắt vụ nổi dậy.

Cuộc hỗn loạn này khiến Khusrau II, vua Ba Tư, không thể kềm chế được. Khi còn trẻ ông đã được Hoàng đế Byzantine Maurice giúp đỡ trở lại ngôi vua, nhưng khi ông này bị mưu sát, Khusrau có cớ để xâm chiếm miền Đông, hi vọng sẽ tiêu diệt Constantinople một lần cho tất cả. Jerusalem sắp sửa trải qua một thời kỳ nháo nhào khi bị bốn tôn giáo khác nhau cai trị trong 25 năm: đạo Cơ đốc giáo, đạo Ba Tư, đạo Do Thái và đạo Hồi.

VUA BA TƯ VÀ LỢN RỪNG HOÀNG GIA: CƠN THỊNH NỘ CỦA LŨ CHÓ ĐIÊN

Người Ba Tư, với mũi xung kích bằng kỵ binh áo giáp nặng, tấn công Iraq thuộc La Mã và rồi xà xuống vào Syria. Người Do Thái ở Antioch, từ lâu bị người Byzantine bức hại, liền nổi loạn và, khi tướng chỉ huy Ba Tư, nổi danh dưới biệt danh Shahrbaraz – Lợn Rừng Hoàng gia – hành quân về phương nam, 20,000 người Do Thái từ Antioch và Tiberias tham gia với ông vây hãm Jerusalem. Bên trong, giáo trưởng Zacharias cố thương thảo, nhưng những tên đua ngựa đâm thuê chém mướn cai trị đường phố từ chối. Tuy nhiên quân Ba Tư và Do Thái cũng đột nhập được vào thành phố.

Jerusalem, và đúng ra toàn bộ miền Đông của đế chế La Mã, giờ đã thuộc về vị vua Ba Tư trẻ tuổi, Vua của các vì Vua, Shah-in-Shah Khusrau II, mà đế chế mới của ông trải dài từ Aghanistan đến Địa Trung Hải. Vị shah này là cháu nội của nhà cai trị vĩ đại nhất thuộc triều đại Sassanid đã từng phóng hỏa Antioch trong thời trị vì của Justinian. Nhưng ông đã trải qua thời trẻ bị sỉ nhục như con cờ bất lực của những gia đình quí tộc tranh chấp và đã lớn lên thành một người hoang tưởng tự đại áp đặt quyền lực của mình và phô trương sự khổng lồ hoang phí: lá cờ bằng da hổ của ông dài 130 bộ, rộng 20 bộ; ông thiết triều trên Mùa Xuân của Vua, một tấm thảm rộng 1,000 bộ vuông, dát vàng và tranh thêu, mô tả một vườn thượng uyển tưởng tượng; shabestan của ông – những căn phòng ngầm mát rượi nơi các shan giữ các phụ nữ của mình – chứa đến 3,000 cung nữ; và có thể ông là người xây dựng cung điện khổng lồ tại kinh đô Ctesiphon (sát bên Baghdad ngày nay) với khán phòng lớn nhất thế giới. Cưỡi con ngựa ô, Nửa Đêm, mặc áo choàng dệt bằng vàng, đính đá quí, áo giáp tô điểm bằng vàng. 

Vị shah, mà thần dân của ông nói đủ thứ tiếng bao gồm nhiều người Do Thái và Cơ đốc giáo, nhưng ông đã cưới một tín đồ Cơ đốc giáo đáng yêu người Nestoria, Shirin. Theo truyền thuyết, ông thắng được đối thủ bằng cách phái y thi hành một nhiệm vụ bất khả thi là đẽo bậc thang lên núi Behustan.

Sau khi Jerusalem đã bị đánh chiếm, tướng của vị shah, Lợn Rừng Hoàng gia, tiến lên để chinh phục Ai Cập, nhưng ông chỉ vừa mới đi thì người Jerusalem nổi dậy chống lại người Ba Tư và Do Thái. Lợn Rừng phi ngựa trở lại và bao vây Jerusalem trong 20 ngày, tàn phá nhà thờ trên Núi Olives và Gethsemane. Quân Ba Tư và Do Thái đào bên dưới tường thành đông-bắc, luôn là điểm dễ tổn thương nhất, và vào ngày thứ 21, đầu tháng 5 614, họ ồ ạt xông vào Jerusalem ‘trong cơn cuồng nộ, như những con thú rừng nổi nóng’, theo nhân chứng Strategies, một thầy tu. ‘Dân chúng ẩn núp trong nhà thờ và chúng xông vào hùng hổ hủy diệt họ, nghiến răng và giết mọi người chúng tìm thấy như một lũ chó điên.’

Trong ba ngày, hàng ngàn tín đồ Cơ đốc giáo bị tàn sát. Giáo trưởng và 37,000 giáo dân Cơ đốc giáo bị đày đến Ba Tư. Khi những người còn sống sót đứng trên Núi Olives ‘và nhìn trân trân xuống Jerusalem, một ngọn lửa, như phụt ra từ một lò lửa, lên cao đến các tầng mây và họ ngồi thụp xuống bật khóc và than vãn’, dụi tro lên đầu tóc vì họ nhìn thấy Nhà Thờ Mộ Thánh, Tân Thánh đường trên Núi Zion và thánh đường St Jameses của người Armenia, bị cháy rụi trong lửa địa ngục. Các thánh tích Cơ đốc giáo – Cây Giáo, Miếng Bông Xốp (cho Jesus trên thập giá ngậm đỡ khát), Thập giá Thực – được mang đến  Khusrau, và ông này tặng cho hoàng hậu Shirin . Bà này gìn giữ chúng trong nhà thờ của mình ở Ctesiphon.

Thế là, 600 năm sau khi Titus hủy diệt Đền Thờ, Lợn Rừng trả Jerusalem về lại cho người Do Thái.

NEHEMIAH II: NỔI KHỦNG BỐ DO THÁI

Sau hàng thế kỷ bị áp bức, người Do Thái, do một nhân vật tối tăm có tên Nehemiah cầm đầu, hăng hái trả thù người Cơ đốc giáo khi chỉ vài tuần lễ trước đây đã ra tay bức hại họ. Người Ba Tư cầm tù hàng ngàn tù binh trong Hồ Manilla, một hầm chứa rộng lớn, tại đó, theo các tài liệu Cơ đốc giáo, họ bị buộc phải lựa chọn giống như gần đây họ đã buộc  người Do Thái: cải đạo hay là chết. Một số thầy tu cải sang đạo Do Thái; một số khác chịu tử vi đạo. * Người Do Thái vui mừng có thể đã bắt đầu thánh hóa lại Núi Đền, vì giờ đây họ đã tiến hành  ‘lễ hiến tế’ và cơn sốt tiên tri lay động khắp thế giới Do Thái, gây cảm hứng cho Sách  Zerubbabel.

* Ghi chép Cơ đốc giáo phóng đại rằng 10,000 đến 90,000 tín đồ Cơ đốc giáo bị người Do Thái sát hại và bị Thomas Tên Đào Huyệt chôn xác. Truyền thuyết Cơ đốc giáo cho rằng các nạn nhân bị chôn vùi trong nghĩa địa Mamilla ở Hang Sư Tử, được đặt tên như thế vì những người sống sót ẩn nấp trong hang cho đến khi họ được một con sư tử giải cứu. Còn người Do Thái thì cho rằng đó chính là các nạn nhân Do Thái bị người Cơ đốc giáo tàn sát và được sư tử giải cứu.

Vị vua Ba Tư đã chính phục Ai Cập, Syria, Iraq và Tiểu Á suốt đến tận Constantinople. Chỉ có thành phố Tyre là còn cầm cự được với quân Ba Tư, và ông ra lệnh cho chỉ huy Do Thái là  Nehemiah đánh chiếm nó. Quân Do Thái thất bại trong sứ mạng này và phải chuồn khỏi Tyre, đến đây ắt hẳn người Ba Tư đã nhận ra rằng số người Cơ đốc giáo đông đảo hơn nên hữu dụng cho họ hơn. Năm 617, sau ba năm dưới sự thống trị Do Thái, Lợn Rừng trục xuất người Do Thái ra khỏi Jerusalem. Nehemiah kháng cự lại nhưng bị đánh bại và bị hành hình tại Emmaus gầnJerusalem.

Thành phố trả về cho người Cơ đốc giáo. Thêm một lần nữa đến lượt người Do Thái phải chịu đựng. Người Do Thái ra khỏi thành phố bằng cổng phía đông như người Cơ đốc giáo trước đây, đi bộ về hướng Jericho. Người Cơ đốc giáo thấy Thành phố Thánh bị tàn phá: Modestos, giáo sĩ quản nhiệm trong thời gian giáo trưởng vắng mặt, năng nổ phục dựng Mộ Thánh sụp đổ, nhưng thành phố không bao giờ trở lại nét lộng lẫy của thời Constantine và Justinian.

Ba lần kể từ thời Titus người Do Thái đã phải bắt lấy những giây phút được cầu nguyện tự do giữa đống đổ nát của Đền Thờ – ắt hẳn dưới thời bar Kochba, chắc chắn dưới thời Julian và Khusrau – nhưng người Do Thái sẽ không kiểm soát được Đền Thờ lần nào nữa cho đến 1,350 năm sau. Về phần người Ba Tư chiến thắng, giờ họ đang đối mặt với một hoàng đế Byzantine trẻ tuổi năng động dường như không hổ danh với cái tên Hercules (một vị thần La Mã có sức mạnh vô song, lấy từ bản gốc Heracles của thần thoại Hy Lạp).

HERACLIUS: THẬP TỰ QUÂN ĐẦU TIÊN

Tóc nâu và cao ráo, ông phần nào có dáng dấp của người cứu tinh đế chế. Con trai của thống đốc Phi châu và dòng dõi Armenia, Heraclius lên nắm quyền vào năm 610 khi nhiều lãnh thổ phía đông đã rơi vào tay Ba Tư và dường như tình hình khó có thể tồi tệ hơn nữa – nhưng mà đúng như vậy. Khi Heraclius phản công, ông bị Lợn Rừng đánh bại. Ông này khi đó đã chinh phục Syria và Ai Cập trước khi quay ra tấn kích chính Constantinople. Heraclius xin xỏ một nền hòa bình nhục nhã để có thời gian củng cố sức mạnh Byzantine và vạch kế sách rửa hận.

Vào ngày thứ hai lễ Phục Sinh năm 622, Heraclius dẫn quân giong buồm, không qua Hắc Hải đến Caucasus như mong đợi, mà đi vòng quanh bờ biển Ionia trong vùng Địa Trung Hải đến Vịnh Issus từ đó tiến vào nội địa và đánh bại Lợn Rừng. Thậm chí khi quân Ba Tư đe doạ Constantinople, Heraclius đang mang chiến tranh vào tận xứ sở của kẻ địch. Năm sau, ông lập lại mưu mẹo, hành quân qua Armenia và Azerbaijan về hướng cung điện của Khusrau ở Ganzak. Vị shah rút quân. Heraclius trú đông ở Armenia và rồi vào năm 625, trong một cuộc phô diễn thần thánh của kỳ tài quân sự, ông ngăn chặn không cho ba quân đoàn Ba Tư hợp nhất, trước khi lần lượt đánh bại từng quân đoàn một.

Trong cuộc chiến của những pha đấu trí liều lĩnh và tham vọng toàn cầu, vị shah lại lật ngược cục diện thêm một lần nữa, phái một vị tướng đánh chiếm Iraq và Lợn Rừng liên kết với người Avars, một bộ tộc du mục cướp bóc, đánh chiếm Constantinople. Vị shah, tự xưng là ‘Người cao quí nhất trong số các Thần, Vua và Chủ nhân của Toàn Mặt đất’, viết cho Heraclius: ‘Ngươi nói ngươi tin vào Chúa Trời; thế tại sao Chúa không giải phóng Caesarea, Jerusalem, Alexandria khỏi tay ta? Bộ ta cũng không thể tiêu diệt Constantinople sao? Bộ ta đã không thể tiêu diệt những người Hy Lạp như ngươi sao? Heraclius phái một quân đoàn chiến đấu ở Iraq, một quân đoàn khác phòng vệ kinh đô, trong khi chính ông thuê 40,000 kỵ sĩ Thổ du mục, bọn Khazars, thành lập quân đoàn thứ ba.

Constantinople bị người Avars và Ba Tư vây hãm ở cả hai mặt sông Bosphorus, nhưng vị shah đố kỵ với Lợn Rừng.  Thói ngạo nghễ xấc xược của ông và những trò tàn bạo đầy sáng tạo của Ông Chủ Mặt Đất đã khiến giới quí tộc xa lánh. Vị shah gởi cho phó tướng của Lợn Rừng ra lệnh y viết chủ tướng và lên nắm quyền chỉ huy. Rủi thay bức thư bị Heraclius chận lấy được. Mời Lợn Rừng đến họp, ông chìa bức thư ra; họ bí mật kết thành đồng minh. Constantinople được giải cứu.

Lợn Rừng rút quân về Alexandria để cai trị Syria, Palestine và Ai Cập. Heraclius cùng quân đội giong buồm đến Caucasus qua Hắc Hải, và cùng với kỵ mã Khazar  xâm lược Ba Tư. Ông tỏ ra mưu mẹo hơn người Ba Tư, thách thức và giết cả ba dũng tướng Ba Tư trong các trận đấu kiếm tay đôi, rồi đánh bại chủ lực quân, ngay bên ngoài kinh đô của vị shah. Tính ương ngạnh bị đánh lừa của Khusrau đã hủy diệt ông. Ông bị bắt và nhốt vào ngục thất, Ngôi nhà của Bóng tối, tại đó đứa con trai nuông chiều bị làm thịt trước mặt ông trước khi chính mình bị khổ hình đến chết. Người Ba Tư thỏa thuận phục hồi status quo ante bellum (tiếng Latinh, có nghĩa hiện trạng trước chiến tranh). Lợn Rừng đồng ý kết hôn với cháu gái của Heraclius và tiết lộ nơi cất giữ Thập giá Thực. Sau những âm mưu vặn vẹo, Lợn Rừng chiếm được ngôi báu Ba Tư – nhưng chẳng bao lâu bị ám sát. 

Năm 629, Heraclius lên đường từ Constantinople cùng với vợ (đồng thời cũng là cháu gái) để trả Thập giá Thực về cho Jerusalem. Ông xá tội cho người Do Thái xứ Tiberias, tại đó ông dừng chân tại lâu đài một người Do Thái giàu có, Benjamin, cùng tháp tùng với ông đến Jerusalem, trên đường đi cải sang đạo Cơ đốc giáo. Người Do Thái được hứa hẹn là sẽ không bị trả thù và có thể cư trú tại Jerusalem.

Vào ngày 21/3/630, Heraclius, giờ đã 60, yếu sức và tóc đã hoa râm, cưỡi ngựa đến Cổng Vàng, mà ông dựng lên cho dịp trọng đại này. Đối với cả ba tôn giáo nguồn gốc Abraham, cánh cổng thanh tú này trở thành cánh cổng thần bí bậc nhất dành cho Đấng Tiên tri bước đến vào Ngày Phán Xét.* Đến đó hoàng đế xuống ngựa để mang Thập giá Thực vào Jerusalem. Người ta nói rằng khi Heraclius cố đi vào cổng trong trang phục Byzantine, cánh cổng biến thành bức tường đá vững chắc, nhưng khi ông tự hạ mình nó mở ra cho đám rước hoàng gia tiến vào. Thảm và cỏ thơm được rải trên con đường Heraclius mang Thập giá Thực bước đi đến Nhà Thờ Mộ Thánh, giờ đã được dọn sạch bởi Modestos. Thảm hoạ đã rơi xuống đế chế và sự trở về của hoàng đế tạo nên một phiên bản mới của kịch bản thường hay biến hóa về Ngày Khải Huyền, theo đó một Hoàng đế Cuối Cùng theo tiên tri sẽ đánh tan kẻ thù của Cơ đốc giáo và rồi sau đó giao quyền lực cho Jesus cai trị cho đến Ngày Phán Xét.

* Cổng Vàng (hình dưới), thực sự có hai cổng, nằm trực tiếp thẳng hàng với Nhà Mồ trong Nhà Thờ Mộ Thánh, nơi Heraclius mang Thập giá đến. Nơi này có tính biểu tượng nhiều hơn, như chúng ta đã nhìn thấy, vì người Byzantine tin tưởng một cách sai lầm rằng nó cũng đánh dấu vị trí của Cổng Đẹp nơi Jesus đi vào trong ngày Lễ Cọ và nơi mà các tông đồ của ông thi triển một phép màu sau khi ông mất. Tuy nhiên một số học giả tin rằng cổng thực sự được các kha-lip dòng Umayyad xây dựng lên. Cánh Cổng chẳng bao lâu khoác một ý nghĩa thần bí đối với người Do Thái khi họ gọi nó là Cổng Khoan Dung.

440px-Golden_Gate_Jerusalem_2009

Người Cơ đốc giáo đòi trả thù người Do Thái, nhưng Heraclius từ khước cho đến khi các tăng lữ xin gánh vác thay ông tội bội thề vì đã hứa xá tội cho người Do Thái bằng cách ăn kiêng để chuộc lỗi. Thế là Heraclius trục xuất người Do Thái còn ở lại; nhiều người bị tàn sát; sau đó ông ra lệnh cưỡng bách cải đạo cho mọi người Do Thái.

Cách đó rất xa về phía nam, người Ả Rập chú ý về thắng lợi của Heraclius không nhiều bằng về các điểm yếu của ông. ‘Người La Mã đã bị đánh bại,’ Muhammad tuyên bố. Ông là lãnh tụ đã vừa thống nhất các bộ tộc Ả Rập, nhờ vào văn bản thiêng liêng dựa trên những khải thị mới mẻ của mình, Kinh Koran. Trong khi Heraclius đang ở Jerusalem, Muhammad phái một lực lượng đột kích lên Xa lộ của Vua để thăm dò sức phòng thủ của Byzantine. Người Ả Rập chạm trán với một phân đội Byzantine –  nhưng họ sẽ sớm trở lại.

Heraclius chắc không mấy bận tâm: các bộ tộc Ả Rập hay chia rẽ đã từng cướp phá Palaestina hàng thế kỷ nay. Người Byzantine và Ba Tư đều thuê các bộ tộc Ả Rập như là những vùng độn giữa các đế chế của mình, và Heraclius đã bố trí nhiều toán kỵ binh Ả Rập hùng hậu trong các quân đoàn của ông.

Năm sau, Muhammad phái một phân đội khác tấn công vào lãnh thổ Byzantine. Nhưng giờ ông đã luống tuổi và cuộc đời ngoạn mục của ông đang sắp kết thúc. Heraclius rời Jerusalem và trở về Constantinople.

Hình như không có gì phải lo sợ.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s