Hội Kín : Bên Trong Hội Tam Điểm, Hội Yakuza, Hội Đầu Lâu Cốt và những Tổ Chức Bí Mật tai tiếng nhất thế giới- Phần 8

Chương 8

 AUM SHINRIKYO

GIÁO PHÁI ‘CHÂN LÝ TỐI THƯỢNG’

aum

John Lawrence Reynolds

Trần Quang Nghĩa dịch

Sáng ngày 20/3/1995 bắt đầu như mọi buổi sáng khác ở Tokyo, Nhật. Dân chúng khắp thành phố đang thức dậy, ăn sáng, rồi đến ga xe điện ngầm để đến sở làm. Nhưng không giống những ngày khác, sáng nay có năm gói lạ đã được đặt trên năm toa tàu điện khác nhau; những gói bọc trong đó có chứa những túi nhựa chứa đầy khí độc hóa học chết người. Sau khi đặt trên sàn tàu, túi nhựa được chọc thủng bằng đầu mũi dù, cho phép hoá chất bên trong – một khí ga thắn kinh chết người có tên sarin – được phóng thích. Sau đó nó lan tỏa khắp toa tàu. Sự kiện mà Tokyo trải nghiệm là một vụ tấn công khủng bố phối hợp, được tiến hành bởi một giáo phái bí mật, gớm ghiếc có tên Aum Shinrikyo. Thật ra, đây là một thảm kịch kép cho nước Nhật, bởi vì chỉ 9 tuần trước đó thành phố Kobe đã hứng chịu một trận động đất dữ dội với 6,000 người thiệt mạng.

Vụ tấn công bằng khí sarin không chỉ đưa đến một cuộc điều tra sâu rộng ngay tại  trung tâm nước Nhật, mà còn đánh dấu sự khởi đầu của loại khủng bố toàn cầu mới, được minh họa tốt nhất bằng sự kiện 11 tháng 9, 2001, khi hai phi cơ cố tính đâm vào Tháp Đôi ở New York. Nhưng ai đứng đằng sau các sự kiện ở Nhật, trong đó hàng ngàn người bị thương và 12 người thiệt mạng? Và động lực cho việc gây thương vong trên diện rộng này là gì?

Lãnh tụ tự phong của giáo phái Aum Shinrikyo là một gã đàn ông tên gọi Shoku Asahara, mặc dù đây không phải là tên thật. Tên thật của y là Chizuo Matsumoto, sinh ra trong gia đình nghèo ở tỉnh Kumamoto ngày 2/3/1955. Cha y kiếm sống bằng nghề làm chiếu đệm. Matsumoto hư một mắt vì cườm hạt ngay từ khi mới sinh, nên thuở nhỏ phải theo học ở trường dành cho người mù do nhà nước điều hành. Không giống như những đứa trẻ khác, y có thể nhìn một mắt, nên y thường lợi dụng lợi thế này để bắt nạt những bạn học cùng lứa. Tiền là động lực chính của y. Y hiếm khi giúp các bạn học mù mà không đổi lại chút tiền bạc.

Sau khi tốt nghiệp, chàng trai Matsumoto bỏ vài năm ra sức học mong thi đỗ vào Đại học Tokyo. Vào được đại học này gần như là điều kiện tiên quyết để buớc vào giới ưu tú của chính quyền Nhật Bản, một tham vọng mà Matsumoto ôm ấp từ thời còn trẻ. Hoặc vì xui xẻo hoặc không đủ năng lực, Matsumoto thì hỏng, giấc mơ tan vỡ là nổi đắng cay trong tâm trí chàng thanh niên. Trở lại quê nhà ở Kumamoto, y tìm việc làm trong một tiệm tẩm quất. Đây rõ ràng không phải là một sự bắt đầu  thuận lợi cho một thanh niên đầy tham vọng. Ở tuổi 23 y quay lại Tokyo. Tại đây y mở phòng châm cứu Matsumoto và cưới một sinh viên cao đẳng 19 tuổi tên Tomoko. Cô có 6 đứa con với y. Không lâu sau đó, Matsumoto bị bắt lần đầu tiên vì tội bán thuốc giả do y tự bào chế. Y chế thuốc từ  vỏ cam ngâm trong rượu, mà y gọi là thần dược gia truyền của Đông Y trị bách bệnh. Kèm với một khóa học ba tháng châm cứu và yoga, lọ thuốc bán với giá 7,000 yên.

Sau khi bị bắt và bị phạt 1,000 yên, Matsumoto quyết định, vào thập niên 1980, du lịch đến Ấn Độ, tại đó y học thêm yoga. Y bị mê hoặc bởi ý tưởng có thể giác ngộ tâm linh bằng thực tập một vài loại yoga và thiền định. Thình lình Matsumoto biết mình muốn làm gì; y sẽ trở về Nhật, thành lập trung tâm yoga của riêng mình, và khuyến khích những thành viên không những học tập một loại tín ngưỡng mới, mà còn tôn y như lãnh tụ tinh thần của giáo phái mới này.

Vào năm 1987, các tham vọng của Matsumoto được thực hiện; y đặt tên nhóm là Aum Shinrikyo Matsumoto và chính lúc này y nhận tên mình là Shoku Asahara. Những người mới nhập môn vào giáo phái tuyên bố rằng thầy họ không chỉ dạy họ giác ngộ tâm linh theo sự pha trộn chiết trung giữa Phật giáo, Ấn Độ giáo, Saman giáo, các lời giảng của Nostradamus, Cơ đốc giáo khải huyền và các tin điều Thời Đại Mới, mà còn sở đắc những quyền năng siêu nhiên như bay lên và thần giao cách cảm. Đối với nhiều người những tuyên bố này dường như nghe rất buồn cười, nhưng, thật khó hiểu, trong vòng hai năm “hoằng pháp” đến năm 1989, Aum Shinrikyo đã thu hút nhiều đệ tử đến nổi chính quyền phải cấp giấy phép hoạt động  tôn giáo cho Aum Shinrikyo. Tại đỉnh cao của quyền lực, vào giữa thập niên 1990, số thành viên ở Nhật của Aum Shinrikyo lên đến 10,000 người, với hơn 30,000 người có cảm tình theo khắp thế giới, kể cả một nhóm lớn ở Nga.

4

Shoku Asahara, một kẻ thị lực kém, học hành dang dở, mồm mép lừa đảo, lập ra một giáo phái hợp pháp do mình cầm đầu. Y bán râu và nước mình tắm cho các tín đồ, phán rằng chúng có quyền năng chữa trị.

Giáo phái càng tăng trưởng, Asahara càng trở nên được tôn sùng. Y nói gì tín đồ cũng cho là chân lý. Họ không chút ngần ngại khi thực hành các nghi lễ kỳ quái, như uống máu của Asahara, được cho là có các đặc tính ma thuật. Những lần khác các tin đồ được khuyến khích mua nước tắm của Asahara đầy quyền năng. Những sợi râu cắt ra của Asahara được bán với chỉ dẫn phải nấu sôi và sau đó uống như thần dược. Không thấy chính quyền can thiệp, cấm  giáo phái hoạt động, tin đồ càng đông tiền càng vô như nước. Vào tháng 3/1995, một thành viên cầm đầu của Aum Shinrikyo ước tính lợi tức ròng của giáo phái là khoảng 1.5 tỉ yên.

Lúc đầu, khi Shoku Asahara bắt đầu dạy yoga, y tránh tính phí học trò, nếu họ có trả thì coi như là tiền quyên tặng. Nhưng, khi Aum Shinrikyo được hợp thức hóa như một tôn giáo, tất cả đều thay đổi. Tiền quyên góp không chỉ được chào đón mà còn được kỳ vọng. Giáo phái cũng hoạt động trong lãnh vực sản xuất và buôn bán băng video, sách vở, tạp chí và các vật dụng linh tinh khác. Bản thân y cũng viết vài bộ sách, một số phổ biến nhất là Các Bí Quyết Phát Triển Sức Mạnh Tâm Linh (cam đoan dạy cách nhìn thấu tương lai và đọc được ý nghĩ của người khác), Vượt Qua Sinh Tử, Mahayana Sutra Nhập Môn. Các xê-mi-na và khoa huấn luyện cũng tổ chức thường xuyên và là những cơ hội dễ dàng nhất để hốt bạc, thủ được hàng ngàn đôla cho mỗi buổi học. Aum Shinrikyo cũng điều hành đa dạng ngành nghề “ngoài luồng”, như một công ty sản xuất máy tính, nhập những linh kiện từ Đài Loan về lắp ráp tại hãng xưởng ở Nhật do giáo phái điều hành rồi đem ra bán tại các cửa hàng của Aum Shinrikyo ở thủ đô.

Với tài sản tích lũy, chỉ là vấn đề thời gian trước khi Asahara quyết định đầu tư tiền bạc vào bất động sản. Vào năm 1988 y quyết định giáo phái cần một ngôi đền trong một khu phức hợp, để các tín đồ có thể sinh hoạt và ăn ở.

Núi Phú Sĩ không nghi ngờ gì nữa là một trong những địa điểm dễ nhận ra nhất của Nhật. Một nguồn cảm hứng cho các nghệ sĩ qua nhiều thế kỷ, nó biểu tượng cho vẻ đẹp và tính cách bí ẩn của đất nước. Buồn thay, vào năm 1988, vẻ hoành tráng của nó đã bớt đi nét cao quí. Tại chân núi Aum Shinrikyo đã mua một lô đất, cất một dãy nhà kiên cố như boong-ke, được sử dụng làm tổng hành dinh. Những dãy nhà ngủ được dựng lên, trong đó những tín đồ trung thành có thể ngủ trên sàn gỗ trơ trọi. Một phòng ăn rộng lớn cũng được xây dựng – tại đây những tín đồ (nếu  may mắn) được phục vụ một bữa mỗi ngày gồm rau củ hấp và cơm. Với những điều kiện sống cơ bản như thế, và trong khi được yêu cầu phải quyên góp những khoản tiền lớn cho giáo phái, dường như là điều đáng ngạc nhiên khi có quá nhiều ông bà muốn gia nhập tổ chức đến thế. Nhưng số tín đồ tiếp tục tăng, với nhiều  chuyên gia trẻ có mặt trong đám môn đệ mới. Hideo Murai là một trong số những người như thế. Một thanh niên trẻ tài năng vượt trội đã được đào luyện thành nhà vật lý vũ trụ, sau khi gặp gỡ Asahara anh quay lưng lại với cuộc sống trước đây và gia nhập Aum Shinrikyo. Một thành viên khác là Seiichi Endo, một kỹ sư di truyền học có bằng tiến sĩ về sinh học phân tử. Nhiều người khác cũng cùng họ gia nhập. Nhưng, mặc dù ngoài mặt giáo phái có vẻ như đáp ứng được tất cả kỳ vọng của những người này, bên dưới những rạn nứt đã bắt đầu xuất hiện, và vài tín đồ vỡ mộng đang bắt đầu tìm cách bỏ đi.

Những người mới vào cảm thấy vỡ mộng lẫn sợ sệt một phần vì những nghi lễ nhập môn có tính bạo dâm, quái đản mà họ phải chịu đựng, nổi tiếng nhất trong số đó liên quan đến nước sôi. Các ứng viên phải ngâm mình trong một bồn nước sôi cho đến khi da họ bắt đầu lột ra, sau đó họ buộc phải ngồi thiền định ngày đêm, trong suốt thời gian đó phải lắng nghe băng thầy Shoku Asahara tung kinh niệm chú. Thức ăn và giấc ngủ cũng được dùng như vũ khí, mà người môn sinh mới nhận được rất ít, một thủ đoạn phổ biến mà giáo phái sử dụng để làm sút giảm sức phản kháng của họ, khiến việc tẩy não họ dễ dàng hơn. Các tân môn sinh cũng buộc phải dùng thuốc gây ảo giác, hoặc để khuất phục họ hoặc để xúi giục họ phạm tội. Từ chối không chịu hợp tác sẽ bị trừng phạt, có thể là nhiều tuần lao động nặng nhọc.

Shuji Taguchi đã gia nhập Aum Shinrikyo với quyết tâm dâng hiến cả cuộc đời cho giáo phái. Anh là thành viên gương mẫu của nhóm, với niềm tin ăn sâu xem Asahara gần như là một đấng thần linh. Lòng tin của anh không hề lay chuyển – cho đến khi một người bạn thân nhất của anh xin phép được ra khỏi giáo phái. Asahara thông báo với mọi người rằng người này ắt hẳn có tâm trí không ổn định và cần được xử lý đặc biệt. Hình thức hỗ trợ anh nhận được giống tra tấn hơn là khải đạo – bởi vì anh ta bị treo chổng ngược đầu và liên tục bị hạ xuống ngâm mình vào một thùng nước lạnh như băng. Cuối cùng, vì bị nhúng quá nhiều lần tim anh không thể chịu đựng nỗi căng thẳng, và anh chết.

Taguchi bị sốc trước cái chết thương tâm của bạn mình và tất nhiên bắt đầu thổ lộ với các thành viên khác trong giáo phái về những ngờ vực của anh. Và đó là lần cuối cùng họ nhìn thấy anh. Tức tối vì nhận thấy đệ tử bất tuân phục, Asahara cho người hành hình Taguchi. Sau đó thi hài anh bị thiêu đốt. Một ít tuần sau, lo lắng cho con trai mình, cha mẹ anh có liên hệ với tổ chức , nhưng đều được trả lời là không biết anh ở đâu.

Những nỗ lực liên lạc với Taguchi cũng không mang đến kết quả, sau đó gia đình  trình báo cảnh sát, nhưng, cho dù cũng đã nhận được những yêu cầu tương tự từ vài cha mẹ lo âu khác liên quan đến những đứa con ‘thất lạc’ của mình, cảnh sát cũng không làm được gì. Cho đến khi một luật sư trẻ, Tsutsumi Sakamoto, nghe nói về giáo phái và nỗi thống khổ mà các bậc cha mẹ có con cái gia nhập phải gánh chịu, những nghi vấn mới bắt đầu được phanh phui và chuông báo động vang lên.

Thoạt đầu, Sakamoto, một người đàn ông có gia đình với một con nhỏ, được một gia đình thuê để yêu cầu giáo phái thả đứa con gái vị thành niên của họ ra khỏi móng vuốt của họ. Tuy nhiên, tin tức được lan truyền, chẳng bao lâu Sakamoto được cả 23 gia đình thuê, tất cả chung một mục đích tìm cách giúp giải thoát con cái họ. Trước tiên chàng luật sư trẻ tổ chức những người liên quan thành một nhóm duy nhất, có tên Nạn Nhân Hội Chân Lý Tối Thượng Aum. Chỉ khi đó với tư cách đại diện nhóm anh mới tiếp cận giáo phái, yêu cầu họ cho phép các phụ huynh đi vào để tìm kiếm con cái mình.

Nhóm nạn nhân  gặp được  một trong những luật sư của giáo phái, Yoshinobu Aoyama, người gia nhập giáo phái vào năm 1988 sau khi được vinh danh là một trong những sinh viên trẻ nhất đỗ vào luật sư đoàn tại Trường Luật Kyoto tiếng tăm. Aoyama lúc đầu xoa dịu Sakamoto bằng cách đồng ý cho phép một nhóm phụ huynh vào tìm kiếm con cái mình, nhưng Sakamoto không chấp nhận mà yêu cầu phóng thích tất cả những thanh thiếu niên có tên trong danh sách. Thêm nữa, Sakamoto gây ngạc nhiên cho Aoyama khi thông báo cho y biết rằng mình cũng đang đại diện cho một thành viên giáo phái khiếu nại về việc đã mua một số ‘thần dược’ của Asahara nhưng không thấy thuốc có hiệu quả chữa trị như đã tuyên bố.

4

Trưởng nhóm khoa học gia của Aum Shinrikyo Hideo Murai (trái) và người phát ngôn Fumihiro Joyu rời khỏi cuộc họp báo tại Câu Lạc Bộ Thông Tín Viên Nước Ngoài của Nhật ở Tokyo, sau khi tuyên bố dự trữ hóa chất mà cảnh sát tìm thấy tại cơ sở của giáo phái được dùng để bảo đảm sự sống còn của Aum khi thế giới tận diệt.

Chẳng bao lâu, hay tin về bản chất  cuộc điều tra của Sakamoto và sự hù dọa anh tới tấp từ Aum Shinrikyo, truyền thông bắt đầu tham gia, phỏng vấn luật sư. Anh một lần nữa tố cáo giáo phái giam giữ các thành viên trái với ý muốn của họ. Asahara thịnh nộ và ngay lập tức lên kế hoạch tấn công – thoạt đầu rãi các truyền đơn bôi nhọ Sakamoto tại khu vực anh cư trú, để làm mất uy tín luật sư và tố cáo anh đủ mọi đặt điều tồi tệ. Khi việc làm này không ăn thua, Sakamoto bắt đầu nhận được những cuộc điện thoại hăm dọa tại nhà và văn phòng cho đến ngày 3/11/1989, Asahara hạ màn khi phái ba bộ hạ (Hideo Murai, khi đó là trưởng khoa học gia của giáo phái,  Satoro Hashimoto, một võ sư công phu, và Dr. Nakagawa) đến nhà

Sakamoto. Kế hoạch là đợi bên ngoài nhà, khi anh đi làm về đến sẽ bắt cóc và thủ tiêu. Nhưng kế hoạch không thành vì ngày 3/11 là ngày nghỉ lễ, và Sakamoto đang ở nhà với vợ và con. Giữa đêm ba người đột nhập vào nhà Sakamoto và, với thú tính máu lạnh, chúng giết hại không chỉ Sakamoto mà còn vợ (Satoko) và con trai họ (Tatsuhiko). Sau đó họ bọc các thi thể vào các tấm trải giường cũ và mang trở lại cơ sở Aum Shinrikyo. Tại đó, mỗi thi thể được nhét vào  thùng kẽm và chở ra vùng quê. Tất cả ba thi hài đều được bỏ tại ba địa điểm khác nhau.

Sự biến mất của toàn bộ gia đình ngay lập tức dấy lên mối quan tâm và ngờ vực của dư luận. Mẹ Sakamoto, khi phát hiện nhà con trai vắng lặng, sinh nghi liền gọi cảnh sát. Nhưng dù họ tìm thấy một huy hiệu Aum Shinrikyo tại hiện trường, họ dường như không thể hoặc không muốn điều tra thêm nữa. Thậm chí khi truyền thông xắn tay tham gia điều tra và trình bày mối liên hệ giữa sự mất tích của gia đình với bàn tay của giáo phái, cảnh sát vẫn không làm gì và rồi chẳng bao lâu truyền thống cũng không còn hứng thú với vụ án nữa.

Yên tâm khi biết mình đã ra lệnh thủ tiêu toàn bộ gia đình một người vô tội mà không bị phát hiện, Shoku Asahara giờ quyết định vạch bước tiếp theo là ém một số đệ tử thân tín đắc cử vào nghị viện. Đó là một bước đi táo bạo, nhưng một bước đi mà Asahara thấy cần thiết để thực hiện giấc mơ quyền lực mình hằng ôm ấp. Tất nhiên, như hầu hết mọi thứ mà Asahara nhúng tay vào, thủ đoạn để thu tóm phiếu của y đều liên quan đến việc sử dụng bạo lực ít nhiều. Các vận động viên của đảng đối lập bị hù doạ, điện thoại của họ bị nghe lén và gia đình họ bị đe doạ. Asahara dàn ra 25 ứng cử viên và tung 3 triệu đô la cho chiến dịch. . . nhưng không ai trong số 25 người này đắc cử. Đó là một đòn đau đối với Asahara, và đầu óc y quay ra nghĩ đến việc trả thù xã hội đã phản bội mình. Giờ y bắt đầu nói về một Trận Quyết Đấu Cuối Cùng đang đến. Thình lình, ngôn từ của Shoku Asahara đề cập đến việc thành lập một quân đội để đánh bại những ai dám chống đối kế hoạch của mình. Còn khủng khiếp hơn, y ra lệnh cho trưởng khoa học gia, Hideo Murai, nhiệm vụ tạo ra một phương thức tiêu diệt xứ sở. Murai bỏ ra hàng tháng trời phát triển những loại vũ khí hóa học khác nhau, kể cả một độc dược biết nhiều nhất dưới tên Clostridium Botulinum.

Trong khi Murai miệt mài nỗ lực chế ra những chất độc này, Asahara quyết định mở rộng đế chế của mình hơn nữa. Vào năm 1992, giáo phái nhắm đến nước Nga (lúc đó nước Nga vừa rũ bỏ chế độ Cộng sản, còn đang bận bịu làm quen với thể chế dân chủ của phương Tây:ND). Đến Moscow vào tháng ba, Aum Shinrikyo gặt hái được thành công lớn, chỉ trong vài tháng thu hút được hàng ngàn người Nga về với ‘lý tưởng’. Ngay cả những viên chức chính quyền cũng gia nhập giáo phái,và chẳng bao lâu Asahara thiết lập được những mối giao tiếp quan trọng không chỉ bên trong hội đồng an ninh Nga mà còn bên trong cộng đồng khoa học Xô-Viết cũ. Aum Shinrikyo giờ bắt đầu mua sắm những vũ khí của chế độ Xô-Viết cũ, đủ để trang bị cho quân đội của riêng mình. Các kế hoạch của Asahara cho Trận Quyết Đấu Cuối Cùng đang sắp ra hoa kết quả, với cuộc chiến sinh học là vũ khí được ưu tiên lựa chọn. Vũ khí qui ước, do người Nga cung cấp, cũng được sử dụng. Vào lúc này Hideo Murai đã đạt được những bước tiến sâu vào việc phát triển vũ khí hóa học, bằng cách đưa  một khí độc thần kinh vào kho vũ khí của Aum Shinrikyo – khí độc được Quốc xã Đức chế ra đầu tiên: sarin.

Mục đích của Shoku Asahara là quân sự hoá hoàn toàn Aum Shinrikyo. Mỗi thành viên đều trải qua những khóa huấn luyện cam go, sau đó chọn ra những người ưu tú nhất để cầm đầu các biệt đội xung kích khác nhau. Asahara cũng cho xây dựng một xưởng lớn trong khu phức hợp của mình, được các thành viên giáo phái gọi là ‘Viện Khoa Học Tối Thượng’, để sản xuất những vũ khí qui ước sao cho mỗi thanh nam thanh nữ đều được trang bị vũ khí khi bước vào trận đánh. Chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi Asahara quyết định thử nghiệm sức mạnh của mình, và lễ kết hôn của Thái tử Naruhito sắp đến là một thời cơ lý tưởng – một thời điểm mà mọi quan chức cao cấp cầm đầu đất nước đều có mặt tại cùng một chỗ. Asahara ra lệnh cho bộ hạ tổ chức phun khí độc botulism lên khắp Tokyo, với chủ định gây ra trận dịch lớn. Mặc dù hoạt động được tiến hành, nhưng chất độc không có tác dụng và không ai ngã quị hoặc chết. Aum Shinrikyo cần chế một vũ khí khác, một vũ khí hiệu quả hơn có sức tàn phá tập thể – và vào cuối năm 1993 vi rút bệnh than chết người được lắp dựng. Kết quả của lần thử nghiệm thứ hai này cũng đáng thất vọng như lần đầu. Phun khí độc từ mái một trụ sở của mình, Asahara lui ra và hi vọng  chứng kiến cảnh dân chúng ngã chết như ruồi. Nhưng thay vào đó, những cư dân địa phương chỉ than đau thắt bụng và nhức đầu, nhưng không ai chết. Vậy tại sao khí phun bệnh than không có tác dụng? Theo tạp chí Khoa Học Gia Mới, giáo phái đã sản xuất chất độc dưới dạng lỏng trong khi dưới dạng bột thì mới là chất sát thủ hiệu quả hơn nhiều. Hơn nữa, các nhà khoa học của giáo phái đã trích chất độc bệnh than lấy từ một dòng vi khuẩn gốc động vật, rất ít có khả năng gây bệnh cho con người. Chính tại thời điểm này Aum Shinrikyo tập trung mọi nỗ lực vào vũ khí hóa học duy nhất – khí ga sarin. Chất độc này đã được người Đức tìm thấy vào năm 1936 khi đang nghiên cứu hợp chất phốt pho hữu cơ (thường dùng làm thuốc trừ sâu), và sau đó được Quốc xã sản xuất, mặc dù đến cuối nó cũng chưa từng được sử dụng như một vũ khí hóa học tại chiến trường. Asahara ra lệnh dành hẳn một tòa nhà trong khu phức hợp Núi Phú Sĩ để chuyển qua  sử dụng cho việc sản xuất chất độc này, xác định rằng phải cần tối thiểu 70 tấn chất độc này – đủ để giết không chỉ mọi đàn ông, đàn bà và trẻ con trên hành tinh, mà còn mọi sinh vật sống.

Chất độc hoạt động theo một cách tàn độc đặc biệt. Đầu tiên đường mũi nạn nhân bắt đầu chảy nước, sau đó họ sẽ trải nghiệm một cơn co xiết đau đớn ở ngực, thân thể co giật dữ dội kèm theo nôn mửa, mất kiểm soát đường ruột và sau đó là chết. Nó không phải là cách chết dễ chịu; và sarin là vũ khí hoàn hảo cho một giáo phái muốn giáng một kịch bản tận thế cho thế giới.

Mặc dù biết rõ hiệu quả sát hại tiềm năng của khí ga sarin, những thử nghiệm đầu tiên cũng được tiến hành. Có lúc, trong điều kiện an toàn nghèo nàn, người đứng đầu an ninh của giáo phái bị xịt một liều hơi độc, và thoát chết trong gang tấc nhờ tiêm kịp thời một chất giải độc. Đối tượng cho thử nghiệm tiếp theo về sức tác hại của chất độc mà Shoku Asahara chọn là ba quan tòa của tòa án khu vực, đã tham gia vào vụ tố tụng Aum Shinrikyo.

Vào ngày 27/7/1994, hai xe tải khởi hành từ khu phức hợp giáo phái chứa đầy khí ga sarin trực chỉ tòa án. Nhưng vì canh giờ không chuẩn và bị tắt nghẽn giao thông nên khi đến nơi thì ba quan tòa đã về nhà. Không muốn phí phạm công sức, Asahara ra lệnh phóng thích khí độc tại khu vực gần đó. Lệnh ông được lập tức thì hành, nhưng vì gió đổi chiều nên khí độc bay ngược về hướng đã dự định. Bảy người thiệt mạng và hơn 150 người được nhập viện vì đau thắt dạ dày và thở gấp.

Sự kiện được loan tin rộng rãi trên TV và cảnh sát được triệu tập để mở cuộc điều tra sâu rộng. Tuy nhiên, mặc dù mọi nỗ lực của nhà nước, Aum Shinrikyo vẫn thoát khỏi một cách ngoạn mục, thậm chí tên giáo phái cũng không được nhắc đến trong bản tin.

Ắt hẳn Shoku Asahara nghĩ mình là vô địch. Sau cùng, y cũng đã không chỉ thành lập quân đội riêng, mà còn sản xuất được vũ khí hóa học riêng và thử nghiệm thành công. Theo tiêu chuẩn của bất kỳ tên độc tài tội phạm điên khùng nào thì đây  là một thành tựu đáng nể.

Tuy nhiên, giờ đây áp lực đang lớn dần từ gia đình vài thành viên giáo phái đòi chính quyền phải điều tra cho được về những hoạt động của Aum Shinrikyo. Đối với một thành viên bình thường việc ra khỏi khu phức hợp là điều gần như bất khả, nhưng một phụ nữ lớn tuổi (người đã đóng góp nhiều tiền tiết kiệm cho tổ chức và bắt đầu tỏ ra nghi ngờ về hành tung của nhóm) đã làm được điều đó. Bà chạy thoát khỏi khu phức hợp và trốn tránh vào nơi bí mật. Asahara ra lệnh bà trở lại và phái vài toán người săn tìm bà, nhưng tất cả đều thất bại. Thay vào đó, họ bắt cóc người anh 68 tuổi của bà, Kiyoshi Kariya, mà suốt nhiều tuần liền sau khi bà biến mất đã bị quấy nhiễu bởi nhiều cú điện thoại yêu cầu gọi bà trở về. Sợ bị giết, Kiyoshi để lại lời nhắn báo rằng nếu có điều gì xảy ra với ông thì kẻ chịu trách nhiệm chính là Aum Shinrikyo.

Kiyoshi bị bắt về trụ sở giáo phái, tại đó ông bị trói và đánh đập. Ông bị ép uống thuốc với hi vọng, nhờ tác dụng của nó, lưỡi ông sẽ mềm ra và tiết lộ nơi em ông ẩn nấp. Cuối cùng, Kiyoshi rơi vào tình trạng hôn mê và từ trần. Thi thể ông nhanh chóng bị thiêu rụi và tro cốt bị ném ra ngoài khu phức hợp tại một hồ gần đó. Nhưng giờ đây Kiyoshi chuẩn bị trả thù kẻ đã ám hại mình từ dưới mồ. Tin nhắn mà ông để lại, tố cáo Aum Shinrikyo là những kẻ bắt cóc ông, lọt vào tay cảnh sát. Cuối cùng họ có đủ chứng cứ cần thiết để hành động và bắt đầu chuẩn bị tiến hành một cuộc đột kích bất ngờ vào trụ sở giáo phái. Asahara không hay biết gì về kế hoạch đột kích của cảnh sát. Thay vì củng cố phòng thủ, y tập trung vào việc triển khai xông khí độc sarin vào hệ thống tàu điện ngầm ở Tokyo trong giờ cao điểm sáng sớm, hi vọng giết chết hàng trăm người, nếu không muốn nói hàng ngàn người.

Vào ngày 20/3/1995 lúc 8 giờ sáng, một nhóm thành viên Aum Shinrikyo được tuyển chọn cẩn thận (Kenichi Hirose, Yasuo Hayashi, Masato Yokoyama, Dr. Ikuo Hayashi và Toru Toyoda) bước lên những chuyến tàu khác nhau, tất cả đều canh giờ đến tập kết tại nhà ga Kasumigaseki. Mỗi thành viên mang một túi nhựa chống độc nhỏ chứa đầy hơi độc sarin chết người, cùng với các chiếc dù được gắn mấu nhọn ở đầu. Khi tàu đến gần trạm cuối cùng, tất cả năm thành viên giáo phái đều đặt các túi xuống sàn những toa tàu khác nhau rồi đâm thủng nó bằng bằng mũi dù. Ngay lập tức khi sarin thoát ra bắt đầu lan tỏa khắp toa tàu. Những người đứng gần túi hơi nhất ho và thở khò khè chỉ vài giây sau khi hơi thoát ra. Vào lúc mà các chuyến tàu khác nhau đi vào ga Kasumigaseki, những hành khách nào còn đủ sức thì chạy ùa đến lối ra, trong khi những người ít may mắn hơn nằm chết hoặc hấp hối khắp nền nhà ga. Nhân viên ga tàu và cảnh sát làm tất cả những gì có thể, nhưng đó là công việc vô phương. 12 người chết gần như ngay lập tức và hơn 5,500 người khác bị ảnh hưởng, một số chịu những tổn thất khủng khiếp. Trong lúc này, bọn xâm nhập trốn thoát về căn cứ Aum Shinrikyo, tại đó Asahara khen ngợi họ và bảo họ trốn đi. Cuộc tấn công là một thắng lợi lớn, nhưng giờ là lúc phải giấu mình.

Asahara cũng đang bỏ trốn. Chiếc Rolls Royce của y được nhìn thấy rời khỏi khu phức hợp không lâu sau cuộc tấn công tàu điện. Trong những giờ sáng sớm ngày 22/3/1095, cảnh sát cuối cùng cũng tiến hành cuộc bố ráp vào trụ sở giáo phái với lực lượng 1,000 người.

Có ít, nếu muốn nói là không, có gì ngạc nhiên bên trong. Cảnh sát ngay lập tức phát hiện những bao hóa chất, tất cả đều bị tịch thu để đi phân tích pháp y, cũng như vô số thiết bị dùng cho công việc chế tạo hóa chất. Hàng trăm vũ khí được phát hiện cũng như các phòng tra tấn và xà lim – một số còn chứa tù nhân. Vậy mà, với đầy đủ chứng cứ mà cảnh sát tịch thu được từ khu phức hợp, kể cả nhiều chất hóa học, họ không bắt giữ ai có liên quan đến vụ tấn công bằng khí độc sarin trên tàu điện Tokyo. Asahara vẫn tác oai tác oái. Y lập tức phát hành một băng video, xác minh rằng Aum Shinrikyo không chỉ không chịu trách nhiệm về vụ tàn sát, mà cuộc tấn công còn do chính  quân đội Mỹ dàn dựng để mong vụ oan cho giáo phái. Không ai tin  lời y khua môi và vài giờ sau khi băng video được phát hành, Asahara và  đồng bọn tin cậy nhất của y bị lên danh sách truy nã khẩn cấp nhất trên đất Nhật. Giờ tiếp theo là thi triển bạo lực, lần này nhằm thẳng vào giới cầm quyền. Takaji Kunimatsu, cảnh sát trưởng liên bang quốc gia, bị bốn tay súng tấn công và bị bắn bốn phát. Mầu nhiệm thay, ông vẫn còn sống, nhưng chỉ vài giờ sau vụ tấn công, một thông điệp được gởi đến đài truyền hình Nhật Bản hăm he nếu cảnh sát không rút lại cuộc điều tra nhắm vào giáo phái, sẽ có nhiều quan chức hơn bị giết hại. Lời đe dọa không làm ai khiếp sợ.

Vào tháng 4 cảnh sát đã bắt đầu tóm được một số thành viên chủ chốt của Aum Shinrikyo như Dr. Ikuo Hayashi và một trong những sát thủ của nhóm là Tomomitsu Niimi. Cả hai bị kết tội bắt nhốt người trái ý muốn. Nhưng mục tiêu chính của cảnh sát, Shoku Asahara vẫn còn tại đào và còn đưa tin cho báo chí. Một bản tin hăm dọa rằng, vào ngày 15/4/1995, một thảm họa sẽ xảy đến cho nước Nhật trên một qui mô còn lớn hơn cả trận động đất Kobe. Cảnh sát, cùng với quân đội và các bệnh viện thành phố, đặt dưới sự báo động cao. Nhưng khi ngày ấy đến, không có gì xảy ra. Có vẻ như Asahara chỉ đe dọa suông – nhưng bốn ngày sau đó một báo cáo cho biết nhà ga Yokohama là hiện trường thứ hai của một vụ tấn công khí độc. Khoảng 550 người được đưa vào bênh viện vì bị đau mắt và rát cổ họng. Tất nhiên, Aum Shinrikyo là nghi can chính nhưng một thời gian ngắn sau vụ tấn công, một băng đảng găng tơ nhỏ tuyên bố lãnh trách nhiệm vụ tấn công để trả thù cảnh sát.

Shoku Asahara vẫn còn được tự do, mặc dù cảnh sát đã bắt được vài phần tử quan trọng, nhưng họ chưa xoay sở đem ra tòa được những ai dính líu đến vụ tấn công khí sarin. Những tên như Hideo Murai vẫn còn hoạt động như thể không có gì xảy ra, nhưng tất cả sắp sửa thay đổi.

Vào ngày 23/4, Murai, cùng với luật sư của giáo phái, Yoshinobu Aoyama, đang bước vào tòa nhà văn phòng của họ thì một người xông tới và đâm Murai liên tiếp nhiều nhát dao vào bụng. Hung thủ là Hiroyuki Jo, sau đó khai rằng mình phạm tội vì căm phẫn những gì Aum Shinrikyo đã làm vào ngày 20/3. Sau đó y thay đổi lời khai, nói rằng mình được Yakuza – mafia Nhật- thuê mướn để giết Murai nhằm ngăn y khai với cảnh sát là Yakuza mới là  thủ phạm trong vụ tấn công của Aum Shinrikyo. Hideo Murai chết ngay sau khi bị đâm, tiếp theo đó cảnh sát tiến hành nhiều cuộc bố ráp vào nhiều cơ sở Aum Shinrikyo hơn nữa, lần này họ tìm thấy tầng hầm mà trước kia đã bỏ sót. Trong căn phòng này, ngồi thu lu trong một góc, cảnh sát ngạc nhiên khi tìm thấy hai nhân vật chủ chốt của giáo phái: Masami Tsuchiya và Seiichi Endo.

Dù họ đã bị bắt, vào ngày 5/5, tại nhà ga Shinjuku, nhân viên phát hiện một gói đồ đang bốc cháy trong một nhà vệ sinh công cộng. Ngay lập tức họ cố dập tắt lửa bằng cách đổ nước lên gói đồ, nhưng khói độc lập tức bốc lên. Cảnh sát được gọi đến và khám nghiệm sau đó cho thấy gói đồ có chứa những bao cao su nhét đầy chất sodium cyanide và axit sun-fu-rit. Khi trộn hai hóa chất này, chúng sẽ tạo ra chất hydrogen cyanide – khí độc chết người từng được Quốc xã sử dụng trong các trại tập trung để hủy diệt người Do Thái. Thêm lần nữa, dường như Shoku Asahara đang trêu chọc cảnh sát, cho thấy mình mạnh nhường nào khi dù đang lẫn trốn còn gây ra được những tổn thất cho xã hội. Tuy nhiên, nhờ trời, vận số của y đã tận.

5

Các tín đồ Aum Shinrikyo ngồi tiến hành nghi lễ cầu siêu cho trưởng khoa học gia giáo phái, Hideo Murai, người bị đâm chết ngay tại địa điểm đó 24 giờ trước.

Vào ngày 16/5/1995, vừa qua hai tháng vụ tấn công khí độc sarin trên tàu điện ngầm, cảnh sát tràn vào một trong những trụ sở chính của giáo phái Aum Shinrikyo (nơi họ đã lục soát trước đây vài lần), lần này cuối cùng họ cũng tóm được Asahara. Đây là một thắng lợi lớn, nhưng các vụ tấn công vẫn còn tiếp tục trên tàu điện ngầm Tokyo khi vài trái bom chứa độc tố xya-nua được bố trí, nhưng không có quả nào thực sự phát nổ.

Những phiên tòa xét xử các can phạm Aum Shinrikyo đã bị bắt giữ bắt đầu vào năm 1996. Asahara bị kết 23 án giết người. Những cáo buộc chống lại các thành viên giáo phái khác đi từ tội sát nhân đến bắt giữ người trái phép đến sản xuất chất độc và một loạt những hình tội ít nghiêm trọng hơn. Một số bị can khai tuốt tuồn tuột để mong được giảm án. Những thành viên khác, trong đó có Shoku Asahara, ngoan cố kêu mình vô tội. Vào ngày 8/10/1998, tòa tuyên án Kasaharauaki Okasaharaaki tội tử hình vì giết chết luật sư Tsutsumi Sakamoto, vợ và con anh, cũng như giết hại một thành viên giáo phái khác muốn rời bỏ giáo phái vào năm 1989.

Thật khó tin khi phải mất 8 năm nữa  Shoku Asahara mới nhận bản án tử hình vì tội giết hại 27 thành viên giáo phái. Trong phiên tuyên án vào ngày 27/2/2004, thẩm phán chủ tọa Shoji Ogawa, phát biểu rằng:

Những tội ác này rất tàn bạo và vô nhân đạo, và trách nhiệm của y (của Asahara) là người chủ mưu đứng đằng sau tất cả vụ này mang tính chất vô cùng nghiêm trọng. Y xứng đáng nhận được bản án cao nhất. Y mơ ước được tách khỏi những trói buộc trần thế và muốn thống trị Nhật Bản như một ông vua dưới danh nghĩa cứu vớt dân lành. Y có một chủ thuyết ích kỷ là giết chết bất cứ ai mà y cho là cản bước mình, và trang bị vũ khí cho giáo phái y. Y gây ra tình trạng hoảng loạn cho nước Nhật và nước ngoài. Đây là một tội ác nghiêm trọng và tàn bạo chưa từng có tiền lệ.

Asahara không thể hiện cảm xúc khi bản án được thông qua, có lẽ yên tâm khi biết rằng thế nào ban luật sư của mình sẽ xin kháng cáo. Nhiều người còn tỏ ra dè dặt khi phát biểu ý kiến về những thủ đoạn tàn độc của Aum Shinrikyo, thậm chí những người chịu ảnh hưởng trực tiếp của tổ chức. Ắt hẳn họ còn sợ những thành viên còn lại của giáo phái có thể trả thù.

Vụ án được giới truyền thông Nhật gọi là ‘vụ án của thế kỷ’. Trong khi đó, Asahara từ chức lãnh đạo của Aum Shinrikyo trong nỗ lực ngăn cản giáo hội khỏi bị nhà nước cưỡng chế giải tán.

Nhóm luật sư bên bị gởi đơn chống án viện cớ Asahara có tâm thần không ổn định. Một vụ kiểm nghiệm phân tâm học được tiến hành. Trong nhiều phiên xử, Asahara chỉ một mực nín lặng hoặc chỉ lẩm bẩm một mình. Tuy nhiên, tại nơi giam giữ, y giao tiếp với bộ hạ. Điều này thuyết phục các điều tra viên kết luận Asahara chỉ giả bộ nín lặng. Do ban luật sư của ông không thể có được bản xác nhận tình trạng tâm thần cần thiết để kháng cáo, Tòa Thượng Thẩm Tokyo tuyên bố vào ngày 27/3/2006, không chấp nhận quyền kháng cáo của y. Quyết định này được Tối Cao Pháp viện Nhật Bản phê chuẩn vào ngày 15/9/2006.

Hai đơn kháng cáo yêu cầu được xử lại bị tòa phúc thẩm bác. Vào 6/2012, việc thi hành án tử cho Asahara được hoãn lại vì có một vài thành viên mới Aum Shinrikyo đang lẩn trốn bị bắt giữ.

Asahara bị treo cổ vào ngày 6/7/2018, tại Khám Đường Tokyo, 23 năm sau vụ tấn công khí sarin, cùng với 6 đồng phạm. Lời sau cùng của Asahara do các viên chức Khám Đường báo cáo, là giao tro cốt của y cho cô con gái thứ tư. Cô này, vốn không có cảm tình với giáo phái, dự tính ném tro cốt xuống biển. Nhưng việc này vợ y, cô con gái thứ ba, và những thành viên khác của gia đình chống đối. Người ta nghi ngờ là họ muốn cất giữ tro cốt y để các tín đồ có thể đến chiêm bái. Do đó đến tháng ba năm 2020, tro cốt của y vẫn còn giữ lại Khám Đường Tokyo.


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s