Thục Vương bản kỷ: Lịch sử và truyền kỳ về nước Thục xưa

tải xuống

Hán 漢 – Dương Hùng 揚雄 soạn

Tích Dã dịch

Người dịch văn là Tích Dã chú thích:

– “Nước Thục xưa xa lánh ở miền tây nam, ít qua lại với Trung Quốc. Những chuyện xảy ra ở đấy được chính sử chép rất ít, chủ yếu liên quan đến nước Tần 秦 láng giềng. Đến thời Hán 漢 có người đất Thục là Dương Hùng 揚雄 đã dựa theo chính sử và truyền kỳ ở đấy để soạn nên Thục Vương bản kỷ 蜀王本紀, kể chuyện nước Thục 蜀 từ lúc dựng nước đến lúc bị nước Tần diệt và đặt thành quận huyện. Sách ấy qua 2.000 năm bãi bể nương dâu đã bị mất, nhưng được sao chép và trích dẫn ở một số sách khác đời sau.”

Tổ tiên của vua nước Thục từng xưng vương có Tàm Tùng 蠶叢, Bách Hoạch 柏濩 (hoặc có sách chép là Bách Quyền 柏灌, có lẽ mặt chữ giống nhau), Ngư Phù 魚鳧, [1] Khai Minh 開明. Người dân (nước Thục) thời ấy búi tóc hình cái vồ, cài vạt áo bên trái, không biết chữ viết, chưa có lễ nhạc. Từ thời Khai Minh về trước đến thời Tàm Tùng cả thảy là ba vạn bốn nghìn năm (34.000 năm). [2]

[1] Họ Lưu 劉 chú Văn tuyển Thục Đô phú 文選蜀都賦 dẫn (Thục Vương bản kỷ) có thêm hai chữ Bồ Trạch 蒲澤 (tên một đời vua Thục).
[2] Ngự lãm 御覽 dẫn chép cả thảy là bốn nghìn năm (4.000 năm). Họ Lưu chú Ngụy Đô phú 魏都賦 dẫn. Vương Nguyên Trường 王元長 chú Tam nguyệt tam nhật khúc thủy thi tự 三月三日曲水詩序 dẫn. Ngự lãm quyển một trăm sáu mươi sáu dẫn.

Tổ tiên của vua nước Thục tên là Tàm Tùng, vua đời sau tên là Bách Hoạch, sau nữa tên là Ngư Phù. [3] Ba đời vua ấy đều sống thọ mấy trăm tuổi, đều thành thần không chết, người dân thời ấy cũng có kẻ đi theo vua mà cũng thành thần. Ngư Phù làm ruộng ở núi Tiên (Tiên sơn 湔山) mà thành tiên. Miếu thờ ngày nay ở núi Tiên. Bấy giờ dân nước Thục còn ít ỏi. [4]

[3] Sơ học ký 初學紀 quyển tám dẫn, Nghệ văn loại tụ 藝文類聚 quyển sáu dẫn, Ngự lãm 御覽 quyển một trăm sáu mươi sáu chép sau nữa là Bá Ung 伯雍, lại sau nữa là Ngư Phù.
[4] Ngự lãm quyển một trăm sáu mươi sáu và quyển chín trăm mười ba dẫn.

Sau này có một người con trai tên là Đỗ Vũ 杜宇 từ trên trời xuống ở huyện Chu Đề 朱提, [5] có một người con gái tên là Lợi 利 hiện ra từ trong giếng ở đầu nguồn sông mà đến làm vợ của Đỗ Vũ, (Đỗ Vũ) bèn tự lập làm vua nước Thục, gọi là Vọng Đế 望帝. [6] Dựng ấp ở dưới núi Vấn (Vấn sơn 汶山) gọi là ấp Bì 郫, thường lúc giáo hóa người dân lại đi ra. [7]

[5] 〈Xét ét Xét: Sử ký Tam đại thế biểu sách ẩn 史記三代世表索隱 dẫn chép là huyện Chu Đề có người con trai tên là Đỗ Vũ 杜宇.
[6] Xét: Ngự lãm quyển một trăm sáu mươi sáu dẫn dưới có bốn chữ là cư cố bang ấp 居故邦邑 (nghĩa là “ở chỗ bang ấp trước đây”).
[7] (Họ Lưu) chú Văn tuyển Tư huyền phú 文選思玄賦 dẫn, Ngự lãm quyển một trăm sáu mươi sáu và quyển tám trăm tám mươi tám dẫn.

Vọng Đế làm vua được hơn một trăm năm, ở nước Kinh 荊 (tức tên khác của nước Sở 楚) có một người tên là Miết Linh 鱉靈 chết mà xác trôi đi mất, người nước Kinh tìm mà không thấy. Xác Miết Linh trôi ngược sông đến ấp Bì, bèn sống lại, gặp nhau với Vọng Đế, Vọng Đế lấy Miết Linh làm Tướng quốc. [8] Bấy giờ ở núi Ngọc (Ngọc sơn 玉山) tuôn nước ra như nước lụt thời vua Nghiêu 堯, Vọng Đế không ngăn được, sai Miết Linh khoét núi Ngọc dẫn nước đi, người dân được ở yên. Sau khi Miết Linh dẫn nước đi được rồi, Vọng Đế lại thông dâm với vợ của Miết Linh, lấy làm hổ thẹn, tự cho là mình đức mỏng, không bằng Miết Linh, bèn trao việc nước cho Miết Linh mà bỏ đi, giống chuyện vua Nghiêu 堯 nhường ngôi vua cho Thuấn. Miết Linh lên ngôi vua, gọi là đế Khai Minh (Khai Minh Đế 開明帝). Vua sinh ra Lô Bảo 盧保, cũng gọi là đế Khai Minh. [9]

[8] Hán thư chú 漢書注, Văn tuyển chú dẫn chép là Miết Linh 鱉令.
[9] Hậu Hán thư Trương Hành truyện chú 後漢書張衡傳注, Văn tuyển Tư huyền phú chú 文選思玄賦注, Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám và quyển chín trăm hai mươi ba, Sự loại phú chú 事類賦注 quyển sáu.

Vào lúc Vọng Đế bỏ đi, chim tử quy 子䳏 (tức chim cuốc) kêu, cho nên người Thục hễ nghe tiếng chim tử quy kêu buồn lại nhớ Vọng Đế. Vọng Đế tên là Đỗ Vũ, là người từ trên trời xuống. [10]

[10] Ngự lãm quyển chín trăm hai mươi ba dẫn.

Từ thời đế Khai Minh về sau được năm đời thì có Khai Minh Thượng 開明尚 bắt đầu bỏ xưng đế, trở lại xưng vương. [11]

[11] Hậu Hán thư Trương Hành truyện chú dẫn.

Trời giúp vua Thục có năm vị lực sĩ có thể dời được các trái núi của nước Thục. Vua Thục chết, năm vị lực sĩ liền dựng một khối đá lớn dài ba trượng, nặng nghìn quân, gọi là bò đá (thạch ngưu 石牛), nghìn người không lay được, vạn người không dời được. [12]

[12] Nghệ văn loại tụ quyển bảy, Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám dẫn.

Vua Thục đóng giữ ở đất Ba-Thục, vốn trị ở làng Phàn Hương 樊鄉 huyện Quảng Đô 廣都, sau dời đến ở huyện Thành Đô 成都. Tần Huệ Vương 秦惠王 sai bọn Trương Nghi 張儀-Tư Mã Thác 司馬錯 đi bình định nước Thục, nhân đó lấy đất Thành Đô mà lập thành huyện. Huyện Thành Đô trị ở phố Xích Lí (Xích Lí nhai 赤里街).Trương Nhược 張若 dời đến trị ở trong Thiểu Thành 少城, bắt đầu dựng phủ xá thành huyện, nay giống quy tắc của thành Trường An. [13]

[13] Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám, Hoàn vũ ký 寰宇記 quyển bảy mươi hai dẫn.

Vào thời Tần Huệ Vương, vua Thục không hàng người Tần, người Tần cũng không có đường để phát binh vào đánh nước Thục. Bấy giờ vua Thục đem hơn vạn người sang phía đông đi săn, đến ở hang Bao Cốc 褒谷, rút cuộc gặp Tần Huệ Vương. Vua Tần đem một giỏ vàng tặng cho vua Thục. Vua Thục cũng dùng lễ vật tặng lại, nhưng lễ vật đều hóa thành đất. Vua Tần giận, bề tôi đều bái lạy chúc mừng nói: “Đất là lãnh thổ. Nước Tần sẽ lấy được đất Thục vậy.” [14]

[14] Ngự lãm quyển ba mươi bảy và quyển bốn trăm bảy mươi tám và quyển tám trăm mười một và quyển tám trăm bảy mươi hai và quyển tám trăm tám mươi tám dẫn, Sự loại phú chú 事類賦注 quyển chín dẫn.

Tần Huệ Vương bản kỷ chép: “Tần Huệ Vương muốn đánh Thục, bèn đẽo năm con bò đá, [15] đặt vàng ở sau (đít) nó. Người Thục thấy thế, cho là bò đá biết ỉa ra vàng, dưới bò đá có người lính chăm sóc, cho rằng đấy là bò trời, biết ỉa ra vàng. Vua Thục cho là phải, liền phát hơn một nghìn lính, sai năm vị lực sĩ làm đường để chuyển bò đá về nước Thục, đặt ba con ở Thành Đô. Do đó đường (từ đất Thục) qua đất Tần được mở, là do sức của bò đá vậy. Sau đó vua Tần sai bọn Thừa tướng là Trương Nghi theo đường bò đá mở mà sang đánh Thục. [16]

[15] Xét: Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám dẫn chép vua Tần sợ không có chỗ gặp nhau, bèn đẽo năm con bò đá.
[16] Bắc đường thư sao 北堂書鈔 quyển một trăm mười sáu dẫn, Nghệ văn loại tụ quyển chín mươi tư, Bạch thiếp quyển chín mươi sáu, Ngự lãm quyển ba trăm lẻ năm và quyển tám trăm tám mươi tám.

Ở quận Vũ Đô 武都 có người tài trí, vua Thục đem vợ và con gái của người ấy về nước Thục. Ở đất Thục không quen đất nước, muốn về. Vua Thục trong lòng thích người con gái ấy, giữ ở lại, bèn làm sáu bài hát ‘Y minh chi thanh’ 伊鳴之聲 mà múa hát cho người con gái ấy vui lòng. [17]

[17] Xét: Bắc đường thư sao dẫn chép là làm bài hát ‘Đông bình chi ca’ 東平之歌 để cho người con gái ấy vui lòng. Bắc đường thư sao quyển một trăm lẻ sáu, Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám dẫn.

Ở quận Vũ Đô có người con trai hóa thành con gái, [18] vẻ mặt xinh đẹp, có lẽ là khí tinh hoa của rừng núi làm nên. Vua Thục lấy người con gái ấy làm vợ. [19] Không quen đất đai, mắc bệnh tật muốn về. Vua Thục giữ ở lại, không lâu thì người con gái ấy chết. Vua Thục phát lính đến quận Vũ Đô gánh đất về Thành Đô cho vào trong quách mà chôn, đắp mả đất rộng ba mẫu, cao bảy trượng, gọi là Vũ đảm 武擔, [20] lấy đá làm một tấm gương đặt ở trên mả. Gương rộng một trượng, cao năm thước. [21]

[18] Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám dẫn chép trước từ ‘Vũ Đô’ là ba chữ ‘hoặc viết tiền’ 或曰前 (nghĩa là: ‘có sách nói trước đây).
[19] Xét: Nghệ văn loại tụ chép là phu nhân 夫人.
[20] Xét: Khai Nguyên chiêm kinh 開元占經 dẫn chép là người (nước Thục) giận chuyện ấy gọi là Vũ đảm 武擔.
[21] Hậu Hán thư Nhâm Văn Công truyện chú 後漢書任文公傳注, Tam quốc chí Thục tiên chủ truyện chú 三國志蜀先主傳注, Bắc đường thư sao quyển chín mươi tư và quyển một trăm ba mươi sáu, Sơ học ký quyển năm, Nghệ văn loại tụ quyển sáu và quyển bảy mươi, Khai Nguyên chiêm kinh quyển một trăm mười ba, Ngự lãm quyển năm mươi hai và quyển bảy trăm mười bảy và quyển tám trăm tám mươi tám, Sự loại phú quyển bảy dẫn.

Do đó vua Tần biết vua Thục ưa gái đẹp, bèn dâng năm người con gái đẹp cho vua Thục. Vua Thục lấy làm thích, sai năm vị lực sĩ đi đón năm người con gái ấy về. Về qua huyện Tử Đồng 梓潼, gặp một con rắn lớn chui vào vào trong hang núi. Một vị lực sĩ cầm đuôi rắn kéo ra, rồi cả năm vị cùng kéo rắn, núi bèn lở, đè lên cả năm vị lực sĩ. Năm vị lực sĩ dẫm đất kêu to gọi vua Tần, nhưng cùng năm người con gái và người đi đón đều bị núi đè lên, hóa thành đá. Vua Thục lên đài cao ngóng nhìn mà không thấy người về, nhân đó gọi là đài Ngũ Phụ Hầu (Ngũ Phụ Hầu đài 五婦侯臺). Vua Thục tự mình đi chôn mà làm gò mả cho những người ấy, đều đắp đến muôn tảng đá để ghi nhớ mộ của họ. [22]

[22] Sơ học ký quyển năm, Nghệ văn loại tụ quyển bảy và quyển chín mươi sáu, Bạch thiếp quyển năm, Ngự lãm quyển năm mươi hai và quyển ba trăm tám mươi sáu và quyển tám trăm tám mươi tám và quyển chín trăm ba mươi tư, Sự loại phú chú quyển hai mươi mươi tám dẫn.

Tần Huệ Vương sai bọn Trương Nghi-Tư Mã Thác đánh Thục. Vua Thục là Khai Minh đánh giữ, không được lợi, rút chạy về huyện Vũ Dương 武陽, bị bắt. [23]

[23] Hoàn vũ ký quyển bảy mươi hai dẫn.

Trương Nghi đánh Thục, vua Thục là Khai Minh đánh không thắng, bị Nghi diệt đi. [24]

[24] Sử ký Tần bản kỷ sách ẩn 史記秦本紀索隱 dẫn.

Vua Thục có thuyền anh vũ (anh vũ chu 鸚武舟). [25]

[25] Sơ học ký quyển hai mươi lăm, Ngự lãm quyển một trăm ba mươi bảy dẫn.

Vua Tần làm một vạn chiếc thuyền thái bạch (thái bạch thuyền 太白船) muốn để đánh nước Sở 楚. [26]

[26] Vốn chú là tên thuyền thái bạch. Sơ học ký quyển hai mươi lăm dẫn.

Vua Tần làm hơn vạn chiếc thuyền bè, muốn đánh Sở. [27]

[27] Ngự lãm quyển bảy trăm sáu mươi chín, Sự loại phú chú quyển mười sáu dẫn.

Vua Tần sau khi giết Thục Hầu 蜀侯 tên là Huy 煇, đón về chôn ở thành Hàm Dương 咸陽, trời mua suốt ba tháng, không đi được, nhân đó chôn ở huyện Thành Đô. Người Thục xin mưa thì cúng Thục Hầu thì tất có mưa. [28]

[28] Ngự lãm quyển mười một dẫn.

Vào thời Tần Tương Vương 秦襄王, quận Hữu Cừ (Hữu Cừ quận 宕渠郡) dâng người lớn (trường nhân 長人), cao hai mươi lăm trượng sáu thước. [29]

[29] Pháp uyển châu lâm 法苑珠林 quyển tám, Ngự lãm quyển ba trăm bảy mươi bảy dẫn.

Vũ 禹 vốn là người huyện Quảng Nhu (Quảng Nhu huyện 廣柔縣) quận Vấn Sơn (Vấn Sơn quận 汶山郡), sinh ra ở ấp Thạch Nữu 石紐, tên đất ấy là Lị Nghê Bạn 痢兒畔. Mẹ của Vũ nuốt hạt châu mà mang thai Vũ, rạch mổ mà sinh ra Vũ ở núi Đồ (Đồ sơn 塗山) trong huyện ấy. Vũ lấy vợ sinh con tên là Khải 啟. Ở núi Đồ ngày nay có miếu thờ Vũ, cũng có dựng miếu thờ mẹ của Vũ ở đó. [30]

[30] Sử ký Hạ bản kỷ chính nghĩa 史記夏本紀正義, Sơ học ký quyển chín, Ngự lãm quyển tám mươi ba và quyển năm trăm ba mươi mốt dẫn.

Lão Tử 老子 vì nể lời của Quan lệnh doãn 關令尹 tên là Hỉ 喜 mà làm sách Đạo đức kinh 道德經, lúc chia tay nói: “Ông học đạo này hơn nghìn ngày sau thì đến tìm ta ở chợ Thanh Dương (Thanh Dương tứ 青羊肆) đất Thành Đô.” Là quán Thanh Ngưu (Thanh Ngưu quán 青牛觀) ngày nay vậy. [31]

[31] Ngự lãm quyển một trăm chín mươi mốt, Hoàn vũ quyển bảy mươi hai dẫn.

Nước sông gây hại, Thục Thú 蜀守 là Lý Băng 李冰 làm năm con tê đá, đặt hai con ở trong phủ, đặt một con ở dưới cầu chợ, đặt hai con ở giữa sông để áp thần nước (thủy tinh 水精), nhân đó gọi là làng Thạch Tê (Thạch Tê lý 石犀里). [32]

[32] Bắc đường thư sao quyển ba mươi chín, Nghệ văn loại tụ quyển chín mươi lăm, Ngự lãm quyển tám trăm chín mươi dẫn.

Lý Băng vào thời Tần làm Thục Thú 蜀守, gọi núi Vấn (Vấn sơn 汶山) là ải Thiên Bành (Thiên Bành khuyết 天彭門), còn gọi là cửa Thiên Bành (Thiên Bành môn 天彭門), nói rằng hồn người chết phải đi qua giữa cửa ấy, thần linh ma quỷ xuất hiện nhiều ở đấy. [33]

[33] Hoàn vũ ký quyển bảy mươi ba dẫn.

Trước huyện Tiên Đê Đạo (Tiên Đê Đạo huyện 湔氐道縣) có hai tảng đá đứng đối nhau như cánh cửa, gọi là cửa Bành (Bành môn 彭門) [34]

[34] Tục Hán quận quốc chí bổ chú 續漢郡國志補注 dẫn.

Vào thời Tuyên Đế 宣帝 (nhà Hán) giữa những năm Địa Tiết 地節 (năm 69 – 66 trước Công nguyên) bắt đầu đào mấy chục cái giếng muối (ở đất Thục). [35]

[35] Ngự lãm quyển tám trăm sáu mươi lăm dẫn


2 thoughts on “Thục Vương bản kỷ: Lịch sử và truyền kỳ về nước Thục xưa

  1. Xin bổ sung là Thục Vương bản kỷ vốn là do người thời Hán 漢 là Dương Hùng 揚雄 soạn, bản gốc đã mất. Sau này người thời Minh 明 là Trịnh Phác 鄭樸 nhp dựa theo các trích dẫn chú giải thời trước, chủ yếu thời Đường 唐 và Tống 宋.

    __________

    Thục Vương bản kỷ 蜀王本紀

    Hán 漢 – Dương Hùng 揚雄 soạn 撰
    Minh 明 – Trịnh Phác 鄭樸 biên 編

    • Đời vua thứ hai của nước Thục là Bách Hoạch 柏濩, còn có sách chép là Bách Quán 柏灌 hoặc Bá Ung 伯雍. Sao lại thế? Là vì 2.000 năm dằng dẵng, sách vở sao chép qua lại, chữ Hán dễ nhầm mặt chữ. Chữ Bách 柏 nhầm thành chữ Bá 伯. Chữ Hoạch 濩 nhầm thành chữ Quán 灌 và chữ Ung 雍. Giống trong sử Việt: Lạc Vương 雒王 còn có sách chép thành Hùng Vương 雄王, là nhầm chữ Lạc 雒 và Hùng 雄 vậy.

      Người đọc sách chữ Hán không lạ gì nhầm chữ như vậy.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s