Quá trình phát triển quan hệ Việt Nam- EU

banner_eu-vietnam

Nguyễn Tuấn Hùng

DẪN NHẬP

Tính đến hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 nước trên thế giới thuộc tất cả Châu lục và có quan hệ bình thường với tất cả nước lớn, các Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Trong số các nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam đã tuyên bố thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện[1] với 3 quốc gia, quan hệ Đối tác Chiến lược[2] với 13 quốc gia, quan hệ Đối tác Toàn diện[3] với 13 quốc gia. Trong xu thế đó, Đại hội Đảng lần thứ VII-6/1991, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa ra đường lối ngoại giao, đối ngoại nhằm mục tiêu đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế dựa trên tinh thần chúng ta muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển. 

Chính thực tiễn này, chúng ta đã từng bước thiết lập ngoại giao, mở rộng quan hệ đối tác với thế giới. Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Việt Nam đã hoạt động tích cực với vai trò ngày càng tăng tại Liên Hợp Quốc (ủy viên ECOSOC[4], ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP[5], UNFPA[6] và UPU[7]…), phát huy vai trò thành viên tích cực của phong trào Không liên kết, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp, ASEAN …

Nổi lên đó là quan hệ đối tác giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU). Hai bên đã bình thường hóa quan hệ vào tháng 10 năm 1990 và đỉnh cao là Hiệp định khung được ký kết 17/07/1995 là một nền tảng, cơ sở pháp lý cho sự thúc đẩy quan hệ giữa hai bên về mọi mặt; đặc biệt là quan hệ thương mại giữa Việt Nam – EU đã được đánh giá cao. Chính sách mở cửa của Việt Nam dường như đang rất đúng thời điểm, thể hiện sự đúng đắn trong đường lối chính sách từ lý luận đến thực tiễn của ta. Việc làm này đã giúp nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa nước ta trong những năm sau này. Sự hợp tác của Việt Nam – EU cũng là một trong những điểm mà chúng ta cần nhắc đến; nó đã góp một phần vào sự phát triển kinh tế của chúng ta trong thời gian vừa qua. Đây là một thị trường khó tính nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong cán cân xuất-nhập của chúng ta. Quan hệ VN-EU đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức xong trong những thách thức ấy, lại đưa đến nhiều triển vọng giúp VN có thể thúc đẩy nền kinh tế, xã hội. Đề tài chủ yếu đề cập đến mối quan hệ của VN-EU trong những năm vừa qua về phương diện thương mại, kinh tế và đề ra những triển vọng từ mối quan hệ này.

NỘI DUNG

  1. Tổng quan về Liên minh Châu Âu (EU)

Từ sau Đệ nhị thế chiến, Châu Âu đã phải gánh một tổn thất vô cùng nặng nề. Năm 1946, Wiston Churchill[8] là người đầu tiên đưa ra ý tưởng thành lập liên bang Châu Âu; ý tưởng được Jean Mornet[9] phát triển với việc ông đã đề xuất vấn đề này với từng bước để tiến hành tiến tới một tổ chức liên kết toàn khu vực Châu Âu. Ngày 09/05/1950, Robert Schuman[10] đã đưa đưa ra kế hoạch thành lập một tổ chức liên kết về sản xuất than và thép giữa Pháp và Đức, đồng thời mở rộng để các nước trong khu vực cùng tham gia. Tháng 04/1851, Hiệp ước về Cộng đồng Than- Thép Châu Âu[11] đã được ký kết tại thủ đô Paris của Pháp với sự tham gia của 6 nước: Pháp, CHLB Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lucxemburg. Sự kiện này đóng vai trò quan trọng trong tiến trình thống nhất Châu Âu và đây cũng được xem là tổ chức tiền thân cho Liên minh Châu Âu[12] (EU) sau này.

Hiện nay, EU bao gồm 28 nước thành viên, diện tích hơn 4,3 triệu km2 , với khoảng 513 triệu dân (năm 2015), Liên minh châu Âu chiếm khoảng 22% (16,2 nghìn tỷ đô la Mỹ năm 2015) GDP danh nghĩa và khoảng 17% (19,2 nghìn tỷ đô la Mỹ năm 2015) GDP sức mua tương đương của thế giới (PPP)[13]; GDP tính đến năm 2018 là vào khoảng $18,8 ngàn tỷ (đứng thứ 2 thế giới).

Trong tiến trình lịch sử tính từ lúc hình thành và phát triển của mình, EU vẫn luôn khẳng định vị thế của mình tại châu lục và trên thế giới. Là chiến trường chính của Đệ Nhị Thế Chiến, bị phá hoại nặng nề, tổn hại cả về kinh tế, tài sản, tính mạng con người,… phải vay tiền chính phủ Mỹ kế hoạch Marshall[14]…nhưng sau đó, Châu Âu đã có những bước bắt đầu của sự phục hồi và bắt đầu hưng thịnh trở lại.Và cho đến thời điểm hiện nay, khi nhắc đến EU, người ta vẫn luôn khẳng định rằng đây là một tổ chức có nền kinh tế- chính trị- quân sự vững mạnh và là một trong những trung tâm của thế giới.

Có những lúc, người ta đã thấy EU có bước phát triển mạnh mẽ cả về kinh tế, chính trị, quân sự vượt lên trên cả cường quốc Mỹ. Hiện nay, EU là một trong nhũng trung tâm về kinh tế, khoa học kỹ thuật của thế giới sánh vai cùng với các cường quốc như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc; và tiêu biểu là sự góp mặt 4 trên tổng số 7 thành viên của nhóm G7[15] là thành viên của Liên minh Châu Âu.

Dưới đây là một số dữ liệu về nền kinh tế của EU với một số nước khác như Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Bảng 1

Nước GPD (triệu USD)
Hoa Kỳ $18.561.934
EU $17.110.523
Trung Quốc $11,391,691

GDP danh nghĩa năm 2016[16]

Bảng 2

Số tiền EU Hoa Kỳ Trung Quôc
Xuất khẩu $3,100,000,000,000 $1,900,000,000,000 $2,300,000,000,000
Nhập khẩu $2.900.000.000.000 $2.700.000.000.000 $1.900.000.000.000

Hàng hóa và dịch vụ: Xuất-Nhập khẩu theo quốc gia (2014-2016)17

Bảng 3

Nước Tổng số ($)
Hoa Kỳ 110.000.000.000
EU 350.000.000.000
Trung Quốc 95.000.000.000

Tài trợ chính thức cho Châu Phi (2000-2013)17

Bảng 4

Nước Tỷ trọng (%)
Hoa Kỳ 90
EU 80
Trung Quốc 35

Tài trợ chính thức cho châu Phi (2000-2013) – Tỷ trọng của tổng tài trợ bao gồm tài trợ không hoàn lại17

  1. Quan hệ hợp tác Việt Nam – EU
  • 11/1990: Thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – EU
  • 1992 : Hiệp định dệt may Việt Nam – EC[17]
  • 07/1995: Ký hiệp định hợp tác giữa CHXHCN Việt Nam và EC
  • 01/1996: EC lập phái đoàn đại diện thường trực
  • 09/1996: Uỷ ban hỗn hợp Việt Nam – EC lần thứ nhất (2 năm/1lần; thay phiên Hà Nội- Brussels)
  • 1997 : Việt Nam tham gia Hiệp định hợp tác ASEAN – EU.
  • 2003 : Việt Nam và EU chính thức tiến hành đối thoại nhân quyền.
  • 2004 : Hội nghị Cấp cao Việt Nam – EU lần thứ I tại Hà Nội.
  • 2005 : Việt Nam thông qua Đề án tổng thể và Chương trình hành động đến 2010 và định hướng tới 2015 về quan hệ Việt Nam – EU
  • 2007 : Tuyên bố chính thức khởi động đàm phán Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn diện Việt Nam – EU (PCA).
  • 2008 : Đàm phán Hiệp định PCA Việt Nam – EU
  • 2010 : Ký tắt Hiệp định PCA Việt Nam – EU.
  • 06/2012, Hiệp Định Đối Tác và Hợp Tác Toàn Diện EU-Việt Nam (PCA), được ký kết, thể hiện cam kết của Liên minh châu Âu trong việc tiến tới mối quan hệ hiện đại, trên diện rộng và cùng có lợi với Việt Nam. Hiệp định PCA mở rộng hơn nữa phạm vi hợp tác EU-Việt Nam trên các lĩnh vực như thương mại, môi trường, năng lượng, khoa học và kỹ thuật, quản trị công hiệu quả, cũng như du lịch, văn hóa, di cư và cuộc chiến chống tham nhũng và tội phạm có tổ chức.
  • 2015: Ký Tuyên bố chính thức kết thúc đàm phán EVFTA.
  • Tháng 6 năm 2017: Hoàn thành rà soát pháp lý ở cấp kỹ thuật. Tháng 6 năm 2018: Việt Nam và EU đã chính thức thống nhất việc tách riêng EVFTA thành hai hiệp định gồm Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA); chính thức kết thúc toàn bộ quá trình rà soát pháp lý Hiệp định EVFTA; và thống nhất toàn bộ các nội dung của Hiệp định IPA.
  • Tháng 8 năm 2018: Hoàn tất rà soát pháp lý Hiệp định IPA.Ngày 17 tháng 10 năm 2018: Ủy ban châu Âu đã chính thức thông qua EVFTA và IPA.  
  • Ngày 25 tháng 6 năm 2019: Hội đồng châu Âu đã phê duyệt cho phép ký Hiệp định.  
  • Ngày 30 tháng 6 năm 2019: Việt Nam và EU chính thức ký kết EVFTA và IPA.
  • Ngày 21 tháng 1  năm 2020: Ủy ban Thương mại Quốc tế Liên minh châu Âu thông qua khuyến nghị phê chuẩn EVFTA.
  • Ngày 30 tháng 3 năm 2020: Hội đồng châu Âu thông qua Hiệp định EVFTA.
  • Ngày 08 tháng 6 năm 2020: Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Hiệp định EVFTA và EVIPA[18].

2.1. Quan hệ Việt Nam – EU

Ngày 17/07/1995, Hiệp định hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng đồng Châu Âu (EC) đã được ký kết tại Brussel (Bỉ). Hiệp định đã mở đường, tạo điều kiện để thúc tiến quan hệ hợp tác giữa 2 bên. Trong bản hiệp ước này, gồm có 21 điều và 3 phụ lục; được gọi là Hiệp định khung[19] dài hạn; chủ yếu là về vấn đè thương mại, đầu tư, hợp tác kinh tế khoa học và công nghệ, hợp tác phát triển,… giữa 2 bên Việt Nam – EC. Hiệp định này có giá trị trong 5 năm và sẽ được gia hạn thêm hàng năm nếu một trong các bên tham gia ký kết không tuyên bố hủy bỏ cam kết trước khi hết hạn là 6 tháng.

Mục tiêu chính trong bản Hiệp định này bao gồm 4 vấn đề cơ bản sau:

  • Tạo điều kiện, khuyến khích tăng trưởng và phát triển đầu tư thương mại hai chiều vì lợi ích chung, có tính đến hoàn cảnh kinh tế của mỗi bên.
  • Hỗ trợ phát triển kinh tế lâu bền và cải thiện điều kiện sống cho tầng lớp dân nghèo ở Việt Nam.
  • Thúc đẩy hợp tác kinh tế vì lợi ích chung bao gồm cả trợ giúp chính phủ Việt Nam trong nỗ lực cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển sang kinh tế thị trường.
  • Trợ giúp về bảo vệ môi trường và sử dụng lâu dài các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Có thể thấy, bản hiệp định chủ yếu đề cập đến vấn đề thương mại là phần nhiều và là nội dụng cơ bản. Theo đó, EC và cả Việt Nam sẽ dành cho nhau quy chế gọi là Tối Huệ Quốc[20] và đặc biệt là chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập[21]– ưu đãi này có ý nghĩa thực tế rất cao vì trong lúc này, chúng ta vẫn chưa tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế Giới (WTO) và vẫn được hưởng chế độ này từ EC. Sự ký kết giữa 2 bên đã mở đường cho sự phát triển và đa dạng hóa trong thương mại; thực hiện các chính sách xuất – nhập khẩu giữa hai bên; từng bước gỡ bỏ các rào cản về thương mại, nhất là rào cản về thuế quan.

Bảng 5

4

Diễn biến kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại giữa Việt Nam và EU giai đoạn 2011-2017.

Về kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa: theo số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU28) trong năm 2017 đạt 50,46  tỷ USD, tăng 11,9% so với năm trước 2016 và chiếm 11,8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường EU đạt 38,27 tỷ USD, tăng 12,7% (tương ứng tăng 4,31 tỷ USD về số tuyệt đối) so với một năm trước đó và chiếm 17,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Về cán cân thương mại hàng hoá giữa Việt Nam với EU : số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan ghi nhận trong các năm qua, Việt Nam luôn thặng dư cán cân thương mại trong trao đổi hàng hóa với EU. Trong năm 2017, Việt Nam xuất siêu sang thị trường này 26,08 tỷ USD hàng hóa các loại[22].

Bảng 6

Stt Mặt hàng chủ yếu Kim ngạch (Triệu USD) Tốc độ tăng/giảm (%) Tỷ trọng 1 (%) Tỷ trọng 2 (%)
1 Điện thoại các loại và linh kiện 11.955 6,4 31,2 26,4
2 Giày dép các loại 4.649 10,1 12,1 31,7
3 Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 4.613 20,5 12,1 17,8
4 Hàng dệt, may 3.785 6,2 9,9 14,5
5 Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác 1.864 44,6 4,9 14,4
6 Hàng thủy sản 1.462 22,0 3,8 17,6
7 Cà phê 1.414 -0,3 3,7 40,4
8 Hạt điều 1.003 32,3 2,6 28,5
9 Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù 918 10,3 2,4 28,0
10 Phương tiện vận tải và phụ tùng 856 31,6 2,2 12,2
11 Hàng hóa khác 5.752 15,8 15,0 8,9
         Tổng cộng 38.272 12,7 100,0 17,8

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Kim ngạch, tỷ trọng xuất khẩu một số nhóm mặt hàng chính của Việt Nam sang thị trường EU trong năm 2017

Ghi chú: 1. Tốc độ tăng/giảm là tốc độ tăng/giảm nhóm hàng đó năm 2017 so với năm 2016.

  1. Tỷ trọng 1 là tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của từng mặt hàng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU.
  2. Tỷ trọng 2 là tỷ trọng trị giá xuất khẩu nhóm hàng của Việt Nam sang EU so với kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng đó của cả nước sang tất cả các thị trường.

Bảng 7[23]

Stt Mặt hàng chủ yếu Kim ngạch (Triệu USD) Tốc độ tăng/giảm (%) Tỷ trọng 1 (%) Tỷ trọng 2 (%)
1 Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác 3.522 7,3 28,9 10,4
2 Dược phẩm 1.604 16,0 13,2 56,9
3 Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 1.368 34,4 11,2 3,6
4 Sản phẩm hóa chất 530 9,0 4,3 11,5
5 Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 452 13,2 3,7 8,3
6 Linh kiện, phụ tùng ô tô 271 7,1 2,2 8,3
7 Hóa chất 251 18,3 2,1 6,1
8 Chất dẻo nguyên liệu 241 26,3 2,0 3,2
9 Sữa và sản phẩm sữa 237 0,4 1,9 25,2
10 Thức ăn gia súc và nguyên liệu 220 -16,1 1,8 6,8
11 Hàng hóa khác 3.496 2,2 28,7 3,2
             Tổng cộng 12.192 9,4 100,0 5,7

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Kim ngạch, tỷ trọng nhập khẩu một số nhóm hàng chính của Việt Nam có xuất xứ từ EU trong năm 2017

Ghi chú: 1.Tốc độ tăng/giảm là tốc độ tăng/giảm nhóm hàng đó năm 2017 so với năm 2016.

  1. Tỷ trọng 1 là tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu của từng mặt hàng trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ EU.
  2. Tỷ trọng 2 là tỷ trọng trị giá nhập khẩu nhóm hàng của Việt Nam từ EU so với kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng đó của cả nước từ  tất cả các thị trường.

Qua các số liệu trên, có thể thấy vai trò ngày càng tăng của EU đối với Việt Nam và chúng ta luôn xem đây là thị trường xuất khẩu lớn của mình (đứng thứ 2, sau thị trường Hoa Kỳ). EU cũng là đối tác lớn thứ năm (sau Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan) xuất khẩu hàng hoá có xuất xứ EU sang Việt Nam năm 2017 (thể hiện qua bảng 7 ). Nhiều nhóm hàng được nhập khẩu từ thị trường này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam bao gồm: dược phẩm, sữa và sản phẩm sữa, sản phẩm hóa chất.

2.2. Quan hệ giữa Việt Nam với một số nước trong EU

Ngoài thị trường chung Châu Âu, chúng ta cũng có quan hệ ngoại giao với một số quốc gia trong Liên minh này và cán cân thương mại giữa Việt Nam và một số nước cũng đóng góp những vai trò nhất định.

1

Bảng 8: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang EU theo thị trường trong năm 2017

2

Bảng 9: Cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam các hàng hóa từ EU theo xuất xứ trong năm 2017

2.2.1 Quan hệ Việt Nam – Pháp

Quan hệ giữa Việt Nam và Pháp càng ngày càng có những bước tăng trưởng đáng kể trong thời gian gần đây. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Pháp các mặt hàng như giày, dép, hàng may mặc, đồ gỗ, đồ da, mây tre,… và nhập khẩu từ Pháp máy móc, thiết bị, các mặt hàng tiêu dùn, hóa-mỹ phẩm,…

Số liệu từ Tổng cục hải quan cho biết, trong năm 2017, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Pháp là 3302 triệu USD, tăng 10,7% so với các năm trước. Cũng cùng năm 2017, tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đối với mặt hàng của Pháp là 1306 triệu USD, tăng 14,2% so với các năm trước. Và tổng kim ngạch xuất-nhập của Việt Nam là 4608 triệu USD, tăng 11,6% so với các năm trước. Điều này khẳng định vai trò của EU ở đây có thể xem như là cầu nối để giúp Việt Nam thiết lập và mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực Âu Châu.

Trong sáng 2/4 (theo giờ địa phương), tại Thủ đô Paris, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã hội kiến Thủ tướng Cộng hòa Pháp Edouard Philippe (Ê-đu-a Phi-líp). Thủ tướng Edouard Philippe vui mừng chào đón Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân và Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Việt Nam thăm chính thức Pháp. Chủ tịch Quốc hội đánh giá cao chuyến thăm Việt Nam năm 2018 của Thủ tướng Pháp. Những doanh nghiệp tháp tùng Thủ tướng khi về nước đã có những xúc tiến đầu tư và kinh doanh với Việt Nam. Hãng hàng không mới thành lập của Việt Nam là Bamboo Airways đang đàm phán với với Airbus mua máy bay mới. Ngày 3/4/2019, tại Toulouse (Tu-lu), Pháp, Vietnam Airlines và Vietjet Air sẽ tham gia lễ tiếp nhận máy bay theo hợp đồng đã ký. Doanh nghiệp Việt Nam FPT cũng sẽ mở văn phòng đại diện tại Toulouse.[24] Những điều kiện này đã thúc đẩy hợp tác bền chặt của Việt Nam với Pháp cũng như với EU

2.2.2 Quan hệ Việt Nam – Thụy Điển

Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Thụy Điển là giày dép, hàng may mặc, thực phẩm, hàng chế biến,… và nhập khẩu từ Thụy Điển những sản phẩm như thiết bị viễn thông kỹ thuật, máy móc, sắt thép, các hóa chất hỗn hợp,…

Từ Tổng cục Hải quan[25], tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Thụy Điển trong năm 2017 là 971 triệu USD, tăng 6,2% so với các năm trước; cùng năm 2017, tổng kim ngạch nhập khẩu là 342 triệu USD, tăng 10% so với các năm trước đây. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam- Thụy Điển là 1313 triệu USD, tăng 7,1% so với các năm trước đó.

2.2.3 Quan hệ Việt Nam – Hà Lan

Quan hệ Việt Nam- Hà Lan được thiết lập từ vào khoảng thế kỷ XVI-XVII. Năm 1632, công ty Đông Ấn Hà Lan đã đặt trụ sở ở Hội An, người Hà Lan là những người đặt chân và mở rộng quan hệ với Việt Nam sớm nhất lúc bấy giờ. Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với Hà Lan vào 03/04/1973 và Đại sứ quán Hà Lan tại Hà Nội mở cửa năm 1976. Và trong suốt chừng ấy năm, quan hệ giữa 2 nước vấn phát triển và có những bước tiến quan trọng; vai trò ngày càng phát triển và quan trọng; Hà Lan cũng được xem là đối tác thân thiết với Việt Nam.

Thông tin từ Tổng cục Hải quan, trong năm 2017, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hà Lan là 7105 triệu USD, tăng 18,2% so với các năm trước đó, tuy nhiên cũng trong cùng năm 2017 thì tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đối với hàng hóa Hà Lan lại giảm 1,3% khi năm 2017 chỉ đạt 668 triệu USD; con số tổng kim ngạch nhập khẩu này không phải là quá nhỏ, có thể thấy vẫn lớn gấp đôi so với nhập khẩu của Thụy Điển. Và tổng kim ngạch xuất nhập khẩu là vào khoảng 7774 triệu USD, tăng 16,2 lần so với các năm trước; có thể thấy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Na – Hà Lan nhiều hơn hẳn so với Pháp (tăng 11,6%) hay Thụy Điển (tăng 7,1%).

  1. Những vấn đề cơ bản trong quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam – EU

Trong thời đại toàn cầu hóa như hiện nay, việc giao lưu thương mại là không thể thiếu sót. Xong, để có thể xúc tiến quá trình này một cách suông sẻ là một điều xem ra khó khăn với không chỉ Việt Nam mà còn đối với EU hay một số quốc gia khác. Vấn đề đặt ra đó là chúng ta cần giải quyết vấn đề về FTA[26] (thuế, hạn ngạch, hàng rào môi trường).

Trong một bài viết trích từ Tạp chí tài chính ngày 28/05/2018, TS. Đặng Minh Đức cũng chỉ ra những thách thức lớn với nền kinh tế Việt Nam. Trong đó nổi lên 3 vấn đề lớn là thị trường EU đòi hỏi khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm, về chất lượng hàng hóa cũng như bảo đảm nguồn gốc xuất xứ, các khoản viện trợ phát triển ODA cũng theo lộ trình cắt giảm khi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình và việc thu hút FDI cũng đang phải cạnh tranh gay gắt với các nước trong khu vực và các nước trong ASEAN[27].

Xong, vấn đề chưa dừng lại ở đó, mà chúng ta còn gặp một khó khăn nữa đó chính là SPS[28] và TBT[29]. Đối với các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS) Việt Nam và EU đã đạt được thỏa thuận về một số nguyên tắc về SPS nhằm tạo điều kiện cho hoạt động thương mại đối với các sản phẩm động vật, thực vật. Quy tắc xuất xứ: Hàng hóa sẽ được coi là có xuất xứ tại một bên (Việt Nam hoặc EU) nếu đáp ứng được một trong các yêu cầu mà hai bên đã thống nhất: Có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của bên xuất khẩu; Không có xuất xứ thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của bên xuất khẩu nhưng đáp ứng được các yêu cầu như hàm lượng giá trị nội địa không dưới 40%… Thương mại dịch vụ và đầu tư: Cam kết của Việt Nam và EU trong EVFTA về thương mại dịch vụ đầu tư hướng tới tạo ra một môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp (DN) 2 bên[30].

Ngoài ra, chúng ta cũng nhận thấy rằng thị trường EU là một thị trường có mức thu nhập cao, cũng là thị trường có chính sách bảo vệ người tiêu dùng chặt chẽ với những rào cản về kỹ thuật cho sản phẩm nhập khẩu là rất lớn[31].

Từ thực tiễn đầy khó khăn như thế này, chúng ta cần phải đề ra những biện pháp cụ thể để nâng cao vị thế của bản thân Việt Nam[32]. Từ đó mới có thể thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác với không chỉ EU mà còn những tổ chức, quốc gia khác. Rõ ràng, đây là một thị trường đầy tiềm năng đối với không chỉ của Việt Nam mà còn rất nhiều quốc gia khác. Song, chúng ta cần phải nắm bắt được những thuận lợi từ mối quan hệ này để hiểu rõ và đề ra những phương pháp, kế hoạch cho triển vọng quan hệ của hai bên; trong đó, chúng ta phải là bên có hành động mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn để khẳng định vị thế của bản thân và cho EU thấy rằng tiềm năng của chúng ta là rất nhiều.

  1. Triển vọng nào cho quan hệ hợp tác thương mại, kinh tế giữa Việt Nam – EU

Kể từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt Nam – EU và sự ký kết Hiệp định hợp tác hai bên năm 1995, rõ ràng chúng ta thấy được sự phát triển ngày càng đi lên của mối quan hệ hợp tác song phương này. Đây chính là biểu hiện thể hiện rõ Việt Nam cũng như EU đề muốn duy trì và phát triển hơn nữa sự hợp tác này, đặc biệt là trên vấn đề thương mại, kinh tế. Hai bên đã từng bước xóa bỏ các hàng rào về thuế quan hay hạn ngạch,…bước đầu ký kết những hiệp định hợp tác, hiệp định về bãi bỏ thuế quan,…Song, hai bên cần phải nhận ra triển vọng từ mối quan hệ này nhiều hơn nữa; đặc biệt là Việt Nam.

EU nhận thấy rõ được vị trí địa lý quan trọng của Việt Nam ở thị trường Đông Nam Á và trong khu vực. Đây là một quốc gia có bề dày về lịch sử; có tiềm năng về kinh tế, tài nguyên vô cùng phong phú, con người cũng theo đó mà càng ngày càng phát triển. Nằm ở khu vực được coi là có nền kinh tế năng động nhất thế giới, việc kết giao quan hệ với Việt Nam được xem là một thế mạnh để có thể xúc tiến quan hệ với các nước Đông Dương hoặc các nước trong khu vực Đông Nam Á hay thậm chí là tổ chức ASEAN,… Ngoài ra, với việc Việt Nam là thành viên của ASEAN hay là thành viên của APEC cũng là điều kiện thuận lợi để đẩy mối quan hệ hai bên đi đến những kết quả tốt đẹp. Thực tế đã cho thấy, EU dành cho Việt Nam một ưu ái khá lớn khi đặt quy chế về ưu đãi thuế quan phổ cập (GPS) hay quy chế Tối Huệ Quốc (MFN) để có thể tạo điều kiện cho hai bên giao thương dễ dàng hơn.

Ngày 02/12/2015 tại Brussels (Bỉ), trước sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng và Ủy viên phụ trách Thương mại EC Cecilia Malmstrom đã ký Tuyên bố về việc chính thức kết thúc đàm phán EVFTA[33]. Hiệp định này đã mở ra nhiều triển vọng cho sự phát triển của cả hai bên; nhất là đối với Việt Nam xem đây là một thị trường lớn của chúng ta; đây là thị trường với số dân sơn 500 triệu người và sức tiêu thụ là vô cùng lơn nên nếu gỡ bỏ được tất cả các hàng rào về thuế quan thì chắc chắn tiềm lực giữa 2 bên là vô cùng lớn mạnh.

Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường EU là các sản phẩm truyền thống dựa trên lợi thế lao động như hàng dệt may, giày dép các loại, cà phê, hải sản, máy vi tính… Về nhập khẩu, Việt Nam nhập khẩu từ hầu hết các nước thành viên EU, mặt hàng nhập khẩu từ EU chủ yếu là máy móc-thiết bị-dụng cụ, dược phẩm, sữa và sản phẩm từ sữa…Những mặt hàng xuất khẩu sang EU đều là những sản phẩm đặc trưng của Việt Nam; nhất là mặt hàng dệt may được các nhà kinh tế EU xem là mặt hàng khá sôi nổi, kiểu dáng đẹp và tỉ mỉ hơn rất nhiều so với các nước khác sản xuất sản phẩm cùng loại. Sau khi ký hiệp định về EVFTA[34] thì chúng ta lại càng có thêm động lực để thúc đẩy, phát triển, đưa ra định hướng, kế hoạch sản xuất sao cho phù hợp để có thể xuất khẩu sáng cho thị trường EU.

Chưa kể đến việc nhờ quan hệ song phương Việt Nam – EU, chúng ta lại được đa phương hóa với nhiều nước thành viên và đẩy mạnh quan hệ ngoại giao đối tác, chiến lược như Pháp, Đức, Hà Lan, Thụy Điển,…Chính một số nước thành viên của EU (Đức, Anh, I-ta-li-a, Ét-xtô-ni-a, Lúc-xăm-bua) đã cam kết thúc đẩy EU sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam. Các nước này liên tục đầu tư vào Việt Nam[35] và xem đây là một thị trường giàu tiềm năng để kết nối quan hệ, hình thành nên nhiều tập đoàng lớn đang hoạt động có hiệu quả tại Việt Nam như BP (Anh), Shell Group (Hà Lan), Total Elf Fina (Pháp Bỉ), Daimler Chrysler (Đức), Siemen, Alcatel Comvik (Thuỵ Điển)…. Xu thế đầu tư của EU chủ yếu vẫn tập trung vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, tuy nhiên, gần đây có xu hướng phát triển tập trung hơn vào các ngành dịch vụ (bưu chính viễn thông, tài chính, văn phòng cho thuê, bán lẻ).

Lĩnh vực đầu tư đến Việt Nam cũng không ngừng tăng lên, điển hình như về công nghiệp chế biến, chế tạo đứng đầu với 573 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 6,3 tỷ USD; đứng thứ 2 là sản xuất phân phối điện, khí, nước với 19 dự án, tổng vốn đầu tư 3,54 tỷ USD; lĩnh vực kinh doanh bất động sản có 34 dự án, tổng vốn đầu tư 2,209 tỷ USD; lĩnh vực thông tin truyền thông có 186 dự án, tổng vốn đầu tư 2,194 tỷ USD. EU đầu tư hầu hết ở các tỉnh thành phố ở Việt Nam, trong đó Hồ Chí Minh đứng đầu về số dự án thu hút đầu tư và Hà Nội lại là nơi thu hút số vốn đầu tư nhiều nhất; song chưa kể đến những tỉnh-thành khác như Đồng Nai, Bình Dương, Đà Nẵng,..Việt Nam luôn mong muốn thúc đẩy mạnh hơn nữa hợp tác quốc tế với EU trên nhiều lĩnh vực và thực tế đã chứng minh mối quan hệ hợp tác này là vô cùng có triển vọng[36] không chỉ đối với Việt Nam hay EU mà còn là với các nước thành viên, khi mà chúng ta tiến hành đa phương hóa quan hệ ngoại giao với các nước thành viên của Liên minh Châu Âu.

KẾT THÚC

Từ thực tế đã chứng minh quan hệ đối ngoại Việt Nam – EU trong thời gian kể từ lúc thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay là vô cùng có giá trị và đi theo hướng phát triển đi lên. Trong những năm hình thành và đến khi phát triển, EU luôn khẳng định vị thế của mình trên Châu Lục và cả trên thế giới; EU tồn tại phát triển không ngừng, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới, là bạn hàng thân cận của các nước và là thị thường xuất khẩu lớn của các quốc gia. Trong khi đó, Việt Nam luôn từng ngày khẳng định vai trò của mình tại khu vực Đông Nam Á- được xem là có nền kinh tế năng động trên thế giới, điều này càng thúc đẩy Việt Nam phải nỗ lực mạnh mẽ hơn nữa để khẳng định mình trên trường quốc tế, từ đó thiết lập quan hệ ngoại giao thương mại với các quốc gia, tổ chức quốc tế trên thế giới. Với việc thiết lập quan hệ ngoại giao và đỉnh cao là ký kết Hiệp định hợp tác năm 1995, Việt Nam đã và đang ngày càng khẳng định vị thế của mình, vai trò của mình đối với bạn hàng thân cận là EU; những thành tựu đạt được trong quá trình hợp tác là sự cố gắng không ngừng nghỉ của cả hai bên. Quan hệ giữa 2 bên trong những thời điểm nhất định đã gặp khó khăn, song không vì thế mà chúng ta hay EU từ bỏ quan hệ này, cả hai phía đều đã và đang từng bước tháo gỡ những khó khăn để tiến tới một thị trường chung- nơi mà ở đó không tồn tại các hàng rào thuế quan, các chính sách hạn ngạch,…Và Việt Nam coi trọng hợp tác đối ngoại với EU trên nhiều lĩnh vực[37], trong đó đứng đầu vẫn là hoạt động về thương mại, kinh tế. Hai bên đã nhận ra nhiều triển vọng phát triển từ mối quan hệ này và cố gắng đẩy mạnh hơn nữa quan hệ kinh tế giữa hai bên đặc biệt là xuất khẩu hàng Việt

Nam sang EU. Mong rằng và tin tưởng quan hệ này sẽ ngày càng tiến xa hơn, phát triển tốt đẹp hơn trong thời gian gian sắp đến. Từ đó sẽ sản sinh thêm nhiều triển vọng nữa từ mối quan hệ hợp tác này.

            DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 GDP danh nghĩa năm 2016
Bảng 2 Hàng hóa và dịch vụ: Xuất-Nhập khẩu theo quốc gia (2014-2016)
Bảng 3 Tài trợ chính thức cho Châu Phi (2000-2013)
Bảng 4 Tài trợ chính thức cho châu Phi (2000-2013) – Tỷ trọng của tổng tài trợ bao gồm tài trợ không hoàn lại
Bảng 5 Diễn biến kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại giữa Việt Nam và EU giai đoạn 2011-2017.

Bảng 6

Kim ngạch, tỷ trọng xuất khẩu một số nhóm mặt hàng chính của Việt Nam sang thị trường EU trong năm 2017
Bảng 7 Kim ngạch, tỷ trọng nhập khẩu một số nhóm hàng chính của Việt Nam có xuất xứ từ EU trong năm 2017

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bài viết chủ yếu sử dụng nguồn tư liệu chủ yếu từ:

Ngoài ra, bài viết còn sử dụng một số thông tin số liệu, giải thích chú thích ở một số bài viết sau:

  1. http://sdh.neu.edu.vn/trien-vong-mot-so-mat-hang-xuat-sang-eu__190870.html ; truy cập 17h, 21/04/2019
  2. http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/san-pham-nong-lam-thuy-san-viet-duoc-mo-rong-tren-180-thi-truong-306119.html ; truy cập 17h17, 21/04/2019
  3. http://logistics.cntech.vn/nhung-mat-hang-xuat-khau-chinh-cua-viet-nam-sang-cac-nuoc-thuoc-khoi-eu/ ; truy cập 19h, 29/04/2019
  4. http://www.cpv.org.vn/thoi-su/ha-lan-la-doi-tac-quan-trong-cua-viet-nam-o-chau-au-516151.html ; truy cập 13h22, 29/04/2019
  5. http://www.cpv.org.vn/khoa-giao/thuc-day-hop-tac-viet-nam-duc-trong-linh-vuc-giao-duc-dao-tao-516987.html ; truy cập 13h42, 29/04/2019
  6. http://www.cpv.org.vn/doi-ngoai/hop-tac-ben-vung-viet-nam-thuy-dien-510753.html ; truy cập 14h, 29/04/2019
  7. http://www.cpv.org.vn/thoi-su/dau-moc-moi-trong-hop-tac-quoc-hoi-viet-nam-nghi-vien-cong-hoa-phap-517799.html ; truy cập 14h27, 29/04/2019
  8. http://www.cpv.org.vn/thoi-su/nhieu-trien-vong-cho-hop-tac-kinh-te-viet-nam-phap-518051.html ; truy cập 14h33, 29/04/2019
  9. http://www.cpv.org.vn/thoi-su/tang-cuong-hop-tac-giua-cac-dia-phuong-viet-nam-va-phap-518063.html ; truy cập 14h36, 29/04/2019
  10. http://www.cpv.org.vn/thoi-su/thuc-day-hop-tac-quoc-hoi-viet-nam-nghi-vien-chau-au-518168.html ; truy cập 15h, 29/04/2019
  11. http://www.cpv.org.vn/thong-tin-kinh-te/chat-luong-loai-a-va-gia-thanh-san-xuat-giam-soi-pvtex-xuat-khau-sang-thi-truong-hoa-ky-520771.html ; truy cập 8h21, 28/04/2019
  12. https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/viet-nam-eu-quan-he-doi-tac-ben-chat/383887.html ; truy cập 9h12, 28/04/2019
  13. http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/viet-nam-eu-khang-dinh-quan-he-doi-tac-ben-chat-139635.html ; truy cập 9h23, 28/04/2019
  14. https://eeas.europa.eu/delegations/vietnam_bs/30091/Ch%C3%A2u%20%C3%82u%20v%E1%BA%ABn%20l%C3%A0%20m%E1%BB%99t%20si%C3%AAu%20c%C6%B0%E1%BB%9Dng ; truy cập 21h22, 29/04/2019
  15. https://www.customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx?ID=1392&Category=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20chuy%C3%AAn%20%C4%91%E1%BB%81&Group=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch ; truy cập 21h40, 29/04/2019
  16. https://www.customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx?ID=1559&Category=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20%C4%91%E1%BB%8Bnh%20k%E1%BB%B3&Group=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch ; truy cập 22h02, 29/04/2019
  17. http://vneconomy.vn/viet-nam-dat-thang-du-thuong-mai-voi-eu-hon-21-ty-usd-20181025105610962.htm ; truy cập 22h39, 29/04/2019
  18. http://cafef.vn/viet-nam-xuat-sieu-hon-21-ty-usd-sang-eu-trong-9-thang-dau-nam-2018-20181019143127171.chn ; truy cập 22h48, 29/04/2019
  19. https://www.customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/Default.aspx?&Group=Th%E1%BB%91ng%20k%C3%AA%20H%E1%BA%A3i%20quan ; truy cập 23h17, 29/04/2019
  20. http://www.cpv.org.vn/doi-ngoai.html?page=41 ; truy cập 23h40, 29/04/2019
  21. http://www.cpv.org.vn/kinh-te-va-hoi-nhap.html?page=21 ; truy cập 23h47, 29/04/2019
  22. http://www.mofahcm.gov.vn/mofa/nr091019080134/nr091019083649/ns110511151641 ; truy cập 21h54, 30/04/2019
  23. http://ecommerce.gov.vn/linh-vuc-nganh-hang/rao-can-thuong-mai/rao-can-ky-thuat-doi-voi-thuong-mai-technical-barriers-to-trade-tbt ; truy cập 21h11, 30/04/2019
  24. http://www.spsvietnam.gov.vn/wtosps ; truy cập 21h23, 30/04/2019
  25. http://www.mofahcm.gov.vn/mofa/ctc_quocte/un/nr040819160455/ns171003104051/view ; truy cập 23h04, 30/04/2019

[1] Đối tác chiến lược toàn diện: Trung Quốc (2008), Liên Bang Nga (2012), Ấn Độ (2016).

[2] Đối tác chiến lược: Nhật Bản (2006), Hàn Quốc (2009), Tây Ban Nha (2009), Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (2010), Đức (2011), Ý (2013), Pháp (2013), Thái Lan (2013), Indonesia (2013), Singapore (2013), Malaysia (2015), Phillippines (2015), Úc (2018).

[3] Đối tác toàn diện: Venezuela (2007), Chile (2007), Brasil (2007), New Zealand (2009), Argentina (2010), Ukraina (2011), Hoa Kỳ (2013), Đan Mạch (2013), Myanmar (2017), Canada (2017), Triều Tiên (2018), Brunei (2019), Hà Lan (2019), Nam Phi (2004)

[4] ECOSOC: Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc (United Nations Economic and Social Council)

[5] UNDP: Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (United Nations Development Programme), trụ sở tại New York

[6] UNFPA: Qũy dân số Liên Hiệp Quốc (The United Nations Population Fund)

[7] UPU: Liên minh Bưu chính Quốc tế hay Liên hiệp Bưu chính Quốc tế (Universal Postal Union )

[8] Wiston Churchill (1874-1965): thủ tướng Anh đương thời

[9] Jean Mornet (1888-1963): nhà chính trị và kinh tế Pháp

[10] Robert Schuman  (1886-1963): Ngoại trưởng Pháp

[11] Cộng đồng Than- Thép Châu Âu – ECSC – European Coal and Steal Community

[12] Liên minh Châu Âu – EU – European Union: chính thức được thay cho cái tên Cộng đồng Châu Âu (EC- European Community- ra đời năm 1967) từ ngày 01/01/ 1993

[13] https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_minh_ch%C3%A2u_%C3%82u#Ngo%E1%BA%A1i_giao

[14] Kế hoạch Marshall (Marshall Plan) là một kế hoạch trọng yếu của Hoa Kỳ nhằm tái thiết và thiết lập một nền móng vững chắc hơn cho các quốc gia Tây Âu, đẩy lui chủ nghĩa cộng sản sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mang tên chính thức “Kế hoạch phục hưng châu Âu” (European Recovery Program – ERP), nhưng Kế hoạch Marshall thường được gọi theo tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall, người đã khởi xướng và ban hành kế hoạch.

[15] Nhóm G7 hay G-7 (tên tiếng Anh: Group of Seven) là tập hợp bảy vị bộ trưởng tài chính của bảy nước kỹ nghệ tiên tiến trên thế giới. Nhóm này thành hình vào năm 1976 khi Canada gia nhập nhóm G6 trước kia gồm: PhápĐứcÝNhậtAnh và Hoa Kỳ. Bảy vị bộ trưởng này nhóm họp vài lần mỗi năm để bàn luận và trao đổi về chính sách kinh tế. Công việc cũng được hỗ trợ bởi những kỳ họp thường xuyên của các viên chức khác như thứ trưởng tài chính

[16] https://eeas.europa.eu/delegations/vietnam_bs/30091/Ch%C3%A2u%20%C3%82u%20v%E1%BA%ABn%20l%C3%A0%20m%E1%BB%99t%20si%C3%AAu%20c%C6%B0%E1%BB%9Dng

[17] EC = European Community = Cộng đồng Châu Âu

[18] “GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH EVFTA VÀ IPA”, http://evfta.moit.gov.vn/?page=overview&category_id=fb203c7b-54d6-4af7-85ca-c51f227881dd

[19] Hiệp định khung (Cooperation Framework Agreement): là điều ước quốc tế có nội dung ghi nhận cơ sở, mục đích, nguyên tắc chung cho một lĩnh vực hợp tác nhất định giữa các bên hữu quan.

[20] Tối Huệ Quốc (Most Favoured Nation, viết tắt là MFN) là một trong những quy chế pháp lý quan trọng trong thương mại mại quốc tế hiện đại. Quy chế này được coi là một trong những nguyên tắc nền tảng của hệ thống thương mại đa phương của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

[21] Thuế quan phổ cập (Generalised System of Preferences, viết tắt là GSP): là hệ thống ưu đãi về thuế quan của các nước công nghiệp phát triển dành cho một số mặt hàng nhất định mà họ nhập khẩu từ các nước đang phát triển.

-Tháng 3/2013, EU đã công bố quy chế GSP giai đoạn 2014-2016 và theo đó, Việt Nam tiếp tục được hưởng GSP, đặc biệt là nhóm hàng hóa thuộc mục XII (gồm dày dép, ô dù). GSP giảm thuế cho các nước đang phát triển với mức ưu đãi thấp hơn mức thuế Tối huệ quốc 3,5%. 

-Điều kiện được hưởng GSP:
(1) Sản phẩm phải xuất khẩu từ một nước được hưởng GSP
(2) Sản phẩm nằm trong danh mục được hưởng GSP
(3) Sản phẩm đáp ứng được các quy chế xuất xứ và điều kiện vận tải
(4) Hàng hoá phải có giấy chứng nhận xuất xứ

[22] https://www.customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx?ID=1392&Category=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20chuy%C3%AAn%20%C4%91%E1%BB%81&Group=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch

[23] Bảng 5, bảng 6, bảng 7: https://www.customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx?ID=1392&Category=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20chuy%C3%AAn%20%C4%91%E1%BB%81&Group=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch

[24] http://www.cpv.org.vn/thoi-su/nhieu-trien-vong-cho-hop-tac-kinh-te-viet-nam-phap-518051.html

[25] https://www.customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx?ID=1392&Category=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20chuy%C3%AAn%20%C4%91%E1%BB%81&Group=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch

[26] FTA = Free Trade Agreement = Hiệp định thương mại tự do là một Hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia. Theo đó, các nước sẽ tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do. Theo thống kê của Tổ chức thương mại thế giới có hơn 200 Hiệp định thương mại tự do có hiệu lực.

[27] http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/viet-nam-eu-khang-dinh-quan-he-doi-tac-ben-chat-139635.html

[28] SPS (Sanitary and Phytosanitary Measures- Các biện pháp kiểm dịch động thực vật): Biện pháp xác định các thành viên có thể hoặc không thể áp đặt các hạn chế như thế nào đối với những hàng hóa nhập khẩu nhất định nhằm mục đích bảo vệ:
– Sức khỏe con người hoặc động vật từ những nguy cơ qua đường thực phẩm.
– Sức khỏe con người khỏi các bệnh lây qua động vật, thực vật.
– Động, thực vật khỏi sâu bệnh hoặc bệnh tật.

[29] TBT (Technical Barriers to Trade- Các hàng rào kỹ thuật trong thương mại): là hiệp định liên quan đến việc dự thảo, xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp tại các nước thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với mong muốn chúng không được tạo ra trở ngại không cần thiết cho thương mại quốc tế.

[30] http://www.mofahcm.gov.vn/mofa/ctc_quocte/un/nr040819160455/ns171003104051/view

  • [31] Thứ nhất, khó khăn trong việc đảm bảo quy tắc xuất xứ của EVFTA: Hiệp định EVFTA hướng tới mức độ xóa bỏ thuế nhập khẩu lên tới 99,2% số dòng thuế. Tuy nhiên, để được hưởng mức ưu đãi này, hàng xuất khẩu sang EU cần thoả mãn quy tắc xuất xứ, đây có thể là một cản trở đối với hàng xuất khẩu Việt Nam bởi nguồn nguyên liệu cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc và ASEAN. Nếu không đảm bảo được quy tắc xuất xứ, hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU chỉ được hưởng mức thuế đãi ngộ tối huệ quốc chứ không phải là mức thuế suất 0% trong EVFTA.
  • Thứ hai, khó khăn trong việc tuân thủ những quy định về sở hữu trí tuệ, lao động và môi trường từ EVFTA.

– Về sở hữu trí tuệ: Trong khi Việt Nam còn khá thờ ơ với vấn đề sở hữu trí tuệ, thì đây lại là yêu cầu đặt lên hàng đầu từ phía EU. Thậm chí, đòi hỏi về bảo hộ sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư EU còn cao hơn đòi hỏi về quyền sở hữu trí tuệ trong WTO. Việt Nam cần đặc biệt chú ý tới những quy tắc về sở hữu trí tuệ trong EVFTA để có thể khai thác được lợi ích từ hiệp định này.

– Về sử dụng lao động: Dù có nhiều nỗ lực nhưng tại các DN Việt Nam vẫn tồn tại vướng mắc khi áp dụng các tiêu chuẩn lao động. Những vướng mắc phổ biến liên quan đến việc người lao động làm thêm quá số giờ quy định; quy định về nghỉ tuần, nghỉ lễ; môi trường làm việc, vệ sinh an toàn lao động; quyền tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đầy đủ, quyền được hỗ trợ của lao động nữ nơi làm việc và nuôi con nhỏ… Nếu không giải quyết, vấn đề này, có thể là một rào cản lớn đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU.

– Về bảo vệ môi trường: Đến nay, Việt Nam chưa có kinh nghiệm trong vấn đề thực hiện các nghĩa vụ về môi trường trong khuôn khổ các ràng buộc và điều chỉnh thương mại. Đồng thời, nguồn lực dành cho hoạt động bảo vệ môi trường còn hạn chế, ý thức và năng lực của cán bộ quản lý cũng như người dân chưa cao ảnh hưởng đến việc thực thi một cách nghiêm túc các nghĩa vụ liên quan đến môi trường. Thực trạng này đặt ra những thách thức không nhỏ cho Việt Nam do những yêu cầu từ phía EU đối với DN xuất khẩu Việt Nam trong thực hiện các trách nhiệm về bảo vệ môi trường.

  • Thứ ba, rào cản kỹ thuật đối với hàng hoá nhập khẩu từ phía EU rất chặt chẽ. Bên cạnh những quy định về xuất xứ, lao động và môi trường, thâm nhập vào thị trường EU vẫn còn khó khăn từ các hàng rào phi thuế quan về kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm của thị trường EU. Điển hình là mặt hàng nông sản, dù EVFTA có ưu đãi với những quy định SPS linh hoạt nhưng đa số ngành hàng nông sản của nước ta như chè, rau quả… vẫn vấp phải những hạn chế do tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, thiếu tính đồng nhất trong từng lô hàng, công tác thu hoạch bảo quản chưa tốt nên chất lượng còn hạn chế.
  • [32] Thứ nhất, phát triển công nghiệp phụ trợ nhằm đảm bảo thoả mãn yêu cầu về xuất xứ. Nhà nước cần xác định về các ngành xuất khẩu mũi nhọn và quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ. Với nguồn lực có hạn, Việt Nam không thể phân tán lực lượng mà phải tập trung phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ mũi nhọn mà mình có khả năng như: dệt may, giày dép… và lắp ráp (như ôtô, xe máy, thiết bị điện và điện tử). Bên cạnh đó, cần có chính sách ưu đãi nhằm thu hút các DN đầu tư phát triển các cụm sản xuất nhằm phát triển công nghiệp phụ trợ, đặc biệt DNNVV cũng như DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); Xây dựng cơ chế thuận lợi thu hút FDI từ các nhà đầu tư EU tham gia vào quá trình sản xuất cũng như vào các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu tại Việt Nam.
  • Thứ hai, hoàn thiện thể chế và nâng cao nhận thức cộng đồng về vấn đề lao động, môi trường và sở hữu trí tuệ. Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để đáp ứng những điều kiện về lao động, môi trường và sở hữu trí tuệ phù hợp với chuẩn mực quốc tế nói chung cũng như EVFTA nói riêng. Đồng thời, cần quy định các chế tài đủ mạnh đối với các hành vi vi phạm; Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức cộng đồng về các vấn đề môi trường, lao động và sở hữu trí tuệ; Tăng cường đầu tư công nghệ xử lý chất thải, khí thải, đảm bảo các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường theo cam kết trong EVFTA; Tăng cường giáo dục ý thức của DN về tầm quan trọng của việc chuyển sang sử dụng công nghệ sạch, đầu tư công nghệ xử lý môi trường và ý thức trong việc sử dụng đúng tiêu chuẩn các dư lượng hoá chất trong sản xuất nông nghiệp…
  • Thứ ba, phát triển năng lực công nghệ và quản lý chất lượng nhằm đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn. Cần thực hiện tốt các chính sách khuyến khích các nhà khoa học trong và ngoài ngành chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất có năng suất, chất lượng và hiệu quả; Thu hút các thành phần kinh tế tham gia nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; Khai thác lợi thế trong các cam kết đầu tư từ EVFTA nhằm tăng cường hợp tác công nghệ để tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất; Phát triển mạnh hình thức thuê mua tài chính trong mua sắm máy móc, thiết bị, công nghệ cho các DN xuất khẩu nhằm nâng cao khả năng phát triển và sức cạnh tranh của các DN; Tăng cường đầu tư công nghệ phục vụ công tác kiểm tra, quản lý chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm và các tiêu chuẩn kỹ thuật khác. Bên cạnh những giải pháp trên, cần xây dựng những giải pháp tổng thể nhằm phát triển nguồn nhân lực cũng như đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại để tìm hiểu và mở rộng các cơ hội tiếp cận thị trường EU.

[33] Các nội dung chính của EVFTA gồm: Cam kết mở cửa thị trường hàng hóa, Quy tắc xuất xứ, Hải quan và thuận lợi hóa thương mại, Vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS), Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, Đầu tư, Phòng vệ thương mại, Cạnh tranh, Doanh nghiệp nhà nước, Mua sắm chính phủ, Sở hữu trí tuệ, Phát triển bình vững, Hợp tác và xây dựng năng lực, Các vấn đề pháp lý.

[34] Theo cam kết trong EVFTA, trong vòng 7 năm, EU sẽ xóa bỏ 99,2% số dòng thuế trong biểu thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU. Trong vòng 10 năm, Việt Nam sẽ xóa bỏ trên 99% số dòng thuế đối với nhập khẩu từ EU. Đối với thương mại dịch vụ và đầu tư, EU cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam cao hơn mức cam kết trong WTO và tương đương mức cam kết cao nhất của EU trong các FTA gần đây.Cam kết của Việt Nam đối với EU cũng cao hơn trong WTO và ít nhất là ngang bằng với mức mở cửa cao nhất của Việt Nam đối với các đối tác khác.
Đối với Việt Nam, hưởng lợi nhiều nhất từ EVFTA là những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam mà hiện EU vẫn duy trì thuế quan cao như dệt may, giày dép và hàng nông sản. Về nhập khẩu, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp cận với nguồn máy móc, thiết bị, công nghệ/kỹ thuật cao từ EU, qua đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Về môi trường kinh doanh, việc thực thi các cam kết trong EVFTA sẽ dẫn đến những cải thiện về thể chế, chính sách, pháp luật tại theo hướng minh bạch, thuận lợi hơn và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế.

[35] Tính đến hết tháng 9/2015, đã có 23/28 nước EU đầu tư vào Việt Nam với 1,718 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 21,53 tỷ USD. Trong số các nước EU đầu tư vào Việt Nam, Hà Lan đứng đầu với 239 dự án, tổng vốn đầu tư 6,66 tỷ USD. Pháp đứng thứ 2 với 436 dự án, tổng vốn đầu tư 3,4 tỷ USD. Tiếp theo là các quốc gia khác như Luxembourg, Đức, Síp, Đan Mạch…

[36] Trong giai đoạn 1993 – 2013, tổng cam kết ODA của Ủy ban châu Âu (EC) và các nước thành viên EU đạt gần 14 tỷ USD, chiếm 20% tổng cam kết của cộng đồng tài trợ quốc tế cho Việt Nam, trong đó viện trợ không hoàn lại của EU đạt khảng 1,5 tỷ USD. 
Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của EC cho Việt Nam được thực hiện thông qua các Chiến lược hợp tác với Việt Nam (Country Strategy Paper-CSP) với ngân sách viện trợ liên tục tăng từ 140 triệu Euro trong giai đoạn 1996 – 2001 lên 162 triệu Euro trong giai đoạn 2002 – 2006 và 304 triệu Euro giai đoạn 2007 – 2013.
 Giai đoạn 2014 – 2020, EC cam kết viện trợ cho Việt Nam 400 triệu Ơ-rô (danh sách các nước Châu Á được hưởng ODA giảm từ 19 xuống còn 12), tập trung vào 2 lĩnh vực là năng lượng bền vững và thể chế.

[37] Hợp tác trong khuôn khổ đa phương: Việt Nam và EU hợp tác tại các diễn đàn đa phương và tổ chức quốc tế, đặc biệt là trong khuôn khổ hợp tác ASEAN – EU, ASEM và Liên hợp quốc, trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, an ninh năng lượng, chống khủng bố, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, di cư bất hợp pháp… 
Ngày 08/8/2015, Phái đoàn EU tại ASEAN đã khai trương tại Jakarta. Tháng 9/2015, ông Francisco Fontan Pardo đã được chỉ định làm Đại sứ, Trưởng Phái đoàn EU tại ASEAN.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s