Gulag- Lịch sử trại cải tạo lao động Xôviết- Phần 3

III Sự thăng trầm của Tổ hợp Trại-Công nghiệp, 1940-1986

9788852081514_p0_v1_s600x595.jpg

Tác giả Anne Applebaum

Giải Pulitzer 2004

Người dịch Lý Quốc Bảo

19 .Chiến tranh bắt đầu

 

Từng là lính, giờ tôi là tù

Hồn tôi đông cứng, lưỡi tôi khô.

Nào đâu nhà thơ, nào họa sĩ

Tả nổi cảnh tôi khổ tù đày?

Và bày quạ ác đâu hay biết

Thứ án nào chúng bắt tôi khuân

Khi chúng tra tấn, khi truy đuổi

Ngục tối, lưu đày, tới trại này.

Nhưng kỳ diệu thay, trên mỏ đá

Ngôi sao tự do chiếu sáng soi

Chiếu xuyên hồn tôi – thôi đông cứng

Chiếu qua lưỡi tôi – nói được rồi!

                      – Leonid Sitko, 1949[1]

 

Ký ức chung của người Phương Tây thường xem ngày 1/9/1939, ngày nước Đức xâm lược tây Ba Lan, là khởi đầu Thế Chiến thứ II. Nhưng trong tâm thức lịch sử người Nga, kể cả ngày này lẫn ngày 17/9/1939 – ngày Liên Xô xâm lược đông Ba Lan – đều không được tính là khởi đầu cuộc chiến. Mặc dù bi thảm, cuộc chung sức xâm lược này, được sắp xếp từ trước qua các đợt đàm phán đã dẫn tới bản Hiệp ước Hitler-Stalin, đều không trực tiếp ảnh hưởng đến phần lớn công dân Xôviết.

Trái lại, không công dân Xôviết nào quên được ngày 22/6/1941 – ngày mà Hitler tiến hành Chiến dịch Barbarossa, cuộc tấn công bất ngờ của y vào đất nước Liên Xô đồng minh. Karlo Stajner, khi ấy là tù ở Norilsk, đã nghe thấy tin này trên radio trại:

Đột nhiên tiếng nhạc im bặt, và chúng tôi nghe thấy giọng Molotov nói về “cuộc tấn công đầy xảo trá” của bọn Quốc xã vào Liên Xô. Sau vài câu, chương trình lại được phát tiếp. Có khoảng một trăm người trong các lán, nhưng ta có thể nghe rõ tiếng lá rơi: tất cả chúng tôi đều nhìn nhau. Tay hàng xóm của Vasily nói: “Thế thì tất cả chúng ta toi đến nơi rồi”.[2]

Đã quen với suy nghĩ rằng mọi sự kiện chính trị quan trọng đều ảnh hưởng xấu tới họ, tù chính trị tiếp nhận tin tức về cuộc xâm lược với nỗi khiếp sợ đặc biệt. Họ đã đúng khi nghĩ vậy: “lũ kẻ thù của nhân dân” – giờ được xem là bọn gián điệp tiềm tàng – trong một số trường hợp lập tức bị đưa ra đàn áp nhiều hơn nữa. Một số – số lượng cho tới nay chưa được biết rõ – bị hành quyết. Stajner ghi nhận rằng vào ngày thứ hai của chiến tranh, thực phẩm bị cắt: “đường bị cắt hẳn, thậm chí phần xà phòng của chúng tôi bị giảm một nửa”. Vào ngày thứ ba của chiến tranh, tất cả tù nước ngoài bị gom lại. Stajner, một công dân Áo (mặc dù ông tự xem mình là một người Cộng sản Nam Tư), bị bắt trở lại, chuyển khỏi trại và tống giam. Công tố viên trại mở lại cuộc điều tra về vụ của ông.

Kiểu cách tương tự được lặp lại trên khắp hệ thống trại. Tại Ustvymlag, vào ngày đầu tiên của chiến tranh, ban chỉ huy trại cấm toàn bộ thư từ, bưu phẩm và báo chí, và cho tháo bộ khuếch sóng của chiếc radio trong trại xuống.[3] Các ông trùm của Kolyma truất quyền đọc thư và báo của tù chính trị, đồng thời cũng cắt không cho nghe radio. Ở khắp nơi, việc lục soát gia tăng, điểm danh buổi sáng kéo dài hơn. Đám chỉ huy lagpunkt tổ chức các lán mức an ninh tối đa đặc biệt cho tù gốc Đức. “Tất cả những thằng Burg, Berg và Stein, đứng sang bên trái. Tất cả những đứa Hindenberg và Ditgenstein đứng sang đây”, lính gác gào lên, ra dấu rằng Evgeniya Ginzburg phải theo họ. Bà tìm cách xông được vào văn phòng Đăng ký và Phân phối, thuyết phục được một thanh tra viên xem lại quốc tịch và tư cách công dân của bà: “Có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử loài người mà là một người Do Thái lại là lợi thế”.[4]

Ban quản lý Karlag chuyển tất cả tù gốc Đức và Phần Lan khỏi xí nghiệp xẻ gỗ của trại, đưa họ đi đốn gỗ. Một tù người Mỹ gốc Phần nhớ rằng “Năm ngày sau xí nghiệp phải ngưng sản xuất vì người Phần và Đức là các chuyên gia duy nhất biết cách vận hành công việc… Không chờ cho phép của Moscow, họ chuyển chúng tôi trở lại xí nghiệp”.[5]

Sự thay đổi bi thảm nhất, đối với những ai bị nó tác động, là bản mệnh lệnh – cũng ban hành ngày 22/6/1941 – cấm tất cả tù bị kết tội “phản bội tổ quốc, gián điệp, khủng bố, lệch hướng, Trotskyite, tả khuynh và băng đảng” (nói cách khác là tất cả tù chính trị) được rời khỏi trại. Tù gọi sắc lệnh này là “án bổ sung”, mặc dù trong thực tế nó là một mệnh lệnh hành chính, không phải một bản án mới. Theo lưu trữ chính thức, 17.000 tù lập tức bị ảnh hưởng. Những người khác sẽ bị tác động sau đó.[6] Thông thường là không hề có thông báo trước: vào ngày mãn hạn, những người thuộc phạm vi mệnh lệnh này đơn giản là nhận được một tờ giấy hướng dẫn họ ở lại sau hàng rào thép gai “trong thời gian chiến tranh diễn ra”.[7] Nhiều người xem điều này có nghĩa là họ sẽ phải ở tù suốt đời. “Chỉ đến lúc đó tôi mới hiểu rõ toàn bộ thảm kịch trong tình thế của mình”, một người nhớ lại.[8]

Bi kịch này ảnh hưởng đến phụ nữ và trẻ em mạnh hơn bất cứ ai khác. Một tù người Ba Lan kể lại câu chuyện về một phụ nữ vốn bị buộc phải để đứa con nhỏ của mình lại một nhà nuôi trẻ bên ngoài trại. Mỗi ngày ngồi trại, cô không nghĩ đến gì khác ngoài việc lấy lại con mình. Sau đó, khi ngày mãn hạn đã tới, cô bị cho hay là sẽ không được thả bởi chiến tranh đã nổ ra: “Cô vứt hết công việc sang một bên, gục xuống bàn và không phải khóc thổn thức mà đúng là rú lên như con thú hoang”.[9]

Olga Adamova-Sliozberg cũng kể câu chuyện về một phụ nữ tên là Nadya Fyodorovich, dự kiến mãn hạn ngày 25/6/1941. Con trai cô, khi ấy sống cùng một người bà con xa vốn chỉ muốn sớm thoát khỏi cậu bé, đang chờ đợi cô về. Cô liên tục viết cho con, thuyết phục con hãy kiên nhẫn. Khi biết được mình sẽ không được thả, cô liền viết thư cho con. Nó không trả lời cô:

Cuối cùng, vào mùa đông năm 1942, cô nhận được thư của một người lạ. Ông này đã tìm thấy Borya ở một nhà ga xa xôi gần Irkutsk tại Siberi, và phát hiện cậu bé đang nhiễm viêm phổi. Ông đã đưa cậu về và chăm sóc cho tới khi cậu bé đỡ hơn. Ông quở trách Nadya vì đã quên bẵng con trai mình ngay khi vừa mãn hạn; rằng cô là bà mẹ tồi; rằng có lẽ cô đã bỏ đi và lập gia đình để chăm lo cho bản thân trong khi đứa con mười bốn tuổi, đi lậu vé tàu suốt từ Ryazan tới tận Irkutsk, đang kiệt sức vì đói.

Nadya cố gắng liên lạc với người lạ, nhưng vô ích: đám kiểm duyệt không còn cho tù chính trị gửi thư nữa, đặc biệt các thư từ đề cập đến việc kéo dài vô thời hạn án tù. Về sau, Nadya nghe thấy con mình đã gia nhập một băng trộm. Năm 1947, cậu ta cũng xuất hiện ở Kolyma với một án năm năm cho tù tội phạm.[10]

Với tất cả những ai ở lại sau hàng rào thép gai, cuộc sống trở nên khắc nghiệt hơn khi chiến tranh tiếp diễn. Những luật lệ mới kéo dài thêm ngày làm việc. Từ chối làm việc không chỉ bị xem là phạm pháp, mà còn là một hành động phá hoại. Tháng 1/1941, Vasily Chernyshev, khi ấy là lãnh đạo ban quản lý trung ương Gulag, đã gửi một bức thư cho các ông trùm của tất cả các trại và tiểu khu, kể lại số phận của hai mươi sáu tù. Hệ thống tòa án trại đã xử án họ, kết luận họ phạm tội không chịu làm việc, và cộng thêm một án mười năm đi trại cho năm người trong số họ. Tòa tuyên án tử hình cho hai mươi mốt người còn lại. Rất sẵng giọng, Chernyshev yêu cầu các thuộc cấp “thông báo cho tù trong tất cả các trại và tiểu khu lao động cải tạo” về những bản án này.[11]

Thông điệp trên truyền xuống rất mau chóng. Tất cả tù, Herling viết, đều hiểu rõ là “trong số các chống đối vô vọng nhất có thể thực hiện trong trại sau ngày 22/6/1941 có việc lan truyền tư tưởng thủ bại và không chịu làm việc, mà nay, theo các quy định mới về quốc phòng, được gom vào loại ‘phá hoại tiềm lực chiến tranh’ ”.[12]

Hậu quả của tất cả những chính sách ấy, được nhân lên bởi việc thiếu lương thực quy mô rộng, là rất bi thảm. Mặc dù hành quyết tập thể không phổ biến như đã từng trong các năm 1937 và 1938, tuy nhiên tỷ lệ tử vong của tù trong năm 1942 và 1943 là cao nhất trong lịch sử Gulag. Theo số liệu thống kê chính thức, vốn hầu hết rõ ràng là thấp hơn thực tế, có 352.560 tù chết trong năm 1942, tức chiếm một phần tư. Cứ một trong năm người, hay 267.826 tù, chết trong năm 1943.[13] Con số tù bệnh, trong khi chính thức tính được là 22 phần trăm năm 1943 và 18 phần trăm năm 1944, có lẽ thực tế cao hơn thế, do có bệnh sốt chấy rận, kiết lỵ và những bệnh dịch khác quét qua trại.[14]

Vào tháng 1/1943, tình thế trở nên quá bi thảm đến nỗi chính phủ Liên Xô phải lập ra một “quỹ” lương thực đặc biệt cho Gulag: tù tuy có thể là “kẻ thù”, nhưng họ vẫn cần thiết cho sản xuất phục vụ chiến tranh. Tình hình lương thực được cải thiện khi cục diện chiến tranh chuyển sang hướng có lợi cho Liên Xô, nhưng thậm chí với những khẩu phần bổ sung này, định mức thực phẩm vào cuối chiến tranh vẫn ít calory hơn một phần ba so với lượng quy định vào cuối thập niên 1930.[15] Tổng cộng, có hơn hai triệu người chết trong các trại và tiểu khu của Gulag trong những năm chiến tranh, chưa tính đến những người chết tại nơi lưu đày và các hình thức giam cầm khác. Hơn 10.000 người bị xử bắn vì tội phản bội hay phá hoại, theo lệnh của các công tố viên trại.[16]

Để hiểu đúng bối cảnh hình thành ra những con số và thay đổi đó, cần phải nói thêm rằng cộng đồng dân cư tự do của Liên Xô cũng phải chịu bao đau khổ vì chiến tranh, và rằng các chế độ hà khắc và quy định chặt chẽ hơn cũng tác động lên những người lao động cả bên ngoài lẫn bên trong trại. Ngay từ năm 1940, trong làn sóng Liên Xô xâm lược Ba Lan và các nước Baltic, Xôviết Tối cao đã thiết lập chế độ ngày làm việc tám tiếng và tuần làm việc bảy ngày tại tất cả các nhà máy và cơ quan làm việc. Quyết liệt hơn nữa, chính quyền cấm tất cả công nhân được rời khỏi nơi làm việc. Vi phạm như vậy sẽ trở thành một tội hình sự, phải lãnh một án đi trại. Việc sản xuất ra hàng hóa “chất lượng kém” (“phá hoại”) cũng trở thành tội hình sự, và án phạt dành cho các dạng chống đối khác cũng nặng hơn trước. Những công nhân bị tố cáo ăn cắp các bộ phận, dụng cụ dự phòng, giấy viết hay trang bị để viết vẽ từ nơi làm việc có thể bị kết án một năm trong trại hoặc nhiều hơn.[17]

Bên ngoài trại mọi người cũng thường xuyên bị đói khát gần bằng những kẻ bị đói khát bên trong trại. Trong thời kỳ quân Đức phong tỏa Leningrad, khẩu phần bánh mì tụt xuống còn 150 gram một ngày, không đủ để tồn tại, và không còn dầu để đốt lửa sưởi, khiến mùa đông miền viễn bắc trở thành nỗi thống khổ tột độ. Mọi người đi bắt chim và chuột, ăn cắp thực phẩm của những trẻ em sắp chết, ăn thịt xác chết, và phạm tội giết người để chiếm lấy sổ khẩu phần. “Trong căn hộ của mình, mọi người phải đấu tranh để sống còn, giống như những nhà thám hiểm bắc cực khốn khổ xưa kia”, một người sống sót nhớ lại.[18]

Leningrad cũng không phải thành phố duy nhất bị đói khát. Các báo cáo của NKVD viết tháng 4/1945 đã mô tả nạn đói và chết đói hàng loạt ngay giữa Trung Á, tại Uzbekistan, Mông Cổ và Cộng hòa Tartar. Gia đình của những chiến sĩ tiền tuyến, do thiếu đi người trụ cột, phải chịu nhiều khốn khổ nhất. Nạn đói cũng ảnh hưởng Ukraina: tận đến năm 1947 vẫn còn có báo cáo về những vụ ăn thịt người.[19] Tổng cộng, Liên Xô tuyên bố đã mất hai mươi triệu công dân trong thời gian chiến tranh.[20] Từ năm 1941 cho đến 1945, Gulag không phải là nguồn tử vong tập thể duy nhất ở Liên Xô.

Chiến tranh nổ ra không chỉ lập tức dẫn đến việc tổ chức cơ cấu chặt chẽ hơn và các quy định nghiêm ngặt hơn, mà còn có cả sự hỗn loạn. Cuộc xâm lược của quân Đức tiến triển với tốc độ chóng mặt. Trong bốn tuần đầu tiên của chiến dịch Barbarossa, hầu như tất cả 319 đơn vị Hồng quân có tham gia chiến đấu đã bị tiêu diệt.[21] Tính đến mùa thu, các lực lượng Quốc xã đã chiếm được Kiev, bao vây Leningrad, và sắp sửa chiếm Moscow tới nơi.

Các tiền đồn phía tây của Gulag bị tràn ngập ngay từ những ngày đầu tiên của chiến tranh. Chính quyền đã đóng cửa những lán còn lại trên cụm đảo Solovetsky vào năm 1939, và đã chuyển tất cả tù tới các nhà tù tại đại lục: họ nhìn nhận trại này quá gần với biên giới Phần Lan.[22] (Trong quá trình sơ tán và cuộc chiếm đóng của Phần Lan sau này, hồ sơ lưu trữ của trại đã thất lạc. Có thể nó đã bị tiêu hủy, theo thủ tục quy định, nhưng có tin đồn, không có bằng chứng xác thực, rằng tất cả giấy tờ đã bị quân đội Phần Lan thu được và hiện đang bị giấu trong hầm tối mật của chính phủ tại Helsinki[23]). Chính quyền cũng chỉ thị Belbaltlag, tổ hợp trại điều hành Kênh đào Bạch Hải, cho sơ tán tù vào tháng 7/1941, nhưng để lại ngựa và gia súc của trại cho Hồng quân. Không có ghi nhận về việc Hồng quân có tìm cách sử dụng được chúng không trước khi quân Đức đến được đây.[24]

Ở khắp nơi, NKVD đơn giản là hoảng loạn, và không nơi nào họ hoảng sợ hơn tại các lãnh thổ mới chiếm đóng thuộc đông Ba Lan và các quốc gia Baltic, nơi nhà giam đang chen chúc tù chính trị. NKVD không có đủ thời gian để sơ tán họ, nhưng cũng khó có thể để “bọn khủng bố chống Liên Xô” lọt vào tay quân Đức. Ngày 22 tháng Sáu, đúng cái ngày quân Đức xâm lược, NKVD bắt đầu bắn chết tù trong các nhà tù ở Lwów, thành phố Ba Lan-Ukraina gần đường biên giới Xô–Đức. Tuy nhiên, trong khi họ đang thực hiện nhiệm vụ, một cuộc khởi nghĩa do người Ukraina dẫn đầu nhấn chìm thành phố, buộc NKVD phải bỏ lại toàn bộ nhà tù. Được khích lệ bởi sự đột ngột vắng mặt của lính gác và âm thanh của cuộc pháo kích gần đó, một nhóm tù tại nhà tù Brygidka ở trung tâm thành phố Lwów đã phá cửa thoát ra ngoài. Những người khác từ chối bỏ chạy, sợ rằng lính gác có thể sẽ chờ ngoài cổng, đang mong có lý do để giết chết họ.

Những ai ở lại sẽ phải trả giá đắt cho sai lầm của mình. Ngày 25 tháng Sáu, NKVD có tăng cường thêm lính biên phòng đã quay lại Brygidka, thả đám tù tội phạm “thường” – và xả súng vào những tù chính trị còn lại trong các phòng giam ngầm dưới đất. Các xe hơi và xe tải trên phố nổ máy nhấn chìm tiếng ồn của cuộc bắn giết. Tù trong các nhà tù khác của thành phố cũng phải chịu số phận tương tự. Cùng một lúc, NKVD đã giết chết 4.000 tù ở Lwów, để xác lại trong các hố chôn tập thể mà họ chưa đủ thời gian để che đi bằng một lớp cát mỏng.[25]

Các tội ác tương tự diễn ra dọc khắp đường biên giới. Trong cơn sóng rút lui của quân đội Liên Xô, NKVD để lại phía sau khoảng 21.000 tù và thả ra 7.000 người khác. Tuy nhiên, trong đợt bạo lực cuối cùng, lính NKVD và Hồng quân rút lui đã giết hại gần 10.000 tù tại hàng chục thị trấn và làng mạc Ba Lan và vùng Baltic – Wilno (Vilnius), Drohobycz, Pińsk.[26] NKVD bắn chết họ trong phòng giam, trong sân nhà tù, trong các khu rừng gần đó. Khi rút lui, lính NKVD cũng phóng hỏa các ngôi nhà và bắn chết dân thường, đôi khi giết chết cả những chủ nhà mà lính của họ vừa mới trú đóng.[27]

Xa biên giới hơn, những nơi có nhiều thời gian chuẩn bị hơn, Gulag cố gắng tổ chức sơ tán tù theo đúng quy định. Ba năm sau, trong bài tổng kết dài và khoa trương về thành tích chiến đấu của Gulag, ông trùm Gulag trong thời chiến tranh Viktor Nasedkin đã mô tả những cuộc sơ tán này là “rất trật tự”. Kế hoạch đã được “vạch ra bởi Gulag trong sự phối hợp với việc tái bố trí nền công nghiệp”, ông này tuyên bố, mặc dù “do các khó khăn phổ biến về vấn đề vận chuyển, một phần đáng kể tù nhân đã được đi bộ đến nơi sơ tán”.[28]

Trong thực tế, không có kế hoạch nào hết, và việc sơ tán được tiến hành trong một cơn hoảng sợ điên cuồng, thường là khi bom đạn của quân Đức đã rơi xuống khắp xung quanh. “Các khó khăn phổ biến về vấn đề vận chuyển” có nghĩa là mọi người phải chịu chết nghẹt trong các toa tàu quá đông đúc, hay tức là bom rơi sẽ giết chết họ trước khi họ đến được nơi. Một tù người Ba Lan, Janusz Puchiński, bị bắt và đi đày ngày 19 tháng Sáu, đã chạy trốn cùng mẹ và anh chị khỏi đoàn tàu bốc cháy chở đầy tù:

Đột nhiên, có tiếng nổ dữ dội và đoàn tàu dừng lại. Mọi người bắt đầu chạy khỏi toa tàu… Tôi nhận thấy tàu đang đứng giữa một khe hẻm dốc đứng. Tôi nghĩ bụng mình chắc sẽ không bao giờ thoát được khỏi đây. Máy bay gào thét trên đầu, chân tôi nhũn ra như làm bằng vải bông. Bằng cách nào đó tôi đã trèo lên được và vùng chạy vào rừng, cách đường ray khoảng 200-250 mét. Khi đến nơi, tôi quay nhìn lại và thấy rằng giữa bãi trống đằng sau mình là cả một đám đông người. Ngay lúc ấy, tốp máy bay kế tiếp bay tới và bắt đầu xả súng vào đám đông…[29]

Bom cũng rơi trúng một đoàn tàu chở tù từ nhà tù Kołomyja, giết chết một số tù nhưng khiến cho gần 300 người trốn thoát. Lính áp tải bắt lại được 150 người, nhưng về sau lại thả họ ra. Như lời họ tự giải thích, họ không có gì để cho tù ăn và không có nơi để giữ tù. Tất cả nhà giam trong vùng đều đã được sơ tán.[30]

Tuy nhiên, kinh nghiệm ở trên một đoàn tàu chở tù giữa cuộc không kích là khá khác thường – chỉ vì tù hiếm khi được sơ tán bằng tàu hỏa. Trên đoàn tàu rời khỏi một trại nọ, gia đình và hành lý của lính gác và quản lý trại choán hết chỗ đến nỗi không còn chỗ cho bất kỳ tù nào.[31] Tại khắp nơi, máy móc thiết bị công nghiệp đều được ưu tiên hơn con người, cả vì mục đích thực tế lẫn tuyên truyền. Bị đánh tan ở phía tây, lãnh đạo Liên Xô hứa sẽ xây lại chúng ở phía đông dãy Ural.[32] Hậu quả là, “một phần đáng kể” tù nhân đó – trong thực tế là hầu hết con số khổng lồ tù – mà Nasedkin đã nói là “được đi bộ đến nơi sơ tán” đã phải chịu chuyến hành quân cưỡng bức dài ngày, các mô tả về nó nghe ám ảnh tương tự như các chuyến đi của tù ở trại tập trung Quốc xã diễn ra sau đó bốn năm: “ ‘Chúng tôi không có phương tiện vận chuyển nào hết’, một lính gác nói với một đoàn tù trong khi bom đang rơi khắp xung quanh. ‘Những ai có thể đi được thì đi bộ. Dù muốn hay không, tất cả đều phải đi. Ai không đi được – chúng tôi sẽ bắn. Chúng tôi sẽ không để lại bất cứ ai cho quân Đức… các anh cứ tự quyết định lấy số phận của mình’ ”.[33]

Họ đã đi – mặc dù chuyến đi của nhiều người đã bị rút ngắn. Đà tiến công quá nhanh của quân Đức khiến NKVD lo lắng, và khi họ lo lắng, họ bắt đầu nổ súng. Ngày 2 tháng Bảy, 954 tù của nhà giam Czortków miền tây Ukraina khởi hành đi về phía đông. Trên đường, viên sĩ quan viết bản báo cáo sau này đã nhận diện 123 kẻ trong đám tù là thành phần dân tộc chủ nghĩa Ukraina và bắn chết họ vì “tìm cách nổi loạn và chạy trốn”. Sau khi đi bộ hơn hai tuần lễ, với quân Đức chỉ cách đó 20-30 cây số, anh ta đã cho bắn tất cả những ai còn sống.[34]

Tù sơ tán nào không bị giết đôi khi cũng chẳng khá gì hơn. Nasedkin viết rằng “cơ cấu hành chính của Gulag tại khu vực tiền tuyến phải được huy động để đảm bảo rằng các đoàn sơ tán và vận chuyển tù phải có đủ dịch vụ vệ sinh-y tế và cấp dưỡng”. Thay vì thế, dưới đây là những gì M. Shteinberg, một tù chính trị bị bắt lần thứ hai năm 1941, mô tả về chuyến sơ tán của bà khỏi nhà tù Kirovograd:

Mọi thứ chìm trong ánh mặt trời chói mắt. Tới giữa trưa, nhiệt độ trở nên không thể chịu nổi. Đây là Ukraina vào tháng Tám. Hàng ngày trời nóng 35 độ (C). Một lượng lớn người đang đi bộ, phía trên đám đông đó là một đám mây bụi mù mịt. Không thể thở nổi, không có đủ không khí mà thở…

Ai cũng đeo theo một tay nải. Tôi cũng có một cái. Thậm chí tôi còn đem theo cái áo khoác vạt dài, do nếu không có áo choàng thì khó mà trụ nổi trong nhà tù. Nó là cái gối, là chăn đắp, là bạt che – là tất cả. Tại hầu hết các nhà tù, không có giường, không đệm, không khăn giường. Nhưng sau khi chúng tôi đi được 30 cây số giữa cái nóng đó, tôi lẳng lặng bỏ lại tay nải của mình bên đường. Tôi biết rằng mình không thể mang nổi nó nữa. Phần lớn cánh phụ nữ cũng đã làm như vậy. Những ai không bỏ lại tay nải sau 30 cây số cũng sẽ bỏ lại sau 130 cây. Không ai mang được chúng cho tới cùng. Khi đi thêm được 20 cây số, tôi tụt giày và cũng vứt chúng đi…

Khi băng qua Adzhamka tôi kéo theo sau mình người bạn cùng phòng giam, Sokolovskaya, suốt 30 cây số. Đấy là một cụ già đã hơn bảy mươi tuổi, tóc hoàn toàn bạc xám… chuyện bước đi với bà là rất khó khăn. Bà níu lấy tôi và thường kể về đứa cháu trai mười lăm tuổi sống chung với bà. Nỗi khiếp sợ cuối đời của Sokolovskaya là nỗi sợ cậu bé cũng có thể bị bắt. Tôi chật vật kéo bà đi và đã bắt đầu thấy nản chí. Bà bảo tôi rằng “nghỉ một lát, tôi đi một mình cũng được”. Và lập tức bà tụt lại sau khoảng hai mét. Chúng tôi là những người cuối cùng của đoàn. Khi nhận thấy bà ngã xuống phía sau, tôi quay lại để định giúp bà – và tôi thấy chúng đã giết bà chết. Chúng đâm bà bằng lưỡi lê, vào lưng. Thậm chí bà không kịp nhìn thấy chúng làm gì. Hiển nhiên chúng biết rõ phải đâm như thế nào. Bà thậm chí không nhúc nhích. Sau này, tôi hiểu ra bà đã có một cái chết nhẹ nhàng, nhẹ nhàng hơn rất nhiều người. Bà đã không phải nhìn thấy cái lưỡi lê ấy. Bà không kịp có thời gian để sợ hãi…[35]

Tổng cộng, NKVD đã sơ tán 750.000 tù từ 27 tổ hợp trại và 210 tiểu khu lao động.[36] 140.000 tù khác được sơ tán khỏi 272 nhà tù và chuyển đến các nhà tù mới ở phía đông.[37] Một phần đáng kể bọn họ – dù chúng ta vẫn chưa biết được con số thực tế – không bao giờ đi tới nơi.

 

20 . “Những người lạ”

 

Liễu rủ liễu rũ khắp nơi

Liễu Alma-Ata, người đẹp biết bao, sương phủ trắng ngời.

Nhưng nếu ta quên em, nhành liễu úa ta yêu nơi phố Rozbrat, Vácxava.

Xin cho thân ta khô úa vì em!

Núi biếc núi biếc khắp nơi

Thiên Sơn, trước mắt tôi, ưỡn ngực lướt trên trời tía…

Nhưng nếu tôi quên người, đỉnh Tatra tôi bỏ lại chốn xa xôi,

Dòng suối Biały, nơi con trai cùng tôi mơ màng chuyến đi biển rộng rực rỡ…

Xin biến tôi thành đá núi Thiên Sơn.

Nếu ta quên em

Nếu tôi quên chốn quê hương…

                      – Aleksander Wat, “Cây liễu xứ Alma-Ata”, tháng Giêng 1942[38]

 

Ngay từ buổi ban đầu của Gulag, các trại của nó đã luôn chứa một lượng đáng kể tù người nước ngoài. Đó phần lớn là các đảng viên đảng cộng sản phương Tây và thành viên của Comintern, mặc dù cũng có một vài bà vợ người Anh và Pháp của công dân Xôviết, cũng như các thương gia từ bỏ quốc tịch. Họ bị đối xử như những của hiếm và là đối tượng gây tò mò, tuy nhiên gốc gác cộng sản và kinh nghiệm trước đó của họ về đời sống Xôviết dường như giúp họ hòa hợp được với các tù khác. Lev Razgon viết:

Tất cả bọn họ đều là “phe ta” bởi vì hoặc họ được sinh ra hay lớn lên trong nước hoặc họ tự nguyện chuyển đến sống ở đây. Thâm chí cả khi họ nói tiếng Nga dở tệ hay hoàn toàn không nói được, họ vẫn là phe ta. Và trong cái nồi nấu sùng sục của trại, họ mau chóng không còn chút khác biệt hay lạ lẫm gì nữa. Những ai trong số này sống sót qua một hai năm đầu tiên ở trại sau đó sẽ chỉ còn có thể nhận ra trong số “phe ta” qua giọng tiếng Nga lơ lớ.[39]

Khác biệt nhất là những người nước ngoài xuất hiện sau năm 1939. Không hề báo trước, NKVD lùa những kẻ mới đến ấy – người Ba Lan, Baltic, Ukraina, Belorussia và Moldavia – khỏi thế giới tư sản hay nông thôn của họ sau khi Liên Xô xâm lược vùng đa sắc tộc ở đông Ba Lan, Bessarabia và các nước Baltic, sau đó tống họ với số lượng lớn vào Gulag và các khu làng lưu đày. Để phân biệt họ với đám người nước ngoài “phe ta”, Razgon gọi họ là những “người lạ”. Bị “quét khỏi đất nước mình để đến vùng viễn bắc nước Nga bởi một thế lực lịch sử xa lạ và thù địch mà họ không tài nào hiểu nổi”, họ thường xuyên bị nhận ra bởi chất lượng cao của mớ tài sản của mình: “Chúng tôi luôn biết về việc họ tới Ustvymlag khi thấy xuất hiện những món trang phục nước ngoài kỳ lạ trên mình đám tù tội phạm trong trại: mấy cái mũ cao xù lông và khăn quàng vai sặc sỡ xứ Moldavia, từ Bukovina là áo gilê lông thú thêu và áo khoác bó sát người sang trọng có vai áo độn bông nhô cao”.[40]

Việc bắt bớ tại những vùng lãnh thổ mới chiếm được mau chóng bắt đầu sau khi Liên Xô xâm lược đông Ba Lan, tháng 9/1939, và tiếp diễn sau khi có các cuộc xâm lược tiếp theo vào Romania và những nước Baltic. Mục tiêu của NKVD là vừa để giữ an ninh – họ muốn ngăn ngừa sự nổi loạn và hình thành các nhóm gián điệp – vừa nhằm Xôviết hóa các vùng này, và do đó họ nhắm tới những người mà họ nghĩ rằng có khả năng chống đối chế độ Xôviết nhất. Những người này bao gồm không chỉ thành viên của chính quyền Ba Lan cũ, mà còn cả dân thương gia và mối lái, nhà thơ và nhà văn, phú nông và trung nông – bất cứ ai mà việc bắt giữ họ có thể góp phần bẻ gãy ý chí của cư dân miền đông Ba Lan.[41] NKVD cũng nhắm vào người tản cư từ miền tây Ba Lan bị Đức chiếm đóng, trong số đó có hàng ngàn người Do Thái chạy trốn Hitler.

Về sau, tiêu chuẩn để bị bắt trở nên chính xác hơn, hay ít nhất là chính xác nhất trong các tiêu chuẩn để bị bắt của Liên Xô tự cổ chí kim. Một tài liệu tháng 5/1941, đề cập tới việc trục xuất các thành phần “xã hội nước ngoài” khỏi các nước Baltic cùng những vùng lãnh thổ Romania và Ba Lan bị chiếm đóng, đã yêu cầu, ngoài các vấn đề khác, việc bắt giữ “các thành viên tích cực của những tổ chức phản cách mạng” – có nghĩa là các đảng chính trị; những cựu thành viên của ngành cảnh sát hay nhà tù; các nhà mại bản và tư sản quan trọng; những cựu sĩ quan quân đội quốc gia; thành viên gia đình của tất cả các nhân vật nêu trên; bất cứ ai đã bị trục xuất khỏi nước Đức; người tản cư khỏi “cựu Ba Lan”; cũng như bọn trộm cướp và gái điếm.[42]

Một bộ chỉ dẫn khác, ban hành bởi dân ủy của Cộng hòa Lithuania vừa gia nhập Liên Xô tháng 11/1940, nói rằng người bị đi đày cần bao gồm, ngoài những loại người kể trên,

những ai thường xuyên đi ra nước ngoài, liên quan tới các quan hệ ở nước ngoài hay tiến tới quan hệ với những đại diện của chính quyền nước ngoài; những người học Quốc tế ngữ; người chơi tem; những người làm việc cho Hội Chữ thập Đỏ; người di tản; dân buôn lậu; những người bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản; các tu sĩ và thành viên tích cực của các giáo hội tôn giáo; đám quý tộc, địa chủ, thương nhân giàu có, chủ ngân hàng, nhà tài phiệt công nghiệp, chủ khách sạn và nhà hàng.[43]

Bất cứ ai vi phạm bộ luật Xôviết, bao gồm luật cấm “đầu cơ” – bất cứ hình thức buôn bán nào – đều có thể bị bắt, cũng như bất cứ ai tìm cách vượt qua biên giới Liên Xô để chạy sang Hungary hay Romania.

Do quy mô của việc bắt giữ, chính quyền chiếm đóng Xôviết mau chóng phải tạm lờ đi việc thực hiện theo thủ tục hành pháp thông thường. Rất ít người bị bắt bởi NKVD tại các vùng lãnh thổ phía tây được phép đưa ra tòa xử, được giam hay được kết án theo đúng quy định. Thay vào đó, chiến tranh một lần nữa lại khôi phục việc “lưu đày hành chính” – cùng cái thủ tục luật pháp đã được chế độ Sa hoàng nghĩ ra và từng được dùng để chống lại đám kulak. “Lưu đày hành chính” là tên gọi hoa mỹ của một thủ tục rất đơn giản. Nó có nghĩa là đám lính hay lính gác áp tải NKVD đi tới một ngôi nhà và thông báo gia đình đó phải chuyển đi. Đôi khi họ được cả ngày để chuẩn bị, đôi khi chỉ vài phút. Sau đó xe tải đến, chở họ ra nhà ga và thế là họ lên đường. Không có bắt bớ, không ra tòa, không có bất cứ thủ tục chính thức nào.

Số người bị liên quan thật khổng lồ. Nhà sử học Aleksandr Guryanov ước tính có khoảng 108.000 người tại các vùng lãnh thổ ở đông Ba Lan bị bắt và chuyển vào những trại của Gulag, trong khi có 320.000 người bị đày tới các làng lưu đày – một số từng được thành lập bởi dân kulak – tại miền viễn bắc và Kazakhstan.[44] Cần cộng thêm vào con số trên 96.000 tù bị bắt và 160.000 người đi đày từ các nước Baltic, cùng với 36.000 người Moldavia.[45] Tác động tổng hợp của việc lưu đày và chiến tranh lên con số nhân khẩu của các nước Baltic thật choáng váng: trong khoảng từ 1939 tới 1945, dân số Estonia bị giảm mất 25 phần trăm.[46]

Lịch sử về các cuộc lưu đày này, giống như lịch sử cuộc lưu đày kulak, nằm riêng biệt khỏi lịch sử của bản thân Gulag, và, như tác giả đã viết, toàn bộ câu chuyện về việc di chuyển quy mô lớn các gia đình nêu trên không thể được kể trong phạm vi cuốn sách này. Nhưng cũng không thể tách biệt hoàn toàn. Thường ta rất khó hiểu được tại sao NKVD lại chọn một người để đi đày, chuyển anh ta đến sống trong một ngôi làng lưu đày, và tại sao họ chọn bắt một người và chuyển anh ta vào trại, bởi tiểu sử của những người đi đày và kẻ bị bắt đều gần tương tự nhau. Đôi khi, nếu một chủ nhà bị tống vào trại, sau đó vợ con anh ta bị đi đày. Hay nếu đứa con trai bị bắt thì cha mẹ cậu ta bị đi đày. Một số người bị bắt phải nhận án đi trại, và sau đó phải sống trong một làng lưu đày, đôi khi cùng với các thành viên gia đình mình đã bị đi đày trước đó.

Bên cạnh chức năng trừng phạt của mình, việc lưu đày phù hợp với kế hoạch vĩ đại của Stalin nhằm đưa dân đến sống ở các vùng xa xôi, và việc này diễn ra rất thường xuyên. Một số sĩ quan NKVD cụ thể đã nói với nhiều người đi đày rằng họ sẽ không bao giờ được quay về, thậm chí còn có bài phát biểu khi người đi đày lên tàu hỏa, chúc mừng “các công dân mới” về chuyến di cư lâu dài của họ tới Liên Xô.[47] Tại các làng lưu đày, trưởng làng địa phương thường nhắc nhở những người mới đến rằng Ba Lan, giờ đã bị chia đôi giữa Đức và Liên Xô, sẽ không bao giờ sống lại nữa. Một giáo viên người Nga nói cho một nữ học sinh người Ba Lan rằng chuyện Ba Lan hồi sinh gần giống như “có tóc mọc trong lòng bàn tay vậy”.[48] Trong khi đó, tại các thành phố và làng mạc họ vừa rời đi, những quan chức Xô viết mới đến tịch thu và tái phân phối tài sản của người đi đày. Họ biến nhà của những người này thành công trình công cộng – trường học, bệnh viện, nhà hộ sinh – và phát các tài sản trong nhà (là những thứ chưa bị hàng xóm hay NKVD lấy mất) cho các nhà trẻ và nhà dưỡng nhi.[49]

Người đi đày cũng phải chịu nhiều khốn khổ tương tự các đồng hương của mình bị đưa đến trại lao động, nếu không muốn nói là còn nhiều hơn. Ít nhất những ai trong trại còn được khẩu phần bánh mì hàng ngày và một chỗ để ngủ. Người đi đày thường là chẳng có gì. Thay vào đó, chính quyền tống họ tới các khu rừng nguyên sơ hay những khu làng nhỏ bé – ở phía bắc nước Nga, ở Kazakhstan hay tại Trung Á – và mặc họ tự lo liệu lấy, đôi khi không có cả phương tiện để thực hiện. Trong làn sóng đi đày đầu tiên, lính gác áp tải đã cấm nhiều người đem theo bất cứ thứ gì, không dụng cụ nhà bếp, không quần áo, không dụng cụ sản xuất. Mãi đến tháng 11/1940 bộ phận quản lý lính gác áp tải Liên Xô mới họp lại và thay đổi quyết định trên: chính quyền Xôviết thậm chí đã nhận ra rằng việc người đi đày không đem theo tài sản đang dẫn đến tỷ lệ tử vong rất cao, và họ ra lệnh cho lính gác cảnh báo người đi đày, như đã nêu ở trên, phải đem theo quần áo ấm đủ cho ba năm.[50]

Thậm chí cả khi như vậy, nhiều người đi đày vẫn chưa chuẩn bị sẵn sàng cả về tinh thần lẫn thể xác để đi đốn gỗ hay làm nông trang viên. Bản thân cảnh quan nơi này cũng có vẻ xa lạ và đáng sợ. Một phụ nữ đã mô tả nó trong nhật ký của mình khi lần đầu nhìn thấy từ trên tàu hỏa: “Chúng tôi đi qua một khoảng không gian bao la vô tận; một vùng đất bằng phẳng và rộng lớn đến vậy mà chỉ có vài điểm dân cư rải rác đây đó. Lần nào cũng vậy, chúng tôi nhìn thấy những túp lều khốn khổ đắp bằng bùn, mái rạ và cửa sổ nhỏ xíu, bẩn thỉu và xiêu vẹo, không có hàng rào hay cây cối…”[51]

Khi tới nơi, thông thường tình hình còn tệ hơn. Nhiều người đi đày vốn là luật sư, bác sĩ, chủ tiệm và thương gia, đã quen với lối sống thành thị. Thật tương phản, một báo cáo lưu trữ lập tháng 12/1941 mô tả cảnh người lưu đày từ các vùng lãnh thổ phía tây “mới” sống trong các lán chen chúc: “Khu nhà rất bẩn thỉu, hậu quả là tỷ lệ nhiễm bệnh và tử vong rất cao, đặc biệt trong đám trẻ con… hầu hết người lưu đày không có quần áo ấm và không quen với thời tiết lạnh”.[52]

Trong những năm tháng tiếp theo, sự khốn khổ chỉ ngày càng gia tăng, theo như một loạt ghi chép bất thường đã xác nhận. Sau chiến tranh, chính phủ lưu vong của Ba Lan khi đó đã cho tập hợp và lưu trữ một bộ sưu tập “hồi ký” của trẻ em về cuộc đi đày. Chúng minh họa, rõ ràng hơn bất cứ ghi chép nào của người lớn, cả những xáo động văn hóa lẫn các tổn thương thể xác mà người đi đày phải trải qua. Một cậu bé Ba Lan, mười ba tuổi khi “bị bắt”, đã viết ghi chép sau đây về những tháng cậu đi đày:

Không có gì để ăn. Mọi người bị phồng rộp vì ăn lá tầm ma và từ giã cõi đời. Mọi người buộc phải đẩy chúng tôi vào học trường của người Nga vì người ta không phát bánh mì nếu ta không đi học. Họ dạy chúng tôi không được cầu Chúa bởi không hề có Chúa và khi giờ học kết thúc tất cả chúng tôi đứng dậy cất tiếng cầu nguyện, ông trưởng khu định cư đã nhốt tôi vào tyuma [nhà tù].[53]

Các câu chuyện khác của lũ trẻ phản ánh sự tổn thương của cha mẹ chúng. “Mẹ muốn tự giết mình và giết chúng tôi để không phải sống tiếp trong nỗi thống khổ thế này nữa, nhưng khi tôi nói với mẹ rằng tôi muốn gặp bố và tôi muốn trở về Ba Lan, tinh thần của mẹ đã vững trở lại”, một cậu bé khác, mới lên tám khi cậu bị bắt, đã viết như vậy.[54] Nhưng không phải tinh thần của tất cả các bà mẹ đều cứng cỏi trở lại. Một cậu bé khác, mười bốn tuổi khi bị đi đày, đã mô tả cố gắng tự sát của mẹ mình:

Mẹ đi vào lán, lấy sợi dây thừng, một ít bánh mì và đi vào rừng. Tôi giữ mẹ lại trong đau khổ mẹ đánh tôi bằng sợi thừng rồi bỏ đi. Vài giờ sau người ta tìm thấy mẹ trên một cây thông, với sợi thừng quấn quanh cổ mẹ. Có mấy cô gái đứng dưới gốc cây, mẹ nghĩ rằng đó là các chị tôi và muốn nói gì đó nhưng các cô cãi cọ om lên với ông trưởng khu người giắt chiếc rìu bên thắt lưng và ông ấy chặt ngã cây thông… Mẹ đã hóa điên tóm lấy cái rìu của ông trưởng khu và đánh vào lưng ông, ông trưởng khu ngã xuống sàn…

Ngày hôm sau người ta đưa mẹ đến nhà giam cách xa tôi 300 cây số. Tôi hiểu rằng mình phải làm việc và tôi tiếp tục kéo gỗ. Tôi có một con ngựa nó bị ngã lộn nhào cùng với tôi. Tôi kéo gỗ một tháng trời và rồi tôi bị ốm và không làm việc được. Ông trưởng khu lưu ý người bán hàng là không được phát chúng tôi bánh mì nhưng người bán hàng thông cảm trẻ con và bí mật cho chúng tôi bánh… chẳng bao lâu mẹ quay về từ nhà giam chân mẹ đóng băng mặt mẹ nhăn nhúm…[55]

Cũng không phải tất cả các bà mẹ đều sống sót – như lời một đứa trẻ đã viết:

Chúng tôi tới khu định cư và đến ngày thứ hai họ chở chúng tôi đi làm chúng tôi phải làm từ sớm đến tối. Khi ngày phát công đến cho 15 ngày được 10 rúp là mức cao nhất vì thế trong hai ngày thậm chí không đủ mua bánh mì. Mọi người kiệt sức vì đói. Họ ăn ngựa chết. Như thế là mẹ tôi làm việc và nhiễm lạnh vì mẹ không có quần áo ấm mẹ bị viêm phổi và ốm suốt 5 tháng mẹ ốm ngày 3 tháng 12. Ngày 3 tháng Tư mẹ vào bệnh viện. Trong bệnh viện người ta không chữa gì cho mẹ hết nếu mẹ không đến bệnh viện có lẽ mẹ vẫn còn sống mẹ về lán ở khu định cư và chết ở đấy không có gì ăn nên mẹ chết vì đói ngày 30/4/1941. Mẹ tôi đang chết và tôi cùng chị tôi ở nhà. Bố không ở đấy ông đi làm và mẹ chết khi bố từ chỗ làm về nhà rồi mẹ chết và thế là mẹ tôi chết vì đói. Và rồi lệnh ân xá xuống và chúng tôi thoát khỏi địa ngục đó.[56]

Bruno Bettelheim, khi bình luận về bộ sưu tập các câu chuyện độc đáo đó, khác thường cả về số lượng lẫn nguồn gốc, đã cố gắng diễn tả nỗi tuyệt vọng đặc biệt mà nó truyền đạt:

Do những câu chuyện này được viết ngay sau khi lũ trẻ tìm thấy được sự tự do và an toàn, dường như đối với chúng sẽ khá hợp lý nếu nói về hy vọng được giải phóng của mình, nếu nó có tồn tại. Sự biến mất của những tuyên bố như vậy cho thấy rằng chúng không hề có hy vọng nào. Những trẻ em đó đã bị cướp mất khả năng tự do trút ra các cảm giác sâu xa và bình thường, bị buộc phải tự kìm nén bản thân để có thể chật vật sống sót thêm một ngày nữa. Một đứa trẻ đã bị tước mất bất kỳ hy vọng nào về tương lai sẽ là một đứa trẻ đang sống trong địa ngục…[57]

Không kém phần tàn bạo là số phận của một nhóm người lưu đày khác, gia nhập những người Ba Lan và Baltic trong quá trình diễn tiến chiến tranh. Đó là những nhóm người thiểu số ở Liên Xô hoặc vào đầu cuộc chiến tranh bị Stalin nhắm là đám gián điệp tiềm tàng, hoặc sau này bị trỏ ra là “bọn cộng tác” với quân Đức. “Bọn gián điệp” này là những người vùng Volga gốc Đức, có tổ tiên người Đức đã được mời đến sống ở nước Nga vào thời Catherine Đại đế (một nhà cai trị khác của Nga cũng quan tâm sâu sắc đến việc đưa dân đến sống tại những vùng không người rộng lớn của đất nước bà), và cộng đồng thiểu số nói tiếng Phần Lan sống ở Cộng hòa Xôviết Karelia. Mặc dù không phải tất cả những người Volga gốc Đức đều còn nói được tiếng Đức, cũng như không phải tất cả người Karelia gốc Phần còn nói tiếng Phần, họ đúng là đang sống ở các vùng dân cư xa xôi và có những tập quán khác hẳn với đám hàng xóm người Nga. Như thế là đủ, giữa bối cảnh có chiến tranh với Phần Lan và Đức, để khiến họ trở thành đối tượng nghi ngờ. Trong một bước nhằm giải thích cho một việc vốn rất rối rắm ngay cả với các tiêu chuẩn Xôviết, toàn bộ cộng đồng người Volga gốc Đức bị kết án tháng 9/1941 với tội “che dấu kẻ thù”:

Theo thông tin đáng tin cậy nhận được từ chính quyền quân sự, trong số cộng đồng người Đức sống tại vùng Volga có hàng ngàn và hàng chục ngàn kẻ đảo ngũ và gián điệp mà, khi có tín hiệu từ nước Đức, sẽ tiến hành phá hoại tại khu vực có người Đức vùng Volga sinh sống… [Tuy nhiên] không một người Đức vùng Volga nào chịu báo cáo cho chính quyền Xôviết về sự tồn tại của số lượng lớn đến vậy bọn đảo ngũ và gián điệp trong cộng đồng người Đức ở Volga; do đó cộng đồng người Đức ở Volga đang che dấu trong lòng mình kẻ thù của nhân dân Xôviết và của chính quyền Xôviết.[58]

Chính quyền Xôviết có “thông tin đáng tin cậy” rằng có đến hàng ngàn tên gián điệp, tuy nhiên không có tên gián điệp nào được báo cáo. Ergo[59], mọi người đều phạm tội che giấu kẻ thù.

“Bọn cộng tác” bao gồm nhiều dân tộc thiểu số vùng Kavkaz – người Karachai, người Balkar, người Kalmyk, người Chechen và người Ingush – cũng như người Tartar vùng Crimea và một vài nhóm thiểu số khác: người Turk Meskheti, người Kurd và người Khemshil, cũng như các nhóm còn thiểu số hơn nữa như người Hy Lạp, người Bulgaria và Armenia.[60] Trong số đó, chỉ có việc lưu đày người Chechen và Tartar là được phổ biến công khai thời kỳ Stalin còn sống. Việc lưu đày họ, mặc dù thực ra được thực hiện năm 1944, đã được thông báo trên tờ Izvestiya là diễn ra tháng 6/1946:

Trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, khi nhân dân Liên Xô đang anh dũng bảo vệ danh dự và nền độc lập của Tổ quốc trong cuộc chiến chống lại bọn xâm lược phát xít Đức, nhiều người Chechen và Tartar vùng Crimea, nghe theo sự xúi giục của điệp viên Đức, đã tình nguyện gia nhập các đơn vị do bọn Đức thành lập… Do liên quan đến điều này, người Chechen và Tartar Crimea được tái định cư tại những khu vực khác của Liên Xô.[61]

Trong thực tế, không có bằng chứng nào về sự cộng tác tập thể của người Chechen hay Tartar, mặc dù người Đức có chủ động tuyển mộ người Chechen và Tartar, trong khi họ không chủ động tuyển mộ người Nga. Các đơn vị Đức dừng lại ở phía tây Grozny, thủ đô của Chechnya, và có không nhiều hơn vài trăm người Chechen vượt qua chiến tuyến.[62] Một báo cáo của NKVD thời đó nói  rằng chỉ có 335 “tên cướp” trong nước cộng hòa.[63] Tương tự như vậy, mặc dù người Đức có chiếm được Crimea, có kết nạp người Tartar vào chính thể chiếm đóng, và có tuyển dụng người Tartar vào Quân đội Đức Wehrmacht – giống như họ đã tuyển dụng người Pháp và Hà Lan – không có bằng chứng nào cho thấy người Tartar có cộng tác hơn kém gì khác so với các vùng bị chiếm đóng khác tại Liên Xô (hay tại khắp Châu Âu), hoặc cho thấy người Tartar có tham gia giết hại người Do Thái Crimea. Một sử gia đã chỉ ra rằng, trong thực tế, có nhiều người Tartar chiến đấu chống lại phát xít Đức bên phe Hồng quân hơn là số chiến đấu cùng phe Wehrmacht.[64]

Trong thực tế, mục tiêu của Stalin, ít nhất trong việc cho đi đày người Kavkaz và Tartar, có lẽ không phải là trả thù vì họ đã cộng tác với địch. Đúng hơn, ông có vẻ muốn lấy chiến tranh làm hình thức để che đậy câu chuyện, làm cớ để tiến hành các chiến dịch thanh lọc sắc tộc đã dự kiến từ lâu. Các Sa hoàng từng mơ về một Crimea không có bóng người Tartar ngay từ khi Catherine Đại đế sáp nhập bán đảo Crimea vào Đế quốc Nga. Người Chechen cũng thường làm phiền các Sa hoàng Nga, và thậm chí còn gây nhiều rắc rối hơn thế với Liên Xô. Một loạt các cuộc nổi loạn chống Nga và chống Xôviết đã diễn ra ở Chechnya, một số vụ nối tiếp sau Cách mạng, các vụ khác theo sau việc tập thể hóa năm 1929. Một cuộc nổi loạn khác vừa mới xảy ra năm 1940. Tất cả những chứng cứ dường như cho thấy rằng, Stalin đơn giản là muốn phủi sạch khỏi tay mình cái mối gây loạn điên cuồng chống đối nhân dân Liên Xô này.[65]

Giống như cuộc đi đày từ Ba Lan, các cuộc đi đày người Đức Volga, người Kavkaz và Crimea cũng rất quy mô. Cho đến lúc chiến tranh kết thúc, đã có 1,2 triệu người Đức Xôviết, 90.000 người Kalmyk, 70.000 người Karachai, 390.000 người Chechen, 90.000 người Ingush, 40.000 người Balkar và 180.000 người Tartar Crimea cùng 9.000 người Phần và những sắc dân khác bị đi đày.[66]

Căn cứ theo con số, tốc độ của các cuộc đi đày đó là rất đáng kể, thậm chí vượt qua cả tốc độ đi đày người Ba Lan và Baltic. Có lẽ đó là do cho tới giờ NKVD đã có quá nhiều kinh nghiệm: trong lần này, không còn do dự nào trong việc ai phải được cho đem theo cái gì, ai phải bị bắt, hay phải làm các thủ tục gì. Tháng 5/1944, 31.000 sĩ quan, binh lính và nhân viên NKVD đã hoàn thành toàn bộ việc cho đi đày 200.000 người Tartar trong vòng ba ngày, sử dụng 100 xe jeep, 250 xe tải và 67 chuyến tàu hỏa. Các mệnh lệnh đặc biệt, đã được soạn từ trước, giới hạn lượng hành lý các gia đình được phép đem theo. Do chỉ được có mười lăm tới hai mươi phút để sửa soạn, hầu hết thậm chí không lấy đủ phân nửa số đó. Phần lớn người Tartar bị nhét lên tàu hỏa và chở tới Uzbekistan – đàn ông, đàn bà, trẻ con và người già. Khoảng từ 6.000 tới 8.000 người chết trước khi đến được nơi.[67]

Bất kể thế nào thì chiến dịch với người Chechen cũng vẫn là tàn bạo hơn cả. Nhiều người chứng kiến nhớ lại rằng NKVD đã sử dụng xe tải Studebaker do Mỹ sản xuất trong cuộc đi đày Chechen, vừa mua được qua chương trình Lend-Lease, và giao qua biên giới với Iran. Nhiều người cũng mô tả chuyện người Chechen bị lôi xuống xe Studebaker và tống vào các đoàn tàu niêm kín: họ không chỉ không được cung cấp nước như quy định với tù “thường”, mà còn không có cả thức ăn. Có lẽ lên đến 78.000 người Chechen đã chết chỉ riêng trên các đoàn tàu vận chuyển.[68]

Khi họ tới được điểm lưu đày đã quy định – Kazakhstan, Trung Á, miền bắc nước Nga – những ai bị đi đày không bị bắt riêng và chuyển vào Gulag đều được đưa đến các ngôi làng đặc biệt – giống như những nơi định cư cho người Ba Lan và Baltic, và được cho hay rằng tìm cách chạy trốn sẽ được lãnh một án trại hai mươi năm. Kinh nghiệm của họ cũng tương tự như vậy. Rối bời, bị bứt khỏi làng bản và họ tộc của mình, nhiều người đã không thể thích nghi được. Thường bị cộng đồng địa phương miệt thị, thường xuyên thất nghiệp, họ mau chóng xuống sức và nhiễm bệnh. Có lẽ ảnh hưởng do việc thay đổi điều kiện khí hậu còn lớn hơn: “Khi tới Kazakhstan”, một người đi đày Chechen nhớ lại, “mặt đất đóng băng cứng ngắc, và chúng tôi nghĩ bụng chắc mình chết hết đến nơi rồi”.[69] Đến năm 1949, hàng trăm ngàn người Kavkaz và khoảng từ một phần ba cho tới một nửa người Tartar Crimea đã bỏ mạng.[70]

Nhưng theo quan điểm của Moscow, có một sự khác biệt quan trọng giữa các làn sóng bắt bớ và đi đày thời chiến tranh so với những gì đã diễn ra vào giai đoạn trước đó: cách chọn lựa đích ngắm là mới mẻ. Bởi đây là lần đầu tiên Stalin quyết định tiêu diệt không chỉ các thành viên mang một quốc tịch riêng biệt bị nghi ngờ, hay những loại “kẻ thù” chính trị cụ thể, mà là toàn thể một dân tộc – đàn ông, phụ nữ, trẻ em, người già – và xóa họ ra khỏi bản đồ.

Có lẽ “diệt chủng” không phải là thuật ngữ phù hợp dành cho các cuộc lưu đày ấy, do không có những vụ hành quyết tập thể. Trong những năm về sau, Stalin cũng tìm kiếm người cộng tác và đồng minh trong số những nhóm “kẻ thù” ấy, vì thế sự thù ghét của ông là không đơn thuần chỉ về mặt sắc tộc. Tuy nhiên, nếu gọi là “diệt chủng văn hóa” lại không phải là không thích đáng. Sau khi họ đã đi, tên tuổi của tất cả những người đi đày bị gạch khỏi giấy tờ chính thức – thậm chí cả trong Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô. Chính quyền xóa quê hương của họ khỏi bản đồ, xóa bỏ nước Cộng hòa Tự trị Chechen-Ingush, Cộng hòa Tự trị Đức Volga, Cộng hòa Tự trị Kabardino-Balkar và Tỉnh Tự trị Karachai. Cộng hòa Tự trị Crimea cũng bị thủ tiêu, và Crimea đơn giản là trở thành một tỉnh Xôviết. Chính quyền vùng phá hủy các nghĩa trang, đổi tên thị trấn và làng mạc, và gạch bỏ những cựu cư dân đó ra khỏi các sách lịch sử.[71]

Tại nơi ở mới của mình, tất cả những người lưu đày theo đạo Hồi – Chechen, Ingush, Balkar, Karachai và Tartar – bị buộc phải gửi con cái tới các trường tiểu học nói tiếng Nga. Tất cả bọn trẻ không được khuyến khích sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình, thực hành các nghi lễ tôn giáo, hay nhớ về quá khứ của mình. Không nghi ngờ gì, người Chechen, người Tartar, người Đức Volga, các dân tộc nhỏ hơn vùng Kavkaz – và trong một giai đoạn lâu hơn là người Baltic và người Ba Lan – được dự trù là sẽ bị biến mất, bị hấp thu vào thế giới Xôviết nói tiếng Nga. Nhưng cuối cùng, những dân tộc ấy lại “tái xuất hiện” sau cái chết của Stalin, mặc dù mất rất nhiều thời gian. Mặc dù người Chechen được cho phép quay về quê hương vào năm 1957, người Tartar không thể làm được điều này cho tới tận thời kỳ Gorbachov. Họ chỉ được nhận “tư cách công dân” Crimea cho mình – quyền cư trú hợp pháp – mãi tận năm 1994.

Xét đến thời tiết thời kỳ ấy, sự tàn bạo của chiến tranh và sự xuất hiện, cách vài ngàn cây số về phía tây, của một cuộc diệt chủng khác được lên kế hoạch cẩn thận, một số người tự hỏi tại sao Stalin không đơn giản là giết chết các nhóm sắc tộc mà ông đã quá khinh miệt như vậy. Phỏng đoán của tác giả là việc hủy diệt văn hóa chứ không hủy diệt con người phù hợp với mục đích của ông hơn. Chiến dịch đã loại khỏi Liên Xô thứ mà ông xem là những cấu trúc xã hội “thù địch”: các thể chế tư sản, tôn giáo và dân tộc có thể chống lại ông; những con người có thứ văn hóa có thể ngăn trở ông. Đồng thời, nó cũng giữ được nhiều hơn “các đơn vị lao động” để sử dụng cho tương lai.

Nhưng câu chuyện về những người nước ngoài trong trại không chỉ kết thúc với người Chechen và Ba Lan. Có nhiều cách khác cho những người ngoài để kết thúc trong hệ thống trại Xôviết – và vượt xa số lượng đông nhất tù binh chiến tranh phải vào trại.

Về kỹ thuật, Hồng quân đã lập nên các trại tù binh Xôviết đầu tiên vào năm 1939, theo sau việc xâm chiếm đông Ba Lan. Sắc lệnh thời chiến đầu tiên về trại tù binh chiến tranh được ban hành ngày 19 tháng Chín cùng năm đó, hai ngày sau khi xe tăng Xôviết lăn xích qua biên giới.[72] Đến cuối tháng Chín, Hồng quân đã giam giữ 230.000 binh lính và sĩ quan Ba Lan.[73] Nhiều người được thả, đặc biệt là các lính trẻ cấp bậc thấp, mặc dù một số – những người bị xem là có khả năng trở thành du kích – cuối cùng cũng bị lên đường vào Gulag, hay vào một trong hàng trăm hoặc nhiều hơn trại tù binh nằm sâu hơn ở Liên Xô. Sau khi quân Đức xâm lược, những trại ấy bị sơ tán cùng với các nhà tù khác để đến các trại ở phía đông.[74]

Khốn nạn thay, không phải tất cả tù binh Ba Lan đều đến được các trại phía đông nêu trên. Tháng 4/1940, NKVD bí mật giết hại hơn 20.000 sĩ quan Ba Lan bị bắt, bắn tất cả bọn họ vào sau gáy theo mệnh lệnh trực tiếp của Stalin.[75] Stalin giết các sĩ quan này với cùng lý do mà ông ra lệnh bắt giữ các tu sĩ và thày giáo Ba Lan – dự tính của ông nhằm tiêu diệt tầng lớp ưu tú Ba Lan – và rồi ông che giấu nó đi. Mặc dù có nhiều nỗ lực, chính phủ lưu vong Ba Lan không thể phát hiện chuyện gì đã xảy ra với các sĩ quan – cho tới khi người Đức tìm thấy họ. Mùa xuân năm 1943, chính quyền chiếm đóng Đức đã phát hiện ra 4.000 xác người ở khu rừng Katyń.[76] Mặc dù Liên Xô phủ nhận trách nhiệm về vụ thảm sát Katyń, như tên được mọi người biết tới sau này, và mặc dù phe Đồng minh chấp nhận cách giải thích này – thậm chí còn nêu vụ thảm sát Katyń là một tội ác của người Đức trong bản cáo trạng tại Phiên tòa Nuremberg – người Ba Lan biết theo các nguồn của mình rằng NKVD là kẻ phải chịu trách nhiệm. Vụ việc này sẽ xói mòn mối quan hệ “đồng minh” Ba Lan-Liên Xô không chỉ trong thời gian chiến tranh, mà còn trong suốt năm mươi năm sau đó. Mãi tận năm 1991 Tổng thống Nga Boris Yeltsin mới thừa nhận trách nhiệm của Liên Xô trong vụ thảm sát.[77]

Mặc dù tù binh chiến tranh Ba Lan tiếp tục có mặt ở các tiểu đoàn lao công cưỡng bức và các trại Gulag trong suốt chiến tranh, những trại lao động đầu tiên xây với quy mô thực sự lớn không phải giành cho người Ba Lan. Do vận may đang quay lại với phe Liên Xô, Hồng quân, khá đột ngột và dường như hơi bất ngờ, bắt đầu bắt được số lượng lớn tù binh Đức và phe Trục. Chính quyền hoàn toàn chưa chuẩn bị trước đến mức thảm hại. Trong cơn sóng đầu hàng của quân Đức theo sau Trận Stalingrad – thường được xem là bước ngoặt của cuộc chiến – Hồng quân đã bắt được 91.000 binh lính đối phương mà họ không có chút phương tiện và lương thực nào để cung cấp. Sau ba bốn ngày, lượng thức ăn tới nơi khó mà đủ được: “một ổ bánh mì cho mười người, cộng thêm một ít xúp toàn nước nấu với chút hạt kê và cá muối”.[78]

Điều kiện trong vài tuần đầu tiên bị giam cầm không khá hơn chút nào, và không chỉ với những người sống sót qua Stalingrad. Khi Hồng quân tiến về phía tây, binh lính bị bắt thường được lùa ra đồng trống, để mặc đó với thực phẩm tối thiểu và không có thuốc men, nếu họ không bị bắn ngay tại chỗ. Thiếu chỗ trú ẩn, tù binh ngủ trên tay nhau, co quắp trong tuyết và thức dậy thấy mình cứng như xác chết.[79] Trong vài tháng đầu tiên của năm 1943, tỷ lệ tử vong trong số tù binh bắt được lơ lửng ở mức gần 60 phần trăm, và khoảng 570.000 chính thức bị đưa vào danh sách tử vong trong giam cầm, vì đói khát, bệnh tật không được chăm sóc vết thương.[80] Tổng số thực tế thậm chí có thể cao hơn, do nhiều tù chết trước cả khi có người tìm cách đếm họ. Tỷ lệ tử vong tương tự phổ biến với tù binh Xôviết bị quân Đức giam giữ: cuộc chiến giữa phe phát xít với Xôviết thực sự là một cuộc chiến chết bỏ.

Tuy nhiên, từ tháng 3/1944, NKVD tiến hành “cải thiện” tình hình và lập ra một ban mới về trại lao động cưỡng bức, đặc biệt dành cho tù binh chiến tranh. Mặc dù nằm dưới quyền hạn pháp lý của công an mật, những trại mới này không phải là thành phần kỹ thuật của Gulag, mà đúng hơn trước tiên thuộc về Ban Quản lý Tù binh Chiến tranh của NKVD (UPV) và, sau năm 1945, thuộc về Tổng Ban Quản lý Tù binh và Tù Chiến tranh (GUPVI).[81]

Cơ quan mới này không hẳn có cư xử tốt hơn với tù. Lấy ví dụ, chính quyền Nhật Bản đã tính rằng mùa đông 1945-1946 – sau khi chiến tranh kết thúc – là mùa đông khó khăn nhất đối với tù người Nhật, cứ mười người thì có một bị chết trong cảnh tù đày ở Liên Xô. Mặc dù họ ở trong hoàn cảnh khó có thể tiết lộ được thông tin quân sự nào có giá trị, việc hạn chế gắt gao thư từ họ gửi cho người thân vẫn kéo dài không thay đổi: tù binh chiến tranh chỉ được phép viết thư về nhà kể từ sau năm 1946, và phải sử dụng hình thức đặc biệt đánh dấu là “thư của tù binh chiến tranh”. Các văn phòng kiểm duyệt đặc biệt, với các nhân viên kiểm duyệt được huấn luyện về ngoại ngữ, được lập để đọc qua thư từ của họ.[82]

Chuyện chen chúc chật chội cũng không giảm bớt. Trong suốt năm cuối của cuộc chiến, thậm chí kể cả sau đó, số người trong các trại này vẫn tiếp tục gia tăng, đạt đến mức độ choáng váng. Theo thống kê chính thức, Liên Xô đã bắt được 2.388.000 tù binh chiến tranh người Đức trong khoảng từ 1941 tới 1945. Ngoài ra còn 1.097.000 binh lính các nước Châu Âu khác chiến đấu bên phe Trục cũng rơi vào tay người Liên Xô – hầu hết là người Ý, Hungary, Romania và Áo, cũng như một số người Pháp, Hà Lan và Bỉ – và khoảng 600.000 người Nhật, một con số chóng mặt khi xét đến việc Liên Xô có chiến tranh với Nhật trong khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi. Cho tới lúc có đình chiến, tổng số lính binh lính bị bắt đã vượt qua con số bốn triệu.[83]

 Con số này, tuy lớn, không bao gồm tất cả những người nước ngoài bị tống vào trại Xôviết trong thời gian Hồng quân hành quân xuyên qua Châu Âu. NKVD, đi theo sau trên đường hành quân, cũng săn tìm những loại tù nhân khác: bất cứ ai bị tố cáo phạm tội ác chiến tranh, bất cứ ai bị nghi là gián điệp (thậm chí gián điệp cho một chính phủ Đồng minh), bất cứ ai bị nghi là chống Xôviết vì bất cứ lý do gì, bất cứ ai mà công an mật có gì đó không ưa. Phạm vi này đặc biệt rộng tại các nước Trung Âu nơi họ dự định ở lại sau khi chiến tranh chấm dứt. Lấy ví dụ, tại Budapest, họ mau chóng tóm lấy 75.000 thường dân Hungary, chuyển những người này thoạt đầu vào các trại tạm thời ở Hungary, sau đó vào Gulag – cùng với hàng trăm ngàn tù binh chiến tranh người Hung đã ở đó từ trước.[84]

Cũng như vậy bất cứ ai cũng có thể bị bắt. Lấy ví dụ, trong số người Hungary bị tóm ở Budapest, có George Bien, mười sáu tuổi. Ông bị bắt cùng cha mình, do họ có một cái radio.[85] Ở đầu bên kia của bậc thang xã hội, các sĩ quan NKVD cũng bắt giữ Raul Wallenberg, một nhà ngoại giao Thụy Điển đã đơn thương độc mã cứu mạng hàng ngàn người Hung gốc Do Thái khỏi bị đày tới những trại tập trung Quốc xã. Trong quá trình đàm phán Wallenberg đã có nhiều thương lượng với cả chính quyền phát xít lẫn các nhà lãnh đạo phương Tây. Ông cũng xuất thân từ một gia đình Thụy Điển giàu có và danh giá. Đối với NKVD, đó là những lý do quá đủ để họ nghi ngờ. Họ bắt giữ ông tại Budapest tháng 1/1945, cùng với tài xế của ông. Cả hai người đều biến mất trong hệ thống nhà tù Xôviết – Wallenberg được nhập sổ là một “tù binh chiến tranh” – và không bao giờ được nghe nói đến nữa. Trong suốt thập niên 1990, chính phủ Thụy Điển đi tìm kiếm manh mối về số phận cuối cùng của Wallenberg nhưng không có kết quả. Giờ đây phần lớn đều cho rằng ông đã chết khi bị hỏi cung, hoặc bị hành quyết ngay sau khi bị bắt.[86]

Tại Ba Lan, NKVD hướng tầm nhìn về phía các lãnh đạo còn lại của Quân đội Quê hương Ba Lan. Đội quân du kích này cho tới năm 1944 đã thực sự chiến đấu cùng phe với binh lính Xôviết chống lại quân Đức. Tuy nhiên, ngay sau khi Hồng quân vượt qua đường biên giới cũ của Ba Lan, lính NKVD đã gom giữ và giải giới các đơn vị du kích của Quân đội Quê hương và bắt giam các lãnh đạo của nó. Một số ẩn nấp trong các khu rừng ở Ba Lan và tiếp tục chiến đấu cho tới giữa thập niên 1940. Nhiều người bị hành quyết. Những người còn lại bị đưa đi đày. Vì thế hàng chục ngàn công dân Ba Lan, cả du kích lẫn dân thường, đã nối nhau vào Gulag và các làng lưu đày sau khi chiến tranh kết thúc.[87]

Nhưng không có quốc gia bị chiếm đóng nào là ngoại lệ. Các nước Baltic và Ukraina, như tác giả đã đề cập, đã trở thành đối tượng đàn áp quy mô lớn thời kỳ hậu chiến, giống như Tiệp Khắc, Bulgaria, Romania và trên hết là Đức và Áo. NKVD lôi về Moscow để hỏi cung tất cả những người bị tìm thấy trong boongke của Hitler trong thời gian Hồng quân tiến vào Berlin. Họ cũng tóm lấy nhiều bà con xa của Hitler sống ở Áo. Trong số đó có một người em họ, Maria Koopensteiner, người Hitler đã có một lần gửi cho ít tiền, cũng như chồng của bà, các anh em trai của bà và một trong những con trai của người anh. Không một ai trong số họ, thậm chí kể cả Maria, từng nhìn thấy mặt Hitler kể từ năm 1906. Tất cả bọn họ đều sẽ qua đời tại Liên Xô.[88]

Ở Dresden, NKVD cũng tóm được một công dân Mỹ, tên là John Noble, người bị kẹt lại ở nước Đức Quốc xã và bị giam lỏng tại gia trong thời gian chiến tranh cùng với người cha sinh tại Đức, vốn đã nhập tịch Mỹ. Hơn chín năm sau, Noble cuối cùng được quay trở về Hợp Chủng Quốc sau khi trải qua phần lớn thời gian đó tại Vorkuta, nơi các bạn tù của ông đặt cho ông biệt danh “Amerikanets”.[89]

Phần lớn những ai bị gom lại trong cuộc hỗn chiến mêlée cuối cùng đều tìm được lối dẫn vào trại, dù là các trại lao động cho tù binh chiến tranh hay chính bản thân Gulag. Sự khác biệt giữa hai loại trại này không bao giờ là rõ ràng. Mặc dù về kỹ thuật chúng thuộc về những cơ quan khác nhau, việc quản lý các trại tù binh chiến tranh chẳng mấy chốc đã trở thành gần giống với quản lý những trại lao động cưỡng bức – giống đến nỗi khi ta lục tìm trong lịch sử trại tù binh và lịch sử Gulag, rất khó để có thể tách riêng chúng ra. Đôi khi, tổ hợp trại Gulag lập ra những lagpunkt đặc biệt chỉ dành cho tù binh chiến tranh, và cả hai loại tù đều cùng làm việc chung với nhau.[90] Không vì lý do gì rõ ràng cụ thể, NKVD đôi khi cũng chuyển trực tiếp tù binh chiến tranh vào hệ thống Gulag.[91]

Vào cuối chiến tranh, khẩu phần thực phẩm của tù binh chiến tranh và tù tội phạm gần như giống nhau, cũng như lán ở của họ và công việc họ làm. Giống như đám zek, tù binh chiến tranh làm việc tại công trường, trong hầm mỏ, tại xưởng máy, xây dựng đường bộ và đường sắt.[92] Giống như đám zek, một số tù binh có trình độ cao hơn được đưa vào những sharashka, nơi họ ngồi thiết kế các mẫu máy bay chiến đấu mới cho Hồng quân.[93] Cho tới nay, cư dân của một số quận ở Moscow vẫn tự hào nói về những khu nhà chung cư họ đang ở mà họ cho là được hoàn thành với một tiêu chuẩn cao hơn bởi đám tù binh chiến tranh người Đức tính tình cẩn thận kỹ càng.

Cũng giống như đám zek, tù binh chiến tranh cuối cùng trở thành đối tượng nhận được thứ “giáo dục chính trị” kiểu Xôviết. Năm 1943, NKVD bắt đầu tổ chức các trường học và khóa học “chống phát xít” trong trại tù binh chiến tranh. Những khóa học dự định nhằm thuyết phục người tham gia “tiến hành cuộc chiến để xây dựng ‘nền dân chủ’ cho đất nước mình và đào bật rễ những gì sót lại của chủ nghĩa phát xít” khi quay về quê nhà ở Đức, Romania hay Hungary – và, dĩ nhiên, để dọn đường cho ách thống trị Xôviết.[94] Nhiều cựu tù binh chiến tranh người Đức đích thực là đã lao vào làm việc trong lực lượng công an mới của cộng sản Đông Đức.[95]

Nhưng thậm chí đối với những ai tỏ ra trung thành với chế độ mới thì cũng không hẳn được sớm trở về nhà. Mặc dù Liên Xô cho hồi hương một nhóm 225.000 tù, hầu hết là bị bệnh hay thương tật, ngay từ tháng 6/1945, và mặc dù những người khác tiếp tục sớm được trở về nhà sau đó, việc hoàn tất hồi hương tù binh chiến tranh ở Liên Xô mất đến hơn một thập niên: 20.000 vẫn còn ở lại Liên Xô năm 1953 khi Stalin chết.[96] Stalin, vẫn tin tưởng vào tính hiệu quả của lao động cưỡng bức, nhìn nhận lao động của tù như một hình thức chuộc lỗi và xem việc giam giữ họ lâu dài là hoàn toàn hợp pháp. Trong suốt các thập niên 1940 và 1950 – và thực sự là cả sau đó, như trường hợp của Wallenberg đã minh họa – chính quyền Xôviết tiếp tục che đậy vấn đề người nước ngoài bị bắt bằng sự mập mờ, tuyên truyền và phản tuyên truyền, thả người khi điều này có lợi cho họ, phủ nhận mọi thông tin về sự tồn tại của họ khi chúng không có lợi. Lấy ví dụ, tháng 10/1945, Beria đã viết cho Stalin để xin cho quyền thả tù binh chiến tranh Hungary trước thời gian bầu cử tại Hungary: người Anh và Mỹ đã thả tù binh chiến tranh họ giữ, ông này nói thêm, ngụ ý rằng Liên Xô sẽ bị ảnh hưởng xấu nếu không làm vậy.[97]

Màn sương mù tồn tại suốt nhiều thập kỷ. Trong vài năm đầu tiên sau chiến tranh, các đại diện ngoại giao từ khắp nơi trên thế giới liên tục gây sức ép với Moscow với danh sách những công dân của họ đã biến mất khi Hồng quân tiến vào Châu Âu, hay, vì một lý do nào đó, đã rơi vào trại tù binh hay trại Gulag. Không phải lúc nào cũng dễ dàng xuất hiện câu trả lời, do bản thân NKVD cũng không nhất thiết phải biết những tù ấy hiện đang ở đâu. Cuối cùng, chính quyền Xôviết lập ra các ủy ban đặc biệt đề tìm xem có bao nhiêu người nước ngoài vẫn còn bị giam tại Liên Xô, và để xét lại vụ án nhằm thả họ ra.[98]

Những vụ phức tạp phải mất hàng năm để giải quyết. Jacques Rossi, một người cộng sản Pháp sinh ra tại Lyon, đã bị đưa vào trại sau vài năm dạy học ở Moscow, đã cố gắng để trở về nhà vào năm 1958. Ban đầu bị từ chối cấp visa tới Pháp, ông tìm cách xin visa sang Ba Lan, nơi ông kể với chính quyền rằng anh chị em mình hiện đang sống. Việc này cũng bị từ chối.[99] Mặt khác, chính quyền đôi khi đột ngột dỡ bỏ mọi sự phản đối của mình, và thình lình cho phép người nước ngoài trở về nhà. Có một lúc vào năm 1947, giữa cao điểm của nạn đói thời kỳ hậu chiến, NKVD bất thình lình thả ra hàng trăm ngàn tù binh chiến tranh. Không có cách giải thích mang tính chính trị nào: lãnh đạo Xôviết đơn giản đã nghĩ rằng họ không có đủ lương thực để giữ cho tất cả những người này sống sót.[100]

Việc hồi hương không chỉ diễn ra theo có một hướng. Trong khi có rất nhiều người Tây Âu kẹt lại ở Nga vào cuối chiến tranh thì cũng có lượng tương đương người Nga mắc kẹt ở Tây Âu. Mùa xuân năm 1945, có hơn 5,5 triệu công dân Xôviết ở ngoài biên giới Liên Xô. Một phần số đó là lính, bị bắt và cầm tù trong các trại tù binh chiến tranh của Quốc xã. Những người khác bị bắt vào các trại lao động nô lệ tại Đức và Áo. Một số đã cộng tác trong thời kỳ người Đức chiếm đóng đất nước họ và đã rút lui cùng quân đội Đức. Có tới 150.000 người là “Vlasovite”, tức binh lính Xôviết đã chiến đấu – hoặc phổ biến hơn là bị bắt phải chiến đấu – chống lại Hồng quân dưới sự chỉ huy của tướng Andrei Vlasov, một sĩ quan Nga sau khi bị bắt đã quay lại cùng Hitler chống Stalin, nói cách khác là tham gia các quân đoàn Wehrmacht ủng hộ Hitler chống Stalin. Một số, mặc dù nghe có vẻ kỳ lạ, hoàn toàn không phải là công dân Xôviết. Rải rác ở khắp Châu Âu, đáng chú ý nhất là ở Nam Tư, còn có những người lưu vong chống cộng: đám Bạch vệ, tức là những người thua trận trong cuộc chiến chống lại phe Bolshevik và tới định cư ở phương Tây. Stalin cũng muốn đưa họ quay về: không một ai được phép thoát khỏi sự báo thù của người Bolshevik.

Cuối cùng ông đã có được họ. Trong số nhiều quyết định gây tranh luận họ đạt được tại Hội nghị Yalta tháng 2/1945, Roosevelt, Churchill và Stalin đã thống nhất rằng tất cả các công dân Liên Xô, bất kể có tiểu sử cá nhân ra sao, phải bị chuyển về Liên Xô. Mặc dù nghị định ký kết tại Yalta không nói thẳng là ra lệnh cho quân Đồng minh trao trả các công dân Xôviết trái theo ý nguyện của họ, nhưng trong thực tế đó là điều đã xảy ra.

Một số muốn được trở về nhà. Leonid Sitko, một chiến sĩ Hồng quân từng trải qua thời gian trong trại tù Quốc xã, sau đó trải qua một thời gian dài hơn trong trại Liên Xô, đã nhớ lại việc mình quyết định chọn quay về tổ quốc. Sau này, ông đưa những cảm xúc của mình về quyết định trên vào một bài thơ:

Đây bốn ngả rẽ – bốn đường đi tới bốn quốc gia

Ba hướng kia là bình yên và êm ấm

Hướng cuối cùng, tôi biết, sẽ đập nát đàn thơ

Còn tôi, có lẽ nhất, họ sẽ giết chết.

Vậy mà sao, với ba nước kia, tôi nói: xéo đi cho khuất mắt!

Và tôi chọn tổ quốc quê hương tôi.

Những người khác, tuy khiếp sợ những gì có thể đang chờ đợi mình, nhưng lại bị thuyết phục quay về bởi đám sĩ quan NKVD đi rảo khắp các trại tù binh chiến tranh và trại người bị trục xuất rải rác ở Châu Âu. Đám sĩ quan này rà khắp trại, tìm kiếm những ai là người Nga, chào mời họ những viễn cảnh vui vẻ về một tương lai tươi sáng. Đám sĩ quan tuyên bố, tất cả sẽ được tha thứ: “Giờ đây các bạn được chúng tôi xem là những công dân Xôviết chân chính, bất kể thực tế là các bạn đã bị ép phải tham gia quân đội Đức…”[101]

Một số người, đặc biệt là những ai đã bị luật pháp Xôviết gạt ra rìa trước đây, lẽ tự nhiên sẽ không hề muốn quay trở về. “Có đủ chỗ đứng trên đất mẹ cho tất cả mọi người”, đại diện quân sự Xôviết tại Anh nói với một nhóm binh lính Liên Xô đang sống trong trại tù binh chiến tranh Yorkshire. “Chúng tôi biết rõ chỗ đứng đã được giành sẵn cho chúng tôi nó như thế nào rồi”, một tù nhân trả lời.[102] Tuy nhiên, các sĩ quan Đồng minh lại nhận được lệnh phải chuyển giao đám tù này – và họ đã làm vậy. Tại Fort Dix, New Jersey, 145 tù binh Xôviết bị bắt khi đang mặc trên người bộ quân phục Đức đã tự giam mình vào trong doanh trại của họ để chống lại việc bị đưa về nước. Khi lính Mỹ ném hơi cay vào nhà, những ai còn chưa tự sát đã túa ra với dao nhà bếp và gậy trong tay, làm bị thương một số lính Mỹ. Sau đó, họ nói rằng họ muốn kích động để người Mỹ nổ súng bắn mình.[103]

Tệ hơn nữa là những vụ liên quan tới phụ nữ và trẻ em. Tháng 5/1945, binh lính Anh, tuân theo cái mà họ nói là mệnh lệnh trực tiếp từ Churchill, đã thực hiện cho hồi hương hơn 20.000 người Côdắc, lúc đó đang sống tại Áo. Đó vốn là những cựu du kích chống Bolshevik, một số họ đã ủng hộ Hitler như một cách để đánh lại Stalin, nhiều người trong số đó đã rời Liên Xô từ sau Cách Mạng, và hầu hết bọn họ không còn mang hộ chiếu Xôviết. Sau nhiều ngày hứa hẹn đối xử tốt với họ, người Anh đã lừa họ. Họ mời các sĩ quan Côdắc tới dự một “hội nghị”, giao những người này cho lính Liên Xô, rồi vây gia đình của những người này lại vào ngày hôm sau. Trong một trường hợp đặc biệt tồi tệ tại một trại gần Lienz, Áo, lính Anh đã sử dụng đến lưỡi lê và báng súng để thúc hàng ngàn phụ nữ và trẻ em lên những đoàn tàu sẽ chở họ về Liên Xô. Thà chết không chịu quay về, phụ nữ ném con mình qua thành cầu rồi nhảy xuống. Một người đàn ông giết chết vợ con mình, đặt xác họ nằm gọn gàng trên bãi cỏ rồi tự sát. Tất nhiên, người Côdắc biết rõ điều gì đang chờ mình khi quay về Liên Xô: hoặc là một đội hành quyết hoặc là Gulag.[104]

 Thậm chí những ai đã chủ động quay về nước theo ý mình cũng bị rơi vào vòng nghi ngờ. Bất kể họ rời Liên Xô tự nguyện hay bị cưỡng buộc, bất kể họ có cộng tác hay do bị bắt, bất kể họ tự nguyện quay về hay bị cưỡng bức lên toa tàu chở gia súc, ngay tại biên giới tất cả họ đều bị yêu cầu điền vào một bản mẫu ghi câu hỏi họ có từng cộng tác hay không. Những ai thú nhận (và một số đã có làm) và những ai có vẻ khả nghi – trong đó bao gồm nhiều tù binh chiến tranh Xôviết, mặc cho những đọa đày họ đã phải hứng chịu trong trại của Đức – bị giữ lại để điều tra thêm tại các trại thanh lọc. Những trại này có vẻ ngoài và gây cảm giác gần giống với trại Gulag. Vây quanh bởi hàng rào thép gai, người ở trong cả hai loại trại này đều bị cưỡng bức phải lao động.

Trong thực tế, NKVD chủ tâm dựng các nhiều trại thanh lọc nằm ngay gần những trung tâm công nghiệp, sao cho đám người “tình nghi” có thể cống hiến miễn phí lao động cho Liên bang Xô viết trong thời gian chính quyền đang điều tra trường hợp của họ.[105] Trong khoảng từ 27/12/1941 tới 1/10/1944, NKVD đã điều tra 421.199 người tạm giam trong các trại thanh lọc. Tháng 5/1945, có trên 160.000 người bị tạm giam vẫn còn sống trong đó và tham gia vào lao động cưỡng bức. Hơn một nửa bọn họ phải đi đào than.[106] Tháng 1/1946, NKVD hủy bỏ các trại này và cho hồi hương thêm 228.000 người về Liên Xô để điều tra thêm.[107] Có lẽ nhiều người trong số đó sẽ bị đưa vào Gulag.

Tuy nhiên, thậm chí cả trong số các tù binh chiến tranh vẫn có những trường hợp đặc biệt. Có lẽ bởi vì NKVD đang phân phát các bản án cho những lao động nô lệ và tù binh chiến tranh người Liên Xô – những người trong thực tế không phạm bất cứ tội nào – chính quyền sáng tạo ra một loại án mới cho đám tội phạm chiến tranh thực thụ: những người bị cho là đã phạm tội thực sự. Ngay từ tháng 4/1943, Xôviết Tối cao đã tuyên bố rằng Hồng quân trong quá trình giải phóng lãnh thổ Xôviết đã phát hiện “các hành động bạo lực kinh tởm và khủng khiếp chưa từng thấy, thực hiện bởi bọn quái vật phát xít người Đức, Ý, Romania, Hungary và Phần Lan, lũ điệp viên của bọn Hitler, cũng như bởi đám gián điệp và phản bội trong số các công dân Xôviết”.[108] Để đáp lại, NKVD tuyên bố rằng các tội phạm chiến tranh bị kết án sẽ phải nhận án mười lăm, hai mươi hay thậm chí hai lăm năm trong những lagpunkt được thiết kế đặc biệt. Những lagpunkt này được xây sẵn ở Norilsk, Vorkuta và Kolyma, ba tổ hợp trại khắc nghiệt nhất nằm tại phương bắc.[109]

Với một lối diễn đạt ngôn ngữ hoa mỹ rất đáng tò mò, và một ý thức lịch sử khá mỉa mai có lẽ phản ánh rõ nét sự liên hệ với đích thân Stalin, NKVD đặt tên các lagpunkt ấy sử dụng một thuật ngữ lấy từ lịch sử hình pháp thời Nga Sa hoàng: katorga. Việc chọn từ này ắt không phải là chuyện tình cờ. Sự phục hồi nó, vốn có âm hưởng của sự phục hồi thuật ngữ học thời Sa hoàng trong các lĩnh vực khác của đời sống Xôviết (ví dụ như trường thiếu sinh quân cho con cái các sĩ quan chẳng hạn), chắc hẳn nhằm phân biệt một loại trừng phạt mới dành cho một loại tù mới nguy hiểm và không thể cải tạo được. Không như đám tội phạm bình thường phải chịu hình phạt thông thường trong các trại lao động cải tạo của Gulag, đám tù katorga không bao giờ có thể hy vọng được cải hóa hay chuộc lỗi, thậm chí cả về lý thuyết.

Sự phục hồi từ này dường như đã gây ra một sự kinh ngạc khiếp hãi nào đó. Những người Bolshevik từng chiến đấu chống lại katorga, nhưng giờ đây họ đang khôi phục lại nó – giống như lũ lợn trong cuốn Animal Farm của George Orwell, những kẻ cấm muông thú uống rượu, và rồi chính chúng lại đi uống whisky. Katorga cũng được tái phát minh tựa như việc thế giới vừa phát hiện ra sự thực về các trại tập trung Quốc xã. Việc sử dụng từ này dẫn tới một giả thuyết kỳ dị là trại Xôviết giống các trại “tư bản” còn hơn cả những gì chính quyền Xôviết tiết lộ.

Có lẽ đó là lý do tại sao tướng Nasedkin, ông trùm Gulag thời chiến tranh, vào lúc đó đã đặt viết một tổng hợp về lịch sử của katorga thời Sa hoàng và chuyển nó cho Beria theo đề nghị của ông này. Ngoài các “chú giải” khác, tài liệu này còn cẩn thận tìm cách giải thích sự khác biệt giữa katorga Bolshevik, katorga Sa hoàng và các hình thức trừng phạt khác ở phương Tây:

trong điều kiện của nhà nước XHCN Xôviết, katorga – lưu đày kết hợp lao động cưỡng bức – sử dụng như một biện pháp trừng phạt được dựa trên một nguyên tắc khác hẳn so với thời kỳ trước đây. Ở nước Nga Sa hoàng và tại các nước tư bản hình phạt tội phạm khắc nghiệt này vốn được áp dụng cho các thành phần tiến bộ nhất trong xã hội… trong điều kiện của chúng ta, katorga cho phép chúng ta cắt giảm một số lượng lớn các bản án tử hình, và tập trung áp dụng lên những kẻ thù đặc biệt nguy hiểm…[110]

Khi đọc các chỉ dẫn ban hành để mô tả chế độ quản lý mới, ta cho rằng ai phải nhận án katorga có khi thà chịu tử hình còn hơn. Tù katorga bị tách riêng khỏi những tù khác bởi hàng rào cao. Họ phải mặc đồng phục có sọc trông dị hợm, có số tù khâu sau lưng. Ban đêm họ bị nhốt trong lán, cửa sổ lán gắn đầy song sắt. Họ phải làm việc nhiều giờ hơn tù thường, có ít ngày nghỉ hơn, và bị cấm không được nhận bất cứ loại công việc nào khác ngoại trừ lao động nặng, ít nhất là trong hai năm đầu chịu án. Họ bị canh gác nghiêm ngặt: mỗi nhóm mười tù được phân cho hai lính gác, mỗi trại được yêu cầu phải bố trí ít nhất năm chó canh. Tù katorga thậm chí không thể chuyển từ trại này sang trại khác mà không có sự chấp thuận đặc biệt của ban quản lý Gulag ở Moscow.[111]

katorga dường như cũng trở thành rường cột của một ngành công nghiệp hoàn toàn mới mẻ của Liên Xô. Năm 1944, NKVD tuyên bố trong một bản liệt kê các thành tựu kinh tế của mình rằng họ đã sản xuất ra được 100 phần trăm sản lượng uranium của Liên bang Xô viết. “Không khó”, nhà sử học Galina Ivanova viết, “để suy luận ra rằng ai là người đã xuống mỏ khai thác và chế biến quặng phóng xạ”.[112] Tù nhân và binh lính cũng đã xây dựng lò phản ứng hạt nhân đầu tiên của Liên Xô ở Chelyabinsk sau chiến tranh. “Vào khi ấy, toàn bộ công trường là một thứ trại lao động”, một công nhân đã nhớ lại. Trên công trường, những ngôi nhà đặc biệt “kiểu Phần Lan” được xây dựng dành cho các chuyên gia người Đức được tuyển dụng để làm việc cho dự án này.[113]

Không cần nghi ngờ, tù katorga bao gồm nhiều kẻ cộng tác và tội phạm chiến tranh Quốc xã, trong đó có những kẻ phải chịu trách nhiệm về việc giết hại hàng trăm ngàn người Do Thái Liên Xô. Khi suy nghĩ về những người này, Simeon Vilensky, một người từng trải qua Kolyma, đã có lần cảnh báo tôi rằng đừng vội kết luận mọi người trong Gulag đều là kẻ vô tội: “Đó là những người có thể phải ngồi tù và xứng đáng bị ngồi tù dưới bất cứ thể chế chính quyền nào”. Như thành một quy luật, các tù khác tránh xa đám tội phạm chiến tranh, thậm chí có khi còn tấn công và đánh đập họ.[114]

Tuy nhiên, trong số 60.000 tù bị kết án katorga năm 1947, khá ít người bị kết án với chứng cứ rõ ràng.[115] Lấy ví dụ, trong số họ, có hàng ngàn du kích chống Liên Xô người Ba Lan, Baltic và Ukraina, nhiều người từng chiến đấu chống bọn Quốc xã trước khi quay vũ khí chiến đấu chống lại Hồng quân. Khi làm vậy, tất cả bọn họ đều tin rằng họ đang chiến đấu để giải phóng quê hương của chính mình. Theo một tài liệu về các tù katorga vị thành niên gửi đến Beria vào năm 1945, trong số những du kích này có Andrei Levchuk, can tội tham gia Tổ chức Những người Quốc gia Ukraina (OUN), một trong hai nhóm du kích chống Xôviết chủ yếu tại Ukraina. Trong quá trình phục vụ đơn vị, cậu bé bị cho là “đã tham gia việc giết hại những công dân vô tội và tước vũ khí cùng các đồ đạc cá nhân của các chiến sĩ Hồng quân”. Vào thời điểm bị bắt năm 1945, Levchuk mới mười lăm tuổi.

Yaroslava Krutigolova là một “tội phạm chiến tranh” khác giống như vậy. Cũng là thành viên của một nhóm du kích OUN – cô giữ nhiệm vụ y tá – cô đã bị bắt khi mới mười sáu tuổi.[116] NKVD cũng bắt một phụ nữ gốc Đức từng làm phiên dịch tiếng Đức cho du kích Liên Xô. Khi nghe thấy chuyện cô bị bắt vì đã “hỗ trợ và tiếp tay cho quân địch”, chỉ huy đội du kích của cô đã làm một chuyến đi đặc biệt rời xa khỏi vùng chiến tuyến để chứng nhận cho cô. Nhờ có ông này, cô chỉ phải nhận một án katorga mười năm thay vì hai lăm năm.[117]

Sau cùng, trong hàng ngũ tù katorga có Aleksandr Klein, một sĩ quan Hồng quân bị quân Đức bắt làm tù binh, nhưng tìm cách trốn thoát và quay về một sư đoàn Liên Xô. Ngay sau khi trở về, ông đã bị hỏi cung như sau này ông thuật lại:

Đột nhiên tay thiếu tá bất ngờ nhấc người dậy và hỏi, “Anh có thể chứng minh rằng mình là người Do Thái không?”

Tôi bối rối mỉm cười và nói rằng mình có thể – bằng cách cởi quần dài.

Tay thiếu tá nhìn sang Sorokin và rồi lại quay qua tôi.

“Có phải anh đang nói rằng bọn Đức không biết anh là Do Thái?”

“Nếu chúng biết được, tin tôi đi, tôi đã không thể đứng ở đây”.

“Hà, thằng ngốc Do Thái kia!” gã công tử bột thốt lên và đá vào dưới bụng tôi mạnh đến nỗi tôi đột ngột nghẹn thở và ngã xuống sàn.

“Mày đang dối trá gì đây? Đ. mẹ mày, nói đi, mày đến đây để thực hiện nhiệm vụ gì? Mày liên lạc với ai? Mày bán mình vào khi nào? Lấy bao nhiêu? Mày đã bán mình lấy bao nhiêu tiền, hở đồ súc sinh bán thân? Mật danh mày là gì?”

Kết quả cuộc hỏi cung này là Klein ban đầu bị kết án tử hình. Sau đó ông được giảm tội – và nhận một án katorga hai mươi năm.[118]

“Trong trại có mọi loại người, đặc biệt là vào thời gian sau chiến tranh”, Hava Volovich sau này viết. “Nhưng tất cả chúng tôi đều phải chịu khốn khổ hệt như nhau: cả người tốt lẫn kẻ xấu, cả kẻ có tội lẫn người vô tội”.[119]

Nếu, trong những năm chiến tranh, hàng triệu người nước ngoài phải vào Gulag trái với ý muốn của mình, ít nhất có một người nước ngoài đã tự nguyện vào đó. Chiến tranh có lẽ đã kích động nên cơn cực điểm mới hoang tưởng thù ghét người nước ngoài trong giới lãnh đạo Xôviết; nhưng cũng nhờ chiến tranh mà một nhà chính trị cao cấp của Mỹ đã được tới thăm Gulag, lần đầu và là lần duy nhất. Henry Wallace, Phó Tổng thống Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ, đã có một chuyến đi tới Kolyma vào tháng 5/1944 – và thậm chí không bao giờ nghĩ rằng mình đang tới thăm một trại tù.

Chuyến tới thăm của Wallace diễn ra vào cao điểm của tình bạn Xô-Mỹ trong thời chiến, thời điểm đầm ấm nhất của quan hệ đồng minh, khi báo giới Mỹ đã quen mô tả Stalin là “Uncle Joe”. Có lẽ vì lý do này, Wallace có khuynh hướng nhìn nhận tốt về Liên Xô thậm chí cả trước khi ông đến đây. Tại Kolyma, ông thấy tất cả các định kiến của mình đã được xác nhận. Ngay khi tới nơi, ông nhìn ra rất nhiều điều tương tự giữa nước Nga và Hoa Kỳ: cả hai đều là các quốc gia vĩ đại “mới”, không mang theo gánh nặng giới quý tộc của Châu Âu trong quá khứ. Ông tin, như lời ông nói với các vị chủ nhà của mình, rằng “phần Châu Á của Liên Xô” thực tế là “Miền Viễn Tây của nước Nga”. Ông nghĩ rằng “không có hai quốc gia nào khác giống nhau hơn là Liên bang Xô viết và Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ”: “Sự trải dài rộng lớn của đất nước các bạn, những cánh rừng hoang sơ, các dòng sông rộng và những hồ nước lớn, gom đủ loại khí hậu – từ nhiệt đới cho đến cận cực – sự giàu có vô tận của nó, đã khiến tôi nhớ đến quê hương mình”.[120]

Nếu phong cảnh làm ông hài lòng, tiềm lực công nghiệp của đất nước cũng khiến ông cảm thấy như vậy. Nikishov, ông trùm nổi tiếng vì tham nhũng và có lối sống phè phỡn của Dalstroi, đã hộ tống Wallace đi quanh Magadan, thành phố chính của vùng Kolyma. Đáp lại, Wallace đã hình dung Nikishov, một sĩ quan NKVD cao cấp, là mẫu hình thô tương đương của một nhà tư bản Mỹ: “Ông ta quản lý mọi thứ quanh đây. Nắm các nguồn lực của Dalstroi trong tay, ông ta là một nhà triệu phú”. Wallace thích đi cùng người bạn mới “Ivan” của mình, và theo dõi cách ông ta “nô giỡn xung quanh” ở miền rừng taiga, “tận hưởng cái không khí bao la tuyệt vời”. Ông cũng lắng nghe giải thích “của Ivan” về nguồn gốc của Dalstroi: “Chúng tôi phải làm cật lực để khiến nơi này nhúc nhích. Mười hai năm trước những người định cư đầu tiên tới đây và dựng lên tám ngôi nhà tiền chế. Ngày nay Magadan đã có 40.000 cư dân và tất cả đều có nhà ở tử tế”.

Tất nhiên, Nikishov đã không hề đề cập rằng “những người định cư đầu tiên” đều là tù, và rằng hầu hết 40.000 cư dân trên đều là người lưu đày, bị cấm không được đi nơi khác. Wallace cũng hoàn toàn không để ý đến tình trạng của các công nhân hiện thời – gần như tất cả đều là tù – và tiếp tục viết rất hài lòng về những thợ khai thác vàng của Kolyma. Họ là, ông nhớ lại, “những thanh niên to cao vạm vỡ”, những công nhân tự do làm việc hăng hái hơn rất nhiều so với các tù chính trị mà ông cho là đã sinh sống ở miền viễn bắc thời Sa hoàng: “Người dân Siberi là một dòng giống hăng hái và cường tráng, nhưng không bởi vì họ bị khuất phục vì roi vọt”.[121]

Tất nhiên, đây chính là điều mà các ông trùm Dalstroi muốn Wallace nghĩ tới. Căn cứ theo báo cáo mà chính Nikishov sau này viết gửi Beria, Wallace có đề nghị được xem một trại tù, nhưng đã bị giữ ra xa. Nikishov cũng đảm bảo với các ông chủ của mình rằng các công nhân Wallace gặp chủ yếu chỉ là công nhân tự do hơn là tù. Nhiều người trong số đó có lẽ là Đoàn viên Komsomol, tức Đoàn Thanh niên Cộng sản, những người đã được đưa cho quần áo và ủng cao su của thợ mỏ chỉ vài phút trước khi Wallace tới, và biết trước cần nói gì nếu được hỏi. “Tôi đã trò chuyện với vài người bọn họ”, Wallace sau này ghi lại. “Họ chỉ tập trung vào chuyện chiến thắng cuộc chiến tranh”.[122]

Sau này, Wallace có được gặp những người tù thực sự, mặc dù ông không hề biết về chuyện này: đó là những ca sĩ và nhạc công, nhiều người bọn họ là các nghệ sĩ opera bị bắt từ Moscow và Leningrad, đã trình diễn cho ông tại nhà hát Magadan. Được cho biết rằng đó là những thành viên của một “dàn đồng ca Hồng quân không chuyên” đóng trong thành phố, ông kinh ngạc tự hỏi không biết làm sao những kẻ không chuyên ấy có thể đạt đến các đỉnh cao nghệ thuật như vậy. Trong thực tế, mỗi người đã được cảnh báo rằng “chỉ cần một từ hay dấu hiệu cho thấy chúng tôi là tù thôi cũng sẽ bị xem là một hành động phản bội”.[123]

Wallce cũng được thấy một số đồ thủ công do tù làm, mặc dù một lần nữa ông cũng không hề biết điều này. Nikishov đưa ông tới một triển lãm đồ thêu tay và cho ông hay rằng những đồ vật trưng bày được làm bởi một nhóm “phụ nữ địa phương thường xuyên tụ tập trong mùa đông khắc nghiệt để học thêu thùa”. Tất nhiên, tù nhân đã làm việc này để chuẩn bị cho chuyến thăm của Wallace. Khi Wallace dừng lại trước một tác phẩm với vẻ thán phục rõ rệt, Nikishov tháo nó ra khỏi tường và đưa cho ông. Trước sự ngạc nhiên tột độ (và thích thú) của ông, bà vợ của Nikishov, bà Gridasova đáng sợ, đã khiêm tốn cho hay rằng chính bà ta là nghệ sĩ làm ra nó. Sau này, nữ tù Vera Ustieva được biết rằng bức tranh của mình là một trong hai bức được tặng cho Phó Tổng thống làm kỷ niệm cho chuyến đi của ông. “Ông trùm của chúng tôi nhận được một bức thư từ vợ của Phó Tổng thống, cám ơn vì món quà và nói rằng các bức tranh đó được treo trong sảnh khách của nhà bà”, bà viết lại sau này.[124] Trong hồi ký của mình Wallace cũng mô tả các món quà: “Đó là hai bức tranh treo tường giờ đây đang trình bày cho các khách khứa tại nhà tôi ở Washington vẻ đẹp đầy ấn tượng của phong cảnh thôn dã nước Nga”.[125]

Chuyến thăm của Wallace diễn ra khoang khoảng cùng lúc với chuyến đến Kolyma của các “quà tặng từ nước Mỹ”. Chương trình Lend-Lease của Mỹ, có nội dung chuyển giao vũ khí và thiết bị quân sự để hỗ trợ các đồng minh của Mỹ chống lại nước Đức, đã đem máy kéo, xe tải, máy xúc và các dụng cụ do Mỹ sản xuất tới Kolyma, vốn không hẳn nằm trong dự định của chính phủ Mỹ. Nó cũng đem tới đây hơi thở từ thế giới bên ngoài. Các bộ phận máy móc chở đến gói trong giấy báo cũ, nhờ thế mà Thomas Sgovio biết được sự tồn tại của cuộc chiến tại Thái Bình Dương. Cho tới khi ấy, ông, cũng như phần lớn tù nhân, chỉ nghĩ rằng quân đội Liên Xô đang gánh chịu tất cả cuộc chiến và nước Mỹ không hỗ trợ gì khác ngoài việc cung cấp hậu cần.[126] Bản thân Wallace cũng chú ý thấy các thợ mỏ Kolyma (hay các Đoàn viên Komsomol Kolyma đóng giả làm thợ mỏ) đang đi giày ủng Mỹ, đều là thành quả thu được từ Lend-Lease. Khi ông hỏi về chuyện này – quà tặng Lend-Lease dự định không được sử dụng trong công tác khai thác vàng – đám chủ nhà của ông tuyên bố đã mua những đôi ủng này bằng tiền mặt.[127]

Phần lớn số quần áo do Hoa Kỳ gửi tới đều dừng chân trong kho của ban quản lý trại và các bà vợ họ, mặc dù một số quần áo có được dùng cho các sản phẩm sân khấu của trại, và một số thịt lợn hộp có được phát cho tù nhân. Họ đã ăn chúng đầy hứng thú: nhiều người chưa từng thấy thịt hộp trước đây. Vui hơn nữa là họ dùng vỏ hộp rỗng để làm ca uống nước, đèn dầu, chậu nước, chảo nấu, ống khói lò, thậm chí là làm nút áo – khó mà tưởng tượng được sự ngạc nhiên tại đất nước sản xuất ra các đồ hộp đó nếu họ biết được.[128]

Trước khi Wallace rời đi, Nikishov tổ chức một dạ tiệc công phu hoành tráng để tỏ lòng kính trọng. Các món ăn xa hoa phung phí, chiết từ khẩu phần của tù, được dọn lên bàn; những lời chúc rượu dành cho Roosevelt, Churchill và Stalin. Bản thân Wallace đã có bài phát biểu, bao gồm những lời đáng nhớ sau đây:

Cả người Nga và người Mỹ, bằng những cách khác nhau của riêng mình, đang mò mẫm tìm lấy một lối sống cho phép một người bình thường ở khắp nơi trên thế giới có thể có được điều tốt nhất từ kỹ thuật hiện đại. Không có điều gì khó nhận thấy trong mục tiêu và ý định của chúng ta. Kẻ nào có tuyên bố dù cố ý hay vô tình nhắm tới chiến tranh – những kẻ đó, theo ý tôi, là một lũ tội phạm.[129]

 

21 . Ân xá và những gì sau đó

 

Hôm nay tôi giã biệt trại với nụ cười vui sướng,

Giã biệt kẽm gai giam tự do hơn cả năm trời…

Trong tôi có còn gì để vương vấn nơi đây,

Có còn gì ngăn bước tôi bỏ đi hôm nay?

Ồ không! Sau kẽm gai tôi bỏ lại một biển khổ

Vẫn đang ráng kéo tôi lại cận kề khổ đau.

Để lại đằng sau bao đau đớn và khát khao.

Nhỏ giọt lệ thầm, thành chuỗi hạt cầu nguyện…

Tất cả nay tựa lá héo lìa cành, mãi trôi xa mất

Sau bao năm cuối cùng tôi đã bẻ tung xích xiềng.

Và hôm nay trong tim không còn ngập thù hận

Bởi ánh cầu vồng chiếu tan mây mù trong mắt tôi!

– Janusz Wedów, “Giã từ trại tù”[130]

 

Có nhiều lối ẩn dụ từng được sử dụng để mô tả hệ thống đàn áp Xôviết – “cỗ máy nghiền thịt”, “băng truyền tải” – khiến nó nghe thật tàn nhẫn, không khoan nhượng, không thể thỏa hiệp. Nhưng đồng thời, hệ thống này không hề đứng yên: nó luôn chuyển động, cuộn sóng, sản sinh ra những điều bất ngờ mới. Nếu đúng là những năm từ 1941 tới 1943 đem lại chết chóc, bệnh tật và tai họa cho hàng triệu tù nhân Xôviết, cũng chính là nó đã trả lại tự do cho hàng triệu con người khác.

Các cuộc ân xá những người khỏe mạnh đang độ tuổi có thể chiến đấu, bắt đầu chỉ vài ngày sau khi chiến tranh nổ ra. Ngay từ ngày 12/7/1941, Xô viết Tối cao đã ra lệnh cho Gulag thả tự do cho một số loại tù nhân cụ thể để họ gia nhập Hồng quân: “những ai bị kết án do trễ giờ làm, do những tội danh về quản lý và kinh tế thông thường và không nghiêm trọng”. Mệnh lệnh này được thực hiện lặp lại rất nhiều lần. Tổng cộng, NKVD đã thả ra 975.000 tù trong ba năm đầu chiến tranh, cùng với hàng trăm ngàn cựu kulak bị lưu đày đặc biệt. Nhiều đợt ân xá khác tiếp tục diễn ra cho tới và ngay giữa thời gian có cuộc công phá cuối cùng vào Berlin.[131] Ngày 21/2/1945, ba tháng trước khi chiến tranh kết thúc, nhiều bản mệnh lệnh tha tù nữa được ban hành: Gulag được yêu cầu phải đưa họ sẵn sàng để quân đội tuyển dụng vào ngày 15 tháng Ba.[132]

Quy mô của những đợt ân xá này gây một tác động to lớn lên nhân khẩu của các trại trong thời gian chiến tranh, và do đó lên cuộc đời của những người còn ở lại. Những tù mới đổ vào trại, các đợt ân xá tập thể thả ra nhiều người khác cùng hàng triệu người chết đã khiến con số thống kê trong những năm chiến tranh trở nên vô cùng giả tạo. Con số của năm 1943 cho thấy một sự suy giảm rõ rệt trong tổng số tù, từ 1,5 triệu xuống còn 1,2 triệu. Tuy nhiên, trong năm đó, một con số khác cho thấy có 2.421.000 tù đã đi qua Gulag, một số mới bị bắt, một số mới được thả, một số được chuyển dời giữa các trại và có nhiều người chết.[133] Tuy vậy, mặc dù có hàng trăm ngàn tù mới đến mỗi tháng, tổng số tù Gulag bị giảm mạnh một cách rõ ràng nhất trong khoảng từ tháng 6/1941 cho tới tháng 7/1944. Nhiều khu trại lâm nghiệp, được vội vã xây dựng để chứa đợt tù tràn ngập năm 1938, nay bị xóa sổ với tốc độ nhanh chẳng kém.[134] Những tù còn lại phải lao động với ngày làm việc ngày càng kéo dài hơn, nhưng thậm chí cả như thế sự thiếu hụt lao động vẫn tồn tại kinh niên. Tại Kolyma trong những năm chiến tranh, thậm chí các công dân tự do cũng được đề nghị tới giúp đãi vàng vào thời gian rảnh sau giờ làm việc.[135]

Không phải tất cả tù đều được thả: các mệnh lệnh ân xá dứt khoát loại trừ đám “tái phạm” – có nghĩa là bọn tội phạm chuyên nghiệp – cũng như tù chính trị. Ngoại lệ chỉ áp dụng với một số rất ít. Có lẽ, khi người ta nhận ra tổn thất gây cho Hồng quân khi bắt giữ những sĩ quan hàng đầu vào cuối thập niên 1930, một vài sĩ quan bị án chính trị đã được âm thầm thả ra sau khi Liên Xô xâm lược Ba Lan. Trong số đó có tướng Aleksandr Gorbatov, người được gọi về Moscow từ một lagpunkt xa xôi ở Kolyma vào mùa đông năm 1940. Khi thấy Gorbatov, điều tra viên được giao trách nhiệm lật lại trường hợp của ông đã nhìn đi nhìn lại tấm ảnh chụp ông trước khi bị bắt, và lập tức đưa ra nhiều câu hỏi. Ông này phải cố để hiểu xem bộ xương trước mặt mình có thực sự từng là một trong những sĩ quan trẻ tài năng nhất của quân đội hay không: “Cái quần độn bông của tôi vá chằng vá đụp, hai chân quấn trong mấy mảnh giẻ và xỏ đôi giày cao đến mắt cá của thợ đào mỏ. Tôi còn mặc cái áo chẽn độn bông cáu bẩn đến nhẵn thín. Đầu tôi đội chiếc mũ có tai bẩn thỉu rách nát…”[136] Cuối cùng Gorbatov được thả vào tháng 3/1941, ngay trước khi quân Đức xâm lược. Mùa xuân năm 1945, ông đã dẫn đầu một trong các mũi tấn công vào Berlin.

Đối với các chiến sĩ bình thường, ân xá không đảm bảo cho sự sống sót của họ. Nhiều người suy đoán – mặc dù hồ sơ lưu trữ vẫn chưa xác nhận điều này – rằng tù được thả từ Gulag để vào Hồng quân được phân tới các “tiểu đoàn trừng giới” và chuyển thẳng đến những khu vực nguy hiểm nhất của mặt trận. Hồng quân vốn nổi tiếng vì việc sẵn sàng thí quân, và không khó để tưởng tượng rằng các viên tư lệnh còn sẵn lòng hơn để thí đám cựu tù này. Avraham Shifrin, một cựu tù và là người chống đối chính quyền, tuyến bố rằng ông từng bị đưa vào một tiểu đoàn trừng giới vì là con của một “kẻ thù của nhân dân”. Theo ghi chép của ông, ông và các đồng chí của mình được đưa thẳng ra mặt trận mặc dù thiếu vũ khí: 500 người mà chỉ có 100 khẩu súng trường. “Vũ khí của các anh đang ở trong tay bọn Quốc xã”, đám sĩ quan nói với họ. “Hãy đi và lấy chúng”. Shifrin đã sống sót, mặc dù bị thương hai lần.[137]

Tuy nhiên, những tù Xôviết gia nhập Hồng quân thường thể hiện khá nổi bật. Đồng thời khá ngạc nhiên là rất ít người có vẻ phản đối việc chiến đấu cho Stalin. Ít nhất là trong cách kể của mình, tướng Gorbatov không bao giờ có một phút tiếc nuối  về việc đã gia nhập quân đội Xôviết, hay về việc chiến đấu cho một Đảng Cộng sản đã bắt bớ ông vô cớ. Khi nghe thấy bọn Đức xâm lược đất nước, suy nghĩ đầu tiên của ông là mình thật may mắn khi được tha: ông có thể sử dụng sức lực vừa hồi phục của mình để phục vụ tổ quốc. Ông cũng tự hào viết về các “vũ khí Xôviết” mà binh lính của mình có thể sử dụng, “nhờ sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước ta”, không hề có bình luận gì về việc sự công nghiệp hóa đó đã đạt được bằng cách nào. Thực ra, trong một số trường hợp ông có thể hiện sự khinh miệt với các “sĩ quan chính trị” của Hồng quân – đám công an mật của quân đội – vì đã xen quá nhiều vào công việc của các chiến sĩ, và ông đã có một hai lần bị đám sĩ quan NKVD ngược đãi, những kẻ đã lầm bầm đầy cay độc rằng ông “không học được gì nhiều ở Kolyma”. Nhưng lòng yêu nước chân thành của ông là điều khó có thể nghi ngờ.[138]

Điều này hóa ra cũng là thực tế đối với nhiều tù được tha khác, ít nhất là xét theo bằng chứng lưu trong hồ sơ của NKVD. Tháng 5/1945, Viktor Nasedkin, ông trùm của Gulag, đã sáng tác ra một bản báo cáo công phu, gần như tuôn trào về chủ nghĩa yêu nước và tinh thần chiến đấu mà các cựu tù đã gia nhập Hồng quân thể hiện, trích dẫn rất nhiều từ các bức thư họ gửi về những trại cũ của mình. “Trước hết, tôi xin thông báo cho trại là tôi đang ở trong một bệnh viện tại Kharkov, bị thương”, một người viết. “Tôi đã bảo vệ tổ quốc yêu dấu, bất chấp mạng sống của mình. Tôi cũng từng bị kết án vì làm việc kém cỏi, nhưng Đảng yêu dấu của chúng ta đã cho tôi cơ hội để trả món nợ của tôi với xã hội thông qua việc giành thắng lợi ngoài chiến trường. Theo tính toán của tôi, tôi đã giết 53 tên phát xít bằng những viên đạn thép của mình”.

Một người khác viết để thể hiện lòng biết ơn của mình:

Trước tiên, tôi viết để cám ơn sự chân thành của trại trong việc tái giáo dục tôi. Trong quá khứ, tôi đã là một kẻ tái phạm, bị xem là nguy hiểm với xã hội, và do đó đã hơn một lần bị tống vào tù, nơi tôi đã học cách lao động. Giờ đây, Hồng quân thậm chí đã đặt nhiều niềm tin hơn với tôi, đã dạy tôi trở thành một chỉ huy giỏi, và tin tưởng tôi cùng các bạn chiến đấu khác. Cùng với họ, tôi dũng cảm đi vào trận đánh, họ tôn trọng tôi vì sự quan tâm của tôi đối với họ, và vì sự chính xác mà chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ quân sự được giao.

Thỉnh thoảng, các sĩ quan cũng viết thư gửi những chỉ huy trại. “Trong khi đột kích Chernigov, đồng chí Kolesnichenko đã chỉ huy một đại đội”, một đại úy viết. “Người cựu tù đã trưởng thành trở thành một chỉ huy quân sự có văn hóa và kiên định”.

Với ngoại lệ của năm cựu zek trở thành Anh hùng Liên bang Xô viết, được nhận phần thưởng quân sự cao nhất trong Hồng quân, không có lưu trữ riêng nào cho biết có bao nhiêu cựu tù khác được nhận huân chương. Nhưng hồ sơ của hơn 1.000 zek có viết thư về cho trại mình cho ta thấy rất nhiều: 85 người đã trở thành sĩ quan, 34 được kết nạp vào Đảng Cộng sản, và 261 người được tặng huân chương.[139]

Trong khi điều này có lẽ không phải là ví dụ điển hình về các cựu tù, ta cũng không có lý do gì để nghĩ nó là quá bất thường. Chiến tranh đã tạo ra một làn sóng yêu nước dọc khắp đất nước Liên Xô, và những cựu tù đã được cho phép tham gia làn sóng đó.[140]

Điều có lẽ đáng ngạc nhiên hơn thế là những tù còn đang phải chịu án trong trại đôi khi cũng bùng lên tình cảm yêu nước. Thậm chí các quy định mới khắc nghiệt hơn và việc cắt giảm thực phẩm cũng không biến tất cả zek của Gulag thành đám chống đối quyết liệt chế độ Xôviết. Trái lại, nhiều người sau này viết rằng điều tồi tệ nhất khi ở trong một trại tập trung vào tháng 6/1941 là không thể đi ra mặt trận và chiến đấu. Chiến tranh đang hồi dữ dội, các đồng chí của họ đang chiến đấu – còn họ phải ở lại sâu trong hậu phương, lòng sục sôi yêu nước. Họ thường gọi tất cả đám tù người Đức là đồ phát xít, sỉ nhục cánh lính gác sao không ra mặt trận, và liên tục rỉ tai nhau các tin đồn và chuyện ngồi lê đôi mách về chiến tranh. Như lời Evgeniya Ginzburg nhớ lại, “Giờ đây chúng tôi sẵn sàng tha thứ và quên đi những gì cả nước đang phải chịu đựng, sẵn sàng xóa sạch những điều bất công đã phải gánh chịu…”[141]

Ở một vài trường hợp, tù trong những trại gần chiến tuyến có cơ hội để biến lòng yêu nước của mình thành hành động cụ thể. Trong một báo cáo mà ông dự định để đóng góp vào lịch sử của Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, Pokrovsky, một cựu nhân viên của Soroklag, một trại ở Cộng hòa Karelia gần biên giới Phần Lan, đã mô tả một sự việc diễn ra trong chuyến sơ tán vội vã của trại:

Đoàn xe tăng tiến lại ngày càng gần, tình thế trở nên nguy kịch, và một người tù… nhảy vào buồng lái của chiếc xe tải và phóng nhanh hết mức về phía chiếc xe tăng. Đâm sầm vào xe tăng, người tù anh hùng đã hy sinh cùng chiếc xe tải – nhưng chiếc xe tăng cũng dừng lại và bốc cháy. Con đường đã bị chặn, những xe tăng khác quay đầu về hướng ngược lại. Điều này đã cứu vãn được tình thế, khiến chp phép sơ tán được phần còn lại của tiểu khu.

Pokrovsky cũng mô tả việc một nhóm hơn 600 tù tự do, kẹt lại trong trại vì thiếu tàu hỏa, đã tình nguyện tham gia xây dựng tuyến phòng ngự của thành phố Belomorsk:

Tất cả bọn họ đều đồng thanh tán thành và lập tức tự lập thành các đội lao động, chọn ra đội trưởng và đốc công. Nhóm tù tự do này đã làm việc trên tuyến phòng ngự suốt hơn một tuần lễ với sự hăng hái hiếm có, suốt từ mờ sáng cho đến khi trời tối, 13-14 tiếng mỗi ngày. Điều đòi hỏi duy nhất của họ để đáp lại là có người để diễn thuyết chính trị với họ và cung cấp cho họ thông tin về tình hình ngoài mặt trận. Tôi đã tận tình hoàn thành nhiệm vụ này.[142]

Tuyên truyền trong trại khuyến khích lòng yêu nước kiểu như vậy, và nhìn chung ngày càng mạnh mẽ hơn theo tiến trình của chiến tranh. Cũng như ở khắp nơi tại Liên Xô, có các chiến dịch áp phích tuyên truyền, chiếu phim về chiến tranh và diễn thuyết. Tù được cho hay “chúng ta giờ đây phải làm việc nhiệt tình hơn, do mỗi gram vàng chúng ta đào được sẽ là một cú đấm chống lại bọn phát xít”.[143] Tất nhiên, không thể biết được kiểu tuyên truyền này có hiệu quả ra sao, giống như không thể biết được loại tuyên truyền nào là luôn có tác dụng. Nhưng ban quản lý Gulag có lẽ đã tiếp nhận điều này nghiêm túc hơn kể từ khi năng suất của Gulag đột nhiên trở thành sống còn đối với nỗ lực quốc phòng của Liên Xô. Trong cuốn cẩm nang của mình về việc tái giáo dục, cuốn “Quay về với cuộc đời”, viên sĩ quan KVCh Loginov đã viết rằng khẩu hiệu “Tất cả cho Tiền tuyến, tất cả cho Chiến thắng” nhận được một “phản hồi ấm áp” từ tâm can của những ai đang lao động phía sau chiến tuyến trong các trại của Gulag: “Những người tù, tạm thời đang bị cách ly khỏi xã hội, đã nhân đôi nhân ba nhịp độ lao động của mình. Làm việc quên mình trong nhà máy, trên công trường xây dựng, giữa rừng rậm hay trên cánh đồng, họ đóng góp tất cả lao động năng suất cao của mình vào việc đẩy nhanh quá trình đánh bại kẻ thù ngoài mặt trận”.[144]

Không còn nghi ngờ gì, Gulag đã có đóng góp công nghiệp cho nỗ lực quốc phòng. Trong mười tám tháng đầu của chiến tranh, ba mươi lăm “tiểu khu” Gulag đã chuyển sang sản xuất đạn dược. Rất nhiều trại đốn gỗ đã nhận công tác sản xuất thùng gỗ chứa đạn. Ít nhất hai mươi trại đã may quân phục cho Hồng quân, trong khi những trại khác sản xuất dây điện thoại dã chiến, hơn 1,7 triệu mặt nạ phòng độc và 24.000 giá chân súng cối. Hơn một triệu tù được nhận công tác xây dựng tuyến đường sắt, đường bộ và sân bay. Bất cứ khi nào xuất hiện một nhu cầu đột ngột, khẩn cấp cần có công nhân xây dựng – khi phải lắp đặt một đường ống hay một tuyến đường ray mới cần được xây dựng – Gulag luôn luôn được gọi đến để làm. Giống như trong quá khứ, Dalstroi gần như sản xuất ra toàn bộ sản lượng vàng của Liên Xô.[145]

Nhưng, giống như trong thời bình, các số liệu trên và mức độ hiệu quả mà nó đem lại dễ làm ta lầm lẫn. “Ngay từ những ngày đầu của chiến tranh, Gulag đã tổ chức nền công nghiệp của mình sao cho đáp ứng được nhu cầu của những ai đang chiến đấu ngoài mặt trận”, Nasedkin viết. Nhưng những nhu cầu đó có thể được dáp ứng tốt hơn bởi các công nhân tự do hay không? Ở một chỗ khác, ông này đã ghi nhận rằng sản lượng của một số loại đạn dược cụ thể đã được tăng gấp bốn. Bao nhiêu đạn dược có thể được sản xuất nhiều hơn nếu các tù nhân yêu nước đó được phép làm việc trong những nhà máy bình thường? Hàng ngàn binh lính đáng lẽ có thể ở ngoài mặt trận lại bị giữ lại phía sau hậu phương, canh gác lực lượng lao động tù nhân. Hàng ngàn nhân viên NKVD được bố trí để bắt bớ và sau đó là thả đám người Ba Lan. Lẽ ra họ cũng có thể được sử dụng hợp lý hơn. Do đó Gulag đã có đóng góp cho nỗ lực quốc phòng – và có lẽ cũng đã khiến làm cho nó hao tổn.

Ngoài tướng Gorbatov và một vài quân nhân khác, có một ngoại lệ khác đông hơn nhiều đối với quy định chung về việc không ân xá tù chính trị. Mặc cho NKVD đã nói với họ thế nào, việc đày những người Ba Lan tới vùng biên viễn của Liên Xô cuối cùng không phải là chuyện vĩnh viễn. Ngày 30/7/1941, một tháng sau khi chiến dịch Barbarossa bắt đầu, tướng Sikorski, lãnh đạo của chính phủ lưu vong Ba Lan ở London, và đại sứ Maisky, đại diện ngoại giao của Liên Xô ở Anh, đã ký với nhau một thoả thuận. Hiệp ước Sikorski-Maisky, như cách người ta gọi, đã tái lập một quốc gia Ba Lan – đường biên giới của nó vẫn còn cần được xem xét – và ban một lệnh ân xá đến “tất cả các công dân Ba Lan hiện thời đang bị tước mất tự do trên lãnh thổ Liên Xô”.

Cả tù Gulag và người lưu đày đều chính thức được thả, và được phép gia nhập một sư đoàn mới của quân đội Ba Lan, thành lập trên đất Liên Xô. Tại Moscow, tướng Władysław Anders, một sĩ quan Ba Lan bị giam ở Lubyanka từ hai mươi tháng trời nay, đã biết mình được phong làm tư lệnh một quân đội mới qua một cuộc họp đầy bất ngờ với đích thân Beria. Sau cuộc họp, tướng Anders rời nhà tù trên một xe con NKVD có tài xế lái, trên người mặc đủ áo và quần nhưng không có giày.[146]

Về phía Ba Lan, nhiều người phản đối việc Liên Xô dùng từ “ân xá” để mô tả việc thả những con người vô tội, nhưng đây không phải là thời điểm để lý sự: mối quan hệ giữa hai “đồng minh” mới mẻ này vẫn còn quá yếu ớt. Chính quyền Liên Xô từ chối gánh chịu bất cứ trách nhiệm đạo đức nào đối với các “chiến sĩ” của quân đội mới – tất cả bọn họ đều trong tình trạng sức khoẻ tồi tệ kinh khủng – và sẽ không cung cấp cho tướng Anders chút thực phẩm hay trang bị nào. “Các anh là người Ba Lan – vậy hãy để đất nước Ba Lan nuôi các anh”, những sĩ quan của đội quân này được cho biết như vậy.[147] Một số chỉ huy trại thậm chí còn hoàn toàn từ chối thả tù người Ba Lan. Gustav Herling, vẫn còn bị tù vào tháng 11/1941, nhận thấy rằng mình sẽ “không thể sống sót cho đến mùa xuân” nếu ông không được thả, và đã phải thực hiện một cuộc tuyệt thực trước khi cuối cùng ông được thả.[148]

Chính quyền Xôviết làm phức tạp hơn vấn đề bằng cách tuyên bố, vài tháng trước khi thực hiện ân xá, rằng điều khoản của nó áp dụng không phải cho toàn bộ các cựu công dân Ba Lan, mà chỉ cho những người thuộc dân tộc Ba Lan: những người thuộc dân tộc Ukraina, Belorussia và Do Thái phải ở lại đất nước Liên Xô. Hậu quả là làm bùng lên những căng thẳng khủng khiếp. Nhiều người dân tộc thiểu số tìm cách lọt qua giả làm người Ba Lan, cuối cùng bị những người Ba Lan chính cống phát hiện ra vì sợ bản thân bị bắt lại nếu gốc gác của các đồng đội “giả tạo” của mình bị phát hiện. Sau này, những hành khách trên một chuyến tàu sơ tán người Ba Lan hướng về phía Iran còn tìm cách đẩy ra một nhóm người Do Thái: họ sợ rằng đoàn tàu sẽ không được phép ra khỏi Liên Xô vì đám hành khách “không phải Ba Lan”.[149]

Những tù người Ba Lan khác được thả từ trại hay từ chốn lưu đày, nhưng không được cấp chút tiền bạc nào hay được cho biết phải đi tới đâu. Một cựu tù nhớ lại rằng “Chính quyền Xôviết ở Omsk không muốn giúp đỡ chúng tôi, họ giải thích rằng họ không có thông tin gì về bất cứ đội quân Ba Lan nào, và thay vào đó đề nghị chúng tôi tìm việc làm ở gần Omsk”.[150] Một sĩ quan NKVD đưa cho Gustav-Herling một danh sách những nơi ông có thể xin được giấy phép cư trú, nhưng phủ nhận tất cả thông tin về một đội quân Ba Lan.[151] Nghe theo tin đồn, đám tù Ba Lan được thả đi nhờ xe và bám trên tàu hoả lang thang khắp Liên Xô, tìm kiếm nơi có đội quân Ba Lan.

Gia đình của Stefan Waydenfeld, đi đày tới miền bắc nước Nga, đã hoàn toàn không được cho biết về sự tồn tại của đội quân Ba Lan hay được cung cấp bất cứ phương tiện di chuyển nào: đơn giản là họ được cho hay họ có thể rời khỏi đấy. Để đi xa khỏi ngôi làng lưu đày chốn khỉ ho cò gáy của mình, họ đã ghép một chiếc bè và trôi xuôi theo con sông của vùng đến một nơi “văn minh” – một thị trấn có nhà ga đường sắt. Nhiều tháng sau, rốt cuộc họ thoát khỏi hành trình lang thang khi, tại một quán cà phê ở thị trấn Chimkent miền nam Kazakhstan, Stefan nhận ra một người bạn học cùng trường hồi ở Ba Lan. Cuối cùng cô này cho họ hay nơi có thể tìm thấy đội quân Ba Lan.[152]

Tuy nhiên, đám cựu zek và bầy vợ con lưu đày của họ đã dần dần tìm đường đến được Kuibyshev, nơi đóng căn cứ của đội quân Ba Lan, và tới các cứ điểm khác của đội quân này khắp nơi trên đất nước. Khi tới nơi, nhiều người bị tràn ngập bởi cảm giác tìm thấy lại “Ba Lan”, như Kazimierz Zarod viết: “Tất cả vây quanh chúng tôi theo mọi hướng, ôi những bài diễn thuyết Ba Lan, những khuôn mặt Ba Lan thân thuộc! Bản thân tôi gặp lại nhiều người quen cũ, có biết bao cảnh hân hoan và mừng rỡ khi đàn ông phụ nữ chúc mừng nhau bằng những cái ôm ghì và hôn hít”.[153] Vào hôm mà tướng Anders tới đây, một cựu zek, Janusz Wedów, đã sáng tác một bài thơ tựa đề “Đón chào vị lãnh tụ”:

Aa, con tim ta! Ngươi lại đập thật mạnh mẽ, thật hạnh phúc

Ta đã nghĩ ngươi khô cứng, đã chết héo trong ngực ta…[154]

Tuy nhiên, trong vòng vài tháng, sự lạc quan đã tan biến. Đội quân thiếu lương thực, thuốc men, trang thiết bị – mọi thứ. Binh lính của nó hầu hết là những người bệnh tật, kiệt sức, đói khát, cần có những giúp đỡ chuyên nghiệp và chăm sóc y tế. Một sĩ quan nhớ lại nỗi khiếp hãi ông cảm thấy khi nhận ra rằng “Một cơn thuỷ triều người khổng lồ đã rời khỏi nơi những nơi họ vốn bị đi đày hay bị trục xuất… giờ đây đang trôi ngược về những tỉnh đói khát của Uzbekistan, dâng lên quanh một tổ chức quân đội mà bản thân nó cũng thiếu ăn và thiệt hại nhiều vì bệnh tật”.[155]

Hơn nữa, các mối quan hệ với chính quyền Xôviết vẫn còn rất nghèo nàn. Những nhân viên của Toà Đại sứ Ba Lan, đóng ở khắp đất nước, vẫn còn bị bắt giam không được giải thích. Sợ rằng tình thế sẽ trở nên tệ hơn, tướng Anders thay đổi kế hoạch của mình vào tháng 3/1942. Thay vì cho đội quân của mình hành quân về phía tây, tiến về phía chiến trường, ông đã đạt được sự đồng ý cho sơ tán binh lính của mình hoàn toàn ra khỏi Liên Xô. Đó là một chiến dịch khổng lồ: 74.000 lính Ba Lan cùng 41.000 dân thường khác, bao gồm nhiều trẻ em, đã được đưa lên tàu hoả và chở tới Iran.

 Trong khi vội vã lên đường, tướng Anders đã để lại đằng sau hàng ngàn người Ba Lan khác, cùng với các cựu đồng hương Do Thái, Ukraina và Belorussia của mình. Một số cuối cùng đã gia nhập sư đoàn Kościuszko, một sư đoàn Ba Lan thuộc Hồng quân. Nhiều người khác phải chờ đến khi chiến tranh kế thúc mới được hồi hương. Nhưng vẫn còn những người khác nữa không bao giờ có thể trở về. Cho đến ngày nay, một số hậu duệ của họ vẫn còn sống trong các cộng đồng thiểu số Ba Lan tại Kazakhstan và miền bắc nước Nga.

Những ai ra đi tiếp tục tham gia chiến đấu. Sau khi hồi phục tại Iran, đội quân của Anders đã nhập được vào lực lượng Đồng minh ở Châu Âu. Di chuyển băng qua Palestine – và trong một số trường hợp đi qua Nam Phi – họ sau đó tham gia chiến đấu để giải phóng nước Ý trong trận Montecassino. Trong khi chiến tranh tiếp diễn, dân thường Ba Lan được chở đi tới nhiều nơi khác nhau thuộc Đế quốc Anh. Trẻ em Ba Lan có mặt trong những trại mồ côi ở Ấn Độ, Palestine, thậm chí cả Đông Phi. Hầu hết sẽ không bao giờ quay về Ba Lan bị Liên Xô chiếm đóng thời hậu chiến. Các câu lạc bộ Ba Lan, hội sử học Ba Lan và nhà hàng Ba Lan vẫn còn xuất hiện tại tây London như một bằng chứng cho cuộc lưu đày thời hậu chiến của họ.[156]

Sau khi họ rời Liên Xô, những người Ba Lan đi đày đã thực hiện một mảng dịch vụ vô giá cho đám cựu bạn tù kém may mắn hơn của họ. Tại Iran và Palestine, quân đội và chính phủ lưu vong Ba Lan đã tiến hành nhiều khảo sát trong số binh lính và gia đình của họ nhằm xác định chính xác chuyện gì đã xảy ra đối với những người Ba Lan bị đi đày tới Liên Xô. Do cuộc sơ tán Anders là nhóm tù quy mô lớn duy nhất được phép rời Liên Xô, số liệu thu nhặt được từ những bản câu hỏi và một công tác có thể xem là cuộc điều tra lịch sử chớp nhoáng đã trở thành bằng chứng thực tế duy nhất về sự tồn tại của Gulag trong suốt nửa thế kỷ. Và, trong giới hạn nào đó, các số liệu này chính xác đến ngạc nhiên: mặc dù không thực sự biết về lịch sử của Gulag, đám tù Ba Lan đã tìm cách khảo sát được quy mô choáng người của hệ thống trại và sự trải rộng về địa lý của nó – tất cả những gì họ phải làm là liệt kê các địa điểm khác nhau mà họ từng bị đưa tới – và điều kiện sống kinh khủng của thời chiến.

Sau chiến tranh, những mô tả của người Ba Lan về kinh nghiệm của mình đã lập thành nền tảng cho các báo cáo về trại lao động cưỡng bức của Liên Xô do Thư viện Quốc hội và Liên đoàn Lao động Mỹ lập. Các đánh giá thẳng thắn của họ về hệ thống lao động nô lệ của Liên Xô đã khiến nhiều người Mỹ choáng váng, những người mà sự nhận thức về hệ thống trại đã mờ nhạt nhiều kể từ ngày có cuộc tẩy chay gỗ xuất khẩu của Liên Xô trong thập niên 1920. Các báo cáo này được lưu hành rộng rãi, và vào năm 1949, trong một cố gắng thuyết phục Liên Hiệp Quốc điều tra thực tế về lao động cưỡng bức tại các nước thành viên của mình, Liên đoàn Lao động Mỹ AFL đã giới thiệu với Liên Hiệp Quốc một tập bằng chứng dầy cộp về sự tồn tại của nó ở Liên Xô:

Chưa đầy bốn năm trước các công nhân trên thế giới đã giành được chiến thắng đầu tiên của mình, chiến thắng chống lại chủ nghĩa độc tài Quốc xã, sau một cuộc chiến tranh gây nên những hy sinh mất mát lớn nhất từ trước đến nay – chống lại chính sách nô lệ của bọn Quốc xã đối với tất cả các dân tộc của những nước mà chúng xâm lược…

Tuy nhiên, mặc dù có chiến thắng của phe Đồng minh, thế giới vẫn xáo trộn với mức độ rất phức tạp vì các thông tin dường như đã chỉ ra rằng cái xấu xa mà chúng ta từng chiến đấu để xóa bỏ, và để đánh bại nó đã có biết bao người ngã xuống, hiện vẫn còn lan tràn tại nhiều nơi trên thế giới…

Chiến tranh Lạnh, lúc này đã được ba năm tuổi, đang tới hồi sục sôi.

Cuộc sống bên trong hệ thống trại thường phản ánh và ngân vang cuộc sống rộng khắp hơn trên toàn Liên Xô – và điều này chưa khi nào chân thực hơn những năm cuối cùng của Thế Chiến thứ II. Khi nước Đức dần tan rã, suy nghĩ của Stalin quay về một sự dàn xếp thời hậu chiến. Kế hoạch của ông là hướng Trung Âu vào một không gian chịu ảnh hưởng chặt chẽ của Liên Xô. Không phải là ngẫu nhiên, NKVD cũng bước sang giai đoạn có thể được mô tả là sự mở rộng của chính nó, giai đoạn “bành trướng quốc tế”. “Cuộc chiến này không giống như trong quá khứ”, Stalin nhấn mạnh trong một cuộc bàn luận với Tito, được Đảng viên Đảng cộng sản Nam Tư Milovan Djilas ghi lại. “Bất cứ ai chiếm giữ một vùng lãnh thổ đều áp đặt lên nó hệ thống xã hội của chính mình. Mọi nước đều áp đặt hệ thống xã hội của chính mình tới bất cứ nơi nào mà quân đội của nó đặt chân đến”.[157] Các trại tập trung là một phần cơ bản của “hệ thống xã hội” Xôviết, và khi chiến tranh tiến dần tới hồi kết, công an mật Xôviết bắt đầu xuất khẩu các phương pháp và nhân viên của mình tới phần Châu Âu bị Liên Xô chiếm đóng, dạy cho đám khách hàng nước ngoài mới mẻ của mình những chế độ và phương pháp của trại mà giờ đây đã được hoàn thiện tại quê nhà.

Trong số các trại đã tạo nên cái mà sau này trở thành “khối Xô viết” tại Đông Âu, những trại dựng tại Đông Đức có lẽ là tàn bạo nhất. Khi Hồng quân hành quân qua nước Đức năm 1945, Ban Quân quản Liên Xô lập tức bắt tay vào xây dựng chúng, và cuối cùng đã tạo ra tất thảy mười một trại tập trung “đặc biệt” – spetslagerya. Hai trong số đó, Sachsenhausen và Buchenwald, được đặt tại vị trí của các trại tập trung Quốc xã trước đây. Tất cả chúng đều nằm dưới sự điều hành trực tiếp của NKVD, vốn tổ chức và quản lý chúng cùng với cách thức mà nó quản lý các trại Gulag tại quê nhà, với những định mức sản lượng, khẩu phần tối thiểu và lán trại chen chúc chật chội. Trong những năm hậu chiến bị nạn đói tàn phá, các trại Đức này dường như gây chết chóc còn hơn cả các đồng nghiệp Liên Xô của chúng. Gần 240.000 người hầu hết là tù chính trị đã trải qua chúng trong vòng năm năm mà chúng tồn tại. Trong số đó, 95.000 người – hơn một phần ba – được cho là đã chết. Nếu cuộc sống của tù Liên Xô chưa bao giờ là đặc biệt quan trọng đối với chiến quyền Xôviết, cuộc sống của bọn “phát xít” Đức thậm chí còn thấp kém hơn nhiều.

Đối với phần lớn, tù trong các trại Đông Đức không phải là bọn Quốc xã cao cấp hay lũ tội phạm chiến tranh đã được xác minh. Loại tù đó luôn bị đưa về Moscow để hỏi cung và chuyển trực tiếp vào các trại tù binh chiến tranh của Liên Xô hay vào Gulag. Các spetslagerya thay vào đó được nhắm tới nhiệm vụ giống như các cuộc lưu đày người Ba Lan và Baltic: chúng được thiết kế để bẻ gãy xương sống của bọn tư bản Đức. Kết quả là, chúng không chứa đám lãnh đạo Quốc xã hay tội phạm chiến tranh, mà là các thẩm phán, luật sư, doanh nhân, thầu khoán, bác sĩ và nhà báo. Trong số họ thậm chí có một số trong số rất ít đối thủ người Đức của Hitler, những người mà Liên Xô – thật ngược đời – cũng rất sợ. Rốt cuộc, bất cứ ai dám chống lại bọn Quốc xã đều cũng có thể dám chống lại Hồng quân.[158]

NKVD giam giữ một loại người tương tự tại các trại tù ở Hungary và Tiệp Khắc, dựng lên bởi đám công an mật địa phương theo lời cố vấn của phía Liên Xô, sau khi Đảng Cộng sản củng cố được quyền lực tại Prague năm 1948 và tại Budapest năm 1949. Bắt bớ được tiến hành với cách thức được mô tả như là một “biếm họa” về cách lập luận Xôviết: một nhà khí tượng học Hungary bị bắt sau khi thông báo “một dòng khí lạnh đang đến theo hướng đông bắc, từ phía Liên Xô” vào cái ngày mà một sư đoàn Liên Xô tiến vào Hungary; một doanh nhân người Tiệp bị tống vào trại sau khi bị hàng xóm tố cáo là dám ám chỉ đến “gã Stalin đần ngốc”.[159]

Nhưng bản thân các trại thì không biếm họa chút nào. Trong hồi ký của mình về Reczk, tổ hợp trại tai tiếng nhất Hungary, nhà thơ người Hungary Gyorgy Faludy đã phác họa chân dung của một hệ thống có vẻ gần như là một bản sao chính xác của Gulag, từ cách trốn việc tufta cho đến việc đám tù đói khát người Hungary đi lần tìm quả dâu dại và nấm trong rừng.[160] Hệ thống ở Tiệp cũng có một nét đặc biệt: một chuỗi mười tám lagpunkt, gom lại xung quanh các mỏ uranium vùng Yachimov. Khi nhìn lại, rõ ràng là tù chính trị chịu án dài hạn – tương đương với tù katorga Liên Xô – bị gửi đến những trại khai mỏ đó chỉ có toi mạng. Mặc dù làm công việc khai thác uranium cho dự án bom nguyên tử mới của Liên Xô, họ không được cấp trang phục đặc biệt hay bất kỳ hình thức bảo vệ nào. Tỷ lệ tử vong được biết là khá cao – dù chính xác cao đến đâu thì vẫn còn chưa rõ.[161]

Tại Ba Lan, tình hình còn phức tạp hơn. Vào cuối chiến tranh, một tỷ lệ đáng kể dân Ba Lan lúc ấy phải sống trong một trại đủ loại, hoặc là trại người bị đưa ra nước ngoài (người Do Thái và Ukraina, các cựu lao động nô lệ của Quốc xã), hoặc là trại giam người (người Đức và dân Volksdeutsch, tức người Ba Lan đã tuyên bố có tổ tiên người Đức) hay một trại tù. Hồng quân dựng một vài trại tù binh chiến tranh của họ tại Ba Lan, tống vào đấy không chỉ tù binh Đức mà cả các thành viên của Đội quân Quê hương Ba Lan đang trên đường đi đày tới Liên Xô. Năm 1954, có 84.200 tù chính trị vẫn còn bị giam cầm tại Ba Lan.[162]

Cũng có các trại ở Romania, ở Bulgaria và – mặc cho có tiếng là “chống Liên Xô” – cả ở nước Nam Tư của Tito. Giống như những trại ở Trung Âu, những trại vùng Balkan này bắt đầu bằng việc sao chép Gulag, nhưng theo thời gian chúng dần trở nên khác biệt. Hầu hết do công an địa phương lập nên, với sự cố vấn và hướng dẫn của Liên Xô theo vài cách nào đó. Cơ quan công an mật Romania, Securitate, dường như làm việc theo các mệnh lệnh trực tiếp của những đồng nghiệp Xôviết. Có lẽ vì lý do đó, các trại Romania hầu hết đều vô cùng giống Gulag, thậm chí cả ở mức độ họ thực hiện những dự án bất hợp lý và quá tham vọng theo cái kiểu mà chính Stalin ưa thích tại Liên Xô. Nổi tiếng nhất trong số đó, Kênh đào Đanuýp-Biển Đen, hoá ra hoàn toàn không phục vụ cho bất kỳ mục tiêu kinh tế nào. Cho tới ngày nay, mọi khúc của nó đều vắng vẻ hệt như con Kênh đào Bạch Hải mà nó giống một cách kỳ quái. Một khẩu hiệu tuyên truyền tuyên bố rằng “Kênh đào Đanuýp-Biển Đen là mồ chôn bọn tư bản Romania!” Vì điều này 200.000 người có lẽ đã chết khi xây dựng nó, có lẽ đó mới đúng là mục đích thực sự của con kênh.[163]

Các trại Bulgaria và Nam Tư lại có một đặc tính khác hẳn. Công an Bulgaria hoá ra ít quan tâm tới việc hoàn thành kế hoạch hơn và quan tâm nhiều hơn tới việc trừng phạt tù. Một nữ diễn viên Bulgaria từng trải qua một trong những trại như vậy sau này đã mô tả việc bị đánh gần chết khi gục xuống vì nóng:

Chúng phủ giẻ rách lên người tôi rồi bỏ tôi một mình. Ngày hôm sau mọi người đều đi làm, trong khi tôi bị khoá nhốt cả ngày mà không có thức ăn, nước uống hay thuốc men. Tôi cũng quá yếu không dậy nổi, do các vết bầm và do tất cả những gì mình phải chịu đựng cả ngày hôm qua. Tôi bị đánh gần chết. Tôi ngất đi suốt mười bốn tiếng đồng hồ và chỉ sống sót nhờ một phép màu.[164]

Bà cũng chứng kiến cảnh một người cha và con trai bị đánh đến chết trước mặt nhau, chỉ để thoả mãn khoái cảm ác dâm của lũ tham gia đánh đập. Những người sống sót khác của các trại Bulgaria kể mình bị hành hạ bằng cái nóng, cái lạnh, cái đói và ngược đãi thể xác.[165] Vị trí của những trại gần phía nam hơn cũng đem lại các hình thức khốn khổ khác: trong số những trại Nam Tư nổi tiếng nhất, có một trại xây trên hòn đảo Saint-Gregoire vùng Adriatic, nơi nước ngọt rất hiếm và sự hành hạ chủ yếu chính là cái khát.[166]

Không giống như Gulag, phần lớn những trại đó không tồn tại lâu, và nhiều trại đã đóng cửa thậm chí trước cả khi Stalin chết. Spetslagerya Đông Đức thực tế bị giải tán năm 1950, chủ yếu bởi chúng góp phần vào sự thiếu tính quần chúng sâu sắc của Đảng Cộng sản Đông Đức. Để cải thiện hình ảnh của chế độ mới – và để ngăn ngừa có thêm nhiều người Đức bỏ trốn sang phía Tây, vốn vẫn là điều có thể thực hiện được – công an mật Đông Đức đích thực là đã chăm sóc tù lấy lại sức khoẻ trước khi thả họ, và cấp cho họ quần áo mới. Không phải tất cả đều được thả: những ai bị cho là thành phần chống đối chính trị quan trọng nhất đối với chế độ mới, giống như đám người Ba Lan trong thời kỳ này, đều bị trục xuất sang Liên Xô. Thành viên các đội chôn cất trong spetslagerya cũng bị trục xuất. Nếu không, họ có thể sẽ tiết lộ về sự tồn tại của các ngôi mộ tập thể trong trại, vốn sẽ không bị xác định và khai quật mãi cho đến thập niên 1990.[167]

Các trại ở Tiệp cũng không tồn tại lâu: chúng đạt tới đỉnh điểm vào năm 1949, sau đó bắt đầu bị co lại trước khi hoàn toàn biến mất. Lãnh tụ Hungary Imre Nagy xoá sổ các trại trên đất nước mình ngay lập tức vào tháng 7/1953, sau khi Stalin chết. Ngược lại, những người cộng sản Bulgaria đã duy trì nhiều trại lao động khổ sai đến tận thập kỷ 1970, rất lâu sau khi toàn bộ hệ thống trại Liên Xô đã bị giải thể. Lovech, một trong những trại tàn bạo nhất của hệ thống Bulgaria, đã hoạt động từ năm 1959 đến tận 1962.[168]

Có lẽ không hề mong đợi, nơi chính sách xuất khẩu Gulag có ảnh hưởng lâu dài nhất là tại bên ngoài Châu Âu. Đầu thập niên 1950, vào cao điểm của thời kỳ Trung-Xô hữu hảo, các “chuyên gia” Xôviết đã giúp thành lập nhiều trại Trung Quốc, đồng thời tổ chức những đội lao động cưỡng bức tại một mỏ than gần Fushun. Các trại ở Trung Quốc – laogai – vẫn còn tồn tại, mặc dù chúng có ít điểm giống với những trại Stalinist mà chúng vốn được lập ra để cùng ganh đua. Chúng vẫn là những trại lao động – và một bản án đi trại như vậy thường được nối tiếp bằng một thời gian đi đày, giống như theo hệ thống của Stalin – nhưng các chỉ huy trại có vẻ như ít bị ám ảnh bởi những định mức và kế hoạch sản xuất trung ương hơn. Thay vào đó, chúng tập trung vào một hình thức “tái giáo dục” cứng nhắc. Sự chuộc lỗi của tù và sự hạ nhục tù trước Đảng theo từng trình tự dường như được chính quyền quan tâm ngang bằng với, nếu không nói là nhiều hơn, các sản phẩm do tù làm ra được.[169]

Cuối cùng, chi tiết về đời sống hàng ngày trong trại tại các quốc gia vệ tinh và đồng minh của Liên Xô – chúng được sử dụng với mục đích gì, chúng tồn tại bao lâu, chúng đã trở nên cứng nhắc hay thiếu tổ chức như thế nào, chúng tàn bạo hay thoải mái ra sao – tất cả tuỳ thuộc vào từng quốc gia và nền văn hoá riêng của họ. Hoá ra, đã không có khó khăn gì cản trở các quốc gia khác thay đổi mô hình Liên Xô cho phù hợp nhu cầu của riêng họ. Hay có lẽ cần nói rằng vẫn không có khó khăn gì cản trở. Đoạn trích dưới đây, từ một tuyển tập xuất bản năm 1998, mô tả một kinh nghiệm gần đây hơn trong một trại tập trung, tại đất nước cộng sản cuối cùng còn lại trên lục địa Âu-Á:

Vào ngay ngày đầu tiên của tôi – khi mới chín tuổi – tôi đã phải nhận một định mức. Công việc đầu tiên tôi phải thực hiện là trèo lên núi và thu nhặt củi đốt để đem về chất đống tại trường. Tôi được bảo phải lặp lại việc đó mười lần. Mất hai hay ba tiếng đồng hồ cho một chuyến lên núi rồi đem một ôm củi về trường. Trừ phi ta hoàn tất công việc, còn thì ta chưa được về nhà. Tôi làm việc đến tận đêm, khi làm xong thì đã nửa đêm và tôi ngã vật ra đất. Tất nhiên, các đứa trẻ khác ở đây lâu hơn có thể làm nhanh hơn…

Các loại công việc khác bao gồm đãi vàng trong cát, sử dụng cái lưới vải màn nhúng xuống sông (đảo qua đảo lại trong dòng nước). Việc này dễ làm hơn, đôi khi ta gặp may và sớm đạt định mức, khi đó ta có thể chơi đùa đôi chút thay vì đi báo với thầy giáo là ta đã hoàn thành định mức…[170]

Nhà văn Chul Hwan Kong đã rời bỏ Bắc Triều Tiên năm 1992. Trước tiên ông phải trải qua mười năm cùng với toàn thể gia đình mình tại trại trừng giới Yodok. Một nhóm nhân quyền Seoul ước tính rằng khoảng 200.000 người Bắc Triều Tiên vẫn còn đang bị giữ trong các trại tù tương tự vì những “tội” như đọc báo nước ngoài, nghe đài nước ngoài, nói chuyện với người nước ngoài hay bất kỳ hình thức “xúc phạm chính quyền” đụng chạm đến giới lãnh đạo Bắc Triều Tiên. Khoảng 400.000 người được cho là đã chết khi bị cầm tù trong những trại như vậy.[171]

Các trại Bắc Triều Tiên cũng không giới hạn ở Bắc Triều Tiên. Năm 2001, tờ Moscow Times đã báo cáo rằng chính quyền Bắc Triều Tiên đang trả nợ cho nước Nga bằng cách gửi những đội lao động tới làm việc tại các trại khai mỏ và đốn gỗ canh gác cẩn mật rải khắp những vùng biệt lập ở Siberi. Các trại này – “một quốc gia trong lòng quốc gia” – có hệ thống phân phối thực phẩm nội bộ của riêng mình, các nhà tù nội bộ của riêng mình và lính gác của riêng mình. Khoảng 6.000 công nhân được cho là có liên quan tới chúng. Họ có được trả công hay không vẫn là điều chưa rõ – nhưng rõ ràng họ không được tự do bỏ đi nơi khác.[172]

Nói cách khác, không chỉ có ý tưởng về trại tập trung đạt đủ mức phổ quát để được xuất khẩu, mà cả khả năng bền bỉ của nó cũng đủ mức để tồn tại đến tận ngày hôm nay.

 

22 . Đỉnh điểm của Tổ hợp Trại-Công nghiệp

 

Tuổi mười bảy – ta mê say học tập,

Tuổi hai mươi – ta học cách hy sinh.

Để biết rằng nếu ta được phép sống,

Thế nghĩa là chẳng có gì xảy ra, vậy thôi.

Tuổi hai lăm – ta học cách đổi chác

Đổi đời mình lấy cá muối, củi hay khoai tây…

Vậy ta còn lại gì tuổi bốn mươi?

Đã lật qua bao trang của đời mình

Có lẽ ta học được đời thật ngắn –

Nhưng điều này, ta đã biết lúc đôi mươi…

– Mikhail Frolovsky, “Thế hệ của tôi”[173]

Trong khi đó, năm 1949, anh em song sinh với năm 1937, đang quét qua quê hương chúng ta, qua toàn thể Đông Âu, và, trên hết tất cả, qua những nhà tù và chốn lưu đày…

– Evgeniya Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy[174]

 

Cùng với việc chiến tranh kết thúc là các cuộc diễu binh mừng chiến thắng, những cuộc đoàn tụ lệ tuôn rơi – và sự tin tưởng đang lan rộng rằng cuộc sống sẽ, và đáng phải như thế, trở nên dễ thở hơn. Hàng triệu đàn ông và phụ nữ đã phải chịu đựng cảnh thiếu thốn khủng khiếp để giành lấy chiến thắng. Giờ đây họ muốn có cuộc sống nhẹ nhàng hơn. Tại vùng thôn quê, tin đồn về việc sắp huỷ bỏ các nông trang tập thể lan đi thật nhanh. Tại thành thị, mọi người công khai than phiền về giá cả quá cao áp dụng với các loại thực phẩm trong sổ khẩu phần. Chiến tranh cũng đã hé mở với hàng triệu công dân Xôviết, cả lính tráng lẫn người lao động nô dịch, sự xa hoa thực thụ của đời sống tại phương Tây, và chế độ Xôviết không còn có thể khéo léo tuyên bố, như nó đã từng làm trước đây, rằng người lao động phương Tây nghèo khổ hơn rất nhiều so với các đồng sự Xôviết.[175]

Thậm chí nhiều người đang nắm quyền lực giờ đây cũng cảm thấy đã đến lúc chuyển hướng nền sản xuất Liên Xô rời xa khỏi công nghiệp vũ khí, quay sang sản xuất hàng hoá tiêu dùng mà nhân dân đang hết sức cần thiết. Trong một cuộc nói chuyện điện thoại riêng tư, được thu băng và ghi lại cho hậu thế bởi công an mật, một vị tướng Liên Xô đã nói với người đối thoại rằng “Mọi người nói rất công khai toàn về chuyện họ không hài lòng với cuộc sống. Trên tàu hoả, thực tế là ở khắp mọi nơi, đó là điều mọi người đang nói tới”.[176] Chắc hẳn, vị tướng đoán biết được là Stalin hiển nhiên cũng biết chuyện này và sẽ mau chóng phải ra tay hành động.

Vào mùa xuân năm 1945, hy vọng cũng dâng cao trong các tù nhân. Tháng Giêng năm đó, chính quyền đã công bố một đợt tổng ân xá mới cho phụ nữ có thai hay có con nhỏ, và một số lượng lớn – chính xác là 734.785 người tính đến ngày 7/7 – đã được thả.[177] Các giới hạn trong thời chiến được nới lỏng, và tù lại được phép nhận thức ăn và quần áo người nhà gửi. Phần lớn không phải lòng trắc ẩn đã khiến người ta ra lệnh thực hiện các quy định mới ấy. Việc ân xá cho phụ nữ – dĩ nhiên ngoại trừ tù chính trị – không thể hiện một sự thay đổi nhân đạo, và đúng hơn là để phản ứng trước sự gia tăng kinh hồn số lượng trẻ không cha mẹ, và các hậu quả gây ra bởi lũ trẻ vô gia cư, nạn phá phách và các băng nhóm tội phạm trẻ em trên khắp đất nước Liên Xô: thật miễn cưỡng, chính quyền đã nhận ra rằng các bà mẹ là một phần của hướng giải quyết. Việc dỡ bỏ hạn chế gửi bưu phẩm cũng không phải vì nhân đạo, mà là một cố gắng để giảm bớt ảnh hưởng của nạn đói thời hậu chiến: các trại không đủ để nuôi ăn tù, vậy tại sao không để gia đình họ giúp đỡ. Một mệnh lệnh từ trung ương cứng rắn tuyên bố rằng “về vấn đề thực phẩm và quần áo cho tù nhân, bưu phẩm và phiếu chuyển tiền phải được xem là một hỗ trợ quan trọng”.[178] Tuy nhiên, đã có nhiều hy vọng được rút ra từ các sắc lệnh ấy, xem chúng như báo hiệu của một thời đại mới dễ thở hơn.

Sự việc đã không phải như vậy. Chỉ một năm sau chiến thắng, Chiến tranh Lạnh đã bắt đầu. Những quả bom nguyên tử người Mỹ thả xuống Hiroshima và Nagasaki đã khiến lãnh đạo Liên Xô tin rằng nền kinh tế Liên Xô phải toàn tâm toàn ý dành hết cho sản xuất quốc phòng và công nghiệp, không phải để làm ra tủ lạnh và giày dép trẻ em. Mặc cho sự tàn phá gây ra trong năm năm rưỡi chiến tranh, các kế hoạch gia Xôviết ngày càng cố gắng hơn trước để đi tắt đón đầu, để xây dựng nhanh hơn – và để sử dụng càng nhiều lao động cưỡng bức càng tốt.[179]

 Khi xảy ra, sự xuất hiện của mối đe dọa mới đối với Liên Xô phù hợp với mục tiêu của Stalin: nó chính là lý do khiến ông cần phải xiết chặt, thêm một lần nữa, sự kiểm soát của ông đối với nhân dân của chính ông, đang phải chịu sự ảnh hưởng đồi bại của thế giới bên ngoài. Do đó ông ra lệnh cho thuộc cấp “giáng một đòn mạnh” lên bất cứ đòi hỏi dân chủ nào, thậm chí trước cả khi những đòi hỏi như vậy trở nên phổ biến.[180] Ông cũng củng cố và tái tổ chức NKVD, tách nó thành hai cơ quan vào tháng 3/1946. Bộ Nội vụ – hay MVD –  tiếp tục quản lý Gulag và các làng lưu đày, thực sự trở thành bộ lao động cưỡng bức. Cơ quan kia, danh giá hơn – MGB, sau này được đổi tên là KGB – sẽ quản lý công tác phản gián và tình báo nước ngoài, lực lượng lính biên phòng, cũng như việc giám sát chặt chẽ những kẻ chống đối chế độ.[181]

Cuối cùng, thay vì nới lỏng đàn áp sau chiến tranh, lãnh đạo Liên Xô lại lao vào hàng loạt cuộc bắt bớ mới, lại tấn công vào quân đội cũng như các sắc tộc thiểu số có chọn lựa, bao gồm người Do Thái Liên Xô. Lần lượt, công an mật “phát hiện” ra các âm mưu chống chủ nghĩa Stalinist của đám thanh niên tại gần như mọi thành phố trên đất nước.[182] Năm 1947, các luật mới ra cấm việc kết hôn – và trong thực tế là tất cả các quan hệ lãng mạn – giữa công dân Xôviết với người nước ngoài. Những viện sĩ Liên Xô chia sẻ thông tin khoa học với đồng nghiệp nước ngoài cũng có thể bị khởi tố hình sự. Năm 1948, chính quyền gom lại khoảng 23.000 nông trang viên tập thể. Tất cả bị tố cáo không hoàn thành được số ngày công bắt buộc trong năm trước, do đó bị đày đến những vùng hẻo lánh, không hề có xét xử hay điều tra gì.[183]

Có các chứng cứ mang tính giai thoại về sự tồn tại của một số vụ bắt bớ bất thường diễn ra cuối thập niên 1940. Theo một nguồn tin tình báo mới được giải mật gần đây về cuộc thẩm vấn một tù binh chiến tranh người Đức, hai nhân viên tổ lái Mỹ có lẽ cũng đã bị rơi vào Gulag thời kỳ hậu chiến. Năm 1954, cựu tù người Đức này đã kể cho các điều tra viên Mỹ rằng ông ta đã gặp hai thành viên của Lực lượng Không quân Mỹ trong trại tù binh chiến tranh của mình ở tỉnh Komi, gần Ukhta vào năm 1949. Đấy là các phi công của một máy bay rơi gần Kharkov, Ukraina. Họ bị buộc tội gián điệp và tống vào nơi mà theo mô tả của người Đức kia nghe giống như một đội lao động katorga. Một người được cho là đã chết trong trại, bị giết bởi một tên tội phạm của trại. Người kia sau đó được chuyển đi, có lẽ là về Moscow.[184]

Những tin đồn yếu ớt hơn, thậm chí còn như trêu ngươi cũng trôi nổi khắp vùng Komi. Theo như một giai thoại địa phương, một nhóm người Anh khác, hay ít nhất là những người nói tiếng Anh, cũng bị giam cầm trong một lagpunkt khác – Sedvozh, cũng gần Ukhta – trong thập niên 1940. Theo lời người đàn ông địa phương kể chuyện, đám người Anh kia là điệp viên nhảy dù vào nước Đức cuối chiến tranh. Hồng quân đã bắt được họ, hỏi cung và đày họ đến Gulag một cách vô cùng bí mật, bởi xét cho cùng thì nước Anh và Liên Xô vẫn đang là đồng minh trong thời chiến. Chứng cứ về sự hiện diện của họ rất mờ nhạt: một lagpunkt có biệt danh tại địa phương là “Angliiskaya Koloniya – “Tiểu khu người Anh” – và một đoạn đề cập duy nhất trong hồ sơ lưu trữ quân đội ở Moscow nhắc đến việc “mười người Scot”, bất kể điều này có ý nghĩa gì, có mặt tại một trại tù binh chiến tranh trong vùng.[185]

Nhờ tất cả những cộng thêm ấy, Gulag đã không bị thu nhỏ lại sau chiến tranh. Trái lại, nó đã mở rộng – đạt tới mức lớn nhất vào đầu thập niên 1950. Theo thống kê chính thức, ngày 1/1/1950, Gulag chứa 2.561.351 tù trong các trại và tiểu khu thuộc hệ thống của mình – nhiều hơn một triệu so với năm năm trước đấy, năm 1945.[186] Con số bị lưu đày đặc biệt cũng tăng, do các chiến dịch trục xuất quy mô lớn ở những quốc gia Baltic, Moldavia và Ukraina, được chủ ý thiết kế để hoàn tất việc “Xôviết hóa” các cộng đồng này. Và cũng cùng khoảng thời gian ấy, NKVD đã giải quyết, một lần cho mãi mãi, vấn đề nhức nhối về tương lai của người lưu đày, ra sắc lệnh rằng tất cả những người bị trục xuất sẽ phải đi đày “vĩnh viễn” – cùng với con cái của họ. Đến thập niên 1950, con số người đi đày đã đạt ngang bằng con số tù trong trại.[187]

Nửa sau của năm 1948 và nửa đầu năm 1949 đem lại một tai họa không mong chờ nữa cho các cựu tù Gulag: một loạt cuộc bắt bớ, hay đúng hơn là tái bắt bớ, các cựu tù, hầu hết là những người nguyên bị bắt năm 1937 và 1938, bị án mười năm và mới được thả gần đây. Việc tái bắt bớ thực hiện có hệ thống, toàn diện và êm thấm một cách lạ lùng. Hiếm có vụ nào được điều tra mới, và hầu hết tù chỉ bị hỏi cung một cách chiếu lệ.[188] Cộng đồng người đi đày ở Magadan và thung lũng Kolyma biết được có gì đó khác thường đã xảy ra khi nghe thấy việc bắt bớ những cựu tù “chính trị” có họ tên của tất cả bắt đầu với ba chữ cái đầu trong bảng chữ cái Nga: họ hiểu ra rằng công an mật đang tái bắt giữ những người theo thứ tự bảng chữ cái.[189] Không ai có thể xác định được chuyện này mang tính khôi hài hay bi thảm. Evgeniya Ginzburg viết rằng trong khi “vào năm 37 cái ác khoác vẻ ngoài bi thảm lạ thường… vào năm 49, Con Rắn độc Grudia, ngáp dài vì no nê, đã vẽ ra chơi chơi một danh sách theo bảng chữ cái những người phải bị tiêu diệt…”[190]

Phần lớn người bị tái bắt bớ mô tả một cảm giác lãnh đạm. Lần bị bắt đầu tiên là một cú sốc, nhưng cũng học được một kinh nghiệm: nhiều người lần đầu tiên bị buộc phải đối diện với sự thật về về hệ thống chính trị của mình. Lần bị bắt thứ hai không đem lại những kinh nghiệm như vậy. “Đến năm 49 tôi đã biết rằng nỗi khổ chỉ có thể hành hạ con người đến một mức độ nào đó. Khi nó lê lết đến hàng thập kỷ và đã trở thành chuyện thường ngày, nó không còn có thể hành hạ được nữa; nó chỉ đơn giản là làm cùn nhụt mọi cảm xúc”, Ginzburg viết: “sau lần bị bắt thứ hai đảm bảo tôi đã biến thành một cục gỗ”.[191]

Khi công an đến kiếm bà lần thứ hai, Olga Adamova-Sliozberg bước tới chiếc tủ để chuẩn bị đồ đạc, nhưng rồi dừng lại. “Mình đem đồ đạc theo để làm gì chứ? Để lại cho bọn trẻ dùng có tốt hơn không”, bà nghĩ bụng. “Hiển nhiên mình sẽ không thể sống sót lần này; làm sao mình có thể chịu nổi?”[192] Bà vợ của Lev Razgon bị bắt, và ông yêu cầu họ phải nói lý do. Khi được cho biết bà đã bị kết án lại do cùng một tội đã phạm trước đó, ông yêu cầu phải có giải thích rõ hơn:

“Cô ấy đã chịu xong án rồi. Chẳng lẽ luật thực sự cho phép các anh trừng phạt một người hai lần vì cùng một tội hay sao?”

Kẻ đại diện pháp luật nhìn tôi ngạc nhiên.

“Tất nhiên là không. Nhưng luật có dính dáng gì ở đây?”[193]

Phần lớn những ai bị tái bắt giữ đều không bị chuyển tới trại, mà thay vì đó là bị đi đày, thường là đến những vùng đặc biệt hẻo lánh và không có người ở trên đất nước: Kolyma, Krasnoyarsk, Novosibirsk, Kazakhstan.[194] Tại đấy, hầu hết sẽ phải sống cuộc đời không ngớt tẻ ngắt. Bị cư dân địa phương xa lánh vì là “kẻ thù”, họ rất khó tìm được chỗ ở và làm việc. Không ai muốn làm chung với một tên gián điệp hay một kẻ phá hoại.

Đối với các nạn nhân, kế hoạch của Stalin dường như khá rõ ràng: không một ai từng phải nhận một án về tội gián điệp, phá hoại, hay bất cứ hình thức chống đối chính trị nào được phép quay trở về nhà. Nếu được thả, họ sẽ phải nhận “hộ chiếu chó sói”, cấm họ đến sống ở bất cứ chỗ nào gần một thành phố lớn, và luôn là đối tượng có thể bị tái bắt giữ.[195] Gulag và hệ thống lưu đày hỗ trợ cho nó không còn là hình thức trừng phạt tạm thời. Với những ai bị kết án phải vào đó, chúng đã trở thành số phận đến hết đời họ.

Nhưng chiến tranh đã có một ảnh hưởng bền vững lên hệ thống trại, mặc dù ta khó có thể xác định được mức độ. Các quy định và nguyên tắc của trại không được giảm nhẹ hơn sau chiến tranh – nhưng bản thân người tù đã thay đổi, đặc biệt là tù chính trị.

Bắt đầu là chuyện có nhiều tù chính trị hơn trước. Nhân khẩu biến động đột ngột trong những năm chiến tranh và các đợt ân xá thẳng thừng loại trừ tù chính trị đã để lại tỷ lệ tù chính trị cao vọt trong trại. Đến ngày 1/7/1946, hơn 35 phần trăm tù trong toàn bộ hệ thống là người đã bị kết tội “phản cách mạng”. Tại một số trại nhất định con số này còn cao hơn nhiều, vượt trên phân nửa.[196]

Mặc dù con số chung sẽ lại giảm xuống, vị thế của tù chính trị cũng đã thay đổi. Đó là một thế hệ tù chính trị mới, với tập hợp trải nghiệm khác hẳn. Những tù chính trị bị bắt thập niên 1930 – đặc biệt những người bị bắt năm 1937 và 1938 – thường là trí thức, Đảng viên và công nhân bình thường. Hầu hết choáng váng vì việc mình bị bắt, tâm lý chưa chuẩn bị cho cuộc sống trong tù, và về thể xác chưa sẵn sàng cho lao động cưỡng bức. Tuy nhiên, trong những năm hậu chiến ngay sau đó, tù chính trị đã bao gồm cựu binh lính Hồng quân, sĩ quan Đội quân Quê hương Ba Lan, du kích Ukraina và Baltic, tù binh chiến tranh người Đức và Nhật. Những đàn ông đàn bà đó từng chiến đấu trong chiến hào, vạch ra các âm mưu hoặc chỉ huy binh lính. Một số từng trải qua trại tù của Đức, số khác từng chỉ huy các đội du kích. Nhiều người công khai chống Liên Xô hoặc chống cộng, và không mấy ngạc nhiên khi thấy mình phải ở sau hàng rào thép gai, như lời một tù kể lại: “Đã tận mắt nhìn thấy cái chết, đã trải qua cảnh hoả ngục chiến tranh, đã sống sót qua đói khát và vô số bi kịch, họ hoàn toàn khác so với với thế hệ tù thời kỳ trước chiến tranh”.[197]

Hầu như ngay sau khi họ bắt đầu xuất hiện trong trại từ cuối chiến tranh, loại tù mới mẻ này bắt đầu gây ra rắc rối cho chính quyền. Năm 1947, bọn tội phạm chuyên nghiệp không còn thấy dễ dàng cai trị họ nữa. Trong số các băng nhóm sắc tộc và tội phạm thống trị cuộc sống trong trại, đã xuất hiện một băng nhóm mới: krasnye shapochki tức “đám mũ đỏ”. Đó thường là những cựu binh lính hay cựu du kích kết nhóm lại với nhau để chống lại sự thống trị của bọn trộm cướp – và, khi mở rộng ra, là chống lại sự cai trị họ phải chịu đựng. Những nhóm như vậy hoạt động rất mạnh cho đến tận thập kỷ tiếp theo, mặc cho có các nỗ lực chia cắt họ ra. Mùa đông năm 1954-55, Viktor Bulgakov, khi ấy là tù ở Inta, trại khai mỏ miền viễn bắc ở tỉnh Vorkuta, đã chứng kiến một cố gắng của ban quản lý để “phá tan” một nhóm tù chính trị bằng cách cho nhập thêm một nhóm nhỏ sáu mươi tên trộm vào trại. Bọn trộm tự trang bị vũ khí và chuẩn bị tấn công đám tù chính trị:

Chúng đột nhiên có được “vũ khí lạnh” [dao], như ta có thể đoán trước trong một tình huống như vậy… chúng tôi biết được rằng chúng đã ăn cắp tiền và tài sản của một bác lớn tuổi. Chúng tôi yêu cầu chúng trả lại, nhưng chúng không có thói quen trả lại đồ đạc. Vậy là vào khoảng hai giờ sáng, ngay khi trời vừa hửng sáng, chúng tôi bao vây lán của chúng từ mọi phía và bắt đầu tấn công. Chúng tôi nện chúng, nện cho tới khi chúng đứng lên không nổi. Một đứa nhảy qua cửa sổ… chạy tới vakhta, và gục xuống ngay trên bậc thềm. Nhưng khi lính gác tới nơi, không một ai còn ở đó… Bọn họ bèn đưa lũ trộm cướp ra khỏi zona.[198]

Một vụ tương tự đã diễn ra ở Norilsk, như một tù kể lại:

Một nhóm trộm tới một lagpunkt, nơi tất cả tù đều là tù chính trị, và chuẩn bị tìm cách lập nên hệ thống riêng của chúng. Đám tù, tất cả đều là cựu sĩ quan Hồng quân, xé chúng thành từng mảnh, mặc dù họ không có vũ khí. La hét điên dại, mấy thằng còn lại chạy tới chỗ các lính gác và sĩ quan, cầu xin cứu giúp.[199]

Đám phụ nữ cũng thay đổi. Phát chán vì nghe chúng doạ dẫm, một nữ tù chính trị nói với một nhóm trộm nữ rằng nếu chúng không trả lại ít tiền chúng đã lấy cắp, “chúng tao sẽ ném tất cả chúng mày và mớ giẻ rách của chúng mày ra ngoài và đêm nay chúng mày sẽ được ngủ ngoài trời”. Lũ nữ tội phạm đành trả lại tiền.[200]

Bọn trộm không phải lúc nào cũng thua, dĩ nhiên. Trong một vụ ở Vyatlag, một trận chiến diễn ra giữa tù tội phạm và tù chính trị kết thúc với cái chết của chín tù chính trị. Bọn trộm đòi hỏi khoản hối lộ 25 rúp từ mỗi tù, và đã đơn giản là giết chết những ai từ chối trả tiền.[201]

Nhưng chính quyền đã lưu ý. Nếu tù chính trị có thể kết thành băng nhóm để đánh lại bọn trộm, họ cũng có thể kết băng nhóm để chống lại ban quản lý trại. Năm 1948, thấy trước được mầm mống nổi loạn, các ông trùm Gulag ở Moscow đã ra lệnh cho tất cả các tù chính trị “nguy hiểm nhất” phải bị đưa vào một nhóm mới “các trại đặc biệt” (osobye lagerya). Được thiết kế đặc biệt cho “bọn gián điệp, bọn chệch hướng, bọn khủng bố, bọn Trotskyite, bọn cánh tả, Bọn Menshevik, bọn Xã hội Cách Mạng, bọn vô chính phủ, bọn dân tộc chủ nghĩa, bọn Bạch vệ lưu vong và thành viên các tổ chức chống Xôviết khác”, những trại đặc biệt thực sự là sự mở rộng của chế độ katorga, và bao gồm nhiều đặc điểm giống như vậy: đồng phục kẻ sọc, số tù trước trán, sau lưng và trước ngực; cửa sổ song sắt; và lán ở bị khoá cửa ban đêm. Tù chỉ được cho phép liên hệ tối thiểu với thế giới bên ngoài, trong một số trường hợp chỉ được gửi một hai bức thư mỗi năm. Tư thừ với bất cứ người nào khác ngoài các thành viên gia đình bị cấm ngặt. Ngày làm việc được thiết lập là mười tiếng mỗi ngày, và tù bị cấm làm bất cứ việc gì khác ngoài lao động chân tay. Trang bị y tế ở mức tối thiểu: không có “trại tàn tật” được dựng bên trong tổ hợp trại đặc biệt.[202]

Giống như các lagpunkt katorga mà chúng sẽ mau chóng qua mặt, những trại đặc biệt cũng được xây dựng dành riêng cho những vùng khắc nghiệt nhất trên cả nước, tại Inta, Vorkuta, Norilsk và Kolyma – tấc cả các trại khai mỏ ở gần hay nằm trên Vòng Bắc Cực – cũng như trên sa mạc Kazakh và vùng rừng hoang vắng của Mordovia. Về hiệu quả, chúng là những trại bên trong trại, bởi hầu hết đều được đặt bên trong tổ hợp lao động cưỡng bức hiện hữu. Chỉ có một điều khiến chúng khác biệt. Bằng một chút thi vị rất đáng ngạc nhiên, chính quyền Gulag đặt cho chúng những cái tên lấy cảm hứng từ thiên nhiên: Mỏ Khoáng, Đỉnh Núi, Cây Sồi, Thảo Nguyên, Bờ Biển, Dòng Sông, Hồ Nước, Cát và Đồng Cỏ, v.v. Mục đích có lẽ để tung hoả mù – nhằm che dấu bản chất khu trại – bởi chẳng có cây sồi nào ở trại Cây Sồi, và rõ ràng chẳng có bờ biển nào ở trại Bờ Biển. Tất nhiên, các cái tên này mau chóng bị rút gọn lại, như theo thói quen ở Liên Xô, trở thành Minlag (trại Mỏ Khoáng), Gorlag (trại Đỉnh Núi), Dubravlag (trại Cây Sồi), Steplag (trại Thảo Nguyên) v.v. Vào đầu năm 1953, mười trại đặc biệt đã chứa 210.000 người.[203]

Nhưng sự cách ly các tù chính trị “nguy hiểm nhất” không khiến họ dễ bảo hơn. Trái lại, các trại đặc biệt đã giúp tù chính trị không phải xung đột thường xuyên với bọn tội phạm, và không phải chịu ảnh hưởng từ các tù khác. Chỉ còn lại mình họ, sự chống đối với hệ thống trại của họ chỉ có tăng thêm: đây đã là năm 1948, không phải 1937. Cuối cùng, họ sẽ lao vào một cuộc chiến kéo dài, kiên quyết và không hề có tiền lệ chống lại chính quyền.

Khi cơ chế đàn áp bắt đầu siết chặt trở lại, tù chính trị không còn là những kẻ duy nhất nằm trong thòng lọng. Giờ đây lợi ích thực tế trở thành quan trọng hơn bất cứ lúc nào, các ông trùm Gulag bắt đầu xem xét lại thái độ của mình đối với bọn tội phạm chuyên nghiệp. Sự nhũng nhiễu, lười nhác và thái độ hăm doạ lính gác của chúng gây hại đến sản lượng của trại. Giờ đây chúng không còn có thể quản lý được tù chính trị, chúng cũng không đem lại lợi ích tương xứng. Mặc dù bọn tội phạm sẽ không bao giờ thu hút sự thù hằn giống như tù chính trị, và mặc dù chúng sẽ không bao giờ phải nhận sự đối xử đầy căm thù của lính gác trại giống như vậy, tuy nhiên lãnh đạo Gulag thời hậu chiến đã quyết định chấm dứt việc cho bọn tội phạm cai trị trại – và loại trừ vĩnh viễn bọn cướp đúng luật dám từ chối làm việc.

Trong thực tế, cuộc chiến của Gulag với bọn trộm cướp vừa thẳng thắn lại vừa đầy dấu giếm. Bắt đầu là, những tên tội phạm nguy hiểm nhất, giang hồ nhất bị lặng lẽ tách riêng khỏi những tù khác và bị lãnh án dài hạn hơn – mười, mười lăm, hai lăm năm.[204] Mùa đông năm 1948, Gulag cũng yêu cầu thành lập một nhóm các lagpunkt tội phạm chế độ nghiêm ngặt dành cho tù tội phạm tái phạm. Theo chỉ dẫn ban hành từ Moscow, chỉ những lính gác trại có kỷ luật nhất và “có sức lực cơ thể mạnh khoẻ nhất” mới được phép làm việc trong đó, và chúng phải bị bao quanh bởi các hàng rào đặc biệt cao và chắc chắn. Các chỉ dẫn riêng rẽ cho biết riêng từng chi tiết cụ thể. Gulag yêu cầu thành lập ngay hai mươi bảy trại như vậy, đủ sức chứa cho hơn 115.000 tù.[205]

Chẳng may là rất ít người biết về cuộc sống hàng ngày trong các lagpunkt trừng giới ấy, hay thậm chí về chuyện có phải tất cả chúng đều đã được lập: nếu chúng có tồn tại, khả năng có kẻ trong đám tội phạm đó chịu viết lại hồi ký còn ít hơn nhiều so với đám tội phạm trong trại thường. Dù vậy, trong thực tế, hầu hết trại đều có vài hình thức biệt giam dành cho tội phạm nguy hiểm và, do một vận rủi tột độ, Evgeniya Ginzburg đã có một thời gian ngắn có mặt trong đó: Izvestkovaya, một lagpunkt trừng giới ở Kolyma. Bà là tù chính trị duy nhất giữa một nhóm toàn nữ tội phạm.

Trong cuộc dừng chân ngắn ngày của mình tại Izvestkovaya, Ginzburg ban ngày phải làm việc ở một mỏ đá vôi, nơi bà không thể hoàn thành được định mức và do đó không được nhận một chút thức ăn nào. Mấy buổi chiều đầu tiên bà ngồi “thẳng đuỗn như khúc củi” trong góc lán, bởi không còn chỗ nào trống trên giường tầng, quan sát những phụ nữ gần như mình trần đang uống rượu tự nấu trong căn phòng thênh thang nóng hầm hập. Sau này, một trong số các phụ nữ đó, bị giang mai giai đoạn cuối, đã tránh sang một bên và cho phép bà nằm xuống, nhưng chỗ nằm không dễ chịu mấy. “Cái mùi thối rữa chóng mặt” toát ra từ chiếc mũi đang mủn dần của người phụ nữ suýt nữa làm bà chết ngạt. “Ở Izvestkovaya, giống như hầu hết những chốn địa ngục thực sự, không chỉ không có ngày và đêm, thậm chí ở đấy không có đến cả một nhiệt độ bình ổn để cuộc sống có thể chịu đựng được. Nhiệt độ vừa lạnh như băng trong mỏ đá vôi lại vừa nóng như thiêu trong lán ở”.

Tại trại này, Ginzburg chật vật mới tránh khỏi bị hãm hiếp. Một đêm nọ, đám lính gác trại, những kẻ có “cung cách khác xa với những ông chủ của chúng”, ùa vào lán và xông đến tấn công đám phụ nữ. Một lần khác, một kẻ trong bọn họ bất ngờ dúi mạnh một ổ bánh mì về phía bà. Ban quản lý trại, chuẩn bị đón một đoàn thanh tra, lo lắng rằng bà có thể bị chết: “Bị hoàn toàn cô lập, phàn ăn tục uống, rượu chè bê tha và thường va chạm với đám con gái, các binh lính của chúng tôi đã hoàn toàn mất hết sức chịu đựng và chật vật mới có thể hiểu nổi mình bị quở phạt vì điều gì. Dù sao đi nữa, giấy chứng tử là thứ luôn gây phiền phức khó chịu nếu có đoàn thanh tra đến”.[206]

Nhưng bà đã thoát. Với sự giúp đỡ của bạn bè, Ginzburg xoay sở chuyển được sang một trại khác, không gì khác ngoài việc nhờ sức tác động của bà lau dọn nhà cho ông trùm Sevvostlag. Những người khác có thể không may mắn bằng.

Tuy nhiên, các chế độ nghiêm ngặt hơn và án dài hạn hơn không phải là vũ khí duy nhất của ban quản lý chống lại sự cai trị của bọn tội phạm. Ở khắp nơi trên vùng Trung Âu, sức mạnh thống trị lớn nhất của Liên Xô nằm ở khả năng nó mua chuộc được tầng lớp ưu tú địa phương, biến họ thành những người cộng tác sẵn sàng trấn áp đồng bào của chính mình. Chính cái kỹ thuật đó đã được dùng để kiểm soát tầng lớp ưu tú của bọn tội phạm trong trại. Phương pháp rất thẳng thắn: các ưu đãi và đối xử đặc biệt được dành cho những tên tội phạm chuyên nghiệp nào – tức bọn cướp đúng luật – chịu từ bỏ “luật lệ” của mình và cộng tác với chính quyền. Những kẻ đồng ý làm vậy sẽ được hoàn toàn thoải mái hành hạ đám đồng bọn cũ, thậm chí tra tấn và giết chết chúng, trong khi cánh lính gác trại quay lưng nhìn chỗ khác. Những tên tội phạm đã bị mua chuộc và cộng tác hoàn toàn với chính quyền được gọi là đồ suki, tức “chó cái”, và các trận chiến dữ dội nổ ra giữa chúng và đám tội phạm chuyên nghiệp còn lại được gọi là “cuộc chiến tranh giữa lũ chó cái và bọn kẻ trộm”.

Giống như cuộc chiến riêng của tù chính trị để sống sót, cuộc chiến giữa bọn trộm cướp là một trong những yếu tố đặc trưng của đời sống trong trại. Mặc dù xung đột giữa các nhóm tội phạm từng xảy ra trước đây, không có vụ nào quá tồi tệ, hay bị khiêu khích quá rõ ràng và công khai: vào năm 1948, nhiều trận đánh lộn riêng rẽ nổ ra đồng thời tại khắp nơi trong hệ thống trại, để lại đôi chút nghi ngờ về vai trò của chính quyền.[207] Nhiều, rất nhiều người viết hồi ký đã ghi nhận các khía cạnh của cuộc chiến này, mặc dù, một lần nữa hầu hết những ai viết về nó đều không phải là người tham gia nó. Thay vào đó họ là người khiếp hãi đứng chứng kiến, đôi khi là nạn nhân của nó.

“Bọn kẻ trộm và lũ chó cái lần lượt đánh nhau đến chết bỏ”, Anatoly Zhigulin viết:

Những tên kẻ trộm nào rơi vào một lagpunkt của bọn chó cái, nếu không tìm được cách trốn vào lán trừng giới thường sẽ phải đối mặt với thế tiến thoái lưỡng nan: hoặc phải chết, hoặc trở thành chó cái. Giống như vậy, nếu một nhóm lớn kẻ trộm lọt vào một lagpunkt, tất cả bọn chó cái sẽ trốn vào các lán trừng giới, do cán cân quyền lực đã thay đổi… mỗi lần chế độ thay đổi thường đem lại kết quả rất đẫm máu.[208]

Một tên kẻ trộm kể cho một tù rằng tất cả bọn chó cái đều là “bọn chết rồi, đã bị kết án bởi những thằng còn lại, và ngay với cơ hội đầu tiên một thằng blatnoi [cướp đúng luật] nào đó sẽ giết chết nó”.[209] Một tù khác được chứng kiến kết quả một trận chiến như vậy:

Sau một tiếng rưỡi đồng hồ, bọn kẻ trộm trong nhóm chúng tôi được khiêng về và vứt xuống đất. Trông chúng không còn nhận ra nổi. Mớ quần áo tốt của chúng bị xé nát và lột sạch. Đổi lại, chúng phải nhận cái áo khoác rách rưới đồ trại cấp, thay vì ủng thì chỉ còn giẻ quấn chân. Chúng bị đánh đập như thú vật, nhiều đứa gẫy cả răng. Một gã không thể nhấc nổi cánh tay: nó bị đánh gãy bởi một ống sắt.[210]

Leonid Sitko đã chứng kiến cuộc khơi mào của một trận đánh đặc biệt tàn bạo:

Một lính gác chạy dọc hành lang và hét lớn “Chiến tranh! Chiến tranh!” – ngay lúc đó tất cả bọn kẻ trộm, số lượng ít hơn bọn chó cái, chạy đi nấp trong khám trừng giới của trại. Bọn chó cái đuổi theo chúng tới đó và giết chết nhiều thằng. Đám lính gác giúp lũ còn lại ẩn trốn vì không muốn tất cả bọn này bị chết hết, sau đó đưa chúng đi khỏi trại vào ngày hôm sau.[211]

Đám tù không phải tội phạm đôi khi cũng bị dính vào các trận ẩu đả này, đặc biệt khi các chỉ huy trại trao quyền lực rộng khắp cho bọn chó cái. Mặc dù “không cần phải thi vị hoá bọn kẻ trộm và luật của chúng, đó chính là điều chúnh làm trong cuộc đời và theo truyền thống của chúng”, Zhigulin tiếp tục:

Bọn chó cái trong nhà tù và trại thực sự là nỗi khiếp sợ của tù thường. Chúng trung thành phục vụ bọn giám đốc nhà tù, được nhận các công việc đốc công, trưởng khối, đội trưởng. Chúng cư xử như thú vật đối với những người lao động thường, lừa đảo lấy tài sản của họ, lột sạch quần áo họ cho tới cây kim sợi chỉ cuối cùng. Bọn chó cái không chỉ là lũ chỉ điểm: chúng cũng thực hiện các vụ giết người theo thoả thuận với bọn giám đốc trại. Cuộc sống của những người tù ở trong trại do bọn chó cái quản lý thực sự vô cùng vất vả.

Nhưng đó đã là thời kỳ hậu chiến, và tù chính trị không còn thụ động khi đối mặt với những phiền nhiễu như vậy nữa. Trong trại của Zhigulin, một nhóm cựu chiến sĩ Hồng quân thoạt đầu đã tìm cách nện nhừ tử bọn tay chân của một đại ca chó cái bị căm ghét nhất lagpunkt, sau đó giết chết chính thằng này bằng cách buộc hắn vào một cái máy xẻ gỗ. Khi lũ chó cái còn lại chui vào lán khoá chặt cửa, tù chính trị gửi cho chúng một tin nhắn: chặt đầu gã phó thủ lãnh, chìa đầu hắn qua cửa sổ và rồi chúng tao sẽ không giết bọn còn lại. Chúng làm theo. “Hiển nhiên mạng sống đối với chúng quan trọng hơn cái đầu của thằng thủ lãnh”.[212]

Cuộc chiến công khai trở nên dữ dội đến nỗi thậm chí chính quyền cuối cùng cũng phát mệt vì nó. Năm 1954 MVD đề nghị các chỉ huy trại lập ra “những trại riêng biệt để giam giữ bọn tái phạm thuộc mọi loại”, và đảm bảo rằng tù đang bị kẻ khác đe dọa “phải được giam riêng”. Việc “cách ly các nhóm thù nghịch với nhau” là cách duy nhất để tránh đổ máu lan rộng. Chiến tranh đã nổ ra vì chính quyền muốn giành quyền kiểm soát bọn kẻ trộm – và nó đã bị chặn đứng lại vì chính quyền đã mất khả năng kiểm soát cuộc chiến.[213]

Đầu thập niên 1950, các ông chủ Gulag nhận ra mình đang đối mặt với một tình huống ngược đời. Họ từng muốn bẻ gãy đám tội phạm tái phạm, cách rất tốt để tăng sản lượng và đảm bảo việc hoạt động trơn tru của các xí nghiệp của trại. Họ từng muốn cách ly bọn phản cách mạng, nhằm ngăn chúng không gây ảnh hưởng lên các tù khác thông qua quan điểm nguy hiểm của chúng. Tuy nhiên, qua việc siết chặt sợi thòng lọng đàn áp, họ lại khiến nhiệm vụ của mình trở nên phức tạp hơn. Sự nổi loạn của tù chính trị và cuộc chiến giữa bọn tội phạm đã đẩy nhanh sự xuất hiện của một cơn khủng hoảng còn sâu sắc hơn: cuối cùng, chính quyền đã rõ một điều là hệ thống trại thật phí phạm, thối nát và, trên hết tất cả, nó không sinh lợi.

Hoặc đúng hơn là mọi sự đã rõ ràng với tất cả mọi người ngoại trừ Stalin. Một lần nữa, cơn say cuồng của Stalin đối với việc đàn áp và sự đóng góp của ông đối với nền kinh tế dựa trên lao động nô lệ đã ăn khớp chặt chẽ với nhau đến nỗi thật khó để những nhân chứng đương thời xác định được đúng ra ông đã nâng con số vụ bắt bớ để có thể xây thêm trại, hay ngược lại đã cho xây thêm trại để đủ chỗ cho số người bị bắt. Trong suốt thập niên 1940, Stalin khăng khăng đòi giao nhiều quyền lực kinh tế hơn cho MVD – nhiều đến nỗi vào năm 1952, năm trước Stalin chết, MVD đã quản lý 9 phần trăm đầu tư tài chính của nước Nga, nhiều hơn bất cứ bộ nào khác. Kế hoạch Năm năm lập cho các năm 1951-1955 kêu gọi tăng hơn gấp đôi mức đầu tư này.[214]

Lại một lần nữa, Stalin tung ra một loạt dự án xây dựng Gulag hoành tráng và thu hút sự chú ý, nhắc nhở đến những dự án ông từng ủng hộ vào thập niên 1930. Chiểu theo sự khăng khăng của cá nhân Stalin, MVD đã xây dựng một nhà máy khai thác amiăng mới, một dự án đòi hỏi trình độ chuyên môn hoá kỹ thuật rất cao, chính xác là thứ mà Gulag thường thực hiện rất kém. Stalin cũng đích thân ủng hộ việc xây dựng một tuyến đường sắt khác xuyên qua vùng đài nguyên Cực Bắc, từ Salekhard tới Igarka – một dự án sau này được gọi là “Con đường Tử thần”.[215] Cuối thập niên 1940 cũng là thời kỳ của các Kênh đào Volga-Don, Volga-Baltic và Đại Turkmen, cũng như những nhà máy thuỷ điện Stalingrad và Kuibyshev, cái đứng sau là nhà máy thuỷ điện lớn nhất thế giới. Năm 1950, MVD cũng bắt đầu xây dựng một đường ngầm và một tuyến đường sắt dẫn tới đảo Sakhalin, một dự án có thể cần đến hàng chục ngàn tù nhân.[216]

Lần này không có Gorky nào để ca tụng các công trường Stalinist mới. Trái lại, các dự án mới được rộng rãi mọi người xem là phí phạm và quá phô trương. Mặc dù không có những phản đối công khai đối với các dự án đó khi Stalin còn sống, rất nhiều dự án, bao gồm cả “Con đường Tử thần” và đường ngầm đến Sakhalin, đều bị huỷ bỏ chỉ vài ngày sau khi ông mất. Sự vô nghĩa hoàn toàn của những kỳ công sử dụng thuần tuý sức người đó đã được hiểu rõ từ lâu, như trong chính hồ sơ lưu trữ của Gulag đã chứng minh. Một cuộc thanh tra tiến hành năm 1951 cho thấy toàn bộ một đoạn đường sắt 83 km miền viễn bắc, xây dựng với chi phí khổng lồ và phải trả giá bằng nhiều mạng người, đã không được sử dụng suốt ba năm trời. Một đoạn đường cao tốc 370 km khác với phí tổn tương tự không được sử dụng trong suốt mười tám tháng trời.[217]

Nhưng một cuộc thanh tra khác năm 1953, thực hiện theo lệnh của Uỷ Ban Trung Ương, cho thấy chi phí để duy trì các trại đã vượt xa lợi nhuận làm được nhờ lao động tù. Trong thực tế, năm 1952, nhà nước đã trợ cấp cho Gulag số tiền 2,3 tỷ rúp, hơn 16 phần trăm của tổng ngân sách chi dùng quốc gia. Một sử gia người Nga đã chú ý rằng các bản lưu ý của MVD gửi Stalin liên quan tới việc mở rộng hệ thống trại thường mở đầu bằng cụm từ “theo như mong muốn của đồng chí”, như thể muốn nhấn mạnh sự phản đối tế nhị của người viết.[218]

Các ông trùm Gulag ở Moscow đều nhận thức rõ về sự nguy hiểm của việc lan rộng tình trạng bất mãn và bất ổn trong hệ thống trại. Năm 1951, các cuộc lãn công quy mô lớn, được tiến hành bởi cả tù tội phạm lẫn tù chính trị, đã đạt đến mức khủng hoảng: trong năm này, MVD tính rằng họ đã thiệt hại hơn một triệu ngày công do các cuộc đình công và phản đối. Năm 1952, con số này tăng lên gấp đôi. Theo thống kê riêng của Gulag, 32 phần trăm tù trong năm 1952 đã không hoàn thành được định mức sản lượng.[219] Danh sách các cuộc bãi công và hoạt động phản đối lớn trong những năm 1950-1952, do bản thân chính quyền lưu giữ, dài thượt đến đáng ngạc nhiên. Ngoài những vụ khác, còn có một cuộc nổi dậy có vũ trang ở Kolyma vào mùa đông 1949-1950; một vụ trốn trại có vũ trang khỏi Kraslag tháng 3/1951; các cuộc tuyệt thực quy mô lớn tại Ukhtizhemlag và Ekibastuzlag, vùng Karaganda năm 1951; và một cuộc đình công ở Ozerlag năm 1952.[220]

Tình thế trở nên tồi tệ đến nỗi vào tháng 1/1952, chỉ huy trại Norilsk đã gửi một bức thư tới tướng Ivan Dolgikh, khi ấy là tổng chỉ huy Gulag, liệt kê từng bước ông đã tiến hành để ngăn ngừa nổi loạn. Ông đề nghị hủy bỏ các khu sản xuất quy mô lớn nơi tù không thể được giám sát đầy đủ, tăng gấp đôi số lính gác (mà ông thừa nhận là khó thực hiện), và cách ly các phe cánh tù với nhau. Điều này cũng khó thực hiện được, ông viết: “căn cứ theo con số tù nhân khổng lồ đi theo phe này hay phe khác kình chống nhau, chỉ cần chúng ta cách ly được tất cả bọn thủ lãnh cũng có thể xem là may mắn lắm rồi”. Ông cũng đề nghị tách rời công nhân tự do khỏi tù tại công trường lao động – và, cuối cùng, ông nói thêm rằng sẽ rất có lợi nếu thả 15.000 tù nhân cụ thể ra ngay lập tức, do họ sẽ làm được nhiều hơn nếu là lao động tự do. Không cần phải nói thêm, lời đề nghị này rõ ràng đã đặt nghi ngờ lên toàn bộ lôgích về việc sử dụng lao động cưỡng bức.[221]

Ở cấp cao hơn trong cơ cấu tổ chức Xôviết, nhiều người khác cũng tán thành. “Giờ đây cái chúng ta cần là kỹ thuật ở bậc cao nhất”, Kruglov, khi ấy là ông trùm của MVD, đã thừa nhận: rõ ràng, các kỹ thuật loại ba trong Gulag không còn được xem là đủ dùng nữa. Một cuộc họp Ủy ban Trung Ương ngày 25/8/1949 thậm chí dành hẳn để bàn luận về một bức thư từ một tù nhân có văn hóa, được xác định tên là Zhdanov. “Thiếu sót quan trọng nhất của hệ thống trại là ở chỗ nó dựa hoàn toàn vào lao động cưỡng bức”, Zhdanov viết. “Sản lượng thực tế của lao động tù là vô cùng thấp. Trong các điều kiện lao động khác đi, chỉ cần phân nửa số người là có thể làm gấp đôi khối lượng công việc mà tù đang làm hiện giờ”.[222]

Để đáp lại bức thư này, Kruglov hứa sẽ tăng sản lượng của tù, chủ yếu bằng cách quay lại trả công cho tù làm việc hiệu quả cao, và tái áp dụng chính sách giảm án cho người có kết quả lao động tốt. Dường như không một ai chỉ được ra rằng cả hai hình thức “khuyến khích” ấy đã từng bị loại bỏ vào cuối thập niên 1930 – cái sau bị chính Stalin bỏ – chính xác với lý do là chúng làm giảm lợi nhuận của trại.

Cũng không mấy quan trọng, bởi các thay đổi dẫn đến rất ít khác biệt. Chỉ một phần rất ít tiền công thực sự đến được túi của tù: một cuộc điều tra tiến hành sau khi Stalin chết cho thấy Gulag và các cơ quan khác đã lấy bất hợp pháp 126 triệu rúp từ những tài khoản cá nhân của tù.[223] Thậm chí số tiền nhỏ nhoi đến được với người tù đó lại gây rối loạn nhiều hơn là có ích cho họ. Ở nhiều trại, bọn đại ca lập ra những mạng lưới thu tiền bảo kê, bắt buộc tù ở thứ bậc thấp phải đóng tiền để không bị đánh hay giết chết. Cũng có thể “mua” các công việc tin cậy dễ chịu hơn bằng tiền mặt.[224] Trong các trại chính trị, tù sử dụng khoản tiền công mới của mình để hối lộ lính gác. Tiền cũng đưa vodka vào trong trại, và sau này là cả ma túy.[225]

Lời hứa giảm án cho người làm việc hăng hái có lẽ có làm tăng sự nhiệt tình của người lao động lên đôi chút. Hiển nhiên MVD sốt sắng ủng hộ chính sách này, và vào năm 1952 thậm chí còn đề nghị thả các nhóm đông tù nhân ra khỏi ba trong số các đơn vị sản xuất lớn nhất ở vùng phương bắc – mỏ than Vorkuta, mỏ than Inta và nhà máy lọc dầu Ukhtinsky – và tuyển dụng họ làm công nhân tự do. Dường như thậm chí cả các giám đốc đơn vị sản xuất của MVD cũng thích làm việc với người tự do hơn là với tù.[226]

Mối quan tâm tới nền kinh tế của hệ thống trại lớn đến nỗi Beria, vào mùa thu năm 1950, đã ra lệnh cho Kruglov điều tra Gulag và tìm hiểu sự thật. Báo cáo cuối cùng của Kruglov cho biết rằng tù được “tuyển dụng” bởi MVD có khả năng lao động không kém hơn công nhân thường. Tuy nhiên, ông ta cũng thừa nhận rằng chi phí để duy trì tù – chi phí cho thực phẩm, quần áo, lán ở và trên hết là lính gác, giờ đây cần nhiều hơn trước – vượt xa chi phí trả cho công nhân tự do bình thường.[227]

Nói cách khác, hệ thống trại là không có lợi, và nhiều người giờ đây đã biết chuyện này. Nhưng không một ai, thậm chí cả Beria, dám có động thái gì trong khi Stalin còn sống, một điều có lẽ không đáng ngạc nhiên. Với bất cứ ai trong đám thân cận của Stalin, những năm từ 1950 tới 1952 là quãng thời gian đặc biệt nguy hiểm nếu đi nói với nhà độc tài rằng các dự án yêu quý của ông đều là những sai lầm về mặt kinh tế. Mặc dù ốm yếu sắp chết, Stalin vẫn không dịu bớt theo tuổi tác. Trái lại, ông còn trở nên hoang tưởng hơn, giờ đây sẵn sàng nhìn thấy bọn âm mưu và mưu đồ ở khắp nơi xung quanh ông. Tháng 6/1951, ông bất ngờ ra lệnh bắt giữ Abakumov, lãnh đạo cơ quan phản gián Liên Xô. Mùa thu năm đó, không cần hỏi ý trước, ông đích thân ban hành một nghị quyết của Ủy Ban Trung Ương mô tả một “âm mưu của bọn dân tộc chủ nghĩa Mingrelia”. Người Mingrelian là một dân tộc thiểu số ở Gruzia, mà đại diện nổi bật nhất không phải ai khác hơn là chính Beria. Suốt năm 1952, một làn sóng bắt bớ, bắn giết và hành quyết quét qua khắp tầng lớp đảng viên ưu tú người Gruzia, đụng đến nhiều cộng sự thân tín và những người được Beria ưu ái. Stalin gần như đã quyết định rõ chính Beria là đích nhắm cuối cùng của cuộc thanh trừng.[228]

Tuy nhiên, ông ta không hẳn là nạn nhân duy nhất của cơn điên loạn cuối cùng của Stalin. Năm 1952, Stalin đã chuyển qua quan tâm truy đuổi một nhóm dân tộc khác. Tháng 11/1952, Đảng Cộng sản Tiệp, giờ đây đang nắm quyền ở Tiệp Khắc, đã đưa mười bốn lãnh đạo của mình ra tòa – trong số đó có mười một người Do Thái – và tố cáo họ là “bọn phiêu lưu Zionist”. Một tháng sau, Stalin nói tại một cuộc họp đảng rằng “mỗi người Do Thái là một kẻ dân tộc chủ nghĩa và là một điệp viên của tình báo Mỹ”. Sau đó, ngày 13/1/1953, Pravda, tờ báo của Đảng Cộng sản, đã tiết lộ sự tồn tại của Âm mưu bọn Bác sĩ: “Các nhóm khủng bố gồm nhiều bác sĩ”, nó tuyên bố, đã “nhắm tới việc rút ngắn mạng sống của các nhân vật hoạt động xã hội tích cực ở Liên Xô bằng cách áp dụng các điều trị y tế mang tính phá hoại”. Sáu trong số chín “tên bác sĩ khủng bố” là người Do Thái. Tất cả đều bị tố cáo vì có liên hệ hỗ trợ cho Ủy ban Do Thái chống phát xít, mà các lãnh đạo thời chiến của nó – những trí thức và nhà văn Do Thái lỗi lạc – đã bị kết án vài tháng trước đó vì tội thúc đẩy “chủ nghĩa Do Thái quốc tế”.[229]

Âm mưu bọn Bác sĩ là một sự mỉa mai khủng khiếp và đầy bi kịch. Chỉ mới mười năm trước, hàng trăm ngàn người Do Thái Liên Xô đang sống ở phần phía tây của đất nước đã bị giết hại bởi bọn Hitler. Hàng trăm ngàn người khác buộc phải rời Ba Lan để chạy đến Liên Xô, tìm kiếm nơi ẩn náu trốn tránh bọn Quốc xã. Tuy nhiên, Stalin đã dùng những năm cuối đời của mình để lên kế hoạch cho một chuỗi các phiên tòa công khai khác, một làn sóng hành quyết tập thể nữa, và một làn sóng lưu đày nữa. Thậm chí có lẽ ông đã lên kế hoạch sau cùng để trục xuất tất cả cư dân Do Thái ở các thành phố lớn của Liên Xô đến Trung Á và Siberia.[230]

Sợ hãi và hoang tưởng lại một lần nữa quét dọc ngang đất nước. Những người trí thức Do Thái khiếp hãi đã ký vào một đơn kiến nghị lên án bọn bác sĩ. Hàng trăm bác sĩ Do Thái khác bị bắt. Những người Do Thái bị mất việc làm, và một làn sóng bài Do Thái đau đớn quét qua khắp đất nước. Ở vùng lưu đày xa xôi Karaganda của mình, Olga Adamova-Sliozberg nghe thấy đám đàn bà địa phương xì xào về các bưu kiện do những người có họ tên Do Thái gửi đến trạm bưu điện. Họ kể là chúng được phát hiện có chứa các cục bông đầy rận mang bệnh sốt phát ban.[231] Tại Kargopollag, tổ hợp trại phía bắc Arkhangelsk, Isaak Filshtinsky cũng nghe được các tin đồn rằng tù người Do Thái sẽ bị đưa tới các trại đặc biệt vùng viễn bắc.[232]

Nhưng rồi, ngay khi Âm mưu bọn Bác sĩ chuẩn bị đưa hàng chục ngàn tù mới vào các trại và chốn lưu đày, ngay khi chiếc thòng lọng đang siết chặt quanh Beria và đám tay chân của ông ta, và ngay khi Gulag đang bước vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế không thể vượt qua nổi – thì Stalin chết.

 

23 . Cái chết của Stalin

 

Trong mười hai tiếng gần đây việc thiếu ôxy lên đến mức nguy kịch. Mặt và môi của cha thâm lại vì bị nghẹt thở từ từ. Sự đau đớn khi sắp chết thật khủng khiếp. Cha đúng là đã nghẹt thở đến chết ngay trước mắt chúng tôi. Ngay thời điểm dường như là giây phút cuối cùng, ông mở mắt và đảo nhìn tất cả mọi người trong phòng. Đó là một cái nhìn khủng khiếp, vừa điên cuồng vừa có vẻ như giận dữ và đầy khiếp hãi trước cái chết…

– Svetlana, con gái Stalin, mô tả những giây phút cuối của cha mình.[233]

 

Nếu, trong những năm 1930, nhiều tù Xôviết tin rằng Gulag là một sai lầm to lớn, một sơ suất khổng lồ đang bằng cách nào đó bị che dấu khỏi ánh mắt nhân từ của đồng chí Stalin, đến thập niên 1950 rất ít người còn nuôi dưỡng một ảo tưởng như vậy nữa. Thái độ này, theo một bác sĩ trại nhớ lại, là rất thẳng thừng: “Phần lớn mọi người đã biết và hiểu con người này là ra sao. Họ hiểu rằng ông ta là một bạo chúa, rằng ông ta đang nắm một đất nước vĩ đại dưới mấy ngón tay mình, và rằng số phận của nhiều tù nhân đang bị nối dính một cách nào đó với số phận của Stalin”.[234]

Trong suốt những năm cuối đời ông, tù chính trị đã hy vọng và cầu mong cho Stalin băng, họ thường xuyên bàn luận về cái chết của ông ta một cách kín đáo sao cho bọn chỉ điểm không để ý thấy. Mọi người thường thở dài và nói, “A, người Grudia sống thọ thật”, sẽ truyền đạt được mong ước ông chóng chết mà không thực sự phạm tội làm phản. Thậm chí khi ông bị bệnh, họ cũng vẫn cảnh giác. Maya Ulyanovskaya nghe được tin về điều sau trở thành cơn bệnh cuối cùng của ông từ một phụ nữ mà bà biết là một chỉ điểm. Bà đáp lại rất thận trọng: “Thế à? Bất cứ ai cũng có thể bị bệnh. Các bác sĩ của Người rất giỏi, họ sẽ chữa khỏi cho Người”.[235]

Khi cái chết của ông cuối cùng được công bố ngày 5/3/1953, một số người vẫn giữ cảnh giác. Tại Mordovia, tù chính trị thận trọng che giấu sự phấn khởi của mình, do họ sợ bị xơi thêm một án nữa.[236] Tại Kolyma, phụ nữ “miệt mài khóc than cho người đã khuất”.[237] Tại một lagpuntk ở Vorkuta, Pavel Negretov nghe thấy bản cáo phó được đọc lớn tiếng giữa phòng ăn của trại. Cả chỉ huy trại người đã đọc thông cáo về cái chết lẫn tất cả các tù nhân, không một ai nói thêm lời nào. “Tin này được tiếp nhận bằng một sự im lặng như tờ. Không một ai thốt ra lời nào”.[238]

Tại một lagpunkt ở Norilsk, tù tụ tập lại trước sân, trang nghiêm đứng nghe tin tức về cái chết của “lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Xôviết và loài người tự do khắp nơi trên thế giới”. Một khoảng lặng rất dài tiếp theo sau. Rồi có một tù giơ tay: “Thưa công dân thủ trưởng, vợ tôi có gửi cho ít tiền, đang nằm trong tài khoản của tôi. Ở đây tôi chẳng cần dùng gì đến, nên tôi muốn dùng nó để gửi hoa vòng tang tới lãnh tụ kính yêu của chúng ta. Tôi có được phép không ạ?”[239]

Nhưng nhiều người khác công khai bộc lộ vui mừng. Tại Steplag, mọi người hò reo điên dại và la hét ăn mừng. Tại Vyatlag, tù tung mũ lên trời và hét lớn “Ura!”[240] Trên đường phố Magadan, một tù quay qua chúc mừng người bên cạnh: “Tôi chúc bạn có nhiều niềm vui trong ngày phục sinh này!”[241] Anh ta không phải là người duy nhất ngập tràn cảm xúc sùng tín: “Ngoài trời có một đợt sương giá nhẹ, không gian rất, rất yên tĩnh. Chẳng mấy chốc bầu trời chuyển sang xanh thẳm. Yuri Nikolaevich chắp tay lại và xúc động tuyên bố, ‘Gà đã cất tiếng gáy trên Đất Nga Thiêng liêng! Trời sẽ mau sáng trở lại cho Đất Nga Thiêng liêng!’ ”[242]

Bất kể họ cảm thấy như thế nào, và cho dù họ có dám thể hiện tình cảm thật hay không, hầu hết tù và người lưu đày đều ngay lập tức cho là mọi thứ rồi sẽ thay đổi. Ở chốn lưu đày tại Karaganda, khi Olga Adamova-Sliozberg biết được tin này, bà lập tức run lẩy bẩy và lấy hai tay ôm mặt để những người đa nghi đang làm chung không thấy được bà đang vui mừng. “Bây giờ hay vĩnh viễn không bao giờ. Mọi thứ buộc phải thay đổi. Ngay bây giờ hoặc sẽ không bao giờ”.[243]

Tại một lagpunkt Vorkuta khác, Bernhard Roeder nghe được bản thông báo trên đài phát thanh trong khi đang mặc bộ quần áo thợ mỏ:

Mọi người lén đưa mắt nhìn nhau, sự căm giận bùng lên ngập tràn, họ khe khẽ thì thào, cử động đầy phấn khích – chẳng mấy chốc căn phòng vắng tanh. Mọi người ùa ra để đi thông báo cái tin tốt lành… Ngày hôm đó ở Vorkuta không có ai làm việc. Mọi người đứng tụ tập thành đám đông, sôi nổi bàn tán… chúng tôi nghe thấy lính gác trên tháp canh xúc động gọi điện thoại cho nhau, và, chẳng bao lâu sau đó, những kẻ đầu tiên say khướt đã cãi nhau ầm ĩ.[244]

Trong đám quản lý trại, xuất hiện sự hỗn loạn tột độ. Olga Vasileeva, khi ấy đang làm việc trong tổng hành dinh Gulag ở Moscow, nhớ lại mình đã nức nở không hề giấu diếm: “Tôi khóc và mọi người ai cũng bật khóc hệt như vậy, nữ cũng như nam, họ khóc không hề giấu diếm”.[245] Giống như hàng triệu đồng bào của mình, các nhân viên Gulag khóc than không chỉ cho vị lãnh tụ vừa qua đời của mình, mà cũng khóc vì lo sợ cho bản thân và công việc của họ. Bản thân Khrushchev sau này viết rằng “Tôi không chỉ khóc vì Stalin. Tôi lo lắng khủng khiếp về tương lai của đất nước. Tôi cảm thấy Beria sẽ bắt đầu sai khiến mọi người xung quanh và rằng điều đó sẽ khởi đầu cho sự chấm hết”.[246]

Tất nhiên, “sự chấm hết” ở đây ý ông muốn nói đến chấm hết của chính ông: chắc chắn cái chết của Stalin sẽ đem đến một cuộc đổ máu mới. Lo sợ về một chuyện như vậy, nhiều ông lớn của Gulag được báo cáo là bị đau tim, lên cơn cao huyết áp và nhiều ca cảm cúm dữ dội. Nỗi đau buồn của họ và tình trạng hoàn toàn rối loạn cảm xúc đã khiến họ phát bệnh thực sự. Họ thực thụ đã ốm vì sợ.[247]

Nếu lính gác nhà tù hỗn loạn, những ông chủ mới của Kremlin cũng không rõ hơn gì về tương lai đang chờ trước mặt. Như Khrushchev đã lo lắng, Beria, người phải vất vả mới có thể kiềm chế được niềm vui trước xác chết của Stalin, đúng thực là đã nắm lấy quyền lực và bắt đầu tạo ra thay đổi với tốc độ đáng ngạc nhiên. Ngày 6 tháng Ba, thậm chí trước cả khi Stalin được làm tang lễ, Beria thông báo việc tái tổ chức cơ quan công an mật. Ông hướng dẫn các ông trùm của cơ quan này chuyển giao trách nhiệm quản lý Gulag cho Bộ Tư pháp, chỉ giữ lại trong vòng quyền hạn pháp lý của MVD các trại đặc biệt dành cho tù chính trị. Ông chuyển nhiều đơn vị sản xuất của Gulag cho các bộ khác, bất kể là lâm nghiệp, khai mỏ hay sản xuất công nghiệp.[248] Ngày 12 tháng Ba, Beria cũng hủy bỏ hơn hai mươi dự án hàng đầu của Gulag, lấy lý do là chúng không “đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế đất nước”. Công việc tại Kênh đào Đại Turkmen ngưng chựng lại, cũng như công việc tại Kênh đào Volga-Ural, Kênh đào Volga-Baltic, đập nước sông Đông Hạ, cảng biển Donetsk và đường ngầm Sakhalin. Con đường Tử thần – Tuyến đường sắt Salekhard-Igarka – cũng bị hủy và không bao giờ được hoàn tất.[249]

Hai tuần sau, Beria viết một bản ghi nhớ gửi Chủ tịch đoàn của Ủy Ban Trung Ương, vạch ra tình trạng của các trại lao động với một sự rõ ràng đến kinh ngạc. Ông thông tin cho họ rằng có 2.526.402 tù, trong đó chỉ có 221.435 người thực sự là “tội phạm nguy hiểm cho quốc gia”, và ông tranh luận theo hướng muốn thả nhiều người trong số còn lại:

Trong số các tù nhân, có 438.788 là phụ nữ, trong đó 6.286 đang mang thai và 35.505 kèm trẻ nhỏ dưới hai tuổi. Nhiều phụ nữ có con dưới mười tuổi, được nuôi dưỡng bởi người thân hay trong nhà trẻ.

Trong số các tù nhân, 238.000 là người lớn tuổi – đàn ông và phụ nữ trên năm mươi tuổi – và 31.181 là vị thành niên dưới mười tám tuổi, hầu hết bị án vì ăn trộm vặt hay quậy phá.

Khoảng 198.000 tù sống trong trại đang phải chịu những bệnh nặng không chữa được, và hoàn toàn mất khả năng làm việc.

Mọi người đều biết rằng tù ở trong trại… phải để người thân và họ hàng ở lại trong những điều kiện hết sức khó khăn, gia đình thường bị tan vỡ, phải chịu những ảnh hưởng vô cùng xấu và kéo dài cho đến cuối đời họ.[250]

Dựa trên những lý do nghe đầy nhân đạo ấy, Beria đề nghị một lệnh ân xá mở rộng cho tất cả các tù nhân bị án từ năm năm trở xuống, cho tất cả phụ nữ có thai, tất cả phụ nữ có con nhỏ, và cho tất cả những tù dưới mười tám tuổi – tổng cộng một triệu người. Lệnh ân xá được công bố ngày 27 tháng Ba. Việc thả tù được thực hiện ngay lập tức.[251]

Một tuần sau, ngày 4 tháng Tư, Beria cũng huỷ bỏ cuộc điều tra Âm mưu bọn Bác sĩ. Đó là việc đầu tiên trong số những thay đổi mà công chúng được biết. Một thông báo lại xuất hiện trên tờ Pravda: “Những kẻ bị tố cáo vì tiến hành điều tra không đúng đã bị bắt và phải chịu trách nhiệm hình sự”.[252]

Sự ám chỉ là rất rõ ràng: công lý kiểu Stalinist đã bị truy nã. Một cách bí mật, Beria cũng thực hiện các thay đổi khác. Ông cấm tất cả các cán bộ công an mật sử dụng tác động thể xác lên người bị bắt – chấm dứt một cách hiệu quả việc tra tấn.[253] Ông cố gắng tự do hoá chính sách đối với Tây Ukraina, các nước Baltic, thậm chí cả Đông Đức, đảo ngược các chính sách Xôviết hoá và Nga hoá mà, trong trường hợp của Ukraina, vốn bị áp dụng bởi chính Nikita Khrushchev.[254] Trong vấn đề Gulag, ngày 16 tháng Sáu ông xoè tất cả các quân bài của mình lên bàn, công khai tuyên bố dự tính của ông muốn “loại bỏ hệ thống lao động cưỡng bức, lấy lý do kém hiệu quả kinh tế và thiếu triển vọng”.[255]

Cho đến ngày nay, động cơ của Beria khi thực hiện các thay đổi nhanh chóng ấy vẫn còn là bí ẩn. Một số người đã thử tô vẽ ông như một người có tư tưởng tự do dấu kín, bị chà xát dưới hệ thống Stalinist, chờ đợi để ra tay cải cách. Các đồng nghiệp trong đảng của ông nghi ngờ ông muốn thu tóm thêm quyền lực cho ngành công an mật, với cái giá là chính Đảng Cộng sản: giải thoát cho MVD khỏi gánh nặng hệ thống trại kềnh càng và tốn kém đơn giản là một cách để củng cố cho cơ quan này. Beria có thể cũng đã cố gắng làm cho bản thân trở thành gần gũi nhân dân, trong mắt công chúng cũng như trong lòng nhiều cựu cán bộ công an mật giờ đây sẽ trở về từ các trại ở nơi xa xôi. Vào cuối thập niên 1940, ông đã áp dụng việc tái sử dụng các cựu tù như vậy – thực sự đảm bảo được sự trung thành của họ. Nhưng giải thích hợp lý nhất cho thái độ của Beria nằm ở tầm hiểu biết cao của ông: có lẽ hơn bất cứ ai hết tại Liên bang Xô viết, Beria thực sự biết rõ hệ thống trại không kinh tế như thế nào, và hầu hết tù nhân đều vô tội ra sao. Xét cho cùng, ông từng theo dõi liên tục đối tượng đầu tiên và liên tục bắt bớ đối tượng thứ hai trong gần hết thập kỷ trước đó.[256]

Bất kể là với động cơ gì, Beria đã tiến quá nhanh. Sự cải cách của ông đã gây lo lắng và làm phiền tới các đồng nghiệp. Khrushchev – người Beria đã đánh giá quá sức thấp – là người run nhất, có lẽ bởi Khrushchev có thể đã đứng đầu trong việc góp tay tổ chức việc điều tra Âm mưu bọn Bác sĩ, hay có lẽ bởi tình cảm mạnh mẽ của ông dành cho Ukraina. Khrushchev cũng có thể đã sợ rằng ông chẳng sớm thì muộn sẽ có tên trong danh sách các địch thủ mới của Beria. Dần dần, qua việc sử dụng một chiến dịch rỉ tai tập trung mạnh mẽ, ông đã xoay nhiều lãnh đạo Đảng khác chống lại Beria. Đến cuối tháng Sáu, ông đã có tất cả bọn họ trong tay. Tại một cuộc họp Đảng, ông cho bao vây tòa nhà bằng các binh lính trung thành. Sự bất ngờ đã thành công. Choáng váng, lúng túng và cuống lên, người đàn ông từng là kẻ có quyền lực thứ hai ở Liên Xô đã bị bắt và đưa vào nhà tù.

Beria ở lại trong tù suốt vài tháng cuối đời. Giống như Yagoda và Yezhov trước ông, ông giành hết tâm trí để viết thư, cầu xin được tha thứ. Phiên tòa xử ông tổ chức vào tháng Mười Hai. Ông bị hành quyết trước hay sau đó vẫn còn là điều chưa rõ – nhưng đến cuối năm 1953 thì ông đã chết.[257]

Các lãnh đạo Liên Xô hủy bỏ một số chính sách của Beria cũng nhanh như khi chúng được chấp nhận. Nhưng cả Khrushchev hay bất cứ ai khác đều không bao giờ cho phục hồi lại các dự án xây dựng quy mô lớn của Gulag. Họ cũng không thay đổi lệnh ân xá của Beria. Việc thả tù vẫn tiếp tục – bằng chứng cho thấy nghi ngờ về hiệu quả của Gulag không chỉ giới hạn với Beria, bất kể ông bị ghét bỏ như thế nào. Giới lãnh đạo mới của Liên Xô biết rất rõ rằng hệ thống trại là một cản trở cho nền kinh tế, giống như họ biết rõ rằng hàng triệu tù trong đó là vô tội. Đồng hồ đã điểm: thời đại của Gulag sắp chấm dứt.

Có lẽ nhận thấy dấu hiệu trong các tin đồn bắt nguồn từ Moscow, giới quản lý và cánh lính gác Gulag cũng điều chỉnh cho phù hợp tình hình mới. Ngay khi họ vượt qua được nỗi lo sợ và bệnh tật của mình, nhiều lính gác thay đổi thái độ gần như chỉ sau một đêm, nới lỏng các quy định thậm chí trước cả khi họ nhận được lệnh phải làm thế. Một trong những chỉ huy lagpunkt của Alexander Dolgun ở Kolyma bắt đầu bắt tay tù và gọi họ là “đồng chí” ngay sau khi có tin về bệnh tật của Stalin, thậm chí trước cả khi nhà độc tài chính thức được công bố là đã chết.[258] “Chế độ trại nhẹ đi, trở nên nhân đạo hơn”, một tù nhớ lại.[259] Một người khác lại cảm nhận hơi khác: “Lính gác không còn thể hiện thứ tinh thần yêu nước mà họ từng làm khi Stalin còn sống”.[260] Những tù từ chối thực hiện một nhiệm vụ đòi hỏi phải đặc biệt ráng sức, không mấy dễ chịu hoặc bất công không còn bị trừng phạt như trước nữa. Tù từ chối làm việc vào Chủ nhật không còn bị trừng phạt nữa.[261] Các cuộc phản đối tự phát nổ ra – và người phản đối cũng không bị trừng phạt, như Barbara Armonas nhớ lại:

Một cách nào đó cuộc ân xá này đã thay đổi kỷ luật căn bản của trại… Một hôm nọ chúng tôi từ cánh đồng về giữa một cơn mưa bão, khắp người hoàn toàn ướt sũng. Ban quản lý đưa chúng tôi tới nhà tắm mà không cho chúng tôi về phòng của mình trước. Chúng tôi không muốn thế bởi chúng tôi muốn có thể thay quần áo ướt lấy quần áo khô trước đã. Cả hàng dài tù nhân bắt đầu phản đối bằng cách la lối vào gào thét chửi bới, gọi ban quản lý là “đồ chekist” và “phát xít”. Sau đó chúng tôi đơn giản là không chịu đi nữa. Không có thuyết phục hay hăm doạ nào có hiệu quả. Sau một tiếng đồng hồ câm lặng chiến đấu ban quản lý chịu thua và chúng tôi đi về phòng mình để lấy quần áo khô.[262]

Sự thay đổi cũng ảnh hưởng cả đến tù. Trong những tháng sau khi Stalin chết, Susanna Pechora đang ở trong một phòng giam chung của nhà tù, trải qua đợt hỏi cung thứ hai: do là một tên “phản cách mạng” người Do Thái, từ trại của mình bà bị gọi về Moscow vì liên hệ với vụ Âm mưu bọn Bác sĩ. Sau đó, khá đột ngột, việc hỏi cung bà chấm dứt. Điều tra viên của bà gọi bà lên gặp mặt. “Cô hiểu không, tôi không phạm tội làm hại cô, tôi chưa bao giờ đánh cô, tôi không làm tổn thương cô”, người này nói. Anh ta đưa Pechora vào một phòng giam mới, và tại đấy, lần đầu tiên, bà nghe thấy một người trong đám phụ nữ nói về cái chết của Stalin. “Chuyện gì vậy?” bà hỏi. Các bạn cùng phòng bà lập tức im bặt: do ai cũng đã biết rằng Stalin đã chết, họ cho rằng bà chắc là một chỉ điểm đang tìm cách đánh giá quan điểm của họ. Bà phải mất trọn một ngày để thuyết phục họ rằng mình thực sự không biết. Sau cùng, Pechora nhớ lại, tình thế bắt đầu thay đổi đột ngột.

Lính gác đâm ra sợ chúng tôi, chúng tôi làm bất cứ gì mình muốn, chúng tôi la hét trong khi tập thể dục, đứng phát biểu, leo ra qua cửa sổ. Chúng tôi thường từ chối đứng dậy khi chúng bước vào phòng giam và bảo chúng tôi không được nằm trên giường. Chúng tôi hẳn đã bị bắn chết nếu dám làm như vậy nửa năm trước.[263]

Không phải tất cả đều thay đổi. Leonid Trus cũng đang bị hỏi cung vào tháng 3/1953. Trong khi cái chết của Stalin có lẽ đã cứu ông không bị hành quyết, ông vẫn phải nhận một án hai lăm năm. Một trong số các bạn cùng phòng với ông bị nhận mười năm vì đã nói gì đó thiếu thận trọng về cái chết của Stalin.[264] Không phải ai cũng được thả. Rốt cục, lệnh ân xá đã bị giới hạn lại chỉ còn cho người rất ít tuổi, rất lớn tuổi, phụ nữ có con nhỏ và tù bị án từ năm năm trở xuống. Đa số người bị án ngắn hạn đều là tù tội phạm hay tù chính trị bị án nhẹ bất thường. Do vậy vẫn còn lại hơn một triệu tù trong Gulag, bao gồm hàng trăm ngàn tù chính trị bị án dài hạn.

Tại một số trại, những ai sắp được tha gập người dưới mưa quà tặng, sự quan tâm và thư từ nhờ đem về cho bạn bè và gia đình.[265] Như thường lệ, có những kèn cựa kinh khủng nổ ra giữa các tù nhân sắp được thả và những ai không được. Bốn mươi năm sau, một tù không được thả trong đợt ân xá đầu vẫn còn cay đắng nhớ đến nó như một “cuộc ân xá cho bọn móc túi”, cuộc tự do cho lũ trộm vặt: “bọn tội phạm tỏ ra vui sướng, tất cả bọn chúng đều được thả”.[266] Tại một trại nọ, một nhóm nữ tù bị án dài hạn đã nện nhừ đòn một phụ nữ án ngắn hạn chỉ vì không hài lòng. Những ai sắp được thả cũng hay gây tức giận, tự khép mình xa cách, xem thường các “tội phạm” khác còn phải ở lại.[267]

Các kiểu bạo lực khác cũng nổ ra. Một số người án dài hạn tới gặp các bác sĩ trại, yêu cầu được cấp chui giấy chứng nhận “tàn tật” vốn sẽ cho phép được thả ngay lập tức. Bác sĩ nào từ chối thường bị hăm doạ hay bị đánh. Tại Pechorlag, có đến sáu vụ như vậy: các bác sĩ bị “khủng bố có hệ thống”, bị đánh, thậm chí bị đâm. Tại Yuzhkuzbasslag, bốn tù hăm doạ giết chết viên bác sĩ trại. Ở các trại khác, con số tù được thả do “tàn tật” vượt quá con số người tàn tật được ghi nhận trước đó trong trại.[268]

Nhưng một nhóm tù đặc biệt, trong một nhóm trại đặc biệt, đã trải qua một một tập hợp cảm xúc khá khác biệt. Tù trong các “trại đặc biệt” thực sự là một trường hợp đặc biệt: đa số tù trong đó lãnh án mười – mười lăm – hay hai lăm năm, và không có hy vọng được thả theo lệnh ân xá của Beria. Chỉ có chút ít thay đổi tác động lên chế độ trại của họ trong vài tháng đầu sau khi Stalin chết. Ví dụ như, tù giờ đây được phép nhận bưu phẩm, nhưng chỉ một gói mỗi năm. Bất đắc dĩ, ban quản lý cho phép các đội bóng của trại đá với nhau. Nhưng họ vẫn phải mặc đồng phục có đánh số, cửa sổ trong lán của họ vẫn bị song sắt, và lán ở vẫn bị khoá ban đêm. Tất cả liên hệ với thế giới bên ngoài bị giữ ở mức tối thiểu.[269]

Đó chính là điều kiện dẫn đến nổi loạn. Năm 1953, cư dân của các trại đặc biệt đã bị giữ riêng khỏi tù tội phạm và tù “thường” kể từ 1948, hơn năm năm trời. Chỉ còn lại mình họ, họ đã phát triển hệ thống tổ chức và kháng cự nội bộ vốn không điều gì ở Gulag trong những năm trước có thể so sánh được. Qua năm tháng, họ đã đến bờ vực của cuộc khởi nghĩa có tổ chức, lập âm mưu và lên kế hoạch, chỉ bị kìm nén bởi hy vọng rằng cái chết của Stalin sẽ đưa đến việc họ được thả. Khi cái chết của Stalin không thay đổi được gì, hy vọng liền tan biến – và được thay thế bởi lòng căm giận.

 

24

Cuộc cách mạng của zek

 

Tôi mất ngủ, nghe bão tuyết gào thét

Một thời kỳ không rõ, đã lãng quên

Với rừng lều sặc sỡ của Timur-Què

Trên thảo nguyên kia… lửa trại lập loè

Tôi sẽ hoá nàng công chúa Mông Cổ

Cưỡi ngựa phi về quá khứ xa xăm

Vung roi quất mạnh đuôi chú ngựa hồng

Quất kẻ thù, và cả người tôi yêu đó…

Rồi một ngày tôi giữa chốn sa trường

Trong cơn say máu hoan cuồng vô tưởng

Khi khoảng khắc chiến bại đã thấy rõ

Tôi phanh ngực lao vào lưỡi gươm tôi…

– Anna Barkova, “Trong lán ở của trại tù”[270]

 

Trong làn sóng sau cái chết của Stalin, các trại đặc biệt, giống như phần còn lại của đất nước, bị ngập tràn các tin đồn. Nào Beria sẽ lên nắm quyền; nào Beria đã chết. Nào Nguyên soái Zhukov và Đô đốc Kuznetsov đã tiến vào Moscow và đang cho xe tăng tấn công Kremlin; nào Khrushchev và Molotov đã bị giết chết. Nào tất cả tù nhân sẽ được thả; nào tất cả tù sẽ bị hành quyết; hay trại đã bị quân MVD có vũ trang bao vây, sẵn sàng dập tắt bất cứ dấu hiệu nổi loạn nào. Tù truyền tai nhau các câu chuyện ấy, có khi thì thào có khi lại hét lớn, vừa hy vọng lại vừa phỏng đoán.[271]

Đồng thời, các tổ chức dân tộc trong trại đặc biệt trở nên lớn mạnh hơn, mối liên hệ giữa họ vững chặt hơn. Điển hình của thời kỳ này là trải nghiệm của Viktor Bulgakov, bị bắt vào mùa xuân 1953 – thực tế là đúng vào cái đêm Stalin chết – và bị tố cáo tham gia một nhóm chính trị chống Stalin của sinh viên. Chẳng bao lâu sau, ông tới Minlag, trại đặc biệt thuộc tổ hợp mỏ than Inta, phía bắc Vòng Bắc Cực.

Mô tả của Bulgakov về không khí ở Minlag tương phản sâu sắc với hồi ký của các tù nhân thời kỳ trước đó. Hãy còn là thiếu niên khi bị bắt, ông bước vào một cộng đồng tổ chức chặt chẽ, chống Stalinist, chống Liên Xô. Đình công và phản đối xảy ra ”thường xuyên”. Tù tự chia họ thành nhiều nhóm dân tộc rất khác biệt, mỗi nhóm có đặc tính riêng. Người Baltic có ”tổ chức chặt chẽ, nhưng không có cơ cấu vận hành trơn tru”. Người Ukraina .  hầu hết là cựu du kích, được ”tổ chức vô cùng tốt, do lãnh đạo của họ từng là chỉ huy du kích trước khi bị bắt, họ biết rõ về nhau và cơ cấu của họ xuất hiện một cách hầu như tự động”.

Trại cũng bao gồm những tù có lòng tin vào chủ nghĩa cộng sản, mặc dù họ tự chia mình thành hai nhóm: những người toàn tâm toàn ý phục tùng đường lối của Đảng; và những người tự xem mình là người cộng sản theo niềm tin hay nhận thức – và tin vào sự cải cách Liên Xô. Cuối cùng, người ta có thể trở thành một người Mácxít chống Xôviết, một điều không thể nghĩ tới trong những năm trước đó. Bản thân Bulgakov thuộc về Liên đoàn Công nhân Nhân dân – Narodno-Trudovoi Soyuz, hay NTS – một phong trào đối lập chống Stalinist, vốn sẽ giành được nhiều tăm tiếng một hai thập kỷ sau này, khi chính quyền đầy hoang tưởng bắt đầu nhìn thấy dấu hiệu về ảnh hưởng của nó xuất hiện ở khắp nơi.[272]

Mối bận tâm của Bulgakov ở trong trại có lẽ cũng sẽ làm các thế hệ tù trước đó phải kinh ngạc. Tại Minlag, tù tìm cách cho ra đời một tờ báo bí mật hoạt động ngầm, được viết bằng tay và phân phát đi khắp trại. Họ hăm doạ đám pridurki, những kẻ do đó đã “trở nên khiếp sợ trước các tù nhân”. Họ cũng theo dõi đám chỉ điểm trong trại – cũng như các tù khác trong trại đặc biệt. Dmitri Panin cũng mô tả cuộc chiến lây lan chết người chống lại đám chỉ điểm:

Sự trừng phạt được thực hiện một cách có hệ thống. Trong thời gian tám tháng bốn mươi lăm tên chỉ điểm đã bị khử. Các chiến dịch tiêu diệt chúng được điều hành từ một trung tâm bí mật… Chúng tôi chứng kiến một số tù chim mồi, không thể chịu nổi nguy cơ bị tiêu diệt đang lơ lửng trên đầu, đã chạy trốn số phận bằng cách tự làm cho mình bị giam trong nhà giam của trại – nơi duy nhất chúng có thể trốn khỏi bị chắc chắn trả thù. Tất cả bọn chúng bị giữ trong cùng một phòng giam, được mệnh danh là “hố khiếp hãi”.[273]

Một sử gia về trại đã viết rằng các vụ giết chết chỉ điểm viên đã trở thành “một chuyện xảy ra thường đến nỗi không còn ai ngạc nhiên hay quan tâm”, và lưu ý rằng chỉ điểm viên “chết sạch nhanh chóng”.[274] Một lần nữa, cuộc sống bên trong trại đã phản chiếu và khuếch đại cuộc sống ở bên ngoài. Các tổ chức du kích chống Liên Xô ở Tây Ukraina từng cố gắng mãnh liệt để tiêu diệt bọn chỉ điểm, và các lãnh đạo của họ đem theo nỗi ám ảnh này vào trong trại.[275] Có lẽ hiểu rõ về điều này, chính quyền trong trại của Panin đã tách riêng tù Ukraina khỏi các nhóm khác, do người Ukraina bị xem là phải chịu trách nhiệm về cái chết của các chỉ điểm viên. Chuyện này chỉ làm tăng thêm sự đoàn kết và lòng căm giận của họ.[276]

Năm 1953, các đồng chí của Bulgakov ở Minlag cũng thực hiện một cố gắng có hệ thống để giữ được số lượng và điều kiện sống của mình, để chuyển thông tin này cho phương Tây, sử dụng các lính gác chịu cộng tác và những kỹ thuật khác vốn sẽ trở nên hoàn hảo trong các trại cho người chống đối chính quyền vào thập niên 1970 và 1980, như chúng ta sẽ xem sau này. Bản thân Bulgakov chịu trách nhiệm cất giấu các tài liệu ấy, cũng như các bản sao bài hát và thơ do tù sáng tác. Leonid Sitko cũng làm công việc tương tự ở Steplag, dùng tầng hầm của một toà nhà mà các công nhân trại đang xây dựng để làm nơi giấu tài liệu. Trong số đó có “các mô tả vắn tắt về cuộc đời từng người, thư từ của các bạn tù đã qua đời, một bản tài liệu ngắn gọn được ký bởi một bác sĩ tên là Galina Mishkina viết về điều kiện sống bất nhân trong trại (bao gồm thống kê tử vong, mức độ đói khát v.v.), một tập hợp số liệu về tổ chức và sự phát triển của các trại ở Kazakhstan, một tập hợp số liệu chi tiết hơn về lịch sử của Steplag – và các bài thơ”.[277]

Cả Sitko lẫn Bulgakov đều tin tưởng rất giản dị rằng một ngày nào đó hệ thống trại sẽ bị đóng cửa, các lán sẽ bị đốt rụi, và rằng thông tin sẽ được phục hồi trở lại. Hai mươi năm trước, không một ai dám nghĩ đến một việc như vậy chứ đừng nói đến chuyện dám làm.

Rất mau chóng, chiến thuật và chiến lược của các âm mưu lan đi khắp hệ thống trại đặc biệt, nhờ vào chính bản thân ban quản lý Gulag. Trong quá khứ, những tù bị nghi ngờ đang ấp ủ âm mưu đơn giản là bị chia tách ra. Chính quyền trung ương thường chuyển tù từ trại này qua trại khác, phá huỷ mạng lưới nổi loạn trước khi chúng bắt đầu hành động. Tuy nhiên, trong cái thời tiết rành mạch rõ ràng hơn của các trại đặc biệt, chiến thuật này đem lại kết quả trái ngược. Thay vào đó, sự di chuyển thường xuyên của tù trở thành phương tiện tuyệt vời để lan truyền nổi loạn.[278]

Phía Bắc Vòng Bắc Cực, mùa hè rất ngắn ngủi và nóng bức. Cho tới cuối tháng Năm, băng trên mặt các con sông bắt đầu nứt. Ngày kéo dài hơn, cho tới khi đêm hoàn toàn biến mất. Tại một thời điểm nào đó ở tháng Sáu – trong một số năm là muộn đến tận tháng Bảy – mặt trời đột nhiên chiếu sáng chói chang thực sự, đôi khi suốt một tháng, đôi khi cả hai tháng trời. Chỉ trong vòng một hai ngày, các đoá hoa dại vùng Cực Bắc sẽ nở rộ, và trong vài tuần ngắn ngủi vùng đài nguyên sẽ ngập trong sắc màu rực rỡ. Đối với con người, những ai vừa bị nhốt trong nhà suốt chín tháng trời, mùa hè đem đến một khao khát ngập tràn muốn bước ra ngoài và được tự do. Trong mấy ngày hè nóng nực mà tác giả sống ở Vorkuta, cư dân của thành phố dường như đã sống hết cả các ngày dài lẫn những đêm trắng ở ngoài trời, đi dạo ngoài phố, ngồi trong công viên, trò chuyện với người khác trên bậc cửa nhà họ. Không phải tình cờ mà mùa xuân là lý do để tù chạy trốn. Cũng không phải tình cờ mà ba cuộc nổi dậy quan trọng nhất, nguy hiểm nhất và nổi tiếng nhất tại Gulag đều diễn ra ở các trại miền bắc vào mùa xuân.

Tại Gorlag, trại đặc biệt thuộc tổ hợp Norilsk, tinh thần mọi người vô cùng giận dữ vào mùa xuân năm 1953. Mùa thu trước, một nhóm đông tù tổng cộng khoảng 1.200 người đã bị chuyển tới Gorlag từ Karaganda, nơi dường như nhiều người đã có liên quan tới các cố gắng chạy trốn có vũ trang và hoạt động chống đối diễn ra ở đấy vài tháng trước. Tất cả đều bị giam vì “hoạt động cách mạng ở Tây Ukraina và các nước Baltic”. Họ đã, theo như ghi chép của MVD, bắt tay vào tổ chức một “uỷ ban cách mạng” ngay từ khi còn đang trên đường vận chuyển đến Norilsk.

Theo lời kể của tù, họ cũng đã giết chết bốn chỉ điểm viên trong trại – bằng cuốc chim – trong vòng có vài ngày sau khi tới đấy.[279] Mùa xuân năm 1953, tức giận sâu sắc vì lệnh ân xá đã bỏ qua họ, nhóm người này đã lập ra cái mà MVD mô tả là một “tổ chức chống Liên Xô” trong trại, có lẽ có nghĩa rằng họ đã củng cố các tổ chức dân tộc sẵn có tại đấy.

Tình trạng bất ổn thấm dần xuống trong suốt tháng Năm. Ngày 25 tháng Năm, lính gác áp tải nổ súng bắn một tù trên đường đi làm việc. Buổi sáng hôm sau, hai khu lao động của trại đã biểu tình phản đối. Vài ngày sau, lính gác nổ súng vào các tù đang ném tin qua bức tường ngăn chia giữa trại nam và trại nữ. Một số người bị thương. Sau đó, ngày 4 tháng Sáu, một nhóm tù bẻ gãy thanh barie gỗ ngăn giữa lán trừng giới của trại với phần còn lại của zona, và thả ra hai mươi bốn tù. Họ cũng bắt một thành viên ban quản lý trại, lôi anh ta vào zona và giữ anh ta làm con tin. Lính gác nổ súng, giết chết năm tù và làm bị thương mười bốn tù khác. Bốn khu lao động nữa tham gia vào cuộc phản đối. Ngày 5 tháng Sáu, 16.379 tù tiến hành biểu tình. Binh lính bao vây trại và tất cả cổng ra vào đều bị chặn kín.[280]

Cũng gần khoảng thời gian đó, một tiến trình tương tự diễn ra ở Rechlag, trại đặc biệt thuộc tổ hợp khai thác mỏ than Vorkuta. Tù đã cố gắng tổ chức các cuộc bãi công tập thể tại Rechlag ngay từ năm 1951, và ban quản lý sau này tuyên bố đã phát hiện không dưới năm “tổ chức cách mạng” ở trong trại vào các năm 1951 và 1952.[281] Khi Stalin chết, tù của Rechlag cũng được trang bị đặc biệt tốt để nắm bắt các sự kiện trên thế giới. Họ không chỉ được tổ chức thành các nhóm dân tộc, giống như tại Minlag và các nơi khác, mà họ còn phân công các tù cụ thể để theo dõi các buổi phát sóng phát thanh phương Tây bằng các radio ăn cắp hay mượn được, sau đó viết lại tin tức theo hình thức bảng tin, có kèm theo bình luận, rồi thận trọng phân phát cho các tù khác. Nhờ vậy họ biết được không chỉ về các chết của Stalin và việc bắt giữ Beria, mà cả về các cuộc bãi công tập thể ở Đông Berlin, diễn ra ngày 17/6/1953 và bị dập tắt bởi xe tăng Liên Xô.[282]

Các mẩu tin này đã khích lệ tù khá nhiều: nếu người Berlin có thể bãi công, vậy thì họ cũng làm được. John Noble, người Mỹ bị bắt tại Dresden ngay sau chiến tranh, nhớ lại rằng “tinh thần của họ đã truyền cảm hứng cho chúng tôi và ngày hôm sau chúng tôi không thảo luận điều gì khác… Một tháng sau chúng tôi đã trở thành những kẻ nô lệ vênh váo. Mặt trời mùa hè kéo dài làm tan tuyết và hơi ấm của nó đã tiếp thêm năng lượng và lòng dũng cảm cho chúng tôi. Chúng tôi thảo luận về cơ hội bãi công để đòi tự do, nhưng không ai biết rõ cần phải làm gì”.[283]

Ngày 30 tháng Sáu, tù của khu mỏ Kapitalnaya phân phát các truyền đơn kêu gọi tù “Ngưng vận chuyển than”. Cùng ngày hôm đó, có một người đã viết câu khẩu hiệu lên vách mỏ Số 40: “Không vận chuyển than cho tới khi có lệnh ân xá”. Bản thân các xe goòng cũng trống rỗng: tù đã ngưng đào than.[284] Ngày 17 tháng Bảy, chính quyền mỏ Kapitalnaya gặp phải một lý do cần cảnh giác thậm chí còn nghiêm trọng hơn: ngày hôm đó, một nhóm tù đã đánh nhừ tử một đốc công, lấy lý do vì anh ta đã bảo họ phải “ngưng phá hoại”. Khi đã đến giờ bắt đầu ca làm thứ hai, người đốc công kế tiếp đã từ chối đi xuống hầm mỏ.

Trong khi các tù nhân ở Rechlag tiếp nhận tin tức về các sự kiện kể trên, một nhóm tù lớn kế tiếp tới nơi – lại là từ Karaganda. Tất cả đều đã được hứa hẹn sẽ nhận điều kiện sống tốt hơn và được xét lại án của mình. Khi đến làm việc tại mỏ than số 7 của Vorkuta, họ nhận thấy thay vì một sự cải thiện thì là điều kiện sống khắc nghiệt nhất trong toàn khắp hệ thống trại. Ngày hôm sau – ngày 19 tháng Bảy – 350 người bọn họ thực hiện bãi công.[285]

Các cuộc bãi công khác diễn ra nối tiếp – phần nào do chính điều kiện địa lý của Vorkuta. Vorkuta nằm ở giữa một bể than đá khổng lồ – một trong những vỉa lớn nhất thế giới. Để khai thác than, một chuỗi mỏ khai thác được xây dựng thành một vòng tròn rộng bao quanh bể than. Giữa các mỏ là các nhà máy khác – nhà máy điện, nhà máy gạch và nhà máy xi măng – mỗi nhà máy có liên hệ với một trại, cũng như với thành phố Vorkuta và khu dân cư Yur-Shor nhỏ hơn. Một tuyến đường sắt chạy qua tất cả những địa điểm ấy. Các chuyến tàu, cũng như mọi thứ khác ở Vorkuta, được vận hành bởi tù nhân – chính là cách mà sự nổi loạn đã lan truyền: cùng với than đốt và những thứ nhu yếu phẩm khác mà chúng chở từ lagpunkt này tới lagpunkt nọ, những tù điều khiển đầu máy đã chuyển đi tin tức về cuộc bãi công tại trại số 7. Khi các chuyến tàu đi quanh tuyến đường vòng tròn rộng lớn, hàng ngàn tù đã nghe được các thông tin rỉ tai, và hàng ngàn người khác đã thấy câu biểu ngữ viết trên sườn tàu: “Cút mẹ than đá của chúng mày đi. Chúng tao muốn tự do”.[286] Hết trại này đến trại khác tham gia cuộc bãi công cho đến khi, vào ngày 29/7/1953, sáu trong số mười bảy khu lao động của Rechlag – 15.604 người cả thảy – đồng loạt bãi công.[287]

Trong hầu hết các lagpunkt bãi công của Vorkuta và Norilsk, các ủy ban bãi công đã nắm một vị trí rõ ràng là hết sức nguy hiểm. Các quan chức quản lý hãi sợ đã bỏ trại và cơ hội cho sự vô chính quyền là lớn vô cùng. Trong một vài trường hợp, những ủy ban như vậy đã tự mình tổ chức chuyện ăn uống cho tù. Tại một số nơi khác, họ cố gắng thuyết phục tù không trút phẫn nộ lên những chỉ điểm viên giờ đây hoàn toàn vô phương tự vệ. Trong trường hợp của cả Rechlag và Gorlag, các hồi ký và hồ sơ lưu trữ đều thống nhất rằng những người chịu trách nhiệm (trong phạm vi là có một ai đó chịu trách nhiệm) hầu hết đều luôn là người Tây Ukraina, Ba Lan hay Baltic. MVD về sau lấy dấu vân tay của một người Ukraina tên Herman Stepanyuk là người cầm đầu ở Norilsk, và một người Ba Lan tên Kendzerski – một “cựu đại úy trong quân đội Ba Lan” – là một trong những người cầm đầu ở Vorkuta. Trong ghi chép của mình về cuộc nổi loạn, Edward Buca, người Ba Lan, cũng tuyên bố rằng đã dẫn đầu một cuộc bãi công tại mỏ than số 29 của Vorkuta. Mặc dù ông này rõ ràng có trong trại đó thời gian này, có những lý do để nghi ngờ ghi chép của ông, không chỉ vì rất nhiều các lãnh đạo bãi công thực thụ về sau đều bị xử bắn.[288]

Nhiều năm sau đó, những người dân tộc chủ nghĩa Ukraina sẽ tuyên bố rằng tất cả các cuộc bãi công chính của Gulag đều đã được lên kế hoạch và tiến hành bởi các tổ chức ngầm của họ, vốn ẩn dấu sau các ủy ban bãi công đa dân tộc: “Một người tù bình thường, ở đây chúng ta đang đề cập đặc biệt đến những người tù từ phương Tây và tù người Nga, sẽ không có khả năng cả tham gia trong việc đưa ra quyết định lẫn thấu hiểu được cơ chế của phong trào”. Để dẫn chứng, họ nêu ra hai “chuyến vận chuyển etap Karaganda”, chở những nhóm người Ukraina đến cả hai trại trên, ngay trước khi có các cuộc bãi công.[289]

Cùng các chứng cứ đó đã dẫn nhiều người khác tới kết luận rằng những cuộc bãi công được kích động bởi các thành phần bên trong chính MVD. Có lẽ có thành viên của cơ quan an ninh đã lo rằng Khrushchev đang chuẩn bị đóng cửa hoàn toàn hệ thống trại – và giải tán tất cả bộ máy chính quyền trại. Hệ quả là, họ đã xúi giục nổi loạn để ra tay dặp tắt chúng, qua đó chứng tỏ mình vẫn còn rất hữu ích như thế nào. Simeon Vilensky, một cựu zek và là nhà xuất bản, người sau này đã tổ chức hai cuộc hội thảo về chủ đề sự chống đối trong trại, đã diễn tả rất hay: “Ai là người quản lý các trại?  Hàng ngàn con người, không hề có nghề nghiệp nào khác ngoài xã hội dân sự, những người đã quen với sự vô luật pháp tuyệt đối, quen với việc làm ông chủ của đám tù nhân, đang có thể sai khiến tù làm những gì mà họ muốn. Đó là những con người mà, so với các công dân lao động khác, được trả công khá hậu hĩnh”.

Vilensky tiếp tục thuyết phục rằng ông đã chứng kiến một cuộc xúi giục tại trại đặc biệt của ông ở Kolyma năm 1953. Rất đột ngột, ông kể, một nhóm tù mới nhập vào trại. Một kẻ trong bọn họ bắt đầu công khai tổ chức những người trẻ tuổi trong trại thành một nhóm nổi loạn. Họ nói về chuyện bãi công, viết truyền đơn, lôi kéo các tù khác. Thậm chí họ còn dùng xưởng cơ khí của trại để làm dao. Hành vi của họ quá lộ liễu và khích động đến nỗi Vilensky thấy nghi ngờ: ban quản lý trại không thể ngẫu nhiên mà dung thứ các hành động như vậy. Ông kêu gọi chống lại những kẻ mới đến cho tới khi, cuối cùng ông bị chuyển qua một trại khác.[290]

Về lý thuyết, những chuyện như vậy là hợp lý. Có thể đó là những phần tử thuộc nhóm người Ukraina nổi loạn mà MVD đưa vào trại để gây rắc rối theo một kiểu nào đó. Cũng có thể các lãnh đạo bãi công người Ukraina tin rằng bản thân họ đang hành động theo ý muốn của chính mình. Tuy nhiên, theo cả ghi chép chính thức lẫn theo nhân chứng, dường như có vẻ các cuộc bãi công chớp được thời cơ chỉ nhờ sự phối hợp giữa các nhóm dân tộc khác nhau. Nơi nào các nhóm dân tộc kèn cựa nhau công khai hơn, hay không có quan hệ hữu hảo với nhau – giống như tại Minlag – các cuộc bãi công khó tổ chức hơn rất nhiều.[291]

Bên ngoài trại, các cuộc bãi công không nhận được hỗ trợ nào đáng kể. Các cuộc bãi công ở Gorlag, tổ hợp trại nằm rất gần với thành phố Norilsk, đã cố gắng thu hút sự chú ý đến động cơ của họ bằng biểu ngữ: “Hỡi các đồng chí, cư dân của Norilsk! Hãy giúp đỡ cuộc đấu tranh của chúng tôi”.[292] Do hầu hết dân cư của Norilsk đều là cựu tù, họ gần như quá sợ hãi để có thể có phản ứng lại. Gạt qua một bên thứ ngôn ngữ quan liêu của cơ quan này, các báo cáo của MVD viết vài tuần sau khi sự kiện diễn ra đã truyền đạt rất rõ sự khiếp hãi mà các cuộc bãi công gây ra trong cả đám tù lẫn các công nhân tự do. Một trong những kế toán viên ở Gorlag đã thề với MVD rằng “nếu bọn bãi công bước ra ngoài zona, chúng tôi sẽ chiến đấu chống lại chúng, giống như chúng tôi chiến đấu chống lại quân thù vậy”.

Một công nhân tự do khác kể với MVD về cuộc gặp tình cờ của anh ta với những người bãi công: “Tôi nán lại sau khi hết ca làm việc để làm cho xong việc khoan hết mạch vỉa than. Một nhóm tù đến gần tôi. Nắm lấy cái khoan điện, họ ra lệnh cho tôi phải ngưng làm, dọa sẽ trừng phạt. Tôi sợ hãi và thôi không làm nữa…” May thay cho anh ta, đám tù soi cái đèn lên mặt, nhận thấy anh ta là công nhân tự do nên để cho anh ta yên.[293] Một mình, giữa bóng tối của khoang mỏ, vây quanh bởi những người bãi công thù hằn, giận dữ và lấm đầy bụi than, hẳn anh đã thực sự hết sức sợ hãi.

Các ông trùm trại địa phương cũng cảm thấy sợ hãi. Nhận ra điều này, những người bãi công ở cả Gorlag lẫn Rechlag đều yêu cầu được gặp các đại diện của chính quyền Xô viết và Đảng Cộng sản từ Moscow. Họ lập luận rằng các chỉ huy địa phương không thể tự quyết định bất cứ chuyện gì khi không có sự cho phép của Moscow, một điều đúng tuyệt đối.

Và Moscow tới. Tức là, trong nhiều trường hợp, đại diện của “những ủy ban Moscow” gặp gỡ các ủy ban tù nhân ở Gorlag và Rechlag, để lắng nghe và bàn luận về yêu cầu của họ. Tác giả có thể mô tả những cuộc gặp ấy như sự phá vỡ tiền lệ, nhưng như vậy vẫn khó mà truyền tải đủ mức độ khác thường của việc này. Trước đây chưa khi nào yêu cầu của tù được đáp lại bằng bất cứ thứ gì ngoài sự đàn áp tàn bạo. Tuy nhiên, ở cái thời đại hậu Stalin mới mẻ này, Khrushchev dường như đang sẵn sàng tìm cách ít nhất là thuyết phục đám tù bằng những nhượng bộ thực sự.

Khrushchev, hay đúng hơn là các đại diện của ông, đã không thành công. Bốn ngày sau khi nổ ra cuộc đình công ở Vorkuta, một ủy ban Moscow dẫn đầu bởi sĩ quan cao cấp, tướng I. I. Maslennikov, đã đưa ra cho các tù nhân một danh sách các nhượng bộ mới: ngày làm việc chín tiếng, được tháo số tù khỏi đồng phục, được phép gặp gỡ người thân, được nhận thư từ và tiền nhà gửi. Theo như bản báo cáo chính thức, nhiều lãnh đạo bãi công đã tiếp nhận tin này với thái độ “thù địch” và tiếp tục bãi công. Cũng kiểu phản ứng này diễn ra tiếp theo một đề nghị tương tự ở Gorlag. Các tù nhân dường như mong muốn được ân xá chứ không chỉ là cải thiện điều kiện sống cho họ.

Mặc dù không phải là năm 1938, lúc này cũng chẳng phải 1989. Stalin đã chết, nhưng di sản của ông vẫn còn đó. Bước đầu tiên có thể là đàm phán – nhưng bước kế tiếp là bạo lực tàn nhẫn.

Tại Norilsk, chính quyền thoạt đầu hứa rằng họ sẽ “xem xét yêu cầu của tù nhân”. Thay vào đó, như báo cáo của MVD đã viết, “ủy ban MVD Liên Xô đã quyết định phải thanh toán cuộc bãi công”. Quyết định này, gần như rõ là do Khrushchev đưa ra, đã có ảnh hưởng kịch tính ngay lập tức. Binh lính đến bao vây các trại bãi công. Xông vào hết lagpunkt này đến lagpunkt khác, họ lục soát trại, bắt giữ các lãnh đạo bãi công và chuyển các tù khác đi theo tàu vận chuyển.

Trong một vài trường hợp, cuộc “thanh toán” này diễn ra khá trót lọt. Khi đến khu trại lao động đầu tiên, binh lính bắt gặp tù trong tình trạng thật bất ngờ. Qua loa phóng thanh của trại, Babilov, chánh ủy viên công tố Norilsk, đã yêu cầu tù rời khỏi zona, hứa với họ là những ai yên bình đi xa khỏi đó sẽ không bị trừng phạt vì đã tham gia “phá hoại”. Theo báo cáo chính thức, hầu hết tù đã đi ra. Nhận thấy họ đã bị cô lập, các lãnh đạo chủ chốt cũng bước ra. Bên ngoài rừng taiga, binh lính và các ông trùm trại chia tách tù thành từng nhóm. Xe tải chờ sẵn để chở đi những ai bị nghi ngờ chủ mưu bãi công, và những người “vô tội” được phép quay về trại.

Một số cuộc “thanh toán” tiếp theo kém trót lọt hơn. Khi chính quyền diễn lại cũng quy trình đó vào ngày hôm sau ở lagpunkt khác, các lãnh đạo bãi công ban đầu đe dọa những ai muốn bỏ đi – và sau đó tự nhốt mình vào một trong những lán ở, tại đó buộc phải dùng vũ lực để đưa họ ra. Trong trại nữ, tù lập thành một vòng tròn người và treo một lá cờ đen – tượng trưng cho những đồng chí bị giết hại vô cớ – ở ngay giữa trại, và la hét hô to khẩu ngữ. Sau năm tiếng đồng hồ như vậy, lính gác bắt đầu quất mạnh một trận dùi cui. Chỉ khi đó vòng tròn mới rời ra đủ để lính gác lôi đám phụ nữ khỏi trại.

lagpunkt số 5, có tới 1.400 tù, hầu hết là người Ukraina và Baltic, đã từ chối rời khỏi zona. Thay vào đó, họ treo cờ đen phía trên lán ở, đưa bản thân họ vào, theo như lời của một quan chức MVD, một “tình thế vô cùng gây hấn”. Và rồi, khi lính gác trại, đi kèm bốn mươi quân nhân, cố gắng chia tách các lán và bảo vệ kho thực phẩm của trại, một đám 500 tù đã xông vào tấn công họ. Đám người này chửi rủa và hò reo, ném đá, đánh lính bằng gậy và cuốc chim, tìm cách giật súng khỏi tay họ. Báo cáo chính thức mô tả những gì xảy ra sau đó: “Vào thời điểm nguy cấp nhất khi chúng tấn công lính gác, các chiến sĩ đã nổ súng vào tù nhân. Sau khi nổ súng chấm dứt, tù bị buộc phải nằm xuống đất. Sau đó, tù bắt đầu thực hiện tất cả mệnh lệnh của lính gác và của ban quản lý trại”.[294]

Cũng theo cùng báo cáo này, hai mươi ba tù đã thiệt mạng ngày hôm đó. Còn theo lời nhân chứng, hàng trăm tù đã chết trong vòng vài ngày ở Norilsk, trong một chuỗi các vụ tương tự nhau.

Chính quyền đã dập tắt cuộc bãi công Vorkuta theo cùng một cách tương tự. Hết lagpunkt đến lagpunkt khác, binh lính và công an vũ trang dồn tù ra khỏi trại, chia họ thành từng nhóm 100 người, rồi đưa họ qua một quá trình “thanh lọc”, tách những người bị cho là lãnh đạo bãi công ra khỏi các tù khác. Để tù chịu bước ra một cách hoà bình, uỷ ban Moscow cũng lớn tiếng hứa hẹn với tất cả tù rằng vụ án của họ sẽ được xét lại, và rằng các lãnh đạo bãi công sẽ không bị xử bắn. Mẹo này đã có kết quả: nhờ tư cách “cha chú” của tướng Maslennikov, “chúng tôi đã tin ông”, một trong những người tham gia sau này đã giải thích.[295]

Tuy nhiên, tại một trại – lagpunkt cạnh Mỏ số 29 – tù đã không tin lời vị tướng – và khi Maslennikov nói họ quay lại làm việc, họ đã từ chối. Binh lính tới, đem theo một máy bơm cứu hoả, dự định phun nước để làm tan rã đám đông:

Nhưng trước khi vòi được dỡ ra và chĩa vào chúng tôi, Ripetsky vẫy các tù tiến lên và tạo thành một bức tường, hất cái xe ra khỏi cổng như thể nó là món đồ chơi… Lính gác bắn ra một loạt đạn, thẳng vào giữa đám tù. Nhưng chúng tôi đang đứng tay nắm chặt tay, và ban đầu không một ai ngã xuống, mặc dù có nhiều người chết và bị thương. Chỉ có Ihnatowicz, cách hàng người một chút, là đứng một mình. Anh ấy dường như đứng sững một lúc vì ngạc nhiên, và rồi xoay tròn quay mặt về chúng tôi. Môi anh ấy mấp máy, nhưng không thốt ra lời nào. Anh ta dơ một tay ra rồi ngã xuống.

Khi anh ngã, loạt đạn thứ hai nổ, rồi loạt thứ ba, rồi thứ tư. Rồi mấy khẩu đại liên khai hoả.

Một lần nữa, các ước lượng về số người bị giết ở Mỏ số 29 rất khác nhau. Tài liệu chính thức cho biết có 42 chết và 135 bị thương. Các nhân chứng một lần nữa lại nói tới “hàng trăm” thương vong.[296]

Các cuộc bãi công kết thúc. Nhưng hệ thống trại không khi nào còn được thực sự yên ổn. Trong suốt thời gian còn lại của năm 1953 và 1954, các cuộc phản đối lác đác nổ ra ở Vorkuta và Norilsk, trong các trại đặc biệt khác và cả tại những trại thường. “Một tinh thần hoan hỉ, được nâng đỡ bởi việc tăng tiền công mà chúng tôi đã giành được, chính là thành quả của các cuộc bãi công”, Noble viết. Khi ông bị chuyển đến Mỏ số 29, nơi diễn ra cuộc tàn sát, những tù sống sót đã hãnh diện chìa cho ông xem mấy vết sẹo mà họ phải nhận vào ngày hôm ấy.[297]

Khi tù đã trở nên bạo gan hơn, thực sự không còn trại nào không phải chịu ảnh hưởng. Ví dụ, vào tháng 11/1953, 530 tù ở Vyatlag đã từ chối làm việc. Họ yêu cầu được trả công cao hơn, và đòi chấm dứt sự “bất bình thường” trong việc phân phối quần áo và điều kiện sinh hoạt. Ban quản lý trại đồng ý đáp ứng yêu cầu của họ, nhưng ngày hôm sau tù lại tiếp tục bãi công. Lần này, họ yêu cầu được đưa vào trong diện ân xá của Beria. Cuộc bãi công chấm dứt khi những người tổ chức nó bị bắt và tống giam.[298] Tháng 3/1954, một nhóm “cướp” chiếm quyền kiểm soát một lagpunkt của Kargopollag, de đọa sẽ gây náo loạn trừ khi họ được cấp thực phẩm tốt hơn – và vodka.[299] Tháng 7/1954, 900 tù ở Minlag tổ chức cuộc tuyệt thực kéo dài một tuần lễ, phản đối về cái chết của một tù bị thiêu sống khi khám trừng phạt bị hỏa hoạn. Tù phân phát truyền đơn khắp trại và ở các làng lân cận, giải thích lý do bãi công, và chỉ ngưng khi một ủy ban từ Moscow tới và đáp ứng đòi hỏi của họ về việc được đối xử tốt hơn. Khắp nơi ở Minlag, các cuộc bãi công trở thành một phần thường xuyên của cuộc sống, đôi khi được thực hiện bởi các đội lao động riêng lẻ, đôi khi bởi cả toàn mỏ.[300]

Thêm nhiều vụ gây bất ổn khác được lên kế hoạch, theo như chính quyền biết. Tháng 6/1954, MVD gửi trực tiếp báo cáo của một chỉ điểm viên lên Krylov, Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Bản báo cáo gồm một ghi chép về cuộc nói chuyện giữa một nhóm tù người Ukraina mà tay chỉ điểm viên đã gặp tại nhà tù trung chuyển Svedlovsk. Đám tù đến từ Gorlag và đã có tham gia bãi công ở đấy. Giờ họ bị chuyển đi nơi khác – nhưng đang chuẩn bị cho vụ kế tiếp:

Mọi người trong phòng giam giải thích với Pavlishin và Stepanyuk những gì họ đã làm trong cuộc bãi công, bao gồm cả bản thân tôi… Trước mặt tôi, Morushko báo cho Stepanyuk về một vụ diễn ra trên chiếc xà lan đi từ Norilsk tới Krasnoyarsk. Trên xà lan hắn đã thực hiện cuộc thanh lọc tù nhân, và những ai không hữu ích thì hắn tiêu diệt. Stepanyuk nói với Pavlishin, “Nhiệm vụ anh được giao đã hoàn thành, giờ đây những gì chúng ta làm được đã trở thành một phần của lịch sử Ukraina”. Sau đó hắn ôm lấy Morushko và nói,

Pan Morushko, ngài đã có đóng góp rất to lớn cho tổ chức của chúng ta… vì vậy ngài sẽ được nhận một huân chương, và sau khi chế độ Xôviết sụp đổ ngài sẽ nắm giữ một chức vụ quan trọng”.[301]

Mặc dù cũng có thể rằng tay chỉ điểm viên lập báo cáo đã nghe được một cuộc nói chuyện khá tương tự như trên, anh ta cũng có thể đã dựng ra nó: đoạn sau trong bản báo cáo đó, anh ta tiếp tục tố cáo đám người Ukraina đã tổ chức một âm mưu không tưởng nhất để giết hại Khrushchev. Tuy nhiên, thực tế rằng những thông tin đáng nghi ngờ như vậy được gửi thẳng cho đích thân Kruglov cho thấy chính quyền đã xem xét mối đe dọa của các nguy cơ nổi loạn tiếp theo nghiêm túc tới mức nào. Cả hai ủy ban tới để điều tra tình hình tại Gorlag và Rechlag đã kết luận rằng cần phải tăng số lính gác, xiết chặt chế độ sinh hoạt, và trên hết là cần tăng số lượng chỉ điểm viên.[302]

Thực tế đã chứng tỏ họ lo là đúng. Cuộc nổi dậy nguy hiểm nhất đang còn ở phía trước.

Giống như hai cuộc trước đó, cuộc nổi dậy mà Solzhenitsyn đặt tên là “Bốn mươi ngày ở Kengir” không hề là đột ngột hay quá bất ngờ.[303] Nó từ từ lộ diện, vào mùa xuân năm 1954, sau một loạt các sự việc xảy ra tại trại đặc biệt Steplag vốn nằm gần làng Kengir, Kazakhstan.

Cũng như các sự kiện tương tự ở Rechlag và Gorlag, các chỉ huy của Steplag, theo dòng xoáy sự kiện từ cái chết của Stalin, đã không thể đối phó với đám tù của mình. Một trong những sử gia về cuộc bãi công, sau khi nghiên cứu hồ sơ lưu trữ của trại kể từ năm 1953, đã kết luận rằng ban quản lý đã “hoàn toàn mất kiểm soát”. Trong giai đoạn chuẩn bị cho cuộc bãi công, các chỉ huy của Steplag đã đều đặn gửi báo cáo cho Moscow, mô tả về các tổ chức hoạt động ngầm trong trại, về các vụ bất ổn, và về “cơn khủng hoảng” khốn khổ của hệ thống chỉ điểm viên mà giờ đây hầu như đã hoàn toàn mất hết khả năng. Moscow viết trả, ra lệnh cho trại phải cách ly đám tù Ukraina và Baltic ra khỏi các tù khác. Nhưng ban quản lý đã vừa không làm vừa không thể làm được chuyện này. Vào thời điểm này, gần phân nửa số 20.000 tù trong trại là người Ukraina, và một phần tư là người Baltic và Ba Lan; có lẽ đã không thể có phương tiện để chia tách họ. Hậu quả là, tù tiếp tục vi phạm quy định, lâu lâu lại tổ chức bãi công và phản đối.[304]

Không thể bắt nạt được tù bằng cách đe dọa trừng phạt, lính gác phải dùng đến bạo lực thực sự. Một số người – gồm có Solzhenitsyn – tin rằng những vụ như vậy cũng là để khiêu khích, nhằm mục đích châm ngòi cho cuộc nổi dậy diễn ra tiếp theo. Dù điều này có thực hay không – và cho tới nay không có ghi chép nào giúp ta xác minh cụ thể – lính gác trại đã nhiều lần nổ súng vào đám tù bất hợp tác trong mùa đông năm 1953 và mùa xuân năm 1954, giết chết nhiều người.

Và rồi, có lẽ trong một cố gắng tuyệt vọng để xác lập lại quyền kiểm soát, ban quản lý trại đưa một nhóm tù tội phạm vào trại, và công khai hướng dẫn chúng kích động gây hấn với tù chính trị tại lagpunkt Số 3 – trại cơ sở bất trị nhất trong số các lagpunkt của Steplag. Kế hoạch này đem lại kết quả trái ngược. “Chính tại đây,” Solzhenitsyn viết, “chúng ta được thấy diễn biến của cảm xúc con người và của biến động xã hội là bất lường như thế nào! Bơm vào trại Kengir Số 3 một liều khổng lồ vi khuẩn độc hại thử nghiệm, các ông trùm trại nhận lại được không phải một trại yên bình mà là cuộc nổi loạn lớn nhất trong lịch sử của Quần đảo Gulag”.[305] Thay vì đánh nhau, hai nhóm tù đã đồng ý hợp tác với nhau.

Giống như trong các trại khác, tù của Steplag được tổ chức theo quốc tịch. Tuy nhiên, những người Ukraina Steplag hóa ra đã đưa tổ chức của mình tham gia trước âm mưu đến vài bước. Thay vì chọn lựa công khai các lãnh đạo, người Ukraina hình thành một “Trung tâm” mưu đồ, là một nhóm bí mật mà thành viên không bao giờ được công bố rộng rãi, và có lẽ bao gồm các đại diện của tất cả các quốc tịch trong trại. Vào thời điểm đám trộm cướp đến trại, Trung tâm đã bắt đầu sản xuất được vũ khí – dao tự chế, chùy và cuốc chim – tại xưởng cơ khí của trại, và đã liên lạc được với tù của hai lagpunkt láng giềng, Số 1 – một zona cho tù nữ – và Số 2. Có lẽ đám tù chính trị kiên cường đã gây được ấn tượng với bọn trộm bằng những món sản phẩm tự tạo của mình, hoặc có lẽ đã làm cho chúng thấy khiếp sợ. Bất kể vì là gì, tất cả đều nhất trí rằng tại một cuộc gặp vào ban đêm, đại diện của cả hai nhóm, tội phạm và chính trị, đã bắt tay nhau và đồng ý hợp nhất.

Ngày 16 tháng 5, khối liên hợp này đã đạt được thành quả đầu tiên. Chiều tối hôm đó, một nhóm đông tù ở lagpunkt Số 3 bắt đầu phá hủy bức tường đá ngăn chia giữa trại của họ với hai trại láng giềng và với khoảng sân chung, nơi có cả xưởng cơ khí của trại lẫn khu nhà kho. Vào một thời kỳ trước, mục tiêu của họ có lẽ sẽ là hãm hiếp phụ nữ. Giờ đây, với những du kích dân tộc chủ nghĩa Ukraina cả đàn ông và phụ nữ ở hai bên bức tường, đám người này tin rằng mình đang tới để giúp đỡ cho các phụ nữ của mình – là đồng hương, bạn bè hay thậm chí là vợ của họ.

Việc phá hủy bức tường tiếp diễn suốt đêm. Để đáp lại, lính gác trại nổ súng, giết chết mười ba tù và làm bị thương bốn mươi ba người, và nện nhừ tử các tù khác, bao gồm cả phụ nữ. Ngày hôm sau, điên tiết vì cuộc bắn giết, tù của lagpunkt Số 3 tổ chức một cuộc phản đối đồng loạt và viết những khẩu hiệu chống Xôviết lên tường nhà ăn. Đêm hôm đó, nhiều nhóm tù xông vào các biệt khám trừng phạt – đúng nghĩa đen là phá tan nó ra bằng tay không – và thả ra 252 tù bị nhốt trong đó. Họ chiếm quyền kiểm soát toàn bộ khu nhà kho, nhà bếp và xưởng nướng bánh của trại cùng xưởng cơ khí trại, mà họ đã lập tức chuyển sang sản xuất dao và chuỳ. Buổi sáng ngày 19 tháng Năm, hầu hết tù đều tham gia bãi công.

Dường như cả Moscow lẫn lãnh đạo trại địa phương đều không biết phải làm gì tiếp theo. Chỉ huy trại lập tức báo tin cho Kruglov, ông trùm MVD, về những gì đã xảy ra. Cũng mau chóng như vậy, Kruglov ra lệnh cho Gubin, thủ trưởng của MVD Kazakh, tiến hành điều tra. Gubin sau đó quay lại và yêu cầu Gulag gửi đến một uỷ ban từ Moscow. Một uỷ ban đến. Đàm phán diễn ra sau đó – và uỷ ban này, dùng dằng để kéo dài thời gian, hứa với tù rằng nó sẽ điều tra các vụ nổ súng vô luật lệ, để mặc bức tường toang hoác giữa khu trại và thậm chí còn hứa đẩy nhanh tiến trình xem xét lại các án của tù.

Đám tù đã tin họ. Ngày 23 tháng Năm, họ quay lại làm việc. Tuy nhiên, khi ca làm ngày quay về nhà, họ trông thấy ít nhất một trong những lời hứa đã bị vi phạm: các bức tường giữa các lagpunkt đã bị xây bít lại. Ngày 25 tháng Năm, ông trùm của Kengir, V. M. Bochkov, đã một lần nữa điên cuồng đánh điện tín xin phép áp dụng một “chế độ khắc nghiệt” cho tù: không thư từ, không gặp gỡ, không chuyển tiền, không tái xem xét vụ án. Ngoài ra, ông chuyển khoảng 420 tù tội phạm ra khỏi trại và gửi họ tới một lagpunkt khác, ở đó họ vẫn tiếp tục bãi công.

Kết quả là: trong vòng bốn mươi tám giờ, tù đã đuổi tất cả nhân viên quản lý trại ra khỏi zona, hăm doạ họ bằng những thứ vũ khí mới sản xuất được của mình. Mặc dù phía chính quyền có súng, họ lại bị áp đảo về số người. Hơn 5.000 tù sống trong ba khu lao động của trại, và hầu hết bọn họ đã tham gia cuộc nổi dậy. Những ai không tham gia cũng bị đe doạ phải phản đối. Những ai muốn trung lập mau chóng bị nhiễm tinh thần của cuộc nổi dậy bốn mươi ngày. Vào buổi sáng đầu tiên của cuộc bãi công, một tù nhớ lại cảm giác ngạc nhiên, “chúng tôi không bị đánh thức bởi lính gác, chúng tôi không bị đón chào bởi tiếng la hét”.

Dường như, ban đầu chính quyền trại đã chờ đợi cuộc bãi công tự ý tan rã. Chẳng sớm thì muộn, họ suy nghĩ, bọn trộm cướp và đám tù chính trị sẽ bất hoà. Bọn tù sẽ chìm trong tình trạng vô chính phủ và bại hoại truỵ lạc, tù nữ sẽ bị hãm hiếp, thực phẩm sẽ bị đánh cắp. Nhưng mặc dù hành vi của tù trong cuộc bãi công không thể xem là lý tưởng, đúng là phải nói rằng chuyện đã xảy ra gần như ngược lại: trại bắt đầu tự quản lý với một mức độ ổn định đáng ngạc nhiên.

Rất mau chóng, tù bầu ra một uỷ ban bãi công, giao cho nó nhiệm vụ đứng ra đàm phán, cũng như việc tổ chức cuộc sống hàng ngày trong trại. Các ghi chép về thành phần của uỷ ban này trái ngược nhau hoàn toàn. Hồ sơ chính thức về sự kiện này tuyên bố rằng chính quyền đang giữ đàm phán chung với các nhóm tù, thì đột nhiên có một nhóm người tuyên bố là uỷ ban bãi công ở đâu xuất hiện và từ chối quyền phát ngôn của bất cứ người nào khác. Tuy nhiên, một số nhân chứng lại nói rằng chính chính quyền đã đề nghị tù phải lập ra một uỷ ban bãi công, mà cuối cùng đã được bầu ra một cách dân chủ.

Mối quan hệ thật sự giữa uỷ ban bãi công với nhóm lãnh đạo “thật” của cuộc nổi dậy hiện vẫn còn mù mờ, cũng y như vào thời điểm đó. Thậm chí nếu đúng là nó đã không được lên kế hoạch từng bước một, Trung tâm do người Ukraina cầm đầu rõ ràng là lực lượng dẫn dắt chính đứng sau cuộc bãi công, và đã nắm một vai trò quyết định trong cuộc bầu chọn “dân chủ” uỷ ban bãi công. Người Ukraina dường như đã nhất định muốn có một uỷ ban đa dân tộc: họ không muốn cuộc bãi công có vẻ quá bài Nga hay chống Xôviết, và họ muốn cuộc bãi công phải có một lãnh đạo người Nga.

Người Nga đó là đại tá Kapiton Kuznetsov, người nổi bật, thậm chí cả giữa câu chuyện mờ mịt về Kengir, như là một nhân vật nước đôi rõ rệt. Là một cựu sĩ quan Hồng quân, Kuznetsov từng bị quân Đức bắt thời chiến tranh và bị tống vào một trại tù binh. Năm 1948, ông ta bị bắt và tố cáo tội đã cộng tác với ban quản lý Quốc xã của trại tù binh, thậm chí bị tố cáo đã tham gia chiến đấu chống lại du kích Xôviết. Nếu những tố cáo đó là thật, chúng có thể giúp giải thích hành vi của ông ta trong cuộc bãi công. Từng giữ vai trò một kẻ trở mặt, ông ta có lẽ biết rõ cách một lần nữa phải chơi trò hai mặt như thế nào.

Có lẽ, người Ukraina chọn Kuznetsov vì hy vọng ông ta sẽ mang lại một bộ mặt “Xôviết” cho cuộc nổi dậy, lấy đi của phía chính quyền lý do để nghiền nát tù nhân. Điều này rõ ràng ông ta đã làm được – có lẽ tới mức độ tối đa. Theo lời thúc giục của Kuznetsov, đám tù bãi công treo các biểu ngữ quanh trại: “Hiến pháp Liên Xô muôn năm!” “Chế độ Xôviết muôn năm!” “Hạ bệ bọn Beria giết người!” Ông đứng lên hô hào tù nhân, nói rằng họ cần ngưng việc viết truyền đơn, rằng phá hoại “phản cách mạng” sẽ chỉ gây hại đến chính nghĩa của họ. Ông cần mẫn lôi kéo những tù “Xôviết” và thuyết phục họ giúp đỡ để giữ trật tự.

Và mặc dù người Ukraina đã giúp bầu ông lên, Kuznetsov rõ ràng đã không đáp lại niềm tin của họ. Trong tờ khai viết tay rất dài và rất chi tiết cẩn thận mà ông soạn ra sau khi cuộc bãi công đi đến một kết cục đẫm máu hiển nhiên, Kuznetsov tuyên bố rằng ông luôn xem Trung tâm là bất hợp pháp, và đã chiến đấu chống lại các sắc lệnh bí mật của nó trong suốt thời gian của cuộc bãi công. Nhưng người Ukraina cũng chưa bao giờ thực sự tin cậy Kuznetsov. Trong suốt cuộc bãi công, hai cận vệ người Ukraina vũ trang luôn luôn đi theo ông ở mọi nơi. Bề ngoài thì đó là để bảo vệ cho ông. Trong thực tế, việc này có lẽ là để đảm bảo ông sẽ không chuồn khỏi trại ban đêm và phản bội lại sự nghiệp.

Người Ukraina có lẽ đã đúng khi lo sợ Kuznetsov chạy trốn, bởi một thành viên khác của uỷ ban bãi công, Aleksei Makeev, cuối cùng đã chạy khỏi trại vài tuần sau khi bắt đầu bãi công. Sau này, Makeev đã đọc các bài phát biểu qua đài phát thanh trong trại, thúc giục tù quay trở lại làm việc. Có lẽ ông ta đã sớm hiểu rằng cuộc bãi công sẽ tất yếu thất bại – hay có lẽ ông vốn là công cụ của ban quản lý ngay từ ban đầu.

Nhưng không phải tất cả thành viên uỷ ban bãi công đều là người phạm tội đáng nghi. Bản thân Kuznetsov sau này tuyên bố rằng ít nhất ba thành viên uỷ ban – “Gleb” Sluchenkov, Gersh Keller và Yuri Knopmus – trong thực tế là đại diện bí mật của Trung tâm. Chính quyền trại về sau cũng mô tả một người trong số họ, Gersh Keller, như một đại diện của đám mưu đồ bí mật người Ukraina, và thực tế tiểu sử ông dường như phù hợp với hình ảnh này. Được liệt trong hồ sơ trại như một người Do Thái, Keller thực ra là một người thuộc dân tộc Ukraina – họ thật của ông là Pendrak – đã tìm cách che dấu MVD nguồn gốc dân tộc của mình khi bị bắt. Keller đưa mình lên nắm ban “quân sự” của cuộc bãi công, tổ chức tù chống trả trong trường hợp lính gác tấn công trại. Chính ông là người khởi đầu việc sản xuất hàng loạt vũ khí – dao, gậy sắt, cuốc chim, chuỳ – tại xưởng cơ khí của trại, và ông là người đã lập ra một “phòng thí nghiệm” để làm lựu đạn tự tạo, chai cháy Molotov cocktail, và các vũ khí “nóng” khác. Keller cũng theo dõi việc xây dựng các chiến luỹ và sắp xếp cho mỗi lán đều có một thùng mảnh kính vụn ở cửa ra vào – để ném vào mắt binh lính, phòng khi họ có tới.

Nếu Keller đại diện cho người Ukraina thì Gleb Sluchenkov đúng hơn là có liên hệ với đám tội phạm trong trại. Bản thân Kuznetsov mô tả ông này là một “đại diện của thế giới tội phạm”, và các nguồn của phe dân tộc chủ nghĩa Ukraina cũng mô tả Sluchenkov như là thủ lãnh của bọn trộm. Trong thời gian nổi dậy, Sluchenkov điều hành hoạt động “phản gián” của ủy ban bãi công. Ông có lực lượng “cảnh sát” của mình, những người tuần tra quanh trại, giữ gìn trật tự, tống giam đám trở mặt tiềm năng và bọn chỉ điểm. Sluchenkov tổ chức toàn trại thành các khu và đưa một “chỉ huy” lên chịu trách nhiệm cho mỗi khu. Về sau này, Kuznetsov đã than phiền rằng tên họ của các chỉ huy đó đều bị giữ bí mật, chỉ có mình Sluchenkov và Keller được biết.

Kuznetsov bớt chua cay hơn đối với Knopmus, một người gốc Đức sinh tại St Petersburg, quản lý ban “tuyên truyền” của cuộc nổi dậy. Nhưng khi nhìn lại sự việc, hoạt động của Knopmus trong thời gian nổi dậy là mang tính cách mạng và chống Xôviết nhất trong tất cả bọn họ. “Tuyên truyền” của Knopmus bao gồm sản xuất truyền đơn – phân phát cho cộng đồng dân cư địa phương ngoài trại – việc in một tờ “báo tường” của trại phục vụ cho những tù bãi công và, đặc biệt nhất, xây dựng một trạm radio tự tạo.

Do chính quyền đã cắt điện cho trại ngay từ những ngày đầu của cuộc bãi công, trạm radio này không chỉ là một thứ nhằm tỏ rõ dũng khí mà đúng là một thành tựu kỹ thuật vĩ đại. Trước hết, đám zek lắp được một trạm “thủy điện” – sử dụng một vòi nước. Một động cơ được chuyển thành máy phát, và tạo ra đủ điện cho hệ thống điện thoại trong trại cũng như trạm radio. Trạm radio, đến lượt mình, được lắp từ những bộ phận của chiếc máy chiếu phim cơ động của trại.

Sau vài ngày, trại đã có chương trình thông báo tin tức và thông tin hàng ngày, thiết kế để phục vụ tù cũng như cộng đồng dân cư địa phương sống ngoài trại, bao gồm cả lính gác và quân đội. Máy ghi âm của trại ghi lại một trong những buổi phát thanh được phát sau khi cuộc nổi dậy kéo dài đã được một tháng, khi kho thực phẩm đã sắp sửa cạn. Nhắm vào các binh lính đang đứng gác ngoài trại, bản ghi âm đã được đưa vào hồ sơ lưu trữ của MVD:

Hỡi các đồng chí chiến sĩ! Chúng tôi không sợ các anh và chúng tôi yêu cầu các anh không bước vào zona của chúng tôi. Đừng bắn vào chúng tôi, đừng tuân theo mong muốn của bọn Beria. Chúng tôi không sợ chúng, giống như chúng tôi không sợ cái chết. Chúng tôi thà chết vì đói trong trại này còn hơn đầu hàng bè lũ Beria. Đừng làm vấy bẩn tay mình với cùng thứ máu bẩn thỉu dính trên tay đám sĩ quan của các anh…[306]

Trong khi đó, Kuznetsov đứng ra tổ chức việc phân phối thực phẩm, được soạn và nấu bởi các phụ nữ trong trại. Mỗi tù được nhận khẩu phần như nhau – không còn phần bổ sung cho tù được tin cậy pridurki – khẩu phần này sẽ dần dần bị cắt giảm, do nhiều tuần trôi qua và kho thực phẩm vơi dần. Những người tình nguyện cũng được cắt cử đi dọn dẹp lán ở, giặt quần áo và đứng gác. Một tù nhớ lại rằng “sự ngăn nắp và sạch sẽ” ngự trị tại nhà ăn, vốn trước kia thường bẩn thỉu và lộn xộn. Nhà tắm trại vẫn hoạt động như bình thường, bệnh xá cũng vậy, mặc dù chính quyền trại từ chối cung cấp thuốc men, nguyên nhiên liệu và trang bị cần thiết.

Tù cũng tự tổ chức “giải trí” cho mình. Theo một hồi ký, một nhà quý tộc Ba Lan tên là bá tước Bobrinski đã mở một “quán café” trong trại và phục vụ “cà phê” tại đó: “Ông ta quẳng thứ gì đó vào nồi rồi nấu lên, và tù giữa trời nóng ban trưa húp thứ nước ấy một cách mãn nguyện, vừa uống vừa cười”. Bản thân bá tước ngồi trong góc quán café, chơi đàn ghi-tar và hát những bài tình ca cổ.[307] Các tù khác tổ chức hàng loạt buổi giảng dạy cũng như các cuộc hòa nhạc. Một nhóm diễn viên kịch năng nổ đã tập và trình diễn một vở kịch. Một giáo phái, có thành viên nam và nữ được gặp lại nhau nhờ bức tường bị phá hủy, tuyên bố rằng thầy tiên tri của họ đã tiên đoán đây là lúc họ sẽ được đưa thẳng lên thiên đàng để sống. Trong nhiều ngày, họ ngồi trên nệm giường ở quảng trường chính, tại ngay giữa zona, chờ đợi được lên thiên đàng. Than ôi, chẳng có chuyện gì xảy ra hết.

Cũng xuất hiện vô số cặp mới cưới, được thành hôn bởi nhiều giáo sĩ tù, bị bắt chung với đám đồng bào Baltic hay Ukraina của họ. Trong số đó có một số người từng thành hôn khi còn đứng hai bên bức tường trại, giờ đây được gặp nhau mặt đối mặt lần đầu tiên trong đời. Nhưng mặc dù đàn ông và đàn bà được tự do kết hợp, tất cả mô tả về cuộc bãi công đều thống nhất rằng phụ nữ không hề bị quấy nhiễu, và rõ ràng không bị tấn công hay hãm hiếp, giống như vẫn xảy ra ở các trại thường.

Dĩ nhiên, người ta sáng tác ra nhiều bài hát. Vài người đã thử sáng tác một quốc ca cho Ukraina, bài này nhiều lần được tất cả 13.500 tù bãi công đồng loạt hát. Điệp khúc của nó như thế này:

Chúng ta không, sẽ không làm nô lệ

Chúng ta sẽ không còn đeo ách gông xiềng…

Một đoạn khác như sau:

Hỡi anh em đồng bào, ở Vorkuta và Norilsk, ở Kolyma và Kengir…

“Đó là quãng thời gian tuyệt vời”, Irena Arginskaya nhớ lại, bốn mươi lăm năm sau. “Cho tới trước đó, và cả cho tới bây giờ, chưa khi nào tôi cảm thấy tự do đến như vậy”. Những người khác có linh tính không hay. Lyuba Bershadskaya nhớ lại rằng họ “làm mọi việc một cách vô ý thức: không một ai trong chúng tôi biết hoặc thậm chí nghĩ về điều gì sẽ chờ đợi mình ở phía trước”.

Điều đình với chính quyền tiếp tục diễn ra. Ngày 27 tháng Năm, ủy ban đại diện của MVD để đàm phán với bên bãi công đã tổ chức cuộc họp đầu tiên với tù. Trong số mà Solzhenitsyn gọi là “các vị tai to mặt lớn cầu vai vàng” của ủy ban có Sergei Yegorov, phó thủ trưởng của MVD; Ivan Dolgikh, khi ấy là chỉ huy hệ thống Gulag; và Vavilov, phó chánh ủy viên công tố quốc gia phụ trách theo dõi Gulag. Họ được đón tiếp bởi một nhóm 2.000 tù do Kuznetsov dẫn đầu cầm trong tay một bản danh sách các đòi hỏi.

Vào thời điểm cuộc bãi công đang cao trào, những đòi hỏi đó bao gồm cả việc truy cứu trách nhiệm hình sự những lính gác đã bắn vào tù nhân – điều mà tù đã yêu cầu ngày từ đầu – cũng như các đòi hỏi khác mang tính chính trị rõ nét hơn. Trong số đó có việc giảm án cho tất cả những ai chịu án hai lăm năm; xem xét lại vụ án của các tù chính trị; loại bỏ các khám phạt và lán trừng phạt; cho tù được tự do hơn trong việc liên lạc với thân nhân; loại bỏ việc lưu đày cưỡng bức vĩnh viễn với tù mãn hạn; điều kiện sống dễ chịu hơn cho tù nữ; và cho phép giao lưu định kỳ giữa trại nam và trại nữ.

Tù cũng đòi hỏi được gặp một thành viên của Ủy ban Trung ương Đảng. Họ tiếp tục giữ yêu cầu này cho tới tận lúc cuối cùng, lấy lý do họ không thể tin chính quyền Steplag và MVD sẽ tôn trọng bất cứ lời hứa hẹn nào. “Thế ai đã gây cho các anh nỗi căm ghét MVD đến như vậy?” phó thủ trưởng MVD Yegorov hỏi lại họ như trong báo cáo ghi lại.

Nếu cuộc bãi công diễn ra sớm hơn vài năm, dĩ nhiên sẽ chẳng có cuộc đàm phán nào. Nhưng vào năm 1954, việc xem lại án cho tù chính trị thực tế đã bắt đầu, mặc dù chậm chạp. Trong quá trình bãi công, thậm chí đã có việc có tù đơn lẻ được gọi lên để rời khỏi trại nhằm đi gặp tòa án tái điều tra lại vụ án của họ. Biết rõ rằng có nhiều tù đã chết, và có lẽ muốn một kết cục yên bình và nhanh chóng cho vụ này, Dolgikh gần như đã lập tức chấp thuận một số yêu cầu nhỏ của tù, như đòi hỏi loại bỏ song sắt khỏi cửa sổ lán ở, đòi hình thành ngày làm việc tám tiếng, thậm chí cho thuyên chuyển những lính gác và quan chức trại bị đặc biệt căm ghét đi khỏi Kengir. Dưới các mệnh lệnh trực tiếp từ Moscow, Dolgikh ban đầu đã kiềm chế sử dụng bạo lực. Tuy nhiên, ông đã có cố gắng bẻ gãy sự kháng cự của tù, chủ động thuyết phục họ rời khỏi trại và cấm chuyển đến đây thực phẩm và thuốc men.

Tuy nhiên, khi thời gian trôi qua, Moscow mất dần kiên nhẫn. Trong một điện tín gửi ngày 15 tháng Sáu, Kruglov đã khiển trách Yegorov, cấp phó của mình, vì viết đầy trong báo cáo những con số thống kê vô nghĩa – như là có bao nhiêu chim mồi được rời khỏi trại mang theo truyền đơn – và cho ông này biết rằng một đoàn quân cùng với năm xe tăng T-34 đang trên đường tới đấy.

Mười ngày cuối cùng của cuộc bãi công thực sự vô cùng căng thẳng. Ủy ban MVD ban ra một cảnh báo nghiêm khắc thông qua hệ thống loa phóng thanh của trại. Để đáp lại, tù phát đi các thông điệp từ trạm radio tự chế, thông báo với thế giới rằng họ đang chết dần vì đói. Kuznetsov đọc một bài phát biểu, trong đó ông nói về số phận gia đình ông đã bị hủy hoại vì việc ông bị bắt. “Nhiều người chúng tôi cũng bị mất người thân nên khi nghe ông nói chúng tôi có thêm kiên quyết, và quyết định sẽ giữ vững cho đến cùng”, một tù nhớ lại.

Ngay trước lúc binh minh, vào ba giờ rưỡi sáng ngày 26 tháng Sáu, MVD tấn công. Chiều hôm trước, Kruglov đánh điện cho Yegorov, khuyên ông ta sử dụng “tất cả nguồn lực sẵn có”, và Yegorov đã tuân theo: không dưới 1.700 binh lính, chín mươi tám chó và năm xe tăng T-34 đã bao vây trại. Ban đầu, binh lính bắn pháo sáng sáng rực bầu trời trên lán trại và nổ súng cảnh báo. Lời cảnh báo nguy cấp rền vang qua loa phóng thanh của trại: “Binh lính đang tiến vào trại. Tù nào muốn hợp tác yêu cầu phải yên lặng rời khỏi trại. Tù nào chống cự sẽ bị bắn…”

Khi đám tù mất phương hướng chạy túa khắp trại, xe tăng tiến vào cổng. Binh lính có vũ trang trên người trang bị đầy đủ tiến theo sau. Theo một số ghi chép, cả binh lính trong xe lẫn những người đi bên ngoài đều say khướt. Trong khi điều này có lẽ là một huyền thoại hình thành trong cuộc tấn công, đúng là cả Hồng quân lẫn công an mật đều có truyền thống phát vodka cho binh lính được yêu cầu sắp làm những việc bẩn thỉu: vỏ chai rỗng gần như luôn luôn được tìm thấy trong các ngôi mộ tập thể.

Dù có say rượu hay không, lính lái tăng đã không hề buồn nôn khi chạy thẳng lên những tù nhân đang tiến đến gặp họ. “Tôi đứng ở giữa”, Lyubov Bershadskaya nhớ lại, “và xung quanh tôi xe tăng đang nghiến lên những người sống”. Xe tăng đâm thẳng vào một nhóm phụ nữ đang khóa chặt tay với nhau và đứng cản đường, không tin rằng xe tăng dám giết mình. Xe tăng lăn qua một cặp mới cưới, đang ôm chặt lấy nhau, cố ý lăn mình vào trước xe. Xe tăng phá hủy các lán ở, có người đang ngủ bên trong. Chúng chẳng hề hấn gì trước lựu đạn tự chế, đá, những nhát cuốc chim và các vật kim loại khác mà tù ném vào chúng. Mau chóng đến ngạc nhiên – trong vòng một tiếng rưỡi, theo như bản báo cáo lập sau đó – binh lính đã dẹp yên khu trại, đưa đi những tù đồng ý yên lặng đi ra và còng tay đám còn lại.

Theo tài liệu chính thức, ba mươi bảy tù chết trong ngay ngày hôm ấy. Chín người nữa chết sau đó vì vết thương. Thêm 106 người bị thương, cùng với bốn mươi binh lính. Một lần nữa, tất cả những con số ấy thấp hơn nhiều so với những con số do chính tù ghi nhận. Bershadskaya, người hỗ trợ cho bác sĩ trại Julian Fuster để chăm sóc người bị thương, đã viết có 500 người chết:

Fuster bảo tôi đội cái mũ trắng lên và đeo khẩu trang phẫu thuật (tôi còn giữ nó cho tới tận ngày nay) và yêu cầu tôi đứng bên bàn mổ để viết tên những ai còn có thể nói tên mình. Chẳng may, hầu hết chẳng ai có thể. Hầu hết người bị thương đều chết trên bàn mổ, họ nhìn chúng tôi với đôi mắt đã thất thần mà nói, “Viết cho mẹ tôi… cho chồng tôi… cho con tôi” vân vân.

Khi đã thấy quá nóng và ngột ngạt không chịu nổi, tôi bỏ mũ ra và nhìn vào mình trong gương. Tóc tôi đã hoàn toàn bạc trắng. Ban đầu, tôi nghĩ rằng chắc là do có thứ bột gì đó trong mũ. Tôi không hiểu được rằng khi đứng giữa cuộc tàn sát không thể tin nổi ấy, chứng kiến mọi sự diễn ra, toàn bộ tóc của tôi đã bạc xám chỉ trong vòng mười lăm phút.

Fuster đứng suốt mười ba tiếng đồng hồ, cứu sống bất cứ ai mà ông có thể. Cuối cùng, người bác sĩ phẫu thuật dẻo dai và tài năng ấy không thể chịu đựng thêm chút nào nữa. Ông ngã ra bất tỉnh, và cuộc phẫu thuật chấm dứt…[308]

Sau trận chiến, tất cả những người còn sống mà không phải vào bệnh viện bị đưa đi đều bước khỏi trại và dẫn vào rừng taiga. Binh lính cầm tiểu liên bắt họ nằm úp mặt xuống, tay dang ra hai bên – như chiếc thập tự – suốt nhiều giờ liền. Từ những bức ảnh họ chụp trong các cuộc mít tinh tập thể và từ các báo cáo của vài chỉ điểm viên mà họ có, chính quyền trại chọn lựa trong đám tù để bắt giữ 436 người, bao gồm tất cả thành viên của ủy ban bãi công. Sáu người trong đó sẽ bị hành quyết, bao gồm Keller, Sluchenkov và Knopmus. Kuznetsov, người đưa cho chính quyền một bản tự thú viết tay dài và chi tiết trong vòng bốn mươi tám tiếng sau khi bị bắt, bị kết án tử hình – và sau đó được tha. Ông bị chuyển tới Karlag và được thả năm 1960. Một ngàn tù khác – 500 đàn ông và 500 phụ nữ – bị cáo buộc ủng hộ nổi loạn và bị chở tới các trại khác, đến Ozerlag và Kolyma. Dường như hầu hết bọn họ cũng được thả vào cuối thập niên ấy.

Trong quá trình nổi dậy, chính quyền hóa ra chẳng hề có ý nghĩ rằng có một sức mạnh tổ chức nào bên trong trại ngoài ủy ban bãi công chính thức. Sau này, họ bắt đầu phân tích toàn bộ câu chuyện, có lẽ nhờ ghi chép tỷ mỉ của Kuznetsov. Họ xác định được năm đại diện của Trung tâm – người Lithuania Kondratas; người Ukraina Keller, Sunichuk và Vakhaev; và tên trộm được biết trong thế giới ngầm dưới biệt danh “Ria mép”. Họ thậm chí còn lập một bảng biểu, cho thấy gạch nối chỉ huy ra từ Trung tâm, thông qua ủy ban bãi công và hướng đến các ban tuyên truyền, phòng thủ và phản gián. Họ biết về các đội được tổ chức để bảo vệ mỗi lán, về trạm radio và chiếc máy phát điện tự tạo.

Nhưng họ không bao giờ nhận diện được tất cả thành viên của Trung tâm, những người tổ chức thực sự của cuộc nổi dậy. Theo như một báo cáo, nhiều “nhà hoạt động thực thụ” ấy vẫn ở lại trong trại, lặng lẽ chịu cho hết án của mình, chờ đợi ân xá. Tên tuổi họ vẫn còn chưa được biết đến – và có lẽ sẽ mãi như vậy.

 

25 . Tan băng – và Được thả

 

Đừng tốn công khua gậy bụi rậm,

Không còn gì vô nghĩa hơn thế.

Chúng ta, con đẻ của tệ sùng bái.

Chúng ta, máu và thịt của nó.

Chúng ta lớn lên trong sương mù

Thực sự lờ mờ như thế đó,

Giữa trận chiến những người khổng lồ

Mà đầu óc nhỏ tí thiển năng…

– Andrei Voznesensky,

“Những đứa con của Tệ sùng bái”, 1967[309]

 

Mặc dù đã thua trong trận đánh, những người bãi công Kengir đã chiến thắng cả cuộc chiến tranh. Trong kết cục của cuộc nổi loạn Steplag, giới lãnh đạo Xôviết đã mất hết hứng thú với hệ thống trại lao động cưỡng bức – với tốc độ nhanh đáng ngạc nhiên.

Mùa hè năm 1954, việc không đem lại lợi nhuận của hệ thống trại đã được nhận thức rộng rãi. Một khảo sát khác về tài chính của Gulag, tiến hành tháng 6/1954, đã lại cho thấy chúng được bù lỗ đáng kể, và đặc biệt chi phí cao cho lính gác khiến chúng không còn lợi nhuận gì.[310] Tại một cuộc họp các chỉ huy trại và quan chức cao cấp Gulag tổ chức không lâu sau vụ Kengir, nhiều nhà quản lý đã than phiền công khai về chuyện tổ chức cung cấp lương thực cho trại quá yếu kém, về sự quan liêu vượt tầm kiểm soát – đến lúc này đã có tới mười bảy định mức khẩu phần riêng biệt – và về việc tổ chức yếu kém của trại. Một số trại vẫn còn hoạt động, nhưng có rất ít tù. Bãi công và bất ổn tiếp diễn. Năm 1955, tù tổ chức một cuộc tổng bãi công nữa ở Vorkuta.[311] Những nguyên nhân đòi hỏi cần thay đổi giờ đây đã quá nhiều – và thay đổi đã tới.

Ngày 10/7/1954, Uỷ ban Trung ương ban hành một giải pháp, quay lại ngày làm việc tám tiếng, đơn giản hoá chế độ sinh hoạt trại và tạo điều kiện dễ hơn cho tù để được thả sớm thông qua lao động nhiệt tình. Các trại đặc biệt bị giải tán. Tù được phép viết thư và nhận bưu phẩm, thường là không có giới hạn. Tại một số trại, tù được phép kết hôn, thậm chí sống chung với nhau. Chó canh và lính gác đã trở thành chuyện quá khứ. Tù có thể mua sắm đồ dùng mới: quần áo, vốn trước kia không được bán, và cam.[312] Tù của Ozerlag thậm chí còn được phép trồng hoa.[313]

Vào thời điểm này, tầng lớp trên cùng của giới tinh hoa Xôviết cũng bắt đầu tiến hành những tranh luận rộng rãi hơn về nền công lý Stalin. Đầu năm 1954, Khrushchev đã ra lệnh, và nhận lại được, một báo cáo chi tiết bao nhiêu tù đã bị buộc tội phản cách mạng tính từ năm 1921, cũng như con số bao nhiêu người hiện vẫn còn đang chịu án. Các con số này rõ ràng chưa đầy đủ, do chúng không bao gồm hàng triệu người bị đi đày, nói nghiêm túc là những người bị tố cáo một cách phi lý những tội phi chính trị, những người bị xử tại các tòa án thường, và những người hoàn toàn không được xử án. Tuy nhiên, khi chỉ xét đến những con số đại diện cho số người bị giết chết hay bị tống vào nhà tù hoàn toàn không có lý do gì, chúng cao đến choáng váng. Theo tính toán của chính MVD, có tổng cộng 3.777.380 người bị phát hiện “phạm tội” xúi giục phản cách mạng bởi các ủy ban xét xử OGPU, những tiểu ban ba người troika NKVD, các Ủy ban Đặc biệt và tất cả những ủy ban và tòa án quân sự vốn đã sản xuất hàng loạt các bản án trong suốt ba thập kỷ trước đó. Trong số này, có 2.369.220 người bị đưa vào trại, 765.180 người bị đi đày và 642.980 người bị hành quyết.[314]

Vài ngày sau, Ủy ban Trung ương tiến hành xem xét lại tất cả những vụ án này – cũng như các vụ “tái lại”, tức những tù phải nhận thêm án thứ hai đi đày vào năm 1948. Khrushchev lập ra một ủy ban quốc gia, đứng đầu là chánh ủy viên công tố Liên bang Xôviết, để theo dõi công tác này. Ông cũng lập ra các ủy ban địa phương tại mỗi nước cộng hòa và mỗi tỉnh trên đất nước để xét lại án cho tù. Một số tù chính trị được thả ra vào thời kỳ này, mặc dù án gốc của họ vẫn chưa hết hạn: sự phục hồi danh dự thực sự – việc nhà nước thừa nhận rằng đã có sai lầm – sẽ đến sau này.[315]

Bắt đầu các đợt thả tù, mặc dù trong một năm rưỡi tiếp theo chúng sẽ tiến hành chậm chạp đến phát khổ phát sở. Những ai đã thụ được hai phần ba án đôi khi vẫn được tha mà không có bất kỳ giải thích hay phục hồi gì. Nhiều người khác bị giữ lại bên trong trại, cũng chẳng biết vì lý do gì. Mặc cho tất cả những điều họ biết về chuyện hệ thống trại không mang lại lợi nhuận, các quan chức Gulag không muốn đóng cửa nó. Dường như, họ cần thêm một cú thúc từ phía trên.

Và rồi, vào tháng 2/1956, cú thúc đã tới, khi Khrushchev thực hiện cái sau này được gọi là “diễn văn mật” của ông, đọc trước phiên họp kín của Đại hội Đảng Cộng sản thứ XX. Lần đầu tiên, Khrushchev công khai chỉ trích Stalin và “tệ sùng bái cá nhân” vây quanh ông:

Điều này là không được phép và xa lạ đối với tinh thần của chủ nghĩa Mácxít-Lêninnít, khi người ta nâng một con người lên, biến anh ta thành một siêu anh hùng nắm giữ các tính cách siêu nhiên, một thứ kiểu như thần thánh. Một con người như vậy được cho là biết hết tất cả, nhìn thấy hết tất cả, suy nghĩ cho tất cả mọi người, có thể làm mọi chuyện, với hành xử không bao giờ mắc sai lầm. Một niềm tin như vậy về con người, và đặc biệt là về Stalin, đã được gieo vào đầu chúng ta trong suốt bao năm trời.[316]

Hầu hết phần còn lại của bài diễn văn đều có dụng ý. Liệt kê ra các tội của Stalin, Khrushchev tập trung chủ yếu cho riêng các nạn nhân của năm 1937 và 1938, nêu tên từng người trong số chín mươi tám uỷ viên Trung ương bị xử bắn, cùng với một số nhà Bolshevik lão thành khác. “Cơn sóng bắt bớ hàng loạt bắt đầu hạ xuống vào năm 1939”, ông tuyên bố – điều này là một mánh lới khôn khéo, do trong thực tế số lượng tù đã gia tăng trong thập niên 1940. Ông có đề cập tới các cuộc lưu đày người Chechen và Balkan, có lẽ bởi ông không dính dáng gì đến chuyện này. Ông không nhắc tới tập thể hoá hay nạn đói ở Ukraina, hay các cuộc đàn áp tập thể ở Tây Ukraina và các quốc gia Baltic, có lẽ bởi vì bản thân ông có liên quan tới các chiến dịch ấy. Ông nói về 7.679 vụ được khôi phục danh dự, và mặc dù những người trong khán phòng vỗ tay tán thành ông, con số này trong thực tế chiếm tỷ lệ quá ít so với hàng triệu người mà Khrushchev biết là đã bị bắt bớ sai trái.[317]

Mặc dù nó có thể thiếu sót sai lầm, bài diễn văn – mau chóng được lan truyền, cũng dưới dạng mật, tới các đảng uỷ ở khắp đất nước – đã gây chấn động Liên bang Xôviết tới tận gốc rễ. Trước đây chưa bao giờ giới lãnh đạo Xôviết thú nhận bất cứ tội lỗi nào, chưa nói là với phạm vi rộng đến như vậy. Thậm chí cả Khrushchev cũng không rõ được phản ứng sẽ ra sao. “Chúng tôi vừa ra khỏi trạng thái sốc”, ông viết lại sau đấy. “Mọi người vẫn còn trong nhà tù và trại, và chúng tôi không biết cách nào để giải thích điều gì đã xảy ra với họ hay phải làm gì với họ ngay sau khi họ được thả”.[318]

 Bài diễn văn đã gây kích động MVD, KGB và các quan chức trại. Trong vòng vài tuần, bầu không khí trong trại sáng sủa thêm, và quá trình thả và khôi phục danh dự cuối cùng bắt đầu tiến triển nhanh dần. Trong khi chỉ có hơn 7.000 con người được phục hồi danh dự ba năm trước khi có bài diễn văn mật, 617.000 người đã được phục hồi trong vòng mười tháng tiếp sau đó. Những cơ chế mới được lập để đẩy nhanh thêm tiến trình. Mỉa mai thay, nhiều tù từng bị án bởi các tiểu ban ba người troika giờ được thả cũng bởi các troika. Những uỷ ban lập ra gồm ba người – một công tố viên, một Uỷ viên Trung ương, và một Đảng viên được phục hồi, thường là một cựu tù – đi tới các trại và khu lưu đày khắp nơi trên đất nước. Họ được trao quyền để thực hiện các điều tra nhanh cho từng vụ án đơn lẻ, thực hiện những phỏng vấn với tù, và thả họ ngay tại chỗ.[319]

Trong những tháng sau bài diễn văn mật, MVD cũng chuẩn bị để có những thay đổi sâu sắc hơn với bản thân cấu trúc hệ thống trại. Vào tháng Tư, tân Bộ trưởng Bộ Nội vụ, N. P. Dudorov, đã gửi một đề nghị tái tổ chức hệ thống trại tới Uỷ ban Trung ương. Tình thế trong các trại và tiểu khu, ông viết, “nay đã ở bên bờ thảm hoạ suốt nhiều năm trời”. Chúng phải bị đóng cửa, ông đề nghị, và thay vào đó những tên tội phạm nguy hiểm nhất cần phải bị đưa vào các nhà tù đặc biệt, biệt lập, ở những vùng xa xôi của đất nước, đặc biệt nêu tên công trường chưa hoàn tất Tuyến đường sắt Salekhard-Igarka như một nơi như vậy. Những tội phạm vặt, mặt khác, cần phải giam tại nơi quê hương chúng, chịu án trong các “tiểu khu” nhà tù, làm các công việc công nghiệp nhẹ hay lao động tại nông trang tập thể. Không nên bắt ai phải làm việc đốn gỗ, khai mỏ hoặc xây dựng, hay thực sự làm bất cứ loại lao động nặng không chuyên môn nào.[320]

Cách Dudorov chọn kiểu ngôn ngữ còn quan trọng hơn những đề nghị đặc biệt kia của ông. Ông không chỉ đơn thuần đề nghị tạo ra một hệ thống trại quy mô nhỏ hơn, ông đang đề nghị tạo ra một hệ thống khác hẳn về bản chất, quay về với hệ thống nhà tù “bình thường”, hay ít nhất là một hệ thống nhà tù như vẫn nhìn thấy ở các quốc gia Châu Âu khác. Các tiểu khu tù mới không còn vờ như có thể tự trang trải tài chính. Tù sẽ làm việc để học các kỹ năng lao động hữu ích, không phải để làm giàu cho quốc gia. Mục đích của lao động tù là giáo dục cải tạo, không phải để làm lợi.[321]

Có các phản đối giận dữ đáng ngạc nhiên đối với những đề nghị trên. Mặc dù đại diện của các bộ liên quan đến kinh tế tỏ dấu hiệu ủng hộ, I. A. Serov, ông trùm KGB, đã chỉ trích gay gắt đề xuất của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, gọi chúng là “sai  lầm” và “không thể chấp nhận được”, chưa nói đến chuyện tốn kém. Ông chống lại việc xây dựng các tiểu khu tù mới, lấy lý do là một chính sách như vậy sẽ “tạo ra ấn tượng về sự hiện diện tại Liên Xô của một số lượng khổng lồ những nơi giam cầm”. Ông chống lại việc loại bỏ hệ thống trại, và không thể hiểu nổi tại sao bọn zek không nên làm việc đốn gỗ hay khai mỏ. Xét cho cùng, lao động nặng sẽ giúp “tái giáo dục họ với tinh thần của đời sống lao động trung thực của xã hội Xôviết”.[322]

Kết quả của cuộc va chạm giữa hai nhánh cơ quan an ninh này là một sự cải tổ rất pha trộn. Một mặt, bản thân hệ thống Gulag – Glavnoe upravlenie lagerei, Tổng ban quản lý hệ thống trại – đã bị giải thể. Năm 1957, cả Dalstroi lẫn Norilsk, hai phức hợp trại lớn nhất và quyền lực nhất, đã bị huỷ bỏ. Các trại khác cũng giải tán sau đó. Các bộ ngành tương hợp – khai mỏ, chế tạo máy, lâm nghiệp hay cầu đường – chiếm lấy những mảng lớn của cái từng là tổ hợp trại-công nghiệp.[323] Lao động nô lệ không bao giờ còn là thành phần quan trọng của nền kinh tế Liên Xô nữa.

Nhưng đồng thời, hệ thống tư pháp vẫn còn không suy suyển. Việc xét xử vẫn bị chính trị hoá, thiên vị đầy thành kiến và bất công như cũ. Hệ thống nhà tù cũng còn nguyên không bị đụng tới. Vẫn những cai tù đó tiếp tục thi hành cùng chế độ tù đó trong vẫn các phòng giam không sơn sửa không thay đổi. Khi, theo thời gian, hệ thống nhà tù bắt đầu một lần nữa được mở rộng, thậm chí các chương trình cải tạo và tái giáo dục, vấn đề tập trung quá nhiều chú ý và quan tâm như vậy, sẽ cũng vẫn hời hợt và giả tạo như chúng từng là trong quá khứ.

Cuộc tranh luận chua cay đáng ngạc nhiên giữa xếp MVD Dudorov và xếp KGB Serov cũng là biểu hiện trước của những tranh luận khác dữ dội hơn sắp nổ ra. Theo sau điều mà họ cho là sự dẫn dắt của Khrushchev, những người theo phe tự do muốn có thay đổi nhanh chóng trong hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống Xôviết. Đồng thời, những người muốn bảo vệ hệ thống cũ muốn chặn lại, đảo ngược hay thay đổi những thay đổi ấy, đặc biệt là khi chúng ảnh hưởng đến sinh nhai của nhóm những người có quyền lực. Kết quả của cuộc xung đột này có thể đoán trước được: không chỉ không thay đổi được phòng giam nhà tù, mà cuộc cải tổ cũng chỉ được nửa vời, những quyền mới mau chóng bị thu hồi, và việc thảo luận công cộng lập tức bị bịt miệng. Thời kỳ sẽ được gọi là “Tan băng” thực tế là một thời kỳ của thay đổi, nhưng thay đổi theo một cách đặc biệt: cải tổ tiến lên hai bước, và rồi một bước – đôi khi là ba bước – lùi.

Thả tù, bất kể xảy ra năm 1926 hay 1956, luôn luôn để lại trong người tù cảm xúc lẫn lộn. Gennady Andreev-Khomiakov, một tù được thả trong thập niên 1930, đã ngạc nhiên trước phản ứng của chính mình:

Tôi vẫn tưởng tượng rằng mình sẽ nhảy nhót thay vì bước đi, rằng khi cuối cùng có được tự do tôi sẽ say sưa với nó. Nhưng khi thực sự được thả, tôi không hề cảm thấy vậy. Tôi bước đi qua cổng và ngang người lính gác cuối cùng, cảm thấy không một chút hạnh phúc hay bay bổng nào… Ngay đấy, dọc sân ga ngập nắng có hai cô gái mặc áo váy mỏng đang chạy, vui vẻ cười về chuyện gì đó. Tôi nhìn họ mà kinh ngạc. Sao họ có thể cười được? Làm sao tất cả những con người này đang vừa bước vừa trò chuyện và cười đùa như thể không có gì bất thường xảy ra trên thế giới, như thể không có gì ác mộng và không tài nào quên được đang đứng giữa bọn họ…[324]

Sau cái chết của Stalin và bài diễn văn của Khrushchev, việc thả tù thực hiện nhanh hơn, và phản ứng thậm chí còn trở nên rối bời hơn. Những tù đang tưởng mình còn phải chịu một thập niên nữa sau hàng rào thép gai được thả cho đi chỉ sau khi báo trước có một ngày. Một nhóm người lưu đày được gọi giữa giờ làm để lên văn phòng khu mỏ, và đơn giản là được cho hay họ được về nhà. Như một người nhớ lại, Spetskomandant trung úy Isaev “mở một cái két sắt, lôi ra giấy tờ của chúng tôi và phân phát chúng…”[325] Tù vốn vẫn điền vào hết đơn này đến đơn khác, đề nghị xem xét lại án của mình, đột nhiên thấy không cần viết thêm thư từ gì nữa – họ đơn giản là có thể bước ra ngoài.

Những tù vốn không nghĩ gì khác ngoài tự do nay lại miễn cưỡng cảm thụ nó: “Mặc dù tôi khó có thể khiến mình tin nổi chuyện này, tôi đã khóc sụt sùi khi mình bước ra tới tự do… Tôi cảm thấy như đã rứt tim mình ra xa khỏi những gì thân thương và quý báu nhất với nó, khỏi các đồng chí đã cùng chia sẻ cảnh không may. Chiếc cổng đóng lại – và đó là chấm dứt cho tất cả”.[326]

Nhiều người đơn giản là chưa sẵn sàng. Yuri Zorin, đang đi cùng trên đoàn tàu lèn chặt tù từ Kotlas xuống miền nam năm 1954, nhưng chỉ đi được có hai ga. “Tại sao mình lại về Moscow?” ông tự hỏi – và rồi quay lại đi về trại cũ, nơi người chỉ huy cũ của ông giúp ông kiếm được việc làm với tư cách công nhân tự do. Ông ở lại đấy suốt mười sáu năm trời.[327] Evgeniya Ginzburg có quen một phụ nữ thực sự không muốn rời khỏi trại mình: “Vấn đề là ở tôi – tôi không thể đối mặt với cuộc sống bên ngoài. Tôi muốn ở lại trong trại”, người này nói với bạn mình.[328] Một người khác viết trong nhật ký rằng “Tôi thực sự không muốn tự do. Tự do có gì hấp dẫn với tôi? Đối với tôi dường như ở ngoài đó… chỉ toàn dối trá, đạo đức giả, thiếu suy nghĩ. Ở ngoài đó, mọi thứ là giả tạo đến kỳ quái, còn tại đây, mọi thứ mới là thực”.[329] Nhiều người không tin tưởng Khrushchev, chờ đợi tình thế sẽ tệ trở lại, và kiếm việc làm dưới tư cách công nhân tự do ở Vorkuta và Norilsk. Họ chọn thà không phải trải qua các cảm xúc và những rắc rối khi quay về, nếu không dẫu có thế nào cuối cùng họ cũng bị bắt lại.

Nhưng thậm chí những ai muốn trở về nhà cũng thấy gần như không thể làm được. Họ không có tiền, và rất ít thức ăn. Trại thả tù ra với khoảng 500 gram bánh mì cho mỗi ngày đi đường trù tính – một khẩu phần chết đói.[330] Thậm chí khẩu phần thế này cũng vẫn thiếu, do họ thường mất thời gian đi đường lâu hơn dự kiến, gần như không thể kiếm được vé trên vài chuyến bay và tàu hỏa về phía nam. Khi đến nhà ga ở Krasnoyarsk, Ariadna Efron thấy “một đám đông chen chúc, đến nỗi lên tàu đi là không thể, đơn giản là không thể. Người từ tất cả các trại đều có ở đây, từ tất cả các trại ở Norilsk”. Cuối cùng bà được nhận một chiếc vé trên trời rơi xuống từ một “thiên thần”, một phụ nữ tình cờ có được hai cái. Nếu không, bà có lẽ đã phải đợi hàng tháng trời.[331]

Đối diện với một chuyến tàu đông đúc tương tự, Galina Usakova, giống như nhiều người khác, giải quyết vấn đề về nhà bằng cách ngồi trên cái giá để đồ đạc.[332] Nhưng có người hoàn toàn không thể về nhà: không thiếu gì chuyện tù chết trên chặng đường vất vả để về nhà, hay chỉ sau vài tuần hoặc vài tháng ở nhà. Suy yếu sau nhiều năm lao động nặng nhọc, kiệt sức bởi chặng đường mệt mỏi, bị bao trùm bởi cảm xúc dồn dập khi quay về, đã khiến họ đau tim và nghẹn thở. “Biết bao người đã chết vì thứ tự do ấy!” một tù đã tự hỏi.[333]

Một số kết thúc bằng việc quay trở vào tù. Bản thân MVD đã ra một báo cáo tiết lộ rằng tù được tự do khi ra khỏi các trại ở Vorkuta, Pechora và Inta đã không thể mua được quần áo, giầy dép hay vải trải giường, do “các thị trấn nằm trên vòng Bắc Cực không hề có chợ búa”. Tuyệt vọng, một số đã phạm các tội vặt để được bị bắt trở lại. Ít nhất trong tù họ được bảo đảm có phần bánh mì mà ăn.[334] Nhưng những người chịu trách nhiệm về trại cũng không nhất thiết phải để ý đến chuyện này: đối diện với một cuộc khủng hoảng về nhân công, ban quản lý Vorkuta đã không chấp hành mệnh lệnh từ trên mà thực ra đã tìm cách ngăn cản một số loại tù nhất định rời khỏi mỏ.[335]

Nếu họ có xoay sở về được tới Moscow, Leningrad hay bất cứ làng nào mà vốn họ từ đó ra đi, các cựu tù trại thường nhận ra cuộc sống của họ tại đây không dễ dàng chút nào. Sự việc hóa ra, chỉ đơn thuần được thả là chưa đủ để lập lại một cuộc sống “bình thường”. Không có giấy tờ xác nhận việc phục hồi danh dự thực sự – những giấy tờ để hủy bỏ án gốc của người tù – các cựu tù chính trị vẫn còn trong vòng nghi ngờ.

Thực ra, vài năm về trước, hẳn họ đã bị cấp cho cái hộ chiếu “chó sói” đáng sợ, cấm cựu tù chính trị sống trong hay ở gần bất cứ thành phố lớn nào tại Liên Xô. Những người khác có thể bị đưa thẳng tới nơi lưu đày. Giờ đây hộ chiếu “chó sói” đã bị hủy bỏ, nhưng vẫn rất khó có thể tìm được một nơi để sống, tìm được việc làm và, tại Moscow, được phép ở lại thủ đô. Tù quay về và thấy ngôi nhà mình đã bị trưng thu từ lâu, tài sản của họ bị tiêu tán. Nhiều người thân của họ, cũng bị liên đới với “kẻ thù”, nay đã chết hay lâm cảnh bần túng: rất lâu sau khi họ được thả, gia đình của những “kẻ thù” vẫn phải đeo cái mác xấu, là đối tượng của các hình thức phân biệt và cấm đoán chính thức không cho làm một số loại công việc nhất định. Chính quyền địa phương vẫn còn nghi ngại các cựu tù. Thomas Sgovio mất một năm trời “xin xỏ và phiền nhiễu” trước khi được phép trở thành cư dân hợp pháp trong căn hộ của mẹ mình.[336] Các tù lớn tuổi hơn nhận thấy gần như không thể nhận được tiền hưu thỏa đáng.[337]

Những rắc rối cá nhân đó, kết hợp với cảm giác tổn thương do bị xét xử bất công, đã khiến nhiều người lao vào tìm kiếm sự phục hồi danh dự hoàn toàn – nhưng đây không phải là một quá trình đơn giản hay công khai minh bạch gì. Với nhiều người, sự lựa chọn này thậm chí còn không thể có được. Lấy ví dụ, MVD dứt khoát từ chối xem lại các án cho tất cả những người bị kết án trước 1935.[338] Những ai từng phải chịu thêm án phụ trong trại, bất kể do bất phục tùng, bất đồng quan điểm hay tội ăn cắp, sẽ không được nhận tờ chứng nhận phục hồi danh dự đáng thèm muốn.[339] Các vụ án xử những nhà Bolshevik cao cấp – Bukharin, Kamenev, Zinoviev – vẫn là cấm kỵ, và những người bị kết tội trong các cuộc điều tra này cũng như các nhà lãnh đạo kể trên sẽ phải mãi đến thập niên 1980 mới được phục hồi.

Với những ai có thử làm, quá trình phục hồi kéo dài đằng đẵng. Đơn xin phục hồi phải do tù hay gia đình họ viết, họ thường phải viết hai, ba hay nhiều lá thư trước khi đơn được nhận. Thậm chí sau khi nhận đơn, quá trình gian khổ này đôi khi còn đi giật lùi: Anton Antonov-Ovseenko nhận được giấy chứng nhận phục hồi sau khi mất cho cha mình, nhưng rồi lại bị thu hồi năm 1963.[340] Nhiều cựu tù vẫn còn cảnh giác khi nộp đơn. Những người nhận được giấy gọi tới cuộc họp ủy ban phục hồi, luôn tổ chức ở trong văn phòng của MVD hay Bộ Tư pháp, thường đem sẵn theo nhiều bộ quần áo, gói ghém thức ăn, có người thân sụt sùi khóc đi theo, rõ ràng họ chuẩn bị sẵn tinh thần có thể bị tống đi xa lần nữa.[341]

Ở cấp cao nhất, nhiều người sợ rằng quá trình phục hồi danh dự sẽ đi quá nhanh và quá xa. “Chúng tôi đã sợ, thực sự sợ”, Khrushchev sau này đã viết. “Chúng tôi sợ băng tan gây ra lũ, chúng tôi sẽ không thể kiểm soát và nó sẽ nhấn chìm chúng tôi”.[342] Một cựu điều tra viên cao cấp của KGB, Anatoly Spragovsky, sau này nhớ lại rằng trong khoảng giữa 1955 và 1960 ông đã di chuyển qua khắp tỉnh Tomsk, phỏng vấn những nhân chứng và đến thăm các nơi được cho là đã xảy ra tội ác. Ông đã được biết, ngoài những chuyện khác, rằng các cựu tù từng bị tố cáo về việc âm mưu gây nổ những nhà máy và cây cầu không hề tồn tại trong thực tế. Nhưng khi Spragovsky viết cho Khrushchev, đề nghị khơi thông quá trình phục hồi và đẩy nhanh nó, ông đã bị từ chối thẳng thừng: ở Moscow, dường như các quan chức không muốn những sai lầm của thời Stalin có vẻ quá rộng hay quá phi lý, và họ không muốn việc điều tra những vụ án cũ được tiến hành quá nhanh. Anastas Mikoyan, một thành viên Bộ Chính trị Stalinnít sống sót được cho tới thời Khrushchev, đã có lần giải thích rằng tại sao không thể phục hồi quá nhanh cho mọi người. Nếu tất cả bọn họ đều cùng một lúc được tuyên bố vô tội, “sẽ rõ ràng rằng đất nước đang được điều hành không phải bởi một chính phủ hợp pháp, mà bởi một băng nhóm tội phạm”.[343]

Đảng Cộng sản cũng thận trọng khi phải thừa nhận quá nhiều sai lầm. Mặc dù đã xem qua hơn 70.000 đơn của cựu đảng viên đề nghị phục hồi Đảng tịch cho họ, có chưa tới phân nửa số đơn được chấp nhận.[344] Kết quả là, trường hợp phục hồi danh dự đầy đủ – gồm có khôi phục hoàn toàn vị trí công tác, căn hộ và bậc lương – rất hiếm khi xảy ra.

Đối với Olga Adamova-Sliozberg, người đã làm hồ sơ xin phục hồi cho bản thân và cho chồng vào năm 1954, những trải nghiệm rối bời và cảm xúc lẫn lộn lấn át hơn nhiều so với việc được phục hồi đầy đủ. Bà đã phải đợi suốt hai năm. Và rồi, sau bài diễn văn mật của Khrushchev năm 1956, bà nhận được giấy chứng nhận cho mình. Nội dung của nó tuyên bố rằng vụ án của bà đã được xem lại và bị đóng do thiếu chứng cứ. “Tôi bị bắt ngày 27/4/1936. Vậy là tôi đã phải trả giá cho sai lầm này bằng hai mươi năm bốn mươi mốt ngày của cuộc đời mình”. Để đền bù, tờ chứng nhận viết, Adamova-Sliozberg được nhận hai tháng lương cho bà và cho người chồng đã mất của bà, cộng thêm 11 rúp 50 côpếch đền cho số tiền thuộc tài sản của chồng bà vào thời điểm ông qua đời. Tất cả chỉ có vậy.

Khi đứng giữa phòng chờ bên ngoài văn phòng của Tòa án Tối cao ở Moscow và suy ngẫm về thông tin trên, bà nghe thấy tiếng ai đó la hét. Đó là một cụ già người Ukraina, vừa được đưa cho một tờ giấy tương tự:

Cụ già người Ukraina hét lên: “Tao không cầm tiền đổi bằng máu con trai tao; chúng mày giữ lấy đi!” Bà xé tan tờ chứng nhận và ném nó xuống sàn.

Người lính đứng phát giấy chứng nhận bước tới chỗ bà: “Hãy bình tĩnh, nữ công dân”, anh ta cất tiếng.

Nhưng bà cụ già vẫn gào thét cho đến khi nghẹn thở vì căm giận.

Mọi người đều im lặng, không trừ một ai. Đây đó tôi nghe thấy tiếng sụt sùi thổn thức.

Tôi quay về căn hộ của mình, nơi đó giờ đây không còn công an nào đến đuổi tôi đi nữa. Không ai ở nhà, và cuối cùng tôi đã có thể khóc thỏa thích.

Khóc cho chồng tôi, người đã chết trong phòng giam của Lubyanka khi mới ba bảy tuổi, giữa lúc đang ở đỉnh cao của sức lực và tài năng; khóc cho các con tôi, những đứa trẻ phải lớn lên trong trại mồ côi, bị dán nhãn là con cái của lũ kẻ thù của nhân dân; khóc cho cha mẹ tôi, phải chết trong đau khổ; khóc cho Nikolai, người bị tra tấn trong trại; và khóc cho tất cả các bạn bè tôi không sống nổi cho tới lúc được phục hồi danh dự mà phải nằm dưới mặt đất băng giá vùng Kolyma.[345]

Mặc dù thường bị lờ đi trong các cuốn lịch sử kiểu mẫu của Liên bang Xô viết, cuộc trở về nhà của hàng triệu người từ các trại và chốn lưu đày chắc hẳn đã làm kinh ngạc hàng triệu công dân Xôviết khác nhìn thấy họ trên đường về. Bài diễn văn mật của Khrushchev đã là một cú sốc, nhưng đó là một sự kiện xa xôi nào đó, nhắm vào hệ thống cơ cấu của Đảng. Trái lại, việc tái xuất hiện của những người vốn bị xem là đã chết từ lâu đã đem về nhà thông điệp của bài diễn văn trên theo một cách trực tiếp hơn nhiều, đến với phạm vi công chúng rộng rãi hơn nhiều. Thời đại của Stalin từng là thời đại của tra tấn bí mật và bạo lực che giấu. Đột nhiên, các cư dân kỳ cựu của trại xuất hiện đầy đường và trưng bằng chứng sống động về những gì đã xảy ra.

Họ cũng mang theo vô số thông tin, cả xấu lẫn tốt, về những người bị mất tích. Vào những năm 1950, đã thành thông lệ khi những tù vừa được thả tới thăm nhà cả các đồng chí đã chết lẫn còn sống của mình, chuyển các tin nhắn miệng hay kể lại những lời trăn trối. M. S. Rotfort trở về Kharkov qua ngả Chita và Iskutsk, cốt để đến gặp gia đình các bạn bè của ông.[346] Gustav Herling có chuyến đến thăm rất khó xử tới gia đình người bạn cùng trại mình là tướng Kruglov, vợ ông này cầu xin ông đừng nói với con gái họ về bản án trại mới của Kruglov, liên tục nhìn xuống đồng hồ đeo tay và xin ông hãy mau đi đi.[347]

Đám tù trở về cũng là một nguồn gây khiếp sợ – đối với các thủ trưởng hay những đồng nghiệp, chính là những người đã đưa họ vào tù. Anna Andreeva nhớ rằng tất cả các chuyến tàu đến Moscow từ Karaganda và Potma mùa hè năm 1956 đều chở đầy cựu tù. “Khắp nơi đều tràn ngập cả niềm vui lẫn cảm xúc trái ngược, bởi mọi người gặp lại những kẻ đã kết tội họ và kẻ đã kết tội những người khác. Thật hạnh phúc, cũng thật bi kịch, và khắp Moscow mau chóng tràn đầy cảm xúc này”.[348] Trong tiểu thuyết Khu ung thư của mình, Solzhenitsyn đã tưởng tượng ra phản ứng của một lãnh đạo Đảng đang mang bệnh ung thư, sau khi vợ ông này cho ông hay rằng một người bạn cũ – một người mà chính ông đã đi tố cáo để chiếm lấy căn hộ –sắp sửa được phục hồi danh dự:

Một cảm giác yếu ớt xâm chiếm khắp cơ thể ông – hai bên hông, đôi vai; cánh tay cũng xuội xuống, và khối u dường như vừa vật đầu ông sang một bên. “Tại sao bà lại kể cho tôi?” ông thều thào rên rỉ đầy khổ não. “Thế này tôi chưa đủ khổ hay sao?” Hai lần liền mái đầu và lồng ngực ông rung lên trong cơn nghẹo ngào không tài nào khóc nổi…

“Lấy quyền gì mà bọn họ cho thả những kẻ ấy vào lúc này? Họ không biết thương xót hay sao? Tại sao họ dám gây những tổn hại như vậy!”[349]

Cảm giác có tội là không thể chịu nổi. Sau bài diễn văn mật của Khrushchev, Aleksandr Fadeev, một người Stalinnít tận tuỵ và là nhà quản lý công tác văn nghệ đầy uy quyền, đã lao vào rượu chè say khướt. Khi say, ông thú nhận với một người bạn rằng do là chủ tịch Hội Nhà văn, ông đã cho phép bắt bớ nhiều nhà văn mà ông biết là vô tội. Ngày hôm sau Fadeev tự sát. Ông được cho là đã để lại một bức thư tuyệt mệnh gồm chỉ một dòng, gửi cho Uỷ ban Trung ương: “Viên đạn này dành cho chính sách của Stalin, cho óc thẩm mỹ của Zhdanov, cho thuyết di truyền của Lysenko”.[350]

Một số người khác phát điên. Olga Mishakova, một cán bộ Đoàn Thanh niên Komsomol, đã tố cáo Kosarev, lãnh đạo của tổ chức thanh niên này. Sau năm 1956, Kosarev được khôi phục, và Uỷ ban Trung ương Komsomol đã khai trừ Mishakova. Tuy nhiên, trong một năm sau đó, bà vẫn tiếp tục tới trụ sở Komsomol, ngồi suốt ngày trong văn phòng trống rỗng của mình, thậm chí còn nghỉ ăn trưa. Sau khi Komsomol tịch thu thẻ ra vào của bà, bà vẫn tới, đứng ngoài cổng trong giờ làm việc. Khi chồng bà bị chuyển công tác tới Ryazan, bà vẫn lên tàu đi Moscow mỗi buổi sáng vào lúc bốn giờ, và suốt cả ngày ở trước trụ sở cũ, đến chiều thì về nhà. Cuối cùng bà bị đưa vào một viện tâm thần.[351]

Thậm chí khi hậu quả không là hoá điên hay tự sát, những cuộc chạm trán đầy khó xử lan tràn đời sống xã hội Moscow thời kỳ sau 1956 vẫn gây ra nhiều đau khổ. “Hai nhóm người Nga nhìn nhau trừng trừng”, Anna Akhmatova viết, “một bên là những người từng ở trong tù, bên kia là những kẻ đã tống họ vào đó”. Nhiều lãnh đạo của đất nước, bao gồm Khrushchev, đích thân biết rất nhiều người vừa trở về.[352] Theo Antonov-Ovseenko, một “bạn cũ” như vậy đã xuất hiện bên thềm nhà Khrushchev năm 1956 và thuyết phục ông hãy đẩy nhanh quá trình phục hồi.[353] Tệ hơn nữa là những cuộc chạm trán giữa các cựu tù và những kẻ từng là cai tù hay đã điều tra họ. Một hồi ký bút danh xuất bản trong tạp chí chính trị hoạt động ngầm của Roy Medvedev năm 1964 đã kể về cuộc gặp mặt của một người với điều tra viên từng làm vụ của ông, nay đi xin ông tiền để uống rượu: “Tôi đưa hắn mọi thứ còn lại sau chuyến đi của mình, một số tiền khá nhiều. Tôi đưa hắn cốt để hắn mau đi cho khuất. Tôi sợ rằng mình không thể kìm nổi. Tôi cảm thấy một khao khát tràn ngập muốn được thoả cơn căm hận, vốn đã bị kìm nén quá lâu, đối với hắn và những loại như hắn”.[354]

Cũng vô cùng khó chịu khi gặp phải những người bạn cũ, nay là một công dân Xôviết giàu có. Lev Razgon gặp một người bạn thân năm 1968, hơn mười năm sau khi ông được trở về: “Anh ấy gặp tôi… như thể chúng tôi vừa chia tay nhau chiều hôm qua. Anh ta thể hiện sự chia buồn, dĩ nhiên, về cái chết của Oksana, và hỏi thăm Yelena. Nhưng tất cả những chuyện ấy được hỏi theo cái cách loáng thoáng, kiểu như xã giao… và vậy là vậy đó”.[355] Yuri Dombrovsky biến những cảm giác của mình về một người bạn đã tỏ lòng chia buồn quá muộn mằn thành một bài thơ, tựa đề “Gửi NN”:

Thậm chí con cái cũng chẳng thương chúng tôi

Thậm chí vợ cũng chẳng muốn chúng tôi

Chỉ có tên gác bắn vào chúng tôi, thành thạo

Sau khi lấy số tù mà làm đích ngắm…

Anh chỉ quen lượn lờ nơi nhà hàng

Vung vãi chuyện đùa qua ly rượu tràn,

Anh hiểu hết và chào mời tất mọi người

Nhưng không để ý chúng tôi đang chết đây.

Vậy hãy làm ơn nói cho tôi rõ

Khi tôi vừa trải qua thử thách (bằng) chiến trận

Bật đứng dậy từ nơi huyệt mộ phương bắc

Anh lại tiến đến bên tôi tựa như (anh là) người hùng?

Đám đàn bà liếm tay anh–

Vì sự quả cảm và những nỗi đau khổ (mà anh đã chịu) hay sao?[356]

Lev Kopelev từng viết rằng sau khi trở về, ông không còn chịu nổi việc phải đi cùng những người thành đạt, ông thích đi cùng những kẻ thất bại hơn.[357]

Làm thế nào để nói chuyện về trại – và có thể nói tới mức độ nào về trại – với bạn bè và gia đình lại là một nỗi hành hạ khác của các cựu tù. Nhiều người tìm cách bảo vệ con cái mình ngăn không cho chúng biết sự thật. Con gái công trình sư tên lửa vũ trụ Sergei Korolev không được biết rằng cha mình từng ở trong tù cho tới khi cô gần hết tuổi thiếu niên, khi cô phải điền vào tờ khai hỏi có ai trong họ hàng từng bị bắt.[358] Khi sắp rời trại, nhiều tù được yêu cầu phải ký các giấy tờ cấm họ không được nói bất cứ gì về trại. Việc này làm một số người sợ không nói nổi, mặc dù nó không doạ được nhiều người khác. Susanna Pechora từ chối thẳng việc ký vào các giấy tờ ấy khi rời trại và đã, theo lời của chính bà, “từ đó trở đi lúc nào cũng kể về việc này”.[359]

Những người khác nhận thấy bạn bè và gia đình mình, nếu không phải là không quan tâm, thì cũng không muốn biết chi tiết hơn về nơi họ đã từng trải qua hay điều gì đã xảy ra với họ. Họ quá sợ hãi – không chỉ vì công an mật ở đâu cũng có mặt, mà vì những gì họ có thể sẽ phải biết về những người họ yêu thương. Tiểu thuyết gia Vasily Aksyonov – con trai Evgeniya Ginzburg – đã viết một cảnh bi thảm nhưng có vẻ hợp lý khủng khiếp trong tiểu thuyết bộ ba của mình, cuốn Những thế hệ Đông giá, mô tả chuyện xảy ra khi một người và vợ của anh ta gặp mặt nhau sau khi cả hai đều phải chịu án trong trại tập trung. Anh ta lập tức nhận thấy rằng cô này trông quá khoẻ mạnh: “trước hết xin cho anh hay làm cách nào mà em không trở thành xấu xí… thậm chí em còn không sụt cân!” anh nói, trong đầu biết quá rõ những cách có thể của phụ nữ để sống sót trong Gulag. Đêm đó, họ nằm tách xa nhau trên giường, không thể thốt ra lời: “Nỗi buồn và sự đau khổ đã thiêu đốt họ cho tới tận cùng”.[360]

Nhà văn và là thi sĩ dân gian Bulat Okudzhava cũng viết một truyện ngắn mô tả cuộc gặp của một người với mẹ mình, người đã phải chịu mười năm trong trại. Người đàn ông vui sướng tham gia chuyến trở về của mẹ mình, tin rằng anh ta sẽ đón bà ở nhà ga, đưa bà về nhà ăn tối sau cuộc đoàn tụ đầy nước mắt nhưng vui vẻ, kể cho bà nghe về cuộc đời mình, thậm chí có thể còn đi xem phim. Thay vào đó, anh ta thấy một phụ nữ với cặp mắt ráo hoảnh và thái độ thờ ơ: “Mẹ nhìn qua tôi mà không quan sát, khuôn mặt bà đanh lại, khô cứng”. Ông đã hình dung bà thật yếu đuối, mỏng manh, nhưng hoàn toàn không chờ đợi sự tổn thương tình cảm – một kinh nghiệm mà hàng triệu người khác chắc hẳn cũng cùng chia sẻ.[361]

Các câu chuyện thực tế thường cũng ảm đạm như vậy. Nadezhda Kapralova viết về cuộc gặp lại mẹ mình sau mười ba năm, bà bị tách khỏi mẹ khi mới tám tuổi: “Chúng tôi là những người gần gũi nhất có thể, mẹ và con gái, vậy mà chúng tôi lại là xa lạ, chúng tôi nói về những điều không dính dáng gì, chủ yếu là khóc và giữ im lặng”.[362] Một tù khác, Evgeny Gagen, được đoàn tụ với vợ mình sau mười bốn năm, nhưng nhận ra họ chẳng còn có gì chung. Ông đã, như ông cảm thấy, “trưởng thành” trong những năm ấy, trong khi vợ vẫn còn như trước.[363] Olga Adamova-Sliozberg đã phải hành xử rất thận trọng khi đoàn tụ với con trai năm 1948: “Tôi sợ phải nói với con về những gì tôi đã học ‘từ phía bên kia’. Chắc chắn tôi sẽ thuyết phục nó rằng có những sai lầm to lớn ở đất nước ta, rằng Stalin, thần tượng của nó, thực tế còn lâu mới là hoàn hảo, nhưng con tôi mới có mười bảy. Tôi sợ phải nói chuyện hoàn toàn thẳng thắn với nó”.[364]

Nhưng không phải ai cũng cảm thấy lẻ loi giữa xã hội Xôviết. Có lẽ thật đáng ngạc nhiên, nhiều người trở về lại hăm hở xin vào lại Đảng Cộng sản, không chỉ để có các ưu đãi hay địa vị mà nhằm được cảm thấy, một lần nữa, là thành viên đầy đủ của Đảng, như đã vốn có. “Lòng trung thành với một hệ thống đức tin có thể có gốc rễ sâu xa và phi lý trí”, đó là cách giải thích của sử gia Nanci Adler về cảm giác của một tù khi ông ta được khôi phục Đảng tịch:

Yếu tố quan trọng nhất giúp tôi sống sót trong các điều kiện khắc nghiệt đó là niềm tin không nao núng và bất diệt của tôi đối với Đảng Lêninnít của chúng ta, vào các quy tắc nhân đạo của nó. Chính Đảng đã cho tôi sức lực để chịu đựng trước phiên toà của họ… Sự trở về hàng ngũ Đảng Cộng sản thân thương của tôi là niềm hạnh phúc to lớn nhất của toàn bộ cuộc đời tôi.[365]

Sử gia Catherine Merridale đi xa hơn một bước, cho rằng Đảng và lý tưởng tập thể của Liên bang Xôviết thực sự đã giúp mọi người hồi phục bất cứ chấn thương nào mà họ đã phải chịu đựng: “Dường như người Nga thực sự đã sống với lịch sử đầy mất mát không thể nói hết của họ bằng cách lao động, ca hát và phất cao ngọn cờ hồng. Giờ đây một số người cười nhạo chuyện này, nhưng hầu hết mọi người đều luyến tiếc về một chủ nghĩa tập thể và mục đích chung cao quý đã bị mất đi. Ở mức nào đó, chế độ chuyên chế đã tỏ ra có tác dụng”.[366]

Mặc dù ở mức độ nào đó họ biết cuộc đấu tranh này là giả tạo; thậm chí họ biết đất nước không hề vẻ vang như các lãnh tụ đã tuyên bố; thậm chí họ biết rằng toàn bộ các thành phố của Xôviết vốn được xây trên xương máu của những người bị kết án không công bằng phải lao động cưỡng bức – thậm chí khi ấy, một số nạn nhân hệ thống trại vẫn cảm thấy dễ chịu hơn khi họ là một phần của nỗ lực chung, và không còn bị tách ra khỏi nó.

Nói cách khác, nỗi căng thẳng ghê gớm giữa những ai từng “ở đó” và những người ở nhà không còn giới hạn trong phòng ngủ và bị khoá nhốt vĩnh viễn sau cánh cửa. Những ai chịu trách nhiệm về chuyện đã xảy ra vẫn đang còn sống. Cuối cùng, tại Đại hội Đảng lần thứ XXII tháng 10/1961, Khrushchev, lúc này đang đấu tranh giành ảnh hưởng trong Đảng, bắt đầu nêu tên của họ ra. Ông cống bố rằng Molotov, Kaganovich, Voroshilov và Malenkov đều “có tội đàn áp hàng loạt bất hợp pháp chống lại nhiều quan chức trong Đảng, chính quyền Xôviết, quân đội và Đoàn Komsomol và phải chịu trách nhiệm trực tiếp vì đã huỷ hoại thể xác họ”. Đáng ngại hơn, ông cũng ám chỉ mơ hồ đến “những tài liệu mà chúng ta đang giữ” chứng minh cho các tội này.[367]

Nhưng cuối cùng, Khrushchev đã không xuất bản bất cứ tài liệu nào trong quá trình đấu tranh chống lại phe Stalinnít chống đối cuộc cải cách của ông. Có lẽ ông không thực sự có đủ sức mạnh để làm điều đó – hay có lẽ những tài liệu như vậy cũng có thể tiết lộ vai trò của chính ông trong các cuộc đàn áp thời Stalin. Thay vào đó, Khrushchev triển khai một chiến thuật mới: ông mở rộng bàn luận công khai nhiều hơn về chủ nghĩa Stalin, nới rộng nó vượt qua các tranh luận trong nội bộ Đảng – kéo nó lan tới lĩnh vực văn nghệ. Mặc dù Khrushchev có lẽ không quan tâm nhiều tới các nhà thơ và tiểu thuyết gia Xôviết vì mục đích của họ, ông đã thấy, vào đầu thập niên 1960, rằng họ có thể giữ vai trò trong công cuộc giành quyền lực của ông. Từ từ, những cái tên đã biến mất bất đầu xuất hiện trở lại trong các xuất bản chính thức, không hề có kèm giải thích tại sao họ đã biến đi và tại sao họ đang được quay trở lại. Các nhân vật cho đến nay không thể được chấp nhận trong tiểu thuyết Xôviết – các quan chức tham lam, những tù đi trại trở về – bắt đầu xuất hiện trong các cuốn sách được xuất bản.[368]

Khrushchev thấy rằng những xuất phẩm như vậy có thể tuyên truyền giúp cho ông: các tác giả văn học có thể làm mất uy tín đối thủ của ông thông qua bôi xấu họ bằng những tội ác trong quá khứ. Điều này, ở bất kỳ mức độ nào, nghe có vẻ hợp lý sau quyết định của ông cho phép xuất bản tác phẩm Một ngày trong cuộc đời của Ivan Denisovich của Aleksandr Solzhenitsyn, tác phẩm nổi tiếng nhất trong số các tiểu thuyết về Gulag.

Do ảnh hưởng trong nền văn học của mình, cũng như do vai trò trong việc phổ biến về sự tồn tại của Gulag tại phương Tây, Aleksandr Solzhenitsyn rõ ràng xứng đáng với việc được đặc biệt đề cập trong bất kỳ cuốn lịch sử nào về hệ thống trại Xôviết. Nhưng việc nhanh chóng trở thành một tác giả Xôviết “chính thức”, nổi tiếng và được xuất bản rộng rãi cũng đáng để nói tới bởi nó đánh dấu một thời điểm chuyển biến quan trọng. Khi Ivan Denisovich lần đầu tiên được in năm 1962, công cuộc Tan băng đang hồi cao trào, tù chính trị chỉ còn ít, và Gulag dường như đã trở thành chuyện quá khứ. Vào mùa hè năm 1965, khi một tạp chí của Đảng mô tả Ivan Denisovich như “một tác phẩm gây tranh luận rõ ràng, cả về tính tư tưởng lẫn tính nghệ thuật”, Khrushchev đã bị phế truất, sự thoái hồi đã bắt đầu, và số lượng tù chính trị bắt đầu tăng lên với tốc độ đáng ngại. Năm 1974, khi Quần đảo Gulag – bộ tổng hợp lịch sử khổng lồ gồm ba tập của Solzhenitsyn về hệ thống trại – được xuất bản bằng tiếng Anh, Solzhenitsyn đã bị trục xuất khỏi tổ quốc, và sách của ông chỉ còn được xuất bản ở nước ngoài. Thể chế trại tù Xôviết được tái lập vững chắc, và hoạt động chống đối lên đến cao trào.[369]

Quá trình ngồi tù của Solzhenitsyn bắt đầu theo một cách điển hình đối với đám zek cùng thế hệ với ông. Sau khi bước vào trường huấn luyện sĩ quan pháo binh năm 1941, ông chiến đấu khắp mặt trận phía Tây trong suốt mùa thu và mùa đông năm 1943, viết một vài chỉ trích che đậy vụng về về Stalin trong một bức thư gửi người bạn năm 1945 – và lập tức bị bắt ngay sau đó. Đến lúc này con người ít nhiều chân thành tin tưởng vào chủ nghĩa cộng sản, người sĩ quan trẻ tuổi đã bị choáng váng bởi sự đối xử tàn ác và thô bạo mà ông phải nhận. Sau này, ông còn choáng váng hơn khi chứng kiến sự đối xử khắc nghiệt trút xuống những binh lính Hồng quân từng là tù binh của quân Đức. Họ là, ông cảm thấy, những con người đáng ra phải được trở về quê hương như những anh hùng.

Quá trình đi trại sau đó của ông có lẽ hơi nhẹ hơn bình thường, chỉ bởi vì – nhờ có ít kiến thức toán lý sau đại học – ông chịu một phần án tại một sharashka, một kinh nghiệm mà sau này ông ghi lại trong tiểu thuyết Vòng địa ngục đầu tiên của mình. Hơn thế, công bằng mà nói thì ông đã phục vụ trong một loạt lagpunkt bình thường, bao gồm một trại ở Moscow và một trại thuộc tổ hợp trại đặc biệt ở Karaganda. Ông cũng là một tù bình thường không có gì đặc biệt. Ông giao du với chính quyền, làm chỉ điểm viên trước khi nhìn thấy ánh sáng, và kết thúc là làm thợ nề. Thợ nề là nghề mà sau này ông đã dành cho Ivan Denisovich, người zek “bình thường” là nhân vật chính trong tiểu thuyết đầu tay của ông. Sau khi được thả, ông về làm thày giáo tại một ngôi trường ở Ryazan, và bắt đầu viết về các trải nghiệm của mình. Điều này cũng không có gì bất thường: hàng trăm hồi ký Gulag từng được xuất bản từ thập niên 1980 là bằng chứng phong phú cho tài năng và khiếu viết lách của các cựu tù Xôviết, nhiều người trong số đó đã bí mật viết suốt nhiều năm trời. Cuối cùng, điều làm cho Solzhenitsyn thực sự độc đáo là thực tế giản dị rằng tác phẩm của ông đã được in, tại Liên Xô, trong khi Khrushchev vẫn còn đang nắm quyền.

Có nhiều giai thoại xung quanh sự xuất bản cuốn Một ngày trong cuộc đời của Ivan Denisovich, nhiều đến nỗi Michael Scammell, người viết tiểu sử Solzhenitsyn, đã phải viết rằng câu chuyện “đã đòi hỏi những thêm thắt rải theo diễn biến truyện mà đôi khi rất khó tách sự thật ra khỏi hư cấu”. Con đường đưa cuốn sách đến với danh tiếng văn chương khá gập gềnh. Trước khi trở nên nổi tiếng, bản thảo của Ivan Denisovich phải qua tay của Lev Kopelev – một nhân vật trong giới văn chương Moscow, và là một trong những đồng chí chung trại của Solzhenitsyn – và một biên tập viên bản thảo của tạp chí Novyi Mir. Phấn khích vì những gì tìm được, người nữ biên tập viên bản thảo đã chuyển nó cho Aleksandr Tvardovsky, tổng biên tập Novyi Mir.

Tvardovsky, theo như lời kể, bắt đầu đọc Ivan Denisovich khi đang nằm trên giường. Tuy nhiên, sau vài trang, ông bị ấn tượng với bản thảo đến nỗi ông cảm thấy phải ngồi dậy, mặc quần áo nghiêm chỉnh và ngồi thẳng người mà đọc. Ông thức suốt đêm để đọc nó, và rồi chạy vội tới văn phòng ngay khi bình mình vừa hé, gào lên bảo nhân viên đánh máy nhân ra thêm nhiều bản để ông đem phát cho các bạn mình, vừa làm những chuyện đó vừa thốt lên ngợi ca sự ra đời của một thiên tài văn học. Bất kể tất cả những chuyện đó có thật sự xảy ra hay không, Tvardovsky đúng là đã kể với mọi người rằng như vậy. Sau này, Solzhenitsyn đã viết cho Tvardovsky về việc ông cảm thấy hạnh phúc ra sao khi biết rằng Tvardovsky đánh giá Ivan Denisovich “xứng đáng mất ngủ cả đêm để đọc”.[370]

Bản thân cuốn truyện đã khá thẳng thừng: nó ghi lại một ngày trong cuộc đời của một người tù bình thường. Giờ đây khi đọc nó, đúng là có vẻ khá khó đối với độc giả đương đại, thậm chí cả với độc giả đương đại ở nước Nga, để hiểu cho được tại sao nó đã tạo nên sự ưa chuộng nhiệt liệt đến vậy trong giới văn nghệ Xôviết. Nhưng đối với những ai đã đọc nó năm 1962, cuốn truyện là một sự khám phá. Thay vì nói mập mờ về “những người trở về” và “sự đàn áp” như một số cuốn sách đã làm thời kỳ đó, Ivan Denisovich mô tả trực tiếp về cuộc sống trong trại, một chủ đề mà cho tới lúc ấy vẫn chưa được bàn luận công khai.

Đồng thời, phong cách của Solzhenitsyn – đặc biệt là việc ông sử dụng tiếng lóng trong trại – và mô tả của ông về sự trì trệ tẻ ngắt và nhức nhối của cuộc sống trong tù, tạo ra một sự tương phản đến chóng mặt đối với thứ tiểu thuyết rỗng tuếch và giả tạo thông thường được xuất bản thời đó. Tín điều văn học Xôviết chính thống thời đó, “hiện thực xã hội chủ nghĩa”, hoàn toàn không phải là hiện thực mà đúng hơn là biến thể văn học của học thuyết chính trị Stalinnít. Văn học tù, như người ta vẫn gọi, không hề thay đổi kể từ thời Gorky. Nếu có một nhân vật trộm cướp trong một tiểu thuyết Xô viết, hắn sẽ được thấy ánh sáng và cải biến theo niềm tin Xôviết chân chính. Nhân vật nam chính có thể phải chịu khổ, nhưng cuối cùng Đảng sẽ cho anh ta được thấy ánh sáng. Nhân vật nữ chính có thể phải tuôn lệ, nhưng ngay khi cô ta học được chân giá trị của Lao động, cô ta sẽ tìm được ngay vị trí thích hợp cho mình trong xã hội.

Trái lại, Ivan Denisovich là thực tế đích thực: nó không lạc quan chủ nghĩa, và nó không phải là câu chuyện luân lý. Nỗi khổ của những nhân vật chính trong đó là vô nghĩa. Lao động mà họ làm khiến họ kiệt sức đến khô cạn, và họ cố gắng để né tránh nó. Đảng không được ca ngợi khải hoàn ở cuối truyện, và chủ nghĩa cộng sản không xuất hiện như một người chiến thắng. Sự trung thực này, quá bất bình thường đối với một nhà văn Xôviết, chính xác là điều mà Tvardovsky trân trọng: ông nói với Kopelev, người bạn của Solzhenitsyn, rằng câu truyện “không hề có một giọt giả tạo nào trong đó”. Đó chính là điều sẽ khiến nhiều độc giả tức giận, đặc biệt là những ai làm việc trong cơ quan chính quyền Xôviết. Thậm chí một trong số các biên tập viên của tờ Novyi Mir còn thấy lo trước sự thẳng thắn của câu truyện. Trong lời nhận xét về cuốn truyện, ông này viết rằng “nó quá thiên về mặt trái của cuộc sống, vô tình đã bẻ quẹo và làm rối tung vấn đề”. Đối với những người đã quen với các kết luận đơn giản, cuốn truyện dường như không có kết cục và phi luân lý đến đáng sợ.

Tvardovsky muốn xuất bản nó, nhưng ông biết rằng nếu chỉ đơn giản ông cho làm bản in và gửi đến cơ quan kiểm duyệt, họ sẽ cấm nó ngay lập tức. Thay vì thế, ông đưa Ivan Denisovich cho Khrushchev để sử dụng làm vũ khí chống lại các đối thủ. Theo Michael Scammell, Tvardovsky đã viết một Lời nói đầu giới thiệu sự hữu ích của tác phẩm trong chính việc đem lại ánh sáng, và rồi đưa nó cho những người mà ông hy vọng sẽ chuyển nó tới đích thân Khrushchev.[371]

Sau nhiều lần chuyển qua chuyển lại, khá nhiều tranh luận và một vài thay đổi đối với bản thảo – Solzhenitsyn bị thuyết phục phải thêm vào ít nhất một “nhân vật tích cực”, và phải có bao gồm một vài nét lên án chủ nghĩa dân tộc Ukraina – cuốn truyện cuối cùng đã tới được tay Khrushchev. Ông này đã tán thành. Thậm chí ông còn ca ngợi cuốn sách vì đã viết “theo tinh thần của Đại hội Đảng lần thứ XXII”, có lẽ hàm ý rằng ông nghĩ nó sẽ làm các đối thủ của ông khó chịu. Cuối cùng, trong số phát hành tháng 11/1962 của tờ Novyi Mir, nó đã được in. “Con chim đã xổ lồng! Con chim đã xổ lồng!” Tvardovsky được kể là đã hét lên như vậy khi ông cầm bản in thử đầu tiên trên tay.

Thoạt đầu, giới phê bình tán tụng không hết lời, không chỉ bởi vì tác phẩm phù hợp với đường hướng chính thức vào thời điểm này. Bình luận viên văn học của tờ Pravda đã hy vọng rằng “cuộc chiến chống lại tệ sùng bái cá nhân” từ giờ trở đi sẽ “tiếp tục tạo điều kiện cho việc xuất hiện các tác phẩm nghệ thuật nổi trội do giá trị nghệ thuật luôn luôn phát triển của chúng”. Bình luận viên văn học của tờ Izvestiya nói Solzhenitsyn đã “cho thấy mình là một người giúp đỡ đích thực của Đảng vì mục đích thiêng liêng và mang tính sống còn – cuộc chiến chống lại tệ sùng bái cá nhân và các hậu quả của nó”.[372]

Tuy nhiên, đó không hẳn là phản ứng của các độc giả thường, những người nhấn chìm Solzhenitsyn bằng thư từ trong vài tháng sau khi tờ Novyi Mir cho đăng tác phẩm. Sự tương hợp của câu truyện với đường hướng mới của Đảng không gây ấn tượng với các cựu tù trại đã viết thư cho ông từ khắp nơi trên đất nước. Thay vào đó, họ vui mừng khôn xiết khi được đọc thứ gì đó thực sự phản ánh cảm xúc và trải nghiệm của chính mình. Những người sợ không dám hở ra một lời về những gì mình trải qua cho các bạn bè thân thiết nhất nghe đột nhiên cảm thấy như được cởi trói. Một phụ nữ viết để mô tả phản ứng của mình: “Mặt tôi đầm đìa nước mắt. Tôi không lau chúng đi bởi toàn bộ truyện này, gói gọn trong vài trang giấy ngắn ngủi của tờ tạp chí, là chuyện của tôi, chuyện của riêng tôi, từng ngày một suốt mười lăm năm trời tôi chịu đựng trong trại”.

Một lá thư khác gọi Solzhenitsyn là “Bạn thân yêu, người đồng chí và anh em của tôi”, trước khi viết tiếp: “Khi đọc truyện ngắn của anh tôi nhớ lại Sivaya Maska và Vorkuta… băng giá và bão tuyết, những lăng mạ và sự nhục nhã… Tôi khóc khi đang đọc – tất cả các nhân vật đều thật quen thuộc, như thể trong chính đội của tôi vậy… Xin cảm ơn anh một lần nữa! Xin hãy tiếp tục với cùng tinh thần như vậy – hãy viết, viết đi…”[373]

Quyết liệt nhất trong số đó là phản ứng của những người vẫn còn trong tù. Leonid Sitko được nghe nói về việc xuất bản khi đang chịu án thứ hai của mình tại trại Dubravlag xa xôi. Khi ấn bản của tờ Novyi Mir tới thư viện trại, các chỉ huy trại giữ rịt lấy nó trong suốt hai tháng liền. Cuối cùng, đám zek kiếm được một bản sao lại và tổ chức một buổi đọc tập thể. Sitko còn nhớ rằng tù nghe đọc “đến nín cả thở”:

Sau khi họ đọc xong từ cuối cùng, tất cả đều im lặng như tờ. Và rồi, sau hai, ba phút, căn phòng như vỡ tung. Mọi người đều đã bản thân mình từng sống trong câu truyện, đầy những đau khổ… giữa đám mây khói thuốc lá, họ bàn luận với nhau không dứt…

Và thường xuyên, ngày càng thường xuyên hơn, họ cất tiếng hỏi: “Sao người ta dám xuất bản nó?”[374]

Thực sự là tại sao? Dường như bản thân các ông lớn trong Đảng cũng bắt đầu tự hỏi. Có lẽ tấm chân dung trung thực của Solzhenitsyn về cuộc sống trong trại là quá mức đối với họ: nó đại diện cho một thay đổi quá quan trọng, sự xuất hiện của nó diễn ra quá nhanh đối với phong vị của những người vẫn còn đang lo sợ mình sẽ là kẻ kế tiếp phải rơi đầu. Hay có lẽ họ đã mệt mỏi với Khrushchev, lo sợ rằng ông ta đã đi quá xa, và sử dụng tác phẩm của Solzhenitsyn như lý do để bào chữa. Thực tế, Khrushchev đã bị phế truất chóng vánh sau đó, vào tháng 10/1964. Người kế nhiệm ông, Leonid Brezhnev, là lãnh tụ của phe đối lập trong Đảng, chống lại thay đổi, theo khuynh hướng tân Stalinnít chống lại Tan băng.

Trong cả hai trường hợp, rõ ràng rằng sau khi xuất bản cuốn truyện, phe bảo thủ đã tập hợp lại với một tốc độ nhanh đến kinh ngạc. Ivan Denisovich xuất hiện vào tháng Mười Một. Đến tháng Mười Hai – vài ngày sau khi Khrushchev gặp Solzhenitsyn và đích thân chúc mừng ông – Leonid Ilyichev, chủ tịch Uỷ ban Tư tưởng mới lập của Uỷ ban Trung ương Đảng, đã có buổi thuyết trình trước một nhóm 400 nhà văn và nghệ sĩ tụ tập tại trụ sở Hội nhà văn. Xã hội Xôviết, ông ta nói với họ, cần phải “không bị rung chuyển và làm suy yếu bởi cuộc chiến đấu chống tệ sùng bái cá nhân…”[375]

Tốc độ thay đổi nhanh chóng phản ánh thái độ mâu thuẫn của Liên Xô đối với lịch sử của chính nó – một sự mâu thuẫn chưa bao giờ được giải quyết, thậm chí cả đến ngày nay. Nếu tầng lớp ưu tú của Liên Xô phải chấp nhận rằng tấm chân dung của Ivan Denisovich là xác thực, điều đó có nghĩa rằng những con người vô tội đã phải chịu đựng bao đau khổ vô nghĩa. Nếu hệ thống trại thực sự là ngu xuẩn, vô ích và tai hoạ, điều đó có nghĩa rằng Liên bang Xô viết cũng là ngu xuẩn, vô nghĩa và tai hoạ. Đã rất khó, và hiện vẫn còn là rất khó, để bất cứ công dân Liên Xô nào, dù thuộc thành phần tầng lớp ưu tú hay chỉ là một nông dân bình thường, chấp nhận rằng cuộc đời họ từng bị cai trị bởi một chuỗi dối trá.

Sau một thời gian do dự – một số tán đồng, một số chống lại – các công kích đối với Solzhenitsyn bắt đầu trở nên nhiều và tập trung hơn. Trong các chương đầu, tác giả đã mô tả phản ứng giận dữ, cả của tù lẫn lính gác, đối với nhiều cố gắng của Ivan Denisovich để trốn làm việc nặng. Nhưng còn có các chỉ trích nâng cao quan điểm hơn nhiều. Lydia Fomenko, bình luận viên của tờ Literaturnaya Rossiya, đã lên án Solzhenitsyn không “vạch ra được toàn bộ biện chứng chân thực của thời kỳ đó”, nói cách khác, Solzhenitsyn đã lên án “tệ sùng bái cá nhân” nhưng lại không chỉ ra được đường hướng đến tương lai tươi sáng, và đã không đưa vào được các nhân vật cộng sản “tốt” để đi đến thắng lợi vào hồi kết. Những thứ chỉ trích như vậy được nhiều người khác hoà giọng ủng hộ, một số thậm chí còn cố gắng sửa chữa các sai lầm của Solzhenitsyn bằng hình thức văn học. Tác phẩm “Câu chuyện của một người sống sót” của Boris Dyakov, cuốn tiểu thuyết “trung kiên” về trại xuất bản năm 1964, đã phác hoạ rõ ràng những mô tả về các tù nhân Xôviết trung kiên, hăng hái lao động.[376]

Do tác phẩm của Solzhenitsyn đang được xét trao Giải thưởng Lenin, giải thưởng văn học cao nhất của Liên bang Xôviết, sự sỉ nhục trở nên còn nặng nề hơn. Cuối cùng – sử dụng các chiến thuật vốn sẽ được lặp lại trong những năm sau đó – lối chứng minh bằng cách xúc phạm phẩm giá cá nhân. Tại cuộc họp Ủy ban Giải thưởng Lenin, Bí thư Trung ương Đoàn Komsomol, Sergei Pavlov, đứng lên tố cáo Solzhenitsyn đã đầu hàng quân Đức trong chiến tranh, và từng bị kết án phạm tội hình sự thời gian sau đó. Tvardovsky hướng dẫn Solzhenitsyn đưa ra giấy chứng nhận được phục hồi danh dự, nhưng đã là quá muộn. Giải thưởng Lenin được trao cho Chiếc chuông cổ cừu, một cuốn sách được mô tả chính xác nhất là nay đã bị lãng quên hoàn toàn, và sự nghiệp văn chương chính thức của Solzhenitsyn thế là chấm dứt.

Ông vẫn tiếp tục viết, nhưng không một tác phẩm nào sau đấy của ông được in tại Liên bang Xôviết – hay ít nhất là được in hợp pháp – cho đến tận năm 1989. Năm 1974, ông bị trục xuất khỏi Liên bang Xôviết, và cuối cùng đến định cư tại Vermont. Tới tận thời kỳ Gorbachev, chỉ một nhóm nhỏ công dân Liên Xô – những ai đã từng tiếp cận với các bản đánh máy bí mật bất hợp pháp hay bản in tại nước ngoài được nhập lậu – là đã đọc Quần đảo Gulag, cuốn lịch sử của ông về hệ thống trại, tổng hợp từ hàng núi thư từ và hồi ký ông nhận được sau khi cuốn Ivan Denisovich được xuất bản.

Nhưng Solzhenitsyn không phải là nạn nhân duy nhất của phản ứng ngược này của phe bảo thủ. Bởi ngay khi cuộc tranh luận về Ivan Denisovich trở nên giận dữ quyết liệt, một vở kịch văn học khác cũng mở màn: ngày 18/2/1964, nhà thơ trẻ Joseph Brodsky bị đưa ra tòa vì tội “ăn bám”. Thời đại của những người chống đối quan điểm sắp sửa bắt đầu.

 

26 . Thời kỳ của Những người chống đối

 

Đừng vội tỏ vui mừng quá sớm

Hãy chờ thầy đồng bói cho ta

Rằng vết thương rồi sẽ khép lại

Rằng bọn ác sẽ không ngóc đầu.

Rằng tôi liều mình vậy là quá muộn;

Cứ để thầy bói, đừng vội vàng

Rằng Stalin còn sống chưa chết hẳn.

Như thể chỉ cái chết là đáng kể

Như ai đã tan biến chốn Bắc phương.

Tim ta, y đã gieo cái ác,

Phải chăng nó không gây họa gì?

Miễn lấy nhà giàu chia kẻ nghèo

Miễn là ta đừng thôi dối trá

Và đừng thôi học cách run sợ

Là Stalin vẫn mãi trường sinh.

– Boris Chichibabin, “Stalin vẫn mãi trường sinh”, 1967

 

Cái chết của Stalin thực sự đã ra dấu hiệu chấm dứt cho thời đại của lao động nô lệ quy mô lớn tại Liên bang Xôviết. Mặc dù chính sách đàn áp của Liên Xô vẫn tồn tại dưới một số hình thức vô cùng thô bạo suốt bốn mươi năm sau đó, không một ai muốn đề nghị hồi sinh hệ thống trại tập trung theo quy mô lớn trở lại. Không một ai tìm cách biến chúng trở lại thành một phần cốt lõi của nền kinh tế đất nước, hoặc dùng chúng để giam cầm hàng triệu người. Cơ quan công an mật sẽ không bao giờ có lại quyền quản lý một phần đông đến như vậy lực lượng lao động của đất nước, và những chỉ huy trại không bao giờ còn được hành xử như các ông trùm của những xí nghiệp công nghiệp khổng lồ như trước nữa. Thậm chí tòa nhà Lubyanka, trụ sở KGB thời hậu chiến, giờ không còn là một nhà tù nữa: Gary Powers, viên phi công Mỹ lái chiếc máy bay trinh thám U-2 bị bắn rơi trên bầu trời Liên Xô năm 1960, là người cuối cùng bị giam trong các phòng giam của nó.[377]

Nhưng hệ thống trại không hoàn toàn bị biến mất. Và hệ thống nhà tù Xôviết cũng không hẳn trở thành một phần của hệ thống hình pháp “bình thường”, tổ chức chỉ để giam tù hình sự. Thay vào đó, chúng đã tiến hóa.

Đầu tiên là, bản chất của các tù chính trị đã thay đổi. Trong thời Stalin, hệ thống đàn áp giống như một trò cò quay roulette khổng lồ: bất cứ ai cũng đều có thể bị bắt, vì bất cứ lý do gì, vào bất kỳ lúc nào – nông dân, công nhân và cán bộ Đảng đều như nhau. Sau thời Khrushchev, công an mật thỉnh thoảng vẫn bắt người “vô cớ”, như Anna Akhmatova đã có lần nhắc đến. Nhưng trong hầu hết thời kỳ này, KGB của Brezhnev bắt người đều vì chuyện gì đó – nếu không phải vì một tội hình sự thực sự nào đó thì là vì họ đã có các chống đối trong văn chương, tôn giáo hay chính trị đối với hệ thống Xôviết. Thường được gọi là “những người chống đối” hay đôi khi là “người ngồi tù vì chịu nói thật”, thế hệ tù chính trị mới này hiểu rõ tại sao họ bị bắt, tự xem mình là tù chính trị và cũng bị đối xử giống như vậy. Họ bị giam riêng khỏi tù hình sự, bị phát đồng phục loại khác, và phải tuân thủ chế độ sinh hoạt khác hẳn. Họ cũng bị đánh dấu là người chống đối cho tới suốt đời, là đối tượng bị phân biệt trong lao động và bị người thân và hàng xóm nghi ngại.

Số lượng tù chính trị thời này cũng ít hơn nhiều so với thời Stalin. Vào giữa thập niên 1970, tổ chức Ân xá Quốc tế ước tính rằng có không hơn 10.000 trong số một triệu tù ở Liên Xô là bị án chính trị, và hầu hết bọn họ bị giam trong hai tổ hợp trại “chính trị”, một ở Mordovia, phía nam Moscow, và một ở Perm, phía tây dãy Ural.[378] Trong một năm cụ thể, có lẽ có không hơn vài ngàn vụ bắt bớ chính trị công khai. Mặc dù đây có thể là một con số cao tại bất kỳ quốc gia nào khác, rõ ràng nó là thấp theo các tiêu chuẩn Liên Xô thời Stalin.

Theo ghi chép của các cựu tù, loại tù nhân kiểu mới này bắt đầu xuất hiện trong trại từ năm 1957, giữa làn sóng của cuộc cách mạng Hungaria tháng 10/1956, theo sau các cuộc bắt bớ những binh lính Liên Xô và thường dân có cảm tình với phe nổi dậy.[379] Vào khoảng thời gian này, làn sóng đầu tiên những “refusenik”, tức những người Do Thái bị từ chối quyền di cư tới Istrael, cũng đã xuất hiện trong nhà tù Liên Xô. Năm 1958, Bym Gindler, một người Do Thái Ba Lan tụt lại bên kia biên giới Liên Xô sau chiến tranh, đã bị từ chối quyền được hồi hương Ba Lan, lấy lý do là ông sẽ lợi dụng cơ hội để di cư đến Istrael.[380]

Cuối thập niên 1950 cũng chứng kiến các cuộc bắt giữ những nhóm đầu tiên tín đồ giáo phái Tẩy Lễ ở Liên Xô, họ mau chóng trở thành nhóm chống đối toàn tâm toàn ý đông nhất bị giam sau hàng rào thép gai, cũng như thành viên của những giáo phái khác. Năm 1960, nhân vật chống đối Avraham Shifrin thậm chí còn gặp một nhóm tín đồ Cựu giáo, những môn đồ tuân theo nghi thức cũ của Nhà thờ Chính thống, trong một phòng trừng giam tại trại chính trị ở Potma. Giáo phái của họ đã di cư tới những khu rừng hoang dã miền bắc dãy Ural năm 1919, và đã sống ở đấy hoàn toàn bí mật, cho tới khi một trực thăng của KGB phát hiện ra họ năm mươi năm sau.[381] Khi Shifrin gặp họ, họ đã là cư dân thường trực của các phòng trừng giam của trại, dứt khoát từ chối làm việc cho bọn Xôviết chống Chúa.[382]

Bản thân Shifrin cũng đại diện cho một loại tù mới: con trai con gái của các “kẻ thù của nhân dân”, những người vào cuối thập niên 1950 đã nhận ra mình không thể dễ dàng len chân vào cuộc sống bình thường ở Liên Xô. Trong những năm tiếp theo, một số lượng đáng giật mình thành viên thuộc thế hệ người chống đối, đặc biệt là những nhà hoạt động vì nhân quyền, hóa ra lại là con cái hay họ hàng của các nạn nhân thời Stalin. Hai anh em sinh đôi nhà Medvedev, Zhores và Roy, là trong số những ví dụ nổi tiếng nhất. Roy, một sử gia, đã trở thành một trong những nhà xuất bản sách bất hợp pháp nổi tiếng nhất ở Liên Xô; Zhores là một khoa học gia chống đối quan điểm, người vì thế sẽ bị nhốt trong một bệnh viện tâm thần. Cả hai đều là con của một “kẻ thù của nhân dân”: cha của họ bị bắt khi họ còn nhỏ.[383]

Còn có những người khác. Năm 1967, bốn mươi ba con cái của những Đảng viên, tất cả đều đã bị Stalin đàn áp, đã gửi một bức thư mở tới Uỷ ban Trung ương, cảnh báo về hiểm hoạ của chủ nghĩa tân Stalinnít. Bức thư, một trong số đầu tiên của rất nhiều bức thư mở nội dung phản đối gửi cho chính quyền, có ghi tên tuổi nhiều nhà xuất bản sách bất hợp pháp và lãnh đạo phe chống đối quan điểm, nhiều người trong số họ chẳng mấy chốc sẽ đến lượt phải ngồi tù: Pyotr Yakir, con trai tướng Yakir; Anton Antonov-Ovseenko, con trai nhà cách mạng Bolshevik; và Larisa Bogoraz, người có cha bị bắt vì hoạt động Trốtkít năm 1936. Dường như kinh nghiệm của gia đình về trại như thế là quá đủ để biến đổi triệt để các thành viên trẻ của nó.[384]

Nếu đám tù nhân đã thay đổi, một số diện mạo của hệ thống pháp luật cũng vậy. Năm 1960 – năm thường được nhớ như là đỉnh cao của thời Tan băng – một bộ luật hình sự mới ra đời. Không nghi ngờ gì, bộ luật mới này chắc chắn tự do hơn trước. Nó đặc biệt bãi bỏ các cuộc hỏi cung ban đêm, và giới hạn quyền lực của KGB (những người tiến hành điều tra án chính trị) và MVD (những người quản lý hệ thống nhà tù). Nó uỷ nhiệm mức độ độc lập lớn hơn cho các uỷ viên công tố và, trên hết tất cả, đã huỷ bỏ Điều 58 đáng căm ghét.[385]

Một số trong những thay đổi này được thực hiện nhưng chỉ thuần là thay đổi kiểu nguỵ trang, nói môi nói mép hơn là thay đổi thực sự. “Anh đã lầm”, tiểu thuyết gia Yuli Daniel viết vài năm sau, trong một bức thư chuyển ngầm từ nhà tù ra cho một người bạn. “Anh đã lầm nếu anh nghĩ tôi đang ngồi trong tù. Tôi đang bị ‘giữ trong một phòng cách ly điều tra’, nơi đây tôi không bị vứt vào máy ướp lạnh, mà là ‘bị đặt vào một buồng biệt giam trừng phạt’. Chuyện này được làm không phải bởi các cai ngục mà bởi những ‘người quản lý’, và bức thư này không được gửi từ một trại tập trung mà từ một ‘cơ quan’ ”.[386]

Daniel cũng đúng ở một nghĩa khác: nếu chính quyền trung ương muốn bắt ai đó vì nghi ngờ có suy nghĩ khác biệt, họ vẫn có thể làm được. Thay vì Điều 58, bộ luật đặt ra Điều 70, về “Kích động và tuyên truyền chống Liên Xô”, và Điều 72, về “Hoạt động có tổ chức phạm các tội đặc biệt nguy hiểm chống lại quốc gia và cùng tham gia các tổ chức chống Liên Xô”. Ngoài ra, chính quyền thêm vào Điều 142, về “Vi phạm luật chia tách nhà thờ và nhà nước”. Nói cách khác, nếu KGB muốn bắt ai đó vì đức tin của anh ta, họ vẫn có thể làm được.[387]

Nhưng không phải tất cả đều giống như vậy. Trong thời kỳ hậu Stalin, chính quyền – các công tố viên, tù nhân, lính gác trại, cai tù – nhạy cảm hơn nhiều đối với vẻ bề ngoài, và thực sự có cố gắng tôn trọng điều gì đó giống với sự hợp pháp. Lấy ví dụ, khi ngôn ngữ của Điều 70 tỏ ra quá lỏng lẻo khó có thể kết tội bất cứ ai mà chính quyền cảm thấy cần thiết phải tống vào tù, họ thêm Điều 190-191 vào bộ luật hình sự, theo đó cấm “gieo rắc bằng lời nói những chuyện cố ý bịa đặt nhằm làm mất uy tín hệ thống chính trị và xã hội Xôviết”. Hệ thống tư pháp đã buộc phải trông giống như một hệ thống tư pháp, thậm chí cả khi mọi người đều biết rằng đó chỉ là giả vờ giả vịt.[388]

Trong một điều cũng là một phản ứng rõ ràng chống lại hệ thống cũ rích các bộ ba troika và uỷ ban đặc biệt, bộ luật mới quy định rằng người bị bắt phải được xét xử trước một toà án hợp pháp. Điều này hoá ra sẽ gây phiền phức cho chính quyền Xôviết nhiều hơn nhiều so với những gì họ tiên định.

Mặc dù ông không bị kết án theo bất cứ điều luật mới nào quy định để chống lại đám chống đối, phiên toà xử Joseph Brodsky xét theo nhiều mặt là một điềm báo hiệu cho thời đại mới sắp đến. Thực tế rằng nó đã được tổ chức hoàn toàn là việc khác thường: trong quá khứ, những ai làm phiền nhà nước không bị xét xử công khai ngoại trừ trong các phiên toà đã được sắp xếp từ trước, đấy là nói nếu có xét xử. Quan trọng hơn, thái độ của Brodsky tại phiên toà đã đủ để chứng minh rằng, ông thuộc về một thế hệ khác hẳn so với Solzhenitsyn, và so với các tù chính trị trong quá khứ gần.

Brodsky có lần đã viết rằng thế hệ của ông được “miễn” không phải chịu sự tuyên truyền như những người chỉ hơn ông vài tuổi. “Chúng tôi hiện ra từ dưới đống đổ nát thời hậu chiến trong khi nhà nước quá bận rộn băng vá thương tích và không thể chăm sóc kỹ cho chúng tôi. Chúng tôi vào trường học, và bất kể có những thứ rác rưởi cao cả chúng tôi được dạy ở đấy, nỗi khốn khổ và sự nghèo đói có thể chứng kiến ở khắp nơi. Anh không thể che đậy sự đổ nát chỉ bằng một trang báo Pravda”.[389]

Nếu họ là người Nga, thế hệ của Brodsky đi đến việc họ chỉ trích thực trạng của đất nước Xôviết tiêu biểu thông qua văn chương hay thẩm mỹ nghệ thuật của mình, vốn không được phép thể hiện tại Liên bang Xôviết thời Brezhnev. Nếu họ là người Baltic, Kavkaz hay Ukraina, họ thích tiếp cận thông qua các tình cảm dân tộc hơn, vốn được thừa hưởng từ cha ông của họ. Brodsky là một người chống đối kiểu Leningrad kinh điển. Ông không chấp nhận các tuyên truyền Xôviết từ khi còn rất nhỏ, và bỏ học lúc mới mười lăm tuổi. Ông làm qua một loạt các công việc thời vụ, và bắt tay vào viết thơ. Mới đôi mươi ông đã nổi tiếng khắp giới văn chương Leningrad. Bà lão Akhmatova xem ông như người được mình bảo trợ. Thơ của ông được lưu truyền trong đám bạn bè và đọc lớn tại các buổi tụ tập bí mật để bàn bạc văn chương, một nét mới nữa của thời đại này.

Có thể đoán trước rằng, tất cả những hoạt động phi chính thức đó đã đưa Brodsky vào vòng chú ý của công an mật. Brodsky ban đầu bị quấy rầy, sau đó bị bắt. Tội bị cáo buộc là “ăn bám”: do Brodsky không phải là một nhà thơ được cấp phép bởi Hội Nhà văn, ông bị liệt vào hạng lang thang. Tại phiên toà tháng 2/1964, nhà nước đã đưa ra các nhân chứng, hầu hết Brodsky không quen biết, xác nhận rằng ông là “đạo đức suy đồi, trốn tránh quân dịch, và là kẻ viết các bài thơ chống Xôviết”. Trong phần bào chữa, có các bức thư và bài phát biểu của những nhà thơ và nhà văn nổi tiếng, trong đó có Akhmatova. Đối với tất cả những điều này, các nhân chứng cáo buộc phản đối đầy giận dữ:

Chẳng có gì ngoài việc các ban bè hâm mộ của anh ta đi đánh chuông gõ trống khắp nơi và đòi hỏi “Hãy cứu lấy chàng thanh niên!” Nhưng anh ta phải được chữa trị bằng lao động cưỡng bức, và không ai có thể giúp anh ta, kể cả đám bạn hâm mộ của anh ta. Tôi không quen anh ta, tôi biết anh ta qua báo chí. Nhưng tôi biết rõ các giấy tờ bằng cấp. Tôi nghi ngờ các giấy tờ cho phép anh ta hoãn nghĩa vụ quân sự. Tôi không phải là bác sĩ, nhưng tôi nghi ngờ chuyện này.[390]

Rõ ràng, phiên toà này nhắm tới không chỉ việc chống lại Brodsky, mà cả để chống lại tàn dư của tầng lớp trí thức độc lập, với những mối quan hệ của họ, với các nghi kỵ của họ đối với chính quyền Xôviết, và sự khinh miệt của họ đối với “lao động”. Và, theo một nghĩa cụ thể, những người tổ chức phiên toà này đã đánh trúng chính xác mục tiêu: Brodsky đúng là có chống đối chính quyền Xôviết; ông đúng là có khinh miệt thứ lao động vô vị vô nghĩa; và ông đại diện cho một tầng lớp xa lạ, một nhóm người đã nản chí sâu sắc với cái chính sách tiếp theo thời Tan băng. Biết rất rõ điều này, Brodsky không bất ngờ hay ngạc nhiên khi bị bắt, và không hề lúng túng trước phiên toà. Thay vào đó, ông đấu khẩu với viên chánh án:

Chánh án: Nghề nghiệp của anh là gì?

Brodsky: Tôi là nhà thơ.

Chánh án: Ai xác nhận anh là nhà thơ? Ai cho anh quyền tự gọi mình là nhà thơ?

Brodsky: Không ai cả. Ai là người cho tôi quyền gia nhập loài người?

Chánh án: Anh có học để làm chuyện đó?

Brodsky: Để làm gì?

Chánh án: Để làm nhà thơ. Tại sao anh không học thêm trong trường nơi người ta lo cho anh, nơi anh có thể học tập?

Brodsky: Tôi không nghĩ thơ ca là chuyện cần học hành.

Chánh án: Vậy đó là gì?

Brodsky: Tôi nghĩ đó là… một món quà của Thượng đế.

Sau này, khi được hỏi có điều kiến nghị gì trước toà không, Brodsky nói, “Tôi muốn biết tại sao mình bị bắt”. Viên chánh án đáp lại, “Đó là một câu hỏi, không phải là kiến nghị”. Brodsky nói, “Trong trường hợp như vậy thì tôi không có kiến nghị”.[391]

Về mặt kỹ thuật, Brodsky đã thua trong cuộc tranh luận: chánh án kết án ông năm năm lao động nặng trong một tiểu khu tù gần Arkhangelsk, lấy lý do ông đã “vi phạm có hệ thống việc thực hiện các quy định đối với một công dân Xôviết, không làm ra được bất cứ thứ gì có giá trị, không tự trang trải được chi phí cho chính mình, thể hiện rõ ở chuyện thường xuyên thay đổi việc làm”. Trích đọc tuyên bố của “Uỷ ban công tác cho các nhà thơ trẻ”, viên chánh án cũng tuyên bố rằng Brodsky – người sau này đoạt Giải Nobel Văn chương – “không phải là một nhà thơ”.[392]

Nhưng, theo nghĩa khác, Brodsky đã “thắng” theo cái cách mà các thế hệ tù người Nga trước đó không thể làm được. Ông không chỉ công khai thách thức lý luận của hệ thống pháp luật Xôviết, mà sự thách thức của ông còn được ghi lại cho hậu thế. Một nhà báo đã kín đáo ghi chép tóm tắt lại phiên toà, và cuối cùng tuồn nó ra phương Tây. Nhờ vậy, Brodsky lập tức trở nên nổi tiếng, tại Nga và ở nước ngoài. Thái độ của ông tại phiên toà không chỉ trở thành một hình mẫu cho những người khác noi theo, mà nó còn gây cảm hứng khiến các nhà văn cả người Nga lẫn người nước ngoài đã viết thư thỉnh cầu chính phủ cho thả ông. Sau hai năm, lệnh tha được ban, và cuối cùng ông bị trục xuất khỏi Liên Xô.

Chưa từng có chuyện như vậy xảy ra vào thời Stalin còn sống. “Mọi người vẫn như mọi khi bị ném vào tù và vẫn như mọi khi bị chuyển về phía Đông”, Valentyn Moroz, một sử gia chống đối người Ukraina, đã viết chẳng bao lâu sau sự kiện trên: “Nhưng lần này, họ đã không bị dìm vào chốn hư vô”.[393] Và cuối cùng, đây là điều khác biệt lớn nhất giữa đám tù thời Stalin với tù thời Brezhnev và Andropov: thế giới bên ngoài biết về họ, quan tâm đến họ, và trên hết là có thể ảnh hưởng đến số phận của họ. Tuy nhiên, chế độ Xôviết không trở nên tự do hơn – và các sự kiện tiến triển nhanh chóng trong làn sóng sau phiên toà Brodsky.

Cùng với cái cách mà năm 1937 nổi bật như là một năm đặc biệt của sự khủng bố giới trí thức thời Stalin, năm 1966 nổi bật như một năm đặc biệt của thế hệ thời Tan băng. Vào năm 1966, rõ ràng là chủ nghĩa tân Stalinnít đã lên ngôi khải hoàn. Uy tín của Stalin có bị rạn nứt nhưng vị lãnh tụ vẫn còn được ngưỡng mộ nay đã được chính thức phục hồi. Joseph Brodsky đang ở trong trại lao động. Solzhenitsyn trở thành một tác giả bị cấm. Khrushchev đã bị hạ bệ và thay thế bởi Leonid Brezhnev, người công khai tuyên bố có ý muốn khôi phục danh tiếng của Stalin.[394] Trong vòng một năm, Yuri Andropov, người vừa được bổ nhiệm làm chủ tịch KGB, sẽ có bài diễn văn đánh dấu kỷ niệm năm mươi năm việc thành lập Cheka. Ông sẽ ca ngợi cơ quan công an mật Liên Xô, ngoài những điều khác, vì “cuộc chiến đấu kiên cường của nó chống lại các kẻ thù của đất nước”.[395]

Tháng 2/1966, Andrei Sinyavsky và Yuli Daniel cũng phải ra toà. Cả hai đều là những nhà văn nổi tiếng, cả hai đã xuất bản tác phẩm của mình ra nước ngoài, và cả hai đều bị kết luận là có tội, căn cứ theo Điều 70 về “Kích động và tuyên truyền chống Liên Xô”. Sinyavsky phải nhận bảy năm lao động nặng, Daniel nhận năm năm.[396] Đây là lần đầu tiên có người bị đưa ra toà không chỉ vì sống lang thang mà vì nội dung thực tế trong tác phẩm văn học của mình. Một tháng sau, trong điều kiện bí mật hơn rất đáng lưu ý, hơn hai chục trí thức Ukraina bị đưa ra toà tại Kiev. Một người bị cáo buộc, ngoài những điều khác, tội đã sở hữu một bản sao bài thơ vào thế kỷ mười chín của nhà thơ Ukraina Taras Shevchenko, người được đặt tên cho các con đường ở Moscow và Kiev. Bởi bài thơ được in không có tên tác giả, các “chuyên gia” Xôviết đã xếp loại nó là một bài thơ chống Liên Xô của một tác giả vô danh.[397]

Theo một mô hình mau chóng trở nên quen thuộc, những phiên toà trên đẻ ra các phiên toà khác, khi những trí thức giận dữ khác bắt đầu sử dụng ngôn ngữ của hệ thống tư pháp Liên Xô và hiến pháp Liên Xô để chỉ trích nền công lý và cơ quan công an Liên Xô. Lấy ví dụ, vụ án Sinyavsky và Daniel đã gây ấn tượng to lớn lên một thanh niên Moscow khác, Aleksandr Ginzburg, người đã tích cực trong nhóm hoạt động văn hoá “không chính thức”. Anh biên soạn một bản tốc ký phiên toà Sinyavsky-Daniel, cuốn “Sách Trắng”, và phân phát nó khắp Moscow. Anh và ba người bị quy là cộng sự sẽ bị bắt không lâu sau đó.[398]

Khoảng cùng thời gian này, các phiên toà Kiev đã gây ấn tượng to lớn lên một luật sư trẻ người Ukraina tên là Vyacheslav Chornovil. Anh này đã biên soạn một hồ sơ về hệ thống tư pháp Ukraina, chỉ ra các mâu thuẫn bên trong của nó và chứng minh sự bất hợp pháp và phi lý của các cuộc bắt bớ ở Ukraina.[399] Sau đó, anh mau chóng bị bắt giam.[400] Theo cách này, một phong trào trí thức và nghệ thuật, khởi đầu bởi các nhà văn và nhà thơ, đã trở thành một phong trào đòi nhân quyền.

Để đưa hoạt động đòi nhân quyền ở Liên Xô vào trong bối cảnh, rất cần lưu ý rằng những người chống đối ở Liên Xô chưa bao giờ lập ra một tổ chức quy mô lớn, như kiểu các đồng nghiệp Ba Lan của họ, và họ không thể nhận toàn bộ công trạng trong việc hạ bệ chế độ Xôviết: cuộc chạy đua vũ trang, cuộc chiến Afganistan, và thảm hoạ kinh tế gây ra do việc hoạch định kinh tế tập trung kiểu Xôviết đều góp phần như nhau. Họ cũng không tổ chức được nhiều hơn vài cuộc biểu tình công khai. Một trong những cuộc biểu tình nổi tiếng nhất –  diễn ra ngày 25/8/1968 để phản đối việc Liên Xô xâm lược Tiệp Khắc – chỉ gồm có bảy người. Vào buổi chiều, bảy người tụ tập trước Nhà thờ St Basil trên Quảng trường Đỏ, và căng một lá cờ Tiệp Khắc cùng các biểu ngữ ghi: “Tự do và độc lập cho Tiệp Khắc muôn năm”, “Không được đụng vào Tiệp Khắc, vì tự do của các bạn và của chúng tôi”. Chỉ sau vài phút, một tiếng còi rít lên và các nhân viên KGB mặc thường phục xông vào đám biểu tình, những người này dường như đã có chuẩn bị trước, và hét lên “Tất cả chúng đều là Do Thái!” và “Đánh bọn chống Xôviết!” Họ xé rách các biểu ngữ, nện những người biểu tình và tóm tất cả ngoại trừ một người – cô này đang ôm đứa con trai ba tháng tuổi – vào nhà tù.[401]

Nhưng mặc dù họ ít người, những nỗ lực đó đã gây rất nhiều rắc rối cho giới lãnh đạo Liên Xô, đặc biệt khi xét tới cam kết của họ tiếp tục phổ biến cách mạng đi khắp thế giới và mối quan tâm đầy ám ảnh nhưng rất hợp lý của họ tới hình ảnh quốc tế của Liên bang Xô viết. Trong thời đại Stalin, sự đàn áp theo quy mô lớn có thể được giữ bí mật thậm chí với một Phó Tổng thống Mỹ tới thăm. Trong thập niên 1960 và 1970, tin tức về một vụ bắt bớ đơn lẻ thôi cũng có thể lan đi khắp thế giới chỉ trong một đêm.

Một phần nào, điều này là do những tiến bộ trong thông tin truyền thông, đài Voice of America, Radio Liberty và truyền hình. Một phần, đó cũng là vì các công dân Liên Xô đã tìm ra cách thức mới để truyền tin. Bởi năm 1966 cũng đánh dấu một mốc lịch sử mới: sự ra đời của hình thức “samizdat”. Một viết tắt cố ý nhái theo từ Gosizdat, hay “Nhà Xuất bản Quốc gia”, samizdat mang nghĩa đen là “nhà tự xuất bản”, và hàm ý đề cập tới việc in ấn hoạt động ngầm. Khái niệm này không có gì mới. Tại nước Nga, samizdat cũng gần cổ như chữ viết. Bản thân Pushkin đã tự tay phân phát bản thảo các tập thơ mang nhiều tính chính trị của mình trong thập niên 1820. Thậm chí trong thời Stalin, việc lưu truyền các câu truyện và thơ ca giữa bạn bè không phải là hoàn toàn không xảy ra.

Nhưng sau năm 1966, samizdat trở nên một trò giải trí quốc gia. Tan băng đã cho nhiều công dân Liên Xô cảm nhận được một thứ văn học tự do hơn, và ban đầu samizdat là một hiện tượng văn học lớn.[402] Rất mau chóng, samizdat trở nên mang tính chính trị nhiều hơn. Một báo cáo KGB lưu hành giữa các uỷ viên Uỷ ban Trung ương tháng 1/1971 đã phân tích những thay đổi trong năm năm trước, nhấn mạnh rằng nó đã phát hiện ra

có hơn 400 nghiên cứu và bài viết về các vấn đề kinh tế, chính trị và triết học, theo đó phê bình trên nhiều góc độ kinh nghiệm lịch sử của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xôviết, xem xét lại chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng Cộng sản, và đưa ra nhiều chương trình hoạt động chống đối khác nhau.[403]

Bản báo cáo kết luận rằng KGB sẽ phải làm công tác “cô lập và phát hiện các khuynh hướng chống Liên Xô xuất hiện trong samizdat”. Nhưng đã quá muộn để nhét vị thần trở lại vào trong chai, và samizdat tiếp tục lan rộng dưới nhiều hình thức: thơ đánh máy, chuyền từ người bạn này sang người bạn khác và đánh máy lại bất cứ khi nào có dịp; các bản tin và thư thông báo viết tay; những bản tốc ký buổi phát sóng của đài Voice of America; và, mãi sau này, sách và tạp chí in ấn rất chuyên nghiệp bằng các máy in xếp chữ hoạt động bí mật, thường đặt nhiều nhất tại đất nước Ba Lan cộng sản. Thơ ca và các bài hát thơ sáng tác bởi những thi sĩ Nga – Aleksandr Galich, Bulat Okudzhava, Vladimir Vysotsky – cũng lan truyền nhanh chóng thông qua việc sử dụng thứ mà khi này là một hình thức kỹ thuật mới, máy ghi âm băng cátxét.

Trong suốt các thập niên 1960, 1970 và 1980, một trong những chủ đề quan trọng nhất của samizdat là lịch sử của chủ nghĩa Stalin – bao gồm lịch sử của Gulag. Hệ thống samizdat tiếp tục in và phân phát các bản sao tác phẩm của Solzhenitsyn, mà lúc này đã bị cấm tại Liên bang Xôviết. Các bài thơ và truyện ngắn của Varlam Shalamov cũng bắt đầu lưu truyền ngầm, cũng như các hồi ký của Evgeniya Ginzburg. Cả hai nhà văn này bắt đầu thu hút những nhóm người hâm mộ lớn hơn. Ginzburg trở thành trung tâm của một nhóm người sống sót qua Gulag và những nhân vật thuộc giới văn nghệ ở Moscow.

Một chủ đề quan trọng khác của samizdat là sự ngược đãi đối với những người chống đối. Thật ra, nhờ có samizdat – và đặc biệt nhờ sự phổ biến rộng khắp của nó – mà những người bảo vệ nhân quyền có thể đạt được, trong thập niên 1970, một diễn đàn quốc tế rộng lớn hơn. Đặc biệt, những người chống đối học được cách sử dụng samizdat không chỉ để vạch ra các mâu thuẫn giữa hệ thống tư pháp Liên Xô và những phương pháp của KGB, mà cũng còn để chỉ ra, một cách lớn tiếng và thường xuyên, lỗ hổng giữa các hiệp ước về quyền con người mà Liên Xô đã ký với thực tế tại Liên Xô. Các văn bản mà họ ưa thích là Tuyên bố của Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền và Helsinki Final Act. Văn bản đầu được ký bởi Liên Xô năm 1948 và chứa đựng, ngoài những điều khác, một điều khoản được biết dưới tên Điều 19:

Mọi người ai cũng có quyền tự do thể hiện ý kiến; quyền này bao gồm tự do giữ ý kiến không bị gây cản trở và quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin và ý tưởng thông qua bất cứ hình thức truyền thông nào mà không bị giới hạn.[404]

Văn bản sau là kết quả cuối cùng của một tiến trình đàm phán rộng khắp Châu Âu, đã dàn xếp được một số vấn đề chính trị để ngỏ kể từ cuối Thế Chiến thứ II. Mặc dù chúng ít được chú ý vào thời điểm ký kết năm 1976, Hiệp ước Helsinki cũng bao gồm một số thoả thuận về nhân quyền – trong phần được gọi tên là “Gói bộ ba” của cuộc đàm phán – được tất cả các quốc gia tham gia ký kết. Ngoài những điều khác, bản hiệp ước cũng công nhận “quyền tự do suy nghĩ, nhận thức và tin tưởng”:

Các quốc gia tham gia công nhận tầm quan trọng toàn cầu của những quyền con người và quyền tự do cơ bản… các quốc gia tham gia sẽ luôn tôn trọng các quyền này và quyền tự do trong mối quan hệ qua lại giữa họ và sẽ có những nỗ lực hợp tác hay riêng rẽ, bao gồm việc phối hợp với Liên Hiệp Quốc, để đẩy mạnh mức độ hữu hiệu và phổ biến của việc tôn trọng các quyền trên.

Cả bên trong lẫn bên ngoài đất nước Liên Xô, hầu hết thông tin về các nỗ lực của những người chống đối để phát triển nội dung các hiệp ước trên đều xuất phát từ tờ tạp chí thuộc mạng lưới samizdat Liên Xô: tờ Thời sự về các Sự kiện hàng ngày. Tờ tin tức này, nội dung dành cho việc ghi chép một cách trung lập những sự kiện mới xảy ra nhưng không được phép công khai – các vụ xâm phạm quyền con người, bắt bớ, xét xử, biểu tình, xuất bản các tập samizdat mới – được lập ra bởi một nhóm nhỏ những người quen tại Moscow, bao gồm Sinyavsky, Daniel, Ginzburg và hai người chống đối sau này sẽ trở thành nổi tiếng, Pavel Litvinov và Vladimir Bukovsky. Câu chuyện về sự mở rộng và phát triển của Thời sự bản thân nó cũng đáng để viết một cuốn sách dày như cuốn sách này. Trong thập niên 1970, công an mật đã tiến hành một cuộc chiến tranh thực thụ chống lại Thời sự, tổ chức các cuộc lục soát có phối hợp nhà ở của bất cứ ai bị nghi ngờ có liên hệ với tờ tạp chí: trong một dịp rất đáng nhớ, một biên tập viên đã quẳng cả tập giấy vào nồi súp đang sôi sùng sục trong khi KGB lục soát căn hộ của cô. Tuy nhiên, Thời sự vẫn sống sót qua các đợt bắt giữ những biên tập viên của nó, và cũng tìm cách vươn tới phương Tây. Cuối cùng, tổ chức Ân xá Quốc tế sau này định kỳ xuất bản các bản dịch của nó.[405]

Thời sự cũng giữ một vai trò đặc biệt trong lịch sử hệ thống trại. Rất mau chóng, nó trở thành nguồn thông tin chính về cuộc sống trong các trại Liên Xô thời hậu Stalin. Nó xuất bản một mục định kỳ, “Bên trong nhà tù và trại” – và, sau này, là mục “Bên trong Khám trừng phạt” – ghi lại tin tức từ các trại, và xuất bản những phỏng vấn với tù nhân. Các báo cáo chính xác đến giật mình này về sự việc diễn ra trong trại – tình hình bệnh tật của các tù chống đối cụ thể, sự thay đổi chế độ sinh hoạt, những cuộc phản đối có tổ chức – khiến chính quyền phát điên: họ nhận thấy không thể hiểu nổi tại sao thông tin lọt ra ngoài được. Nhiều năm sau, một trong các biên tập viên đã giải thích:

Một số [thông tin] được mang ra khi có ai đó được thả khỏi trại. Có những mối liên lạc ở đâu đó dọc trên đường anh ta đi về khi rời trại. Hay ta có thể hối lộ lính gác tù để khi gặp người thân, ta có thể chuyển các tin tức viết tay hay tin nhắn miệng. Sau đó người thân sẽ dừng lại ở Moscow và chuyển các tin ta nhắn. Lấy ví dụ, ta có thể hối lộ đám lính gác ở Mordovia. Đấy [các trại chính trị Mordovia] toàn là trại mới, được tổ chức từ năm 1972, và tất cả lính gác đều là mới. Họ đôi khi sẽ chuyển thư đi khi họ cảm thấy thông cảm với tình thế của ta. Có một cuộc tuyệt thực tập thể trong trại vào năm 1974, và khi họ chứng kiến nó, lính gác liền thấy có cảm tình.

Ta cũng có thể mua chuộc lính gác. Lương họ kiếm được không nhiều. Họ cũng không có mấy của nả. Họ toàn là dân quê mùa tỉnh lẻ. Lấy ví dụ, ta có thể kiếm món gì đó ở Moscow – cái bật lửa chẳng hạn – và đem hối lộ anh lính gác. Hay anh ta sẽ cho ta địa chỉ. Món quà hối lộ – đồ đạc vật dụng hay tiền bạc – sẽ được gửi tới đấy để đổi lấy việc chuyển tin tức…[406]

Cũng có các phương pháp che dấu khác. Một cựu tù mô tả lại một cách như vậy:

Bằng nét chữ viết tháu, tôi chép những bài thơ mới nhất của mình lên dải giấy vấn thuốc lá rộng bốn xăng-ti-mét… Những dải giấy này sau đó được vê chặt thành một cuộn nhỏ (nhỏ hơn kích thước ngón tay người) niêm lại và bọc chống thấm nước bằng một phương pháp chúng tôi tự sáng tạo ra, rồi chuyển đi khi xuất hiện cơ hội thích hợp.[407]

Bất kể họ thực hiện việc này bằng cách nào – che dấu, hối lộ hay lấy lòng – thông tin mà Thời sự xoay sở rút được từ các trại cho đến ngày nay vẫn rất có ý nghĩa. Vào thời điểm tác giả đang viết cuốn sách này, các hồ sơ MVD và KGB thời hậu Stalin phần lớn vẫn đóng kín đối với những nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, nhờ có Thời sự, các samizdat khác và những ấn phẩm của tổ chức nhân quyền, và nhờ nhiều, rất nhiều hồi ký mô tả các trại vào thập niên 1960, 1970 và 1980, ta vẫn có thể tái hiện lại một bức tranh phù hợp về cuộc sống trong các trại Liên Xô đã như thế nào trong những năm tháng hậu Stalin.

“Các trại cho tù chính trị ngày nay vẫn khủng khiếp như thời Stalin. Một vài chuyện có đỡ hơn, một số khác còn tệ hơn…”

Đấy là mở đầu hồi ký của Anatoly Marchenko về những năm tháng ông trong tù, một tài liệu mà, khi nó lần đầu tiên được lưu truyền tại Moscow cuối thập niên 1960, đã gây chấn động sâu sắc giới trí thức của thành phố, những người vẫn tin rằng hệ thống trại lao động Liên Xô đã bị đóng cửa vĩnh viễn. Là đứa con thuộc tầng lớp lao động có bố mẹ ít học, án tù đầu tiên của Marchenko là vì tội quậy phá. Án tù thứ hai của ông là vì làm phản: ông tìm cách chạy trốn khỏi Liên Xô bằng cách vượt biên sang Iran. Ông bị kết án phải chịu án chính trị của mình tại Dubravlag, Mordovia, một trong hai trại chính trị tai tiếng và có chế độ hà khắc nhất.

Nhiều nét trong các trải nghiệm của Marchenko về nhà tù là khá quen thuộc với những người đã nghe quen các câu chuyện về trại thời Stalin. Giống như các vị tiền bối của mình, Marchenko đi tới Mordovia trên một toa tàu kiểu Stolypin. Giống như các vị tiền bối, ông được phát một ổ bánh mì, 40 gram đường, và cá trích muối để đi trọn quãng đường. Giống như các vị tiền bối, ông thấy việc có được nước uống tuỳ thuộc vào người lính chịu trách nhiệm trên tàu: “nếu anh ta là người tốt anh ta sẽ đem cho ta hai hoặc ba xô nước, nhưng nếu anh ta không thể bận tâm để đi kiếm và đem về cho ta, ta sẽ đành cứ việc ngồi đó cho tới khi chết khát”.[408]

Khi tới trại, Marchenko thấy cũng cùng cái đói khát chung, nếu không nói là đến mức chết đói, như đã từng có trong quá khứ. Khẩu phần hàng ngày của ông có 2.400 calory: 700 gram bánh mì, 450 gram rau thường là đã hư thối, 85 gram cá tuyết ươn, 55 gram thịt. Trái lại, lũ chó gác tù được cho 450 gram thịt. Như trong quá khứ, không phải tất cả khẩu phần của Marchenko đều thực sự được phát đủ trong suất, và có rất ít khẩu phần phụ. “Trong suốt sáu năm trong trại và trong tù tôi được ăn bánh mì bơ có hai lần, là khi tôi có người tới thăm. Tôi cũng được ăn hai quả dưa chuột – một quả năm 1964 và quả kia năm 1966. Chưa lần nào tôi được ăn cà chua hay táo”.[409]

Lao động vẫn là vấn đề quan trọng trong một chừng mực nào đó, mặc dù đây là một kiểu lao động khác. Marchenko làm công việc khuân vác và thợ mộc. Leonid Sitko, cũng ở Dubravlag thời gian đó, làm việc sản xuất đồ nội thất.[410] Tù trong trại nữ ở Mordovia làm việc trong nhà máy, thường là với máy khâu.[411] Tù trong một chuỗi trại tù chính trị khác, gần thành phố Perm, dưới chân dãy Ural, cũng phải làm việc với đồ gỗ. Những người bị giam trong biệt khám, như nhiều tù bị vào thập niên 1980, phải làm việc may găng tay hay đồng phục.[412]

Theo thời gian, Marchenko cũng nhận ra rằng điều kiện ngày càng trở nên tệ hơn. Vào giữa thập niên 1960, có ít nhất ba loại tù nhân: được ưu tiên, thường và chịu chế độ nghiêm khắc. Rất mau chóng, tù chịu chế độ nghiêm khắc – vốn bao gồm tất cả những tù chính trị chống đối quan điểm “nghiêm trọng” nhất – một lần nữa phải mặc đồng phục vải đen thay vì mặc quần áo của chính mình. Mặc dù họ có thể nhận thư không giới hạn, cũng như các ấn phẩm – nếu chúng xuất bản ở Liên Xô – họ lại chỉ được gửi hai lá thư mỗi tháng. Nếu họ đang phải chịu chế độ nghiêm khắc, họ có thể sẽ không được phát thức ăn hay thuốc lá.

Marchenko đã chịu án cả với tư cách tù hình sự lẫn tù chính trị, và mô tả của ông về thế giới tội phạm nghe rất quen thuộc. Có lẽ, văn hoá tội phạm đã thoái hoá thậm chí còn thấp hơn trước kể từ khi Stalin chết. Trong đợt chiến tranh giữa các phe nhóm trộm cướp cuối thập niên 1940, bọn tội phạm chuyên nghiệp đã tách thêm thành nhiều nhóm. Zhenya Fedorov, một cựu tù bị bắt năm 1967 vì tội ăn trộm, đã tả lại về nhiều nhóm, không chỉ có “bọn chó cái” và “bọn trộm” mà còn có svoyaki, những kẻ mà ông giải thích là bọn trộm học nghề, và bọn “mũ đỏ”, bọn trộm tuân theo luật riêng của chúng, có lẽ là hậu duệ có trí thức của nhóm “mũ đỏ” xuất hiện trong trại sau chiến tranh. Các tù khác cũng tự nhóm lại thành các “gia đình” để tự vệ và làm các việc khác: “Khi phải giết chết ai đó, các ‘gia đình’ sẽ quyết định ai là người phải ra tay”, Fedorov nói.[413]

Thứ văn hoá bạo lực của hãm hiếp và thống trị đồng giới – đã có trước đấy trong một số mô tả về cuộc sống trong nhà tù vị thành niên – giờ đây cũng giữ vai trò lớn hơn trong cuộc sống tù tội phạm. Các quy luật bất thành văn giờ chia tù tội phạm thành hai nhóm: những kẻ đóng vai “nữ”, và những kẻ đóng vai “nam”. “Nhóm đầu bị toàn thể khinh thường, trong khi nhóm sau đi vênh vang như những vị anh hùng, khoe khoang sức mạnh nam tính của mình và “kẻ bị chiếm đoạt” của mình, không chỉ với nhau mà cả với đám lính gác”, Marchenko viết.[414] Theo Fedorov, chính quyền chấp nhận như vậy, giữ bọn tù “bẩn” trong các phòng giam riêng. Bất cứ ai đều có thể bị phải như vậy: “nếu anh thua bài, anh có thể bị buộc phải ‘làm thế’ như đàn bà”.[415] Trong các trại nữ, đồng tính nữ cũng phổ biến không kém, đôi khi không kém phần bạo lực. Một tù chính trị sau này viết về một tù nhân đã khăng khăng từ chối chồng và con nhỏ đến thăm, bởi cô ta sợ sự trả đũa của người yêu đồng giới trong tù của mình.[416]

Thập niên 1960 cũng là khởi đầu của sự xuất hiện dịch lao trong các nhà tù Nga, một tai họa còn kéo dài đến ngày nay. Fedorov mô tả lại tình thế như sau: “Nếu cứ có tám mươi người trong một lán ở, thì có mười lăm bị lao. Không một ai tìm cách chữa trị, ở đấy chỉ có một loại thuốc viên, chuyên trị nhức đầu, dùng cho bách bệnh. Đám bác sĩ như một lũ SS, không bao giờ thèm nói chuyện với anh, không khi nào thèm nhìn anh, anh như thứ vô hình”.[417]

Vấn đề càng tồi tệ thêm bởi nhiều tên trộm thời này ưa nghiện chifir, một thứ trà vô cùng nặng và gây mơ màng phê phưa. Nhiều tù khác đi xa hơn ngày xưa nhiều khi xoay sở kiếm ra được rượu cồn. Trong những tù làm việc bên ngoài trại, có vài người đã sáng tạo ra một cách đặc biệt để đem lén rượu vào, qua mặt lính gác:

Một cái bao cao su được lồng thật khít vào một khúc ống nhựa mỏng dài. Tay zek sau đó nuốt nó vào, để hở một đầu ống trong miệng. Để tránh rót nhầm, anh ta chèn nó vào khoảng trống giữa hai chiếc răng: không phải gã zek nào cũng có đủ hết 32 cái răng. Sau đó, bằng một ống bơm tiêm, có thể bơm đến ba lít rượu mạnh vào cái bao cao su qua chiếc ống nhựa – và gã zek quay về trại. Nếu nút buộc không chắc, hay nếu bao cao su bất ngờ vỡ trong dạ dày gã zek, gã sẽ cầm chắc một cái chết đau đớn. Mặc dù vậy, họ vẫn chấp nhận hiểm nguy: ba lít rượu mạnh kia hoà ra sẽ được bảy lít vodka. Khi “người anh hùng” trở về zona… anh ta sẽ treo ngược người dốc đầu dưới cái xà ngang của mái lán và hứng cái đĩa phía dưới đầu ống nhựa cho tới khi giọt rượu cuối cùng chảy ra hết. Sau đó là kéo cái bao cao su rỗng ra…

Việc tự gây thương tích cũng phổ biến như trước, ngoại trừ rằng giờ đây nó có những hình thức ghê gớm hơn. Có lần, trong phòng giam nhà tù, Marchenko chứng kiến hai tên trộm thoạt đầu là nuốt cán thìa của mình, và rồi, sau khi giẫm lên để làm bẹp, là cả phần muôi thìa. Sau đó, chúng đập vỡ một tấm kính và nuốt dần từng mảnh, trước khi đám cai tù lôi được chúng ra ngoài.[418] Edward Kuznetsov, bị kết án vì tham gia một vụ cướp máy bay nổi tiếng tại sân bay Smolny ở Leningrad, đã tả lại hàng chục phương pháp tự gây thương tích:

Tôi từng chứng kiến tù nuốt vô số đinh và mẩu dây thép gai; tôi từng thấy họ nuốt nhiệt kế thuỷ ngân, liễn sắt tây (sau khi đập vỡ thành nhiều mảnh “nuốt được”), quân cờ, quân domino, kim khâu, mảnh kính vụn, thìa, dao và nhiều thứ khác tương tự. Tôi từng chứng kiến tù khâu miệng và mắt mình lại bằng chỉ hay dây thép, khâu hàng chuỗi khuy áo vào người; hay đóng đinh bìu dái xuống giường… Tôi từng chứng kiến tù rạch toang da tay da chân và róc nó ra như thể lột bít tất; hay cắt đứt từng mẩu thịt (từ bụng hay bắp chân), nướng lên rồi ăn luôn; hay hứng máu chảy từ ven mở toang vào cái nồi, bẻ vụn bánh mì bỏ vào, rồi húp như ăn xúp; hay quấn giấy quanh người rồi tự thiêu; hay chặt đứt ngón tay, mũi, tai hay dương vật của mình…

Kuznetsov viết rằng tù tự làm những chuyện ấy với bản thân không phải để phản đối, mà hoàn toàn không vì lý do gì đặc biệt, hay chỉ để  “được vào bệnh viện nơi có đám nữ y tá lúc lắc hông, nơi ta được chén khẩu phần bệnh viện và không bị buộc phải làm việc, nơi ta có thể kiếm được ma tuý, được ăn uống đặc biệt, kiếm được bưu ảnh”. Nhiều kẻ tự làm bị thương cũng mắc chứng khổ dâm, “thường xuyên trong tình trạng suy nhược do cứ mất máu hết lần này đến lần khác”.[419]

Hiển nhiên, mối quan hệ giữa tù tội phạm và tù chính trị cũng đã thay đổi nhiều kể từ thời Stalin. Tù tôi phạm đôi khi có hành hạ hay đánh đập tù chính trị: nhân vật chống đối người Ukraina Valentyn Moroz bị giam trong một phòng chung với tù tội phạm khiến ông phải thức suốt đêm, và cuối cùng chúng xông vào tấn công ông, rạch đứt bụng ông bằng cái thìa mài sắc.[420] Nhưng cũng có những tội phạm rất kính trọng tù chính trị, ít nhất vì việc họ chống lại chính quyền, như Vladimir Bukovsky đã viết: “Họ thường nói chúng tôi kể họ nghe chúng tôi vào tù vì lý do gì và chúng tôi muốn gì… điều duy nhất họ không thể tin được đó là chúng tôi làm tất cả những việc đó không để được gì, và không phải vì tiền”.[421]

Thậm chí có những tù tội phạm thiết tha muốn gia nhập cùng phe với họ. Tin rằng tù chính trị được “dễ thở hơn”, một số tù tội phạm chuyên nghiệp cố tìm cách xoay được án chính trị. Họ viết một tờ lên án Khrushchev hay tố cáo Đảng, rắc đầy những từ tục tĩu hay làm “lá cờ Mỹ” từ giẻ rách và vẫy nó qua cửa sổ. Vào cuối thập niên 1970, rất thường gặp những tên tội phạm xăm khẩu ngữ sau trên trán: “Cộng sản uống máu nhân dân”, “Nô lệ của Đảng Cộng sản”, “Đưa tao bánh mì, hỡi bọn Bolshevik”.[422]

Thậm chí thay đổi trong mối quan hệ giữa thế hệ tù chính trị mới với chính quyền còn trở nên cách biệt sâu sắc hơn. Vào thời hậu Stalin, tù chính trị là những người tù biết rõ tại sao họ phải vào tù, họ đã chuẩn bị trước phải vào tù, và họ đã định trước mình phải cư xử thế nào trong tù: tỏ ra bất chấp một cách có tổ chức. Ngay từ tháng 2/1968, một nhóm tù tại Potma – trong số họ có Yuri Daniel – đã tiến hành một cuộc tuyệt thực phản đối. Họ yêu cầu giảm nhẹ chế độ tù; chấm dứt việc lao động cưỡng bức; dỡ bỏ giới hạn trong liên lạc thư từ; và, với âm hưởng của đầu thập niên 1920, việc công nhận tình trạng tù chính trị đặc biệt của họ.[423]

Chính quyền thực hiện các nhượng bộ – và rồi từ từ rút chúng lại. Tuy nhiên, đòi hỏi của tù chính trị muốn được giam riêng khỏi tù tội phạm cuối cùng được chấp nhận, ít nhất bởi vì các quan chức quản lý trại muốn tách thế hệ tù chính trị mới này, cùng với các đòi hỏi không ngớt và khuynh hướng sẵn sàng thực hiện tuyệt thực của họ, càng xa đám tội phạm thường càng tốt.

Những cuộc tuyệt thực đó thường xuyên và phổ biến đến nỗi cuốn Thời sự, kể từ năm 1969 trở đi, đã ghi nhận việc phản đối gần như liên tục. Lấy ví dụ, trong năm này, tù đã tiến hành tuyệt thực để: yêu cầu khôi phục các nhượng bộ có từ một năm trước; để phản đối việc bị cấm người thân đến thăm; để phản đối sau khi một số người bọn họ bị đưa vào khám trừng phạt; để phản đối sau khi một tù khác bị cấm nhận bưu phẩm của người nhà; để phản đối việc chuyển những tù khác nữa từ trại đến nhà tù; và thậm chí để đánh dấu Ngày Nhân quyền Quốc tế mùng 10 tháng Mười Hai.[424] Năm 1969 cũng không phải là một năm bất thường. Trong một thập kỷ tiếp theo, các cuộc tuyệt thực, đình công và các cuộc phản đối khác đã trở thành chuyện đều đặn trong đời sống ở cả Mordovia lẫn Perm.

Các cuộc tuyệt thực, có hình thức các cuộc phản đối ngắn trong vòng một ngày, cũng như các cuộc so găng dài ngày khổ sở với chính quyền, thậm chí phát triển thành một kiểu tẻ ngắt mệt nhọc, như Marchenko viết lại:

Trong vài ngày đầu tiên, không một ai thèm hé mắt để ý. Và rồi, sau nhiều ngày – đôi khi tới mười hay mười hai ngày – họ chuyển anh vào một khám đặc biệt dành riêng cho những người như vậy, và bắt đầu cho anh ăn theo kiểu cưỡng bách qua một cái ống. Chống cự là vô ích, bởi dù anh có làm gì thì họ cũng vặn tay anh ra sau lưng và khoá lại. Cách này thường được thực hiện trong các trại thậm chí còn tàn nhẫn hơn trong nhà tù tạm giam – sau khi anh bị cho ăn một hai lần thì thể nào cũng mất bớt vài cái răng…[425]

Vào giữa thập niên 1970, một số tù chính trị “tệ nhất” đã bị chuyển khỏi Mordovia và Perm, đưa tới các nhà tù an ninh đặc biệt cao – đáng chú ý nhất là Vladimir, một nhà tù miền trung Nga có từ thời Sa hoàng – nơi họ dành riêng hầu hết tâm trí của mình cho việc chống lại chính quyền. Trò chơi này rất nguy hiểm, và nó hình thành nên các nguyên tắc vô cùng phức tạp. Mục tiêu của tù là làm cho điều kiện sinh hoạt thoải mái hơn, và để ghi điểm, việc này có thể báo thông qua mạng lưới samizdat tới cho phương Tây. Mục tiêu của chính quyền là để khuất phục tù nhân: bắt họ phải cấp tin, phải hợp tác, và trên hết là để xuất bản công khai lời họ xin rút bỏ quan điểm của mình, vốn sẽ xuất hiện trên báo chí Liên Xô và được lặp lại ở hải ngoại. Mặc dù phương pháp của họ mang một số điểm tương đồng với những hành hạ tra tấn được tiến hành ở các phòng hỏi cung thời Stalin trong quá khứ, chúng thường liên quan tới sức ép tâm lý hơn là gây đau đớn thể xác. Natan Sharansky (tên khai sinh Anatoly Shcharansky), một trong những tù bị tội chống đối tích cực nhất cuối thập niên 1970 và đầu 1980 – hiện đang là một chính trị gia Istrael – đã mô tả tiến trình như sau:

Họ sẽ mời anh đi nói chuyện. Anh nghĩ bản thân mình chẳng thể thay đổi được gì ư? Trái lại: họ sẽ giải thích rằng mọi thứ tùy thuộc vào anh. Anh thích trà, cà phê, hay thịt? Anh có muốn đi ăn nhà hàng với tôi không? Tại sao không? Chúng tôi sẽ cho anh mặc đồ dân thường và ta cùng đi. Nếu chúng tôi nhận thấy anh đi đúng con đường cải hối, rằng anh sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi – sao, anh không muốn chỉ điểm bạn bè? Nhưng như thế là chỉ điểm sao? Tay người Nga (hay Do Thái, hay Ukraina, tùy theo tình huống) đang chịu án cùng với anh, chẳng lẽ anh không nhận ra hắn thuộc dân tộc nào sao? Chẳng lẽ anh không biết hắn ghét người Ukraina (hay Nga, hay Do Thái) các anh đến mức nào sao?[426]

Như trong quá khứ, chính quyền có thể ban cho hay rút đi các ưu đãi, và tống cho những hình phạt, thường là một thời gian nằm trừng khám. Họ có thể điều chỉnh điều kiện sống của một tù bằng cách tạo ra các thay đổi nhỏ nhưng khắc nghiệt trong cuộc sống thường ngày của anh ta, luân chuyển anh ta qua lại giữa chế độ thường và chế độ khắc nghiệt – tất nhiên, luôn luôn hết sức phù hợp theo quy định. Như Marchenko đã viết, “Sự khác biệt giữa các chế độ này dường như vô cùng nhỏ đối với những ai chưa từng trải qua, nhưng với một tù thì như thế là hết sức ghê gớm. Theo chế độ thường được nghe radio, chế độ khắc nghiệt thì không; chế độ thường anh được tập thể dục một tiếng mỗi ngày, chế độ khắc nghiệt chỉ nửa tiếng và hoàn toàn không được tập ngày chủ nhật”.[427]

Vào cuối thập niên 1970, số định mức khẩu phần đã tăng từ vài mức lên đến mười tám mức, từ 1A tới 9B, mỗi mức có một số calory riêng (từ 2.200 tới 900) và danh mục các loại thực phẩm quy định riêng. Tù được phân cho mức này hay mức khác tùy theo những thay đổi nhỏ trong thái độ cư xử của họ. Nội dung của mức khẩu phần thấp nhất, 9B, cấp cho những tù trong trừng khám, bao gồm một mẩu bánh nhỏ, một muôi kasha[428], và chỗ xúp mà theo lý thuyết chứa 200 gram khoai tây và 200 gram bắp cải, nhưng thực tế thường không đủ.[429]

Tù cũng có thể bị tống vào trừng khám – “máy ướp lạnh” – một hình thức trừng phạt lý tưởng, theo quan điểm của chính quyền quản lý. Điều này hoàn toàn hợp pháp, và về mặt kỹ thuật không thể mô tả là sự tra tấn. Tác động của nó lên tù là chậm chạp và tích tụ dần dần, nhưng do không ai vội vàng hoàn tất con đường băng qua vùng đài nguyên, nên chuyện này không làm ban quản lý nhà tù phải mất công lo lắng. Những phòng giam đó có thể so sánh với bất cứ thứ gì được tạo ra bởi NKVD thời Stalin. Một tài liệu năm 1976, xuất bản bởi nhóm Helsinki Moscow, đã mô tả hết sức chính xác các trừng khám của nhà tù Vladimir, bao gồm chừng năm mươi buồng cả thảy. Tường khám phủ đầy “lông” xi măng, những vẩy cục xi măng nhọn gồ ghề. Sàn bẩn thỉu và ướt át. Trong một phòng, cửa sổ bị vỡ và bịt thay bằng giấy báo, trong phòng khác thì cửa sổ bị gạch xây bít lại. Thứ duy nhất có thể ngồi lên là một trụ xi măng đường kính khoảng 25 xăng-ti-mét, viền sắt. Ban đêm, một cái giường gỗ được đem vào, nhưng không có vải trải giường hay gối. Tù phải nằm trên ván trần và dát sắt. Phòng giam bị để lạnh đến nỗi tù khó mà ngủ nổi, thậm chí nằm xuống cũng không nổi. Trong một số phòng, “cửa thông gió” thổi ra toàn hơi từ ống cống.[430]

Tồi tệ nhất, đối với những ai đã quen sống tích cực, là sự buồn chán, được mô tả bởi Yuri Daniel:

Hết tuần này kéo sang tuần khác

Tan ra trong mịt mù khói thuốc

Giữa chốn cơ ngơi kỳ quái này

Mọi thứ là mơ hay mê sảng…

Nơi đây đêm cũng không tắt sáng

Nơi đây ngày cũng chỉ lờ mờ

Nơi đây câm lặng là vị thống trị,

Hoàn toàn xâm chiếm lấy người tôi.

Ta nghẹn thở vì chẳng làm gì,

Chỉ biết tự đập đầu vào tường,

Hết tuần này kéo sang tuần khác

Tan ra trong làn khói thuốc xanh…[431]

Hình thức trừng khám có thể kéo dài không giới hạn. Về mặt kỹ thuật, tù chỉ có thể bị giam trong thời gian tối đa mười lăm ngày, nhưng chính quyền xoay vòng bằng cách tống tù vào, cho tù ra ngoài một ngày, rồi lại tống vào lần nữa. Marchenko có lần bị giam trong trừng khám đến bốn mươi tám ngày. Mỗi khi hạn mười lăm ngày hết, đám lính gác lại cho ông ra ngoài vài phút – đủ lâu để đọc tờ lệnh giam ông trở lại trừng khám.[432] Ở trại Perm-35, một tù đã bị giam gần hai tháng trước khi được đưa vào bệnh viện, trong khi một tù khác bị giam bốn mươi lăm ngày, sau khi từ chối làm bất cứ việc gì ngoài chuyên môn chế tác kim loại của mình.[433]

Nhiều người bị tống vào trừng khám để chịu phạt do phạm những tội còn vặt vãnh hơn thế: khi chính quyền thực sự muốn khuất phục ai đó, họ cố ý áp dụng nhỏ giọt các hình phạt khắc nghiệt vì những lỗi vi phạm rất lặt vặt. Trong những năm 1973 và 1974, tại trại Perm, hai tù nhân đã bị tước mất quyền được thân nhân đến thăm vì đã “ngồi trên giường vào ban ngày”. Một người khác bị phạt vì một ít mứt trong gói bưu phẩm anh ta nhận bị phát hiện là đã được nấu với rượu cồn để thêm đậm vị. Nhiều tù khác bị phạt hay quở trách vì đi bộ quá chậm hay vì không chịu đi bít tất.[434]

Đôi khi, việc gây áp lực kéo dài đã có thành công. Aleksei Dobrovolsky, một trong những đồng bị cáo trong phiên toà xử Aleksandr Ginzburg, đã bị “khuất phục” rất sớm, đề nghị trong đơn của mình để anh ta được khai trên sóng phát thanh và kể lại toàn bộ câu chuyện về hoạt động chống đối “phạm pháp” của mình, cảnh báo những người trẻ tuổi tốt hơn là đừng theo lối đi nguy hiểm của chính mình.[435] Pyotr Yakir cũng đầu hàng sau cuộc hỏi cung và “thú nhận” đã tự bịa ra những gì ông viết.[436]

 Nhiều người khác đã chết. Yuri Galanskov, một đồng bị cáo khác trong vụ Ginzburg, chết năm 1972. Ông bị nổi nhọt trong tù, chúng không được chữa trị và cuối cùng đã giết chết ông.[437] Marchenko cũng chết năm 1986, có lẽ là do những thuốc mà ông dùng khi tuyệt thực.[438] Nhiều người khác đã chết – một người tự sát – trong một cuộc tuyệt thực dài một tháng tại Perm-35 năm 1974.[439] Sau này, Vasil Stus, một thi sĩ người Ukraina và là nhà hoạt động nhân quyền, đã chết tại Perm năm 1985.[440]

Nhưng tù cũng chống trả. Năm 1977, tù chính trị ở Perm-35 đã kể lại cách họ tỏ ra bất tuân luật pháp:

Chúng tôi thường tiến hành tuyệt thực. Tại các khám trừng phạt, trong toa tàu vận chuyển. Cả vào ngày thường lẫn dịp quan trọng, vào ngày mất của các đồng chí của chúng tôi. Trong những ngày có các hoạt động bất thường tại zona, vào ngày Mùng 8 tháng 3 và Mùng 10 tháng 12, ngày Mùng 1 tháng 8 và Mùng 8 tháng 5 hay ngày Mùng 5 tháng 9. Chúng tôi tiến hành tuyệt thực rất thường xuyên. Các nhà ngoại giao, các quan chức dân sự ký kết những thỏa thuận mới về nhân quyền, về quyền tự do thông tin, về việc cấm tra tấn – còn chúng tôi thì tiến hành tuyệt thực, do tại Liên Xô không thể thấy được những chuyện như trên.[441]

Nhờ có các nỗ lực của họ, tin tức về những hoạt động chống đối luôn luôn gia tăng tại phương Tây – và các cuộc phản đối trở nên lớn tiếng hơn. Kết quả là, việc đối xử với một số tù nhân chuyển sang một hình thức mới.

Mặc dù tác giả đã nhấn mạnh rằng rất ít tài liệu từ thập niên 1970 và thập niên 1980 được xuất hiện công khai, trong thực tế vẫn có một số ngoại lệ. Năm 1991, Vladimir Bukovsky được mời trở về Nga từ nước Anh, nơi ông đã định cư kể từ khi bị trục xuất khỏi đất nước (để đổi lấy một người cộng sản Chile bị cầm tù) mười lăm năm trước đấy. Bukovsky được bổ nhiệm làm một “chuyên gia trong phiên tòa” trog “vụ xử án” Đảng Cộng sản, một sự kiện diễn ra sau khi Đảng thách thức Tổng thống Yeltsin thử cấm nó hoạt động. Ông tới tòa nhà Tòa Án Hiến Pháp ở Moscow mang theo chiếc máy tính xách tay và một máy scan bỏ túi. Tin tưởng rằng không một ai ở nước Nga từng thấy những chiếc máy thế này, ông ngồi xuống và bình thản sao chép tất cả các tài liệu được đem ra làm bằng chứng. Chỉ tới khi ông làm gần xong thì những người xung quanh đột nhiên nhận ra ông đang làm chuyện gì. Có ai đó nói lớn, “Hắn sắp sửa công bố chúng, xem kìa!” Căn phòng yên bặt. Lúc ấy – “như trong một bộ phim”, theo Bukovsky sau này kể lại – ông bình tĩnh đóng máy tính lại, tiến về phía cửa ra vào, đi thẳng tới sân bay và bay khỏi nước Nga.[442]

Nhờ có cố gắng của Bukovsky, chúng ta được biết, ngoài các chuyện khác, về những gì đã xảy ra tại cuộc họp Bộ Chính trị tiến hành ngay sau khi chính ông bị bắt. Bukovsky đặc biệt kinh ngạc khi biết nhiều người trong số có mặt ở đấy đã cảm thấy nếu đem tội danh hình sự gán cho ông sẽ “gây ra một phản ứng rõ ràng trong lòng đất nước và tại nước ngoài”. Đó sẽ là một sai lầm, họ kết luận, nếu chỉ đơn giản cho bắt Bukovsky – do đó họ đề nghị thay vào đó là đưa ông vào một bệnh viện tâm thần.[443] Thời đại psikhushka – “bệnh viện tâm thần đặc biệt” – đã bắt đầu.

Việc sử dụng bệnh viện tâm thần để giam giữ những người chống đối có lịch sử từ lâu đời. Quay về St Petersburg từ Tây Âu năm 1836, triết gia người Nga Pyotr Chadaev đã viết một bài luận lên án chế độ Sa hoàng Nikolai I: “Trái với tất cả những luật lệ của xã hội loài người”, ông tuyên bố, vào đỉnh cao của chế độ quân chủ chuyên chế Nga, “Nước Nga chỉ đi tới việc tự biến mình thành nô lệ và biến thành nô lệ tất cả các dân tộc láng giềng”. Để đáp lại, Nikolai đã giam lỏng Chadaev tại nhà. Sa hoàng tin chắc rằng, ngài tuyên bố, khi nhân dân Nga biết được người đồng bào của họ “đang bị loạn trí và phát điên”, họ sẽ tha thứ cho ông ta.[444]

Vào sau thời kỳ Tan băng, chính quyền lại một lần nữa sử dụng bệnh viện tâm thần để giam người chống đối – một chính sách đem lại nhiều ưu điểm đối với KGB. Trên hết là, nó giúp làm mất uy tín những kẻ chống đối, cả ở phương Tây lẫn tại Liên Xô, và đánh chệch hướng chú ý ra khỏi họ. Nếu đó không phải là những đối thủ chính trị nặng ký đối với chế độ mà chỉ là những kẻ điên dại, vậy thì ai còn thèm phản đối việc đưa họ vào bệnh viện?

Với nhiệt tình to lớn, các cơ sở tâm thần Liên Xô đã tham gia vào trò vui này. Để giải thích hiện tượng chống đối, họ đưa ra khái niệm về “chứng tâm thần phân liệt phát triển chậm” hay “tâm thần phân liệt dần dần”. Chứng bệnh này, các nhà khoa học giải thích, là một thể của tâm thần phân liệt không để lại dấu vết trong hành vi trí tuệ hay vẻ bề ngoài, nhưng có thể bao gồm gần như bất cứ hình thức hành vi nào bị cho rằng phi xã hội hay bất bình thường. “Thường xuyên nhất, các ý tưởng về ‘đấu tranh vì sự thật và công lý’ hay được hình thành bởi các cá nhân có cấu trúc hoang tưởng”, hai giáo sư Liên Xô đã viết ra như vậy, cả hai đều thuộc Viện Serbsky:

Một nét đặc trưng của lối suy nghĩ đánh giá quá mức là sự tin chắc của bệnh nhân vào tính đúng đắn của chính anh ta, một sự ám ảnh về việc đòi hỏi những “quyền lợi” bị giày xéo của anh ta, và tầm quan trọng của những cảm xúc đó đối với cá nhân người bệnh. Họ có khuynh hướng lợi dụng các kiện tụng pháp lý như là chiếc bục để đứng phát biểu và nêu ra các yêu cầu.[445]

Và, theo khái niệm này, gần như tất cả những người chống đối đều bị xếp là điên khùng. Nhà văn và là nhà khoa học Zhores Medvedev bị chẩn đoán là mắc chứng “tâm thần phân liệt phát triển chậm” cộng với “hoang tưởng ám ảnh về việc cải tạo xã hội”. Triệu chứng của ông gồm có “nhân cách phân lập” – tức là ông làm việc cả với tư cách nhà khoa học lẫn một nhà văn. Natalya Gorbanevskaya, biên tập viên thứ nhất của tờ Thời sự, được chẩn đoán tâm thần phân liệt phát triển chậm với “không có triệu chứng rõ ràng”, nhưng gây kết quả là “các thay đổi bất thường trong cảm xúc, ý định và lối suy nghĩ”. Nhân vật chống đối, vị tướng Hồng quân Pyotr Grigorenko được chẩn đoán có tình trạng tâm thần “được đặc trưng bởi sự hiện diện của các tư tưởng cải cách, đặc biệt là việc tái tổ chức cơ cấu nhà nước; và điều này có liên hệ với suy nghĩ về việc đánh giá quá mức cá nhân mình đến tầm như đấng cứu thế”.[446] Trong một báo cáo gửi cho Ủy ban Trung ương, một chỉ huy KGB địa phương cũng than phiền rằng ông đang có trong tay một nhóm công dân bị một loại bệnh tâm thần đặc biệt: họ  “cố gắng thành lập mới những ‘đảng’, tổ chức và hội đồng, chuẩn bị và phân phát kế hoạch về các dự luật và chương trình mới”.[447]

Tùy theo hoàn cảnh khi bắt giữ – hay không bắt giữ – tù bị coi là bị bệnh tâm thần có thể được gửi tới các cơ sở khác nhau. Một số được khám bởi các bác sĩ nhà tù, số khác thì do các phòng khám. Một trong những loại này là Viện Serbsky, có khoa chẩn đoán đặc biệt, đứng đầu trong thập niên 1960 và 1970 là Tiến sĩ Danil Lunts, chịu trách nhiệm về việc khám bệnh những nhân vật chống đối chính trị. Tiến sĩ Lunts đã đích thân khám Sinyavsky, Bukovsky, Gorbanevskaya, Grigorenko và Viktor Nekipelov, ngoài những người khác nữa, và rõ ràng là có địa vị khá cao.[448] Nekipelov kể rằng ông ta mặc quân phục màu xanh dương đính hai ngôi sao, “dấu hiệu của cấp tướng trong lực lượng MVD”.[449] Một số nhà tâm thần học lưu vong Xô viết tuyên bố rằng Lunts, và những người khác trong viện, chân thành tin tưởng rằng bệnh nhân của họ thực sự bị bệnh tâm thần. Tuy nhiên, hầu hết những tù chính trị phải gặp ông ta đều mô tả ông ta là kẻ cơ hội, thực hiện công việc cho các ông trùm MVD của mình, “không hơn gì những bác sĩ tội phạm đã tiến hành các thí nghiệm vô nhân trên tù nhân tại các trại tập trung Quốc xã”.[450]

Nếu bị chẩn đoán là bệnh tâm thần, bệnh nhân bị kết luận phải chịu án trong bệnh viện, đôi khi trong vài tháng, đôi khi suốt vài năm. Những người may mắn hơn bị gửi tới một trong số hàng trăm bệnh viên tâm thần bình thường ở Liên Xô. Ở đó rất mất vệ sinh và đông đúc, thường được quản lý bởi đám người rượu chè và ác dâm. Tuy vậy, đám rượu chè và ác dâm là dân sự, và các bệnh viện thường thường ít bị giấu giếm hơn nhà tù và trại. Bệnh nhân được phép viết thư rất thoải mái, và có thể được phép gặp những người khác đến thăm ngoài thân nhân.

Mặt khác, những ai bị kết luận “đặc biệt nguy hiểm” bị đưa tới các “bệnh viện tâm thần đặc biệt”, số lượng chỉ có ở một vài nơi. Chúng được quản lý trực tiếp bởi MVD. Giống như Lunts, các bác sĩ của nó mang quân hàm MVD. Chúng có vẻ ngoài và tạo cảm giác giống như nhà tù, và được vây quanh bởi các tháp canh, hàng rào thép gai, lính gác và chó canh. Một bức ảnh bệnh viện tâm thần đặc biệt Oryol chụp vào thập niên 1970 cho thấy các bệnh nhân đang tập thể dục ở sân trong, không thể phân biệt nổi với một sân tập thể dục của nhà tù.[451]

Ở cả bệnh viện thường lẫn bệnh viện đặc biệt, các bác sĩ đều nhắm tới việc ép bệnh nhân rút bỏ ý kiến.[452] Bệnh nhân nào đồng ý từ bỏ tội của mình, chấp nhận rằng bệnh tâm thần đã khiến họ phê bình hệ thống Xôviết, sẽ có thể được tuyên bố là lành bệnh và thả tự do. Những ai không rút ý kiến bị xem là vẫn còn bệnh, và có thể bị “điều trị”. Do các nhà tâm thần học Xôviết không tin vào phân tâm học, việc điều trị này bao gồm nhiều loại thuốc, sốc điện và nhiều kiểu kiềm chế khác nhau. Những thuốc đã bị cấm ở phương Tây từ thập niên 1930 được cấp dùng hàng ngày, đẩy nhiệt độ cơ thể bệnh nhân lên trên 40 độ C, gây ra đau đớn và khó chịu. Các bác sĩ tù cũng kê toa thuốc an thần gây ra các tác dụng phụ phạm vi rộng, bao gồm gây cứng cơ, chậm chạp, cử động và co giật mất kiểm soát, chưa nói đến sự thờ ơ và mất tập trung.[453]

Những cách điều trị bao gồm thẳng tay đánh đập; tiêm insulin, vốn khiến những người không bị tiểu đường lâm vào trạng thái sốc do tụt đường huyết; và một kiểu trừng phạt gọi là “lăn tròn”, mà Bukovsky đã mô tả trong một cuộc phỏng vấn năm 1976: “Nó liên quan đến việc sử dụng một tấm vải bạt ướt – kích thước rất dài – mà bệnh nhân phải nằm trên đó và bị cuộn tròn lại từ đầu đến chân, chặt đến mức khó thở, và khi tấm vải khô đi nó sẽ xiết dần chặt hơn nữa khiến bệnh nhân càng lúc càng thấy tệ”.[454] Một cách điều trị khác, mà Nekipelov đã chứng kiến tại Viện Serbsky, là “chích ngang hông”, đâm một cái kim vào xương sống bệnh nhân. Những ai quay về sau đợt chích ngang hông sẽ được đặt nằm nghiêng, họ nằm đó bất động, lưng lốm đốm iốt, suốt nhiều ngày trời.[455]

Nhiều người đã bị tác động. Năm 1977, năm mà Peter Reddaway và Sidney Bloch xuất bản khảo sát bao quát của họ về sự lạm dụng bệnh tâm thần của Liên Xô, ít nhất có 365 người khoẻ mạnh được biết là đã phải qua điều trị vì điên chính trị, và thực tế chắc chắn phải có hơn hàng trăm người nữa.[456]

Tuy nhiên, việc giam giữ những người chống đối trong bệnh viện cuối cùng đã không đạt được mọi điều mà chế độ Xôviết hy vọng ở nó. Trên hết nó đã không làm chệch hướng chú ý của phương Tây. Một là, nỗi kinh hãi của việc lạm dụng bệnh tâm thần có lẽ đã kích thích trí tưởng tượng của phương Tây nhiều hơn hẳn các câu chuyện quen thuộc về trại và nhà tù. Bất cứ ai từng xem bộ phim Bay trên tổ chim Cúc cu đều có thể tưởng tượng rất rõ về một bệnh viện tâm thần Liên Xô. Dù vậy, quan trọng hơn, vấn đề lạm dụng bệnh tâm thần có sức hấp dẫn trực tiếp đối với một nhóm người khá giới hạn và cụ thể vốn có sự quan tâm chuyên môn tới chủ đề này: các bác sĩ tâm thần phương Tây. Kể từ 1971, năm mà Bukovsky tuồn ra hơn 150 trang tài liệu về những lạm dụng như vậy ở Liên Xô, vấn đề đã trở thành một chủ đề lưu niên đối với các tổ chức như Hiệp hội Tâm thần học Thế giới, the Royal College of Psychiatrists ở Anh, và các hiệp hội tâm thần học quốc gia và quốc tế khác. Những nhóm dũng cảm nhất đã ban ra các tuyên bố. Những nhóm khác thì không, nhưng rồi bị lên án vì đã hèn nhát, gây ra thêm nhiều tai tiếng cho Liên bang Xôviết.[457]

Cuối cùng, vấn đề này đã kích thích các nhà khoa học tại Liên bang Xôviết. Khi Zhores Medvedev bị kết án phải vào bệnh viện tâm thần, nhiều người bọn họ đã viết thư phản đối gửi đến Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Andrei Sakharov, nhà vật lý hạt nhân, người mà vào cuối thập niên 1960 đã nổi lên như người lãnh đạo tinh thần của phong trào chống đối, đã có một tuyên bố công khai nhân danh Medvedev tại một hội nghị chuyên đề quốc tế ở Học viện Di truyền học. Solzhenitsyn, lúc này đang ở phương Tây, đã viết một bức thư mở gửi chính quyền Liên Xô phản đối việc giam cầm Medvedev. “Sau cùng”, ông viết, “đã đến lúc để suy nghĩ thật rõ ràng: việc giam cầm những con người khoẻ mạnh suy nghĩ tự do chính là GIẾT NGƯỜI VỀ MẶT TINH THẦN”.[458]

Mối quan tâm của quốc tế có lẽ đã đóng phần quan trọng trong việc thuyết phục chính quyền thả ra một số tù nhân, trong đó có Medvedev, người sau đó bị trục xuất khỏi đất nước. Nhưng một số người ở thượng tầng của tầng lớp ưu tú ở Liên Xô cảm thấy đó là một phản ứng sai lầm. Năm 1976, Yuri Andropov, khi này là xếp KGB, đã viết một bản ghi nhớ mật, mô tả khá chính xác (nếu ta bỏ qua giọng điệu ác ý và bài Do Thái) nguồn gốc quốc tế của “chiến dịch chống Liên Xô”:

Số liệu gần đây chứng minh cho thực tế rằng chiến dịch có đặc tính của một hoạt động chống Liên Xô được lên kế hoạch cẩn thận… tại thời điểm hiện tại, những kẻ khởi đầu của chiến dịch đang cố gắng thu hút các tổ chức tâm thần học quốc tế và quốc gia cũng như các chuyên gia có uy tín, để tạo ra một “uỷ ban” nhằm giám sát hoạt động của các nhà tâm thần học tại nhiều quốc gia khác nhau, trên hết là tại Liên Xô… Vai trò tích cực trong việc xây dựng thái độ chống Liên Xô được thực hiện bởi the Royal College of Psychiatrists ở Anh quốc, hiện đang nằm dưới sự ảnh hưởng của các thành phần Zionist.[459]

Andropov đã cẩn thận mô tả các cố gắng để khiến Hiệp hội Tâm thần học Thế giới lên án Liên Xô, và tiết lộ kiến thức khá rộng về những gì mà các cuộc seminar quốc tế đã lên án ngành tâm thần học Liên Xô. Để đáp lại bản ghi nhớ này của ông, Bộ Y tế Liên Xô đã đề nghị tiến hành một chiến dịch tuyên truyền quy mô lớn để chuẩn bị cho hội nghị sắp tới của Hiệp hội Tâm thần học Thế giới. Họ cũng đề nghị chuẩn bị các tài liệu khoa học phủ nhận các cáo buộc, và để nhận diện các nhà tâm thần học “tiến bộ” ở phương Tây có thể ủng hộ họ. Những người “tiến bộ” này tới lượt họ sẽ được thưởng bằng lời mời đến Liên Xô, nơi họ có thể tham gia các chuyến tham quan đến những bệnh viện tâm thần thiết kế đặc biệt. Người ta thậm chí còn nêu tên một vài người có thể đến.[460]

Nói cách khác, thay vì rút lui khỏi việc lạm dụng chính trị về tâm thần học, Andropov đã đề nghị hãy tỏ ra trơ mặt. Bản tính của ông không cho phép thừa nhận bất cứ khía cạnh nào của chính sách của Liên Xô là có thể sai lầm.

 

27 . Thập niên 1980: Đập vỡ các tượng đài

 

Tượng đài kia đang bị đập vụn,

Mũi khoan thép the thé rít lên.

Khối xi măng chuyên dụng cứng chắc

Vốn trù tính sẽ bền vững thiên thu…

Mọi thứ thủ công của thế giới nơi ta sống,

Đều có thể thành mớ rác bởi tay người.

Nhưng cốt yếu lại nằm tại nơi đây:

Sắt hay đá, bản chất của chúng

Không bao giờ là tốt hay xấu hẳn.

– Aleksandr Tvardovsky, “Tượng đài bị đập”

 

Vào thời điểm Yuri Andropov nhậm chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1982, việc ông “trừng trị thẳng tay” các thành phần phản xã hội tại Liên Xô thực tế đã diễn ra suôn sẻ. Không như một số vị tiền nhiệm, Andropov luôn luôn tin rằng đám người chống đối, mặc dù họ có số lượng ít ỏi, cần phải được đối xử như một mối đe doạ nghiêm trọng đối với sức mạnh của Liên Xô. Từng là Đại sứ Liên Xô tại Budapest năm 1956, ông đã chứng kiến một phong trào trí thức mau chóng chuyển thành một cuộc cách mạng nhân dân như thế nào. Ông cũng tin rằng tất cả vô số các vấn đề của Liên bang Xôviết – chính trị, kinh tế, xã hội – có thể được giải quyết thông qua việc áp dụng kỷ luật chặt chẽ hơn: các trại và nhà tù nghiêm ngặt hơn, giám sát ráo riết hơn và làm khó khăn nhiều hơn.[461]

Có những phương pháp Andropov đã chủ trương ngay từ thời còn làm lãnh đạo KGB, kể từ 1979 trở đi, và đó là những phương pháp ông tiếp tục theo đuổi trong triều đại ngắn ngủi của mình lãnh đạo Liên Xô. Nhờ có Andropov, nửa đầu của thập niên 1980 được ghi nhớ như thời kỳ đàn áp mạnh mẽ nhất trong lịch sử thời hậu Stalin. Giống như thể áp lực bên trong hệ thống đã đạt đến điểm sôi, ngay trước khi bản thân hệ thống vỡ tan hoàn toàn.

Rõ ràng, kể từ cuối thập niên 1970, KGB của Andropov đã tiến hành rất nhiều vụ bắt bớ và tái bắt bớ: theo chỉ đạo của ông, những nhà hoạt động cứng đầu cứng cổ thường phải nhận án mới ngay vào khi vừa hết án cũ, giống như đã xảy ra thời Stalin. Thành viên của những nhóm giám sát Helsinki – các tổ chức chống đối tìm cách theo dõi việc giám sát của Liên Xô đối với Hiệp ước Helsinki – chắc chắn lên đường vào tù. Hai mươi ba thành viên của nhóm Moscow bị bắt vào khoảng từ 1977 tới 1979, và bảy người bị trục xuất ra nước ngoài. Yuri Orlov, lãnh đạo nhóm Helsinki Moscow, nằm tù suốt nửa đầu thập niên 1980.[462]

Nhưng bắt bớ không phải là vũ khí duy nhất của Andropov. Bởi mục tiêu của ông là hăm doạ mọi người không được tham gia các phong trào chống đối ngay từ đầu, phạm vi đàn áp trở nên rộng hơn nhiều. Những ai thậm chí chỉ bị nghi ngờ có cảm tình với nhân quyền, tôn giáo hay các phong trào dân tộc cũng phải đứng trước việc bị mất tất cả. Những kẻ tình nghi và vợ chồng họ có thể bị tước mất không chỉ việc làm, mà còn cả địa vị chuyên môn và bằng cấp. Con cái của họ có thể bị từ chối cho vào học đại học. Điện thoại của họ có thể bị cắt, giấy phép cư trú bị thu hồi, việc đi lại bị giới hạn.[463]

Cuối thập niên 1970, “các biện pháp giữ kỷ luật” nhiều tầng bậc của Andropov đã thành công trong việc chia rẽ cả phong trào chống đối lẫn những ủng hộ viên nước ngoài của nó thành các nhóm nhỏ, dày dạn kinh nghiệm và đôi khi có những quan tâm chung đáng ngờ. Đó là những nhà hoạt động nhân quyền, có số phận được giám sát chặt chẽ bởi các tổ chức như Ân xá Quốc tế. Đó là những người chống đối theo giáo phái Tẩy lễ, sự nghiệp được hỗ trợ bởi Nhà thờ Tẩy lễ quốc tế. Đó là những nhà chống đối dân tộc chủ nghĩa – Ukraina, Lithuania, Latvia, Gruzia – những người được hỗ trợ bởi các đồng bào lưu vong của họ. Đó là những người Meskhetia, Crimea và Tartar, bị đi đày thời Stalin, nay muốn có quyền được trở về quê hương.

Đối với phương Tây, có lẽ nhóm chống đối nổi bật nhất là đám refusenik, những người Do Thái Liên Xô bị từ chối quyền di cư đến Istrael. Nổi lên và được chú ý nhờ Tu chính luật Jackson-Vanik năm 1975 của Quốc hội Mỹ, theo đó liên hệ vấn đề thương mại Mỹ-Liên Xô với vấn đề di cư, những người refusenik trở thành mối quan tâm chính của Washington cho tới tận khi Liên bang Xôviết chấm dứt tồn tại. Mùa thu năm 1986, tại cuộc họp với Gorbachev ở Reykjavik, Tổng thống Reagan đã đích thân đưa cho nhà lãnh đạo Liên Xô một danh sách 1.200 người Do Thái Liên Xô muốn được di cư.[464]

Lúc này bị nghiêm túc tách xa khỏi tù hình sự, tất cả những nhóm trên đều thể hiện rất mạnh mẽ bên trong trại và nhà tù Liên Xô, tại đấy họ tự lập tổ chức vì sự nghiệp chung, giống như các tù chính trị thời kỳ trước.[465] Đến thời này, thậm chí ta có thể nói rằng trại trở thành như một thứ phương tiện nối kết mạng lưới, hầu như là một ngôi trường dạy chống đối, nơi tù chính trị có thể gặp những người có chung lý tưởng. Đôi khi, họ kỷ niệm lễ quốc khánh của nhau, người Lithuania và Latvia, Gruzia và Armenia, và tranh cãi nhẹ nhàng về việc nước nào có thể là nước đầu tiên tự giải phóng khỏi Liên bang Xôviết.[466] Các mối liên lạc cũng là xuyên nhiều thế hệ: những người Baltic và Ukraina có cơ hội gặp lại thế hệ những người dân tộc chủ nghĩa tiền bối, các du kích chống Liên Xô đã lãnh án 25 năm và không bao giờ được thả. Về những người sau, Bukovsky đã viết rằng bởi vì “cuộc đời họ đã chấm dứt khi họ mới đôi mươi”, trại như một nơi bảo tồn họ. “Vào các chủ nhật mùa hè họ thường túa ra ngoài trời nắng cùng đàn ác-coóc-đê-ông và chơi các giai điệu đã từ lâu bị lãng quên tại quê hương họ. Thực sự, ở trong trại giống như bước vào một vùng đất cõi âm”.[467]

Thế hệ già hơn thường gặp rắc rối khi muốn hiểu các đồng bào trẻ tuổi của mình. Những đàn ông và phụ nữ từng chiến đấu bằng súng đạn ở trong rừng không thể hiểu được việc những người chống đối chỉ chiến đấu bằng mấy tờ giấy.[468] Nhưng người già vẫn có thể dùng tấm gương của mình để khích lệ người trẻ. Những cuộc gặp mặt như vậy giúp hình thành những con người, trong một thập kỷ sau, sẽ tổ chức các phong trào dân tộc chủ nghĩa mà cuối cùng đã giúp phá huỷ chính Liên bang Xôviết. Nhìn lại kinh nghiệm của mình, David Berdzenishvili, một nhà hoạt động người Gruzia, đã cho tác giả hay ông rất vui vì đã trải qua hai năm trong một trại lao động thập niên 1980 thay vì hai năm trong quân đội Liên Xô thập niên 1980.

Nếu bản thân mạng lưới đã dày dặn lên, các liên hệ với thế giới bên ngoài cũng vậy. Một ấn bản của tờ Thời sự in năm 1979 đã minh hoạ điều này rất rõ ràng, khi nội dung của nó, ngoài những điều khác, có một ghi chép hàng ngày về cuộc sống trong các khám trừng phạt của Perm-36:

13 tháng 9: Zhukauskas tìm thấy một con sâu trắng trong phần xúp của mình.

26 tháng 9: Anh tìm thấy một con côn trùng màu đen dài 1,5 cm trong bát mình. Việc phát hiện lập tức được báo cáo cho đại uý Nelipovich.

27 tháng 9: Trong khám phạt số 6 nhiệt độ đo được chính thức là 12 độ C.

28 tháng 9: Nhiệt độ buổi sáng trong phòng giam là 12 độ. Chăn phụ và quần độn bông được phát thêm. Lò sưởi được đặt trong phòng của lính gác trực. Buổi chiều nhiệt độ trong phòng giam là 11 độ.

1 tháng 10: 11,5 độ.

2 tháng 10: Một lò sưởi 500-watt được đặt trong phòng giam số 6 (Zhukauskas, Gluzman, Marmus). Nhiệt độ, cả sáng lẫn chiều, là 12 độ.

Zhukauskas được yêu cầu ký vào một tờ giấy trong đó sản lượng của anh bị ghi thấp hơn 10 lần so với thực tế. Anh đã từ chối…

10 tháng 10: Balkhanov từ chối tình nguyện tham gia một cuộc họp của Ban Giáo dục trại. Theo lệnh của Nikomarov anh bị dùng vũ lực buộc phải làm.

Và vân vân.

Chính quyền dường như bất lực trong việc ngăn chặn thứ thông tin như vậy tuôn ra – hay để ngăn chặn nó liên tục xuất hiện trên các đài phát thanh phương Tây, phát sóng chĩa vào Liên Xô. Năm 1983 việc bắt giữ Berdzenishvili được thông báo trên BBC chỉ hai tiếng đồng hồ sau khi nó xảy ra.[469] Ratushinskaya và các bạn cùng lán trong trại nữ ở Mordovia đã gửi cho Reagan một tin nhắn chúc mừng khi ông này thắng cử tổng thống Mỹ. Chỉ hai ngày sau ông đã nhận được nó. KGB, bà viết một cách vui vẻ, đã bị “gạt qua một bên”.[470]

Đối với những người ngoài nhạy cảm nhất dõi mắt nhìn qua viễn kính quan sát Liên bang Xôviết, sự tài tình nêu trên dường như có gì đó lạc điệu. Xét trên tất cả các mục tiêu thực tế, Andropov hoá ra là người đã chiến thắng trò chơi. Một thập kỷ gây phiền nhiễu, tống giam và bắt đi đày cưỡng bức đã giữ phong trào chống đối luôn ở mức yếu ớt và bị hạn chế. Hầu hết những nhà chống đối nổi tiếng đều bị bịt miệng: giữa thập niên 1980, Solzhenitsyn bị lưu đày ở nước ngoài, còn Sakharov bị lưu đày trong nước tại thành phố Gorky. Công an KGB ngồi ngay ngoài cửa nhà Roy Medvedev, theo dõi mọi hành vi của ông. Dường như không một ai ở Liên Xô để ý đến cuộc đấu tranh của họ. Peter Reddaway, có lẽ là chuyên gia hàn lâm phương Tây hàng đầu về bất đồng quan điểm ở Liên Xô thời kỳ ấy, đã viết vào năm 1983 rằng các nhóm chống đối “làm được rất ít hoặc không tác động được gì nhiều trong khối đông người dân bình thường ở trung tâm của nước Nga”.[471]

 Những kẻ ngu đần và lũ cai tù, đám bác sĩ vô lương và công an mật, tất cả dường như là an toàn và đáng yên tâm theo nghiệp họ đã chọn. Nhưng mặt đất đang rung chuyển dưới chân họ. Hoá ra, sự từ chối dứt khoát của Andropov đối với phong trào chống đối nhẫn nhịn không kéo dài được lâu. Khi ông chết năm 1984, chính sách đó cũng chết theo ông.

Được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 3/1985, tính cách của nhà lãnh đạo Xôviết mới, Mikhail Gorbachev, thoạt đầu có vẻ bí hiểm, cả đối với người nước ngoài lẫn với các đồng bào của ông. Dường như ông cũng khéo miệng và nhã nhặn như các quan chức Liên Xô khác – nhưng lại có những dấu vết hơi khác biệt. Vào mùa hè sau khi ông trúng cử, tác giả đã gặp một nhóm refusenik Leningrad phá ra cười trước sự ngây thơ của phương Tây: Làm sao chúng tôi có thể tin rằng chuyện có vẻ như Gorbachev thích whisky hơn vodka, và sự thán phục của vợ ông ta với quần áo phương Tây, lại có nghĩa là ông ta tự do hơn các vị tiền nhiệm?

Họ đã sai: ông có khác. Vào thời ấy, có rất ít người biết rằng, Gorbachev xuất thân từ một gia đình của “kẻ thù”. Một trong những người ông của ông, là nông dân, đã bị bắt và tống vào trại lao động năm 1933. Một người ông khác bị bắt năm 1938 và bị tra tấn trong tù đến gẫy cả hai tay vì một điều tra viên. Ảnh hưởng để lại lên anh thanh niên Mikhail là rất lớn, như sau này ông viết lại trong hồi ký: “Các hàng xóm bắt đầu tránh né ngôi nhà chúng tôi như tránh hủi. Chỉ đến đêm một số họ hàng gần mới dám mạo hiểm đến thăm. Thậm chí bọn trẻ hàng xóm cũng né tránh tôi… tất cả những điều ấy tạo ra một cú sốc lớn và mãi mãi khắc sâu trong tâm trí tôi kể từ ngày đó”.[472]

Tuy nhiên, sự nghi ngờ của đám refusenik không phải làm hoàn toàn không có căn cứ, bởi những tháng đầu tiên của thời kỳ Gorbachev rất đáng thất vọng. Ông tự lao mình vào chiến dịch chống uống rượu, làm mọi người tức giận, phá huỷ các vườn nho cổ tại Gruzia và Moldavia, và thậm chí có lẽ đã gây đến sự sụp đổ kinh tế diễn ra vài năm sau đó: một số người tin rằng sự sụp đổ của việc mua bán vodka đã phá huỷ vĩnh viễn trạng thái cân bằng tài chính mong manh của đất nước. Mãi tới tháng 4/1986, sau vụ nổ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ở Ukraina, Gorbachev mới sẵn sàng để có những thay đổi thực sự. Tin rằng Liên bang Xôviết cần nói công khai về các khó khăn của mình, ông đi đến một đề xuất cải tổ khác: glanost, hay “công khai”.

Thoạt đầu, glanost, giống như chiến dịch chống rượu, về bản chất là một chính sách kinh tế. Có lẽ, Gorbachev hy vọng rằng tranh luận công khai về các khủng hoảng rất hiện thực về kinh tế, sinh thái và xã hội của Liên bang Xôviết sẽ dẫn tới các giải pháp nhanh chóng, để tái xây dựng – perestroika – ông đã bắt đầu nói về nó trong các bài diễn văn của mình. Tuy nhiên, sau một khoảng thời gian ngắn đến kinh ngạc, glanost đã bắt đầu hướng về lịch sử Liên Xô.

Thực tế, khi diễn tả điều gì đã xảy ra đối với các tranh luận công cộng tại Liên bang Xô viết cuối thập niên 1980, ta luôn có khuynh hướng sử dụng đến lối ẩn dụ về một cơn lụt: như thể khi một con đập bị vỡ, một con đê bị thủng, hay một ống nước chính bị đứt. Tháng 1/1987, Gorbachev nói trước một nhóm nhà báo tò mò rằng các “khoảng trống” trong lịch sử Liên bang Xôviết sẽ được điền đầy. Đến tháng 11, quá nhiều thứ đã thay đổi đến nỗi Gorbachev trở thành lãnh đạo Đảng thứ hai trong lịch sử Liên Xô đề cập công khai đến các “khoảng trống” trong một bài diễn văn:

… việc thiếu dân chủ hoá phù hợp của xã hội Liên Xô có lẽ chính là điều đã tạo ra cả tệ sùng bái cá nhân lẫn việc vi phạm luật pháp, sự chuyên quyền và sự đàn áp trong thập niên 1930 – nói thẳng là tạo ra tội ác dựa trên việc lạm dụng quyền lực. Nhiều ngàn Đảng viên và người ngoài Đảng đã trở thành đối tượng bị đàn áp tập thể. Điều này, thưa các đồng chí, là một sự thật cay đắng.[473]

Gorbachev thực ra kém hùng biện hơn Khrushchev trước đây – nhưng tác động của ông lên đại quần chúng Liên Xô có lẽ là mạnh hơn nhiều. Bài diễn văn của Khrushchev, xét cho cùng, là kết thúc cho một cuộc hội nghị. Trong khi đó Gorbachev phát biểu trên truyền hình quốc gia.

Gorbachev cũng làm theo lời phát biểu của mình nhiệt tình hơn nhiều so với những gì Khrushchev đã thể hiện. Trong cơn sóng dâng trào, các “tiết lộ” mới bắt đầu xuất hiện trên báo chí Liên Xô hầu như hàng tuần. Cuối cùng, công chúng Liên Xô đã có cơ hội để đọc Osip Mandelstam và Joseph Brodsky, Bản Cầu hồn của Anna Akhmatova, Bác sĩ Zhivago của Boris Pasternak, thậm chí cả Lolita của Vladimir Nabokov. Sau một hồi đấu tranh, tạp chí Novyi Mir, giờ đây nằm dưới ban biên tập mới, bắt đầu xuất bản nhiều kỳ cuốn Quần đảo Gulag của Solzhenitsyn.[474] Một ngày trong cuộc đời của Ivan Denisovich mau chóng bán được hàng triệu bản, và các tác giả có tác phẩm trước đây từng chỉ lưu hành trong các cuốn samizdat, nếu có, nay bán được hàng trăm ngàn bản in hồi ký Gulag của mình. Một số đã trở thành các tên gọi quen thuộc như: Evgeniya Ginzburg, Lev Razgon, Anatoly Zhigulin, Varlam Shalamov, Dmitri Likhachev và Anna Larina.

Quá trình phục hồi danh dự cũng lại tiếp tục. Trong khoảng từ 1964 tới 1987, chỉ có hai mươi bốn người được phục hồi. Giờ đây – phần nào để đáp lại những tiết lộ tự phát trên báo chí – quá trình bắt đầu trở lại. Lần này, những người bị bỏ qua trong quá khứ đã được xét đến: Bukharin, cùng với mười chín vị lãnh đạo Bolshevik khác bị kết án tại các phiên toà thanh trừng năm 1938, là những người đầu tiên trong số đó. “Sự thật đã bị xuyên tạc”, một người phát ngôn của chính phủ long trọng tuyên bố.[475] Giờ đây sự thật sẽ được nói ra.

Văn học thời này đi kèm nhiều tiết lộ mới từ lưu trữ Liên Xô. Chúng có nguồn cả từ các sử gia Liên Xô đã (theo họ tuyên bố) nhận ra ánh sáng, cũng như từ Hội Ký ức. Hội Ký ức được lập bởi một nhóm các sử gia trẻ tuổi, một số đang thu thập ký ức bằng miệng của những người sống sót qua trại suốt nhiều năm trời nay. Trong số họ có Arseny Roginsky, người sáng lập tạp chí Pamyat (Ký ức), vốn ban đầu xuất hiện theo dạng samizdat, sau đó trong xuất bản của người lưu vong, ngay từ thập niên 1970. Và rồi, nhóm xung quanh Roginsky bắt đầu sưu tập dữ liệu về cuộc đàn áp. Sau này, Hội Ký ức cũng dẫn đầu cuộc chiến để xác minh các xác chết chôn dưới những ngôi mộ tập thể ngoại ô Moscow và Leningrad, và để xây tượng đài và đài kỷ niệm cho thời kỳ Stalin. Sau một cố gắng ngắn ngủi nhưng thất bại để tự biến mình thành một phong trào chính trị, Hội Ký ức cuối cùng xuất hiện trong thập niên 1990 như trung tâm quan trọng nhất nghiên cứu về lịch sử Liên Xô, cũng như để bảo vệ nhân quyền tại Liên bang Nga. Roginsky tiếp tục là người lãnh đạo Hội, và là một trong các sử gia nổi bật nhất. Các xuất bản lịch sử của Hội Ký ức mau chóng nổi tiếng trong giới nghiên cứu về Liên Xô trên khắp thế giới vì tính chính xác, độ trung thực của chúng đối với sự thật, và hồ sơ lưu trữ kỹ lưỡng, thận trọng của nó.[476]

Nhưng mặc dù việc thay đổi trong chất lượng các tranh luận công cộng đã tiến nhanh đến kinh ngạc, tình thế vẫn chưa đến mức thẳng thắn như những gì có vẻ đang diễn ra ở bên ngoài. Thậm chí cả khi ông đang giới thiệu các thay đổi sau này sớm dẫn đến sự sụp đổ của Liên bang Xôviết, thậm chí khi chứng cuồng “Gorbymania” quét qua nước Đức và nước Mỹ, Gorbachev vẫn tiếp tục, giống như Khrushchev, là một người tin tưởng sâu sắc vào chế độ Xôviết. Ông không bao giờ có ý định phủ nhận các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mácxít Liên Xô, hay các thành tích của Lenin. Ý định của ông luôn là cải tạo và hiện đại hoá Liên bang Xôviết, chứ không phải phá huỷ nó. Có lẽ bởi kinh nghiệm của chính gia đình ông, ông đã đi đến tin tưởng rằng điều quan trọng là nói sự thật về quá khứ. Nhưng hoá ra từ đầu ông đã không nhìn thấy mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại.

Vì lý do đó, việc xuất bản một số lớn bài viết về trại thời Stalin, nhà tù và các vụ hành quyết tập thể trong quá khứ đã không lập tức đi kèm việc thả tập thể những người chống đối đang ngồi tù. Đến cuối năm 1986 – mặc dù Gorbachev đang chuẩn bị bắt đầu nói về những “khoảng trống”, mặc dù Hội Ký ức đã bắt đầu công khai bàn bạc về việc xây dựng một tượng đài về sự đàn áp, mặc dù phần còn lại của thế giới bắt đầu phấn khích nói về giới lãnh đạo mới của Liên Xô – tổ chức Ân xá Quốc tế biết tên của 600 người tù vì nói thật vẫn còn trong trại Xôviết, và nghi ngờ vẫn còn nhiều người khác nữa.[477]

Một trong số họ là Anatoly Marchenko, người đã chết trong một cuộc tuyệt thực ở nhà tù Khristopol tháng 12 năm đó.[478] Vợ ông, Larisa Bogoraz, đến nhà tù để thấy có ba lính gác đang đứng canh bên xác ông, đã bị mổ phanh để khám nghiệm. Bà không được phép gặp bất cứ ai trong nhà tù – bác sĩ, các tù nhân khác, những cán bộ quản lý – ngoại trừ một sĩ quan chính trị tên là Churbanov, đối xử với bà rất thô lỗ. Ông ta từ chối cho bà biết Marchenko đã chết như thế nào, và không cấp cho bà giấy chứng tử, giấy phép chôn cất, hồ sơ tiền sử bệnh án và kể cả các thư từ và nhật ký của Marchenko. Cùng một nhóm bạn bè và ba người của nhà tù đi “hộ tống”, bà đưa Marchenko đến chôn trong nghĩa trang của thị trấn:

Quang cảnh thật hoang vắng, gió thổi mạnh, và không một ai quanh đấy ngoại trừ chúng tôi và đám hộ tống Tolya. Chúng nó có sẵn mọi thứ cần thiết trong tay, nhưng chúng hiểu rằng chúng tôi sẽ không để chúng lại gần hố huyệt nên chúng cứ đứng một bên “cho đến hết buổi lễ”, như lời của một thằng trong bọn. Bạn của Tolya nói vài lời vĩnh biệt bên huyệt. Rồi chúng tôi lấp đất – đầu tiên là ném bằng tay, sau đó là dùng xẻng…

Chúng tôi đựng một chữ thập bằng gỗ thông sơn trắng – tôi hy vọng rằng nó đã được làm bởi các tù nhân khác. Trên chữ thập tôi viết bằng viết bi “Anatoly Marchenko 23.1.1938 – 2.12.1986…”[479]

Mặc dù chính quyền bao bọc cái chết của Marchenko trong bí ẩn, Bogoraz sau này nói rằng họ không thể che dấu việc “Anatoly Marchenko đã chết trong chiến đấu. Cuộc chiến đấu của anh ấy kéo dài hai mươi lăm năm, và anh ấy chưa lần nào chịu vẫy cờ trắng đầu hàng”.[480]

Nhưng cái chết bi thảm của Marchenko không hoàn toàn là vô nghĩa. Có lẽ bị thúc đẩy bởi làn sóng phản đối của công chúng nổi lên quanh cái chết của ông – tuyên bố của Bogoraz được phát sóng trên khắp thế giới – Gorbachev cuối cùng đã quyết định, vào cuối năm 1986, ban lệnh tổng ân xá cho tất cả tù chính trị ở Liên Xô.

Có rất nhiều chuyện kỳ lạ xung quanh cuộc ân xá đã vĩnh viễn đóng cửa hệ thống nhà tù chính trị tại Liên bang Xôviết. Tuy nhiên, không có gì lạ hơn việc nó chỉ thu hút một lượng chú ý ít ỏi. Xét cho cùng, việc này là chấm dứt của Gulag, chấm dứt hệ thống trại từng có thời chứa hàng triệu con người. Đó là sự khải hoàn của phong trào nhân quyền, vốn đã tập trung quá nhiều sự chú ý về ngoại giao trong suốt hai thập kỷ. Đó là thời khắc thực sự của sự biến chuyển lịch sử – nhưng gần như chẳng có mấy ai chú ý.

Đám phóng viên Moscow đôi khi lao chệch ra khỏi lề viết nhưng, với một hay hai ngoại lệ, rất ít người viết sách về thời kỳ Gorbachev hay Yeltsin lại có đề cập chút ít đến những ngày cuối cùng của hệ thống trại tập trung. Thậm chí những người giỏi nhất trong số nhiều nhà văn và phóng viên tài năng sống tại Moscow vào cuối thập niên 1980 đều quá tập trung vào các sự kiện khác của thời này: các cố gắng vụng về để cải tổ nền kinh tế, cuộc bầu cử tự do lần đầu tiên, sự thay đổi chính sách đối ngoại, sự kết thúc của đế chế Xôviết tại Đông Âu, sự kết thúc của chính Liên bang Xôviết.[481]

Bị sao lãng bởi cùng những chủ đề trên, cũng không một ai ở nước Nga chú ý nhiều. Những người chống đối có tên tuổi nổi tiếng trong hoạt động ngầm nay quay trở về – và thấy mình không còn nổi tiếng nữa. Hầu hết bọn họ đều đã già, và đến lúc này đã không còn theo kịp thời đại nữa. Họ đã, theo lời của một nhà báo phương Tây có mặt ở nước Nga thời kỳ ấy, “tự tạo ra nghề nghiệp cho mình, gõ các đơn kiến nghị trên những máy đánh chữ cổ lỗ sĩ tại nhà nghỉ ngoại ô của mình, thách thức chính quyền trong khi nhắp thứ trà bỏ đường ngọt đến phi lý, trên người khoác cái áo choàng tắm. Họ không được tạo ra để chiến đấu tại quốc hội hay trên TV, và họ dường như bối rối sâu sắc về việc tổ quốc họ đã đột ngột thay đổi ra sao trong khi họ đi xa”.[482]

Hầu hết những người cựu chống đối còn được công chúng biết đến nay không chỉ tập trung vào số phận của những trại tập trung còn lại của Liên Xô nữa. Andrei Sakharov, được thả khỏi nơi lưu đày trong nước tháng 12/1986, được bầu làm Đại biểu Quốc hội năm 1989, mau chóng bị kích động bởi cuộc chuyển đổi quyền sở hữu tài sản.[483] Hai năm sau khi được thả, tù nhân người Armenia Levon Ter-Petrossian được bầu làm tổng thống nước ông. Một loạt người Ukraina và Baltic được rời thẳng từ trại ở Perm và Mordovia đến các nhà thương điên chính trị tại từng nước của mình, lớn tiếng khích động đòi độc lập.[484]

KGB thông báo rằng các nhà tù chính trị của mình đang được đóng cửa, tất nhiên – nhưng thậm chí dường như họ cũng khó có thể hiểu được tầm quan trọng. Đọc một vài tài liệu chính thức được công khai trong nửa cuối thập niên 1980, thật ấn tượng khi thấy ngôn ngữ của cơ quan công an mật thay đổi quá ít, thậm chí còn lạc hậu so với thời cuộc. Tháng 2/1986, Viktor Chebrikov, khi ấy là lãnh đạo KGB, đã tự hào nói tại một Đại hội Đảng là KGB đã thực hiện được một chiến dịch phản gián lớn. Ông nói, nó là cần thiết bởi “phương Tây đang lan truyền những dối trá về vi phạm nhân quyền để lan truyền khát vọng chống Liên Xô trong đám những kẻ phản bội như vậy”.[485]

Sau này trong cùng năm ấy, Chebrikov gửi một báo cáo tới Uỷ ban Trung ương mô tả việc cơ quan của ông tiếp tục cuộc chiến chống lại “các hoạt động của bọn gián điệp đế quốc, và các thành phần thù địch Liên Xô có liên hệ với chúng”. Ông cũng khoe rằng KGB đã thành công trong việc làm tê liệt các hoạt động của nhiều nhóm khác nhau, trong đó có uỷ ban giám sát Helsinki, và thậm chí đã, trong thời gian từ 1982 tới 1986, buộc “hơn 100 người rút khỏi việc hoạt động bất hợp pháp, quay về với con đường của luật pháp”. Một số người bọn họ – ông nêu tên chín người – thậm chí đã “có các tuyên bố công khai trên truyền hình và trên báo chí, lật mặt bọn điệp viên phương Tây và những kẻ suy nghĩ giống như chúng”.

Tuy nhiên, tại một vài dòng sau đấy, Chebrikov thừa nhận rằng mọi thứ có lẽ đã thay đổi. Ta phải đọc thật kỹ để hiểu được sự thay đổi thực sự đột ngột đến thế nào: “Tình trạng hiện nay của quá trình dân chủ hoá tất cả các mặt của xã hội, và sự củng cố việc thống nhất trong Đảng và trong xã hội, đã cho phép có thể xem xét lại vấn đề ân xá”.[486]

Trong thực tế, ý của ông là những người chống đối quá yếu đến nỗi họ không thể gây hại nhiều được nữa – và trong bất cứ trường hợp nào họ đều bị theo dõi, do ông đã nói tại một cuộc họp Bộ Chính trị trước đó, “chắc chắn rằng chúng không còn kiên gan đối với hoạt động thù địch nữa”.[487] Trong một phát biểu riêng ông nói thêm, gần như là giải thích, rằng theo tính toán của KGB, chín mươi sáu người đang bị giam giữ không cần thiết tại các bệnh viện tâm thần đặc biệt. Ông đề nghị rằng những ai trong số đó “không còn là mối nguy hiểm cho xã hội nữa” cũng nên được thả.[488] Uỷ ban Trung ương chấp thuận, và vào tháng 2/1987 nó tha 200 tù bị án hoặc theo Điều 70 hoặc theo Điều 190-1. Nhiều người khác được thả khỏi trại vài tháng sau để đánh dấu Thiên niên kỷ Thiên chúa giáo Nga. Hơn 2.000 người (một số lớn hơn nhiều con số chín mươi sáu) sẽ được thả khỏi các bệnh viện tâm thần trong hai năm kế tiếp.[489]

Nhưng thậm chí như vậy – có lẽ không đúng theo thói quen, có lẽ bởi nó thấy quyền lực của mình yếu dần đi cùng với việc giảm số tù – KGB dường như miễn cưỡng lạ lùng khi để tù chính trị đi. Bởi họ được thả theo đúng luật lệ chứ không phải được ân xá, các tù chính trị được thả trong năm 1986 và 1987 ban đầu bị yêu cầu phải ký một tờ giấy chấp nhận tự thoát ly khỏi hoạt động chống Xôviết. Hầu hết được phép tự viết theo cách của mình, lảng tránh việc xin lỗi: “Do sức khoẻ kém tôi sẽ không tham gia hoạt động chống Xôviết nữa”, hay “tôi không bao giờ là một người chống Xôviết, tôi là một người chống cộng, và không có luật nào cấm chống cộng cả”. Một người chống đối, Lev Timofeev, đã viết rằng “Tôi yêu cầu được thả. Tôi không có dự tính làm hại đất nước Xôviết, chứ đừng nói đến việc từng có ý định như vậy trước đây”.[490]

Tuy nhiên, những người khác bị yêu cầu, một lần nữa, phải từ bỏ niềm tin của mình, hay bị ra lệnh phải di cư sang nước khác.[491] Một tù người Ukraina được thả, nhưng bị đưa thẳng đến nơi lưu đày, tại đó ông bị giữ theo giờ giới nghiêm và phải báo cáo cho đồn cảnh sát một lần mỗi tuần.[492] Một người chống đối Gruzia phải ở thêm sáu tháng trong trại lao động của mình, đơn giản vì ông đã từ chối  đặt bút vào bất cứ giấy tờ gì mà KGB nghĩ ra.[493] Một người khác từ chối việc xin thả theo luật, “lấy lý do là ông đã không hề phạm tội gì”.[494]

Tiêu biểu của thời kỳ này là hoàn cảnh của Bohdan Klymchak, một kỹ thuật viên ở Ukraina, bị bắt vì tìm cách chạy khỏi Liên Xô. Năm 1978, sợ bị bắt vì tội theo chủ nghĩa dân tộc Ukraina, ông vượt qua biên giới Liên Xô vào Iran và đề nghị được tỵ nạn chính trị. Người Iran đưa ông quay trở lại. Tháng 4/1990, ông vẫn bị giam trong nhà tù chính trị ở Perm. Một nhóm nghị sĩ Mỹ tìm cách đến thăm ông ở đó, và phát hiện ra là điều kiện ở Perm hầu như không hề được thay đổi. Tù vẫn than phiền về cái lạnh tột độ, và vẫn bị tống vào khám trừng phạt vì những tội như từ chối cài nút áo trên của bộ đồng phục.[495]

Tuy nhiên, vừa cọ kẹt vừa hành xử kỳ quặc, vừa rên rỉ vừa than phiền, chế độ đàn áp cuối cùng đã phải dừng lại – cũng như toàn bộ hệ thống này. Thực ra, vào thời điểm các trại chính trị Perm cuối cùng bị đóng cửa vĩnh viễn tháng 2/1992, bản thân Liên bang Xôviết đã không còn tồn tại. Tất cả các nước cộng hoà cũ của Liên Xô đã trở thành các quốc gia độc lập. Một số trong đó – Armenia, Ukraina, Lithuania – có người đứng đầu là các cựu tù. Một số được đứng đầu bởi những đảng viên cộng sản cũ có niềm tin bị tan vỡ trong thập niên 1980, khi họ lần đầu tiên được thấy những bằng chứng về cuộc khủng bố trong quá khứ.[496] KGB và MVD, nếu không phải là bị giải thể, thì cũng đã được thay thế bởi các cơ quan khác hẳn. Các nhân viên công an mật bắt đầu đi tìm việc làm mới trong khu vực kinh tế tư nhân. Đám cai tù đã nhận ra ánh sáng, và khôn ngoan chuyển vào làm trong chính quyền địa phương. Quốc hội mới của nước Nga, vào tháng 11/1991, đã ban hành một “Tuyên ngôn về quyền và tự do của cá nhân”, theo đó đảm bảo, ngoài những điều khác, quyền tự do đi lại, tự do tín ngưỡng, và tự do được bất đồng với chính phủ.[497] Buồn thay, nước Nga mới đã không đi đến việc trở thành một tập hợp đa sắc tộc, có sự khoan hoà về tôn giáo và chính trị, nhưng đó lại là một câu chuyện riêng rẽ khác.

Những thay đổi diễn ra với tốc độ nhanh đến bối rối – và có vẻ như không ai có thể bối rối hơn chính người đã phát động quá trình làm tan rã Liên bang Xôviết. Bởi điều này, cuối cùng, chính là điểm không lường trước lớn nhất của Gorbachev: Khrushchev biết điều này, Brezhnev cũng biết – nhưng Gorbachev, người cháu của những “kẻ thù” và là tác giả của glanost, đã không nhận ra được rằng một cuộc tranh luận hoàn chỉnh và chân thành về quá khứ của Liên Xô cuối cùng sẽ đục khoét tính hợp pháp của sự thống trị Xôviết. “Chúng tôi giờ đây hình dung mục tiêu của mình rõ ràng hơn”, ông nói vào lễ Tất Niên năm 1989. “Đây là một chủ nghĩa xã hội nhân bản và dân chủ, một xã hội của tự do và công lý chung”.[498] Thậm chí đến khi ấy, ông vẫn không thể nhận thấy rằng “chủ nghĩa xã hội”, theo hình thức của Liên Xô, đang sắp sửa hoàn toàn biến mất.

Nhiều năm sau, ông cũng không thể nhận thấy mối liên hệ giữa các tiết lộ trên báo chí của thời kỳ glanost với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản Liên Xô. Đơn giản là, Gorbachev đã không nhận ra rằng ngay một khi sự thật về thời kỳ Stalinnít được kể, huyền thoại về sự vĩ đại của Liên Xô sẽ không thể giữ vững được. Có quá nhiều tàn bạo, quá nhiều máu đổ, và quá nhiều dối trá ở trong cả hai thứ nêu trên.

Nhưng nếu Gorbachev không hiểu nổi chính đất nước mình thì nhiều người khác lại hiểu. Hai mươi năm trước, người đã cho xuất bản Solzhenitsyn, Aleksandr Tvardovsky, đã cảm thấy sức mạnh của quá khứ bị che dấu, đã biết rằng hồi phục ký ức có thể gây ra chuyện gì đối với hệ thống Xôviết. Ông đã mô tả cảm giác của mình trong một bài thơ:

Họ sai khi nghĩ rằng ký ức

Không phải một giá trị tăng dần

Hay màn tang thời gian đã khép

Trên mọi sự thật hay quá khứ đau thương.

Rằng trái đất vẫn không ngừng quay,

Đo hết năm, tháng, ngày…

Không. Giờ đây mệnh lệnh là tất cả

Rằng phải nói hết những gì đã không được nói…[499]

 

Phần kết: Ký ức

 

Còn bọn giết người? Bọn giết người vẫn sống…

– Lev Razgon, Nepridumannoe, 1989[500]

 

Đầu thu năm 1998, tác giả đã đi một chuyến tàu dọc theo Bạch Hải, từ thành phố Arkhangelsk tới quần đảo Solovetsky. Đó là chuyến tàu cuối cùng trong mùa hè: sau thời điểm giữa tháng Chín, khi ban đêm miền Cực Bắc trở nên dài ra, tàu thuyền sẽ ngưng không đi theo tuyến đó nữa. Biển trở nên quá hung dữ và nước quá băng giá để cho phép du hành trong đêm.

Có lẽ việc biết rằng đây là cuối mùa đã tạo ra một nỗi hân hoan trong chuyến đi. Hay có lẽ các hành khách đơn giản là phấn khích khi được ra ngoài biển. Bất kể là lý do gì, phòng ăn trên tàu ồn ào tiếng chúc mừng nhau. Có nhiều đợt chúc rượu, nhiều chuyện đùa, và tràng vỗ tay hoan nghênh viên thuyền trưởng thật cảm động. Bạn cùng bàn ăn với tác giả, hai cặp trung niên đến từ một căn cứ hải quân dọc bờ biển, dường như đã có một khoảng thời gian đẹp.

Ban đầu, sự có mặt của tác giả chỉ góp thêm vào niềm vui chung của họ. Không phải ngày nào cũng gặp một người Mỹ thực thụ trên một chuyến tàu khách ọp ẹp ngay giữa Bạch Hải, và sự hiếu kỳ đã làm họ thấy vui thích. Họ muốn biết tại sao tác giả biết nói tiếng Nga, tác giả nghĩ gì về nước Nga, nó khác nước Mỹ như thế nào. Tuy nhiên, khi tác giả nói với họ mình đang làm gì ở Nga, họ tỏ ra kém vui hẳn. Một người Mỹ trên một chuyến đi thú vị, tới thăm đảo Solovetsky để ngắm cảnh và tham quan cụm tu viện cổ tuyệt đẹp – đó là một chuyện. Một người Mỹ đến thăm đảo Solovetsky để xem di tích của trại tập trung – lại là điều gì đó khác hẳn.

Một trong những người đàn ông trở nên thù địch. “Tại sao người nước ngoài các cô chỉ quan tâm về những điều xấu xa trong lịch sử nước tôi?” ông ta muốn biết. “Tại sao lại viết về Gulag? Sao không viết về các thành tựu của chúng tôi? Chúng tôi là đất nước đầu tiên đưa người lên không gian!” Bằng từ “chúng tôi” ý ông ấy muốn nói “người Xôviết chúng tôi”. Liên bang Xôviết đã thôi không tồn tại từ bảy năm trước, nhưng ông vẫn tự xác định mình là một công dân Liên Xô, không phải là một người Nga.

Vợ ông ấy cũng công kích tác giả. “Gulag không còn phù hợp chút nào nữa”, bà ấy nói với tác giả. “Chúng tôi có các rắc rối khác tại đây. Chúng tôi có thất nghiệp, chúng tôi có tội phạm. Tại sao cô không viết về những vấn đề thật của chúng tôi, thay vì những điều xảy ra đã lâu lắm rồi?”

Trong khi cuộc nói chuyện không dễ chịu ấy tiếp diễn, cặp bên kia giữ im lặng, và người đàn ông không bao giờ tỏ ý kiến của mình về chủ đề quá khứ Xôviết. Tuy nhiên, có một lúc, bà vợ ông này tỏ vẻ ủng hộ. “Tôi hiểu tại sao cô muốn biết về trại”, bà nhẹ nhàng nói. “Thật thú vị khi biết điều gì đã xảy ra. Tôi ước mình biết về nó nhiều hơn”.

Trong chuyến đi sau đó của tác giả quanh nước Nga, tác giả đã gặp cả bốn thái độ trên đối với dự án của mình hết lần này đến lần khác. “Đấy không phải việc của cô”, và “Không phù hợp” là hai phản ứng phổ biến. Im lặng – hay không hề có ý kiến, thể hiện bằng việc nhún vai – có lẽ là phản ứng thường gặp nhất. Nhưng cũng có những người hiểu tầm quan trọng tại sao phải biết về quá khứ, và những người ước được thuận lợi tìm hiểu nhiều hơn.

Trong thực tế, với một vài cố gắng, ta có thể biết rất nhiều về quá khứ tại nước Nga ngày nay. Không phải tất cả các văn khố ở Nga đều bị đóng, và không phải tất cả các sử gia Nga đều tập trung vào những chuyện khác: bản thân cuốn sách này là bằng chứng về khối lượng khổng lồ các thông tin mới có thể tiếp cận được. Câu chuyện về Gulag cũng là một phần trong tranh luận công cộng tại một số nước cộng hoà cũ của Liên Xô và các quốc gia cựu đồng minh của Liên Xô. Tại một số ít quốc gia – như thành quy luật, những ai ghi nhớ thường là chính nạn nhân nhiều hơn là các thủ phạm gây ra nỗi sợ hãi – các tượng đài và tranh luận là rất đáng chú ý. Người Lithuania đã đổi trụ sở KGB cũ ở ở Vilnius thành một bảo tàng các nạn nhân của tội diệt chủng. Người Latvia biến một bảo tàng cũ thời Liên Xô, từng dùng cho “Hội Xạ thủ Hồng quân” Latvia, thành một bảo tàng về cuộc chiếm đóng Latvia.

Tháng 2/2002, tác giả có tham dự buổi khai trương một bảo tàng Hungary mới, đặt tại toà nhà vốn vừa là trụ sở của phong trào phát xít Hungary từ 1940 tới 1945, vừa là trụ sở của cơ quan công an mật Hungary cộng sản từ 1945 tới 1956. Trong phòng trưng bày đầu tiên, một loạt màn hình TV chiếu các đoạn tuyên truyền của bọn phát xít ở một bên tường. Một loạt TV khác chiếu các tuyên truyền của đảng cộng sản ở tường bên kia. Hiệu ứng thật tức thì và gây xúc động, đúng như người ta đã dự tính, và phần còn lại của bảo tàng tiếp tục theo kiểu ấy. Sử dụng hình ảnh, âm thanh, các đoạn video và rất ít từ ngữ, những nhà tổ chức bảo tàng hướng một cách không hề biện hộ các nội dung trưng bày của nó tới những người còn quá trẻ để nhớ về cả hai chế độ kể trên.

Tại Belarus, trái lại, việc thiếu một tượng đài đã trở thành đề tài chính trị chủ yếu: mùa hè năm 2002, vị tổng thống độc tài, Aleksandr Lukashenka, vẫn lớn tiếng tuyên bố ý định của mình cho xây dựng một đường cao tốc băng qua địa điểm từng xảy ra cuộc tàn sát tập thể năm 1937 ở ngoại ô thủ đô Minsk. Lập luận của ông đã kích thích phe đối lập và châm ngòi cho một cuộc tranh luận dữ dội hơn về quá khứ.

Rải rác khắp chính nước Nga là một số tượng đài không chính thức, bán chính thức và tư nhân, được dựng lên bởi rất nhiều loại người và tổ chức khác nhau. Trụ sở của Hội Ký ức ở Moscow có lưu một bộ văn khố về các hồi ức kể miệng và viết tay, cũng như một bảo tàng nhỏ trưng bày, ngoài các thứ khác, một bộ sưu tập tuyệt vời các đồ nghệ thuật do tù làm. Bảo tàng Andrei Sakharov, cũng nằm tại Moscow, cũng đã trưng bày và triển lãm về thời kỳ Stalinnít. Ở ngoại ô của nhiều thành phố – Moscow, St Petersburg, Tomsk, Kiev, Petrozavodsk – các chi nhánh địa phương của Hội Ký ức và những tổ chức khác đã dựng nhiều tượng đài để đánh dấu các hố chôn tập thể, những khu vực có tàn sát hàng loạt năm 1937 và 1938.

Cũng có những nỗ lực mạnh mẽ hơn. Vành đai các mỏ khai thác than quanh Vorkuta, mỗi nơi là một lagpunkt cũ, lấm chấm những thập giá, tượng và các đài kỷ niệm, được dựng bởi các nạn nhân người Lithuania, Ba Lan và Đức từng sống trong trại Vorkuta. Bảo tàng lịch sử địa phương thành phố Magadan có nhiều phòng dành cho lịch sử Gulag, bao gồm cả một tháp canh trại; trên ngọn đồi nhìn xuống thành phố, một điêu khắc gia nổi tiếng người Nga đã xây một tượng đài cho cái chết ở Kolyma, thể hiện biểu tượng của tất cả những đức tin mà họ đã theo. Một căn phòng âm vào bức tường của tu viện Solovetsky, bản thân tu viện giờ đang là một bảo tàng, trưng bày các bức thư của tù, ảnh chụp và từng mảnh trong hồ sơ lưu trữ; bên ngoài, một hàng cây được trồng để tưởng nhớ những người đã mất tại Solovetsky. Tại trung tâm của Syktyvkar, thủ đô nước cộng hoà Komi, các lãnh đạo địa phương và chi nhánh địa phương của Hội Ký ức đã xây dựng một nhà nguyện nhỏ. Một số tên tuổi tù nhân được liệt kê bên trong đó, chủ ý lựa chọn để thể hiện nhiều quốc tịch trong Gulag: Lithuania, Triều Tiên, Do Thái, Trung Hoa, Gruzia, Tây Ban Nha.

Thật kỳ lạ và đáng ngạc nhiên, các đài kỷ niệm của cá nhân đôi khi có thể tìm thấy ở những nơi cách xa đường xá. Một thập giá bằng thép được cắm trên ngọn đồi cằn cỗi bên ngoài thành phố Ukhta, trụ sở cũ của Ukhtpechlag, để tưởng nhớ nơi hành quyết tập thể tù nhân. Để xem nó, tác giả đã phải lái xe dọc một con đường bùn lầy gần như không thể đi được, đi bộ vòng qua một khu đất xây dựng và trèo qua một tuyến đường sắt. Thậm chí đến lúc đó tác giả vẫn còn quá xa để có thể đọc được dòng chữ ghi ở trên. Tuy vậy, những nhà hoạt động địa phương đã dựng thập giá này rất tự hào vì nó.

Cách vài giờ về phía bắc của Petrozavodsk, một đài kỷ niệm đặc biệt khác được dựng bên ngoài khu làng Sandormokh. Hay có lẽ, trong trường hợp này, chữ “đài kỷ niệm” là không đúng. Mặc dù ở đó có một tấm bảng tưởng niệm cũng như nhiều thập giá bằng đá dựng bởi người Ba Lan, người Đức và người các nước khác, Sandormokh – nơi tù từ đảo Solovetsky bị xử bắn năm 1937, tu sĩ Pavel Florensky nằm trong số đó – thật đáng nhớ bởi các thập giá làm bằng tay cảm động đến kỳ lạ và những bia tưởng niệm cá nhân. Bởi không có ghi chép lưu trữ nào cho biết ai đã được chôn tại đây, mỗi gia đình đã tự chọn bừa mỗi đụn xương riêng để làm nơi tưởng nhớ. Gia đình của các nạn nhân đã dán ảnh chụp người thân của họ, mất đã lâu, lên các cọc gỗ, một vài người còn tạc văn bia lên hai bên. Ruy băng, hoa nhựa và các đồ trang trí tang chế khác được rải khắp khu rừng thông mọc trên bãi đất hành quyết. Vào cái ngày tháng Tám ngập nắng mà tác giả đến đây – nhân lễ kỷ niệm cuộc giết chóc, có một đoàn đại biểu từ St Petersburg đến – một cụ bà đứng dậy kể về cha mẹ bà, cả hai đều bị chôn tại đây, cả hai bị bắn khi bà mới bảy tuổi. Cả một cuộc đời trôi qua trước khi bà có thể tới bên mộ của họ.

Một dự án lớn khác đã được định hình bên ngoài thành phố Perm. Ở một bên của Perm-36, từng là lagpunkt thời Stalin, sau này trở thành một trong những trại chính trị khắc nghiệt nhất thập niên 1970 và 1980, một nhóm sử gia địa phương đã cho xây một bảo tàng đầy đủ quy mô, bảo tàng duy nhất thực sự nằm bên trong các lán ở của một trại cũ. Với nguồn quỹ của riêng mình, các nhà sử học đã xây lại khu trại, các lán ở, những bức tường, hàng rào thép gai cùng tất cả kèm theo. Họ thậm chí còn đi xa hơn khi lập ra một doanh nghiệp đốn gỗ nhỏ, sử dụng chính mớ máy móc rỉ sét hư hỏng của trại, để lấy tiền trả cho dự án này. Mặc dù họ không có được nhiều hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương, họ lại thu hút được tài trợ của Tây Âu và Mỹ. Đầy tham vọng, giờ đây họ muốn khôi phục lại hai mươi lăm công trình cũ, sử dụng bốn trong số đó để làm một bảo tàng lớn hơn về sự đàn áp.

Nhưng – tại nước Nga, một đất nước đã quen với các tượng đài chiến tranh khổng lồ và những tang lễ quốc gia trọng thể, hoành tráng, những cố gắng địa phương và sáng kiến cá nhân kiểu đó dường như thật xoàng xĩnh, lẻ mẻ và thiếu hoàn chỉnh. Phần đông người Nga có lẽ thậm chí còn không biết gì về chúng. Và cũng chẳng đáng ngạc nhiên: mười năm sau khi Liên Xô sụp đổ, nước Nga, đất nước thừa kế di sản chính sách ngoại giao và đối ngoại của Liên Xô, các sứ quán của nó, nợ nần của nó và chiếc ghế của nó tại Liên Hiệp quốc, vẫn tiếp tục hành xử như thể nó đã không thừa kế lịch sử của Liên bang Xôviết. Nước Nga không hề có một bảo tàng quốc gia dành cho lịch sử đàn áp. Nước Nga cũng không có một địa điểm quốc gia dành cho tưởng nhớ, một tượng đài chính thức nhìn nhận nỗi đau khổ của các nạn nhân và gia đình của họ. Trong suốt thập niên 1980, người ta đã tổ chức nhiều cuộc thi thiết kế mẫu tượng đài như vậy, nhưng chẳng đi đến đâu. Hội Ký ức chỉ thành công trong việc đem một hòn đá từ đảo Solovetsky – nơi khởi đầu của Gulag – và đặt nó tại trung tâm Quảng trường Dzerzhinsky, phía trước Lubyanka.[501]

Tuy nhiên, đáng kể hơn việc thiếu tượng đài là việc công chúng thiếu nhận thức. Đôi khi, dường như thể các cảm xúc và sự giận dữ mạnh mẽ khơi lên bởi những tranh luận rộng khắp về thời kỳ Gorbachev đơn giản là đã tan biến cùng với bản thân Liên Xô. Cuộc tranh luận cay đắng về công lý cho các nạn nhân biến mất cũng đột ngột như vậy. Mặc dù đã có nhiều trao đổi về nó vào cuối thập niên 1980, chính phủ Nga chưa bao giờ điều tra hay xét xử các thủ phạm tra tấn hay giết người hàng loạt, thậm chí cả những người đã được xác định rõ ràng. Đầu thập niên 1990, một trong những người đã thực hiện vụ Katyń thảm sát các sĩ quan Ba Lan vẫn đang còn sống. Trước khi ông ta chết, KGB đã tiến hành phỏng vấn ông ta, yêu cầu ông ta giải thích – theo quan điểm về kỹ thuật – cuộc giết người đã được thực hiện như thế nào. Như một cử chỉ có thiện chí, một cuộn băng ghi lại cuộc phỏng vấn đã được chuyển cho tuỳ viên văn hoá Ba Lan tại Moscow. Vào lúc đó không một ai có đề nghị rằng phải đưa con người kia ra toà, tại Moscow, Warsaw hay bất cứ đâu.

Tất nhiên, đúng là xét xử không phải lúc nào cũng là cách tốt nhất để ứng xử với quá khứ. Trong những năm sau Thế Chiến thứ II, Tây Đức đã đưa 85.000 tên Quốc xã ra toà, nhưng chỉ chưa tới 7.000 tên bị kết tội. Các phiên toà bị mua chuộc hối lộ ầm ĩ, và dễ dàng bị tác động bởi các ganh ghét và tranh cãi cá nhân. Bản thân Phiên toà Nuremberg là một ví dụ về “công lý của kẻ thắng trận” bị phá hỏng bởi tính hợp pháp đáng ngờ và sự cọc cạch, ít nhất chưa kể đến sự có mặt của các thẩm phán Liên Xô vốn biết rất rõ rằng phe bên họ cũng phải chịu trách nhiệm về các cuộc thảm sát hàng loạt.

Nhưng có các phương cách khác, ngoài việc xét xử, để thực hiện công lý chung đối với những tội ác trong quá khứ. Lấy ví dụ, đó là các uỷ ban sự thật, theo kiểu được thực hiện ở Nam Phi, cho phép các nạn nhân của quá khứ kể câu chuyện của mình tại một nơi chính thức công khai, và khiến các tội ác trong quá khứ như một phần của tranh luận công khai. Đó là các cuộc điều tra chính thức, giống như của Nghị viện Anh năm 2002 điều tra vụ thảm sát “Ngày chủ nhật đẫm máu” ở Bắc Ailen, vốn đã diễn ra ba mươi năm trước đấy. Đó là những cuộc điều tra của chính phủ, các uỷ ban chính phủ, những xin lỗi công khai – nhưng chính phủ Nga chưa bao giờ cân nhắc đến một trong bất kỳ chọn lựa nào nêu trên. Ngoài “phiên toà” ngắn ngủi bỏ lửng không kết luận để xét xử Đảng Cộng sản, trong thực tế không hề có cuộc hội nghị công khai nói thật nào tại Nga, không có điều trần trước quốc hội, không có điều tra chính thức hay bất cứ hình thức nào đối với việc giết người hay tàn sát hay với hệ thống trại của Liên Xô.

Kết quả là: đã nửa thế kỷ sau khi chiến tranh kết thúc, người Đức vẫn tiến hành các tranh luận công khai thường xuyên về đền bù cho nạn nhân, về đài tưởng niệm, về những cách lý giải mới về lịch sử Quốc xã, thậm chí cả về việc các thế hệ trẻ người Đức có nên tiếp tục gánh đỡ gánh nặng tội ác của bọn Quốc xã hay không. Nửa thế kỷ sau khi Stalin chết, không hề có tranh luận nào tương tự được tiến hành ở nước Nga, bởi ký ức về quá khứ không phải là một phần sống động của những buổi nói chuyện công cộng.

Quá trình phục hồi có tiếp tục, rất lặng lẽ, trong suốt thập niên 1990. Đến cuối năm 2001, khoảng 4,5 triệu tù chính trị đã được phục hồi danh dự tại Nga, và uỷ ban phục hồi quốc gia cho rằng nó có hơn nửa triệu trường hợp nữa cần được xem xét. Các nạn nhân – hàng trăm ngàn, có khi nhiều hơn hàng triệu người – những người chưa bao giờ bị kết án tất nhiên sẽ bị loại khỏi quá trình này.[502] Nhưng trong khi bản thân uỷ ban này nghiêm túc và có dự định tốt, và trong khi nó bao gồm cả những người sống sót từ trại cùng các quan chức, không một ai cộng tác với nó thực sự cảm thấy rằng những chính trị gia lập ra nó có động cơ thực sự theo hướng “sự thật và hoà giải”, theo lời của sử gia người Anh Catherine Merridale. Đúng hơn, mục tiêu vốn là để chấm dứt tranh luận về quá khứ, để làm yên các nạn nhân bằng cách ném cho họ thêm vài rúp và vé xe buýt miễn phí, và để tránh bất cứ điều tra nào sâu hơn về nguyên nhân của chủ nghĩa Stalinnít hay về di sản của nó.

Có một số cách giải thích hợp lý, hoặc ít nhất là có thể tha thứ được, về sự im lặng công cộng đó. Hầu hết người Nga thực sự phải dành hết thời gian của mình để đối phó với sự biến đổi hoàn toàn về kinh tế và xã hội. Thời kỳ Stalin đã qua từ lâu, và đã có quá nhiều việc xảy ra kể từ khi nó kết thúc. Nước Nga hậu cộng sản không phải là nước Đức thời hậu chiến, nơi ký ức về các tội ác tồi tệ nhất vẫn còn tươi rói trong tâm trí mọi người. Vào đầu thế kỷ 21, các sự kiện xảy ra giữa thế kỷ 20 dường như là lịch sử cổ đại đối với hầu hết dân chúng.

Có lẽ gần đúng hơn cả là, nhiều người Nga cảm thấy họ cũng đã có tranh luận về quá khứ rồi, và rằng nó đem lại không gì nhiều. Ít nhất, khi ta hỏi những người Nga lớn tuổi, tại sao chủ đề về Gulag lại ít được đề cập ngày nay, họ liền lảng tránh vấn đề: “Vào năm 1990, đó là tất cả những gì chúng tôi bàn luận đến, giờ đây chúng tôi không cần phải nói thêm về nó nữa”. Để làm vấn đề phức tạp hơn, trong tâm trí của rất nhiều người, nói về Gulag và sự đàn áp thời Stalin đã bị lẫn lộn với “những kẻ cải cách dân chủ” đã khơi mào cuộc tranh luận về quá khứ thời Xôviết. Bởi thế hệ các nhà lãnh đạo chính trị đó giờ đây bị xem là đã sai lầm – thời kỳ quản lý đất nước của họ được nhớ đến bởi tham nhũng và hỗn loạn – tất cả những bàn luận về Gulag đều ít nhiều bị lây phần xấu xa.

Câu hỏi về việc nhớ đến hay ghi nhớ sự đàn áp chính trị cũng bị làm lẫn lộn bởi sự hiện diện của quá nhiều nạn nhân khác của quá nhiều bi kịch khác của Liên Xô. “Để làm vấn đề phức tạp thêm”, Catherine Merridale viết, “một số hết sức đông người liên tục phải chịu đau khổ; họ có thể tự mô tả mình vừa là cựu chiến binh, vừa là nạn nhân của đàn áp, vừa là trẻ em của thời đàn áp và thậm chí là người sống sót qua nạn đói”.[503] Có khá nhiều đài kỷ niệm người chết vì chiến tranh, đến nỗi dường như một số người Nga cảm thấy: Chẳng lẽ như thế còn chưa đủ?

Nhưng có những lý do khác, ít đáng tha thứ hơn, giải thích cho sự im lặng thăm thẳm. Nhiều người Nga xem sự sụp đổ của Liên bang Xôviết như một cú đấm mạnh vào lòng tự hào cá nhân của họ. Giờ đây họ cảm thấy, có lẽ hệ thống cũ là xấu, nhưng ít nhất chúng ta có quyền lực. Còn giờ đây chúng ta thật yếu ớt, chúng ta không muốn nghe nói rằng nó xấu nữa. Như thế thật quá đau đớn, giống như thể nói về bệnh tật của người đã khuất vậy.

Tuy vậy, một số vẫn sợ với những gì họ có thể nhận ra về quá khứ, nếu người ta điều tra quá sâu. Năm 1998, nhà báo Mỹ gốc Nga Masha Gessen đã mô tả cảm giác ra sao khi phát hiện ra rằng một trong những người bà của cô, một cụ bà Do Thái dễ mến, đã từng là một kiểm duyệt viên, chịu trách nhiệm sửa đổi các báo cáo của phóng viên nước ngoài trú tại Moscow. Cô cũng phát hiện ra rằng một người bà khác của mình, cũng là một cụ bà Do Thái dễ mến, từng nộp đơn xin làm việc cho công an mật. Cả hai đã quyết định lựa chọn vì tuyệt vọng chứ không phải vì niềm tin. Giờ đây, cô viết, cô đã biết tại sao thế hệ của cô kiềm chế không lên án quá nghiêm khắc thế hệ cha ông mình: “Chúng tôi không vạch trần họ, chúng tôi không xét xử họ, chúng tôi không lên án họ… chỉ vì khi hỏi các câu hỏi như vậy mỗi người chúng tôi đều có nguy cơ phản bội lại những người mà mình yêu thương”.[504]

Aleksandr Yakovlev, chủ tịch uỷ ban phục hồi Nga, đặt vấn đề này có phần thẳng thừng hơn. “Xã hội đã thờ ơ với các tội ác trong qua khứ”, ông nói với tác giả, “bởi quá nhiều người đã tham gia vào đó”.[505] Hệ thống Xôviết đã lôi hàng triệu hàng triệu công dân của nó vào nhiều hình thức cộng tác và thoả hiệp khác nhau. Mặc dù nhiều người đã tình nguyện tham gia, mặt khác có nhiều người tử tế cũng bị buộc phải làm những điều kinh khủng. Họ, con cái của họ và cháu chắt của họ giờ này không phải lúc nào cũng muốn nhớ đến điều đó.

Nhưng cách giải thích quan trọng nhất về việc thiếu tranh luận công cộng không liên quan đến nỗi sợ của thế hệ trẻ, hay đến tình cảm lẫn lộn vừa muốn được công nhận vừa sợ bị lăng nhục và tội lỗi quá khứ của cha mẹ họ. Vấn đề quan trọng nhất là quyền lực và uy tín của những người giờ đây đang cai trị không chỉ ở nước Nga, mà cả ở hầu hết những quốc gia hậu Liên Xô khác và các đồng minh cũ của nó. Tháng 12/2001, kỷ niệm mười năm sự kiện Liên bang Xôviết tan rã, mười ba trong số mười lăm nước cộng hoà Xôviết cũ đang được điều hành bởi các cựu đảng viên cộng sản, cũng như nhiều quốc gia cựu đồng minh khác, gồm cả Ba Lan, đất nước từng cung cấp hàng trăm ngàn tù nhân cho hệ thống trại và làng lưu đày Liên Xô. Thậm chí ngay tại các quốc gia không thực sự được điều hành bởi các hậu duệ ý thức hệ trực tiếp của Đảng Cộng sản, những cựu đảng viên và con cháu họ hay những kẻ phiêu lưu cũng vẫn tiếp tục có mặt trong phần lớn tầng lớp trí thức, truyền thông và doanh nhân thượng lưu. Tổng thống Nga, Vladimir Putin, một cựu nhân viên KGB, đã tự hào nhận mình là một “Chekist”. Trước đấy, khi đang còn làm Thủ tướng Nga, Putin đã chủ đích đến thăm trụ sở KGB tại Lubyanka, nhân lễ kỷ niệm thành lập Cheka, tại đó ông đã gắn một tấm biển để tưởng nhớ Yuri Andropov.[506]

Sự thống trị của các cựu đảng viên và sự tranh luận thiếu hiệu quả về quá khứ trong thế giới hậu cộng sản không phải ngẫu nhiên mà trùng khớp. Nói thẳng là, các cựu đảng viên cộng sản có mối quan tâm rõ ràng trong việc che dấu quá khứ: nó làm vấy bẩn họ, làm hại thanh danh họ, ảnh hưởng đến tuyên bố của họ về thực hiện “cải tổ”, thậm chí cả khi cá nhân họ không liên quan gì với các tội ác trong quá khứ. Tại Hungary, Đảng Cộng sản cũ, được đổi tên thành Đảng Xã hội chủ nghĩa, đã phải cay đắng chống lại việc thành lập bảo tàng về nạn nhân của khủng bố. Khi Đảng Cộng sản cũ, đổi tên thành Dân chủ Xã hội, được bầu lên nắm quyền tại Ba Lan năm 2001, nó lập tức cắt kinh phí cho Viện Ký ức Quốc gia Ba Lan, được lập bởi các tiền bối trung tả của nó. Có nhiều, rất nhiều lý do bào chữa được đưa ra đối với thất bại của nước Nga trong việc xây dựng một tượng đài quốc gia dành cho hàng triệu nạn nhân của nó, nhưng lại là Aleksandr Yakovlev đã cho tác giả lời giải thích cô đọng nhất. “Tượng đài sẽ được xây”, ông nói, “khi nào chúng tôi – thế hệ già – đã chết hết”.

Vấn đề là: thất bại trong việc nhận thức, hối hận hay tranh luận về lịch sử của quá khứ cộng sản đã đè nặng như đá tảng lên nhiều quốc gia hậu cộng sản ở Châu Âu. Việc lan truyền các xì xầm về nội dung những “hồ sơ mật” cũ tiếp tục xâm hại nền chính trị đương đại, làm lung lay ít nhất một vị thủ tướng Ba Lan và một thủ tướng Hungary. Các thoả thuận thực hiện trong quá khứ, giữa những Đảng cộng sản anh em, tiếp tục đâm rễ rẽ nhánh trong hiện tại. Ở nhiều nơi, các cơ quan công an mật – lực lượng nòng cốt, trang bị, trụ sở văn phòng – vẫn còn hoàn toàn không thay đổi. Việc thỉnh thoảng khám phá ra những hố đầy xương có thể thình lình châm ngòi cho các tranh cãi và giận dữ.[507]

Quá khứ này đè nặng nhất lên nước Nga. Nước Nga thừa hưởng gia tài của chế độ Xô viết – cùng với tổ hợp sức mạnh vĩ đại, cơ sở quân sự và các mục tiêu đế quốc của Liên bang Xôviết. Kết quả là, hậu quả chính trị của việc thiếu ký ức ở nước Nga gây tổn hại nhiều hơn nhiều so với các quốc gia cộng sản cũ khác. Hành động nhân danh đất mẹ Xôviết, Stalin đã cho đày dân tộc Chechen tới vùng Kazakhstan hoang vu, tại đó phân nửa bọn họ đã chết và số còn lại được chờ đợi là sẽ biến mất cùng với ngôn ngữ và văn hóa của họ. Năm mươi năm sau, trong một hành động lặp lại, Liên bang Nga đã xóa sạch thủ đô Grozny của Chechen, và giết chết hàng chục ngàn dân thường Chechen trong quá trình hai năm chiến tranh. Nếu nhân dân Nga và giới thượng lưu Nga có nhớ – nhớ đến tận tâm can và thật rung cảm – những gì Stalin đã từng làm đối với người Chechen, họ hẳn đã không xâm lược Chechnya vào thập niên 1990, không một lần và không lần thứ hai. Làm như thế về đạo đức cũng giống như thể nước Đức thời hậu chiến lại đi xâm lược miền tây Ba Lan vậy. Rất ít người Nga nhìn nhận theo hướng đó – bản thân điều này là bằng chứng cho thấy họ biết ít ra sao về lịch sử của chính mình.

Cũng có những hậu quả đối với sự hình thành xã hội dân sự nước Nga, và với sự phát triển của việc cai trị bằng luật pháp. Nói thẳng là, nếu bọn vô lại của chế độ cũ cứ nhơn nhơn không bị trừng phạt, cái thiện sẽ chẳng bao giờ thắng được cái ác ở bất cứ khía cạnh nào. Nghe thì có vẻ như lên lớp, nhưng không phải là không thích hợp về mặt chính trị. Công an không cần phải bắt được tất cả bọn tội phạm mọi lúc mọi nơi để phần lớn mọi người chịu tuân phục theo trật tự chung, nhưng họ cần bắt được một lượng đáng kể. Không có gì khích lệ chuyện vô luật pháp hơn là cảnh bọn xấu nhẹ nhàng chuồn mất, sống phởn phơ với của cướp được và cười nhạo vào mặt quần chúng. Đám công an mật vẫn giữ được căn hộ của họ, nhà nghỉ ngoại ô của họ và lương hưu hậu hĩnh của họ. Nạn nhân của họ thì vẫn nghèo khổ và khốn cùng. Đối với hầu hết người Nga, giờ đây dường như thể trong quá khứ càng hợp tác được nhiều bao nhiêu, anh càng là kẻ khôn ngoan bấy nhiêu. Tương tự, càng xảo trá và lừa bịp trong hiện tại, anh càng là người khôn ngoan.

Suy nghĩ thật sâu xa, một số tư tưởng của Gulag vẫn tồn tại trong thái độ và thế giới quan của tầng lớp thượng lưu mới của nước Nga. Tác giả đã có lần nghe được trong một cuộc chuyện trò kinh điển kiểu Nga bên bàn ăn vào đêm khuya, diễn ra tại nhà của mấy người bạn Moscow. Tại thời điểm nào đó rất muộn buổi tối, hai người tham dự – là doanh nhân thành đạt – quay ra cãi nhau: Người Nga ngu xuẩn và khờ dại đến mức thế nào? Và chúng ta thông minh hơn nhiều đến thế nào? Lối phân chia cũ kiểu Stalinnít giữa các hạng người, giữa tầng lớp ưu tú đầy quyền thế với bọn “kẻ thù” không giá trị vẫn đang tồn tại trong nếp khinh miệt đầy ngạo mạn của giới thượng lưu người Nga mới đối với các đồng hương của mình. Trừ phi giới thượng lưu đó nhận ra được giá trị và tầm quan trọng của tất cả công dân Nga, trân trọng cả các quyền dân sự lẫn quyền con người của họ, nước Nga cuối cùng sẽ phải chịu số phận trở thành xứ Zaire phương bắc, miền đất sinh sống bởi đám nông dân khốn cùng và lũ chính trị gia tỷ phú có tài sản gửi trong ngân hàng Thụy Sĩ và máy bay riêng đậu trên đường băng, động cơ mở sẵn.

Thật bi kịch, việc nước Nga thiếu quan tâm đến quá khứ đã tước đi của người Nga những vị anh hùng cũng như các nạn nhân. Tên tuổi của những ai âm thầm chống lại Stalin, dù không đem lại kết quả – các sinh viên như Susanna Pechora, Viktor Bulgakov và Anatoly Zhigulin; các lãnh đạo những cuộc nổi loạn và khởi nghĩa ở Gulag; những người chống đối, từ Sakharov tới Bukovsky tới Orlov – cần phải được biết đến rộng rãi ở Nga giống như, tại Đức, tên tuổi của những người tham gia âm mưu ám sát Hitler. Nền văn học giàu có không tưởng tượng được của những người Nga sống sót – các câu chuyện về những người có nhân tính chiến thắng vượt trên các hoàn cảnh kinh khủng của trại tập trung Xôviết – cần phải được đọc nhiều hơn, được biết đến rộng rãi hơn, được trích dẫn thường xuyên hơn. Nếu các em học sinh biết rõ hơn về những anh hùng đó và câu chuyện của họ, chúng sẽ tìm thấy gì đó để có thể tự hào dù là về quá khứ Xôviết của nước Nga, ngoài những thắng lợi đế quốc và quân sự.

Nhưng việc không nhớ được cũng có các hậu quả gần gũi và thực tế hơn. Lấy ví dụ, có thể lập luận rằng sự thất bại của nước Nga trong việc đào sâu đúng mức về quá khứ cũng giải thích sự thiếu nhạy cảm của nó với một số kiểu kiểm duyệt nhất định, và với cơ quan công an mật tiếp tục tồn tại, tiếp tục có mặt khắp nơi, giờ đây được đổi tên là Federalnaya sluzhba bezopasnosti, hay FSB. Hầu hết người Nga đều không quá khó chịu với việc FSB có thể mở thư, thu âm điện thoại và thâm nhập chỗ ở riêng không cần có lệnh của tòa án. Hay họ cũng không quá quan tâm, lấy ví dụ, đến quá trình khởi tố kéo dài của FSB với Aleksandr Nikitin, một nhà sinh thái học đã viết về sự hủy hoại của Hạm đội Biển Bắc của Nga đang gây ra với Biển Baltic.[508]

Sự thiếu nhạy cảm với quá khứ cũng giúp giải thích sự thiếu vắng việc cải tổ luật pháp và nhà tù. Năm 1998, tác giả đã đến thăm nhà tù trung tâm của thành phố Arkhangelsk. Từng là một trong những thành phố thủ đô của Gulag, Arkhangelsk nằm ngay trên đường tới Solovetsky, tới Kotlas, tới Karogpollag và các tổ hợp trại phương bắc khác. Nhà tù thành phố, có từ trước thời Stalin, dường như chẳng có gì thay đổi kể từ thời đó. Tác giả bước vào đó cùng với Galina Dudina, một phụ nữ có thể xem là thực sự hiếm có thời hậu Xôviết, một luật sư bảo vệ cho quyền của tù nhân. Khi cả hai bước đi dọc theo sảnh của toà nhà xây bằng đá cùng với viên cai tù lặng lẽ, có cảm giác như thể chúng tôi đang quay về thời quá khứ vậy.

Các dãy hành lang hẹp và tối, với những bức tường ẩm ướt nhầy nhụa. Khi viên cai tù mở cánh cửa vào phòng giam nam, tác giả thoáng thấy những thân mình trần truồng nằm duỗi trên giường tầng, xăm trổ loang lổ. Nhìn thấy đám đàn ông không mặc quần áo, anh ta vội đóng cửa và cho họ thời gian chỉnh đốn lại trang phục. Mở ra lần nữa, tác giả bước vào và thấy khoảng hai mươi người đang đứng thành một hàng, không thoải mái chút nào khi bị làm phiền. Họ trả lời lầm bầm, không âm sắc đối với những câu hỏi được Galina  đưa ra, gần như cứ nhìn chằm chằm xuống sàn xi măng của phòng giam. Dường như họ đang chơi bài với nhau; người cai tù vội dẫn chúng tôi đi ra.

Chúng tôi ở lâu hơn trong phòng giam nữ. Trong góc phòng là toilet. Ngoài đó ra, bên trong có thể vẽ thẳng từ các trang của những hồi ký thập niên 1930. Đồ lót nữ treo trên sợi dây căng dọc trần; không khí ngột ngạt, rất nóng và nặng mùi mồ hôi, thức ăn thiu, ẩm ướt và chất thải con người. Đám phụ nữ, cũng ăn mặc sơ sài, ngồi trên giường tầng quanh phòng và trút lời lăng mạ lên đầu cai tù, rít lên những đòi hỏi và than phiền. Cứ như thể tác giả vừa bước vào căn phòng giam mà Olga Adamova-Sliozberg đã bước vào năm 1938 vậy. Tác giả xin một lần nữa trích lại đoạn mô tả của bà:

Những bức tường có khung vòm đang đổ cả mồ hôi. Phía bên kia, chỉ chừa lại một lối đi hẹp ở giữa, là liên tiếp những tấm giường phản kê thấp chen chúc đầy thân người. Đủ loại giẻ rách đang phơi thành hàng trên đầu. Không khí sánh lại hôi đầy mùi khói thuốc lá rẻ tiền loại nặng, hỗn loạn tiếng cãi nhau, la hét và sụt sùi.[509]

Cửa bên cạnh, dẫn vào phòng vị thành niên, ở đó ít tù hơn nhưng mặt mũi trông buồn hơn. Galina đưa chiếc khăn tay cho một bé gái mười lăm tuổi đang khóc sụt sịt bị tố cáo vì đã ăn cắp một số tiền rúp tương đương 10 đôla Mỹ. “Đây này”, cô nói, “cháu hãy tiếp tục học bài đại số, cháu sẽ sớm được ra khỏi đây nhé”. Có lẽ cô hy vọng: Galina đã gặp nhiều người bị tù hàng tháng trời không hề được xét xử, còn cô gái đây mới ngồi tù có một tuần.

Sau đó, chúng tôi nói chuyện với giám đốc nhà tù, ông này nhún vai khi được hỏi về cô gái trong phòng giam vị thành niên, về người tù đang chờ bị tử hình suốt nhiều năm nay nhưng vẫn tuyên bố là mình vô tội, về không khí hôi hám trong nhà tù và việc thiếu vệ sinh. Tất cả đều là do tiền, ông ta đáp. Chỉ là vì không có đủ tiền. Các cai tù được trả lương rất thấp. Hóa đơn tiền điện tăng cao, giải thích tại sao hành lang lại tối. Không có tiền để sửa chữa, không có tiền để chi cho công tố viên, cho thẩm phán hay tòa án. Tù cứ việc chờ tới lượt mình, ông nói, cho tới khi có tiền rót xuống.

Tác giả không bị thuyết phục. Tiền đúng là vấn đề, nhưng không phải tất cả. Nếu các nhà tù Nga đều trông như cảnh trong hồi ký của Adamova-Sliozberg, nếu những tòa án và điều tra tội phạm ở Nga đều chỉ là vờ vịt qua quýt, đó một phần là vì di sản thời Liên Xô không hề lơ lửng như một mảnh lương tâm cắn rứt trên vai của những người đang quản lý hệ thống hình luật ở Nga. Quá khứ đã không ám ảnh đám công an mật của Nga, những quan tòa ở Nga, các nhà chính trị Nga và giới doanh nhân thượng lưu Nga.

Nhưng rồi, rất ít người tại nước Nga ngày nay có chút nào cảm thấy quá khứ là một gánh nặng, hay là một bổn phận. Quá khứ là một ác mộng phải bị lãng quên, hay là một tin đồn rỉ tai phải bị lờ đi. Giống như chiếc hộp Pandora vĩ đại đóng kín, nó nằm đấy chờ đợi một thế hệ kế tiếp.

Việc chúng ta ở phương Tây không hiểu được tầm quan trọng của những gì xảy ra tại Liên bang Xôviết và Trung Âu, dĩ nhiên, không can hệ sâu sắc tới lối sống của chúng ta như nó tác động lên họ. Sự khoan hòa của chúng ta đối với “kẻ phủ nhận Gulag” rỗi hơi tại các trường đại học của ta sẽ không phá hủy cấu trúc đạo đức của xã hội chúng ta. Xét cho cùng, Chiến tranh lạnh đã kết thúc, và không còn thế lực trí thức hay chính trị thực sự nào trong những đảng cộng sản ở phương Tây.

Tuy nhiên, nếu chúng ta không bắt đầu nỗ lực cố gắng hơn để nhớ, cũng sẽ có những hậu quả đối với chúng ta. Một là, hiểu biết của chúng ta về những gì hiện đang xảy ra tại Liên Xô cũ sẽ tiếp tục bị bóp méo vì việc chúng ta không hiểu lịch sử. Một lần nữa, nếu chúng ta thực sự biết Stalin đã làm gì với người Chechen, và nếu chúng ta cảm thấy rằng đó là một tội ác khủng khiếp chống lại dân tộc Chechen, giờ đây không chỉ Vladimir Putin là người không thể làm chuyện tương tự với họ, mà chúng ta cũng còn có thể ngồi lại và quan sát một cách bình thản. Hay nếu sự sụp đổ của Liên Xô truyền cảm hứng cho sự liên kết các lực lượng phương Tây lại với nhau giống như vào cuối Thế chiến thứ II. Khi cuối cùng Đức Quốc xã sụp đổ, phần còn lại của phương Tây đã vừa lập ra NATO lẫn Cộng đồng chung Châu Âu – một phần để ngăn ngừa nước Đức quay lại phá vỡ sự “ổn định bình thường” của văn minh. Trái lại, mãi đến 11/9/2001 các quốc gia phương Tây vẫn chưa bắt đầu nghiêm túc nghĩ đến chính sách an ninh hậu Chiến tranh lạnh cho mình, và rồi có những động cơ khác mạnh hơn nhu cầu đưa nước Nga quay về nền văn minh phương Tây.

Nhưng cuối cùng, hậu quả của chính sách đối ngoại không phải là quan trọng nhất. Bởi nếu chúng ta quên Gulag, chẳng sớm thì muộn chúng ta cũng sẽ thấy khó có thể hiểu được bản thân lịch sử của chúng ta. Xét cho cùng, tại sao chúng ta lại tham gia Chiến tranh lạnh? Có phải vì các chính trị gia cực tả điên khùng, móc ngoặc với các tổ hợp quân sự-công nghiệp và CIA, đã tạo ra toàn bộ và buộc hai thế hệ người Mỹ và Tây Âu tham gia vào đó? Hay có điều gì đó quan trọng hơn đã xảy ra? Sự rối tung đã lan tràn ở đây. Năm 2002, một bài báo trên tạp chí bảo thủ của Anh Spectator đã phát biểu rằng Chiến tranh lạnh là “một trong những xung đột không cần thiết nhất mọi thời đại”.[510] Nhà văn người Mỹ Gore Vidal cũng mô tả các trận chiến trong Chiến tranh lạnh là “bốn mươi năm chiến tranh ngu xuẩn đã gây ra khoản nợ 5 tỷ đôla”.[511]

Chúng ta đã đang quên đi cái gì đã liên kết chúng ta, đã thôi thúc chúng ta, đã giữ nền văn minh “phương Tây” chung sức lâu đến như vậy: chúng ta đang quên đâu là thứ chúng ta đã chiến đấu chống lại. Nếu chúng ta không tìm cách nỗ lực hơn để nhớ lịch sử của nửa kia của lục địa Châu Âu, lịch sử của chế độ độc tài thế kỷ hai mươi, cuối cùng chính phương Tây chúng ta sẽ là kẻ không hiểu được quá khứ của mình, chúng ta sẽ không biết làm cách nào thế giới của chúng ta đã trở nên như nó ngày nay.

Và không chỉ riêng quá khứ của chúng ta. Bởi nếu chúng ta tiếp tục quên một nửa lịch sử của Châu Âu, một phần của điều mà chúng ta biết về chính nhân loại sẽ bị bóp méo. Mỗi tai họa tập thể của thế kỷ hai mươi đều khác biệt: trong số đó có Gulag, Holocaust, cuộc thảm sát Armenia, cuộc thảm sát Nam Kinh, Cách mạng Văn hóa, cách mạng Campuchia, chiến tranh Bosnia. Mỗi một trong số các sự kiện đó đều có nguồn gốc lịch sử, triết học và văn hóa khác nhau, mỗi cái đều xuất hiện trong các hoàn cảnh cục bộ đặc biệt vốn sẽ không bao giờ lặp lại. Chỉ có khả năng của chúng ta làm mất phẩm cách, phá hủy và làm mất tính người chính đồng loại của chúng ta đã – và sẽ – lặp đi lặp lại: khả năng chuyển đổi các hàng xóm của ta thành “kẻ thù”, giáng cấp đối thủ của ta thành chấy rận hay sâu mọt hay mầm bệnh, việc chúng ta tái bịa đặt các nạn nhân của mình thành giống hạ đẳng, hạ cấp hay xấu xa, chỉ đáng để giam lại hay trục xuất hay giết chết.

Chúng ta càng hiểu rõ các xã hội khác nhau đã biến đổi hàng xóm của họ và công dân của họ thành những đối tượng ra sao, càng biết rõ về những hoàn cảnh đặc biệt dẫn tới mỗi chương của sự tra tấn tập thể và tàn sát tập thể, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về mặt trái của bản chất loài người chúng ta. Cuốn sách này không phải viết “để điều đó sẽ không xảy ra lần nữa”, như lối nói sáo rỗng vốn thế. Cuốn sách này được viết bởi hầu như rõ ràng nó sẽ xảy ra lần nữa. Triết lý độc tài đã, và sẽ tiếp tục có một sức hấp dẫn sâu sắc đối với hàng triệu con người. Sự hủy diệt “đối tượng thù địch”, như Hannah Arendt từng nêu, vẫn là một mục tiêu cơ bản của nhiều chế độ độc tài. Chúng ta cần biết tại sao – và mỗi câu chuyện, mỗi hồi ức, mỗi tài liệu trong lịch sử Gulag là một mẩu của câu đố, một phần của lời giải thích. Không có chúng, chúng ta sẽ thức dậy mỗi ngày và nhận ra rằng chúng ta không hề biết chúng ta là ai.

 

Phụ lục: Có bao nhiêu?

Mặc dù Liên bang Xôviết có hàng ngàn trại tập trung, và mặc dù hàng triệu con người đã trải qua chúng, trong nhiều thập kỷ con số tính toán chính xác các nạn nhân vẫn bị che dấu trước mọi người ngoại trừ một vài vị quan chức. Kết quả là, ước lượng con số họ là một vấn đề chỉ thuần túy phỏng đoán trong khi Liên Xô còn tồn tại, và vẫn là một vấn đề phải phỏng đoán một cách có bài bản trong thời nay.

Trong thời kỳ phỏng đoán thuần túy, cuộc tranh luận ở phương Tây về thống kê về đàn áp – giống hệt như cuộc tranh luận tổng quát hơn ở phương Tây về lịch sử Liên Xô – đã bị vấy bẩn, từ thập niên 1950 trở đi, bởi nền chính trị Chiến tranh lạnh. Không có hồ sơ lưu trữ, các sử gia dựa trên những hồi ức khác nhau của tù, các tuyên bố của bọn đào ngũ, những điều tra dân số chính thức, thống kê kinh tế, hay thậm chí dựa trên các tiểu tiết mà cách nào đó đã được phổ biến ra nước ngoài, giống như số lượng tờ báo được phát cho tù năm 1931.[512] Những ai thiên về hướng không ưa Liên Xô thường ưa chọn con số nạn nhân cao hơn. Những ai thiên về hướng không ưa vai trò của Mỹ hay phương Tây trong Chiến tranh lạnh thì chọn con số thấp hơn. Bản thân các con số cũng nhảy loạn xạ. Trong The Great Terror, tính toán nền tảng năm 1968 về cuộc thanh trừng của mình, sử gia Robert Conquest ước tính rằng NKVD đã bắt bảy triệu người trong hai năm 1937 và 1938.[513] Trong tính toán “xét lại” năm 1985 của mình, cuốn Origins of the Purges, sử gia J. Arch Getty chỉ viết có “hàng ngàn” vụ bắt giữ trong cũng hai năm ấy.[514]

Tuy nhiên, việc mở văn khố lưu trữ Liên Xô cũng không hoàn toàn làm thoả mãn giới nghiên cứu. Loạt số liệu đầu tiên tiết lộ về tù Gulag dường như thoạt đầu cho thấy các con số nằm giữa các ước tính cao và thấp. Theo các tài liệu NKVD được xuất bản rộng rãi, dưới đây là số lượng tù trong hệ thống trại và tiểu khu Gulag từ 1930 tới 1953, tính vào ngày 1/1 của từng năm:

  • 000
  • 000
  • 700
  • 300
  • 307
  • 742
  • 296.494
  • 196.369
  • 881.570
  • 670.438
  • 659.992
  • 929.729
  • 777.043
  • 484.182
  • 179.819
  • 460.677
  • 703.095
  • 721.543
  • 199.535
  • 356.685
  • 561.351
  • 525.146
  • 504.514
  • 468.524[515]

Những con số trên phản ánh một số điều mà chúng ta biết, từ nhiều nguồn khác nhau, là sự thật. Số lượng tù bắt đầu tăng vào cuối thập niên 1930, khi đàn áp gia tăng. Chúng giảm nhẹ trong chiến tranh, phản ánh con số đông được ân xá. Chúng tăng lên năm 1948, khi Stalin một lần nữa kìm kẹp trở lại. Trên hết tất cả, hầu hết những nhà nghiên cứu từng làm việc trên văn khố giờ đây đều đồng ý rằng các con số dựa trên tài liệu biên soạn trung thực từ số liệu do các trại cung cấp cho NKVD. Chúng phù hợp với số liệu từ nhiều bộ phận khác nhau của cơ quan chính quyền Xôviết, lấy ví dụ, với số liệu sử dụng bởi Dân uỷ Kinh tế.[516] Tuy nhiên, chúng không nhất thiết phản ánh toàn bộ sự thật.

Bắt đầu từ việc, các con số của mỗi năm cụ thể là sai lạc, do chúng che dấu sự luân chuyển cao đáng kể của hệ thống trại. Lấy ví dụ, năm 1943, 2.421.000 tù được ghi nhận đã trải qua hệ thống Gulag, mặc dù tổng số vào đầu và cuối năm đó cho thấy một sự suy giảm từ 1,5 xuống 1,2 triệu. Con số đó có bao gồm số luân chuyển bên trong hệ thống, nhưng vẫn chỉ ra một mức độ khổng lồ tù lưu chuyển đã không được phản ánh trong con số tổng thể.[517] Thêm nữa, gần một triệu tù rời khỏi trại trong chiến tranh để gia nhập Hồng quân, một thực tế khó có thể phản ánh trong thống kê tổng thể, do cũng có quá nhiều tù tới trại trong những năm chiến tranh. Một ví dụ khác: năm 1947, 1.490.959 tù vào trại, và 1.012.967 rời trại, một sự hoán chuyển khổng lồ cũng không được phản ánh trong bảng trên.[518]

Tù rời trại vì họ chết, vì họ bỏ trốn, vì họ được giảm án, vì họ được thả để vào Hồng quân hay vì họ đã được chuyển lên vào vị trí quản lý. Như tác giả đã viết, cũng thường xuyên có ân xá cho tù già, tù bệnh và tù nữ mang thai – luôn đi kèm theo những đợt bắt bớ mới. Sự dịch chuyển tù khổng lồ và liên tục có nghĩa rằng các con số trong thực tế cao hơn nhiều so với vẻ ban đầu: năm 1940, tám triệu tù đã đi qua hệ thống trại.[519] Sử dụng các thống kê đầu vào và đầu ra sẵn có, và điều hoà từ nhiều nguồn, tính toán duy nhất mà theo tác giả thấy là hoàn tất ước lượng có mười tám triệu công dân Xôviết đã đi qua hệ thống trại và tiểu khu trong khoảng từ 1929 tới 1953. Con số này cũng trùng hợp với các con số khác được cung cấp bởi các quan chức an ninh cấp cao của Nga trong thập niên 1990. Theo một nguồn, bản thân Khrushchev có nói đến mười bảy triệu người đã qua hệ thống trại lao động trong khoảng từ 1937 tới 1953.[520]

Nhưng suy nghĩ sâu hơn, con số này cũng là sai lạc. Do người đọc giờ cũng đã biết, không phải tất cả những ai bị kết án lao động cưỡng bức tại Liên Xô đều thực sự chịu hết án trong một trại tập trung do ban quản lý Gulag quản lý. Một là, con số trên chưa tính đến hàng trăm ngàn người bị kết án “lao động cưỡng bức không bị giam giữ” vì vi phạm quy định nơi làm việc. Quan trọng hơn, có ít nhất ba loại nhân công lao động cưỡng bức rất đáng kể: tù binh chiến tranh, cư dân thời hậu chiến của các trại thanh lọc, và trên hết là “người lưu đày đặc biệt”, bao gồm các kulak bị đày trong thời kỳ tập thể hoá, người Ba Lan, Baltic và những dân khác bị đày sau 1939, cùng với người Kavkaz, Tartar, người Đức Volga và các dân khác bị đày trong chính thời gian chiến tranh.

Hai nhóm người đầu khá dễ để tính toán: từ nhiều nguồn đã có, chúng ta biết rằng con số tù binh chiến tranh vượt hơn bốn triệu.[521] Chúng ta cũng biết rằng trong khoảng từ 27/12/1941 và 1/10/1944, NKVD đã điều tra 421.199 người bị tạm giam trong trại thanh lọc, và rằng đến ngày 10/5/1945, hơn 160.000 người bị tạm giam vẫn còn sống bên trong đó, phải tham gia lao động cưỡng bức. Tháng 1/1946, NKVD huỷ bỏ trại thanh lọc và cho hồi hương hơn 228.000 người về Liên Xô để điều tra thêm.[522] Do đó, tổng số khoảng 700.000 người dường như là con số hợp lý.

Số người lưu đày đặc biệt có khó tính toán hơn, chỉ vì có quá nhiều nhóm người lưu đày khác nhau bị đưa tới quá nhiều nơi khác nhau vào quá nhiều thời điểm khác nhau bởi quá nhiều lý do khác nhau. Trong thập niên 1920, nhiều nhóm chống Bolshevik thời đầu – Menshevik, Cách mạng Xã hội và tương tự – bị đi đày bởi sắc lệnh hành chính, có nghĩa là họ về kỹ thuật không phải là thành phần của Gulag, nhưng rõ ràng là bị trừng phạt. Đầu thập niên 1930, 2,1 triệu kulak đã bị đi đày, mặc dù có con số chưa rõ, hiển nhiên đến hàng trăm ngàn, đã bị đưa không phải tới Kazakhstan hay Siberi, mà tới các phần khác của tỉnh nơi sinh của họ hay tới vùng đất cằn cỗi ở rìa nông trang tập thể của họ: do nhiều người có vẻ như đã chạy trốn, khó mà biết đã tính đến họ hay chưa. Rõ hơn là các nhóm sắc tộc đã bị đày trong và sau chiến tranh đến những ngôi làng “lưu đày đặc biệt”. Cũng rõ như vậy, nhưng dễ quên hơn nhiều, là các nhóm lẻ như 17.000 “dân cũ” bị trục xuất khỏi Leningrad sau khi Kirov bị ám sát. Cũng có những người Xôviết gốc Đức không bị đày về mặt vật chất, mà làng của họ tại Siberi và Trung Á bị biến thành các “khu định cư đặc biệt” – Gulag vươn tới đâu là nó có ở đó – cũng như trẻ con sinh ra khi bị đày chắc chắn cũng được tính là người đi đày.

Kết quả là, những ai tìm cách so sánh nhiều thống kê đã được xuất bản về mỗi nhóm khác nhau đó có thể sẽ đi đến các con số hơi khác nhau. Trong Ne po svoie vole, xuất bản bởi Hội Ký ức năm 2001, sử gia Pavel Polyan đã cộng thêm số người đi đày đặc biệt và đưa ra con số 6.015.000.[523] Trong một khảo sát các ấn bản hồ sơ lưu trữ, Otto Pohl, mặt khác, đã đếm được hơn bảy triệu người lưu đày đặc biệt từ 1930 tới 1948.[524] Ông đưa ra con số thời hậu chiến của những người sống trong các “khu định cư đặc biệt” như sau:

10/1945        2.230.500

10/1946        2.463.940

10/1948        2.104.571

1/1/1949       2.300.223

1/1/1953       2.753.356[525]

Tuy nhiên, dựa trên nguyên tắc là con số ước tính thấp sẽ làm hài lòng những người khó tính hơn, tác giả đã quyết định chọn con số của Polyan: sáu triệu người đi đày. Cộng các con số lại, tổng số lao động cưỡng bức ở Liên Xô lên đến 28,7 triệu.

Tất nhiên, tác giả hiểu rằng con số đó sẽ không làm vừa lòng hết mọi người. Một số sẽ phản đối là không phải tất cả những ai bị bắt hay bị đày đều đáng được tính là “nạn nhân”, do một số là tội phạm hình sự, thậm chí là tội phạm chiến tranh. Nhưng mặc dù đúng là hàng triệu trong số các tù nhân đó phải chịu án hình sự, tác giả không tin rằng bất cứ cái gì gần với số đông đều đúng là “tội phạm”, theo bất cứ khía cạnh nào của từ này. Một phụ nữ nhặt lấy vài hạt ngũ cốc trên cánh đồng đã gặt không phải là tội phạm, hay một người đi làm muộn ba lần, giống như cha của vị tướng Nga Aleksandr Lebed, người phải nhận án đi trại chính vì chuyện đó. Vì lẽ đó, một tù binh chiến tranh bị cố ý giữ lại trong một trại lao động cưỡng bức nhiều năm sau khi chiến tranh đã kết thúc cũng không phải là một tù nhân hợp pháp. Theo tất cả các tài liệu, con số tội phạm chuyên nghiệp thực sự trong tất cả các trại đều rất ít – đó là tại sao tác giả muốn để nguyên con số như trên.

Tuy nhiên, những người khác sẽ không vừa lòng với con số theo nhiều lý do khác nhau. Hiển nhiên trong quá trình viết cuốn sách này, tác giả đã tự hỏi cũng câu hỏi này rất, rất nhiều lần: trong số 28,7 triệu tù đó, có bao nhiêu người đã chết?

Câu trả lời cũng phức tạp. Cho tới ngày nay, chưa xuất hiện thống kê tử vong nào về cả Gulag lẫn hệ thống lưu đày xứng đáng thỏa mãn hoàn toàn.[526] Trong những năm tới, một số con số xác thực hơn có thể sẽ xuất hiện: ít nhất một cựu sĩ quan MVD đã đích thân nhận lấy trách nhiệm rà soát có phương pháp văn khố lưu trữ, từng trại một và từng năm một, cố gắng biên soạn con số xác thực. Với động cơ có lẽ hơi khác, Hội Ký ức, vốn đã đưa hướng dẫn đáng tin cậy đầu tiên đối với bản thân số lượng các trại, cũng đã xác lập cho mình nhiệm vụ tính toán số nạn nhân của đàn áp.

Tuy nhiên, cho đến khi những biên soạn tổng hợp ấy xuất hiện, chúng ta buộc phải dựa trên những gì đã có: số liệu hàng năm về tử vong trong Gulag, dựa trên văn khố của Ban Đăng ký tù. Số liệu này dường như đã loại trừ số chết trong nhà tù và chết khi đang vận chuyển. Nó được tổng hợp từ các báo cáo tổng kết của NKVD, không phải là ghi chép của từng trại một. Nó hoàn toàn không bao gồm những người lưu đày đặc biệt. Tuy nhiên, bất đắc dĩ tác giả vẫn ghi ra dưới đây:

1930                        7.980 (4,2%)

1931                        7.283 (2,9%)

1932                        13.197 (4,81%)

1933                        67.297 (15,3%)

1934                        25.187 (4,28%)

1935                        31.636 (2,75%)

1936                        24.993 (2,11%)

1937                        31.056 (2,42%)

1938                        108.654 (5,35%)

1939                        44.750 (3,1%)

1940                        41.275 (2,72%)

1941                        115.484 (6,1%)

1942                        352.560 (24,9%)

1943                        267.826 (22,4%)

1944                        114.481 (9,2%)

1945                        81.917 (5,95%)

1946                        30.715 (2,2%)

1947                        66.830 (3,59%)

1948                        50.659 (2,28%)

1949                        29.350 (1,21%)

1950                        24.511 (0,95%)

1951                        22.466 (0,92%)

1952                        20.466 (0,92%)

1953                        9.628 (0,67%)[527]

Giống như các thống kê chính thức khác về số lượng tù, bảng trên cũng cho thấy một số nội dung có thể thống nhất với số liệu khác. Lấy ví dụ, đỉnh cao đột ngột năm 1933 chắc chắn cho thấy ảnh hưởng của nạn đói cũng đã giết chết từ sáu đến bảy triệu công dân “tự do” Liên Xô. Mức tăng ít hơn một chút năm 1938 chắc là phản ánh các cuộc hành quyết tập thể diễn ra tại một số trại trong năm đó. Tỷ lệ chết tăng mạnh trong chiến tranh – chiếm gần một phần tư số tù năm 1942 – cũng phù hợp với hồi ức và hồi ký của những người đã sống qua trại trong năm ấy, và phản ánh mức độ thiếu thực phẩm trầm trọng hơn ở khắp Liên Xô.

Nhưng thậm chí nếu và khi các con số trên được chỉnh đúng hơn, câu hỏi “Có bao nhiêu đã chết?” vẫn khó trả lời dễ dàng. Thực tế, không có con số tử vong nào được biên soạn bởi chính quyền Gulag có thể xem là hoàn toàn xác thực. Thứ văn hóa của thanh tra và trách phạt với trại có nghĩa là, ngoài những điều khác, các chỉ huy trại cụ thể có mối quan tâm bất di bất dịch với trong việc dối trá về việc có bao nhiêu tù của họ bị chết: cả hồ sơ lưu trữ lẫn các hồi ký đều chỉ ra rằng khá phổ biến trong nhiều trại việc thả ra tù sắp chết, nhờ thế hạ bớt thống kê tử vong của trại.[528] Mặc dù người lưu đày di chuyển đi nơi khác ít thường xuyên hơn, và cũng không được thả khi đã nửa sống nửa chết, bản chất của hệ thống lưu đày – tù sống trong những ngôi làng hẻo lánh, cách xa chính quyền khu vực – có nghĩa là thống kê về tỷ lệ tử vong của người lưu đày cũng không bao giờ có thể xem là hoàn toàn xác thực.

Tuy nhiên, quan trọng hơn là, bản thân câu hỏi phải được hỏi một cách thận trọng hơn. “Có bao nhiêu người chết?” thực tế là một câu hỏi không chính xác, trong trường hợp của Liên bang Xôviết, và những ai hỏi câu hỏi như vậy trước hết cần xem lại họ thực sự muốn biết cái gì. Lấy ví dụ, phải chăng họ muốn biết đơn giản là có bao nhiêu người chết trong hệ thống trại của Gulag và trong các làng lưu đày vào thời Stalin, từ 1929 tới 1953? Nếu vậy, một con số dựa trên các nguồn lưu trữ là có sẵn, mặc dù thậm chí cả khi sử gia nào biên soạn nó đã chỉ ra là nó không đầy đủ, và không bao gồm tất cả các loại tù vào tất cả các năm. Một lần nữa, tôi miễn cưỡng trích lại nó: 2.749.163.[529]

Tuy nhiên, thậm chí nếu nó là đầy đủ, con số này không phản ánh tất cả những nạn nhân của hệ thống công lý Stalinít. Công an mật Liên Xô phần lớn đã không sử dụng trại để mục đích giết người. Nếu họ muốn giết người, họ tiến hành hành quyết tập thể trong rừng: chắc chắn đó cũng là các nạn nhân của công lý Xôviết, và có rất nhiều người như vậy. Sử dụng hồ sơ lưu trữ, một loạt các nhà nghiên cứu đã trích ra con số 786.098 tù chính trị bị hành quyết từ 1934 tới 1953.[530] Hầu hết các sử gia xem đó ít nhiều có vẻ hợp lý, nhưng sự vội vã và hỗn loạn đi kèm những cuộc hành quyết tập thể cũng có nghĩa là chúng ta sẽ không bao giờ biết được rõ. Nhưng thậm chí con số này – theo quan điểm của tác giả, thực sự quá chính xác để có thể tin cậy được – vẫn không bao gồm những người chết trên các đoàn tàu tới trại; những người chết trong điều tra; những người bị hành quyết về kỹ thuật không phải là vì “chính trị” tuy nhiên lại thực hiện theo các lý do giả mạo; hơn 20.000 sĩ quan Ba Lan chết trong cuộc tàn sát Katyń; và, trên hết tất cả, là những ai chết trong vòng vài ngày sau khi được thả. Nếu là con số thực sự chúng ta muốn, vậy nó sẽ phải cao hơn – có lẽ cao hơn nhiều – mặc dù các ước tính một lần nữa lại vô cùng khác nhau.

Nhưng tác giả thấy, thậm chí những con số đó không phải lúc nào cũng cung cấp câu trả lời cho điều mà mọi người thực sự muốn. Hầu hết các dịp khi tác giả hỏi “Có bao nhiêu người chết?” điều mà người hỏi thực sự muốn biết là có bao nhiêu người đã chết, một cách không cần thiết, do cuộc cách mạng Bolshevik. Đó là, có bao nhiêu người chết trong Khủng bố Đỏ và Nội chiến, những nạn đói tiếp theo cơn sóng của chính sách tập thể hóa tàn bạo, các cuộc đi đày tập thể, những cuộc hành quyết tập thể, các trại thập niên 1920, các trại thập niên 1960 cho đến thập niên 1980 – cũng như các trại và tàn sát tập thể của triều đại Stalin. Trong trường hợp đó, con số không chỉ lớn hơn nhiều mà chúng còn là vấn đề phải phỏng đoán thực sự. Các tác giả người Pháp của cuốn Sách Đen về Chủ nghĩa Cộng sản đã nêu một con số hai mươi triệu người. Những người khác nêu các con số gần hơn khoảng mười đến mười hai triệu.[531]

Một con số làm tròn các nạn nhân thiệt mạng sẽ làm vô cùng hài lòng, đặc biệt do nó cho phép chúng ta so sánh trực tiếp Stalin với Hitler hay với Mao. Nhưng thậm chí nếu ta có thể tìm ra một số như thế, tác giả vẫn không chắc chắn nó có thực sự nói hết toàn bộ câu chuyện về những đau khổ. Lấy ví dụ, không có con số chính thức nào có thể phản ánh cái chết của những người vợ và con cái cùng cha mẹ già yếu bị bỏ lại, do cái chết của họ không được ghi nhận riêng rẽ. Trong chiến tranh, người già chết đói vì không có sổ khẩu phần: nếu những đứa con bị kết tội của họ không phải đang đào than ở Vorkuta, hẳn họ đã có thể sống sót. Trẻ nhỏ mau chóng không trụ nổi dịch sốt phát ban và sởi trong những trại mồ côi lạnh lẽo trang bị tồi tàn: nếu mẹ của chúng không phải đang may quân phục ở Kengir, chúng hẳn cũng đã có thể sống sót.

Hoặc không có con số nào có thể phản ánh ảnh hưởng chồng chất của sự đàn áp của Stalin lên cuộc sống và sức khỏe của cả gia đình. Một người đàn ông bị ra tòa và xử bắn vì là một “kẻ thù của nhân dân”; vợ anh ta bị đưa vào trại như là “thành viên gia đình của một kẻ thù”; con cái anh ta lớn lên trong trại mồ côi và gia nhập băng nhóm tội phạm; mẹ anh ta chết vì đau khổ và căng thẳng; cô chú bác dì của anh ta cắt đứt mọi quan hệ với nhau để tránh bị vạ lây. Gia đình tan vỡ, bạn bè xa lánh, nỗi sợ đè nặng trên những ai còn lại đằng sau, thậm chí cả khi họ không phải chết.

Cuối cùng, con số thống kê không bao giờ có thể mô tả hoàn toàn những gì đã xảy ra. Các tài liệu lưu trữ mà cuốn sách này đã dựa rất nhiều trên đó cũng vậy. Tất cả những ai từng viết hùng hồn nhất về chủ đề Gulag đều biết đó là sự thật – đó là tại sao tác giả muốn dành cho họ những từ cuối cùng về chủ đề “thống kê”, “hồ sơ lưu trữ” và “hồ sơ”.

Năm 1990, nhà văn Lev Razgon được phép vào xem hồ sơ lưu trữ về chính mình, một tập mỏng tài liệu mô tả việc ông bị bắt và việc bắt bớ người vợ đầu của ông, Oksana, cũng như nhiều thành viên gia đình bà. Ông đọc kỹ nó, và sau này đã viết một bài viết về nội dung của nó. Ông hùng hồn phản ánh về nội dung của hồ sơ; về sự sơ sài của chứng cứ; về sự lố bịch của lời buộc tội; về tai hoạ rơi lên đầu mẹ vợ mình; về động cơ không trong sáng của bố vợ mình, nhân viên Cheka Gleb Boky; về sự thiếu vắng kỳ lạ của lòng hối hận của những kẻ đã huỷ hoại tất cả bọn họ. Nhưng điều làm tác giả ấn tượng nhất về trải nghiệm của ông khi đọc hồ sơ là mô tả của ông về cảm giác của ông mâu thuẫn ra sao khi ông đọc xong:

Tôi đã đọc xong từ lâu trang cuối cùng của hồ sơ và chúng đang đặt cạnh tôi suốt hơn một hai tiếng đồng hồ từ nãy giờ, lạnh dần với những suy nghĩ miên man về chúng. Người hộ tống tôi (nhân viên lưu trữ KGB) đã đang ho húng hắng đầy gợi ý và nhìn xuống đồng hồ trên tay. Đã đến lúc phải đi. Tôi chẳng còn gì để làm ở đây nữa. Tôi đưa tập hồ sơ và chúng được lơ đễnh thả trở lại vào cái túi đi chợ. Tôi đi xuống dưới nhà, dọc theo dãy hành lang trống trải, ngang qua mấy tay lính gác thậm chí còn chẳng thèm hỏi xem giấy tờ của tôi, và bước ra Quảng trường Lubyanka.

Mới có 5 giờ chiều, nhưng trời đã gần tối hẳn và cơn mưa nặng hạt lặng lẽ rơi xuống không ngớt. Toà nhà vẫn ở bên cạnh tôi và tôi đang đứng trên vỉa hè bên ngoài, tự hỏi xem phải làm gì kế tiếp. Thật khủng khiếp rằng tôi không tin vào Chúa và không thể vào một ngôi nhà thờ nhỏ yên tĩnh nào đó, đứng bên hơi ấm của những ngọn nến, nhìn vào đôi mắt của Chúa Kitô trên Thánh giá và nói và làm những gì giúp cuộc đời trở nên dễ cam chịu hơn đối với các tín đồ…

Tôi bỏ cái mũ lông xuống, và mấy giọt mưa hay nước mắt chảy ròng ròng xuống trên mặt tôi. Tôi đã tám mươi hai tuổi và tôi đứng đây, như sống lại qua hết tất cả một lần nữa… Tôi nghe thấy giọng nói của Oksana và mẹ cô ấy… Tôi nhớ và hồi tưởng về họ, từng người một. Và nếu tôi vẫn còn sống, vậy thì nhiệm vụ của tôi là phải làm thế…[532]

 

Thư mục

 Hồi ký và các tác phẩm văn học

 

Adamova-Sliozberg, Olga, Put. Moscow, 1993.

Aituganov, I. P., Krugi ada, Kazan, tự xuất bản, 1998.

Akhmatova, Anna, The Poems of Akhmatova, dịch và biên tập: Stanley Kunitz và Max Hayward, Boston, 1967.

Aksyonov, Vasily, Generations of Winter, Nova York, 1995.

Aleksandrovich, Vadim, Zapiski lagernogo vracha, Moscow, 1996.

Alin, D. E., Malo slov, a gorya rechenka. Tomsk, 1997.

Amalrik, Andrei, Involuntary journey to Siberia. Dịch: Manya Harari và Max Hayward, Nova York, 1970.

Amster, Gerald, và Asbell, Bernard, Transit Point Moscow. Nova York, 1984.

Andreeva, Alia, Plavanye k Nebesnomu Kremlyu. Moscow, 1998.

Andreev-Khomiakov, Gennady, Bitter Waters: Life and Work in Stalin’s Russia. Boukler, CO, 1997.

Khuyết danh, Ekho iz Nebytiya. Novgorod, 1992.

Khuyết danh, Vo vlasti Gubcheka: Vospominaniya neizvestnogo protoiereya. Moscow, 1996.

Antonov-Ovseenko, Anton, Vragi naroda. Moscow, 1996.

Antsiferov, Nikolai, “Tri glavy iz vospominanii”. Pamyat, tập 4, tr. 75-76.

Armonas, Barbara, Leave Your Tears in Moscow. Philadelphia và Nova York, 1961.

Astafyeva, Olga, V goda slepye: stikhi. Moscow, 1995.

Bardach, Janusz (cùng Kathleen Gleeson), Man is Wolf to Man: Surviving Stalin’s Gulag. London, 1998.

Belousov, Viktor, Zapiski dokhodyagi. Ashkhabad, Turkmenistan, 1992.

Belyashov, V M., Zhizn pereselentsev na Urale. Severouralsk, 1991.

Berger, Joseph, Nothing But the Truth. Nova York, 1971.

Bershadskaya, Lyubov, Rastoptannye zhizni. Paris, 1975.

Bondarevsky, Sergei, Tak bylo. Moscow, 1995.

Borin, Aleksandr, Prestupleniya bez nakazaniya: vospominaniya uznika GULAGa. Moscow, 2000.

Brodsky, Joseph, Less Than One. Nova York, 1986.

Buber-Neumann, Margarete, Under Two Dictators. Dịch: Edward Fitzgerald, London, 1949.

Buca, Edward, Vorkuta. Dịch: Michael Lisinski và Kennedy Wells, London, 1976.

Bukovsky, Vladimir, To Build a Castle-My Life as a Dissenter. Nova York, 1978.

Burkhuis, L., Chuzhoi spektakl: kniga vospominanii. Riga, 1990.

Buxhoeveden, Baroness Sophie, Left Behind: Fourteen Months in Siberia During the Revolution, December 1917-February 1919. London, Nova York,Toronto, 1929.

Bystroletov, Dmitri, Puteshestvie na krai nochi. Moscow, 1996.

Cederholm, Boris, In the Clutches of the Cheka. Dịch: F. H. Lyon, London, 1929.

Chetverikov, Boris, Vsego byvalo na veku. Leningrad, 1991.

Chirkov, Yuri, A bylo vse tak. Moscow, 1991.

Colonna-Czosnowski, Karol, Beyond the Taiga: Memoirs of a Survivor. Hove, Sussex, 1998.

Czapski, Jozef, The Inhuman Land. Dịch: Gerard Hopkins, London, 1987.

Czerkawski, Tadeusz, Byłem żolnierzem generala Andersa, Warsaw, 1991.

Daniel, Yuli, Prison Poems. Dịch: David Burg và Arthur Boyars, London, 1971.

Darel, Sylva, A Sparrow in the Snow. Dịch: Barbara Norman, Nova York, 1973.

DJILAS, Milovan, Conversations with Stalin. Trad. Michael Petrovich, Nova

York, 1962.

Dmitriev, Helen, Surviving the Storms: Memory of Stalin ‘s Tyranny, Trad.

Cathleen A. McClintic e George G. Mendez, Fresno, CA, 1992.

DOLGUN, Alexander, Alexander Dolgim’s Story: An American in the Gulag.

Nova York, 1975.

DOMANSKA, Leslawa, Papinski, Marian, e família Malachowski, Tryptyk

Kazachstanski. Varsóvia, 1992.
DOMBROVSKII, Yurii, Menya ubit khoteli, eti suki. Moscou, 1997.
Dorogi za kolyuchuyu provoloku. Vol. 3, Odessa, 1996.

DOSTOEVSKY, Fyodor, The House ofthe Dead. Trad. David McDuff, Londres, 1985.

Durasova, S. G., “Éto bylo strashnim sobytiem”, Istoricheskii Arkhiv, nº 6, 1999,

  1. 69-84.
    DVORZHETSKII, Vatslav, Puti bolshikh etapov. Moscou, 1994.
    Dyakov, Boris, “Povest o perezhitom”, Oktyabr, nº 7, julho 1964, pp. 49-142.
    ÉFRON, Ariadna., Miroedikha, Moscou, 1996.

————, Pisma iz ssylki, Paris, 1985.
ÉFRUSSl, Yakov, Kto na “É?”. Moscou, 1996.
ÉIZENBERGER, Andrei, Esti ne vyskazhus-zadokhnus. Moscou, 1994.

Ekart, Antoni, Vanished Without Trace: Seven Years in Soviet Russia, Londres,

1954.
EVSTONICHEV, A. P, Nakazanie bezprestupleniya. Syktyvkar, 1990.
FEDEROLF, Ada, RyadomsAlei. Moscou, 1996.

FEHLING,.Helmut, One Great Prison: The Story Behind Russia’s Unreleased

POWs. Boston, 1951.

FlDELGOLTS, Yurii, Kolyma. Moscou, 1997.

FlLSHTlNSKll, Isaak,My shagaempodkonvoem: rasskazi iz lagernoizhizni.

Moscou, 1997.
FlNKELBERG, M. F, Ostavlyayu vam. Yaroslavl, 1997.
FlSHER, Lipa,Parikmakher v GULAGe. Trad. Zelby Beiralas. Tel-Aviv, 1977.
Fittkau, Gerhard, My Thirty-third Year. Nova York, 1958.
FLORENSKII, Sv. Pavel, Sochineniya. Vol. IV, Moscou, 1998.
Frid, Valerii, 58-1-2: Zapiski lagernogopridurka. Moscou, 1996.
Gagen-Torn, Nina, Memória. Moscou, 1994.
Garaseva, A. M., Ya zhila v samoi beschelovechnoi strane. Moscou, 1997.

GESSEN, Masha, “My Grandmother, the Censor”, Granta 64, Londres, janeiro,

GlLBOA, Yehoshua, Confess! Confess!. Trad. Dov Ben Aba, Boston e Toronto,

GlNZBURG, Evgeniya, Journey into the Whirlwind [Krutoi marshrut]. Trad. Paul

Stevenson e Max

Hayward, Nova York, 1967.

GlNZBURG, Evgeniya, Within the Whirlwind [Krutoi marshrut, Part II].Trad. Ian

Boland, Nova York e Londres, 1981.
GlNZBURG, Lidiya, BlockadeDiary. Trad. Alan Meyers, Londres, 1995.
Gizatülin, R. Kh.,Nas bylo mnogo na chelne. Moscou, 1993.
Gliksman, Jerzy, Tellthe West. Nova York, 1948.
Gnedln, Evgenii, Vykhodiz labirinta. Moscou, 1994.
GOLITSYN, Kirill, ZapiskiKnyazya Kirilla Nikolaevicha Golitsyna. Moscou, 1997.
GOLITSYN, Sergei, Zapiski utselevshego. Moscou, 1990.
GORBACHEV, Mikhail, Memoirs. Nova York, 1996.

GORBATOV, Aleksandr, Years OffMyLife. Trad. Gordon Clough e Anthony

Cash, Londres, 1964.

GORCHAKOV, Genrikh,L-l-105:Vospominaniya. Jerusalém, 1995.

——–, Sudboi nalozhenniye tseli. Jerusalém, 1997.
Gordeeva, Valeriya, Rasstrel cherez poveshenie. Moscou, 1995.
GORKY, Maxim, Sobranie sochinenii. Moscou, 1962.

Memórias e Textos Literários

Adamova-Sliozberg, Olga, Put. Moscou, 1993.

AlTOGANOV, I. P.,Krugiada. Kazan, publicação particular, 1998.

AKHMATOVA, Anna, ThePoems of Akhmatova. Ed. e trad. Stanley Kuriitz e

Max Hayward, Boston, 1967.
AKSYONOV, Vasily, Generations ofWinter. Nova York, 1995.
ALEKSANDROVICH, Vadim, Zapiski lagemogo vracha. Moscou, 1996.
ALIN, D. E., MaLo sLoe, agorya rechenka. Tomsk, 1997.

AMALRIK, Andrei, Involuntaryjourney to Siberia. Trad. Manya Harari e Max

Hayward, Nova York, 1970.

2490 Razgon, pp. 290-91.

javascript: window.location.hash=’ – outer_page_612′

AMSTER, Gerald, e ASBELL, Bernard, Transit Point Moscow. Nova York, 1984.

ANDREEVA, Alia, Plavanye k Nebesnomu Kremlyii. Moscou, 1998.

ANDREEV-KHOMLAKOV, Gennady, Bitter Waters: Life andWork in Stalins

Russia. Boukler, CO, 1997.

ANÔNIMO, Ekho iz Nebytiya. Novgorod, 1992.

ANÔNIMO, Vo vlasti Gubcheka: Vospominania neizvestnogoprotoiereya.

Moscou, 1996. Antonov-Ovseenko, Anton, Vragi naroda. Moscou, 1996.
Antsiferov, Nikolai, “Tri glavy iz vospominanii”. Pamyat, vol. 4, pp. 75-76.
Armonas, Barbara, Leave Your Tears in Moscow. Filadélfia e Nova York, 1961.
ASTAFYEVA, Olga, V. gods slepye: stikhi. Moscou, 1995.

BARDACH, Janusz (com Kathleen Gleeson), Man Is Wolf to Man: Surviving

Stalin ‘s Gulag. Londres, 1998.
Belousov, Viktor, Zapiski dokhodyagi. Ashkhabad, Turquemenistão, 1992.
BELYASHOV, V M., Zhiznpereselentsev na Urale. Severouralsk, 1991.
Berger, Joseph, Nothing But the Truth. Nova York, 1971.
Bershadskaya, Lyubov, Rastoptannye zhizni. Paris, 1975.
BONDAREVSKII, Sergei, Tak bylo. Moscou, 1995.

Borin, Aleksandr, Prestupleniya bez nakazaniya: vospominaniya uznika

GULAGa. Moscou, 2000.

Brodsky, Joseph, Less Than One. Nova York, 1986.

Buber-Neumann, Margarete, UnderTwo Dictators. Trad. Edward Fitzgerald,

Londres, 1949.

Buca, Edward, Vorkuta. Trad. Michael Lisiniski e Kennedy Wells, Londres,

1976,
Bukovsky, Vladimir, To Build a Castle-My Life as a Dissenter. Nova York, 1978.
Burkhuis, L., Chuzhoi spektakk kniga vospominanii. Biga, 1990.

BUXHOEVEDEN, Baronness Sophie, Left Behind: Fourteen Months in Sibéria During the Revolution, December 1917-February 1919. Londres, Nova York, Toronto, 1929.

Bystroletov, Dmitrii,Puteshestvie na krainochi. Moscou, 1996.

CEDERHOLM, Boris, In the Clutches ofthe Cheka. Trad. F. H. Lyon, Londres,

CHETVERIKOV, Boris, Vsego byvalo na veku. Leningrado, 1991.

CHIRKOV, Yurii, A bylo vse tak. Moscou, 1991.

CoLONNA-CZOSNOWSKI, Karol,Beyond the Taiga: Memoirs of a Survivor.

Hove, Sussex, 1998.
CZAPSKI, Jozef, The Inhuman Land. Trad. Gerard Hopkins, Londres, 1987.-
CZERKAWSKI, Tadeusz, Bylem Zolnierzem Generais Andersa, Varsóvia, 1991.
Daniel, Yuli, Prison Poems. Trad. David Burg and Arthur Boyars, Londres, 1971.
Darel, Sylva, A Sparrow in the Snow. Trad. Barbara Norman, Nova York, 1973.

DJILAS, Milovan, Conversations with Stalin. Trad. Michael Petrovich, Nova

York, 1962.

Dmitriev, Helen, Surviving the Storms: Memory of Stalin ‘s Tyranny, Trad.

Cathleen A. McClintic e George G. Mendez, Fresno, CA, 1992.

DOLGUN, Alexander, Alexander Dolgim’s Story: An American in the Gulag.

Nova York, 1975.

DOMANSKA, Leslawa, Papinski, Marian, e família Malachowski, Tryptyk

Kazachstanski. Varsóvia, 1992.
DOMBROVSKII, Yurii, Menya ubit khoteli, eti suki. Moscou, 1997.
Dorogi za kolyuchuyu provoloku. Vol. 3, Odessa, 1996.

DOSTOEVSKY, Fyodor, The House ofthe Dead. Trad. David McDuff, Londres,

Durasova, S. G., “Éto bylo strashnim sobytiem”, Istoricheskii Arkhiv, nº 6, 1999,

  1. 69-84.
    DVORZHETSKII, Vatslav, Puti bolshikh etapov. Moscou, 1994.
    Dyakov, Boris, “Povest o perezhitom”, Oktyabr, nº 7, julho 1964, pp. 49-142.
    ÉFRON, Ariadna., Miroedikha, Moscou, 1996.

————, Pisma iz ssylki, Paris, 1985.
ÉFRUSSl, Yakov, Kto na “É?”. Moscou, 1996.
ÉIZENBERGER, Andrei, Esti ne vyskazhus-zadokhnus. Moscou, 1994.

Ekart, Antoni, Vanished Without Trace: Seven Years in Soviet Russia, Londres,

1954.
EVSTONICHEV, A. P, Nakazanie bezprestupleniya. Syktyvkar, 1990.
FEDEROLF, Ada, RyadomsAlei. Moscou, 1996.

FEHLING,.Helmut, One Great Prison: The Story Behind Russia’s Unreleased

POWs. Boston, 1951.

FlDELGOLTS, Yurii, Kolyma. Moscou, 1997.

FlLSHTlNSKll, Isaak,My shagaempodkonvoem: rasskazi iz lagernoizhizni.

Moscou, 1997.
FlNKELBERG, M. F, Ostavlyayu vam. Yaroslavl, 1997.
FlSHER, Lipa,Parikmakher v GULAGe. Trad. Zelby Beiralas. Tel-Aviv, 1977.
Fittkau, Gerhard, My Thirty-third Year. Nova York, 1958.
FLORENSKII, Sv. Pavel, Sochineniya. Vol. IV, Moscou, 1998.
Frid, Valerii, 58-1-2: Zapiski lagernogopridurka. Moscou, 1996.
Gagen-Torn, Nina, Memória. Moscou, 1994.
Garaseva, A. M., Ya zhila v samoi beschelovechnoi strane. Moscou, 1997.

GESSEN, Masha, “My Grandmother, the Censor”, Granta 64, Londres, janeiro,

GlLBOA, Yehoshua, Confess! Confess!. Trad. Dov Ben Aba, Boston e Toronto,

GlNZBURG, Evgeniya, Journey into the Whirlwind [Krutoi marshrut]. Trad. Paul

Stevenson e Max

Hayward, Nova York, 1967.

GlNZBURG, Evgeniya, Within the Whirlwind [Krutoi marshrut, Part II].Trad. Ian

Boland, Nova York e Londres, 1981.
GlNZBURG, Lidiya, BlockadeDiary. Trad. Alan Meyers, Londres, 1995.
Gizatülin, R. Kh.,Nas bylo mnogo na chelne. Moscou, 1993.
Gliksman, Jerzy, Tellthe West. Nova York, 1948.
Gnedln, Evgenii, Vykhodiz labirinta. Moscou, 1994.
GOLITSYN, Kirill, ZapiskiKnyazya Kirilla Nikolaevicha Golitsyna. Moscou, 1997.
GOLITSYN, Sergei, Zapiski utselevshego. Moscou, 1990.
GORBACHEV, Mikhail, Memoirs. Nova York, 1996.

GORBATOV, Aleksandr, Years OffMyLife. Trad. Gordon Clough e Anthony

Cash, Londres, 1964.

GORCHAKOV, Genrikh,L-l-105:Vospominaniya. Jerusalém, 1995.

——–, Sudboi nalozhenniye tseli. Jerusalém, 1997.
Gordeeva, Valeriya, Rasstrel cherez poveshenie. Moscou, 1995.
GORKY, Maxim, Sobranie sochinenii. Moscou, 1962.

Grachev, Yu. S. V, Irodovoi bezdne: vospominaniya o perezhitom. Moscou,

GROSS, Jan Tomasz, e GrudzinSKA-Gross, Irena, eds., War Through

Childrens Eyes. Stanford, CA, 1981.

GUBERMAN, Igor, Shtrikhi iportrety. Moscou, 1994.

HERLING, Gustav, A World Apart. Trad. Andrzej Ciolkosz, Londres, 1951.

Ievleva, Valentina, Neprichesannaya zhizn. Moscou, 1994.

———, Imet situ pomnit. Moscou, 1991.

———, Intaliya. Moscou, 1995.
Ioffe, Mariya, Odna noch. Nova York, 1978.
ISHUTINA, TLlen-A, Narym: dnevnik ssylnoi. Nova York, 1965.

IZGOEV, Aleksandr, “Pyat let v sovetskoi Rossii”. Arkhiv Russkoi Revolyutsii,

vol. X, Berlim, 1923.

Joffe, Nadezhda, Back in Time: My Life, My Fate, My Epoch [Vremya nazad].

Trad. Frederick S.Choate, Oak Park, MI, 1995.
KALACHEV, Konstantin, Vkruge tretem. Moscou, 1999.
Kaminskii, R. L, Minumbeeprokhoditpredo mnoyu. Moscou, 1955.

Kaufman, A. l.,Lagernyivrach. Tel Aviv, 1973.

KEKUSHEV, N. L., Zveriada. Moscou, 1991.

Kersnovskaya, Evfrosiniya, Naskalnaya zhivopis. Moscou, 1991.

Khrushchev, Nikita, Khrushchev Remembers. Trad. Strobe Talbott, Londres,

Kitchin, George, Prisoner ofthe OGPU. Londres, Nova York, Toronto, 1935.

Klein, Aleksandr, Ditya smerti. Syktyvkar, 1993.

———, Odin sredi odinokikh. Syktyvkar, 1995.

———, Ulybki nevoli. Syktyvkar, 1997.

Klementev, V F, VBolshevitskoiMoskve. Moscou, 1998.

KLINGER, A., “Solovetskaya katorga: zapiski bezhavshego”. Arkhiv Russkoi

Revolyutsii, vol. XIX, Berlim, 1929.

KMIECIK, Jerzy, A Boy in the Gulag. Londres, 1983.

KOPELEV, Lev, To Be Preserved Forever [Khranit Vechno, Ann Arbor, MI,

1975]. Trad. Anthony

Austin, Filadélfia e Nova York, 1977.

KORALLOV, Marlen, “Kartserok-ne khuzhe drugikh”. Moskovskii Komsomokts,

11 de setembro, 1993.

KOROL, M. M., Odisseya razvedchika. Moscou, 1999.

KOVALCHUK-KOVAL, I. K., Svidanie spamyatyu. Moscou, 1996.

Kozhina, Elena, Through the Burning Steppe: A Memoir ofWartime Bussia,

1942-43. Nova York, 2000.

KRAPIVSKII, Semen, Trizhdy rozhdennyi. Tel-Aviv, 1976.

RRASNOPEVTSEV, Yurii, Bekviem razluchennym ipavshim Stalinskoi repressii.

Yaroslavl, 1992.
KRAVCHENKO, Viktor, I Chose Freedom. Londres, 1947.
KRESS, Vemon, Zekameron XX veka. Moscou, 1992.
KRZYSZTON, Jerzy, Wielbflyd na Stepie. Varsóvia, 1982.
KUDRYAVTSEV, F F, Primechardya k ankete. Moscou, 1990.
KUSURGASHEV, G. D., PrizrakiKolyrnskogo zolota. Voronezh, 1995.
KUTS, V., Poedinok ssudboi. Moscou, 1999.
KuusiNEN, Aino, The Rings ofDestiny. Trad. Paul Stevenson, Nova York, 1974.
KUZNETSOV, Edward, Prison Diaries. Trad. Howard Spier, Nova York, 1973.
LAHINA, Anna, This I Cannot Forget: The Memoirs ofNikolai Bukharin ‘s Widow.

Trad. Gary Kern, Nova York e Londres, 1993.
Leipman, Flora, The Long Journey Home. Londres, 1987.
Levi, Primo, If This Is a Man. Londres, 1987.
Levinson, Galina, ed., Vsyapasha zhizn. Moscou, 1996.
Levttin-KhasnoV, A. E.,Buk tvoikh zhar. Tel-Aviv, 1979
Likhachev, Dmitrii, Kniga bespokoisty. Moscou, 1991.

————, Vospominania. St. Petersburg, 1995.

LlPPER, Elinor, Eleven Years in Soviet Prison Camps. Trad. Richard and Clara

Winston, Londres, 1951.
Litovtski iLedovitogo okeana. Yakutsk, 1995.
LOCKHART, R. Hruce, Memoirs of a British Agent. Londres e Nova York, 1932.
Maevskaya, Irina, Volnoeposelenie. Moscou, 1993.
Maksimovich, M., Nevolnye Sravneniya. Londres, 1982.
MALSAGOV, S. A., Island Hell. A Soviet Prison in the FarNorth. Trad. F H. Lyon,

Londres, 1926.

Mamaeva, E. A., Zhizn prozhit. Moscou, 1998.

MANDELSTAM, Nadezhda, Hope Against Hope.Trad. May Hayward, Nova

York, 1999.
Mandelstam, Osip, Stekla vechnosti (coletânea de poemas). Moscou, 1999.
MARCHENKO,Anatoly, MY Testimony.Trad. Michael Scammel, Londres, 1969.

———-, To Live Like Everyone Trad. Paul Goldberg, Londres, 1989.
Matlock, Jack, Autopsy on an Empire. Nova York, 1995.
MAZUS, Izrail, Gde ty byl?. Moscou, 1992.
Medvedev, Nikolai, Uznik GULAGa. São Petersburgo, 1991.
Menshagi, V G., Vospominaniya. Paris, 1988.
MlLYUTINA,T. P,Lyudi moyei zhizni. Tartu, 1997.
MlNDLIN, M. B.,Anfas iproftl. Moscou, 1999.
MlREK, Alfred, Tyuremnyi rekviem. Moscou, 1997.

———-, Zapiski zaklyuehennogo. Moscou, 1989.
MOROZOV, Aleksandr, Devyat stupenei v nebylie. Saratov, 1991.
MUKHINA-Petrinskaya,V., Na ladoni sudby. Saratov, 1990.
My iz Gulaga (antologia). Odessa, 1990.
MYSLIWSKI, Wieslaw, ed., Wschodnie Losy Polak6w, vols. 1-6. Lomza, 1991.

NARINSKII, A. S., Vospominaniya glavnogo bukhgaltera GULAGa. São

Petersburgo, 1997.

———, Vremya tyazhkikhpotryasenii. São Petersburgo, 1993.

Nazvatpoimenno (antologia). Gorky, 1990.

NEKIPELOV, Viktor, Lnstitute ofFools. Trad. Marco Carynnyk e Marta Horban,

Londres, 1989.
NlKOLSKAYA, Anna, Peredai dalshe. Alma-Ata, 1989.
Noble, John, / Was a S/ave in Bussia. Nova York, 1960.

Numerov, Nikolai, Zolotaya zvezda GULAGa: rnezhdu zhiznyu ismertyu.

Moscou, 1995.
OKUNEVSKAYA, Tatyana, Tatyanin den. Moscou, 1998.
Olitskaya, Elinor, Moi vospominaniya. Vols. I e II, Frankfurt am Main, 1971.
Orlov, Aleksandr, Tainye istorii stalinskikh prestuplenii. Nova York, 1983.
Pamyat Kolymy. Magadanskoe, 1990.

Pani.V Dmitri. The Notebooks ofSologdin. Nova York, 1973.

Pvsnvv Evgenii. “Veiichannye kolyuchie provoloki”. Vybor, Moscou, janeiro-

março 1988, nº. 3
PETROV. Vladimir, It Happens in Russia. Londres, 1951.
PETRUS. K., Uzniki kommunizma. Moscou, 1996.
Petyla: vospominaniya, ocherki, dokumenly. Volgograd, 1994.

PogodiN, Nikolai, “Aristokraty”. Pyesy sovetskikh pisatelei, Moscou, 1954, pp.

109-83.
Pol, I. L.. Oglyanus so skorbyu, 1991.
POLAK, L. S.,Bylo tak, Ocherki. Moscou, 1996.

Polonskii. V. V., “Doroga v pyat let v Kazakhstan i obratno”, Lstochnik, 1/1996,

  1. 66-77.
    Pomerants, Grigorii, Zapiskigadkogo utenka. Moscou, 1998.
    PORSHNEVA, G. I., Ya vsezhezhiv. Moscou, 1990.
    Pryadilov, Aleksei, Zapiski kontrrevolyutsionera. Moscou, 1999.

Ptasnik, Zofia, “A Polish Woman’s Daily Struggle to Survive”. The Sarmatian

Review, vol. XXI, nº 1, janeiro 2002, pp. 846-54.

Ratushinskaya, Irina, Grey Is the Colour of Hope. Trad. Alyona Kojevnikov,

Londres, 1988.
Rawicz, Slavomir, The Long Walk. Nova York, 1984.
Razgon, Lev, True Stories [Nepridumannoe, Moska, 1989].
Trad. John Crowfott, Dana Point, CA,

  1. Reshetovskaya, Natalya, Sanya: My Life with A/exander Solzhenitsyn.

Trad. Elena Ivanhoff, Indianapolis, 1975.

ROBINSON, Robert, Black onBed: My 44 Years Lnside the Soviet Union.

Washington, D.C., 1988.

Roeder, Bernhard, Katorga: An Aspect ofModern Slavery. Trad. Lionel Kochan,

Londres, 1958.

ROMANOV, Grand Duke Gavril Konstantinovich, V mramornom dvortse.

Dusseldorf, 1993.

ROSENBERG, Suzanne, A Soviet Odyssey. Toronto, 1988.

Rossi, Jacques, Quelle Etait Belle Cette Utopie. Paris, 1997.

Rotfort, M. S., Kolyma-krugiada. Uralskii Rabochii, 1991.

ROZINA, Anna, Upamyati v gostyakh. São Petersburgo, 1992.
RozSAS, Janos, “Iz Knigi ‘Sestra Dusya’ “, Volya, 2-3,1994.
Ruta, U.,Bozhe kak eshche khotelos zhit Londres, 1989.
SADUNAITE, Nijole, A Radiance in the Gulag. Trad. Revd Casimir Pugevicius e

Marian Skabeikis,

Manassas,VA, 1987. Samsonov,V A. Parus Podnimayu. Petrozavodsk, 1993.

———-, Zhizn prodolzhaetsya. Petrozavodsk, 1990.
SEREBRYAKOVA, Galina, Huragan. Trad. Josef Labodowski, Paris, 196
SGOVIO, Thomas, Dear America. Kenmore, Nova York, 1979.
Shalamov, Varlam, Kolynxa Tales. Londres, 1994.

———-, Neskolko moikh zhiznei. Moscou, 1996.
Sharansky, Natan, FearNo Evil. Trad. Stefani Hoffman, Londres, 1988.
Shelest, Georgii, “Kolymskie zapisi”. Znamya, nº 9, setembro 1964, pp. 162-80.

Shikheeva-Gaister, Inns, Semeinaya khronika vremen kulta lichnosti. Moscou,

1998.
Shipovskaya, E. A.,Lspovedrytsarya sveta. Moscou, 1998.
SHRYAEV, Boris, Neugasimaya lampada. Moscou, 1991.
SHREIDER, Mikhail, NKVD iznutri. Moscou, 1995.
SIEMINSKI, Janusz, Moja Kolyma,Varsóvia, 1995.
SlTKO, Leonid, Gafe moi veter?. Vol. VIII. Moscou, 199.6.

———-, Tyazhest sveta. Moscou, 1996.
Smith, CA., Escape from Paradise. Londres, 1954.
Snegov, Sergei, Yazyk, kotoryi nenavidit. Moscou, 1991.

Solzhenitsyn, Alexander, Cancer Ward. Trad. Nicholas Bethell e David Burg,

Nova York, 1995.

———, The GulagAi-chipelag. 3 vols., Nova York, 1973.

———, The First Circle. Londres, 1996.

———-, One Day in the Life oflvan Denisovich. Trad. H. T. Willetts,

Londres, 1996.
Sreddrugikh irnen (antologia poética). Moscou, 1991.
Stajner, Karlo, Seven ThousandDays in Siberia. Edinburgo, 1988.
Starostin, Níko\ai,Futbo/skvozgody. Moscou, 1992.
Stypülkowski, Zbigniew, Invitation to Moscow. Londres, 1951.

SüLIMOV, lvan,ÉMoprozhitykh let. Odessa, 1997.

TAYLOR-TERLECKA, Nina, ed., Gulag Polskich Poetow: od Komi do Kolyrny

(antologia poética). Londres, 2001.
Tchernavin, Tatiana, Escape from the Soviets. Nova York, 1934.
TCHERNAVIN,Vladimir, I Speak for the Silent. Boston e Nova York, 1935.
Tiif, O., “Iz vospominanii i zametok, 1939-1969”. Minuvshee, vol. 7,1992, p. 125.
TOLSTOY, Leo, Anna Karenina. Trad. Rosemary Edmund, Londres, 1978.
TRUBETSKOI, Andrei, Puti neispovedimy. Moscou, 1997.
Trubetskoi, Sergei, Minuvshee. Moscou, 1991.
TVARDOVSKII, I. l.,Rodina ichuzhbina. Smolensk, 1996.
ULYANOVSKAYA, Nadezhda e Maya, Istoriya odnoisemyi. Nova York, 1982.

Uroki Gneva i lyubvi: sbornik vospominanii o godakh repressii. São

Petersburgo, 1993.
Vardi, Aleksandr, Podkonvoiny mir. Berlim, 1971.
VESELOVSKIl, B.V.,Skrytaya biografiya. Moscou, 1996.
Vesyolaya, Zayara, 7-35Vospominaniya. Moscou, 1990.
VlLENSKY, Simeon, et al., Den Gulaga: 1918-1956. Moscou, 2002.
Vilensky, Simeon, ed., Osventsim bezpechei. Moscou, 1996.

—————–, Till My Tale Is Told [Dodnes tyagoteet, Moscou, 1989],

Bloomington e Indianapolis, IN, 1999.

VlNS, Georgii, F.vangelie v uzakh. Kiev, 1994.

Vitzhum, Hilda, Torn OutBy theRoots. Trad. Paul Schach, Lincoln, NB, e

Londres, 1993. VOGELER, Robert, I Was Stalin ‘s Prisoner. Nova York, 1951.

VOGELFANGER, Isaac, Red Tempest: The Life ofa Surgeon in the Gulag.

Montreal, 1996.

VOITOLOVSKAYA, Adda, Po sledam sudby moegopoko/eniya. Syktyvkar, 1991.

VOLKOV, Oleg, Vek nadezhd i krushenii. Moscou, 1990. Vremya i sudby

(antologia). Moscou, 1991.

Wat, Aleksander, My Century: The Odyssey ofa Polish Intellectual Ed. e trad.

Richard Lourie, Berkeley, CA, 1988.
Waydenfeld, Stefan, ThelceRoad. Edinburgo e Londres, 1999.
Weissberg, Alexander, Conspiracy ofSilence. Londres, 1952.

WlGMANS, Johan, Ten Years in Russia and Siberia. Trad. Arnout de Waal,

Londres, 1964.
Wu, Harry, Bitter Winds. Nova York, 1994.
Yakir, Pyotr, A Childhood in Prison. Nova York, 1973.
Yakovenko, M. M.,Agnessa. Moscou, 1997.
Yasnyi,V K., Godrozhdeniya-devyatsotsemnadtsatyi. Moscou, 1997.
Yevtushenko, Yevgeny, Strofi Veka: Antologiya Russkoi Poezii. Minsk e Moscou,

Zabolotskii, N. A., “Istoriya moego zaklyucheniya”, Minuvshee, vol. 2,1986.

Zajdlerowa, Zoe, The Dark Side oftheMoon. Ed. John Coutouvidis e Thomas

Lane, Londres, 1989.
Zarod, Kazimierz, Inside Stalin ‘s Gulag. Lewes, Sussex, 1990.
Zernova, Ruf Éto bylo prinas. Jerusalém, 1988.
Zhenov, Georgii, Sanochki. Moscou, 1997.
Zhigülin, Anatolii, Chernye kamni. Moscou, 1996.
Znamenskaya, A. N., Vospomingniya. São Petersburgo, 1997.


 

Chú thích:

[1] Sitko, bài thơ vô đề, trích từ Tyazhest sveta, tr. 11.

[2] Stajner, tr. 101.

[3] Razgon, tr. 210.

[4] E. Ginzburg, Ở giữa Miền Gió xoáy, tr. 26-42.

[5] Warwick, hồi ký không xuất bản.

[6] GARF, 9414/1/68; Imet silu pomnit, tr. 166.

[7] E. Ginzburg, Ở giữa Miền Gió xoáy, tr. 28.

[8] Gogua, hồi ký không xuất bản.

[9] Hoover, Polish Ministry of Information Collection, Box 114, Folder 2.

[10] Adamova-Sliozberg, tr. 63.

[11] GARF, 9401/1a/107.

[12] Herling-Grudziński, tr. 197.

[13] Kokurin và Morukov, “Gulag: struktura i kadry”, Svobodnaya Mysl, số 7; Kokurin và Petrov, Gulag, tr. 441.

[14] Bacon, tr. 149.

[15] Bacon, tr. 148.

[16] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 94.

[17] GARF, 7523/4/37, 39 và 38.

[18] L. Ginzburg, tr. 14; Overy, tr. 104-108.

[19] GARF, 9401/2/95, 94 và 168.

[20] Con số hai mươi triệu xuất hiện sau cuộc điều tra dân số Liên Xô năm 1959, mười bốn năm sau khi chiến tranh kết thúc, với kết quả dân số nam ít hơn dân số nữ 20 triệu người. Ngày nay, số liệu thống kê được xem là nghiêm túc của nhà nghiên cứu G. I. Kirosheev đưa ra con số 26,6 triệu người. – ND

[21] Overy, tr. 77.

[22] Juri Brodsky, tr. 285.

[23] Đó là điều tác giả nghe được trên đảo bởi ít nhất là ba người, trong đó có giám đốc Bảo tàng Solovetsky.

[24] Makurov, tr. 195.

[25] Guryanov, Kokurin và Popiński, tr. 8-10. Drogi śmierci, xuất bản bởi Karta Institute, bao gồm một sưu tập tài liệu từ văn khố Xôviết, cùng với chủ yếu các hồi ký không xuất bản từ Archiwum Wschodnie (“Văn khố Phương Đông”) của Karta, đề cập tới số phận của những tù ở Đông Ba Lan trong những ngày đầu của chiến tranh.

[26] Bacon, tr. 91; Guryanov, Kokurin và Popiński, tr. 10-26.

[27] Guryanov, Kokurin và Popiński, tr. 10-26.

[28] GARF, 9414/1/68.

[29] Guryanov, Kokurin và Popiński, tr. 40.

[30] Guryanov, Kokurin và Popiński, tr. 90-91.

[31] Sabbo, tr. 1128-1132.

[32] Bacon, tr. 88-89.

[33] M. Shteinberg, “Etap vo vremya voiny”, trong Pamyat Kolymy, 1978, tr. 167.

[34] Guryanov, Kokurin và Popiński, tr. 90.

[35] M. Shteinberg, “Etap vo vremya voiny”, trong Pamyat Kolymy, 1978, tr. 167-171.

[36] GARF, 9414/1/68.

[37] Bacon, tr. 91.

[38] Trong Taylor-Terlecka, tr. 56-57. Tác giả dịch ra tiếng Anh với sự giúp đỡ của Piotr Paszkowski.

[39] Razgon, tr. 138.

[40] Razgon, tr. 138.

[41] Głowacki, tr. 273.

[42] Sabbo, tr. 754.

[43] Sword, tr. 13.

[44] Guryanov, tr. 4-9.

[45] Martin, “Stalinist Forced Relocation Policies”, tr. 305-339.

[46] Lieven, The Baltic Revolution, tr. 82.

[47] Głowacki, tr. 331.

[48] Hoover, Polish Ministry of Information Collection, Box 123; cũng có trong Głowacki, tr. 331.

[49] GARF, 5446/57/65.

[50] RGVA, 40/1/71/323.

[51] Ptasnik.

[52] Sabbo, tr. 804-809.

[53] Gross và Grudzińska-Gross, tr. 77.

[54] Gross và Grudzińska-Gross, tr. 68.

[55] Gross và Grudzińska-Gross, tr. 146.

[56] Gross và Grudzińska-Gross, tr. 80-81.

[57] Gross và Grudzińska-Gross, tr. Xvi.

[58] Conquest, The Soviet Deportation of Nationalities, tr. 49-50.

[59] Ergo: tiếng latin trong nguyên bản, có nghĩa là “Do đó”, “Vì thế”, được dùng trong chuyên ngành để kết luận cho một tranh luận trước đó. – ND

[60] Martin, “Stalinist Forced Relocation Policies”.

[61] Conquest, The Soviet Deportation of Nationalities, tr. 34-35.

[62] Lieven, The Baltic Revolution, tr. 318-319.

[63] Naimark, Fires of Hatred, tr. 95.

[64] Pohl, “The Deportation and Fate of the Crimean Tartars”; Naimark, Fires of Hatred, tr. 99-107.

[65] Naimark, Fires of Hatred, tr. 98-101.

[66] Martin, “Stalinist Forced Relocation Policies”.

[67] Pohl, “The Deportation and Fate of the Crimean Tartars”, tr. 11-17.

[68] Lieven, Chechnya, tr. 319; Naimark, Fires of Hatred, tr. 97.

[69] Lieven, Chechnya, tr. 320.

[70] Pohl, “The Deportation and Fate of the Crimean Tartars”, tr. 17-19; Lieven, Chechnya, tr. 319-321.

[71] Lieven, Chechnya, tr. 318-320; Naimark, Fires of Hatred, tr. 83-107.

[72] Zagorulko (một bộ sưu tập lớn các tài liệu từ nhiều nguồn lưu trữ, xuất bản dưới sự bào trợ của Cơ quan Lưu trữ Liên bang, GARF, TsKhIDK và Đại học Volgograd, với nguồn tài chính của Quỹ Soros).

[73] Overy, tr. 52.

[74] Sword, tr. 5.

[75] Pikhoya, Katyn, tr. 36.

[76] Xem Czapski, mô tả các cố gắng của chính phủ Ba Lan để tìm kiếm những sĩ quan này.

[77] Sword, tr. 2-5.

[78] Beevor, tr. 409-410.

[79] Beevor, tr. 411.

[80] Zagorulko, tr. 31 và 333.

[81] Zagorulko, tr. 25-33.

[82] S. I. Kuznetsov, tr. 618-619.

[83] Số liệu theo Overy, tr. 297, và lấy từ một tài liệu của Liên Xô năm 1956. Một tài liệu Liên Xô khác năm 1949, được in lại trong Zagorulko, tr. 331-333, có bao gồm những con số tương tự (2.079.000 người Đức, 1.220.000 không phải người Đức, 590.000 người Nhật và 570.000 tử vong).

[84] Gustav Menczer, người đứng đầu hội người Hung sống sót qua Gulag, qua trò chuyện với tác giả, tháng 2/2002.

[85] Bien, hồi ký không xuất bản.

[86] Knight, “The Truth about Wallenberg”.

[87] Andrej Paczkowski, “Poland, the Enemy Nation”, trong Courtois và đồng sự, tr. 372-375.

[88] “Kuzina Gitlera”, Novaya Izvetstiya, số ngày 3/4/1998, tr. 7.

[89] Noble.

[90] Zagorulko, tr. 131.

[91] Zagorulko, tr. 333. Có khoảng 20.000 tù binh chiến tranh trong Gulag.

[92] Zagorulko, tr. 1042 và 604-609.

[93] Zagorulko, tr. 667-668.

[94] Zagorulko, tr. 38.

[95] Naimark, The Russians in Germany, tr. 43.

[96] Zagorulko, tr. 40 và 54-58.

[97] Vostochnaya Evropa, tr. 270.

[98] Vostochnaya Evropa, tr. 370 và 419-422.

[99] GARF, 9401/2/497.

[100] Zagorulko, tr. 40 và 54-58. Hầu hết tù binh chiến tranh được thả đầu những năm 1950, mặc dù có 20.000 người còn ở lại Liên Xô vào thời điểm Stalin chết.

[101] Bethell, tr. 17.

[102] Bethell, tr. 17.

[103] Bethell, tr. 166-169.

[104] Bethell, tr. 103-165.

[105] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 43.

[106] Pohl, The Stalinist Penal System, tr. 51.

[107] Pohl, The Stalinist Penal System, tr. 50-52.

[108] GARF, 7523/4/164.

[109] GARF, 9401/1a/135.

[110] GARF, 9414/1/76.

[111] GARF, 9401/1a/135, 9401/1/76 và 9401/1a/136.

[112] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 43.

[113] Kruglov, tr. 66, 256 và 265.

[114] Vilensky, qua phỏng vấn với tác giả.

[115] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 43.

[116] GARF, 9414/1/76.

[117] Có mô tả trong Joffe, tr. 199-200.

[118] Klein, Ulybki nevoli, tr. 396-403.

[119] Hava Volovich, “My Past”, trong Vilensky, Till My Tale is Told, tr. 259.

[120] Wallace, tr. 137.

[121] Wallace, tr. 117.

[122] GARF, 9401/2/65; Sgovio tr. 251; Wallace, tr. 33-41.

[123] Wallace, tr. 33-41; Sgovio, tr. 215.

[124] Vera Ustieva, “Podarok dlya vitse-prezidenta”, trong Vilensky, Osventsim bez pechei, tr. 98-106.

[125] Wallace, tr. 127-128.

[126] Sgovio, tr. 245.

[127] Wallace, tr. 33-41.

[128] Sgovio, tr. 252.

[129] Wallace, tr. 205.

[130] Trong Taylor-Terlecka, tr. 144.

[131] GARF, 9414/1/68; Zemskov, “Sudba kulatskoi ssylki”, tr. 129-142; Martin, “Stalinist Forced Relocation Policies”.

[132] GARF, 9401/1/743.

[133] Bacon, tr. 112.

[134] Con số tù trong các trại lâm nghiệp tụt từ 338.850 năm 1941 xuống còn 122.960 năm 1944. Okhotin và Roginsky, tr. 122.

[135] Sgovio, tr. 242.

[136] Gorbatov, tr. 150-151.

[137] Ủy ban Tư pháp (lời khai của Avraham Shifrin).

[138] Gorbatov, tr. 169, 174-175 và 194.

[139] GARF, 7523/64/687 và 8-15.

[140] Để ví dụ, xin xem Overy, tr. 79-80.

[141] E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 30.

[142] GARF, 9414/1/1146.

[143] Mindlin, tr. 61.

[144] GARF, 9414/4/145.

[145] Bacon, tr. 135-137, 140-141 và 144.

[146] Sword, tr. 30-36.

[147] Sword, tr. 48.

[148] Herling-Grudziński, tr. 190.

[149] Karta, Anders Army Collection, V/AC/127.

[150] Karta, Kazimierz Zamorski Collection, Folder I, Files 15885 và 15882.

[151] Herling-Grudziński, tr. 228.

[152] Waydenfeld, tr. 195-334.

[153] Zarod, tr. 234.

[154] Janusz Wedów, “Powitanie Wodza”, trong Taylor-Terlecka, tr. 145.

[155] Czapski, tr. 243.

[156] Sword, tr. 60-87.

[157] Djilas, tr. 114.

[158] Kotek và Rigoulot, tr. 527.

[159] Kotek và Rigoulot, tr. 549 và 542.

[160] Kotek và Rigoulot, tr. 539-543 và 548-556.

[161] Kotek và Rigoulot, tr. 543-544.

[162] Kotek và Rigoulot, tr. 544-548; cũng có trong Andrzej Paczkowski, “Ba Lan, đất nước thù địch”, trong Courtois và đồng sự, tr. 363-393.

[163] Kotek và Rigoulot, tr. 565-572.

[164] Todorov, Voices from the Gulag, tr. 124.

[165] Todorov, Voices from the Gulag, tr. 123-128.

[166] Kotek và Rigoulot, tr. 559.

[167] Naimark, The Russians in Germany, tr. 376-397.

[168] Todorov, Voices of the Gulag, tr. 39-40.

[169] Saunders. Tr. 1-11; Kotek và Rigoulot, tr. 619-648.

[170] Ogawa và Yoon, tr. 15.

[171] Ogawa và Yoon, tr. 3.

[172] Alla Startseva và Valeriya Korchagina, “Pyongyang Pays Russia with Free Labor”, Moscow Times, số ngày 6/8/2001, tr. 1.

[173] Dẫn từ Sred drugikh imen, tr. 64.

[174] E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 279.

[175] Xem Zubkova.

[176] Service, A History of Twentieth-Century Russia, tr. 299.

[177] GARF, 9401/1/743 và 9401/2/104.

[178] Kokurin và Petrov, Gulag, tr. 540.

[179] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 95-96.

[180] Service, A History of Twentieth-Century Russia, tr. 299; Ivanova, “Poslevoennye repressii”.

[181] Andrew và Gordievsky, tr. 341.

[182] Ivanova, “Poslevoennye repressii”, tr. 256.

[183] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 48-53.

[184] Chiến dịch WRINGER, HQ USAF Record Group 341, Box 1044, Air Intelligence Report 59B-B-5865-B. Lưu trữ về cuộc thẩm vấn này được giữ tại Văn khố Quốc gia, Washington, DC. Tác giả rất biết ơn thiếu tá Tim Falkowski vì đã lưu ý tác giả về câu chuyện này. Lực lượng Không quân Mỹ xem câu chuyện này có vẻ đáng tin cậy, nhưng vẫn chưa có xác nhận cụ thể.

[185] Nikolai Morozov đã kể cho tác giả câu chuyện này. Hội Ký ức Komi đã phỏng vấn các cư dân Sedvozh, tìm kiếm các chứng cứ miệng, nhưng chỉ tìm thấy một người đã được nghe kể lại toàn bộ câu chuyện. Lyuba Vinogradova tìm thấy đoạn đề cập đến những người Scot trong RGVA, nhưng bản thân tài liệu gốc đã bị mất. RGVA không muốn cung cấp thêm thông tin.

[186] Bacon, tr. 24.

[187] Nicolas Werth, “Apogee and Crisis in the Gulag System”, trong Courtois và đồng sự, tr. 235-239.

[188] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 55-56.

[189] E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 283.

[190] E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 290-291.

[191] E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 291.

[192] Adamova-Sliozberg, tr. 71.

[193] Razgon, tr. 220.

[194] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 55-56.

[195] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 56.

[196] Kokurin và Morukov, “Gulag: struktura I kadry” (phần 14), Svobodnaya Mysl, số 11, tháng 11/2000.

[197] Kuts, tr. 195.

[198] Bulgakov, qua phỏng vấn với tác giả.

[199] Kuts, tr. 165.

[200] Pechora, qua phỏng vấn với tác giả.

[201] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 61.

[202] Kokurin và Petrov, Gulag, tr. 555-567; Kokurin, “Vosstanie v Steplage”.

[203] Kokurin, “Vosstanie v Steplag”; Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 55.

[204] Abramkin và Chesnokova, tr. 10.

[205] GARF, 9401/1a/270.

[206] E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 103.

[207] Abramkin và Chesnokova, tr. 10-11.

[208] Zhigulin, tr. 135-137.

[209] Buca, tr. 59-61.

[210] Georgi Feldgun, hồi ký không xuất bản.

[211] Sitko, qua phỏng vấn với tác giả.

[212] Zhigulin, tr. 135-137.

[213] GARF, 9401/1/4240.

[214] Craveri và Khlevnyuk.

[215] Ivanova, “Poslevoennye repressii”.

[216] Kokurin và Morukov.

[217] Craveri và Khlevnyuk.

[218] Ivanova, “Poslevoennye repressii”, tr. 272.

[219] Craveri và Khlevnyuk, tr. 183.

[220] Craveri.

[221] Nicolas Werth, “Apogee and Crisis in the Gulag System”, trong Courtois và đồng sự, tr. 239-240.

[222] Craveri và Khlevnyuk, tr. 183.

[223] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 125.

[224] Để ví dụ, xem Klein, Ulybki nevoli, tr. 61.

[225] Berdinskikh, tr. 56.

[226] Craveri và Khlevnyuk, tr. 185.

[227] Craveri và Khlevnyuk, tr. 186.

[228] Knight, Beria, tr. 160-169.

[229] Naumov và Rubinstein, tr. 61-62.

[230] Naumov và Rubinstein, tr. 62.

[231] Adamova-Sliozberg, tr. 79.

[232] Filshtinsky, tr. 114.

[233] Trich trong Conquest, Stalin, tr. 312.

[234] Aleksandrovich, tr. 57.

[235] Ulyanovskaya và Ulyanovskaya

[236] Andreevna, qua phỏng vấn với tác giả.

[237] E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 357.

[238] Negretov, qua phỏng vấn với tác giả.

[239] Stajner, tr. 358.

[240] Berdinskikh, tr. 204.

[241] E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 360.

[242] Aleksandrovich, tr. 57.

[243] Adamova-Sliozberg, tr. 80.

[244] Roeder, tr. 195.

[245] Vasileeva, qua phỏng vấn với tác giả.

[246] Khrushchev, tập I, tr. 322-323.

[247] E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 357.

[248] Knight, Beria, tr. 185.

[249] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 124.

[250] Naumov và Sigachev, tr. 19-21 (APRF, 3/52/100).

[251] Knight, Beria, tr. 185.

[252] Knight, Beria, tr. 185.

[253] Naumov và Sigachev, tr. 28-29 (GARF, 9401/1/1299).

[254] Knight, Beria, tr. 188-194.

[255] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 124.

[256] Để phân tích động cơ của Beria, xin xem Khlevnyuk, “L. P. Beriya”; Pikhoya, Sovetskii Soyuz, tr. xxx; Knight, Beria, tr. 176-200.

[257] Knight, Beria, tr. 194-224.

[258] Dolgun, tr. 261.

[259] Aleksandrovich, tr. 57.

[260] Zorin, qua phỏng vấn với tác giả.

[261] Filshtinsky, qua phỏng vấn với tác giả.

[262] Armonas, tr. 153-160.

[263] Pechora, qua phỏng vấn với tác giả.

[264] Trus, qua phỏng vấn với tác giả.

[265] Usakova, qua phỏng vấn với tác giả.

[266] Zorin, qua phỏng vấn với tác giả.

[267] Khachatryan, qua phỏng vấn với tác giả.

[268] Tài liệu GARF, mệnh lệnh ngày 3 tháng Chín 1955, thuộc bộ sưu tập của tác giả.

[269] Bulgakov, qua phỏng vấn với tác giả; Ilya Golts, “Vorkuta”, Minuvshee, tập 7, 1992, tr. 334.

[270] Trích trong Vilensky, Dodnes tyagoteet, tr. 216.

[271] Để ví dụ, xin xem E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 359-363; Dolgun, tr. 261-262; Hoover, Adam Galinski Collection.

[272] Bulgakov, qua phỏng vấn với tác giả.

[273] Panin, tr. 306.

[274] Ilya Golts, “Vorkuta”, Minuvshee, tập 7, 1992, tr. 334.

[275] Để có được mô tả về thái độ của các tổ chức ngầm người Ukraina đối với chỉ điểm viên, xin xem Burds.

[276] Panin, tr. 308-310.

[277] Sitko, Gde moi veter?, tr. 181-190.

[278] Craveri, tr. 323.

[279] Kosyk, tr. 56.

[280] GARF, 9413/1/159.

[281] N. A. Morozov, Osobye lagerya MVD SSSR, tr. 23-24.

[282] N. A. Morozov, Osobye lagerya MVD SSSR, tr. 24-25; Noble, tr. 143.

[283] Noble, tr. 143.

[284] GARF, 9413/1/160.

[285] GARF, 9413/1/160; N. A. Morozov, Osobye lagerya MVD SSSR, tr. 27.

[286] Noble, tr. 144.

[287] GARF, 9413/1/160.

[288] Buca. Buca rõ ràng có ở đó: nhiều chi tiết trong ghi chép của ông phù hợp với các báo cáo chính thức. Điều tác giả nghi ngờ là vai trò cầm đầu của ông này.

[289] Kosyk, tr. 61 và 56-65.

[290] Vilensky, qua phỏng vấn với tác giả.

[291] Bulgakov, qua phỏng vấn với tác giả.

[292] Kuts, tr. 198.

[293] GARF, 9413/1/160.

[294] GARF, 9413/1/160.

[295] Hoover, Adam Galinski Collection.

[296] Buca, tr. 271 và 272.

[297] Noble, tr. 162.

[298] Berdinskikh, tr. 239-240.

[299] “Materialy soveshchaniya rukovodyashchikh rabotnikov ITL i kolonii MVD SSSR, 27/9 – 1/10/1954”, trong bộ sưu tập của Hội Ký ức.

[300] Morozov và Rogachev.

[301] GARF, 9401/1/4240.

[302] GARF, 9413/1/160 và 159.

[303] Bản mô tả này về cuộc nổi dậy Kengir được lập thông qua việc so sánh và tổng hợp từ nhiều nguồn. Một sưu tập các tài liệu lưu trữ đề cập đến cuộc nổi dậy đã được biên soạn và chú giải bởi Aleksandr Kokurin (“Vosstanie v Steplage”). Sử gia người Ý Marta Craveri đã viết bản mô tả đáng tin cậy nhất về cuộc nổi dậy tính cho đến nay, sử dụng tài liệu này và các nguồn khác, cũng như qua phỏng vấn với những người tham dự (Craveri, “Krizis Gulaga”, tr. 324). Một mô tả lộn xộn hơn cũng được tổng hợp từ các nguồn đối lập của Ukraina trong cuốn Hệ thống trại tập trung ở Liên Xô của Volodymyr Kosyk. Tác giả cũng sử dụng nhiều ghi chép viết về cuộc nổi dậy, đáng lưu ý là cuốn Rastoptannye zhizni của Lyubov Bershadskaya, tr. 86-97, và cuốn Zveriada của N. L. Kekushev, tr. 130-143, cũng như các tài liệu và hồi ký xuất bản trong tập san Volya (2-3), 1994, tr. 307-370. Tác giả đã phỏng vấn Irena Arginskaya, người cũng có mặt ở Steplag trong thời gian cuộc nổi dậy. Mô tả của Solzhenitsyn, cũng được tổng hợp qua phỏng vấn với những người tham gia, xuất hiện trong Quần đảo Gulag, tập III, tr. 285-331. Nếu không được đặc biệt chú thích ở dưới thì tất cả các mô tả về sự kiện này đều dựa theo các nguồn trên. Tác giả tán thành theo bố cục thời gian của Craveri.

[304] Theo quan sát của Marta Craveri.

[305] Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập III, tr. 209.

[306] Volya, (2-3), 1994, tr. 309.

[307] Bershadskaya, tr. 87.

[308] Bershadskaya, tr. 95-97.

[309] Có in lại trong Cohen, tr. 184.

[310] Craveri và Khlevnyuk, tr. 187.

[311] Negretov, qua phỏng vấn với tác giả.

[312] “Materialy soveshchaniya rukovodyashchikh rabotnikov ITL i kolonii MVD SSSR, 27/9-1/10/1954”, trong bộ sưu tập của Hội Ký ức. Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 66; Okhotin và Roginsky, tr. 58-59; Kovalchuk-Koval, tr. 299; Filshtinsky, qua phỏng vấn với tác giả.

[313] Smirnova, qua phỏng vấn với tác giả.

[314] GARF, 9401/2/450.

[315] GARF, 9401/2/450.

[316] Khrushchev, tr. 559.

[317] Khrushchev, tr. 559-618.

[318] Khrushchev, tr. 351.

[319] K. Smith, tr. 131-174.

[320] GARF, 9401/2/479.

[321] GARF, 9401/2/479; Craveri, tr. 337; Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 67.

[322] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 67-68; Craveri và Khlevnyuk, tr. 189.

[323] Ivanova, Labor Camp Socialism, tr. 67-68; Craveri và Khlevnyuk, tr. 188-189.

[324] Andreev-Khomiakov, tr. 3-4.

[325] Kusurgashev, tr. 70.

[326] Vera Korneeva, trích trong Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập III, tr. 454.

[327] Zorin, qua phỏng vấn với tác giả.

[328] E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 211.

[329] Korol, tr. 189.

[330] GARF, 9489/2/20.

[331] Efron, Miroedikha, tr. 127-128.

[332] Usakova, qua phỏng vấn với tác giả.

[333] S. S. Torbin, Vospominaniya, Lưu trữ của Hội Ký ức, 2/2/91; Korol, tr. 190.

[334] GARF, 9414/3/40.

[335] Ilya Golts, “Vorkuta”, Minuvshee, tập 7, 1992, tr. 352-355.

[336] Sgovio, tr. 283.

[337] A. Morozov, tr. 381-382.

[338] Hoover, Fond 89, 18/38.

[339] Bulgakov, qua phỏng vấn với tác giả.

[340] Antonov-Ovseenko, The Time of Stalin, tr. 336

[341] K. Smith, tr. 133.

[342] Cohen, tr. 36.

[343] K. Smith, tr. 135; Hochschild, tr. 222-223.

[344] K. Smith, tr. 138.

[345] Adamova-Sliozberg, tr. 84-86.

[346] Rotfort, tr. 92.

[347] Herling-Grudziński, tr. 236.

[348] Andreeva, qua phỏng vấn với tác giả.

[349] Solzhenitsyn, Khu ung thư, tr. 202.

[350] Cohen, tr. 115.

Lysenko, Trofim Denisovich: nhà nông học Liên Xô, giám đốc Học viện Nghiên cứu Nông nghiệp thời Stalin, chống lại học thuyết di truyền của Mendel. – ND

[351] Antonov-Ovseenko, The Time of Stalin, tr. 332-336.

[352] Cohen, tr. 26.

[353] Antonov-Ovseenko, The Time of Stalin, tr. 332-336.

[354] Cohen, tr. 135.

[355] Razgon, tr. 50.

[356] Yuri Dombrovsky, tr. 77.

Bản dịch trên được dịch từ nguyên bản tiếng Nga. Xin cám ơn nick USY của nuocnga.net đã tìm được nguyên bản và giúp đỡ dịch bản tiếng Việt bài thơ trên. – ND

[357] Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập III, tr. 455.

[358] Koroleva, qua phỏng vấn với tác giả.

[359] Pechora, qua phỏng vấn với tác giả.

[360] Aksyonov, tr. 382.

[361] Trích trong Adler, tr.141.

[362] Vilensky và đồng sự, Deti Gulaga, tr. 460.

[363] Adler, tr. 145.

[364] Olga Adamova-Sliozberg, “My Journey”, trong Vilensky, Till My Tale is Told, tr. 70.

[365] Adler, tr. xx.

[366] Merridale, tr. 418.

[367] Cohen, tr. 38.

[368] Rothberg, tr. 12-40.

[369] Tổng hợp hoàn chỉnh nhất về cuộc đời Solzhenitsyn là cuốn tiểu sử Solzhenitsyn của tác giả Michael Scammell. Ngoại trừ những chỗ có ghi chú ở dưới, tất cả các thông tin về tiểu sử của ông đều lấy từ nguồn này.

[370] Scammell, Solzhenitsyn, tr. 415.

[371] Scammell, Solzhenitsyn, tr. 423-424.

[372] Scammell, Solzhenitsyn, tr. 448-449.

[373] Scammell, Solzhenitsyn, tr. 485.

[374] Sitko, Gde moi veter?, tr. 318.

[375] Rothberg, tr. 62.

[376] Dyakov, tr. 60-67.

[377] Sobolev và các đồng sự, tr. 68.

[378] Prisoners of Conscience in the USSR, tr. 48-53.

[379] Ủy ban Tư pháp (lời chứng của Avraham Shifrin).

[380] GARF, 9410/2/497.

[381] Thông tin trên cần được kiểm chứng, bản thân người dịch ít nhất đã đọc một hồi ký của lính Hồng quân (On the Roads of War: A Soviet Cavalryman on the Eastern Front, Ivan Yakushin, Pen & Sword Military, Great Britian 2005) có nhắc đến cộng đồng Cựu giáo ở Ural. – ND

[382] Ủy ban Tư pháp (lời chứng của Avraham Shifrin).

[383] R. Medvedev, tr. ix.

[384] Sobranie dokumentov samizdata, AS 143. (Đây là bộ sưu tập các tài liệu chép tay lưu truyền ngầm samizdat tập hợp bởi RFE-RL kể từ thập niên 1960. Các tài liệu không được “xuất bản”, nhưng được sao chép, đóng bìa, đánh số và cất trong một vài thư viện lớn).

[385] Prisoners of Conscience in the USSR, tr. 18-23.

[386] Sobranie dokumentov samizdata, AS 127.

[387] Prisoners of Conscience in the USSR, tr. 18-23.

[388] Reddaway, Uncensored Russia, tr. 11.

[389] Joseph Brodsky, tr. 26-27.

[390] Rothberg, tr. 127-133.

[391] Hoover, Joseph Brodsky Collection, Transcript of the Brodsky Trial.

[392] Hoover, Joseph Brodsky Collection, Transcript of the Brodsky Trial.

[393] Browne, tr. 3.

[394] Cohen, tr. 42; Reddaway, Uncensored Russia, tr. 19.

[395] Hopkins, tr. 1-14.

[396] Prisoners of Conscience in the USSR, tr. 21.

[397] Browne, tr. 9.

[398] Litvinov, The Trial of the Four, tr. 5-11.

[399] Browne, tr. 13.

[400] Ba mươi năm sau, Chornovil, sau này là một nhân vật lãnh đạo của hoạt động đòi độc lập ở Ukraina, đã trở thành vị đại sứ đầu tiên tại Canada của nước Ukraina độc lập. Trước khi đi nhậm chức, tác giả đã phỏng vấn ông tại Lvov vào năm 1990.

[401] Reddaway, Uncensored Russia, tr. 95-111.

[402] Reddaway, Uncensored Russia, tr. 19.

[403] Info-Russ, #0044 (xem phần Thư mục các Tài liệu lưu trữ). Đây là nơi Vladimir Bukovsky đã công bố các tài liệu ông nhận được khi tiến hành nghiên cứu cho phiên toà Đảng Cộng sản, có mô tả ở phần sau trong sách này. Các tài liệu này về sau trở thành đối tượng cho cuốn sách năm 1996 của ông, cuốn Moskovskii protsess, xuất bản bằng tiếng Pháp và tiếng Nga. Một số cũng được lữu giữ tại Hoover, Fond 89.

[404] Reddaway, Uncensored Russia, tr. 24.

[405] Reddaway, Uncensored Russia, tr. 1-47; Thời sự về các Sự kiện hàng ngày.

[406] Hopkins, tr. 122.

[407] Ratushinskaya, tr. 67.

[408] Marchenko, Lời chứng của tôi, tr. 17.

[409] Marchenko, Lời chứng của tôi, 220-227.

[410] Sitko, qua phỏng vấn với tác giả.

[411] Ratushinskaya, tr. 60-62.

[412] Viktor Shmirnov, qua trao đổi với tác giả, ngày 31/3/1998.

[413] Fedorov, qua phỏng vấn với tác giả.

[414] Marchenko, Lời chứng của tôi, tr. 349.

[415] Fedorov, qua phỏng vấn với tác giả.

[416] Ratushinskaya, tr. 174-175.

[417] Fedorov, qua phỏng vấn với tác giả.

[418] Marchenko, Lời chứng của tôi, tr. 68.

[419] E. Kuznetsov, tr. 169.

[420] Thời sự về các Sự kiện hàng ngày, số 32, 7/1974.

[421] Bukovsky, Xây dựng tòa lâu đài, tr. 45.

[422] Marchenko, Lời chứng của tôi, tr. 90-91; E. Kuznetsov, tr. 165-166.

[423] Thời sự về các Sự kiện hàng ngày, số 6, tháng 2/1969, trích dẫn trong Reddaway, Uncensored Russia, tr. 207.

[424] Thời sự về các Sự kiện hàng ngày, số 6, tháng 2/1969, trích dẫn trong Reddaway, Uncensored Russia, tr. 20-216.

[425] Marchenko, Lời chứng của tôi, tr. 69.

[426] Sharansky, tr. 236.

[427] Marchenko, Lời chứng của tôi, tr. 115; Tokes, tr. 84.

[428] Cháo kiều mạch. – ND

[429] Sharansky, tr. 235; Ratushinskaya, tr. 165-178.

[430] Sobranie dokumentov samizdata, AS 2598.

[431] Daniel, tr. 35.

[432] Marchenko, Lời chứng của tôi, tr. 65-69.

[433] Sobranie dokumentov samizdata, AS 2598.

[434] Thời sự các Sự kiện hàng ngày, số 32, 7/1974.

[435] Litvinov, Phiên toà xử nhóm Bộ Tứ, tr. 17.

[436] Reddaway và Bloch, tr. 305; Yakir.

[437] Thời sự về các Sự kiện hàng ngày, số 28, 12/1972.

[438] Uỷ ban An ninh và Hợp tác Châu Âu (Lời chứng của Aleksandr Shatravka và Tiến sĩ Anatoly Koryagin).

[439] Thời sự về các Sự kiện hàng ngày, số 33, 12/1974.

[440] Viktor Shmirnov, qua trò chuyện với tác giả, 31/3/1998.

[441] Sobranie dokumentov samizdata, AS 3115.

[442] Bukovsky có kể về chuyện này tại một hội thảo báo chí ở Warsaw năm 1998. Nguyên văn đăng trên website Info-Russ (xem phần danh mục tài liệu).

[443] Bukovsky, Moskovskii protsess, tr. 144-161.

[444] Reddaway và Bloch, tr. 48-49; Seton-Watson, tr. 257-258.

[445] Bukovsky, Xây dựng tòa lâu đài, tr. 357.

[446] Reddaway và Bloch, tr. 176, 140 và 107.

[447] Info-Russ, #0202.

[448] Reddaway và Bloch, tr. 226.

[449] Nekipelov, tr. 132.

[450] Reddaway và Bloch, tr. 220-221; Nekipelov, tr. 132.

[451] Prisoners of Conscience in the USSR, tr. 190; bức ảnh ở trang 194.

[452] Reddaway và Bloch, tr. 214.

[453] Prisoners of Conscience in the USSR, tr. 197-198.

[454] “Ba ý kiến bất đồng quan điểm”, Survey, số 77 (Mùa hè 1970).                                                                                                                                 

[455] Nekipelov, tr. 115.

[456] Reddaway và Bloch, tr. 348.

[457] Reddaway và Bloch, tr. 79-96.

[458] Reddaway và Bloch, tr. 178-180.

[459] Info-Russ, #0204.

[460] Info-Russ, #0204.

[461] Beichman và Bernstam, tr. 145-189.

[462] Prisoners of Conscience in the USSR, tr. 20 và 119; Alekseeva.

[463] Beichman và Bernstam, tr. 182.

[464] Reagan, tr. 675-679.

[465] Berdzenishvili, qua phỏng vấn với tác giả.

[466] Berdzenishvili, qua phỏng vấn với tác giả.

[467] Bukovsky, Xây dựng toà lâu đài, tr. 408.

[468] Bukovsky, Xây dựng toà lâu đài, tr. 408.

[469] Berdzenishvili, qua phỏng vấn với tác giả.

[470] Ratushinskaya, tr. 236.

[471] Reddaway, “Chống đối ở Liên bang Xôviết”.

[472] Gorbachev, tr. 24.

[473] Remnick, tr. 50.

[474] Remnick, tr. 264-268.

[475] K. Smith, tr. 131-174; Remnick, tr. 68.

[476] Remnick, tr. 101-119; K. Smith, tr. 131-174.

[477] USSR: Human Rights in a Time of Change.

[478]Lata dysydentów”, Karta, số 16, 1995.

[479] “Về cái chết của tù nhân vì nói thật Anatoly Marchenko”, ấn bản của tổ chức Ân xá Quốc tế, tháng 5/1987 (ML).

[480] “Về cái chết của tù nhân vì nói thật Anatoly Marchenko”, ấn bản của tổ chức Ân xá Quốc tế, tháng 5/1987 (ML).

[481] Lấy ví dụ, sự đóng cửa hệ thống trại đã không được mô tả trong cuốn The Waking Giant của Walker; cuốn Autopsy on an Empire của Matlock; cuốn The Gorbachev Factor của Brown; hay cuốn Why Gorbachev Happened của Kaiser. Ngoại lệ quan trọng là cuốn Lenin’s Tomb của Remnick, có một chương về những tù cuối cùng của Perm-35.

[482] Paul Hofheinz, cựu phóng viên báo ở Moscow, qua trò chuyện với tác giả, 13/2/2002.

[483] Matlock, tr. 275.

[484] Remnick, tr. 270.

[485] Walker, tr. 147.

[486] Info-Russ, #0128.

[487] Info-Russ, #1404.

[488] Info-Russ, #0130.

[489] USSR: Human Rights in a Time of Change.

[490] “The Recent Release of Prisoners in the USSR”, ấn bản của Ân xá Quốc tế, 4/1987 (ML).

[491] “The Recent Release of Prisoners in the USSR”, ấn bản của Ân xá Quốc tế, 4/1987 (ML).

[492] Ấn bản cập nhật hàng tuần của Ân xá Quốc tế, 8/4/1987 (ML).

[493] Berdzenishvili, qua phỏng vấn với tác giả.

[494] Tin thư của Ân xá Quốc tế, tháng 6/1988, tập XVIII, số 6 (ML).

[495] “Bốn tù nhân chịu án dài hạn vẫn đang chờ được xem xét”, ấn bản của Ân xá Quốc tế, 4/1990; cũng có trong Tin thư của Ân xá Quốc tế, 10/1990, tập XX, số 10 (ML); Klymchak được thả vào cuối năm đó.

[496] Matlock, tr. 287.

[497] “Liên bang Nga: nhìn lại những thay đổi về luật pháp thời gian gần đây”, ấn bản của Ân xá Quốc tế, 9/1993 (ML).

[498] Matlock, tr. 295.

[499] Trích từ Cohen, tr. 186.

[500] Lev Razgon, Nepridumannoe, tr. 27.

[501] K. Smith, tr. 153-159.

[502] Aleksandr Yakovlev, qua trò chuyện với tác giả, 25/2/2002.

[503] Merridale, tr. 407-408.

[504] Gessen.

[505] Aleksandr Yakovlev, qua trao đổi với tác giả, 25/2/2002.

[506] Tác giả đã mô tả sự kiện này trong “Secret Agent Man”, Weekly Standard, 10/4/2000.

[507] Ví dụ, khoảng 130 bộ xương được phát hiện trong hầm một tu viện ở Tây Ukraina tháng 7/2002. Moscow Times, 18/7/2002.

[508] Anne Appelbaum “Secret Agent Man”, Weekly Standard, 10/4/2000.

[509] Adamova-Sliozberg, tr. 16.

[510] Andrew Alexander, “The Soviet Threat was Bogus”, Spectator, 20/4/2002.

[511] Vidal.

[512] Bacon, tr. 8-9.

[513] Conquest, The Great Terror, tr. 485.

[514] Getty, tr. 8.

[515] Zemskov, “Arkhipelag Gulag”, tr. 6-7; Getty, Ritterspoon và Zemskov, Phụ lục A và B, tr. 1048-1049.

[516] Getty, Ritterspoon và Zemskov, tr. 1047.

[517] Bacon, tr. 112.

[518] Pohl, The Stalinist Penal System, tr. 17.

[519] Pohl, The Stalinist Penal System, tr. 15

[520] Tổng kết đầy đủ nhất tính đến ngày nay của tranh luận về các tiết lộ thống kê thời hậu 1991 có thể tìm thấy trong Bacon, tr. 6-41 và 101-122: con số mười tám triệu là của ông này, dựa trên tỷ lệ luân chuẩn và các thống kê đã có. Để ghi nhận, Dugin tuyên bố rằng 11,8 triệu người đã bị bắt từ 1930 tới 1953, nhưng tác giả thấy nó khó có thể hợp với con số tám triệu được biết tới là đã bị bắt cho đến năm 1940, đặc biệt khi căn cứ con số khổng lồ bị bắt và thả trong Thế chiến thứ II (Dugin, “Stalinizm: legendy I fakty”).

[521] Overy, tr. 297; Zagorulko, tr. 331-333.

[522] Pohl, The Stalinist Penal System, tr. 50-52; Zemskov, “Gulag”, tr. 4-6.

[523] Polyan, tr. 239.

[524] Pohl, The Stalinist Penal System, tr. 5.

[525] Pohl, The Stalinist Penal System, tr. 133.

[526] Mặc dù một số đã được xuất bản. Xem Getty, Ritterspoon và Zemskov, tr. 1048-1049.

[527] GARF, 9414/1OURZ. Các con số trên được biên soạn bởi Aleksandr Kokurin.

[528] Zabolotsky, tr. 310-331.

[529] Pohl, The Stalinist Penal System, tr. 131.

[530] Getty, Ritterspoon và Zemskov, tr. 1024.

[531] Courtois và đồng sự, tr. 4.

[532] Razgon, tr. 290-291.

Advertisements

One thought on “Gulag- Lịch sử trại cải tạo lao động Xôviết- Phần 3

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s