Gulag- Lịch sử trại cải tạo lao động Xôviết- Phần 2

II  Cuộc sống và Lao động trong Trại

Gulag

Tác giả Anne Applebaum

Giải Pulitzer 2004

Người dịch Lý Quốc Bảo

 7. Bắt bớ

Chúng tôi không bao giờ hỏi “Anh ấy bị bắt vì lẽ gì?” khi nghe nói về cuộc bắt giữ gần nhất, nhưng chúng tôi là ngoại lệ. Hầu hết mọi người, phát điên vì lo sợ, đã hỏi câu hỏi đó chỉ để khiến bản thân có thêm chút hy vọng; nếu người khác bị bắt vì lý do nào đó, vậy thì họ sẽ không bị bắt, vì họ đã không làm gì sai. Họ thi nhau nghĩ ra các lý lẽ khéo léo nhất nhằm biện hộ cho các cuộc bắt bớ: “Vâng, cô ta đúng là kẻ buôn lậu, anh không biết à”, “Hắn thực sự đã đi quá xa”, hay “Điều đó có thể đoán trước được, gã ấy là một người kinh khủng”, “Tôi luôn luôn nghĩ rằng hắn có cái gì đó ám muội”, “Hắn hoàn toàn không giống chúng ta chút nào…”

Đó là lý do tại sao chúng ta tránh cái câu hỏi “Anh ấy bị bắt vì lẽ gì?”

Vì lẽ gì?” Akhmatova đã gào lên đầy căm phẫn, bị lây nhiễm bởi bầu không khí đang thịnh hành, mỗi khi có ai trong bạn bè chúng tôi hỏi câu hỏi đó. “Cô hỏi vì lẽ gì để làm gì? Đã đến lúc cô cần hiểu rằng mọi người bị bắt không vì lẽ gì hết!”

– Nadezhda Mandelstam, Hy vọng trái ngược với Hy vọng[1]

Lời của Anna Akhmatova – nữ thi sĩ, được trích ở trên bởi vợ góa của một nhà thơ khác – đã vừa đúng vừa sai. Một mặt, từ giữa những năm 1920 – vào lúc mà bộ máy của hệ thống đàn áp Liên Xô đã ổn định – chính quyền Xôviết không còn tóm những người ở ngoài đường và ném họ vào tù mà không đưa ra lý do hay lời giải thích: phải có bắt giữ, hỏi cung, xét xử và kết án. Mặt khác, “tội danh” mà vì thế mọi người bị bắt, xét xử và kết án là rất vô lý, và thủ tục mà theo đó mọi người bị hỏi cung và tuyên án là ngớ ngẩn, thậm chí kỳ quái.

1

Một người bước vào phòng giam lần đầu tiên: bức vẽ của Thomas Sgovio, hoàn thành sau khi mãn hạn.

Trong quá khứ, ta thấy đó là một trong những khía cạnh độc đáo của hệ thống trại Xôviết: tù của nó tới đây, hầu hết là thông qua một hệ thống hợp pháp, nếu không muốn nói luôn luôn là một hệ thống tư pháp thông thường. Không một ai xét xử và kết án người Do Thái ở vùng lãnh thổ Châu Âu bị Quốc xã chiếm đóng, nhưng hầu hết số lượng khổng lồ tù trong trại Xôviết đã bị thẩm vấn (tuy nhiên lại rất qua loa), bị xét xử (tuy nhiên lại rất lố bịch) và bị phán xét là có tội (thậm chí điều này mất chưa đầy một phút). Không nghi ngờ gì, sự kết án mà họ đang diễn tuồng trong vòng luật pháp là một phần của điều đã thúc đẩy những ai đang làm việc trong ngành an ninh, cũng như lính gác và ban quản lý sau này điều hành cuộc sống của tù trong trại.

Nhưng tôi xin nhắc lại: sự thật rằng hệ thống đàn áp là hợp pháp không đồng nghĩa rằng nó hợp lý. Ngược lại, không thể biết được vào thời kỳ nào ta có thể đoán trước rõ ràng hơn xem ai sẽ là người bị bắt: vào năm 1947 hay vào năm 1917. Thực ra, có thể đoán được ai có vẻ như sắp bị bắt. Đặc biệt là trong các làn sóng khủng bố, chế độ dường như đã chọn sẵn một phần những nạn nhân của nó bởi vì họ do một số nguyên nhân nào đó đã lọt vào sự chú ý của công an mật – một hàng xóm đã nghe thấy họ kể một chuyện đùa đầy tai hại, một ông xếp đã thấy họ thực hiện những hành vi “rất đáng ngờ” – và trong phần lớn trường hợp bởi vì họ đã thuộc về một loại người nào đó vào thời điểm đó đang nằm trong vòng nghi ngờ.

Một số loại người như vậy khá đặc trưng – nhóm những kỹ sư và chuyên gia vào cuối những năm 1920, đám kulak năm 1931, người Ba Lan hay Baltic thuộc vùng lãnh thổ bị chiếm đóng trong Thế Chiến thứ II – và một số lại vô cùng mập mờ. Lấy ví dụ, trong suốt những năm 1930 và 1940, “người nước ngoài” luôn luôn được xem là đáng ngờ. Với “người nước ngoài”, tôi muốn nói tới những người thực sự là công dân của các nước khác, những người có thể có tiếp xúc với bên ngoài, hay những người có thể có vài liên hệ, tưởng tượng hay thật sự, với một nước khác. Bất kể đã làm gì họ luôn luôn là đối tượng có thể bị bắt bớ – và những người nước ngoài bất thường theo bất cứ kiểu gì, vì bất cứ lý do gì, đều chịu một khả năng vô cùng cao. Robert Robinson, một trong nhiều đảng viên cộng sản Mỹ da đen tới Moscow thập kỷ 1930, sau này viết lại rằng “Mọi người da đen tôi quen đầu những năm 1930 mà trở thành công dân Xôviết đều biến mất khỏi Moscow trong vòng bảy năm”[2].

Các nhà ngoại giao cũng không được miễn trừ. Ví dụ như Alexander Dolgun, là công dân Mỹ và là nhân viên cấp thấp của Sứ quán Mỹ ở Moscow, đã mô tả trong hồi ký của mình việc ông bị tóm lấy giữa phố năm 1948 và bị tố cáo, rất vô lý, về tội do thám; ông bị nghi ngờ một phần vì niềm ưa thích nông nổi của mình trong việc lẩn tránh những “cái đuôi” mà công an mật bố trí theo sau ông, và vì ông có tài thuyết phục các tài xế của sứ quán cho ông mượn xe, khiến công an mật Liên Xô nghi ngờ rằng ông có thể là một người quan trọng hơn so với chức vụ ông mang. Ông trải qua tám năm trong trại, và chỉ có thể quay về Hoa Kỳ vào năm 1971.

Những người cộng sản nước ngoài thường xuyên là mục tiêu. Tháng 2/1937, Stalin nói một cách đầy điềm gở với Georgi Dmitrov, Tổng bí thư của Quốc tế Cộng sản – Comintern, tổ chức phụng sự cho việc kích động cách mạng thế giới – rằng “tất cả các anh thuộc Comintern đều làm việc trong tay của kẻ thù”. Trong 394 thành viên Hội đồng Điều hành của Quốc tế Cộng sản tháng 1/1936, chỉ có 171 sống sót vào tháng 4/1938. Số còn lại bị xử bắn hay đưa vào trại, trong số đó có những người thuộc nhiều quốc tịch: Đức, Áo, Nam Tư, Ý, Bulgaria, Phần Lan, Baltic, thậm chí cả Anh và Pháp. Người Do Thái phải chịu một tỷ lệ không tương xứng. Rốt cục, Stalin giết số thành viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Đức thời trước 1933 còn nhiều hơn cả Hitler: trong 68 lãnh đạo Cộng sản Đức chạy sang Liên Xô sau khi Quốc xã lên nắm quyền, có 41 người chết, bị xử bắn hay chết trong trại. Đảng Cộng sản Ba Lan có lẽ còn bị tàn sát triệt để hơn thế. Theo một ước tính, có 5.000 người cộng sản Ba Lan bị hành quyết trong mùa xuân và mùa hè năm 1937[3].

Nhưng cũng không cần phải là đảng viên một đảng cộng sản nước ngoài: Stalin cũng nhắm vào những người nước ngoài đi du lịch, trong đó 25.000 “người Mỹ gốc Phần Lan” có lẽ là nhóm đông nhất. Đó là những người Phần Lan nói tiếng Phần, một số đã di cư sang Mỹ, số khác được sinh ra tại đấy, và tất cả đều tới Liên Xô những năm 1930, năm của Đại Khủng hoảng ở nước Mỹ. Hầu hết đều là công nhân nhà máy, hầu hết đều thất nghiệp ở Mỹ. Được khuyến khích bởi tuyên truyền Xôviết – những người tuyển dụng Liên Xô lang thang khắp các cộng đồng nói tiếng Phần ở Mỹ, kể về điều kiện sống tuyệt vời và cơ hội làm việc ở Liên bang Xô viết – họ lũ lượt kéo đến nước Cộng hòa Karelia nói tiếng Phần Lan. Hầu như ngay lập tức, họ gây ra các rắc rối cho chính quyền. Hóa ra là, Karelia không giống gì nhiều với Mỹ. Nhiều người lớn tiếng nói ra điều đó với bất cứ ai muốn nghe, và rồi cố tìm cách quay về Mỹ – thay vào đó cuối những năm 1930 họ bị tống vào Gulag[4].

Các công dân Liên Xô có quan hệ với nước ngoài cũng bị nghi ngờ không kém. Xếp hàng đầu là “cộng đồng người gốc Do Thái”, người Ba Lan, Đức và Phần Lan vùng Karelia có họ hàng và những mối quan hệ xuyên biên giới, cũng như người vùng Baltic, Hy Lạp, Ba Tư, Triều Tiên, Afghan, Trung Hoa và Rumania rải rác khắp Liên Xô. Dựa theo lưu trữ của chính NKVD, từ giữa tháng 7/1937 tới tháng 11/1938 NKVD đã kết án 335.513 người trong những chiến dịch “kiều dân” ấy[5]. Các chiến dịch tương tự được lặp lại trong và sau chiến tranh, như chúng ta sẽ xem sau này.

Nhưng thậm chí cũng không cần thiết phải nói tiếng nước ngoài để có thể bị nghi ngờ. Bất cứ ai có quan hệ với nước ngoài đều bị nghi ngờ làm gián điệp: người sưu tầm tem, người thích dùng Quốc tế ngữ Esperanto, bất cứ ai có bạn thư từ hay có người thân ở nước ngoài. NKVD cũng bắt tất cả những công dân Xôviết từng làm việc trên tuyến Đường sắt Đông Hoa, một tuyến đường sắt xuyên Mãn Châu có nguồn gốc từ thời Sa hoàng, và buộc tội họ làm gián điệp cho Nhật Bản. Trong trại, họ được biết như những “Kharbintsy”, đặt theo tên thành phố Harbin[6], nơi nhiều người bọn họ từng sống[7]. Robert Conquest có mô tả các trường hợp bắt giữ một ca sĩ opera đã khiêu vũ cùng Đại sứ Nhật Bản tại một vũ hội chính thức, và một bác sĩ thú y chăm sóc cho lũ chó của người nước ngoài[8].

Cuối thập niên 1930, hầu hết các công dân Xôviết bình thường đã gương mẫu cắt đứt, không muốn có bất cứ quan hệ nào với người nước ngoài. Karlo Stajner, một đảng viên cộng sản Croatia có vợ người Nga, đã nhớ lại rằng “người Nga rất hiếm khi dám có giao tiếp cá nhân với người nước ngoài… Họ hàng của vợ tôi thực sự vẫn là người lạ đối với tôi. Không ai trong bọn họ dám tới thăm chúng tôi. Khi họ hàng của cô ấy biết được kế hoạch chúng tôi sẽ lấy nhau, tất cả bọn họ đều cảnh báo Sonya…”[9] Thậm chí cả mãi đến cuối thập niên 1980 – khi tác giả tới thăm Liên Xô lần đầu – rất nhiều người Nga vẫn dè chừng người nước ngoài, phớt lờ họ hoặc tránh nhìn vào mắt họ khi đi trên đường.

Vẫn chưa hết – không phải người nước ngoài nào cũng bị công an tóm, và không phải người nào bị tố cáo có quan hệ với nước ngoài cũng thực sự có quan hệ với nước ngoài. Cũng có khi mọi người bị tóm vì những lý do riêng tư hơn nhiều[10]. Kết quả là, khi hỏi câu hỏi “Vì lẽ gì?” – câu hỏi mà Anna Akhmatova vô cùng căm ghét – đã tạo ra vô số cách giải thích rất đáng ngạc nhiên.

Ví dụ như chồng của Nadezhda Mandelstam, Osip Mandelstam, đã bị bắt vì bài thơ trong đó ông công kích Stalin:

Chúng ta sống, không cảm thấy mặt đất ngay dưới

Lời ta nói, nghe không rõ dù chỉ cách mươi bước chân

Nhưng hễ đâu đó có người dám xì xầm trao đổi

Là lập tức gã sơn dã xứ Kavkaz sẽ biết rõ.

Ngón tay chuối mắn của y, tựa vòi giun, thật nhớp nhúa

Lời y nói, nặng hơn chì, trở thành chân lý

Rồi nở nụ cười dưới bộ ria con dán

Y khua ủng, ống bóng lộn, lòng lâng lâng.

Và quanh y, một bầy lãnh đạo không xương sống

Y phóng tay sai khiến chúng như lũ đồ chơi

Đứa hí, đứa meo meo, đứa sụt sịt

Chỉ mình y là được la hét và chỉ tay

Quăng sắc lệnh như tung mớ móng ngựa

Trúng giữa háng, trúng sọ, văng tròng mắt

Đối với y mọi án tử đều thơm ngọt

Nếu dành cho, chàng Osseti ngực nở hiên ngang.[11]

 

Mặc dù có các lý do khác nhau được chính thức công bố, Tatyana Okunevskaya, một trong những nữ diễn viên điện ảnh Liên Xô được yêu thích nhất, đã bị bắt, theo như bà tin chắc, do đã từ chối ngủ với Viktor Abakumov, người đứng đầu cơ quan phản gián Xôviết trong thời chiến. Để đảm bảo khiến bà hiểu rõ đó là lý do thật sự, bà đã (theo như bà nói) được cho xem trát bắt với chữ ký của ông ta trên đấy[12]. Bốn anh em nhà Starostin, tất cả đều là những cầu thủ bóng đá nổi tiếng, bị bắt năm 1942. Họ luôn tin rằng lý do là vì đội bóng của họ, Spartak Moscow, đã không may chiến thắng quá cách biệt đội bóng yêu thích của Lavrenty Beria, đội Dynamo Moscow[13].

Nhưng thậm chí cũng không cần phải quá đặc biệt. Lyudmila Khachaturian bị bắt vì đã lấy một người nước ngoài, một người lính Nam Tư. Lev Razgon ghi lại câu chuyện của một nông dân tên là Seryogin, sau khi được kể rằng có ai đó vừa bắn chết Kirov anh ta đã trả lời “Kệ mẹ nó không quan tâm”. Seryogin chưa từng nghe về Kirov, và cho rằng ông này là một người vừa chết trong trận ẩu đả ở làng bên. Vì sai lầm này, anh ta phải nhận một án mười năm[14]. Vào năm 1939, kể lại hoặc ngồi nghe một chuyện đùa về Stalin; đi làm trễ; chẳng may bị một gã bạn đáng sợ hay một tên hàng xóm ghen tỵ gọi là “kẻ đồng mưu” trong một mưu đồ không có thật; sở hữu bốn con bò sữa trong một ngôi làng mà hầu hết mọi nhà chỉ có một con; ăn trộm một đôi giày; là anh em họ nhà vợ của Stalin; ăn cắp một cây bút và mớ giấy trong văn phòng của ai đó để cho một đứa học trò không có cái nào: tất cả các tội đó có thể, trong những hoàn cảnh nhất định, dẫn tới một bản án phải vào trại tập trung Xôviết. Họ hàng của một người đã vượt biên trái phép có khả năng bị bắt, dựa theo một điều luật năm 1940, bất kể họ có biết về chuyện ấy hay không[15]. Luật thời chiến – về việc đi làm trễ và cấm đổi chỗ làm – cũng sẽ thêm nhiều “tội phạm” hơn vào trại, như chúng ta sẽ xem về sau.

Nếu lý do bị bắt là rất nhiều và rất khác biệt nhau, các phương pháp bắt bớ cũng vậy. Một số tù được cảnh báo trước nhiều lần. Trong nhiều tuần trước khi bị bắt vào giữa những năm 1930, một nhân viên OGPU liên tục gọi Alexander Weissberg lên thẩm vấn, hỏi đi hỏi lại ông làm thế nào mà ông đã trở thành một “điệp viên”: Ai tuyển dụng anh? Anh đã tuyển dụng ai? Anh làm việc cho tổ chức nước ngoài nào? “Anh ta cứ lặp đi lặp lại cùng những câu hỏi đó, và tôi cứ liên tục phải đưa ra cho anh ta cùng một câu trả lời”[16].

Vào khoảng cùng thời gian đó, Galina Serebryakova, tác giả cuốn Thời thanh niên của Marx và là vợ của một công chức cấp cao, cũng cứ mỗi buổi chiều lại bị “mời đến” Lubyanka, ngồi chờ mãi cho tới hai ba giờ sáng mới bị hỏi cung, rồi được thả vào năm giờ sáng để quay về căn hộ của mình. Các nhân viên theo dõi quanh khu nhà bà ở và một chiếc xe hơi màu đen cứ đi theo sau bà mỗi khi bà ra ngoài đường. Bà tin chắc rằng mình sắp bị bắt đến nỗi đã thử tìm cách tự sát. Tuy nhiên, bà chịu đựng được suốt vài tháng cái kiểu hành hạ đó cho tới khi thực sự bị bắt[17].

Trong những cơn sóng cuồn cuộn của các đợt bắt bớ tập thể – bắt kulak năm 1929 và 1930, bắt các nhà hoạt động Đảng năm 1937 và 1938, bắt lại các cựu tù năm 1948 – nhiều người biết được sắp đến lượt mình đơn giản bởi vì mọi người xung quanh họ đều đang lần lượt bị bắt. Elinor Lipper, một đảng viên cộng sản Hà Lan tới Moscow vào những năm 1930, năm 1937 sống trong khách sạn Lux, một khách sạn đặc biệt dành cho các nhà cách mạng người nước ngoài: “mỗi đêm lại có thêm vài người biến mất khỏi khách sạn… đến sáng, sẽ có thêm những niêm phong màu đỏ to tướng dán trên cửa ra vào của nhiều phòng khác”[18].

Trong thời đại của những khủng bố thực sự, một số người thậm chí còn xem bản thân việc bị bắt là một kiểu giải thoát. Nikolai Starostin, một trong những ngôi sao bóng đá không may mắn nọ, bị các mật vụ theo dõi suốt nhiều tuần lễ, đã thấy khó chịu đến nỗi cuối cùng ông đến thẳng gặp một người trong bọn họ và yêu cầu được giải thích: “Nếu anh muốn ở tôi điều gì đó, hãy gọi tôi đến văn phòng của anh”. Kết quả là, tới khi bị bắt ông cảm thấy không “choáng váng và sợ hãi” mà chỉ “tò mò”[19].

Vẫn có những người khác bị bất ngờ hoàn toàn. Nhà văn người Ba Lan Aleksander Wat, lúc đó sống tại vùng Lvov bị chiếm đóng, được mời tới dự tiệc tại một nhà hàng cùng một nhóm các nhà văn khác. Ông hỏi chủ tiệc rằng nhân dịp gì. “Anh sẽ biết”, người ta trả lời ông thế. Một cuộc cãi vã được dàn dựng, và ông bị bắt tại đó ngay lập tức[20]. Alexander Dolgun, thư ký Sứ quán Mỹ, được một gã cất tiếng chào khi đang đi trên phố, gã này hóa ra là một công an mật. Khi nghe tay này gọi tên mình, Dolgun nhớ lại, “Tôi vô cùng bối rối. Tôi tự hỏi đó không biết có phải trò khùng điên gì không…”[21] Okunevskaya, nữ diễn viên, bị bắt khi đang nằm trên giường do bị cúm nặng, và đề nghị công an hãy quay lại vào hôm khác. Họ đưa cho bà tờ trát bắt (có chữ ký của Abakumov) và lôi bà xuống cầu thang[22]. Solzhenitsyn lặp lại một câu chuyện có vẻ đáng ngờ về một phụ nữ được bạn trai, là một điều tra viên chuyên nghiệp, đưa ra từ Nhà hát Bolshoi rồi dẫn thẳng từ nhà hát tới Lubyanka[23]. Người sống sót và viết hồi ký Nina Gagen-Torn nhớ lại câu chuyện về một phụ nữ bị bắt trong khi đang lấy khăn trên dây phơi xuống giữa sân nhà ở Leningrad; cô này đang mặc áo choàng tắm, để đứa con nhỏ lại trên căn hộ của mình vì nghĩ rằng sẽ trở lên vài phút sau. Cô nài xin cho phép lên lấy con, nhưng vô ích[24].

Trong thực tế, dường như rằng chính quyền cố ý thay đổi chiến thuật của mình, bắt một số người tại nhà và một số khi đang làm việc, một số bắt trên đường và một số trên tàu hỏa. Trong một ghi nhớ do Viktor Abakumov gửi tới Stalin, ký ngày 17/7/1947, có xác nhận nghi ngờ này, lưu ý rằng tù phải thường xuyên bị công an làm cho “bất ngờ” để ngăn không chạy trốn, ngăn ngừa chống đối, và ngăn chúng có nghi ngờ do thấy những dấu hiệu cảnh báo trong “âm mưu” phản cách mạng của chúng. Trong các trường hợp cụ thể, văn bản này tiếp tục, “một cuộc bắt giữ bí mật trên phố cần được tiến hành”[25].

Tuy nhiên, cách bắt giữ phổ thông nhất là ngay tại nhà của đối tượng, vào giữa đêm khuya. Trong thời kỳ bắt bớ tập thể, nỗi sợ bị “gõ cửa” lúc nửa đêm trở nên rất phổ biến. Có một chuyện tiếu lâm cũ rích thời Liên Xô về nỗi lo lắng khủng khiếp mà Ivan và Masha vợ mình cảm thấy khi có tiếng gõ cửa – họ liền thở phào khi biết rằng chỉ là người hàng xóm tới báo khu nhà đang có hỏa hoạn. Một thành ngữ Xôviết cũng cho rằng “Bọn trộm, lũ điếm và NKVD thường làm việc ban đêm”[26]. Thông thường, những cuộc bắt bớ nửa đêm ấy luôn kèm theo lục soát, mặc dù chiến thuật khám xét cũng thay đổi theo thời gian. Osip Mandelstam bị bắt hai lần, một lần năm 1934 và lần sau năm 1938, vợ ông mô tả sự khác biệt giữa trình tự tiến hành hai lần như sau:

Năm 1938 chúng không cần mất thời gian để tìm kiếm và kiểm tra giấy tờ – thực ra, các nhân viên công an dường như thậm chí không cần biết nghề nghiệp của người mà chúng đến để bắt… chúng chỉ đơn giản là lật tung ghế đệm, trút hết giấy tờ của anh ấy vào bao tải, chọc thủng loanh quanh một lúc và rồi biến đi, lôi M. (Mandelstam) theo cùng. Toàn bộ sự việc kéo dài không hơn hai mươi phút. Nhưng năm 1934 chúng ở lại suốt cả đêm cho tới tận mờ sáng.

Trong cuộc lùng sục lần đầu, công an mật, những người biết rõ mình đang tìm kiếm cái gì, đã kỹ càng đảo qua tất cả giấy tờ của Mandelstam, bỏ ra những bản thảo cũ, tìm kiếm những khổ thơ mới viết. Lần đầu tiên xung quanh bọn họ cũng đảm bảo có các “nhân chứng” dân thường có mặt ở đó, cũng như – trong trường hợp này – một “người bạn” được công an trả công, một nhà bình luận văn học quen Mandelstam, có lẽ được bảo phải có mặt ở đó để chắc chắn rằng Mandelstam không bí mật đốt các giấy tờ khi nghe thấy tiếng gõ cửa[27]. Sau này, họ không cần quan tâm tới những tiểu tiết như vậy nữa.

Bắt bớ tập thể các quốc tịch đặc biệt, như những người từng ở tại những vùng vốn thuộc đông Ba Lan và các quốc gia Baltic, những lãnh thổ bị Hồng quân chiếm năm 1939-1941, thậm chí thường có một đặc điểm còn ngẫu nhiên hơn nhiều. Janusz Bardach, một thiếu niên Do Thái tại thị trấn Ba Lan Wlodzimierz-Wolynski, bị buộc phải làm một “nhân chứng” dân thường tại một trong những cuộc bắt bớ tập thể như vậy. Cậu bé đi theo một nhóm du côn NKVD say rượu đi hết nhà này đến nhà khác vào đêm ngày 5/12/1939, gom những người phải bị bắt hoặc đi đày lại. Đôi lần chúng xông vào tấn công các công dân giàu và có quan hệ rộng, tên tuổi họ được đánh dấu trên một bản danh sách; đôi lần chúng đơn giản là lôi đi đám “người lánh nạn” – thường là những người Do Thái chạy từ vùng Tây Ba Lan bị Quốc xã chiếm sang vùng Đông Ba Lan bị Liên Xô chiếm – mà không thèm ghi lại tên tuổi họ. Tại một căn nhà, một nhóm người lánh nạn cố gắng tự bảo vệ mình bằng cách cho biết họ là thành viên của Der Bund, một tổ chức xã hội chủ nghĩa Do Thái. Tuy nhiên, sau khi nghe thấy họ đến từ Lublin, vào lúc đó thuộc phía bên kia biên giới, Gennady, chỉ huy của nhóm NKVD, đã gào lên:

“Đồ tỵ nạn bẩn thỉu các người! Lũ gián điệp Quốc xã!” Đám trẻ con kêu khóc, khiến Gennady thêm cáu. “Bắt chúng câm miệng đi! Hay chúng mày muốn để tao chăm sóc cho chúng?”

Bà mẹ kéo lũ trẻ lại gần nhưng chúng vẫn không nín khóc. Gennady nắm lấy tay thằng bé, lôi nó khỏi vòng tay mẹ và ném nó vào tường. “Câm miệng, tao bảo rồi đấy!” Bà mẹ hét lên. Người cha cố gắng nói gì đấy nhưng thay vào đó chỉ biết hớp hớp không khí. Gennady nhặt thằng bé lên và giữ nó một giây, nhìn sát vào mặt nó, rồi lại ném mạnh nó vào tường…

Sau đó, đám đàn ông kia phá hủy ngôi nhà những người bạn thời thơ ấu của Bardach:

Phía bên kia là văn phòng của Tiến sĩ Schechter. Chiếc bàn làm việc gỗ gõ đỏ sẫm của ông ở giữa phòng, và Gennady tiến thẳng tới chỗ ấy. Hắn đưa bàn tay vuốt dọc thớ gỗ và rồi, trong một cơn giận dữ không hề báo trước, đập nát nó bằng cái xà beng. “Đồ lợn tư bản! Địt mẹ thằng ăn bám! Chúng tao cần tìm những thằng bóc lột tư bản thế này đấy!” Hắn đập mạnh và mạnh hơn nữa không dừng lại, đục thủng nhiều lỗ trên mặt gỗ…

Không thể tìm ra gia đình Schechter, bọn người ấy hãm hiếp và giết chết vợ của người làm vườn.

Những kẻ tiến hành các chiến dịch ấy, thường là thành viên của đám lính áp giải – đám lính đi theo đoàn tàu chở người lưu đày – nhiều hơn là nhân viên NKVD, và kém được đào tạo hơn nhiều so với công an mật tiến hành những cuộc bắt bớ “thông thường” đám tội phạm “thông thường”. Bạo lực có lẽ không được chính thức yêu cầu, nhưng, do đó là những chiến sĩ Xôviết đang bắt giữ bọn “tư bản” tại “phương Tây” giàu có, say rượu, bừa bãi và thậm chí cả hãm hiếp dường như đã được bỏ qua, cũng như họ đã làm khi Hồng quân tiến vào Ba Lan và nước Đức sau này[28].

Tuy nhiên, những khía cạnh cụ thể trong lối cư xử của họ đã được dẫn ra chính xác như ở trên. Lấy ví dụ, Tổng ban Quản lý Lính gác Áp giải tại Moscow tháng 11/1940 đã quyết định rằng lính gác tiến hành bắt giữ phải nói cho kẻ bị bắt biết để đem theo quần áo ấm và vật dụng cá nhân đủ dùng trong ba năm, do hiện ở Liên Xô đang thiếu những thứ như vậy. Họ hy vọng người bị bắt sẽ bán bớt đồ đạc của mình[29]. Trước đó, lính gác thường được hướng dẫn không nói với tù bất cứ điều gì về nơi họ sắp đến hay sẽ đi bao lâu. Họ chấp nhận một công thức rằng “Tại sao phải lo lắng? Tại sao phải đem theo mọi thứ? Chúng tôi chỉ đưa các anh đi nói chuyện một lát thôi”. Đôi khi họ nói với người lưu đày rằng họ chỉ đang được chuyển tới vùng khác, cách xa biên giới hơn, “để bảo vệ chính các anh”[30]. Mục đích nhằm ngăn ngừa người bị bắt hoảng sợ, chống trả hoặc bỏ chạy. Kết quả là tước đi của mọi người các dụng cụ cơ bản cần thiết cho họ để sống tại vùng khí hậu khắc nghiệt và xa lạ.

Trong khi có thể thông cảm với các nông dân Ba Lan lần đầu tiên phải đối đầu với chế độ Xôviết nên đã ngây thơ dễ dàng tin tưởng những lời dối trá ấy, cũng chính các công thức như vậy vẫn rất hiệu quả trong giới trí thức và cán bộ Đảng ở Moscow và Leningrad, vốn bị ám ảnh, như họ vẫn thường như vậy, bởi sự hiển nhiên vô tội của mình. Evgeniya Ginzburg, lúc ấy là cán bộ Đảng ở Kazan, đã được cho biết khi bị bắt rằng bà sẽ chỉ phải đi “bốn mươi phút, hoặc có thể là một tiếng”. Kết quả là bà đã không có cơ hội để tạm biệt các con mình[31]. Yelena Sidorkina, một Đảng viên bị bắt, vừa đi bộ dọc phố để tới nhà tù cùng viên sĩ quan bắt mình vừa “trò chuyện bình thản”, tin rằng mình sẽ sớm quay về nhà[32].

Sofia Aleksandrovna, vợ cũ của nhân viên Cheka Gleb Boky, được khuyên không nên cầm theo áo choàng mùa hè khi NKVD tới đưa bà đi (“đêm nay trời ấm và chúng ta sẽ sớm quay về lâu nhất là sau một tiếng nữa”), đã khiến con rể của bà, nhà văn Lev Razgon, suy ngẫm về sự tàn bạo kỳ lạ của hệ thống bắt bớ: “Tại sao phải đưa một phụ nữ trung niên sức khỏe kém tới nhà tù mà không cho họ cầm theo dù chỉ một túi nhỏ đồ lót và dụng cụ vệ sinh, vốn là những thứ mà một người bị bắt từng luôn được phép đem theo kể từ thời các Pharaông?”[33]

Ít nhất vợ của diễn viên Georgi Zhenov đã đoán trước để soạn sẵn túi quần áo dự trữ. Khi ông được cho biết sẽ quay về nhà sớm, bà liền độp ngay: “Chưa thấy ai rơi vào tay các anh lại được về sớm hết”[34]. Ý kiến của bà khá gần với thực tế. Hầu hết các trường hợp, khi người bị bắt đã bước qua tấm cửa thép nặng nề của nhà tù Xôviết, sẽ phải mất hàng nhiều năm trước khi anh ta hoặc cô ta được gặp lại tổ ấm của mình.

Nếu phương pháp bắt bớ của Liên Xô trong một số thời điểm có vẻ như khá kỳ quặc, các thủ tục tiếp theo việc bắt giữ vào những năm 1940 lại gần như không thay đổi. Tuy nhiên với một tù phải bước vào cổng nhà tù, ngay sau khi anh ta chui qua thì các sự việc tiếp theo được tiến hành một cách rành mạch và có thể định sẵn được. Theo lệ, tù được đăng ký, chụp ảnh và lấy dấu vân tay cẩn thận trước khi họ được cho biết tại sao lại bị bắt hoặc số phận của họ sẽ ra sao. Trong những giờ đầu tiên, đôi khi là trong vài ngày đầu tiên, họ sẽ không gặp người nào cao cấp hơn một vài cai ngục bình thường, những người hoàn toàn không quan tâm gì đến số phận của họ, không cần biết tới bản chất những tội mà họ bị quy kết, và trả lời tất cả các câu hỏi bằng một cái nhún vai thờ ơ.

Nhiều cựu tù tin rằng những giờ đầu tiên của họ trong cảnh giam cầm được nhắm mục đích cố ý để gây mất tinh thần, nhằm làm cho họ mất khả năng suy nghĩ mạch lạc. Inna Shikheeva-Gaister, bị bắt vì tội là con gái một kẻ thù của nhân dân, đã cảm thấy điều ấy chỉ ngay sau vài giờ ở Lubyanka, nhà tù trung tâm Moscow:

Ở đây tại Lubyanka, ta không còn là một con người. Xung quanh ta không có ai là người. Chúng dẫn ta đi dọc hành lang, chụp ảnh ta, lột quần áo ta, lục soát ta một cách máy móc. Mọi thứ được thực hiện hoàn toàn vô cảm. Ta dõi tìm một ánh mắt con người – tôi không nói tới một giọng người, chỉ là ánh mắt con người – nhưng ta sẽ không bao giờ tìm thấy. Ta đứng run rẩy trước mặt tay thợ ảnh, cố tìm cách chỉnh đốn quần áo, và ta được chỉ ngón tay cho biết chỗ phải ngồi xuống, một giọng nói trống rỗng “trước mặt” và “nhìn nghiêng” vang lên. Chúng không xem ta là một con người! Ta đã trở thành một đối tượng…[35]

Nếu họ được đưa vào một trong những nhà tù chính của thành phố để hỏi cung (và không bị nhét, như những người lưu đày bị, ngay lập tức lên tàu), người bị bắt bị khám xét toàn diện, theo nhiều bước. Một tài liệu năm 1937 hướng dẫn cai tù đặc biệt không được quên rằng “kẻ thù vẫn tiếp tục chống trả sau khi bị bắt”, và có thể sẽ tự sát để che dấu hoạt động tội ác của chúng. Kết quả là tù bị lột hết nút áo quần, thắt lưng, dây đeo quần, dây giày, nịt bít tất, đồ lót thun, bất cứ thứ gì có thể hình dung được là dùng để tự sát[36]. Rất nhiều người cảm thấy bị hạ nhục vì chỉ dụ ấy. Nadezhda Joffe, con gái một người Bolshevik hàng đầu, bị tước hết dây lưng, nịt bít tất, dây buộc giày và cặp tóc:

Tôi nhớ rõ mình đã sững sờ ra sao bởi sự mất thể diện và ngu xuẩn của tất cả những điều ấy. Với cái cặp tóc người ta có thể dùng làm được cái gì? Thậm chí nếu cái ý tưởng ngu xuẩn muốn tự treo cổ bằng sợi dây giày có lọt vào đầu ai đó, thì anh ta có thể làm thế được thật không? Đơn giản là chúng khiến một người rơi vào tình huống đó phải nhục nhã và phẫn nộ, bởi váy của họ muốn tuột xuống đất, nịt tất cứ trôi đi và giày thì phải kéo lê chân[37].

Việc khám xét trên người tiếp theo còn tệ hơn. Trong tiểu thuyết Vòng địa ngục đầu tiên, Aleksander Solzhenitsyn mô tả việc bắt giữ Innokenty, một nhà ngoại giao Xôviết. Vài giờ sau khi đến Lubyanka, một cai ngục đến khám xét các khiếu trên mình Innokenty:

Như một gã lái ngựa, chọc những ngón tay bẩn thỉu của hắn vào miệng Innokenty, móc nhệch một bên má, rồi đến má bên kia, vành mí mắt dưới, tên cai ngục muốn tự chắc chắn rằng không có gì giấu trong mắt hay miệng và lật ngược đầu ra sau cho đến khi lỗ mũi ngửa lên trên, sau đó hắn kiểm tra cả hai lỗ tai, vành ngược nó lại, bảo Innokenty xòe hai tay ra để hắn xem không có gì giữa các kẽ ngón tay, rồi đu đưa cánh tay để xem không có gì giấu dưới nách. Với cùng cái giọng đều đều không thể cãi được, hắn ra lệnh:

“Cầm dương vật trên tay. Vuốt ngược da quy đầu. Tiếp đi. Thôi, đủ rồi. Lắc dương vật lên và sang phải, lên và sang trái. Thôi, bỏ nó xuống. Quay đầu về phía tôi. Giạng hai chân ra. Rộng hơn. Cúi lưng xuống và chạm sàn nhà. Chân rộng ra. Lấy tay vành lỗ đít ra. Thôi. Bây giờ ngồi xổm. Nhanh lên! Một lần nữa!”

Khi nghĩ về cuộc bắt giữ mình trước lúc nó xảy ra, Innokenty đã tự hình dung một cuộc đấu tranh giữa lý trí và cái chết. Vì thế anh đã sẵn sàng, chuẩn bị bảo vệ một cách đầy kiêu hãnh cho sinh mạng và niềm tin của mình. Chưa bao giờ anh tưởng tượng đến những điều quá đơn giản, quá đần độn và không thể chống trả được như thế này. Những người tiếp nhận anh đầu óc vô cùng tầm thường, là các viên chức bậc thấp, không hề quan tâm đến nhân phẩm của anh lẫn những gì anh đã làm…[38]

Những khám xét như vậy gây sốc mạnh hơn đối với phụ nữ. Một người nhớ lại rằng đám cai tù tiến hành khám xét đã “lột áo ngực và dây đeo coócxê của chúng tôi, cùng một số bộ phận đồ lót thiếu yếu đối với phụ nữ. Tiếp theo đó là quá trình khám xét phụ khoa ngắn gọn, kinh tởm. Tôi giữ im lặng, nhưng cảm thấy mình như bị lột mất tất cả phẩm cách con người”[39].

Trong thời gian chịu đựng mười hai tháng tại nhà tù Aleksandrovsky Tsentral năm 1941, người viết hồi ký T. P. Milyutina liên tục bị khám xét cơ thể. Những phụ nữ trong phòng giam của bà thường bị đưa tới một buồng cầu thang không có sưởi, cứ mỗi lần năm người. Họ được bảo phải cởi hết quần áo, để quần áo dưới sàn và giơ tay lên cao. Những bàn tay thọc xét “vào tóc, vào hai tai, khám dưới lưỡi, cả giữa hai chân chúng tôi”, cả trong tư thế đứng lẫn tư thế ngồi. Sau cuộc khám xét đầu tiên như thế, Milyutina viết, “nhiều người òa lên khóc, nhiều người phát cuồng…”[40]

Sau khi khám xét, một số tù bị giam cách ly. “Những giờ đầu tiên ngồi tù”, Solzhenitsyn viết tiếp, “được nhằm mục đích khiến tù nhân suy sụp bằng cách cách ly anh ta không cho liên lạc với những tù khác, sao cho không ai có thể giữ vững được tinh thần, sao cho quyền lực tối đa của bộ máy toàn thể, khổng lồ, nhiều phân nhánh được người tù cảm nhận rõ là đang đè xuống anh ta và chỉ mình anh ta…”[41] Phòng giam của Evgeny Gnedin, một nhà ngoại giao Xô viết và là con trai của những nhà cách mạng, bao gồm chỉ một cái bàn nhỏ gắn chặt xuống sàn và hai cái ghế đẩu cũng gắn chặt xuống sàn. Cái giường xếp, ban đêm tù ngủ trên đó, cũng bị gắn bằng bulông vào tường. Mọi thứ, bao gồm tường, ghế, giường và trần nhà, đều sơn màu xanh nhạt. “Nó khiến anh có cảm giác đang ở trong cabin riêng của một chiếc tàu thủy”, Gnedin viết lại trong hồi ký của mình[42].

Cũng khá nhiều trường hợp bị giam, như của Alexander Dolgun, vào một boks – một phòng giam “khoảng một mét hai nhân hai mét mốt. Một cái hộp rỗng có thêm băng ghế” – trong những giờ đầu tiên sau khi bị bắt, và bị nhốt ở đó nhiều giờ hoặc thậm chí là vài ngày[43]. Isaac Vogelfanger, một nhà phẫu thuật người Ba Lan, bị nhốt trong một phòng giam có cửa sổ mở toang giữa mùa đông[44]. Những người khác như Lyubov Bershadskaya, một người sống sót sau này đã tham gia dẫn đầu cuộc đình công của tù ở Vorkuta, bị cách ly trong toàn bộ thời gian thẩm vấn. Bershadskaya ở suốt chín tháng biệt giam, đã viết lại rằng bà thực sự trông ngóng được gọi lên hỏi cung, chỉ cốt sao cho có người để nói chuyện[45].

Nhưng đối với người mới đến, một phòng giam đông nghẹt tù thậm chí còn khủng khiếp hơn cả bị biệt giam. Mô tả của Olga Adamova-Sliozberg về phòng giam đầu tiên của mình đọc lên nghe hệt như cảnh trong tranh của Hieronymus Bosch[46]:

Phòng giam rất lớn. Những bức tường có khung vòm đang đổ cả mồ hôi. Phía bên kia, chỉ chừa lại một lối đi hẹp ở giữa, là liên tiếp những tấm giường phản kê thấp chen chúc đầy thân người. Đủ loại giẻ rách đang phơi thành hàng trên đầu. Không khí sánh lại hôi đầy mùi khói thuốc lá rẻ tiền loại nặng, hỗn loạn tiếng cãi nhau, la hét và sụt sùi[47].

Một người viết hồi ký khác cũng cố gắng tả lại cảm giác choáng váng của mình: “Đó là một cảnh khủng khiếp, đàn ông tóc dài thượt, râu hàm bù xù, đầy mùi mồ hôi, không còn chỗ nào đề ngồi xuống hay nằm nghỉ. Người đọc phải dùng đến trí tưởng tượng mới có thể hình dung nổi nơi tôi đã ở”[48].

Aino Kuusinen, người vợ Phần Lan của Otto Kuusinen, lãnh đạo của Commitern, tin rằng trong đêm đầu tiên của mình bà đã bị cố tình đưa vào nơi có thể nghe thấy tiếng tù đang bị hỏi cung:

Thậm chí đến ngày hôm nay, ba mươi năm sau, tôi vẫn có thể tả lại nỗi khủng khiếp của đêm đầu tiên tại Lefortovo. Trong phòng giam tôi có thể nghe thấy mọi âm thanh bên ngoài. Gần đấy, như sau này tôi phát hiện ra, là “khu hỏi cung”, một cấu trúc biệt lập trong thực tế là một phòng tra tấn. Suốt cả đêm tôi nghe thấy giọng người la hét và tiếng roi quất liên tục. Một con vật tuyệt vọng và đau đớn khó có thể phát ra những tiếng thét đáng sợ như các nạn nhân đang bị tra tấn hàng giờ liền bằng những lời đe dọa, các cú đấm và những lời chửi rủa như vậy[49].

Nhưng bất cứ ở đâu họ phải trải qua đêm đầu bị bắt giam, trong một nhà tù cũ thời Sa hoàng, một trạm xe lửa bị khóa chặt, một nhà thờ hay tu viện cũ, tất cả các tù nhân đều phải đối diện một nhiệm vụ khẩn cấp tức thời: phải hồi phục sau cơn sốc để điều chỉnh theo luật lệ riêng của cuộc sống tù – và đối phó với cuộc hỏi cung. Tốc độ họ làm được việc ấy sẽ giúp quyết định xem họ sẽ tồn tại trong hệ thống được hay là không và, cuối cùng, họ sẽ thích nghi với trại ra sao.

 

Trong tất cả các bước mà tù phải trải qua trên đường tới Gulag, việc hỏi cung có lẽ là bước được người phương Tây quen thuộc nhất. Hỏi cung không chỉ được mô tả trong các sách lịch sử, mà cả trong văn học phương Tây – ví dụ như trong tác phẩm kinh điển Thần đêm U ám của Arthur Koesler – trong các phim chiến tranh, và trong các hình thức khác của văn hóa cấp cao và cấp thấp. Gestapo là những kẻ hỏi cung khét tiếng, cũng như các tay chân của Tòa án Dị giáo Tây Ban Nha. Chiến thuật của cả hai là chất liệu sản sinh ra nhiều huyền thoại truyền miệng. “Chúng tao có rất nhiều cách để bắt mày phải khai…” là câu mà trẻ con hay dùng khi chơi trò chiến tranh.

Hỏi cung tù tất nhiên cũng được thực hiện tại các xã hội dân chủ và tôn trọng luật pháp, có khi dưới sự chấp thuận của pháp luật, có khi không. Gây áp lực tâm lý, thậm chí là tra tấn, trong quá trình hỏi cung không phải là chuyện gì quá độc đáo ở Liên Xô. Kỹ thuật “cớm tốt, cớm xấu” – một người tế nhị, lịch sự đưa ra các câu hỏi, luân phiên cùng một người tra hỏi cáu ghắt – được sử dụng không chỉ như một thành ngữ trong nhiều ngôn ngữ, mà còn xuất hiện trong (hiện đã lỗi thời) cẩm nang cảnh sát Mỹ như một chiến thuật nên dùng. Tù bị gây áp lực qua các câu hỏi tại rất nhiều, nếu không muốn nói là tại hầu hết các quốc gia vào lúc này hoặc lúc khác; thực tế, phương pháp này đã được sử dụng làm bằng chứng để từ đó Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đưa ra phán quyết, như trong vụ Miranda v. Arizona năm 1966, theo đó người bị tình nghi phạm tội phải được báo trước, ngoài những điều khác, về quyền của họ được giữ im lặng, cũng như quyền được thuê luật sư[50].

Tuy nhiên, việc “hỏi cung” do công an mật Liên Xô thực hiện là độc đáo, không chỉ do phương pháp của họ, mà do bản chất số đông của nó. Tại một số thời kỳ, “những vụ án” thường bao gồm hàng trăm người, bị bắt từ khắp nơi tại Liên Xô. Điển hình của thời kỳ đó là một báo cáo được lập bởi phân ban NKVD tỉnh Orenburg về “Các biện pháp cấp chiến dịch để thanh toán những nhóm Trốtkít và Bukharinít bí mật, cũng như các nhóm phản cách mạng khác, thực hiện từ 1 tháng Tư tới 18 tháng Chín năm 1937”. Căn cứ vào báo cáo này, NKVD Orenburg đã bắt 420 thành viên của một âm mưu “Trốtkít” và 120 “tên cánh hữu” – cũng như hơn 2.000 thành viên của một “tổ chức quân sự cánh hữu Côdắc Nhật Bản”, hơn 1.500 sĩ quan và nhân viên dân sự thời Sa hoàng bị đi đày khỏi St. Petersburg năm 1935, khoảng 250 người Ba Lan là một phần của vụ án chống lại “bọn gián điệp Ba Lan”, 95 người từng làm việc cho tuyến đường sắt Harbin tại Trung Hoa và được xem là gián điệp Nhật, 3.290 cựu kulak và 1.399 “thành phần tội phạm”.

Tóm lại, NKVD Orenburg đã bắt giữ hơn 7.500 người trong vòng năm tháng, không đủ thời gian để kiểm tra bằng chứng kỹ lưỡng. Điều này khó mà được xem là quan trọng, do việc hỏi cung với mỗi âm mưu phản cách mạng như vậy thực tế sẽ được thực hiện ở Moscow. NKVD địa phương chỉ đơn thuần thực hiện nhiệm vụ của mình, điền cho đầy chỉ tiêu số lượng đã được quyết từ cấp trên[51].

Bởi vì khối lượng bắt bớ lớn, những thủ tục đặc biệt được xác lập. Chúng không luôn đòi hỏi phải tăng thêm độ tàn bạo. Trái lại, số lượng lớn tù nhân đôi khi đồng nghĩa rằng NKVD phải giảm mức độ hỏi cung xuống tối thiểu. Người bị tố cáo phải được mau chóng hỏi cung, và cũng mau chóng được kết án, đôi khi có thêm một phiên tòa nghe lời khai rất ngắn. Tướng Gorbatov nhớ lại rằng việc nghe khai chỉ mất “bốn hoặc năm phút”, bao gồm việc xác nhận các chi tiết cá nhân của ông, cùng một câu hỏi: “Tại sao anh không nhận tội khi bị hỏi cung?” Sau đó, ông được nhận một án mười lăm năm[52].

Nhưng nhiều người khác không có được phiên tòa nào hết: họ bị kết án vắng mặt, hoặc bởi một osoboe soveshchanie – một “ủy ban đặc biệt” – tức là một troika gồm ba quan chức thì đúng hơn là một phiên tòa. Đó là kinh nghiệm của Thomas Sgovio, cuộc hỏi cung ông này được thực hiện rất chiếu lệ. Sinh ra tại Buffalo, New York, Sgovio tới Liên Xô năm 1935 như một người tỵ nạn chính trị, con trai một đảng viên cộng sản Mỹ gốc Ý bị buộc phải chạy từ Mỹ sang Liên Xô vì các hoạt động chính trị của mình. Trong ba năm sống tại Moscow, Sgovio dần dần vỡ mộng, và quyết định xin lại hộ chiếu Mỹ – ông đã từ bỏ quốc tịch Mỹ khi vào Liên Xô – để có thể quay về nhà. Ngày 12/3/1938, ông bị bắt khi vừa ra khỏi Tòa Đại sứ Mỹ.

Hồ sơ về cuộc hỏi cung Sgovio sau đó (mà nhiều thập kỷ sau ông đã sao được tại văn khố Moscow và tặng lại cho Viện Hoover) rất ít thông tin, phù hợp với hồi ức của chính ông về cùng những sự kiện. Bằng chứng chống lại ông bao gồm một danh sách những thứ tìm thấy trong quá trình khám xét trên người ông: cuốn sổ thành viên ủy ban thương mại của ông, sổ điện thoại và địa chỉ của ông, thẻ thư viện, một tờ giấy (“trên có viết chữ nước ngoài”), bảy tấm ảnh, một dao gọt bút chì, một phong bì chứa những con tem bưu điện nước ngoài, ngoài ra còn một số thứ khác. Có một tờ khai của Đại úy An ninh Quốc gia, đồng chí Sorokin, xác nhận rằng bị cáo có đi vào Tòa Đại sứ Mỹ ngày 12/3/1938. Có một tờ khai của nhân chứng, xác nhận rằng bị cáo đã rời Tòa Đại sứ Mỹ vào 1 giờ 15 phút chiều. Hồ sơ cũng bao gồm biên bản cuộc hỏi cung đầu tiên và hai cuộc hỏi cung ngắn, mỗi trang có chữ ký của cả Sgovio và người hỏi cung. Lời khai đầu tiên của Sgovio như sau: “Tôi muốn xin lại quốc tịch Mỹ của mình. Ba tháng trước tôi tới Tòa Đại sứ Mỹ lần đầu tiên và nộp đơn xin làm lại quốc tịch. Hôm nay tôi quay lại… người thư ký tiếp tân cho hay rằng nhân viên người Mỹ chịu trách nhiệm vụ của tôi đi ra ngoài ăn trưa và tôi nên quay lại sau một hai tiếng nữa”[53].

Trong hầu hết những cuộc hỏi cung cuối cùng, Sgovio bị yêu cầu lặp lại chi tiết những chuyến tới thăm tòa đại sứ hết lần này đến lần khác. Chỉ có một lần ông bị hỏi, “Hãy kể cho chúng tôi về các hoạt động do thám của anh!” Khi trả lời “Anh biết rõ tôi không phải là gián điệp cơ mà”, họ đã không ép ông thêm, mặc dù người hỏi cung đang vuốt ve cái ống cao su, một thứ thường dùng để đánh tù, nhằm mục đích có vẻ như để đe dọa[54].

Mặc dù NKVD không quan tâm lắm đến vụ này, họ dường như không bao giờ nghi ngờ về kết quả của nó. Vài năm sau, sau khi Sgovio đề nghị xem lại vụ của mình, văn phòng công tố đã sẵn sàng thực hiện và kết luận lại sự việc như sau: “Sgovio không phủ nhận rằng mình đã có nộp đơn tại Tòa Đại sứ Mỹ. Do đó tôi tin rằng không có lý do để lật lại vụ Sgovio”. Nguyền rủa việc mình đã khai rằng có bước vào tòa đại sứ – và đã thừa nhận muốn rời khỏi Liên Xô – Sgovio phải nhận từ một trong những “ủy ban đặc biệt” ấy bản án năm năm lao động cưỡng bức, bị kết tội là một “thành phần nguy hiểm cho xã hội”. Trường hợp của ông được xem như một lệ thường. Trong mớ vô số các cuộc bắt bớ vào thời ấy, các điều tra viên vụ của ông đã đơn giản là thực hiện những việc tối thiểu theo quy định[55].

Những người khác bị kết án với thậm chí còn ít bằng chứng hơn, sau các cuộc hỏi cung thậm chí còn sơ sài vội vàng hơn. Bởi khi đã bị rơi vào nghi ngờ thì tự nó đã được xem là dấu hiệu có tội, tù hiếm khi được tha mà không phải nhận ít nhất là một bản án cục bộ. Leonid Finkelstein, một người Do Thái Nga bị bắt cuối thập kỷ 1940, đã có ấn tượng rằng mặc dù không có ai tạo ra được một án có vẻ hợp lý chống lại ông, ông vẫn bị kết một án khá ngắn là bảy năm, đơn giản để chứng tỏ rằng cơ quan bắt giữ không bao giờ mắc sai lầm[56]. Một cựu tù khác, S. G. Durasova, thậm chí còn kể bà được một trong những người hỏi cung cho biết cụ thể rằng “chúng tôi không bao giờ bắt người vô tội. Và thậm chí dù cô không có tội thì chúng tôi cũng không thể thả cô, bởi sau đó mọi người sẽ nói rằng chúng tôi đang tóm người vô tội”[57].

Mặt khác, những trường hợp mà NKVD có quan tâm hơn – và dường như những khi chính Stalin có quan tâm hơn – thái độ của người hỏi cung đối với kẻ bị bắt trong các thời kỳ bắt bớ tập thể có thể nhanh chóng chuyển từ thờ ơ sang rất hung hãn. Trong những trường hợp cụ thể, NKVD thậm chí có thể yêu cầu người điều tra làm giả chứng cớ với quy mô lớn – lấy ví dụ như đã xảy ra trong cuộc điều tra năm 1937 đối với cái mà Nikolai Yezhov gọi là “mạng lưới gián điệp và gây lệch hướng mạnh nhất và có lẽ quan trọng nhất của tình báo Ba Lan tại Liên Xô”[58]. Nếu việc hỏi cung Sgovio cho thấy một thái cực của sự lãnh đạm thì chiến dịch quy mô lớn chống lại nhóm được cho là gián điệp Ba Lan đó lại cho thấy một thái cực khác: những người tình nghi bị hỏi cung chỉ với mục đích duy nhất là bắt họ phải thú tội.

Chiến dịch này bắt đầu với Mệnh lệnh NKVD số 00485, một mệnh lệnh tạo kiểu mẫu cho các cuộc bắt bớ tập thể về sau. Mệnh lệnh Chiến dịch số 00485 liệt kê rõ ràng những loại người phải bị bắt: tất cả những tù binh chiến tranh người Ba Lan còn lại từ thời chiến tranh Ba Lan-Bolshevik năm 1920-1921; tất cả những người tỵ nạn và di cư Ba Lan tới Liên Xô; bất cứ ai từng là thành viên một đảng chính trị Ba Lan; và tất cả những “kẻ hoạt động chống Xôviết” từ các vùng nói tiếng Ba Lan thuộc Liên Xô[59]. Trong thực tế, bất cứ ai có liên quan tới Ba Lan sinh sống tại Liên Xô – mà những người như vậy có rất nhiều, đặc biệt tại vùng biên giới Ukraina và Belorussia – đều bị đặt vào nghi vấn. Chiến dịch rộng khắp đến nỗi Lãnh sự Ba Lan tại Kiev đã soạn một báo cáo mật tả lại những gì đang diễn ra, lưu ý rằng tại một số làng “bất cứ ai liên quan tới Ba Lan và thậm chí bất cứ ai có tên gọi nghe có vẻ Ba Lan đều bị bắt, bất kể là quản đốc nhà máy hay nông dân[60].

Nhưng việc bắt bớ chỉ là khởi đầu. Do không có cớ gì để buộc tội những người mang họ Ba Lan, Mệnh lệnh 00485 tiếp tục thúc giục các xếp NKVD các tỉnh “bắt đầu điều tra đồng thời với việc bắt giữ. Mục tiêu cơ bản của điều tra phải là lật mặt nạ hoàn toàn những kẻ tổ chức và lãnh đạo của nhóm chệch hướng, cùng với mục đích khám phá ra mạng lưới của bọn chệch hướng…”[61]

Trong thực tế, điều này có nghĩa – cũng như trong rất nhiều vụ án khác – rằng bản thân những người bị bắt bị buộc phải cung cấp chứng cứ làm cơ sở để từ đó xây dựng lên vụ án chống lại họ. Hệ thống rất đơn giản. Những người Ba Lan bị bắt thoạt đầu bị hỏi về tư cách thành viên của họ trong nhóm gián điệp. Sau đó, khi họ tuyên bố không biết gì về chuyện ấy, họ bị đánh hoặc bị các kiểu tra tấn khác cho tới khi “nhớ ra”. Bởi vì Yezhov có quan tâm cá nhân trong việc thành công của vụ án đặc biệt này, ông ta thậm chí còn có mặt tại một số trong những buổi tra tấn ấy. Nếu tù nhân đệ đơn than phiền chính thức về sự đối xử của họ, ông ta ra lệnh người của mình lờ đi và “tiếp tục với cùng tinh thần như cũ”. Khi đã thú tội, tiếp theo tù bị yêu cầu phải nêu tên những người khác, những kẻ “đồng mưu” với họ. Sau đó chu kỳ lại quay lại từ đầu, kết quả là “mạng lưới gián điệp” ngày càng phình to lên.

Trong vòng hai năm kể từ khi bắt đầu, cái gọi là “cuộc điều tra đường dây Ba Lan” đem lại kết quả bắt giữ trên 140.000 người, theo một số tính toán nó chiếm gần 10 phần trăm tổng số người bị đàn áp trong Đại Khủng bố. Nhưng chiến dịch Ba Lan cũng trở nên nổi tiếng bởi việc sử dụng bừa bãi tra tấn và mớm cung đến nỗi năm 1939, trong một đợt phản ứng ngắn ngủi chống lại bắt bớ tập thể, bản thân NKVD thực hiện một cuộc điều tra đối với những “sai lầm” từng mắc phải trong khi chiến dịch trên được tiến hành. Một sĩ quan có dính dáng nhớ lại rằng “không cần phải quá tinh vi khéo léo – không cần có sự cho phép đặc biệt để đánh vào mặt, được phép đánh người không giới hạn”. Những ai thấy khó chịu buồn nôn, và có lẽ cũng có người như thế, được cho biết thẳng rằng đó là quyết định của Stalin và Bộ Chính trị để cho “đánh bọn Ba Lan với tất cả những gì có trong tay”[62].

Trong thực tế, mặc dù sau này Stalin tuyên bố NKVD đã “quá đơn giản hóa thủ tục điều tra”, vẫn có những bằng chứng cho thấy cá nhân ông đã tán thành các phương pháp này. Ví dụ như trong lá thư của Viktor Abakumov gửi Stalin năm 1947, ông này đã đặc biệt lưu ý rằng nhiệm vụ hàng đầu của một điều tra viên là cố gắng moi từ người bị bắt một “lời thú tội chân thật và cởi mở, với mục đích không chỉ để lập nên tội trạng của người bị bắt, mà cũng để tìm ra những kẻ mà hắn ta có liên quan, cũng như những kẻ điều khiển hoạt động tội ác của hắn và các kế hoạch thù địch của chúng”[63]. Abakumov chỉ đề cập len men quanh vấn đề tra tấn thể xác và đánh đập, nhưng cũng viết rằng điều tra viên buộc phải “nghiên cứu tính cách kẻ bị bắt”, và trên cơ sở đó có quyết định cho anh ta chịu chế độ tù nhẹ hay nghiêm khắc, và cách sử dụng tốt nhất “nhận thức về tội lỗi, các quan hệ gia đình và cá nhân, lòng tự trọng, tính kiêu căng, v.v. của hắn ta. Đôi khi, để đánh lừa kẻ bị bắt, và để tạo ấn tượng rằng tổ chức MGB biết rõ mọi thứ về hắn, điều tra viên có thể nhắc cho kẻ bị bắt những chi tiết rời rạc, riêng tư trong đời sống cá nhân của hắn, các bí mật mà hắn vẫn che dấu những người xung quanh hắn v.v.”.

Lý do tại sao công an mật Liên Xô bị ám ảnh về sự thú tội hiện vẫn là vấn đề đang tranh luận, và trước đây có rất nhiều cách giải thích khác nhau được đưa ra. Một số người tin rằng chính sách này xuất phát từ cấp trên cùng. Roman Brackman, tác giả một tiểu sử không chính thống về Stalin, cuốn The Secret File of Joseph Stalin, tin rằng vị lãnh tụ Xôviết có một ám ảnh loạn thần kinh phải bắt người khác thú nhận những tội lỗi mà bản thân ông đã dính tới: bởi vì bản thân ông từng là nhân viên công an mật thời Sa hoàng, ông có một nhu cầu đặc biệt nhìn thấy mọi người thú nhận tội phản bội. Robert Conquest cũng tin rằng Stalin rất quan tâm tới việc bắt buộc ít nhất là những người mà cá nhân ông quen biết phải thú tội. “Stalin muốn không chỉ giết chết đối thủ cũ của mình, mà còn tiêu diệt người ấy cả về mặt đạo đức lẫn chính trị”, mặc dù tất nhiên rằng điều này chỉ có thể áp dụng với vài người trong số hàng triệu người bị bắt.

Nhưng lời thú tội cũng là quan trọng đối với những nhân viên NKVD đang tiến hành điều tra. Có lẽ đạt được lời thú tội giúp họ cảm thấy tự tin hơn vào tính chính đáng của những hoạt động của mình: nó khiến sự điên cuồng của việc bắt bớ tập thể và chuyên quyền có vẻ như nhân đạo hơn, hay ít nhất là hợp pháp hơn. Như trong vụ “gián điệp Ba Lan”, lời thú tội cũng cung cấp bằng chứng cần thiết để bắt những người khác. Hệ thống chính trị và kinh tế Xôviết cũng bị ám ảnh bởi bệnh thành tích – hoàn thành kế hoạch, hoàn tất chỉ tiêu – vậy thì lời thú tội là “chứng cứ” cụ thể của một cuộc điều tra thành công. Như Conquest viết, “nguyên tắc đã được thiết lập rằng một bản thú tội là kết quả tốt nhất nhận được. Những người có thể lấy được nó được xem là các đặc vụ thành công, và một đặc vụ NKVD kém cỏi có thể thấy trước rằng cuộc đời mình sẽ sớm kết thúc”[64].

Bất kể NKVD sử dụng nguồn nào để tổng hợp lời khai, các điều tra viên công an thường cố đạt được chúng không nhất thiết phải dùng màn trình diễn chăm chăm theo đuổi một mục đích đầy chết chóc như trong vụ “gián điệp Ba Lan”, hay theo kiểu thờ ơ lãnh đạm áp dụng trong vụ Thomas Sgovio. Thay vì thế, tù thường được hưởng hỗn hợp cả hai kiểu. Một mặt, NKVD yêu cầu họ phải thú tội và tự buộc tội mình cùng những người khác. Mặt khác, dường như có cảm giác NKVD cẩu thả thiếu quan tâm tới kết quả nói chung.

Hệ thống có gì đó phi thực tế này đã rất ổn định kể từ thập kỷ 1920, những năm trước khi có Đại Khủng bố, và nó tiếp tục ổn định rất lâu sau khi Đại Khủng bố đã lắng dịu. Ngay từ năm 1931, viên sĩ quan hỏi cung Vladimir Tchernavin, một nhà khoa học bị tố cáo “gây hại” và phá hoại, dọa sẽ giết ông nếu ông không khai. Tại thời điểm khác, anh ta bảo ông rằng anh ta sẽ thu xếp một án “khoan dung” hơn nếu ông khai. Cuối cùng, anh ta đã thực sự nài xin Tchernavin để đưa ra lời khai khống. “Chúng tôi, những sĩ quan điều tra, thường cũng bị ép phải nói dối, chúng tôi cũng nói những điều không thể ghi vào hồ sơ được và với thứ đó chúng tôi không bao giờ ký tên mình”, người hỏi cung cầu xin ông[65].

Những khi đối với họ kết quả có tầm quan trọng hơn, tra tấn được áp dụng. Đánh đập thể xác thực sự dường như đã bị cấm trong thời kỳ trước năm 1937. Một cựu nhân viên Gulag xác nhận rằng điều này chắc chắn là bất hợp pháp trong nửa đầu thập kỷ 1930[66]. Nhưng khi áp lực phải khiến những Đảng viên hàng đầu thú tội gia tăng, tra tấn thể xác được đem ra sử dụng, có lẽ vào năm 1937, mặc dù nó chấm dứt trở lại vào năm 1939. Lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev công khai thú nhận điều này vào năm 1956: “Làm thế nào một người có thể thú nhận những tội lỗi mà anh ta không hề làm? Chỉ có một cách – bằng việc áp dụng các phương pháp thể xác để thúc ép anh ta, tra tấn, đẩy anh ta tới trạng thái không tỉnh táo, lột bỏ lương tri của anh ta, cướp đi phẩm cách của anh ta. Bằng cách ấy người ta thu được ‘lời thú tội’ ”[67].

Trong thời kỳ ấy việc sử dụng tra tấn trở nên rất phổ biến – và rất thường xuyên được đặt ra – đến nỗi đầu năm 1939, chính Stalin đã gửi một lưu ý tới các xếp NKVD cấp tỉnh, xác nhận rằng “từ 1937 trở đi trong NKVD việc sử dụng áp lực thể xác (đối với tù nhân) được cho phép bởi Hội đồng Trung ương”. Ông giải thích rằng nó được cho phép

chỉ khi liên quan tới những kẻ thù công khai của nhân dân vốn hay lợi dụng các phương pháp hỏi cung nhân đạo để từ chối tiết lộ bọn đồng mưu một cách vô liêm sỉ, những kẻ hàng tháng trời không khai báo và cố gắng ngăn cản việc lặt mặt bọn đồng mưu vẫn còn chưa bị bắt.

Ông đã, Stalin nói tiếp, đánh giá đó là một “phương pháp hoàn toàn đúng đắn và nhân đạo”, mặc dù ông thừa nhận rằng đôi khi nó có thể bị áp dụng đối với “những con người trung thực tình cờ bị bắt”. Tất nhiên, bản lưu ý nổi tiếng đó đã làm rõ một điều rằng bản thân Stalin hiểu rõ thứ phương pháp nào đã được sử dụng trong quá trình hỏi cung, và cá nhân ông đã tán thành chúng[68].

Rõ ràng đúng là trong thời kỳ này rất, rất nhiều tù đã ghi nhận có bị đấm và đá, mặt họ bị đánh dập và nội tạng bị tổn thương. Evgeny Gnedin mô tả đã bị đánh vào đầu đồng thời bởi hai người, một người bên trái, một người bên phải, sau đó bị đánh bằng gậy cao su. Việc này xảy ra trong phòng làm việc riêng của Beria, có sự hiện diện của Beria, tại nhà tù Sukhanovka[69]. NKVD cũng thực hành những phương pháp tra tấn phổ biến đối với các lực lượng công an mật khác tại các khu vực khác, ví dụ như dùng bao cát đánh vào dạ dày nạn nhân, bẻ gãy tay hoặc chân, hay trói tay chân quặt ra sau lưng rồi kéo họ lên cao[70]. Một trong những tài liệu kinh tởm nhất về tra tấn thể xác được ghi lại bởi giám đốc nhà hát Vsevolod Meyerhold, lá đơn kiện chính thức của ông được lưu trong hồ sơ về ông:

Những điều tra viên bắt đầu dùng vũ lực với tôi, một ông già ốm yếu sáu mươi lăm tuổi. Tôi bị buộc phải nằm úp mặt xuống và rồi bị đánh vào bàn chân và xương sống bằng roi cao su. Chúng đặt tôi ngồi lên ghế và đánh từ trên cao xuống bàn chân tôi với lực đánh rất mạnh… Vài ngày sau, khi những bộ phận đó của chân tôi vẫn còn phủ đầy những vết xuất huyết rộng, chúng lại lấy roi đánh lên các vết bầm tím và thâm vàng ấy, cơn đau mạnh đến nỗi cảm thấy như đang bị đổ nước sôi lên những vùng nhạy cảm đó. Tôi gào lên đến phát khóc vì đau. Chúng đánh vào lưng tôi bằng cùng sợi roi cao su ấy và đấm vào mặt tôi, nắm đấm vung cao hết cỡ…

Có một lần người tôi run đến nỗi không kiểm soát được khiến người lính gác áp giải tôi về sau trận hỏi cung ấy đã phải hỏi: “Ông bị sốt rét hả?” Khi tôi nằm xuống chiếc giường và ngủ thiếp đi, sau mười tám tiếng bị hỏi cung, để phải quay trở lại sau một giờ nữa, tôi bị đánh thức bởi chính tiếng rên của mình và bởi tôi bị co giật mạnh giống như một bệnh nhân trong gia đoạn cuối của bệnh sốt thương hàn[71].

Tuy nhiên mặc dù kiểu đánh đập ấy về kỹ thuật đã bị cấm sau năm 1939, việc thay đổi chính sách không nhất thiết làm cho việc điều tra trở nên nhân đạo hơn. Trong suốt những năm 1920, 1930 và 1940 hàng trăm ngàn tù nhân đã bị hành hạ không chỉ bằng đánh đập hay tấn công thể xác thực sự, mà cả bằng tra tấn tinh thần theo kiểu mà Abakumov đã bóng gió đến trong bức thư ông này gửi cho Stalin.

Ví dụ như, những người vẫn cứng đầu và từ chối khai có thể dần dần bị tước đoạt các tiện nghi thường ngày, ban đầu là không cho đi dạo, sau đó là không cho nhận quà nhà gửi hay không cho giữ sách, sau đó là bớt thực phẩm. Họ có thể bị nhốt vào khám phạt đặc biệt khắc nghiệt, rất nóng hay rất lạnh, như người viết hồi ký Hava Volovich đã bị, có một thời gian bà bị điều tra viên không cho ngủ: “Tôi sẽ không bao giờ quên kinh nghiệm đầu tiên của mình về cái lạnh trong tù. Tôi không thể mô tả được; tôi không có khả năng làm được. Một mặt tôi bị giấc ngủ lôi kéo, mặt khác là cơn rét buốt. Tôi nhảy nhót và chạy khắp phòng giam, ngủ gật khi vẫn còn đứng, sau đó đổ vật xuống giường, rồi cái lạnh lập tức lại đánh thức tôi dậy”[72].

Những người khác bị cho đối mặt với các “nhân chứng”, giống như Evgeniya Ginzburg, người phải thấy Nalya bạn thời thơ ấu của mình “lặp lại như một con vẹt”, tố cáo bà là thành viên tổ chức Trốtkít bí mật[73]. Một số người bị dọa sẽ làm hại người thân trong gia đình, hay sau một thời gian dài cách ly sẽ bị đưa vào chung phòng giam với đám chỉ điểm, lúc này họ quá vui mừng nên sẽ rất cởi mở với chúng. Phụ nữ bị cưỡng hiếp, hay đe dọa bị hiếp. Một người Ba Lan viết hồi ký kể lại câu chuyện sau đây:

Đột nhiên, không có lý do cụ thể gì, người đang thẩm vấn tôi dở trò tán tỉnh. Hắn đứng dậy từ sau chiếc bàn làm việc, bước tới ngồi xuống cạnh tôi trên chiếc ghế sofa. Tôi đứng dậy và đi uống chút nước. Hắn đi theo và ra đứng đằng sau tôi. Tôi khéo léo tránh ra và quay trở về ghế sofa. Hắn lại ngồi xuống bên cạnh tôi một lần nữa. Và một lần nữa tôi đứng dậy đi đến chỗ uống nước. Những hành động như vậy kéo dài suốt vài tiếng đồng hồ. Tôi cảm thấy nhục nhã và không biết nương tựa vào đâu…[74]

Cũng có những hình thức tra tấn thể xác ít thô thiển hơn đánh đập, và những cách này được sử dụng thường xuyên kể từ thập niên 1920 trở đi. Tchernavin ban đầu bị bắt thực hiện “bài kiểm tra đứng” – tù bị yêu cầu phải đứng, mặt quay vào tường, không được nhúc nhích dù chỉ chút ít. Một số bạn cùng phòng giam của ông còn bị tệ hơn:

Có lần, bác thợ khắc P., đã trên năm mươi tuổi và vóc người nặng nề, phải đứng suốt sáu ngày rưỡi. Ông không được cho ăn uống và không được ngủ; ông được đi vệ sinh chỉ một lần mỗi ngày. Nhưng ông vẫn không “nhận tội”. Sau trận thử thách ấy ông không thể đi về phòng giam và lính gác phải lôi ông lên cầu thang… Một người khác, thợ thủ công B., khoảng ba mươi lăm tuổi, có một chân bị cụt đến trên đầu gối và được thay bằng chân giả, đã phải đứng suốt bốn ngày mà vẫn không “nhận tội”[75].

Tuy nhiên, phổ biến nhất đơn giản là tù bị không cho ngủ: kiểu tra tấn dễ bị lầm là đơn giản này – dường như không đòi hỏi phải có sự chấp thuận đặc biệt từ trước – được tù gọi là bị “đặt trên băng truyền”, và có thể kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần. Phương pháp rất đơn giản: tù bị hỏi cung suốt đêm, sau đó bị cấm ngủ vào ban ngày. Họ liên tục bị lính gác đánh thức, và bị dọa nhốt vào khám phạt hay tệ hơn nữa, nếu họ không thể thức dậy ngay. Một trong những ghi nhận cụ thể nhất về băng truyền và ảnh hưởng thể xác của nó là của tù nhân Gulag người Mỹ Alexander Dolgun. Trong tháng đầu tiên của ông này ở Lefortovo, ông bị gần như là không được ngủ chút nào, chỉ cho một giờ mỗi ngày hoặc ít hơn: “Giờ nghĩ lại có vẻ như nói một giờ là quá nhiều, có lẽ không hơn một vài phút mỗi đêm”. Kết quả là bộ não bắt đầu chơi xỏ ông:

Có những lúc tôi đột nhiên nhận ra rằng mình không có ký ức về những gì vừa xảy ra mới chỉ vài phút trước. Biến mất khỏi đầu. Bị xóa sạch hoàn toàn…

Và rồi, tất nhiên, sau đó tôi bắt đầu biết cách ngủ đứng, nhận thấy cơ thể tôi có thể học cách giữ cho không gục xuống. Tôi nghĩ nếu cách này hiệu quả mình có thể không bị phát hiện ở phòng giam trong vài phút mỗi lần, bởi lính gác ngoài lỗ nhòm không nghĩ rằng tôi đang ngủ nếu tôi đứng thẳng.

Vậy là tôi làm thế, chợp mắt khoảng mươi phút, hay nửa tiếng, đôi khi lâu hơn một chút nếu Sidorov gọi đánh thức trước sáu giờ sáng và lính gác để tôi yên cho tới khi có kèn đánh thức buổi sáng. Nhưng như thế vẫn quá ít. Quá muộn. Tôi cảm thấy mình đang trượt đi, ngày càng lỏng lẻo và thiếu kiểm soát. Tôi sợ phát điên có vẻ còn tệ hơn – không phải có vẻ, mà đúng là tệ hơn – là chết…

Dolgun đã không thú tội suốt nhiều tháng, một thực tế khiến ông có chút tự hào trong suốt thời gian bị tù còn lại. Tuy nhiên nhiều tháng sau khi ông bị gọi từ trại ở Dzhezkazgan quay lại Moscow và bị đánh nhừ tử lần nữa, ông đã ký một bản nhận tội, bụng nghĩ, “Kệ nó chứ. Chúng dù sao cũng bắt mình rồi. Tại sao mình không làm thế này từ lâu, tránh được biết bao đau đớn?”[76]

Thực sự tại sao lại không? Đó là một câu hỏi nhiều người khác đã tự hỏi, với nhiều câu trả lời khác nhau. Một số – trong đó những người viết lại hồi ký chiếm tỷ lệ đặc biệt cao, dường như giữ được hoặc nhờ có nguyên tắc đạo đức, hoặc nhờ niềm tin sai lầm rằng làm vậy họ có thể tránh bị kết án. “Tôi thà chết còn hơn tự nói xấu mình”, tướng Gorbatov nói với điều tra viên của mình như vậy, thậm chí cả khi ông đang bị tra tấn (ông không nói cụ thể như thế nào). Nhiều người cũng tin – như Solzhenitsyn, Gorbatov và những người khác có nêu – rằng một lời thú tội dài dòng lố bịch có thể tạo ra bầu không khí phi lý mà thậm chí NKVD cũng không thể nhận ra. Gorbatov viết một cách ghê sợ về các đồng chí trong tù của mình:

Họ gây ấn tượng với tôi như những con người có văn hóa và tinh thần nghiêm túc. Tôi càng khiếp hãi hơn khi nghe thấy trong khi bị hỏi cung, mỗi từ mỗi chữ họ viết đều là thứ rác rưởi đậm đặc nhất, thú nhận ra những tội ác tưởng tượng và đổ tội cho người khác… Một số thậm chí còn bám lấy cái lý thuyết kỳ lạ rằng càng nhiều người bị tù thì càng sớm nhận ra rằng tất cả điều này đều vô nghĩa và có hại cho Đảng[77].

Tuy nhiên không phải ai cũng đồng ý rằng những kẻ ấy đáng bị lên án. Lev Razgon trong hồi ký của mình đã đáp lại Gorbatov, người mà ông gọi là “ngạo mạn và vô đạo đức”:

Thật sai lầm nếu chuyển sự buộc tội từ đám người tra tấn sang những nạn nhân của chúng. Gorbatov đã may mắn, thế thôi. Hoặc là điều tra viên của ông ta lười nhác, hoặc hắn ta đã không được có hướng dẫn rõ ràng về việc “gây áp lực” trong nhiệm vụ của hắn. Các bác sĩ, nhà tâm lý hay bác sĩ tâm thần đã không có đủ nghiên cứu để xác định rõ xem liệu một cá nhân có thể bị tra tấn đến mức đưa ra lời khai giả chống lại mình hay không. Nhưng thế kỷ này đã cung cấp một số lượng bằng chứng khổng lồ cho chủ đề này. Tất nhiên điều này là có thể làm được[78].

Cũng có những quan điểm lẫn lộn, khi hồi tưởng lại quá khứ, về chuyện giữ vững mình không khai có thực sự đem lại kết quả hay không. Susanna Pechora, người bị hỏi cung trong hơn một năm vào đầu những năm 1950 – bà là thành viên một nhóm thanh niên nhỏ được thành lập một cách ngẫu hứng để chống lại Stalin – đã nói, khi nhìn lại, rằng “giữ vững” không hề có ý nghĩa gì. Một lời thú tội mang tính chống chế chỉ kéo dài cuộc hỏi cung, bà tin như vậy. Hầu hết dù sao cuối cùng cũng sẽ bị kết án[79].

Tuy nhiên, nội dung hồ sơ của Sgovio rõ ràng minh họa rằng quyết định cuối cùng – về việc được thả sớm, ân xá hay đại loại thế – đều thực sự được dựa trên những gì có trong hồ sơ tù, bao gồm cả lời thú tội. Nói cách khác, nếu anh tìm cách giữ vững được, anh có một cơ hội rất, rất nhỏ đảo ngược được bản án cho mình. Ngay trong suốt những năm 1950, tất cả những thủ tục pháp lý đó, dù phi lý, đều được thực hiện nghiêm túc.

Cuối cùng, điều quan trọng nhất của cuộc điều tra là dấu ấn tâm lý để lại trên tù nhân. Thậm chí trước cả khi họ trở thành đối tượng trên chuyến vận chuyển đường dài về phía đông, thậm chí trước cả khi họ tới được trại đầu tiên của mình, họ đã được “chuẩn bị” ở một mức độ nào đó cho cuộc đời mới làm lao động nô lệ của mình. Họ đã biết rằng mình không còn những quyền cơ bản của con người, không còn quyền có một phiên tòa công bằng hay thậm chí được lắng nghe một cách công bằng. Họ đã biết rằng quyền lực của NKVD là tuyệt đối, và rằng chính quyền có thể tùy ý sử dụng họ. Một khi họ đã thú nhận một tội lỗi mình không phạm phải, họ đã nghĩ ít hơn về bản thân rồi. Nhưng thậm chí nếu không làm thế, họ cũng đã bị cướp mất mọi hy vọng, cướp mất bất cứ niềm tin nào rằng sai lầm về việc bắt giữ họ sẽ sớm được sửa chữa.

 

8. Nhà tù

 

Mụ Digan đọc những lá bài – một chặng đường dài,

Một chặng đường dài – rồi một nhà tù.

Có lẽ là nhà tù trung tâm xưa cũ,

Nó đang chờ tôi, chàng thanh niên, một lần nữa…

– bài ca truyền thống của tù nhân Nga

 

Việc bắt giữ và hỏi cung đã làm tù kiệt quệ, khiến họ choáng váng quy phục, làm họ rối loạn mất định hướng. Nhưng bản thân hệ thống nhà tù Xôviết, nơi tù bị giam giữ trước khi, trong khi và thường là một thời gian rất dài sau khi họ bị hỏi cung, cũng đã gây ảnh hưởng rất lớn lên trạng thái tinh thần của họ.

Khi quan sát trong một bối cảnh quốc tế, không có gì tàn bạo bất thường về nhà tù Xôviết hay chế độ tù Xôviết. Nhà tù Xôviết rõ ràng là khắc nghiệt hơn hầu hết các nhà tù phương Tây, và cũng khắc nghiệt hơn nhà tù Sa hoàng trước đây. Mặt khác, nhà tù ở Trung Hoa hay ở các khu vực khác thuộc Thế giới thứ ba vào giữa thế kỷ hai mươi cũng vô cùng khắc nghiệt. Tuy nhiên, các khía cạnh trong đời sống nhà tù Xôviết vẫn còn xa lạ đối với người Liên Xô. Một số khía cạnh của chế độ tù hàng ngày, cũng như bản thân quá trình hỏi cung, thậm chí dường như được thiết kế với chủ ý để chuẩn bị cho tù quen với cuộc sống mới trong Gulag.

Rõ ràng thái độ chính thức đối với tù phản ánh các thay đổi về thứ tự ưu tiên của những người điều hành trại. Ví dụ như, Genrikh Yagoda ban hành một mệnh lệnh tháng 8/1935, ngay khi việc bắt tù chính trị bắt đầu bắt nhịp, làm rõ rằng “điểm” quan trọng nhất của một cuộc bắt giữ (nếu những cuộc bắt giữ đó có thể nói là có một “điểm” với bất cứ ý nghĩa thông thường nào của từ này) là để đáp ứng yêu cầu điên cuồng hơn bao giờ hết nhằm lấy lời khai. Mệnh lệnh của Yagoda đã đặt không chỉ những “ưu đãi” của tù mà cả các điều kiện sống cơ bản nhất cho họ trực tiếp vào tay của các sĩ quan NKVD điều tra vụ của họ. Giả sử một tù có hợp tác – thường có nghĩ là đã thú tội – anh ta sẽ được phép nhận thư, bưu kiện thực phẩm, sách báo, hàng tháng được gặp người nhà và một giờ thể dục mỗi ngày. Nếu không, anh ta có thể bị tước tất cả những điều đó, cũng như bị cắt giảm khẩu phần[80].

Trái lại, năm 1942 – sau khi Beria tới và thề sẽ biến Gulag thành một cỗ máy kinh tế hiệu quả – các ưu tiên của Moscow đã đảo ngược. Trại trở thành một yếu tố quan trọng trong sản xuất thời chiến, và các chỉ huy trại bắt đầu than phiền về số lượng lớn tù được đưa tới các trại làm việc mà hoàn toàn không phù hợp với công việc. Đói khát, bẩn thỉu và không được tập luyện, họ đơn giản là không thể đào than hay đốn gỗ như tiến độ đòi hỏi. Do đó Beria ban hành những mệnh lệnh mới về công tác điều tra vào tháng Năm năm đó, yêu cầu các ông trùm nhà tù phải theo dõi “các điều kiện cơ bản về sức khỏe”, và giới hạn quyền kiểm soát của điều tra viên đối với cuộc sống hàng ngày của tù.

Căn cứ mệnh lệnh mới của Beria, tù được đi dạo hàng ngày “không ít hơn một giờ” (với ngoại lệ đáng lưu ý là trừ những ai đang chờ thi hành án tử, những người có sức khỏe khó phù hợp với chỉ tiêu sản lượng của NKVD). Ban quản lý nhà tù cũng phải đảm bảo rằng nhà tù của họ có một sân trong xây dựng đặc biệt cho mục đích: “Không một tù nào được ở lại phòng giam trong những cuộc đi bộ ấy… tù yếu và có tuổi phải được bạn cùng khám giúp đỡ”. Cai tù được yêu cầu phải đảm bảo rằng tù của mình (ngoại trừ những người đang trực tiếp bị hỏi cung) ngủ đủ tám tiếng mỗi ngày, rằng những ai bị ỉa chảy được nhận thêm vitamin và thức ăn tốt hơn, và rằng các parasha, chiếc xô chứa chất thải vệ sinh của tù, phải được sửa nếu bị rò rỉ. Điểm cuối cùng được xem là quá cốt yếu đến nỗi mệnh lệnh thậm chí còn chi tiết hóa kích thước lý tưởng của một parasha. Trong phòng giam nam, chúng phải cao từ 55-60 xăngtimét, trong phòng giam nữ cao 30-35 xăngtimét – và chúng phải có dung tích chứa đủ 0,75 lít cho mỗi người trong phòng giam[81].

Mặc cho có những quy định chi li lố bịch như vậy, các nhà tù vẫn tiếp tục khác biệt và thiếu thống nhất. Một phần, chúng khác biệt nhau vì địa điểm. Như một quy luật, các nhà tù tỉnh lẻ bẩn thỉu và kỷ luật lỏng lẻo hơn, còn nhà tù Moscow sạch sẽ và chết chóc hơn. Nhưng thậm chí ba nhà tù chính ở Moscow cũng có các đặc tính khác biệt nhau đôi chút. Nhà tù nổi tiếng Lubyanka, ngày nay vẫn ngự trước một quảng trường rộng tại trung tâm Moscow (và vẫn dùng làm tổng hành dinh FSB, hậu duệ của NKVD và KGB), được dùng làm nơi tiếp nhận và hỏi cung các tội phạm chính trị quan trọng nhất. Bên trong có khá ít phòng giam – một tài liệu năm 1956 nêu con số 118 phòng – trong đó có 94 phòng rất nhỏ, chỉ chứa được từ một đến bốn tù.[82] Từng là văn phòng của một công ty bảo hiểm, một số phòng giam của tòa nhà Lubyanka có sàn lát gỗ, vì thế tù phải lau chùi mỗi ngày. A. M. Garaseva, một nữ vô chính phủ sau này làm thư ký cho Solzhenitsyn, bị giam tại Lubyanka năm 1926, đã nhớ lại rằng bữa ăn vẫn còn do người phục vụ mặc đồng phục dọn lên.[83]

2

Cửa phòng giam nhà tù Lubyanka

Trái lại, Lefortovo, cũng được dùng để hỏi cung tù nhân, vốn là một nhà tù quân đội thời thế kỷ mười chín. Các phòng giam của nó, chưa bao giờ được tính để giam một số lượng lớn tù nhân, tối tăm hơn, bẩn thỉu hơn và đông người hơn. Lefortovo có hình dáng như một chữ K, và ở giữa của nó, theo như người viết hồi ký Dmitri Panin nhớ lại, có “một người đứng cầm cờ hướng dẫn dòng tù nhân vào ra nơi hỏi cung”.[84] Cuối những năm 1930, Lefortovo trở nên quá tải tới mức NKVD mở một “khối phụ” trong tu viện Sukhanovsky bên ngoài Moscow. Được đặt tên chính thức là “Đối tượng 110”, và được tù gọi là “Sukhanovka”, khối phụ này có một tiếng tăm kinh khủng vì là nơi tra tấn: “Không hề có quy định về nội quy, cũng không có nguyên tắc giới hạn cách thức điều tra”.[85] Đích thân Beria duy trì một văn phòng tại đây, và cá nhân ông ta đứng ra theo dõi các cuộc tra tấn tù của Sukhanovka.[86]

3.png

Sân trong nhà tù Lefortovo, ngay giữa của chữ K

Nhà tù Butyrka, cái lâu đời nhất trong cả ba, từng được xây trong thế kỷ mười tám, vốn được thiết kế làm một cung điện, mặc dù nó mau chóng bị chuyển thành một nhà tù. Trong số các tù nhân nổi bật vào thế kỷ mười chín của nó có Feliks Dzerzhinsky, cùng với các nhà cách mạng Ba Lan và Nga khác.[87] Nói chung được dùng để chứa các tù đã kết thúc việc hỏi cung và đang chờ được chuyển đi, Butyrka cũng đông đúc và bẩn thỉu, nhưng dễ thở hơn. Garaseva ghi nhận rằng trong khi lính gác Lubyanka bắt buộc tù phải “tập luyện” bằng cách đi bộ hành một vòng tròn khép kín, “tại Butyrka ta có thể làm những gì mình muốn”. Giống như nhiều người khác, bà cũng đề cập tới cái thư viện tuyệt vời của nhà tù, bộ sưu tập của nó được hình thành qua nhiều thế hệ tù, tất cả bọn họ đều để lại đây sách của mình khi bị chuyển đi nơi khác.[88]

4

Phòng giam nhà tù Butyrka

Nhà tù cũng khác biệt theo mỗi thời kỳ. Trong thời kỳ đầu những năm 1930, một số lớn tù nhân bị kết án hàng tháng hay thậm chí hàng năm trời cấm cố. Một tù nhân người Nga, Boris Chetverikov, vẫn giữ được mình khỏe mạnh suốt mười sáu tháng biệt giam nhờ giặt giũ quần áo, lau chùi sàn và tường – và nhờ hát lại tất cả các đoạn aria opera và những bài hát mà ông biết.[89] Alexander Dolgun cũng bị giam trong biệt khám suốt thời gian hỏi cung và xoay sở giữ được đầu óc nhờ đi bộ: ông đếm số bước trong phòng, tính ra bao nhiêu bước thì được một kilômét, và bắt đầu “đi bộ”, ban đầu là xuyên qua Moscow để tới Tòa đại sứ Mỹ – “Tôi hít thở bầu không khí tưởng tượng đầy trong lành và mát lạnh rồi xiết chặt lấy cái áo choàng trên người” – sau đó đi xuyên Châu Âu, cuối cùng băng qua Đại Tây Dương và quay trở về nước Mỹ.[90]

Ginzburg mất gần hai năm bị giam cách ly ở Yaroslavl, nằm sâu trong miền trung nước Nga, hầu hết thời gian đó hoàn toàn đơn độc: “Cho đến ngày nay, nếu nhắm mắt lại, tôi vẫn có thể nhìn thấy từng vết lồi và dấu trầy xước trên những bức tường ở đó, được sơn qua quýt với màu sơn ưa thích của nhà tù, màu nâu đỏ với một lằn màu trắng nhem nhuốc chạy ngang bên trên”. Nhưng cuối cùng, thậm chí cái nhà tù “đặc biệt” ấy cũng bắt đầu đầy người, và bà có thêm một bạn tù chung phòng. Sau rốt, hầu hết những tyurzek, “tù trong nhà tù”, bị chuyển vào các trại. Như Ginzburg viết lại, “Đơn giản là không thể giữ sự đông đúc ấy trong tù thêm mười hay hai mươi năm nữa: nó không còn phù hợp với nhịp độ và nền kinh tế của thời đại”.[91]

Trong những năm 1940, khi nhịp độ các cuộc bắt bớ tăng lên, việc giam cách ly bất cứ loại tù nào cũng trở nên ngày càng khó khăn, thậm chí cả các tù mới, dù chỉ trong vài giờ. Năm 1947, Leonid Finkelstein cuối cùng bị ném vào một vokzal nhà tù (vokzal có nghĩa là “nhà ga xe lửa”), một “phòng giam chung khổng lồ nơi tất cả những người bị bắt ban đầu đều bị tống vào, không có bất cứ tiện nghi nào. Sau đó họ dần dần được phân loại, đưa đi tắm, và rồi về các xà lim”.[92] Trong thực tế, kinh nghiệm về những nơi đông đúc kinh khủng ấy còn phổ biến hơn cả về các biệt khám. Để chọn bừa vài ví dụ, ta có thể lấy nhà tù chính thành phố Arkhangelsk, có sức chứa giam 740 người, tuy nhiên năm 1941 đã giữ từ 1.661 cho tới 2.380 tù. Nhà tù Kotlas, miền bắc nước Nga, sức chứa 300, đã giam tới 460 người.[93]

Nhà tù ở các tỉnh hẻo lánh còn tệ hơn. Năm 1940, nhà tù vùng Stanislawow tại vùng mới chiếm đóng Đông Ba Lan, có chứa 1.790 người, vượt quá nhiều so với sức chứa 472, và chỉ có 150 bộ khăn trải giường.[94] Tháng 2/1941, nhà tù nước Cộng hòa Tartarstan, sức chứa 2.710 tù, đã chứa 6.353. Tháng 5/1942, nhà tù thành phố Tashkent miền Trung Á, sức chứa 960, đã chứa 2.754.[95] Những tình trạng đông đúc như vậy đã gây tác động đặc biệt khắc nghiệt lên những người đang bị hỏi cung, toàn bộ cuộc sống của họ đang trở thành đối tượng của việc tra hỏi căng thẳng, đầy thù địch hàng đêm, và vào ban ngày họ phải sống chung với nhiều người khác. Một tù đã tả lại các tác động này:

Toàn bộ quá trình phân rã nhân cách diễn ra ngay trước mắt những người có trong phòng giam. Tại đây, một người không thể có được khoảng cách cần thiết để che dấu bản thân; thậm chí đi cầu cũng làm ở nhà vệ sinh trống toang hoác, đặt ngay trong phòng. Ai muốn khóc thì cứ đành khóc trước mọi người, và cảm giác xấu hổ càng làm tăng sự giày vò bản thân. Người nào muốn tự sát – đợi đến ban đêm, chui xuống dưới chăn, dùng răng mà cắn đứt ven cánh tay – sẽ sớm bị bạn cùng phòng mắc chứng mất ngủ phát hiện ra, và bị ngăn không cho tự kết liễu.[96]

Margarete Buber-Neumann cũng viết rằng sự đông đúc khiến tù quay ra hục hặc lẫn nhau. Khi tù bị đánh thức vào bốn giờ rưỡi sáng

tác động lên chúng tôi mạnh như thể một tổ kiến vừa bị lật nhào. Mọi người nắm lấy khăn mặt và bàn chải để mong được vệ sinh trước nếu có thể, bởi vì tất nhiên thiết bị rửa ráy không đủ cho tất cả chúng tôi. Trong phòng rửa mặt chỉ có năm bồn cầu và mười vòi nước. Tôi nói “bồn cầu” nhưng thực ra chỉ là năm cái lỗ trên sàn, không hơn không kém. Lập tức mọi người xếp hàng dài phía trước cả năm cái lỗ và cả mười vòi nước. Hãy tưởng tượng nếu ta có thể đi vệ sinh vào buổi sáng trước ít nhất một chục cặp mắt đang theo dõi mình, vừa bị la hét và thúc giục bởi những người thiếu kiên nhẫn chờ tới lượt mình…[97]

Có lẽ bởi vì nhận thức rõ về việc đông đúc quá tải, chính quyền nhà tù tiến tới xóa bỏ bất kỳ hình thức biệt giam nào trong một thời gian dài. Mệnh lệnh của Yagoda năm 1935 cũng cấm tù nói chuyện, la hét, ca hát, viết lên tường phòng giam, để lại dấu vết hay ký hiệu ở bất cứ đâu trong nhà tù, đứng tại cửa sổ phòng giam hay cố gắng liên lạc với những người ở phòng khác bằng bất cứ cách nào. Những ai phá vỡ quy định ấy sẽ bị trừng phạt bằng việc không cho tập thể dục hay viết thư, hay thậm chí bị nhốt trong các phòng trừng giam được xây dựng đặc biệt.[98] Bị bắt im lặng cũng thường được đề cập tới bởi những người bị tù thập kỷ 1930: “Không ai nói to và một số bọn họ tìm cách ra dấu cho nhau”, Buber-Neumann viết về Butyrka, nơi “những thân mình gần như lõa lồ của hầu hết phụ nữ đều có các vết màu xám xanh đặc trưng do bị giam lâu nên thiếu ánh sáng và khí trời…”[99]

Tại một số nhà tù, quy định giữ im lặng vẫn được tuân thủ tuyệt đối chặt chẽ trong thập kỷ sau đó, nhưng tại những nơi khác thì không: một cựu tù viết về “sự im lặng hoàn toàn” của nhà tù Lubyanka năm 1949, bằng cách so sánh với nó thì “phòng giam số 106 ở Butyrka giống như đến một phiên chợ sau khi vừa chui vào một cửa hiệu nhỏ”.[100] Một người khác, tại nhà tù thành phố Kazan miền trung Liên Xô, nhớ lại rằng mỗi khi tù bắt đầu thì thầm, cái khe cửa nhét thức ăn của phòng lại mở đánh beng một cái và có ai đó rít lên ‘Suỵt’ ”.[101]

Hiều người viết hồi ký cũng mô tả chuyện lính gác, khi đưa tù từ phòng giam sang phòng hỏi cung, thường khua vang chùm chìa khóa, bật ngón tay tanh tách hay gây ra tiếng động, nhằm cảnh báo những người đang ở xa hơn cuối hành lang. Trong trường hợp lỡ chạm trán, một trong các tù nhân sẽ bị lập tức dẫn đi sang lối khác, hay bị nhốt vào một phòng xép đặc biệt. V. K. Yasny, từng là dịch giả văn học Tây Ban Nha, có lần bị nhốt vào một buồng xép rộng nửa mét vuông ở Lubyanka trong hai giờ.[102] Những phòng xép như vậy dường như được sử dụng rộng rãi: tầng hầm của trụ sở cũ của NKVD ở Budapest, giờ là một bảo tàng, cũng có một cái. Mục đích để ngăn tù chạm trán với những người khác có thể liên quan trong “vụ án” đặc biệt của họ, cũng như giữ họ tránh xa anh chị em ruột hay họ hàng có thể cũng đang bị bắt.

Sự im lặng bắt buộc thậm chí khiến chuyến đi bộ tới nơi hỏi cung trở nên mất hết cả tinh thần. Alexander Dolgun nhở lại mình đã đi dọc hành lang trải thảm của Lubyanka như thế nào: “Âm thanh duy nhất trong khi chúng tôi đi là tiếng lính gác tắc lưỡi… tất cả những tấm cửa thép ấy đều màu xám, xám nòng súng, và tác động của vẻ u ám, im lặng và các tấm cửa xám cứ lặp lại dọc theo dãy hành lang cho tới khi chúng hòa với bóng tối đầy ngột ngạt và gây mất tinh thần”.[103]

Để ngăn tù trong phòng giam biết được tên của những người phòng khác, tù bị gọi – để hỏi cung hay chuyển đi nơi khác – không bằng tên mà bằng chữ trong bảng chữ cái. Lấy ví dụ, lính gác gọi “G” và tất cả tù có họ bắt đầu bằng chữ G sẽ đứng lên để xướng tên và phụ danh của mình.[104]

Trật tự được duy trì – cũng như trật tự được duy trì trong hầu hết các nhà tù – thông qua các quy định cứng nhắc về cuộc sống thường nhật. Zayara Vesyolaya, con gái một nhà văn Nga nổi tiếng và là một “kẻ thù”, mô tả trong hồi ký của mình một ngày điển hình ở Lubyanka. Nó bắt đầu bằng opravka, một chuyến đi vệ sinh: “Chuẩn bị vệ sinh!” lính gác hô lên, và đám phụ nữ yên lặng sắp thành hàng hai. Khi tới nhà vệ sinh, họ được cho khoảng mười phút – không chỉ để đi thải mà còn phải lau rửa và giặt quần áo nếu có thể. Opravka được tiếp nối bằng bữa sáng: nước nóng, có lẽ có pha thứ gì đó giống như trà hay cà phê trộn, cộng với khẩu phần bánh mì trong ngày, cộng hai hoặc ba mẩu đường. Bữa sáng được tiếp nối bằng chuyến vào kiểm tra của một lính gác, dẫn đi những người đề nghị được khám bác sĩ, và rồi là “hoạt động trung tâm của ngày”, một chuyến đi bộ hai mươi phút trong một “cái sân trong khép kín, đi hàng một thành vòng tròn sát theo tường”.

Chỉ có một lần trật tự bị vi phạm. Mặc dù bà không bao giờ giải thích tại sao, một buổi chiều Vesyolaya được đưa lên trên mái tòa nhà Lubyanka, khi các tù khác đã được báo tới giờ đi ngủ. Do Lubyanka nằm ở trung tâm Moscow, việc này có nghĩa rằng bà có thể quan sát, nếu không phải là toàn cảnh thành phố, thì cũng thấy ít nhất là ánh đèn thành phố – có cảm giác dường như nó thuộc về một đất nước khác.[105]

Tuy nhiên, thông thường thì phần còn lại trong ngày tiếp diễn như sau: bữa trưa – món súp tù, nấu với lòng ruột, hay ngũ cốc, hay bắp cải thối – sau đó là cùng một thứ súp cho bữa tối. Có một chuyến đi vệ sinh nữa vào buổi chiều. Trong khoảng thời gian giữa đó, tù thì thầm trò chuyện với nhau, ngồi trên giường tầng, đôi khi là đọc sách. Vesyolaya nhớ lại mình được phép đọc sách tuần một cuốn, nhưng quy định có khác biệt giữa các nhà tù, chất lượng của thư viện tại các nhà tù cũng khác nhau – có nơi, như tác giả đã viết, rất tuyệt vời. Tại một vài nhà tù, tù được phép mua thức ăn của “cửa hàng nhu yếu” nếu người thân có gửi họ tiền.

Nhưng còn có các kiểu hành hạ khác ngoài sự buồn chán và thức ăn tồi tệ. Tất cả tù bị cấm ngủ vào ban ngày – không chỉ với những ai đang bị hỏi cung. Cai tù thường xuyên theo dõi, quan sát qua “cái lỗ Juda”, lỗ nhòm vào phòng giam, để chắc chắn là quy định được tuân thủ. Lyubov Bershadskaya nhớ lại rằng mặc dù “chúng tôi bị đánh thức lúc sáu giờ, chúng tôi không được phép dù chỉ ngồi lại trên giường cho tới mười một giờ tối. Chúng tôi phải hoặc là đi bộ, hoặc ngồi trên ghế, không được dựa vào tường”.[106]

Ban đêm cũng không khá hơn. Rất khó ngủ, nếu không nói là không thể, vì ánh đèn sáng trong phòng không bao giờ bị tắt, và theo quy định cấm tù ngủ nhét tay dưới chăn. Vesyolaya đã cố gắng tuân theo: “Điều này bất tiện và không thoải mái, khiến tôi rất khó ngủ… tuy nhiên, khi tôi vừa chợp mắt thì theo bản năng tôi lại kéo chăn lên đến tận cằm. Lính gác liền tra chìa vào ổ khóa, tới lắc cái giường tôi nằm: “Tay!”[107] Buber-Neumann viết rằng “trước khi ta quen được với điều này, ban đêm còn tệ hơn cả ban ngày. Cố gắng ngủ ban đêm dưới ánh đèn điện gay gắt – tù không được phép che mặt mình – chỉ có mỗi chăn, thậm chí không có cả túi rơm hay gối, và có lẽ chăn cũng thiếu, chỉ còn cách nằm quay mặt về phía bạn tù bên cạnh”.

Có lẽ phương tiện hiệu quả nhất để ngăn tù quá thoải mái với khung cảnh xung quanh là sự có mặt của đội ngũ chỉ điểm – những người này có thể thấy ở bất cứ khía cạnh nào của đời sống Xôviết. Họ cũng đóng vai trò quan trọng trong trại, nhưng trong trại dễ tránh né họ hơn. Trong tù, mọi người không dễ đi tách xa khỏi họ, và họ khiến mọi người phải thận trọng trong lời lẽ của mình. Buber-Neumann nhớ lại rằng, chỉ với một ngoại lệ, “Tôi chưa bao giờ nghe thấy tù người Nga nói dù một từ chỉ trích chế độ Xôviết trong suốt thời gian tôi ở Butyrka”.[108]

Giữa các tù với nhau, người khôn ngoan đều chấp nhận rằng ít nhất có một chỉ điểm trong mỗi phòng giam. Khi có hai người trong một phòng, cả hai đều nghi ngờ người đối diện. Trong các phòng giam lớn hơn, chỉ điểm viên thường bị phát hiện và bị các tù khác lảng tránh. Khi Olga Adamova-Sliozberg lần đầu tới Butyrka, bà nhận thấy một chỗ ngủ trống ở gần cửa sổ. Bà được mời tới ngủ tại đó, theo lời bà, “nhưng hàng xóm của cô ở đó không tốt cho lắm đâu”. Người phụ nữ đang ngủ không có ai nằm gần đó, hóa ra là một chỉ điểm dành trọn ban đêm để “viết báo cáo tố giác mọi người trong phòng, vì thế không ai nói chuyện với cô ta”.

Không phải tất cả chỉ điểm viên đều dễ bị nhận ra, và nỗi ám ảnh quá lớn đến nỗi bất cứ hành vi bất thường nào đều bị xem là thù địch. Bản thân Adamova-Sliozberg cho rằng một trong số các bạn tù của mình rõ ràng là gián điệp, bởi đã thấy “miếng bọt biển kiểu nước ngoài cô ta dùng để tắm rửa và bộ đồ lót thêu ren cô ta mặc”. Sau này, bà đã tiến tới kết bạn với người phụ nữ đó.[109] Nhà văn Varlam Shalamov cũng viết rằng bị chuyển dời bên trong một nhà tù, giữa các phòng giam, “không phải là cảm giác dễ chịu. Việc này luôn khiến các bạn tù mới cùng phòng cảnh giác và làm họ nghi ngờ rằng tù mới tới là một tên chỉ điểm”.[110]

 

Không cần nghi ngờ gì nữa, hệ thống này rất khắc nghiệt, cứng nhắc và vô nhân tính. Nhưng – nếu họ có điều kiện, tù liền đánh trả, chống lại sự buồn chán, chống lại những lăng nhục lặt vặt thường xuyên, chống lại các cố gắng chia rẽ và gây phân tán họ. Đã có nhiều hơn một cựu tù viết lại về việc sau này khi ở trong trại, tù bị biệt giam tỏ ra thực sự mạnh mẽ hơn tù trong phòng chung. Ngay khi tù vừa đến trại, chính quyền liền chia tách và quản lý dễ dàng hơn. Đối với những tù xa lạ với nhau, họ dụ dỗ tù bằng lời hứa cho một vị trí cao hơn trong bộ máy điều hành trại, có thực phẩm tốt hơn và công việc nhẹ nhàng hơn.

Trong tù, trái lại, tất cả không ít thì nhiều đều bình đẳng với nhau. Mặc dù có sự xui khiến cộng tác, số người này ít hơn so với trong trại. Đối với nhiều tù nhân, những ngày những tháng trong tù, trước khi bị đi đày, thậm chí đã cung cấp một kiểu quá trình nhập môn về các kỹ thuật tồn tại sơ đẳng – và, mặc cho tất cả các cố gắng của nhà cầm quyền, kinh nghiệm đầu tiên của họ về sự đoàn kết chống lại cường quyền.

Một số tù đơn giản là học từ bạn tù những cách cơ bản để giữ gìn vệ sinh và nhân phẩm. Trong phòng giam của mình, Inna Shikheeva-Gaister học được cách làm nút áo từ những mẩu bánh mì nhai nát để cài được quần áo mình, làm kim từ xương cá, sử dụng sợi chỉ bằng rơm để vá các lỗ trên quần áo bị rách do khám xét, cũng như những công việc lặt vặt khác hóa ra sẽ rất hữu ích ở trong trại.[111] Dmitri Bystroletov – một cựu điệp viên Xôviết ở phương Tây – cũng học được cách làm “chỉ” từ bít tất cũ: xổ hết bít tất ra, đầu của sợi chỉ được vuốt nhọn bằng một mẩu xà phòng. Những sợi chỉ như vậy, cùng với các cây kim mà ông học được cách làm từ que diêm, sau này ở trong trại sẽ được đổi lấy thức ăn.[112] Susanna Pechora, cô thanh niên chống Stalin nọ, được dạy “cách ngủ những khi họ không để ý, cách may vá bằng que diêm, và cách đi lại không cần có thắt lưng”.[113]

Tù cũng duy trì được một số khả năng quản lý cuộc sống của mình thông qua cơ chế starosta, vị “trưởng niên” của phòng giam. Một mặt, bên trong nhà tù, trên các toa tàu và trong lán ở của trại, starosta được chính thức công nhận là một nhân vật, với nhiệm vụ được dẫn giải trong các văn bản chính thức. Mặt khác, starosta được giao khá nhiều trách nhiệm – từ theo dõi giữ gìn phòng giam sạch sẽ cho đến bảo đảm việc sắp hàng có trật tự để đi vệ sinh – có nghĩ là quyền lực của anh ta phải được tất cả chấp nhận.[114] Bởi vậy, các chỉ điểm viên và những tù được cai ngục ưu ái không mấy người ở vị trí này. Alexander Weissberg viết rằng trong các phòng giam lớn từ 200 tù trở lên, “khó có thể có cuộc sống bình thường nếu không có một trưởng niên của phòng để tổ chức việc phân phối thức ăn, thu xếp việc tập thể dục v.v.”. Nhưng bởi vì công an mật không chấp nhận bất cứ hoạt động tổ chức nào trong tù (lô gích khá đơn giản: một tổ chức của những kẻ phản cách mạng sẽ là một tổ chức phản cách mạng) nên một giải pháp Xôviết kinh điển được đưa ra, theo như Weissberg viết: “starosta sẽ được tù bầu chọn “bất hợp pháp”. Quản lý tù biết được điều này qua đám chỉ điểm và sau đó chính thức chỉ định theo sự lựa chọn của tù”.[115]

Trong những phòng giam đông đúc chật chội nhất, nhiệm vụ chính của starosta sẽ là đón nhận các tù mới và đảm bảo mỗi người đều có chỗ ngủ. Rất phổ biến là tù mới được đưa đến ngủ cạnh cái parasha, cái xô tiêu tiểu, rồi được nằm xa dần dần khỏi nó để tiến gần tới chỗ cửa sổ khi nào họ lên được lão làng. “Không có ngoại lệ,” Elinor Lipper nhấn mạnh, “kể cả với người bệnh hay người có tuổi”.[116] Starosta cũng đứng ra giải quyết các trận đánh lộn, thường xuyên giữ trật tự trong phòng, một nhiệm vụ hết sức khó. Kazimierz Zarod, một cảnh sát Ba Lan bị bắt, đã nhớ lại rằng khi ông làm starosta trong phòng giam, “lính gác liên tục đe dọa trừng phạt tôi nếu tôi không giữ được các thành phần bất kham trong vòng kiểm soát, đặc biệt là sau 9 giờ tối, khi bắt đầu thực hiện quy định “không nói chuyện” sau khi ‘Tắt Đèn’”. Cuối cùng, bản thân Zarod đã bị tống vào một khám phạt vì không giữ được kiểm soát.[117] Tuy nhiên, theo một số tài liệu khác, có vẻ như các quyết định của starosta thường được tôn trọng.

Không nghi ngờ gì rằng khả năng khéo léo nhất của tù là tập trung vào vượt qua được một quy định nghiêm ngặt nhất: nghiêm cấm việc liên lạc giữa các phòng giam và với thế giới bên ngoài. Mặc cho mối đe dọa bị nghiêm khắc trừng phạt, tù nhân ghi lại các lưu ý cho các tù khác trong nhà vệ sinh, hay ném các tin nhắn qua tường rào. Leonid Finkelstein đã tìm cách ném một miếng thịt, một quả cà chua và một khúc bánh mì sang phòng giam khác: “khi được đưa đi vệ sinh, tôi thử mở cửa sổ và nhét thức ăn qua đó”. Ông bị bắt và nhốt vào trừng khám.[118] Tù hối lộ lính gác để chuyển hộ tin nhắn, mặc dù lính cũng thường vui lòng làm vậy. Một cai tù ở nhà tù Stavropol thường chuyển giúp Lev Razgon tin nhắn miệng cho vợ ông.[119]

Năm 1939, một người từng ngồi tù mười bốn tháng ở Vilnius sau khi Liên Xô chiếm đóng thành phố – trước đấy nó nằm dưới sự cai trị của Ba Lan – đã mô tả trong một bản khai làm chứng trình cho chính phủ lưu vong Ba Lan về việc các thành phần cơ bản của chế độ nhà tù Ba Lan thời trước đó đã dần dần bị thủ tiêu như thế nào. Từng bước một, tù bị mất các “đặc quyền” của mình – quyền được đọc sách và viết thư, quyền sử dụng thư viện, được cấp giấy trắng và bút chì, được nhận bưu phẩm. Các quy định mới, những điều thông thường đối với hầu hết tù Xôviết, nay được đem đến áp dụng tại đây: đèn điện trong phòng phải bật sáng suốt đêm, các cửa sổ bị chặn bằng một tấm sắt tây. Thật ngạc nhiên là quy định cuối này lại tạo cơ hội để giúp liên lạc giữa các phòng: “Tôi mở cửa sổ và thò đầu qua các song sắt nói chuyện với các bạn phòng bên. Thậm chí nếu lính tuần tra trong sân có nghe được câu chuyện của chúng tôi thì anh ta cũng không thể xác định được nó phát ra từ đâu, bởi nhờ có các tấm sắt tây nên không thể phát hiện ra cửa sổ nào đang mở”.[120]

Tuy nhiên, có lẽ hình thức liên lạc bị cấm phức tạp nhất là mã Morse của tù nhân, gõ trên tường phòng giam hay trên đường ống nước nhà tù. Bộ mã được phát minh ra vào thời Sa hoàng – Varlam Shalamov cho rằng đó là tác phẩm của một trong Những người Tháng Chạp.[121] Elinor Olitskaya học được nó từ các đồng chí Cách mạng Xã hội của bà rất lâu trước khi bà bị tù năm 1924.[122] Trong thực tế, nhà cách mạng người Nga Vera Figner từng mô tả mật mã này trong hồi ký của mình, và Ginzburg cũng biết được nhờ đọc nó. Khi đang chịu hỏi cung, bà nhớ lại gần hết bản mật mã để sử dụng nó liên lạc với phòng giam kế bên.[123] Mật mã khá đơn giản: bảng chữ cái Nga được chia thành năm hàng sáu chữ cái:

А       Б       В       Г       Д       Е

Ж      З        И       К       Л       М

Н       О       П       Р       С       Т

У       Ф       Х       Ц       Ч       Ш

Щ      Ъ       Ы      Э       Ю      Я

Mỗi chữ được ký kiệu bằng hai nhịp gõ, nhịp đầu để biết vị trí hàng, nhịp hai để biết vị trí cột:

1,1     1,2     1,3     1,4     1,5     1,6

2,1     2,2     2,3     2,4     2,5     2,6

3,1     3,2     3,3     3,4     3,5     3,6

4,1     4,2     4,3     4,4     4,5     4,6

5,1     5,2     5,3     5,4     5,5     5,6

Thậm chí những người chưa bao giờ đọc hay được người khác giới thiệu về mật mã này đôi khi cũng có thể giải được nó, bởi đã có các biện pháp chuẩn hóa để phổ biến nó. Những người biết lâu lâu lại gõ lại bảng chữ cái hết lần này đến lần khác, cùng với một hoặc hai câu hỏi rất đơn giản, trong hy vọng rằng con người xa lạ ở phía bên kia tường sẽ hiểu ra. Đó là cách mà Alexander Dolgun học được mật mã này ở Lefortovo, ghi nhớ nó nhờ sử dụng mấy que diêm làm dấu. Khi cuối cùng ông có thể “nói chuyện” được với người phòng kế bên và hiểu rằng ông ta đang hỏi mình “Anh là ai?”, ông cảm thấy “trào lên một niềm yêu thương trong sáng đối với con người đã kiên trì hỏi tôi suốt ba tháng liền xem tôi là ai”.[124]

Mật mã này không phải lúc nào cũng được sử dụng phổ biến. Năm 1949, Zayara Vesyolaya “không tìm thấy bất cứ một ai biết ‘bảng chữ cái tù’” ở Butyrka, và ban đầu bà nghĩ rằng truyền thống này đã chấm dứt rồi. Sau đó bà nhận ra mình đã sai, bởi có người khác nói với bà rằng họ có dùng nó vào thời kỳ đó, và vì có lần một lính gác xông vào phòng bà khi anh ta nghe thấy tiếng gõ để tìm xem ai đang làm vậy.[125] Cũng có nhiều biến thể của nó. Nhà văn và thi sĩ người Nga Anatoly Zhigulin tuyên bố đã sáng tạo ra một mật mã, cũng dựa trên bảng chữ cái, mà ông và nhóm bạn của mình (họ cùng bị bắt một lúc) sử dụng để liên lạc trong thời gian vụ án của họ đang bị điều tra.[126]

Tại những nơi cụ thể và vào những thời điểm cụ thể, các phương pháp tự tổ chức của tù có hình thức phức tạp hơn. Một hình thức đặc biệt có được Shalamov mô tả trong truyện ngắn của ông “Ủy ban Dân nghèo”, và cũng được đề cập bởi nhiều người khác.[127] Nguồn gốc của nó nằm ở một quy định không công bằng: có một lúc vào cuối những năm 1930, chính quyền đột nhiên quyết định rằng tù đang bị điều tra không được nhận mọi thứ bưu phẩm của người thân, lấy lý do rằng thậm chí “chỉ hai ổ bánh mì kiểu Pháp, năm quả táo và một đôi quần dài cũ là đủ để truyền đi bất cứ thông điệp nào vào nhà tù”. Chỉ có thể gửi tiền, và chỉ được gửi số tiền chẵn, sao cho tổng số tiền không không thể sử dụng để mang nghĩa cho một “tin nhắn”. Nhưng không phải tất cả các gia đình đều có tiền mà gửi. Một số rất nghèo, một số ở quá xa, trong khi những người khác thậm chí còn tham gia tố giác người thân của mình trước tiên. Điều này có nghĩa rằng mặc dù một số tù có thể tuần một lần bước vào kho nhu yếu của nhà tù – để mua bơ, phó mát, xúc xích, thuốc lá cuộn, bánh mì trắng, thuốc lá điếu – thì những người khác phải sống nhờ vào khẩu phần ít ỏi trong tù và quan trọng hơn là sẽ cảm thấy “đứng ngoài rìa những ngày hội chung” vốn là “ngày mở kho nhu yếu”.

Để giải quyết được vấn đề, tù ở nhà tù Butyrka khôi phục lại một cụm từ có từ những ngày đầu tiên của cuộc Cách Mạng và tổ chức ra “Ủy ban Dân nghèo”[128]. Mỗi tù đóng góp 10 phần trăm tiền túi của mình vào ủy ban. Đáp lại, ủy ban sẽ mua thực phẩm cho những tù không có tiền. Hệ thống này tồn tại được vài năm, cho tới khi chính quyền quyết định xóa bỏ ủy ban bằng cách hứa cho một số tù được “thưởng” nhiều thứ nếu từ chối không tham gia ủy ban. Tuy nhiên, các phòng giam chống lại và tẩy chay những ai từ chối. Shalamov tự hỏi, ai là người “dám mạo hiểm đặt mình vào thế chống lại toàn thể tù trong phòng, chống lại những người ở cùng mình suốt hai bốn giờ trong ngày, nơi chỉ trong giấc ngủ mới không phải nhìn thấy những ánh mắt thù địch của các bạn tù?”

Lạ kỳ thay, câu chuyện ngắn ngủi này là một trong số ít thuộc kho thông tin bao quát của Shalamov kết thúc với một lưu ý tích cực: “Không như thế giới ‘tự do’ ‘bên ngoài’, hay như trong trại, xã hội trong tù luôn luôn đoàn kết với nhau. Với ủy ban, xã hội này đã tìm ra cách có được một tuyên bố tích cực đòi hỏi cho mỗi con người có quyền sống cuộc đời của riêng mình”.[129]

Người bi quan nhất trong số các nhà văn này đã tìm thấy trong hình thức tổ chức đó của tù nhân bị cô lập một tia của hy vọng. Các thương tổn trong quá trình đi đường và nỗi khiếp sợ của những ngày ngơ ngác đầu tiên trong trại sẽ mau chóng làm tan vỡ nó.

 

9. Đi đường, Đến nơi, Chọn lựa

 

Tôi nhớ mãi nơi hải cảng Vanino

Và tiếng ồn ào trên chiếc tàu ảm đạm

Khi chúng tôi bước dọc theo cầu tàu

Vào trong khoang lạnh lẽo, tăm tối

Người zek chịu đựng va quật từng cơn sóng

Biển thăm thẳm hú gào khắp quanh mình –

Đằng trước họ chính là Magadan

Thủ phủ của vùng đất Kolyma

Không khóc, mà chỉ có rên rỉ đau đớn

Trào lên từ những lồng ngực khổ đau

Khi họ nói vĩnh biệt với bờ cũ

Con tàu lăn lộn, vặn vẹo, xiết gào…

– Bài hát của tù Xôviết

 

Năm 1827, nữ công tước Maria Volkonskaya, vợ của nhà phiến loạn Tháng Chạp Sergei Volkonsky, đã từ bỏ gia đình, con cái và cuộc đời an toàn của mình ở St Petersburg để tới cùng chồng đi lưu đày ở Siberi. Người viết tiểu sử cho bà đã tả lại chuyến đi mà theo suy nghĩ vào thời đó là một trong những nỗi gian khổ khó có thể chịu đựng nổi:

Hết ngày này qua ngày khác, chiếc xe trượt tiến về phía đường chân trời vô tận. Bị nhét kín như trong một chiếc hộp thời gian, Maria đang ở một trạng thái hân hoan đến phát sốt. Trong chuyến đi xuất hiện một cảm giác như phi thực tế: rất thiếu ngủ và ít thức ăn. Thỉnh thoảng bà chỉ dừng lại ở trạm nghỉ để dùng một cốc trà chanh nóng rót từ chiếc ấm samovar bằng đồng lúc nào cũng có sẵn. Chiếc xe do ba con ngựa gò cổ kéo di chuyển với một tốc độ đến chóng mặt, ngốn ngấu khoảng không gian trống vắng phía trước bằng cách phi nước đại. “Đằng trước… tiến!” người xà ích hét lên, băng băng với hàng vốc tuyết lớn văng tung tóe dưới móng ngựa, mấy cái chuông ở bộ cương kêu lanh canh liên hồi, thông báo chiếc xe đang đi tới…[130]

Hơn một thế kỷ sau người bạn cùng phòng giam với Evgeniya Ginzburg đã đọc một mô tả tương tự về chuyến đi của một nhà quý tộc xuyên qua dãy Ural – rồi thở dài đầy ghen tỵ: “Vậy mà tớ đã luôn nghĩ rằng các bà vợ của Những người Tháng Chạp đã phải chịu đựng những đau khổ khủng khiếp nhất…”[131]

Không có con ngựa và không có chiếc xe trượt nào chở những người tù thế kỷ hai mươi với “tốc độ đến chóng mặt” băng qua vùng Siberi tuyết phủ, và không có cốc trà chanh nóng nào được rót ra từ chiếc ấm samovar bằng đồng tại các trạm nghỉ. Nữ công tước Volkonskaya có thể sụt sùi trong chuyến đi, nhưng đám tù đi sau bà thậm chí chỉ cần nghe đến cái từ etap – một biệt ngữ của tù để chỉ sự “vận chuyển” – là lập tức có cảm giác choáng váng vì sợ đến khô cả cổ, thậm chí còn kinh hãi. Mỗi chặng đi đều là một cú nhảy đau đớn khổ sở vào chốn vô định, một bước rời xa các bạn tù thân quen và những sắp xếp quen thuộc, bất kể nó có tệ đến đâu chăng nữa. Tệ hơn nữa, quá trình di chuyển tù từ nhà tù tới các nhà giam trung chuyển, từ nhà giam trung chuyển tới trại, và giữa các trại bên trong của hệ thống, là những chuyến đi kiệt sức và tàn bạo một cách công khai. Xét theo một khía cạnh nào đó, đấy là diện mạo khó cắt nghĩa nhất của cuộc sống trong Gulag.

Với những người trải qua sự thử thách này lần đầu tiên, sự kiện này như một thai nghén mang hình thức chủ nghĩa tượng trưng. Bắt bớ và hỏi cung là bước đầu để đi vào hệ thống, nhưng chuyến tàu vận chuyển xuyên nước Nga mới là đại diện cho một thay đổi địa lý trong cuộc đời cũ của người tù, và đồng thời là bắt đầu một cuộc đời mới. Cảm xúc liên tục dâng cao trong các chuyến tàu rời Moscow và Leningrad để hướng lên miền bắc và về phía đông. Thomas Sgovio, người Mỹ không được cấp lại hộ chiếu, đã nhớ lại những gì xảy ra khi tàu của ông khởi hành đi Kolyma: “Đoàn tàu của chúng tôi rời Moscow buổi chiều ngày 24 tháng Sáu. Đó là bắt đầu của chuyến đi về phía đông kéo dài cả tháng trời. Tôi sẽ không bao giờ quên thời khắc ấy. Bảy mươi gã đàn ông… cùng nhau bật khóc”.[132]

Trong hầu hết thời gian, các chuyến vận chuyển đường dài chạy theo từng chặng. Nếu đang bị giam trong những nhà tù ở thành phố lớn, đám zek trước tiên sẽ bị đưa vào các đoàn xe tải mà chính thiết kế của chúng nói lên sự ám ảnh của NKVD đối với yêu cầu đảm bảo bí mật. Trông bên ngoài thì những chiếc “Quạ Đen”, chúng được đặt biệt danh như vậy, là những chiếc xe tải hàng hạng nặng rất bình thường. Vào những năm 1930, chúng thường được sơn chữ “bánh mì” ở hai bên sườn, nhưng về sau người ta chuyển sang sử dụng các mưu mẹo tinh vi hơn. Một tù bị bắt năm 1948 nhớ lại mình đã đi trên chiếc xe tải có biển “Thịt thăn Moscow” và một chiếc khác có biển “Rau/Quả”.[133]

Ở bên trong, đôi khi chiếc xe tải được chia thành “hai dãy chuồng sắt bé tí, đen thui, ngột ngạt”, như lời một tù nhân mô tả.[134] Theo một thiết kế năm 1951, các xe tải đơn giản là có hai hàng ghế dài, tù ngồi chen chúc nhau trên đấy.[135] Đám nông dân và những ai bị chở đi vào đầu của thời kỳ lưu đày hàng loạt từ các quốc gia Baltic và vùng đông Ba Lan phải khổ nhiều hơn vì chúng. Họ thường bị nhét vào các xe chở hàng thông thường, như một cụ già người Lithuania đã mô tả cho tác giả, “lèn như cá trích”: tù đầu tiên xoạc cẳng ra, tù thứ hai ngồi giữa hai chân tù thứ nhất và cũng phải xoạc cẳng mình ra – và cứ thế, cho tới khi chiếc xe đầy người.[136] Những sắp xếp như vậy đặc biệt khó chịu những khi có quá nhiều người bị tập trung, và chuyến đi tới nhà ga kéo dài suốt cả ngày. Trong những cuộc lưu đày diễn ra tại vùng lãnh thổ cũ của Ba Lan vào mùa đông tháng 2/1940, trẻ con lạnh cóng đến chết trước khi đến được tàu hỏa, còn người lớn phải chịu giá ăn trầm trọng, sau đó tay chân họ không bao giờ phục hồi được nữa.[137]

Ở các thị trấn tỉnh lẻ, quy định về giữ bí mật được nới lỏng hơn và tù đôi khi bị dẫn đi bộ băng qua thị trấn để tới nhà ga tàu hỏa, một ký ức thường cung cấp cho ta những ý niệm cuối cùng của họ về cuộc sống thường ngày – và một trong vài ý niệm loáng thoáng của dân thường về những người tù. Janusz Bardach nhớ lại sự ngạc nhiên của mình trước phản ứng của đám thị dân tại Petropavlovsk khi họ thấy tù đi dọc trên đường:

Hầu hết những người đi theo là các phụ nữ choàng khăn san và khoác áo choàng dạ dài và nặng. Trước sự ngạc nhiên của tôi, họ cất tiếng hét lớn với đám lính gác: “Đồ phát xít… Lũ sát nhân… Tại sao chúng mày không ra mà đánh nhau ngoài mặt trận…” Họ ném tuyết vào lính gác. Nhiều phát súng nổ vào không trung, đám phụ nữ lùi lại vài bước nhưng vẫn tiếp tục nguyền rủa và đi theo chúng tôi. Họ ném mấy gói đồ, những ổ bánh mì, khoai tây và thịt hun khói bọc trong mảnh giẻ cho đoàn người. Một phụ nữ lột chiếc khăn trên đầu cùng chiếc áo choàng và đưa chúng cho một người đàn ông không có gì. Tôi túm được một đôi găng bằng len.[138]

Những phản ứng như vậy vốn có truyền thống lâu đời ở nước Nga: Dostoevsky viết về những bà nội trợ gửi “các ổ bánh đẹp đẽ làm bằng loại bột hảo hạng” cho đám tù Sa hoàng trong dịp Giáng Sinh.[139] Nhưng vào những năm 1940, những thứ như vậy quá hiếm. Ở nhiều nơi – trong số đó có Magadan nổi tiếng – cảnh những người tù đi trên đường quá phổ biến đến nỗi không gợi lên được phản ứng gì.

Bất kể đi bộ hay bằng xe tải, tù cuối cùng cũng đến được nhà ga tàu hỏa. Đôi khi chúng là những ga thường, đôi khi là các ga đặc biệt – “một mảnh đất vây bằng hàng rào thép gai”, theo như trí nhớ của Leonid Finkelstein. Ông cũng nhớ rằng tù trở thành đối tượng của một loạt các thủ tục đặc biệt trước khi họ được phép lên tàu:

Khi có một đoàn tù khổng lồ, bạn sẽ bị đếm đi đếm lại, rồi lại đếm lại nữa. Đoàn tàu đã tới kia… rồi có hiệu lệnh lên đường: “Quỳ xuống!” Khi đưa người lên toa là một thời điểm nhạy cảm, có người sẽ ù chạy. Vì thế họ muốn yên tâm là mọi người đều phải phải quỳ xuống. Tốt nhất là bạn đừng nhỏm dậy, vì lúc này họ sẵn sàng nhả đạn. Sau đó họ đếm, rồi dồn người vào toa tàu và khóa lại. Nhưng đoàn tàu vẫn cứ đứng yên – bạn cứ đứng mãi cả tiếng đồng hồ – rồi đột nhiên “Khởi hành!” và bạn bắt đầu đi.[140]

Nhìn từ bên ngoài, các toa tàu thường có vẻ hết sức bình thường – ngoại trừ hầu hết chúng được bảo vệ kỹ hơn. Edward Buca, người bị bắt ở Ba Lan, nhìn quanh toa xe của mình với cặp mắt cẩn thận của một người đang mong sẽ trốn thoát. Ông nhớ lại rằng “mỗi toa bị chăng nhiều chuỗi dây thép gai, có thêm các sàn gỗ bên ngoài để lính gác đứng, bóng đèn điện được gắn trên và dưới mỗi toa, còn các cửa sổ nhỏ của chúng được lắp các song sắt dày”. Sau đấy, Buca kiểm tra dưới sàn toa và thấy có cả những chông sắt gắn dọc đáy toa. Vậy đấy.[141] Finkelstein cũng nhớ rằng “hàng sáng bạn nghe thấy tiếng búa này – đám lính gác có những chiếc búa gỗ, họ luôn gõ búa lên đoàn tàu để chắc chắn rằng không có ai tìm cách khoét lỗ mà trốn ra ngoài”.[142]

Những bố trí đặc biệt rất ít có dành cho tù đặc biệt. Anna Larina, vợ của nhà lãnh đạo Xôviết Nikolai Bukharin, không đi cùng các tù khác mà thay vì đấy là ở trong một khoang cho lính gác trên đoàn tàu.[143] Nhưng phần lớn số đông tù và người lưu đày di chuyển cùng nhau, trong một hoặc hai kiểu tàu. Loại đầu là loại Stolypinka, tức toa tàu kiểu Stolypin (tên gọi này, mỉa mai thay, được đặt theo vị thủ tướng mạnh mẽ nhất và có khuynh hướng cải cách của nước Nga Sa hoàng đầu thế kỷ hai mươi, người được cho là đã áp dụng chúng đầu tiên). Đó là những toa tàu thường được sửa lại để chở tù. Chúng có thể nối với nhau thành một đoàn tàu vận chuyển dài, hay gắn một hai toa vào một chuyến tàu thường. Một cựu hành khách của nó đã mô tả lại:

Một toa Stolypinka giống như một toa tàu Nga hạng ba thông thường, ngoại trừ nó có vô cùng nhiều chấn song và lưới sắt. Các cửa sổ, tất nhiên, được chắn song sắt. Các khoang cá nhân được ngăn ra bằng các lưới sắt thay cho vách, giống như cái chuồng thú, và một hàng rào sắt dài ngăn các khoang với lối đi. Sự sắp xếp này cho phép lính gác thường xuyên theo dõi được tất cả tù trong toa.[144]

5

Tù người Ba Lan trong một toa Stolypinka trên đường tới Ukraina

Các toa kiểu Stolypin cũng rất, rất đông đúc chen chúc:

Trên mỗi hai dãy giường tầng trên có hai người nằm quay đầu ngược nhau. Trên mỗi hai dãy giường tầng giữa có bảy người nằm quay đầu về phía cửa đi và một nằm vuông góc dưới chân của họ. Dưới mỗi hai dãy giường tầng dưới có một người nằm, cùng mười bốn người chễm chệ trên giường và đống đồ đạc trên sàn giữa giường và cửa vào. Ban đêm, tất cả những người ở tầng dưới bằng cách nào đấy đều xoay sở nằm xuống dọc nhau.[145]

Nhưng cũng có một bất tiện khác, nghiêm trọng hơn. Bên trong toa Stolypinka, lính gác có thể theo dõi tù mọi lúc mọi nơi, do đó có thể quản lý xem tù ăn gì và nghe mọi lời nói chuyện của họ – và quyết định khi nào và ở đâu họ có thể xả lòng mình. Kết quả là, hầu như mọi hồi ký mô tả chuyện đoàn tàu đều nhắc tới nỗi khủng khiếp liên quan tới việc đại tiểu tiện. Một lần hoặc đôi khi là hai lần mỗi ngày, đôi khi chẳng có lần nào, lính gác dẫn tù đi vệ sinh, hay dừng tàu lại để cho hành khách ra ngoài: “Chuyện xấu nhất xảy ra khi sau một hồi cãi nhau thật lâu với lính gác, chúng tôi được phép ra khỏi toa tàu và nam cũng như nữ mỗi người đi tìm một nơi dưới toa tàu để xả lòng, không mảy may quan tâm tới đám người đang chiêm ngưỡng từ mọi hướng xung quanh”.[146]

Bất kể những cuộc dừng như vậy có gây lúng túng bao nhiêu, tù đang đau bụng hay bị bệnh tật gì khác đều ở trong tình thế còn tệ hơn, theo như lời kể dưới đây: “Những tù nào không kìm được đành són luôn vào quần và thường là vào luôn tù bên cạnh. Thậm chí trong các nhóm tù khắc nghiệt tàn nhẫn thì khó mà không có tù nào không căm ghét con người bất hạnh vừa làm một chuyện như vậy”.[147]

Vì lý do đó một số tù thực sự thích chọn kiểu vận chuyển thứ hai hơn, kiểu toa chở gia súc. Kiểu này đúng như tên gọi của nó: là các toa tàu rỗng, không có trang bị cần thiết cho con người, đôi khi có một lò sưởi nhỏ ở giữa để giữ ấm, đôi khi có thêm giường tầng. Mặc dù thô sơ hơn kiểu toa Stolypin, toa gia súc không bị chia thành từng ngăn nên có nhiều không gian hơn để dịch chuyển. Chúng cũng có “nhà vệ sinh” – những lỗ trên sàn toa – muốn đi xả tù phải nài nỉ xin xỏ lính gác.[148]

Dù vậy các toa thông này cũng có kiểu hành hạ đặc biệt của chúng. Ví dụ như đôi khi các lỗ trên sàn toa bị bít lại. Trên đoàn tàu của Buca, cái lỗ bị đóng băng lại. “Vậy là chúng tôi đã làm thế nào? Chúng tôi tè qua một khe hở giữa sàn và cửa đi và ngồi trên một mảnh vải, gói thành gói nhỏ gọn gàng rồi hy vọng tới nơi nào đó họ sẽ dừng tàu và mở cửa để chúng tôi vứt nó đi”.[149] Trên các chuyến tàu chất đầy người lưu đày với đàn ông, phụ nữ và trẻ em nhốt chung với nhau, những chiếc lỗ trên sàn gây ra rất nhiều vấn đề. Một cựu lưu đày, bị đi đày đầu những năm 1930 vì là con gái của kulak, nhớ lại rằng mọi người đã “xấu hổ khủng khiếp” khi phải đi tiểu trước mặt người khác, và rất may rằng bà đã có thể làm được nhờ “nấp đằng sau váy mẹ mình”.[150]

Nhưng nỗi khốn khổ thực sự không phải là sự đông đúc, khó khăn khi đi vệ sinh hay nỗi xấu hổ, mà là thiếu thức ăn – đặc biệt là thiếu nước. Đôi khi, tùy theo tuyến đường và loại tàu hỏa, tù được cấp thức ăn nóng trong chuyến đi. Đôi khi thì không. Thông thường, “khẩu phần khô” của một tù bị vận chuyển bao gồm chỉ bánh mì, sẽ được phát hoặc là theo khúc nhỏ 300 gram mỗi ngày, hoặc nếu không thì theo khối lượng lớn hơn – 2 ký lô hoặc xấp xỉ thế – cho cả một chặng đi kéo dài 3 hoặc 4 ngày.

Cùng với bánh mì, tù thường được phát cá muối – điều này khiến họ vô cùng khát nước.[151] Tuy nhiên, họ hiếm khi được cấp nhiều hơn một ca nước mỗi ngày, thậm chí cả trong mùa hè. Việc này rất phổ biến đến nỗi các câu chuyện về cơn khát cháy cổ của đám tù đang di chuyển xuất hiện hết lần này đến lần khác. “Có lần, trong suốt ba ngày chúng tôi không có giọt nước nào, và trong ngày Đầu Năm Mới 1939, đâu đó gần hồ Baikal, chúng tôi đã phải liếm những nhũ băng đen thui treo trên nóc toa tàu”, một cựu zek viết lại.[152] Trong hành trình 28 ngày, một người khác nhớ rằng chỉ được phát nước ba lần, và đoàn tàu thường phải dừng lại để “đưa xác chết xuống”.[153]

Thậm chí những ai được nhận một ca mỗi ngày cũng rất khó khăn. Ginzburg nhớ lại đám tù đã phải đưa ra một quyết định đau đớn: hoặc là uống hết ca nước phần mình trong buổi sáng, hoặc phải cố để dành nó. “Những ai lâu lâu mới nhắp một ngụm để kéo dài đến cuối ngày sẽ không bao giờ có một phút bình yên. Họ cứ nhòm xuống ca của mình như một con chim ưng suốt từ sáng cho tới tối”.[154] Đấy là nếu họ may mắn có được cái ca: một tù nhớ mãi đến phút cuối đời mình cái khoảnh khắc bi thảm mà chiếc ấm trà của bà, vật được bà tìm cách đem theo bên mình, bị đánh cắp mất. Cái ấm này giữ được nước không làm đổ, cho phép bà nhắp nước suốt cả ngày. Không còn nó, bà không có gì để trữ nước nên đành chịu khát hành hạ.[155]

Hồi ức của Nina Gagen-Torn, bị vận chuyển trên một đoàn tàu phải dừng ba ngày bên ngoài thành phố Novosibirsk giữa mùa hè, còn tệ hơn thế. Nhà tù trung chuyển của thành phố đã chật cứng người: “Đó là vào tháng Bảy. Trời rất nóng. Mái những toa kiểu Stolypin bắt đầu nóng rực lên, và chúng tôi nằm trên giường tầng cứ như mấy cái bánh nướng trong lò vậy”. Toa của bà quyết định thực hiện một cuộc tuyệt thực, mặc cho lính gác dọa sẽ cho họ thêm một bản án tù dài hơn. “Chúng tôi không muốn bị kiết lỵ”, đám phụ nữ hét trả với họ. “Đã bốn ngày chúng tôi phải nằm trên đống cứt mình”. Miễn cưỡng, đám lính gác cuối cùng đành cho họ uống một chút và rửa ráy.[156]

Một tù nữ người Ba Lan cũng có mặt trong một đoàn tàu phải dừng lại giữa đường – nhưng ngay giữa cơn mưa. Rất tự nhiên, đám tù tìm cách hứng nước đổ xuống từ mái. Nhưng “khi chúng tôi giơ ca qua khe chấn song cửa sổ, tên lính gác ngồi trên mái hét lên là hắn sẽ nổ súng, bởi hành động như vậy là bị cấm”.[157]

Các chuyến đi vào mùa đông cũng không mấy khá hơn. Một người lưu đày Ba Lan khác nhớ lại không được phát gì ngoài “bánh mì lạnh cứng và nước đóng băng” trên chuyến tàu chở bà về phía đông.[158] Mùa hè hay mùa đông, những người lưu đày khác đều phải chịu các kiểu hành hạ đặc biệt. Khi một đoàn tàu lưu đày dừng lại, thông thường là tại các ga thường, tù liền ùa ra để mua thực phẩm từ dân địa phương. “Đám Do Thái của chúng tôi chạy túa đi tìm mấy quả trứng”, một hành khách Ba Lan nhớ lại. “Họ thà chịu đói còn hơn ăn thức ăn không kiêng cữ”.[159]

Những người quá già và quá nhỏ tuổi phải chịu đựng khổ nhất. Barbara Armonas, một phụ nữ Lithuania lấy chồng người Mỹ, bị đày cùng một nhóm đông người Lithuania gồm cả đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Trong số họ có một phụ nữ vừa sinh xong bốn tiếng trước, cùng một người tàn tật 83 tuổi không có khả năng tự giữ vệ sinh – “chẳng mấy chốc xung quanh bà ta thối hoăng và khắp người đầy những vết lở loét”. Ở đấy cũng có ba đứa trẻ:

Các vị cha mẹ gặp rắc rối lớn với tã lót vì không thể thường xuyên giặt giũ chúng. Đôi khi đoàn tàu dừng lại sau một cơn mưa, mấy bà mẹ liền nhảy ra ngoài giặt tã trong cái rãnh ven đường. Mọi người đánh nhau giành giật mấy cái rãnh nước đó vì người thì muốn rửa đĩa chén, người muốn rửa mặt, trong khi người khác lại muốn giặt tã lót bẩn, không ai chịu nhường ai… đám cha mẹ làm mọi nỗ lực để giữ lũ trẻ sạch sẽ. Tã dùng rồi được phơi khô và vẩy rũ. Khăn trải và áo bị xé làm tã, đôi khi đám đàn ông buộc mớ tã quanh thắt lưng để mong chúng khô nhanh hơn.

Trẻ nhỏ cũng không khá hơn:

Có mấy ngày trời rất nóng, mùi trong toa tàu trở nên không thể chịu nổi khiến một số người ngã bệnh. Trong toa chúng tôi, một thằng bé một tuổi bị sốt cao và gào thét liên tục vì mệt. Cha mẹ nó chỉ có thể kiếm ra một ít aspirin được ai đó đưa cho. Nó cứ lả dần đi rồi chết. Ở chặng dừng kế tiếp tại một khu rừng vô danh, đám lính đưa xác nó xuống tàu và có lẽ đã chôn cất cho nó. Nỗi đau đớn và giận dữ vô vọng của cha mẹ nó thật xé lòng xé ruột. Trong điều kiện bình thường và có chăm sóc y tế thì nó đã không chết. Giờ đây, thậm chí chẳng có ai biết được chắc chắn nó được chôn ở đâu.[160]

Đối với lũ kẻ thù bị bắt, ngược lại với những người lưu đày, các bố trí đặc biệt đôi khi được áp dụng mà không nhằm mục đích cải thiện vấn đề. Mariya Sandratskaya bị bắt khi con bà mới được có hai tháng, đã bị nhét vào một đoàn tàu vận chuyển chỉ toàn phụ nữ có con nhỏ. Trong mười tám ngày, sáu mươi lăm bà mẹ và sáu mươi lăm đứa trẻ di chuyển trong hai toa tàu, không được sưởi ấm ngoại trừ hai cái lò sưởi rất nhỏ và rất khói. Không có khẩu phần đặc biệt và không có nước nóng để rửa ráy cho lũ trẻ hay để giặt tã, khiến cuối cùng chúng “xanh lè vì bẩn”. Có hai phụ nữ tự sát, dùng mảnh thủy tinh để cắt cổ. Một người nữa mất trí. Ba đứa trẻ của họ được các bà mẹ khác chăm sóc. Bản thân Sandratskaya cũng “nhận nuôi” một đứa trong số đó. Đến cuối cuộc đời mình, bà vẫn cho rằng chỉ có chính sữa từ ngực bà đã cứu sống đứa con của mình, lúc đó đang bị viêm phổi. Tất nhiên, ở đó không hề có thuốc men gì.

Khi tới ga trung chuyển ở Tomsk, tình huống không được cải thiện gì mấy. Có thêm nhiều trẻ em bị bệnh. Hai đứa chết. Có thêm hai bà mẹ tự sát, nhưng bị ngăn lại kịp thời. Những người khác tiến hành tuyệt thực phản đối. Đến ngày thứ năm của cuộc tuyệt thực, một ủy ban NKVD đến thăm cánh phụ nữ: một người phụ nữ ném con mình vào họ. Chỉ khi tới được Temlag – trại cho phụ nữ mà hầu hết là các “bà vợ” bị bắt – Sandratskaya mới xoay sở tổ chức được một nhà trông trẻ và cuối cùng đã thuyết phục được người thân đến để đưa con bà đi.[161]

Mặc dù câu chuyện của bà nghe có vẻ hỗn loạn và vô nhân tính, kinh nghiệm của Sandratskaya không phải là độc nhất. Một cựu bác sĩ trong trại cũng mô tả bị đưa đi cùng một “chuyến vận chuyển trẻ con”, cùng với mười lăm bà mẹ giữ trẻ có trẻ nhỏ, cộng thêm hai mươi lăm đứa trẻ khác và hai “cô trông trẻ”. Tất cả đi bộ tới nhà ga có lính áp tải, bị đưa vào không phải một đoàn tàu thường mà là một toa Stolypin có cửa sổ song sắt và không được cấp thức ăn phù hợp.[162]

 

Từng chặng từng chặng một, mọi đoàn tàu chở người đều phải dừng lại, nhưng các chặng dừng này không cho phép nghỉ ngơi lâu. Tù được đưa ra khỏi toa tàu, nhét lại vào xe tải và lên đường tới các nhà tù trung chuyển. Chế độ tại những nơi này cũng tương tự như trong các nhà tù điều tra, ngoại trừ việc cai ngục thậm chí còn thờ ơ hơn nhiều đối với các tiện nghi sinh hoạt cho những người thuộc phạm vi họ quản lý, những người mà họ không bao giờ muốn gặp lại lần nữa. Kết quả là, chế độ trong các nhà tù trung chuyển hoàn toàn không thể nói trước được.

Karol Harenczyk, một người Ba Lan bị chở từ miền Tây Ukraina tới Kolyma vào đầu Thế Chiến thứ II, đã ghi lại những ưu điểm tương đối của nhiều nhà tù trung chuyển mà ông từng trải qua. Trong một bảng câu hỏi mà ông điền vào theo đề nghị của quân đội Ba Lan, ông lưu ý rằng nhà tù Lvov khô ráo, có “vòi sen mạnh” và “khá sạch sẽ”. Ngược lại, nhà tù Kiev “đông đúc, bẩn thỉu ngoài sức tưởng tượng” và lúc nhúc toàn rận. Tại Kharkov, phòng giam 96 mét vuông của ông bị nhét tới 387 người, cùng hàng ngàn con rận. Ở Artemovsk, nhà tù “gần như tối thui”, và không cho phép đi dạo: “nền xi măng không sạch, mẩu cá thừa bữa bãi trên sàn. Sự bẩn thỉu, mùi hôi thối và thiếu dưỡng khí khiến mọi người đau đầu và chóng mặt”, quá mức tới nỗi tù gần như bò lê bò càng. Tại Voroshilovgrad, nhà tù trở lại “khá sạch”, và tù được phép đi xả mình bên ngoài phòng giam hai lần mỗi ngày. Trong trại trung chuyển tại Starobelsk, tù được đi dạo chỉ một lần mỗi tuần trong có nửa tiếng.[163]

Có lẽ các nhà tù trung chuyển tạm bợ nhất là những nhà tù dọc bờ Thái Bình Dương, nơi tù phải ở lại trước khi được đưa lên thuyền tới Kolyma. Trong những năm 1930, ở đây chỉ có một nhà tù như vậy: Vtoraya Rechka, gần Vladivostok. Tuy nhiên Vtoraya Rechka quá chật chội đến nỗi người ta xây thêm hai trại trung chuyển khác năm 1938: Bukhta Nakhodka và Vanino. Thậm chí đến lúc này vẫn không đủ lán trại cho hàng ngàn tù đang đợi thuyền đến.[164] Một tù có mặt tại Bukhta Nakhodka cuối tháng 7/1947 kể lại: “Họ giữ 20.000 người ngay ở ngoài trời. Không có tý công trình nhà cửa nào – người ta ngồi, nằm và sinh hoạt ngay trên mặt đất”.[165]

Điều kiện nước sinh hoạt cũng không cải thiện gì hơn nhiều so với trên tàu, mặc cho thực tế rằng tù vẫn phải tồn tại chủ yếu dựa vào món cá muối, ngay giữa mùa hè nóng bức: “Khắp trại đều có các tấm biển đề ‘Không được uống nước chưa đun chín’. Có hai bệnh dịch đang hoành hành chúng tôi – sốt chấy rận và kiết lỵ. Vậy mà tù không chú ý tới các biển báo và cứ uống nước ri rỉ ở chỗ này chỗ kia trên mặt đất của khu trại… thật dễ hiểu chúng tôi đã tuyệt vọng đến thế nào khi đành phải uống nước để làm vơi cơn khát”.[166]

Với những tù đã phải di chuyển suốt nhiều tuần lễ – các hồi ký cho biết rằng những chuyến tàu đến Bukhta Nakhodka có khi kéo dài tới bốn mươi bảy ngày[167] – điều kiện trong các trại trung chuyển bên bờ Thái Bình Dương gần như không thể chịu đựng nổi. Một người ghi lại rằng vào lúc đoàn tàu chở ông tới trại Bukhta Nakhodka, 70 phần trăm đồng chí của ông đã bị quáng gà, một hậu quả của bệnh thiếu vitamin scoócbuýt, cũng như bị ỉa chảy.[168] Hỗ trợ y tế không có gì nhiều. Không có thuốc và các chăm sóc y tế cần thiết, thi sĩ Nga Osip Mandelstam đã qua đời trong hoang tưởng và mê đắm tại Vtoraya Rechka tháng 12/1938.[169]

Đối với những ai chưa mất hết khả năng, vẫn có thể kiếm thêm chút bánh mì cải thiện tại những trại trung chuyển Thái Bình Dương này. Tù có thể vận chuyển những xô hồ vữa, bốc vác các toa hàng hóa và đào chuồng xí.[170] Trong thực tế, Bukhta Nakhodka được một số người nhớ đến như “trại duy nhất mà tù xin được phép làm việc”. Một phụ nữ Ba Lan nhớ lại rằng “Họ chỉ cho ăn những ai làm việc, nhưng vì có nhiều tù hơn việc làm nên một số đã chết vì đói… Các bông hoa đĩ điếm mọc trên mảnh đất Siberi tựa như những khóm diên vỹ”.

Vẫn có những người khác, theo như Sgovio nhớ lại, tồn tại nhờ tham gia mua bán:

Có một khoảng trống rộng, thoáng được gọi là chợ trời. Tù tụ tập ở đây và đổi chác với nhau… Tiền mặt không được sử dụng. Có nhu cầu lớn nhất là bánh mì, thuốc lá sợi và những mảnh báo dùng để vấn thuốc lá. Ở đấy có đám tù không phải chính trị phục vụ làm nhân viên bảo trì và quản lý. Họ đổi bánh mì và thuốc lá sợi lấy quần áo của những người mới đến, sau đó bán lại quần áo của chúng tôi cho công dân bên ngoài lấy tiền rúp, nhờ thế dành dụm một khoản tiền chờ ngày họ được hòa nhập trở về với thế giới Xôviết. Khu chợ trời là điểm đông người nhất trong trại vào ban ngày. Nơi đây, tại đáy địa ngục của chủ nghĩa cộng sản này, tôi đã chứng kiến trong thực tế hình thức tàn bạo nhất của một hệ thống tự do thương mại.[171]

Nhưng đối với các tù nhân ấy, nỗi kinh hoàng của chuyến đi vẫn chưa chấm dứt cùng những chuyến tàu hỏa và trại trung chuyển. Chặng đi của họ tới Kolyma phải được hoàn tất bằng tàu thủy – hệt như những người tù thám hiểm dòng sông Yenisei, từ Krasnoyarsk tới Norilsk, hay đi trên bè gỗ xuyên qua Bạch Hải trong những ngày đầu tiên, từ Arkhangelsk tới Ukhta. Đặc biệt là, hiếm có người tù nào lên tàu đi Kolyma mà không cảm thấy mình như đang thực hiện một chuyến đi vào chốn vực thẳm, dong buồm băng qua dòng sông Styx để xa dần thế giới thân quen. Nhiều người trước đó còn chưa từng ngồi trên một chiếc thuyền nào.[172]

Bản thân những con thuyền cũng không có gì khác thường. Các tàu hơi nước chở hàng cũ của Hà Lan, Thụy Điển, Anh và Mỹ – những thuyền chưa bao giờ được đóng để chở hành khách – miệt mài trên đường tới Kolyma. Chúng được thiết kế lại để phù hợp với nhiệm vụ mới, nhưng sự thay đổi chỉ rất bề ngoài. Mấy chữ D.S. (tức Dalstroi) được sơn lên ống khói, các ụ súng máy lắp trên boong và những giường tầng gỗ tạm bợ được gắn trong khoang, bên trong ngăn thành từng khu bằng lưới sắt. Chiếc lớn nhất của hạm đội Dalstroi, có thiết kế nguyên gốc để chở những cuộn cáp lớn, ban đầu được đặt tên là Nikolai Yezhov. Sau khi Yezhov thất sủng, nó được đổi tên thành Feliks Dzerzhinsky – một thay đổi đòi hỏi rất tốn kém theo luật đăng ký hàng hải quốc tế.[173]

Một vài nhượng bộ khác được áp dụng cho các con người được chở trên thuyền, những kẻ bị dùng vũ lực buộc phải ở khoang dưới trong chặng đầu của chuyến đi, khi thuyền đi ngang gần bờ biển Nhật Bản. Trong một vài ngày ấy, chiếc cửa nắp nối từ boong tàu xuống khoang luôn bị đóng chặt, sợ rằng một tàu đánh cá Nhật đi lạc có thể nhìn thấy.[174] Trong thực tế, những chuyến đi ấy phải được giữ bí mật đến nỗi khi chiếc Indigirka, một thuyền Dalstroi chở 1.500 khách – hầu hết là tù được quay về đất mẹ – đụng phải một rặng đá ngầm gần quần đảo Hokkaido năm 1939, thủy thủ đoàn trên thuyền đã chọn cách để cho hầu hết hành khách bị chết còn hơn là tìm kiếm hỗ trợ. Tất nhiên, không có thiết bị cứu hộ nào trên thuyền, và thủy thủ đoàn do không muốn để lộ loại hàng thực sự mà chiếc “tàu chở hàng” của họ chở, đã không gọi những tàu khác trong khu vực tới cứu, mặc dù có nhiều chiếc đang quanh đó. Một vài ngư dân Nhật Bản tự nguyện tới giúp chiếc thuyền, nhưng không mấy hữu hiệu: có hơn 1.000 người bị chết trong thảm họa này.[175]

Nhưng thậm chí nếu không có tai họa thì tù cũng chịu khổ vì phải giữ bí mật, yêu cầu họ bị giam cưỡng bức. Lính gác ném thực phẩm cho họ xuống dưới khoang, và họ bị để mặc cho tranh giành lẫn nhau. Họ được phát nước theo từng xô, thả xuống từ trên boong. Cả thực phẩm lẫn nước uống do đó đều thiếu – cũng như không khí sạch. Nữ vô chính phủ Elinor Olitskaya nhớ lại rằng mọi người bắt đầu ói mửa ngay sau khi lên tàu.[176] Chui vào khoang, Ginzburg cũng liền xây xẩm mặt mày: “Tôi còn đứng được trên hai chân cũng chỉ bởi vì chẳng còn chỗ mà gục xuống nữa”. Ngay khi vào trong khoang, “Không thể nhúc nhích, đôi chân tôi trở nên tê cứng, cái đói và hơi biển khiến chúng tôi chóng mặt, và tất cả đều bị say sóng… bị lèn chặt hàng trăm người, chúng tôi thở rất khó khăn; chúng tôi nằm ngồi thẳng trên sàn tàu bẩn thỉu hoặc nằm đè lên nhau, duỗi chân ra để có chỗ trống cho người trước mặt”.[177]

Vừa đi qua bờ biển Nhật Bản, tù đôi khi được phép lên boong tàu để sử dụng một vài nhà vệ sinh trên tàu, nhưng khó mà đủ cho hàng ngàn tù được. Các hồi ký ghi lại rất khác nhau, người phải chờ “hai giờ”, “7 hoặc 8 tiếng”, hay “suốt một ngày” để vào vệ sinh.[178] Thomas Sgovio tả lại:

Một bộ phận tạm bợ bằng ván gỗ hình chiếc hộp được gắn bên hông con thuyền… khá phức tạp để leo vào cái hộp qua lan can trên boong chiếc thuyền đang chòng chành. Các tù lớn tuổi và những ai chưa từng ra biển rất sợ phải vào đây. Một cú thúc của lính gác và nhu cầu xả lòng cuối cùng đã giúp họ vượt qua được sự ngại ngần. Mọi người xếp hàng dài từ chỗ cầu thang cả ngày lẫn đêm trong suốt cuộc hành trình. Chỉ có hai người một lần cùng lúc được vào chiếc hộp.[179]

Nhưng các hành hạ thể xác trên thuyền bị vượt qua bởi những trò hành hạ do chính tù nghĩ ra – hoặc do các thành phần tội phạm trong số họ. Điều này đặc biệt đúng vào cuối những năm 1930 và 1940, khi tội phạm ảnh hưởng trong hệ thống trại ở mức cao điểm và tù chính trị cùng tù tội phạm phải sống chung với nhau một cách bừa bãi. Một số tù chính trị đã từng phải đối đầu với tù thường phạm từ trên tàu hỏa. Aino Kuusinen nhớ lại rằng “điểm tồi tệ nhất của chuyến đi là đám tội phạm trẻ được phân cho những giường tầng trên và tham dự vào mọi sự khiếm nhã – khạc nhổ, chửi thề tục tĩu và thậm chí còn đái lên những tù lớn tuổi”.[180]

Khi ở trên thuyền, tình hình còn tệ hại hơn. Elinor Lipper, tới Kolyma vào cuối thập niên 1930, đã mô tả việc tù chính trị “phải nằm chen chúc nhau trên sàn hầm tàu quét hắc ín bởi bọn tù tội phạm đã chiếm mất chỗ nằm trên những tấm ván. Nếu có ai trong đám phụ nữ chúng tôi dám ngóc đầu lên, cô ấy lập tức phải nhận một trận mưa đầu và ruột cá từ phía trên ném xuống. Khi có đứa tội phạm nào say sóng bị nôn mửa, chúng phun thẳng ngay xuống đầu chúng tôi”.[181]

Các tù người Ba Lan và Baltic, vốn có quần áo tốt hơn và nhiều đồ đạc có giá trị hơn tù thuộc Liên Xô, trở thành những mục tiêu đặc biệt. Trong một trường hợp, một nhóm tù tội phạm đã tắt đèn trên con tàu và xông vào tấn công nhóm tù Ba Lan, giết chết vài người và cướp của những người còn lại. “Những người Ba Lan đã có mặt ở đó mà còn sống”, một người sống sót viết lại, “hẳn sẽ nhớ mãi tới cuối cuộc đời rằng họ đã từng ở trong một địa ngục ra sao”.[182]

Hậu quả của việc nhốt chung tù nam và tù nữ thậm chí còn tệ hơn nhiều so với việc giam chung tù chính trị và tù tội phạm. Về kỹ thuật, điều này là bị cấm: nam và nữ phải bị giữ riêng trên tàu. Trong thực tế, lính gác có thể bị hối lộ để cho đàn ông chui vào khoang nữ, gây nên những hậu quả dữ dội. “Chuyến tàu nhanh Kolyma” – những cuộc hãm hiếp tập thể trên thuyền – được bàn luận ở khắp hệ thống trại. Elena Glink, một người sống sót, đã tả lại chúng:

Chúng hãm hiếp theo lệnh của tên “soát vé tàu”… sau đó, khi có lệnh “konchai bazar” (ngưng cái chợ lại), chúng miễn cưỡng rút ra, để chỗ lại cho tên khác, bọn này đang đứng chờ trong tư thế sẵn sàng… phụ nữ chết bị nắm chân kéo ra phía cửa và chất đống ngay ngưỡng cửa. Những ai còn sống bị làm cho tỉnh lại – tạt nước vào người – và một hàng dài lại bắt đầu. Tháng 5/1951, trên chiếc Minsk (nổi tiếng khắp Kolyma vì “chuyến tàu lớn” của nó) xác phụ nữ chết bị ném qua mạn thuyền. Lính gác thậm chí còn không thèm ghi lại tên của người chết…[183]

Theo lời Glink, không một ai bị trừng phạt vì tội hãm hiếp trên những chiếc tàu như vậy. Janusz Bardach, một thiếu niên Ba Lan có mặt trên một chiếc tàu tới Kolyma năm 1942, cũng đồng ý với điều này. Ông có mặt khi một nhóm tù tội phạm lên kế hoạch tấn công vào khoang nữ, vào chứng kiến chúng đục một lỗ trên cái lưới sắt ngăn giữa khu nam nữ:

Ngay khi có phụ nữ xuất hiện ở cái lỗ, bọn đàn ông liền xé toang quần áo của họ. Nhiều tên xông vào tấn công một phụ nữ cùng lúc. Tôi nhìn thấy thân mình trắng trẻo của “nạn nhân” vặn vẹo, chân họ đá mạnh, móng tay cào cấu mặt chúng. Phụ nữ cắn xé, khóc lóc và rên rỉ. Lũ hiếp dâm quất vào lưng họ… khi bọn hãm hiếp không kiếm đủ phụ nữ, một số tên to lớn quay sang chỗ giường phản để tìm thanh nam. Các thanh niên ấy bị lôi thêm vào chốn khốn nạn, nằm im úp sấp mặt trên sàn, máu me, khóc lóc cay đắng.

Không có tù nào tìm cách ngăn chặn bọn hãm hiếp ấy: “hàng trăm con người dán chặt trên giường mà theo dõi cái cảnh ấy, nhưng không có một ai tìm cách can ngăn”. Cuộc tấn công chỉ dừng lại, Bardach viết, khi lính gác ở boong trên tạt nước xuống khoang. Nhiều phụ nữ chết và thương tích sau đó được lôi ra. Không kẻ nào bị trừng phạt.[184]

“Bất cứ ai”, một tù sống sót viết lại, “từng đọc về địa ngục Dante đều có thể nói rằng không gì so sánh được với những gì đã xảy ra trên con thuyền ấy”.[185]

 

Có nhiều câu chuyện khác về việc vận chuyển, một số bi thảm đến nỗi khó có thể chịu đựng để mà kể lại. Các chuyến đi ấy kinh khủng đến nỗi thực tế là, trong ký ức chung của những người sống sót, chúng đã trở thành một sự bối rối gần như rất khó mà hiểu được, giống như bản thân hệ thống trại. Bằng cách vận dụng không ít thì nhiều tâm lý học con người thông thường, ta có thể giải thích sự tàn bạo của các chỉ huy trại, những người bản thân họ phải chịu áp lực đạt được chỉ tiêu và hoàn thành kế hoạch, như chúng ta sẽ xem về sau. Thậm chí ta có thể giải thích hành động của những điều tra viên, những người có cuộc sống phụ thuộc vào thành công trong công tác moi được lời khai, và những kẻ đôi khi bị họ chọn để thỏa mãn cơn xađích. Tuy nhiên, sẽ khó giải thích hơn đối với việc tại sao một lính gác áp tải bình thường lại từ chối việc đưa nước cho những người tù sắp chết khát, từ chối đưa aspirin cho đứa trẻ đang cơn sốt, hay không bảo vệ phụ nữ đang bị hiếp tập thể cho đến chết.

Rõ ràng không có bằng chứng cho thấy lính gác áp tải được hướng dẫn rõ ràng để hành hạ tù nhân trên đường vận chuyển. Trái lại, có những quy định chi tiết về việc bảo vệ tù đang được vận chuyển như thế nào, và rất nhiều lần chính quyền tỏ ra bực tức khi các quy định ấy thường xuyên bị vi phạm. Một sắc lệnh tháng 12/1941, “nhằm cải thiện việc tổ chức vận chuyển tù nhân”, đã giận dữ mô tả “sự thiếu tinh thần trách nhiệm” và đôi khi có hành vi “phạm pháp” của một số lính gác áp tải và nhân viên của Gulag: “Điều này khiến tù nhân đi đến các điểm dự kiến trong tình trạng đói khát, kết quả là họ không thể làm việc mất một thời gian”.[186]

Một mệnh lệnh chính thức đầy công phẫn ngày 25/2/1940 trách cứ không chỉ những tù bị bệnh và mất khả năng bị đưa lên tàu hỏa tới các trại phía bắc – vốn bản thân việc này cũng đã bị cấm – mà cả việc rất nhiều người không được cho ăn uống, không được phát quần áo phù hợp với thời tiết trên đường đi, và không được gửi đi cùng với hồ sơ thông tin cá nhân của họ, do đó chúng đã bị thất lạc. Tù tới trại, nói theo cách khác, mà không ai biết chính xác về tội của họ hay bản án dành cho họ. Trong số 1.900 tù được gửi trên một chuyến vận chuyển tới miền viễn bắc năm 1939, có 590 “ngoài khả năng lao động” khi vừa tới, hoặc là quá yếu hoặc là quá bệnh tật. Một số chỉ còn phải chịu án giam có vài tháng, một số lại đã hết hạn tù. Hầu hết đều không có quần áo ấm và “giày ủng rất kém”. Tháng 11/1939, có thêm 272 tù, không người nào có áo choàng mùa đông, bị đưa đi 500 cây số trên xe tải mui trần, khiến cho nhiều người nhiễm bệnh và sau đó một số đã chết. Tất cả những thực tế đó được báo cáo với mức độ giận dữ và kiên quyết tương xứng, sau đó các lính gác cẩu thả đã bị trừng trị.[187]

Cũng có vô số hướng dẫn quy định về công tác trong những nhà tù trung chuyển. Ví dụ như ngày 26/7/1940, một mệnh lệnh quy định việc tổ chức các nhà tù trung chuyển, yêu cầu dứt khoát chỉ huy trại phải xây dựng nhà tắm, hệ thống thanh tẩy ký sinh trùng và bộ phận nhà bếp.[188] Không kém quan trọng là sự an toàn và an ninh của hạm đội tàu thuyền chở tù của Dalstroi. Tháng 12/1947, khi một vụ nổ phá hủy hai con tàu đang neo trong cảng Magadan, gây nên 97 ca tử vong và 224 ca phải nhập viện, Moscow đã kết tội hải cảng là “có hành vi bất cẩn mang tính tội phạm”. Những người chịu trách nhiệm phải ra tòa và nhận các bản án vì tội phạm pháp.[189]

Những ông trùm Gulag ở Moscow biết rất rõ về nỗi kinh hoàng của tù trên các tàu thuyền vận chuyển. Một báo cáo của văn phòng thanh tra của ủy viên công tố tại Norilsk năm 1943 lên án rằng những tù tới đây bằng thuyền – họ đi ngược dòng Yenisei bằng bè – “thường xuyên trong tình trạng thể lực kém… trong số 14.125 tù tới Norilsk năm 1943, có khoảng 500 người phải nhập viện ở Dudinka (hải cảng của Norilsk) sau một hoặc hai ngày đến nơi; có tới 1.000 tạm thời không thể làm việc, do họ không được cấp thức ăn đầy đủ”.[190]

Mặc cho tất cả những hăm dọa ồn ào đó, hệ thống vận chuyển vẫn thay đổi rất ít theo thời gian. Mệnh lệnh được gửi đi, than phiền cũng đã có. Thế nhưng ngày 24/12/1944, một đoàn vận chuyển tới nhà ga Komsomolsk vùng viễn đông trong điều kiện mà thậm chí ngay cả phó ủy viên công tố của hệ thống Gulag cũng cho là một tình trạng thật đáng ghê tởm. Báo cáo chính thức của ông này về số phận của “chuyến tàu SK 950”, một đoàn tàu gồm có 51 toa, có lẽ phải được xếp ở mức tận đáy, thậm chí cả trong lịch sử như ác mộng của công tác vận chuyển của Gulag:

Tù tới trong những toa không được sưởi ấm không hề được chuẩn bị để vận chuyển tù. Ở mỗi toa có từ 10-12 giường tầng, theo đó không thể xếp vừa hơn 18 người, nhưng đã bị nhét tới 48 người trong mỗi toa. Toa tàu không được cấp đủ thùng chứa nước, hậu quả là việc cung cấp nước bị ngắt quãng, đôi khi suốt nhiều ngày nhiều đêm. Tù chỉ được phát bánh mì đông cứng, và không được nhận gì trong suốt 10 ngày. Tù tới nơi mặc quần áo mùa hè, bẩn thỉu, lúc nhúc rận, với các dấu hiệu rõ ràng của bị giá ăn… tù bị bệnh bị lăn xuống sàn toa, không được hỗ trợ y tế, và trước sau gì cũng chết. Xác chết bị giữ lại trong toa một thời gian dài…

Trong số 1.402 người được gửi đi trên chuyến tàu SK 950, chỉ 1.291 tới nơi: 53 đã chết trên đường, 66 bị để lại ở các bệnh viện dọc đường. Khi tới nơi, có thêm 335 người phải nhập viện vì bị giá ăn mức độ ba hoặc bốn, vì viêm phổi và các bệnh khác. Chuyến vận chuyển hình như đã đi trong sáu mươi ngày, hai mươi bốn ngày trong đó không di chuyển, phải ngừng chờ trên ray phụ “do tổ chức kém”. Nhưng trong trường hợp tột cùng này, chỉ huy của chuyến tàu – một đồng chí Khabarov nào đó – cũng không phải nhận gì ngoài một “khiển trách có cảnh cáo”.[191]

Nhiều người sống sót trong các chuyến vận chuyển tương tự đã cố gắng giải thích sự ngược đãi tù kỳ quặc này do trách nhiệm của những lính gác áp tải trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm, những kẻ còn lâu mới bằng lũ giết người thành thạo được bố trí trong hệ thống tù. Nina Gagen-Torn phỏng đoán rằng “không có bằng chứng của cái ác, chỉ là do sự hoàn toàn lãnh đạm của đoàn vận chuyển. Chúng không xem chúng tôi là con người. Chúng tôi là thứ hàng hóa sống”.[192] Antoni Ekart, một người Ba Lan bị bắt sau khi Liên Xô xâm lược năm 1939, cũng nghĩ rằng

việc thiếu nước không phải với chủ ý hành hạ chúng tôi mà bởi vì lính áp tải phải làm ngoài nhiệm vụ để mang tới nên sẽ không làm nếu không có lệnh. Chỉ huy toán áp tải không quan tâm lắm tới vấn đề này và lính gác miễn cưỡng phải hộ tống tù đi tới giếng hoặc vòi nước tại nhà ga nhiều lần mỗi ngày vì sợ họ bỏ trốn.[193]

Nhưng theo một số tù thì còn hơn là lãnh đạm: “Mỗi sáng, ông trùm chuyến vận chuyển bước vào giữa hành lang… hắn ta đứng quay mặt về phía cửa sổ, lưng quay về chúng tôi, rồi hét lên những câu chửi rủa rất xúc phạm: “Tao chán chúng mày lắm rồi!”[194]

Sự chán ghét – hay đúng hơn là buồn chán cộng với nỗi tức giận vì phải thực hiện những công việc hạ cấp như vậy – cũng là cách giải thích của Solzhenitsyn cho hiện tượng nói cách khác là không thể giải thích nổi này. Ông thậm chí còn thử tự đặt mình vào địa vị đám lính gác áp tải. Ở đấy bọn họ quá bận rộn và thiếu người, sau đó lại phải “đi lấy nước đầy thùng – phải xách nó đi một quãng xa, và làm thế thật nhục mặt: tại sao một người lính Xôviết lại phải chở nước như một con lừa cho lũ kẻ thù của nhân dân?”. Còn tệ hơn nữa, ông tiếp tục,

Phải mất rất lâu để hứng đầy thứ nước đó. Bọn zek không có ca đựng nước riêng. Bất cứ đứa nào có một cái đều đã bị tước mất – cộng thêm một điều là chúng phải được phát cho hai ca nước theo quy định của chính phủ để uống, và trong khi chúng uống thì ta cứ phải đứng chờ đấy mãi, phải múc nước và múc nước thêm nữa để đưa cho chúng…

Nhưng đoàn vận chuyển cứ phải chịu đựng tất cả những chuyện đó, đi xách nước, phân phát nước, đấy là chưa kể lũ lợn đó sau khi húp sụp hết chỗ nước còn đòi đi vệ sinh. Vậy thì chỉ có cách hiệu quả là: nếu ta không cho chúng nước trong một ngày thì chúng sẽ không đòi đi vệ sinh nữa. Cho chúng nước một lần, chúng đi vệ sinh một lần; thương hại chúng mà cho chúng uống hai lần – thì chúng sẽ đi vệ sinh hai lần. Bởi vậy lẽ thường đơn giản chỉ là: đừng cho chúng uống bất cứ chút gì.[195]

Bất kể động cơ của lính là gì – sự thờ ơ tắc trách, nỗi buồn chán, cơn cáu giận, lòng tự ái bị tổn thương – tác động lên tù đều thật tàn khốc. Như một quy luật, tù tới khu trại của mình trong tình trạng không chỉ mất phương hướng và suy biến thoái hóa sau khi trải qua nhà tù và quá trình điều tra, mà cả bị suy kiệt về thể chất – đã đến lúc cho giai đoạn kế tiếp của chuyến viễn du vào hệ thống Gulag: bắt đầu bước vào trại.

 

Nếu trời không tối, nếu họ không bị bệnh, và nếu họ đủ sức quan tâm để ngước nhìn lên, điều đầu tiên tù trông thấy khi tới là cái cổng vào trại. Thông thường nhất là trên cổng có chăng một khẩu hiệu. Ở cổng vào một trong những trại cơ sở lagpunkt của Kolyma “treo một bộ khung cong bằng gỗ dán căng tấm khẩu hiệu ghi dòng chữ: ‘Lao động tại Liên Xô là Danh dự, là Vinh quang và là Chủ nghĩa Anh hùng Dũng cảm!’ ”[196] Barbara Armonas được tiếp đón vào tiểu khu lao động nằm tại ngoại ô Irkutsk với khẩu hiệu: “Chỉ Bằng Lao Động Tôi Mới Trả Được Món Nợ Của Mình Với Tổ Quốc”.[197] Tới Solovetsky năm 1933 – lúc này đã thành một nhà tù có an ninh cao – một tù nhân khác đã thấy tấm biển ghi dòng chữ: “Với Nắm Đấm Thép, Chúng Ta Sẽ Dẫn Nhân Loại Tới Cõi Hạnh Phúc!”[198] Yuri Chirkov, bị bắt khi mới mười bốn tuổi, cũng bắt gặp một tấm biển tại Solovetsky ghi: “Qua Lao động – Có Tự do!” – một khẩu hiệu gần gũi đến mức khó chịu với bức khẩu hiệu treo trên cổng vào trại Auschwitz: Arbeit Macht Frei – “Lao động Giúp Ngươi Tự do”.[199]

6

Lao động tại Liên Xô là Danh dự, là Vinh quang và là Chủ nghĩa Anh hùng Dũng cảm!

Cũng như khi vào nhà tù, một chuyến etap mới đến trại cũng đi kèm nhiều nghi thức: từ những người bị giam trong tù, kiệt sức vì chuyến vận chuyển, giờ đây phải chuyển thành những zek lao động. “Khi đến trại”, tù nhân người Ba Lan Karol Colonna-Czosnowski nhớ lại

Chúng tôi phải mất rất nhiều thời gian để được điểm danh… Buổi chiều đặc biệt ấy dường như kéo dài vô tận với tiết mục này. Vô số lần chúng tôi phải xếp thành hàng năm người và mỗi hàng được yêu cầu phải bước tới ba bước để cho mấy nhân viên NKVD mặt mũi khó đăm đăm đếm lên thật to, “odin, dva, tri…” rồi chăm chỉ viết từng con số xuống tấm bảng ghi chép to tướng của mình. Có lẽ con số người còn sống cộng với con số những người bị bắn trên đường đi đã không khớp với tổng số dự tính.[200]

Tiếp sau điểm danh cả đàn ông lẫn phụ nữ được đưa đến nhà tắm và cạo lông tóc khắp cả cơ thể. Thủ tục này, thực hiện theo các mệnh lệnh chính thức nhằm mục đích giữ vệ sinh[201] – người ta cho rằng, mà thường là đúng, tù tới từ nhà tù Xôviết lúc nhúc trên người toàn rận – tuy nhiên nó cũng có ý nghĩa quan trọng về mặt thủ tục. Phụ nữ tả lại việc này với sự kinh hãi và ghê tởm vô cùng, và như thế cũng không có gì là lạ. Thông thường, họ phải cở bỏ quần áo và trần truồng đứng chờ, dưới cái nhìn chằm chằm của lính gác nam, để được tới lượt cạo lông tóc. “Lần đầu tiên như vậy”, Elinor Olitskaya nhớ lại – bà tham gia thủ tục này khi vừa đến Kolyma, “Tôi nghe có tiếng rên rỉ phản ứng: Phụ nữ dẫu sao vẫn là phụ nữ…” Olga Adamova-Sliozberg cũng phải chịu cùng nỗi khổ tại một nhà tù trung chuyển:

Chúng tôi cởi quần áo và đưa chúng để đi khử trùng, lúc sắp sửa lên cầu thang tới phòng tắm thì chúng tôi trông thấy rất nhiều lính gác đứng rải khắp từ trên xuống dưới cầu thang. Xấu hổ, chúng tôi gằm đầu xuống và đứng khép lại với nhau. Khi nhìn lên, ánh mắt tôi bắt gặp đôi mắt của viên sĩ quan chỉ huy. Hắn ta sưng sỉa nhìn tôi. “Tới đi, tới đi”, hắn quát. “Nhanh chân lên!”

Tôi đột nhiên cảm thấy nhẹ nhõm và tình thế thậm chí còn có vẻ khôi hài.

“Kệ mẹ chúng nó”, tôi nghĩ bụng. “Đối với mình chúng cũng chẳng nên hồn người hơn cái thằng Vanka-đầu bò hay hù dọa mình hồi còn nhỏ”.[202]

Ngay khi tắm và cạo lông xong, bước kế tiếp của quá trình biến đổi đàn ông đàn bà trở thành đám zek vô danh tính là việc phân phát quần áo. Các quy định thay đổi, từ thời kỳ này sang thời kỳ khác cũng như từ trại này sang trại khác, cũng như tù có khi được có khi không được phép mặc quần áo riêng của mình. Trong thực tế, quyền quyết định dường như để mặc tùy ý thích của các quan chức trại từng địa phương: “Tại lagpunkt này ta có thể mặc quần áo của riêng mình, nhưng ở trại khác thì không”, Galina Smirnova, một tù trong Ozerlag đầu những năm 1950, nhớ lại.[203] Điều này không phải lúc nào cũng bị để ý: vào lúc họ đến được trại, quần áo riêng của rất nhiều tù đã trở thành giẻ rách, chưa kể chúng có thể đã bị đánh cắp mất.

Những ai không có quần áo phải mặc đồng phục do trại cấp, vốn lúc nào cũng cũ xì, rách thủng, may kém và không vừa người. Đối với một số người, đặc biệt là phụ nữ, đôi khi dường như quần áo họ được phát là một phần của toan tính cố ý làm nhục họ. Anna Andreeva, vợ của nhà văn và nhà duy linh Danil Andreev, ban đầu bị đưa đến một trại nơi tù được phép mặc quần áo riêng của mình. Về sau, năm 1948, bà bị chuyển vào một trại nơi điều này không được phép. Bà cảm thấy sự thay đổi này thực sự rất xúc phạm: “Chúng đã tước của chúng tôi mọi thứ, chúng tước đi tên họ của chúng tôi, tước đi mọi thứ hình thành nên nhân phẩm con người, và chúng bắt chúng tôi ăn mặc, thậm chí tôi không thể tả lại được, một thứ trang phục không ra hình dạng chi hết…”[204]

Không có cố gắng nào được thực hiện để đảm bảo kích cỡ quần áo khớp với cơ thể tù. “Mỗi người chúng tôi được phát một bộ đồ lót dài thõng”, Janusz Bardach viết, cùng “một sơmi chui đầu màu đen, quần độn bông, một áo khoác độn bông tà dài, một mũ dạ có hai tai, ủng đế cao su và găng tay viền lông cừu. Những vật dụng ấy được phát bừa, chúng tôi phải tự chọn ra thứ có đúng kích cỡ cần thiết. Mọi thứ tôi được cấp đều quá to, tôi phải mất mấy giờ liền để đem gạ đổi lấy những món vừa hơn với mình”.[205]

Cũng rất gay gắt với kiểu trang phục của trại, một nữ tù khác viết rằng họ được phát “áo choàng độn bông vạt ngắn, tất chân lót bông dài đến đầu gối và giày đan bằng vỏ bạch dương. Mặc vào trông y như lũ quái vật kỳ dị. Chúng tôi hiếm mà còn lại được thứ gì của riêng mình. Mọi thứ đã bị bán cho đám nữ tù tội phạm, hay chính xác hơn là đem đổi lấy bánh mì. Tất lụa và khăn quàng cổ được hâm chuộng đến nỗi chúng tôi buộc phải bán sạch chúng. Quá nguy hiểm nếu từ chối chuyện này”.[206]

Bởi mớ quần áo rách rưới có vẻ như chủ đích để cướp hết phẩm cách của họ, nhiều tù sau này đã cố gắng rất nhiều để sửa sang lại chúng. Một nữ tù nhớ lại bà ban đầu đã không thèm để tâm đến đám quần áo “rất cũ và tồi tàn” được phát. Dù vậy, sau này bà bắt tay vào vá các vết rách thủng, khâu túi và sửa sang lại quần áo, “như phụ nữ thường làm”, nhờ thế khiến mình cảm thấy bớt xuống cấp hơn.[207] Nhìn chung, những phụ nữ có thể khâu vá hoặc may độn bông có thể kiếm được thêm phần bánh mì, khả năng sửa sang lại bộ đồng phục tiêu chuẩn dù chỉ chút ít cũng rất được thèm muốn: khả năng khẳng định được bản thân, sao cho trông đôi chút khá hơn so với người khác, sẽ trở thành, như chúng ta sẽ chứng kiến, liên hệ với vị trí cao hơn, sức khoẻ tốt hơn và nhiều ưu đãi hơn. Varlam Shalamov hiểu rất rõ tầm quan trọng của những thay đổi nho nhỏ ấy:

Trong trại có loại đồ lót “cá nhân” và “phổ thông”: chúng như những lời vàng ý ngọc nằm trong một bài diễn văn chính thức. Đồ lót “cá nhân” mới hơn và có chút tốt hơn và được dành cho “tù được tin cẩn”, các đốc công tù và những nhân vật được ưu đãi khác… đồ lót “phổ thông” là đồ lót cho mọi người. Nó được phát trong nhà tắm ngay sau khi tắm để đổi lấy đồ lót bẩn, được gom lại và đếm riêng từ trước. Không có cơ hội để chọn bất cứ thứ gì cho hợp kích cỡ mình. Được đồ lót sạch hoàn toàn là may rủi, tôi cảm thấy lạ lùng và vô cùng thương hại cho đám đàn ông chững chạc đi khóc lóc vì bất công khi phải nhận đồ lót sạch rách mòn đổi lấy mớ đồ lót cũ bẩn nhưng chất lượng. Chẳng còn gì khác làm người ta chú ý ngoài nỗi khó chịu phải chịu đựng trong cuộc đời…[208]

Tuy nhiên, cú sốc khi bị tắm rửa, cạo lông và mặc quần áo theo lối zek chỉ là bước đầu của một cuộc vỡ lòng kéo dài. Lập tức ngay sau đó, tù phải trải qua một trong những thủ tục đáng chê trách nhất trong cuộc đời làm tù của họ: bị tuyển chọn – và phân loại thành các loại lao động khác nhau. Quá trình chọn lựa này sẽ ảnh hưởng mọi thứ liên quan tới vị trí người tù trong trại, tới loại lán trại anh ta sẽ sống bên trong, tới loại công việc anh ta sẽ được giao làm. Tất cả những điều này đến lượt chúng có thể quyết định anh ta sẽ sống sót hay phải chết.

Cần lưu ý rằng, tác giả không tìm thấy bất cứ hồi ký nào mô tả “sự chọn lựa” theo kiểu đã được tiến hành trong các trại tử thần của Đức. Đó là tác giả chưa từng đọc về các cuộc lựa chọn chính thức kết thúc bằng việc tù yếu bị gạt qua một bên và đưa đi bắn chết. Những tội ác như vậy chắc chắn có diễn ra – một hồi ký Solovetsky tuyên bố đã sống sót qua một dịp như vậy[209] – nhưng thực tế diễn ra, ít nhất là vào cuối thập kỷ 1930 và đầu 1940, rất khác biệt. Tù yếu không bị giết chết sau khi vừa tới những trại xa xôi hẻo lánh, thay vào đó được cho một thời gian “cách ly”, vừa để đảm bảo những căn bệnh họ đem theo không lan nhiễm, vừa để cho phép họ được “vỗ béo”, hồi phục lại sức khỏe sau nhiều tháng trời trong tù và chuyến đi khủng khiếp. Các ông trùm trại đúng là đã chấp hành thủ tục này rất nghiêm túc, và tù cũng tán thành.[210]

Ví dụ như Alexander Weissberg đã được cấp thực phẩm chất lượng và cho phép nghỉ ngơi trước khi bị đưa đến khu mỏ.[211] Sau chuyến vận chuyển dài tới Ukhtizhemlag, Jerzy Gliksman – nhà xã hội Ba Lan có lần đã được xem buổi diễn vở Aristokraty của Pogodin ở Moscow – đã được cho ba ngày nghỉ ngơi, trong ba ngày này ông và các bạn mới tới được đối xử như “khách đến nhà”.[212] Pyotr Yakir, con trai của một vị tướng Liên Xô, được cho cách ly mười bốn ngày ở Sevurallag.[213] Ginzburg nhớ lại rằng những ngày đầu tiên của bà ở Magadan, thành phố chính của Kolyma, như “một cơn gió xoáy đau đớn, biến mất khỏi trí nhớ, và là một vực thẳm tăm tối trong vô thức”. Bà, cũng như những người khác, bị đưa từ chiếc tàu hơi nước Dzhurma thẳng vào một bệnh viện, nơi sau hai tháng bà hoàn toàn hồi phục sức khỏe. Một số người đã khá nghi ngờ. “Như con cừu trước khi bị mổ thịt”, nữ tù Liza Sheveleva thốt lên. “Cho tớ hỏi, cậu đang hồi phục để cho ai? Ngay khi cậu vừa ra khỏi đây, cậu sẽ thẳng tới chỗ lao động cưỡng bức, trong một tuần cậu sẽ trở lại như cái xác chết giống hồi ở trên con tàu Dzhurma…”[214]

Ngay khi người yếu đã hồi phục, nếu họ được cho phép làm vậy, và ngay sau khi ăn mặc xong, nếu họ được cấp cho quần áo mới, việc tuyển chọn và phân loại bắt đầu một cách nghiêm chỉnh. Về nguyên tắc, đó là một quá trình được quy định chặt chẽ. Từ đầu những năm 1930, Gulag đã ban hành những mệnh lệnh rất nghiêm ngặt và chi tiết về việc phân loại tù nhân. Theo lý thuyết, việc phân việc cho tù có ý nghĩa phản ánh hai bộ tiêu chuẩn: thứ nhất là “nguồn gốc xã hội” của họ và mức án, thứ hai là sức khỏe của họ. Trong những ngày đầu tiên đó, tù bị phân thành ba loại: tù “giai cấp lao động”, không bị tù vì các tội phản cách mạng, với mức án năm năm trở xuống; tù “giai cấp lao động”, không bị tù vì các tội phản cách mạng, với mức án trên năm năm; và những ai bị án vì tội phản cách mạng.

Mỗi trong số ba loại lao động trên sau đó được ấn định thuộc một trong ba loại chế độ tù sau: loại được ưu tiên, loại nhẹ và loại “hàng đầu” tức là loại nặng. Sau đó họ được kiểm tra bởi một ủy ban y tế, ủy ban này sẽ quyết định họ có thể thực hiện lao động nặng hay lao động nhẹ. Sau khi cân nhắc tất cả các tiêu chuẩn trên, ban quản lý trại sẽ phân cho mỗi tù một công tác. Tùy theo việc họ thực hiện được chỉ tiêu của công tác ấy tới đâu, mỗi tù sau đó sẽ được phân vào một trong bốn bậc khẩu phần: cơ bản, lao động, “dự bị” và “bị phạt”.[215] Tất cả các loại đó sẽ thay đổi theo từng thời kỳ. Ví dụ như mệnh lệnh của Beria năm 1939 chia tù thành “có khả năng lao động nặng”, “có khả năng lao động nhẹ” và “tàn tật” (đôi khi còn gọi là nhóm A, B và C), số lượng mỗi loại thường xuyên được giám sát bởi ban quản lý trung ương ở Moscow, nơi này sẽ phản đối dữ dội trại nào có quá nhiều tù “tàn tật”.[216]

Quá trình này còn lâu mới được xem là có trật tự. Nó vừa có các khía cạnh chính thức – được áp đặt bởi các chỉ huy trại – vừa có các khía cạnh phi chính thức, do tù tự tạo ra những điều chỉnh và những mặc cả. Với hầu hết mọi người, kinh nghiệm đầu tiên của họ về quá trình phân loại trong trại là khá tàn bạo. George Bien, một thanh niên Hungary bị tóm ở Budapest cuối Thế Chiến thứ II, đã so sánh quá trình lựa chọn mà ông trải qua năm 1946 với một cái chợ nô lệ:

Mọi người được lệnh bước vào cái sân trong và cởi quần áo ra. Khi có người gọi tên bạn, bạn phải ra trước một nhóm y tế để kiểm tra sức khỏe. Cuộc kiểm tra gồm có kéo chỗ da mông để xem khối lượng cơ bắp. Họ sẽ quyết định tình trạng sức khỏe của bạn thông qua lượng cơ bắp, và nếu bạn lọt qua được bạn sẽ được chấp nhận và giấy tờ của bạn được chuyển sang một cột riêng. Việc này do một phụ nữ mặc áo choàng trắng thực hiện, và họ có khá ít chọn lựa trong cái nhóm toàn kẻ chết dở này. Họ đành chọn những tù trẻ hơn, bất kể cơ bắp ra sao.[217]

Jerzy Gliksman cũng dùng cụm từ “chợ nô lệ” để mô tả quá trình phân loại tiến hành ở Kotlas, trại trung chuyển cung cấp tù cho các trại phía bắc Arkhangelsk. Tại đấy, lính gác đánh thức tù ban đêm và thông báo yêu cầu họ tập trung lại cùng với tất cả đồ đạc vào sáng hôm sau. Mọi tù đều bị buộc phải có mặt, thậm chí cả những người bị ốm nặng. Sau đó, tất cả đi đều bước khỏi trại để vào rừng. Một giờ sau, họ tới một bãi trống rộng, tại đó họ lập thành một khối dài, mỗi hàng mười sáu người:

Suốt cả ngày tôi nhìn thấy những viên chức lạ mặt, người mặc quân phục người mặc quần áo dân sự, đảo qua đảo lại quanh đám tù, ra lệnh cho một số người cởi fufayka (áo khoác) của họ ra, sờ mó chân tay họ, kiểm tra bàn tay, ra lệnh cho những người khác cúi gập người. Đôi khi họ ra lệnh một tù phải há miệng rồi chăm chú xem xét hàm răng anh ta như một gã lái ngựa trong phiên chợ huyện… một số tìm kiếm các kỹ sư và thợ khóa có kinh nghiệm hoặc thợ tiện; những người khác tìm thợ mộc xây dựng; và tất cả đều cần những người có sức khỏe cơ thể tốt để làm các công việc như thợ đốn gỗ, làm nông, đào than và làm việc trong giếng dầu mỏ.

Sự cân nhắc quan trọng nhất đối với những người thực hiện việc kiểm tra, theo như Gliksman nhận xét, là “không được để bản thân bị lừa bịp để công nhận không cố ý người tàn phế, tàn tật hay bị bệnh – tóm lại là những kẻ chỉ biết ăn bánh mì mà không làm được gì hết. Đó là lý do tại sao hết lần này đến lần khác người ta phải gửi các nhân viên đặc vụ tới để chọn lựa tù có thực chất phù hợp”.[218]

Ngay từ lúc bắt đầu, thật rõ ràng rằng quy tắc này có bị vi phạm. Nina Gagen-Torn đã trải qua một cuộc lựa chọn vô cùng nhục nhã tại trại Temnikovsky năm 1947, tuy nhiên lại có kết quả tích cực. Khi tới trại, đoàn của cô lập tức bị đưa đi tắm, quần áo bỏ lại trong phòng khử trùng. Sau đó họ bước vào một căn phòng, người vẫn còn ướt và trần như nhộng: họ được cho biết đấy là chỗ “kiểm tra sức khỏe”. Các “bác sĩ” sắp tới để kiểm tra họ, và đúng là như vậy – cùng một đám nhân viên quản lý trại và lính gác:

Viên thiếu tá đi dọc theo hàng người, nhanh chóng xem xét cơ thể của họ. Hắn ta đang chọn ra người khỏe mạnh – để sản xuất, tới phân xưởng may! Tới nông trang tập thể! Tới khu lao động! Tới bệnh viện! Tay quản đốc ghi chép lại tên họ của họ.

Nhưng khi nghe đến tên cô, Thiếu tá quay lại nhìn và hỏi,

– “Cô có quan hệ thế nào với Giáo sư Gagen-Torn?”

– “Con gái”.

– “Đưa cô này vào bệnh viện, cô ta bị ghẻ, trên bụng có những đốm đỏ”.

Do không hề có đốm đỏ nào trên bụng, Gagen-Torn cho rằng, mà hóa ra lại là đúng, con người này đã từng biết và rất kính trọng cha bà, do đó ít nhất cũng tạm thời đã cứu cô không phải lao động nặng.[219]

Hành vi của tù vài ngày đầu tiên sống trong trại, trong và sau quá trình chọn lựa ấy, sẽ có ảnh hưởng sâu sắc tới số phận của họ. Lấy ví dụ, trong thời gian ba ngày nghỉ sau khi tới Kargopollag, nhà văn người Ba Lan Gustav Herling nắm bắt được ngay tình thế của mình và “đã đổi đôi ủng sĩ quan cao cổ của tôi cho một urka (tù tội phạm) thuộc đội khuân vác đường sắt để lấy 900 gram bánh mì”. Để bù lại, người tù tội phạm kia dùng quan hệ của anh ta với ban quản lý trại để giúp Herling có được công việc làm khuân vác ở khu kho thực phẩm. Herling được cho biết đây là công việc nặng nhọc, nhưng ít nhất ông có thể ăn cắp thêm thực phẩm – như sau này ông đã làm. Và lập tức ông nhận được “ưu tiên”. Chỉ huy trại nói ông tới

báo cáo tại kho của trại để lấy ra một bushlat (áo chẽn da tay dài viền nỉ), một cái mũ có hai che tai, đôi quần độn bông, găng tay không thấm nước làm bằng vải buồm và valenki (ủng dạ) chất lượng tốt, v.v. còn mới hoặc chỉ mòn cũ đôi chút – cả một bộ quần áo thông thường chỉ phát cho các đội “Stakhanovets” tù nhân giỏi nhất.[220]

Móc ngoặc và đổi chác cũng có nhiều hình thức khác. Khi tới Ukhtizhemlag, Gliksman lập tức nhận ra rằng danh hiệu “chuyên gia” ông từng nhận được ở trại trung chuyển Kotlas – ông được phân loại là một nhà kinh tế học lành nghề – không có ý nghĩa gì ở bên trong bản thân khu trại tập trung. Trong khi đó, ông chú ý rằng trong những ngày đầu tiên ở trại, những người Nga có kinh nghiệm thân với ông không hề quan tâm tới các thủ tục chính thức:

Hầu hết các “chuyên gia” tận dụng ba ngày nghỉ để tới thăm các văn phòng và cơ quan trong trại, tìm kiếm người quen cũ ở những nơi họ tới và thực hiện các thương lượng đáng ngờ với một số quan chức trong trại. Tất cả bọn họ đều phấn khởi và bận rộn. Mỗi người trong số họ đều có bí mật của riêng mình và sợ đánh mất cơ hội để nắm lấy công việc thoải mái hơn mà họ thèm muốn. Phần lớn những người này không mất nhiều thời gian để biết được chỗ nào cần tới, cửa nào cần gõ và cái gì cần phải nói.

Kết quả là, một bác sĩ bằng cấp chính cống người Ba Lan phải đi chặt cây trong rừng, trong khi một tay lươn lẹo cáo già thì được phân việc làm kế toán trong văn phòng, “mặc dù anh ta không có khái niệm nhỏ nhất về kế toán và đồng thời còn gần như mù chữ”.[221]

Những tù nhân nào xoay sở tránh khỏi lao động cơ bắp đã thực sự dựng ra được khởi đầu của chiến lược để sống sót – nhưng chỉ là khởi đầu. Giờ đây, họ phải học thuộc các quy tắc lạ lùng đang thống trị cuộc sống hàng ngày trong trại.

 

10. Cuộc sống trong Trại

 

Tiếng chuông ngân vang xa xa

Vẳng vào khám cùng nắng sớm

Chuông như nhắn hỏi tôi rằng:

“Anh ở đâu? Anh ở đâu?”

“Tôi đây!”… Lệ tuôn chào đón,

Là lệ của chốn tù đày…

Không phải lệ tuôn mừng Chúa

Mà vì Người đấy, hỡi nước Nga.

– Simeon Vilensky, 1948[222]

 

Theo số liệu chính xác nhất cho tới nay, trong khoảng từ 1929 tới 1953, có 476 tổ hợp trại nằm trong vương quốc Gulag.[223] Nhưng con số này cũng là mê mị. Trong thực tế, mỗi trong số các tổ hợp trại ấy lại bao gồm hàng chục, hay thậm chí là hàng trăm các đơn vị trại nhỏ hơn. Các đơn vị trại nhỏ hơn ấy – các lagpunkt – không bao giờ được đếm, và có lẽ không thể đếm, do một số chỉ là tạm thời, một số là thường xuyên, và một số là thành phần kỹ thuật của các trại khác nhau trong những thời kỳ khác nhau. Không thể nói gì nhiều về những thủ tục và quy định của các lagpunkt vốn chắc chắn phải được áp dụng tùy theo từng trại một. Thậm chí trong triều đại thống trị của Beria – có ảnh hưởng kéo dài từ 1939 cho tới khi Stalin chết năm 1953 – điều kiện sống và làm việc trong Gulag vẫn liên tục khác biệt rất lớn, vừa từ năm này qua năm khác lẫn từ nơi này đến nơi khác, thậm chí dù chỉ trong cùng một tổ hợp trại.

“Mỗi trại là một thế giới riêng, một thành phố biệt lập, một quốc gia biệt lập”, nữ diễn viên Liên Xô Tatyana Okunevskaya đã viết vậy – và mỗi trại có tính cách riêng của mình.[224] Cuộc sống ở một trong những trại công nghiệp khổng lồ miền cực bắc rất khác so với cuộc sống trong một trại nông nghiệp ở miền nam nước Nga. Cuộc sống trong bất cứ trại nào trong thời kỳ khắc nghiệt nhất của Thế Chiến thứ II, khi cứ bốn zek thì có một chết mỗi năm, rất khác biệt so với cuộc sống vào đầu những năm 1950, khi tỷ lệ tử vong gần bằng với phần còn lại của đất nước. Cuộc sống trong một trại do một ông trùm tương đối thoải mái chỉ huy không giống cuộc sống trong một trại do một gã xađích dẫn dắt. Lagpunkt cũng có kích cỡ rất khác nhau, từ nhiều ngàn cho tới vài chục tù, cũng như khác nhau về tuổi thọ trại. Một số kéo dài từ thập niên 1920 tới 1980, khi này chúng vẫn có chức năng làm nhà tù tội phạm. Những trại khác, giống như các trại được lập để xây đường xá và đường sắt dọc ngang Siberi, kéo dài chỉ có một mùa hè.

Tuy nhiên, vào đầu chiến tranh, các thành phần nhất định của cuộc sống và lao động đều phổ biến trong phần lớn các trại. Hoàn cảnh vẫn khác nhau từ lagpunkt này đến lagpunkt kia, nhưng sự dao động khổng lồ trong chính sách của đất nước đặc trưng cho thập kỷ 1930 đã chấm dứt. Thay vào đó, bộ máy quan liêu trì trệ sau này đặt bàn tay chết chóc của mình lên mọi khía cạnh thực tế của cuộc sống tại Liên Xô cũng đã dần dần nắm lấy Gulag.

Điều ấn tượng trong vấn đề này là sự khác biệt giữa các quy định và luật lệ của trại sơ sài và có hơi chút mơ hồ ban hành những năm 1930, với những quy định chi tiết hơn ban hành năm 1939, sau khi Beria lên nắm quyền. Sự khác biệt này dường như phản ánh sự thay đổi trong quan hệ giữa cơ quan điều hành trung ương – bản thân ban quản lý Gulag ở Moscow – với chỉ huy những trại ở các tỉnh vùng. Trong thập niên thử nghiệm đầu tiên của Gulag, các giấy tờ mệnh lệnh không tìm cách ra lệnh rõ xem các trại phải như thế nào, và hiếm khi đề cập tới hành vi của tù. Họ vạch ra một kế hoạch tổng thể và để cho các chỉ huy địa phương hoàn tất những phần còn trống.

Trái lại, các mệnh lệnh sau này hết sức rõ ràng và thực sự chi tiết, bức chế hầu như mọi khía cạnh của cuộc sống trong trại, từ phương pháp xây dựng lán trại cho tới chế độ sinh hoạt hàng ngày của tù, thống nhất với đường hướng mục tiêu mới của Gulag.[225] Từ năm 1939, dường như rằng Beria – có lẽ với Stalin đứng đằng sau – không còn muốn dự định biến trại Gulag thành các trại tử thần nữa, như chúng đã từng gây hậu quả vào những năm 1937 và 1938. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng những kẻ quản lý chúng có quan tâm hơn tới việc giữ gìn sinh mạng con người, chứ chưa nói đến việc tôn trọng nhân phẩm con người. Từ 1939 trở đi, mối bận tâm chính của Moscow là kinh tế: tù bị sắp xếp lắp ghép vào kế hoạch sản xuất của trại giống như những bánh răng cưa của một cỗ máy cơ khí.

Để thực hiện điều này, các quy định bắt nguồn từ Moscow ra lệnh quản lý chặt tù nhân, đạt được thông qua việc điều phối điều kiện sống của họ. Về nguyên tắc – như đã đề cập – trại phân loại mỗi zek dựa theo bản án họ mang, nghề nghiệp của họ và trudosposobnost tức “khả năng lao động” của họ. Về nguyên tắc, trại phân công cho mỗi zek một công việc và một chỉ tiêu công tác phải hoàn thành. Về nguyên tắc, trại cấp cho mỗi zek những thứ thiết yếu để sống – thực phẩm, quần áo, chỗ ở, không gian sinh hoạt – tùy theo anh ta hoàn thành chỉ tiêu đó như thế nào, đạt hay không đạt. Về nguyên tắc, mỗi khía cạnh của cuộc sống trong trại đều được thiết kế nhằm gia tăng sản lượng: thậm chí ban “văn hóa-giáo dục” của trại có tồn tại phần lớn cũng vì lý do các ông trùm Gulag tin rằng nó có khuyến khích tù làm việc hăng hái hơn. Về nguyên tắc, các đoàn thanh tra tồn tại để đảm bảo rằng tất cả những khía cạnh của đời sống trong trại đó đều phối hợp hài hòa với nhau. Về nguyên tắc, thậm chí mỗi zek đều có quyền than phiền – đến ông trùm trại, về Moscow hay đến tai Stalin – nếu trại không hoạt động theo đúng các quy định đó.

Nhưng tuy vậy – trong thực tế, mọi việc đều rất khác. Con người không phải là cái máy, các trại không phải là những nhà máy sạch sẽ, hoạt động răm rắp, và hệ thống trại chưa bao giờ hoạt động theo cách mà nó được đòi hỏi theo lý thuyết. Lính gác bị hối lộ, nhân viên quản lý biển thủ, còn tù thì nghĩ ra đủ cách để chống lại hoặc phá vỡ các quy định của trại. Bên trong trại, tù cũng có thể lập ra những tổ chức không chính thức của riêng mình mà đôi khi thì phù hợp, đôi khi lại đối chọi với tổ chức chính thức do ban quản lý trại dựng lên. Mặc dù các thanh tra từ Moscow thường xuyên tới lui, thông thường tiếp theo là có những bức thư khiển trách và lên án từ trung tâm, rất ít trại sống đúng theo hình mẫu hoạt động lý thuyết. Mặc dù có sự nghiêm túc rành rành trong việc cân nhắc đến các than phiền của tù nhân – người ta đã lập nhiều ủy ban chỉ để kiểm tra chúng – chúng hiếm khi dẫn đến kết quả thay đổi thực tế.[226]

Cuộc xung đột giữa những gì ban quản lý Gulag ở Moscow muốn các trại phải làm, và với những gì chúng thực sự đã thực hiện – cuộc xung đột giữa các quy định viết trên giấy tờ với những thủ tục được tiến hành trong thực tế – chính là những gì đã đem lại phong vị khác thường và kỳ quặc của cuộc sống trong Gulag. Về lý thuyết, ban quản lý Gulag ở Moscow điều hành từng khía cạnh dù nhỏ nhất của đời sống tù nhân. Trong thực tế, mỗi khía cạnh cuộc sống đồng thời đều bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ của tù với những người quản lý họ và mối quan hệ giữa những tù với nhau.

 

Zona

Bên trong hàng rào thép gai

 

Theo định nghĩa, công cụ cơ bản nhất trong tay nhân viên quản lý trại để quản lý không gian sống của tù chính là zona, tức “khu vực giam giữ”. Theo luật, một zona được bố trí theo hình vuông hoặc hình chữ nhật. “Để đảm bảo việc giám sát tốt hơn”, các hình thù uốn éo hoặc không đều đều không được phép.[227] Bên trong hình vuông hoặc hình chữ nhật ấy, không có gì hấp dẫn thị giác cho lắm. Hầu hết các công trình trong một lagpunkt điển hình đều trông giống nhau đáng kể. Các bức ảnh công trình trong trại do nhân viên quản lý Votkuta chụp và lưu trữ ở văn khố Moscow đều cho thấy chỉ là những dãy nhà gỗ thô sơ, nói cách khác là không phân biệt được ngoại trừ các chú thích mô tả đây là “khám phạt” hay kia là “nhà ăn”. Thường thường có một khoảng trống rộng ở giữa trại, gần chỗ cổng vào, nơi tù đứng tập trung hai lần mỗi ngày để điểm danh. Thường thường có vài lán ở cho lính gác và các ngôi nhà cho ban quản lý, cũng làm bằng gỗ và nằm ngay bên ngoài cổng chính.

Điều phân biệt zona so với các nơi làm việc khác, dĩ nhiên, là hàng rào bao quanh nó. Jacques Rossi, trong cuốn Gulag Handbook, đã viết rằng hàng rào này

thường dựng bằng những cọc gỗ cắm sâu một phần ba kích thước xuống dưới đất. Chúng cao từ 2,5 tới 6 mét, tùy theo điều kiện từng địa phương. Bảy cho tới mười lăm chuỗi dây thép gai quấn ngang giữa các cột, mỗi cột cách nhau khoảng 6 mét. Hai chuỗi dây thép gai quấn chéo giữa mỗi hai cột.

Nếu trại hay tiểu khu nằm gần hoặc ở trong một thành phố, hàng rào thép gai thường được thay bằng một bức tường hoặc hàng rào bằng gạch hay gỗ, mục đích để không ai đến gần khu vực này có thể nhìn từ ngoài vào trong. Những lớp tường chắn ấy được xây rất chắc: lấy ví dụ, ở Medvezhegorsk, tổng hành dinh của Kênh đào Bạch Hải, một hàng rào gỗ cao, xây từ đầu những năm 1930 để chứa tù, cho tới khi tác giả tới thăm thị trấn này năm 1998 vẫn còn đứng vững.

7.png

Zona và SHIZO tại Perm

8.png

Zona một trại ở Vorkuta (Cộng hòa Tự trị Komi).

9.png

Zona một trại ở Dzhezkazgan (Kazakhstan)

10.png

Zona một trại đào vàng ở Kolyma. Chụp những năm 1950.

11.png

Câu lạc bộ của lagpunkt số 1, Belbaltlag. Vùng Medvezhegorskiy, Cộng hòa Tự trị XHCN Karelian. Chụp trong khoảng 1936-1938

12.png

Nhà hát, do tù xây dựng ở Belbaltlag, thuộc miền Cực Bắc. Vùng Medvezhegorskiy, Cộng hòa Tự trị XHCN Karelia. Chụp ngày Quốc tế Lao động 1/5/1937.

13.png

Trụ sở Ban quản ly Segezhstroi. Vùng Medvezhegorskiy, Cộng hòa Tự trị XHCN Karelia. Chụp ngày 1/4/1936.

14.png

Một tháp canh.

Để vào trong hàng rào, tù và lính gác đều phải đi qua vakhta, tức “nhà bảo vệ”. Vào ban ngày, lính gác từ vakhta quan sát tất cả những ai vào ra trại, kiểm tra giấy ra vào của các công nhân tự do đi vào trại và của những lính gác áp tải dẫn tù ra khỏi trại. Tại trại Perm-36, ngày nay được khôi phục đúng tình trạng nguyên thủy, vakhta bao gồm một lối đi chắn bởi hai lớp cổng. Một tù phải bước qua lớp cổng thứ nhất, sau đó dừng lại ở khoảng trống nhỏ ở giữa để bị kiểm tra và lục soát. Chỉ sau đó anh ta mới được phép đi qua lớp cổng thứ hai. Cũng gần giống như kiểu ta vẫn thấy ở các ngân hàng xứ Sicilia.

Nhưng hàng rào thép gai và tường chắn thôi chưa đủ để giới hạn phạm vi của zona. Tại hầu hết các trại, lính gác vũ trang quan sát tù từ những tháp canh gỗ khá cao. Đôi khi có cả chó tuần tra quanh trại, được xích bằng xích sắt vào một sợi dây kim loại kéo dài bao quanh chu vi zona. Lũ chó, được điều khiển bởi những người giữ chó đặc biệt thuộc lực lượng lính gác, được huấn luyện sủa những tù nào đến gần, dò theo mùi và đuổi theo bất cứ ai tìm cách bỏ trốn. Do đó, tù bị giữ bên trong những rào cản giám sát bằng mắt, bằng mùi và bằng tiếng động, cùng với hàng rào thép gai và tường gạch.

Họ cũng bị giam bằng nỗi sợ hãi, đôi khi chỉ thế cũng đủ để giữ tù bên trong khu trại không có hàng rào nào bao quanh. Margarete Buber-Neumann bị giam trong một trại an ninh thấp cho phép tù “di chuyển tự do trong vòng bán kính một cây số quanh trại; ra ngoài phạm vi đó lính gác sẽ bắn không cần cảnh cáo trước”.[228] Chuyện như vậy không phổ biến: trong hầu hết các trại, lính gác có thể bắn “không cần cảnh cáo” còn sớm hơn thế. Theo quy định do ông ban hành năm 1939, Beria ra lệnh cho tất cả chỉ huy trại phải bao quanh hàng rào của mình bằng một vùng trắng không xâm phạm, tức là một dải đất rộng không dưới 5 mét.[229] Lính gác thường xuyên kiểm tra vùng trắng này vào mùa hè và cố ý để cho nó phủ kín tuyết vào mùa đông nhằm hiện rõ dấu chân tù bỏ trốn. Phạm vi bắt đầu vùng trắng cũng được đánh dấu, đôi khi bằng hàng rào thép gai, đôi khi bằng những tấm biển ghi “zapretnaya zona”, tức “vùng cấm”. Vùng trắng đôi khi được gọi là “vùng tử địa”, do lính gác được phép bắn bất cứ ai xâm phạm.[230]

Tuy nhiên – hàng rào, tường cao, lũ chó và chướng ngại vật vây quanh lagpunkt không phải là hoàn toàn không thể vượt qua được. Trong khi các trại tập trung của Đức là hoàn toàn biệt lập – “hoàn toàn cô lập, không thể lọt qua”, như lời một chuyên gia đánh giá[231] – thì hệ thống trại Xôviết mang một quan niệm khá khác biệt.

Trước hết, hệ thống của Liên Xô phân loại tù thành konvoinyibeskonvoinyi – “có lính áp tải” và “không bị áp tải” – và một thiểu số tù không bị áp tải được phép vượt qua ranh giới trại mà không bị giám sát, đi chạy việc vặt cho lính gác, đi làm việc trong ngày tại một đoạn đường sắt không có lính gác đi kèm, thậm chí được sống trong các căn hộ riêng bên ngoài khu vực zona. Loại ưu đãi sau cùng này được áp dụng ngay từ thời đầu của lịch sử phát triển trại, trong những năm tháng hỗn loạn đầu thập niên 1930.[232] Mặc dù về sau nhiều lần có lệnh dứt khoát cấm việc này, nhưng nó vẫn tồn tại. Một loạt quy định soạn năm 1939 nhắc nhở các chỉ huy trại rằng “tất cả tù nhân, không trừ một ngoại lệ nào, bị cấm sống ngoài zona, trong làng, trong căn hộ riêng hay các ngôi nhà thuộc quản lý của trại”. Về lý thuyết, trại thậm chí phải có giấy phép đặc biệt mới được cho tù sống tại một nơi có lính gác bên ngoài zona.[233] Trong thực tế, những quy định này thường xuyên bị lờ đi. Mặc dù đã có sắc lệnh năm 1939, các báo cáo thanh tra lập rất lâu sau thời điểm đó vẫn nêu ra danh sách hàng loạt vi phạm. Tại thành phố Ordzhonikidze, một thanh tra đã phàn nàn rằng tù đi lang thang ngoài phố, ra vào khu chợ trời, chui vào các căn hộ riêng, nhậu nhẹt và trộm cắp. Tại một nhà tù tiểu khu thuộc Leningrad, một tù đã được giao cho một con ngựa và đã cưỡi nó để bỏ trốn. Tại Tiểu khu lao động Số 14 thuộc vùng Voronezh, một lính gác vũ trang đã để mặc ba mươi tám tù đứng chờ ngoài phố trong khi anh ta chui vào một cửa hàng.[234]

Văn phòng ủy viên công tố Moscow đã có một bức thư gửi một trại khác gần thành phố Komsomolsk vùng Siberi, tố cáo các chỉ huy trại đã cho phép không dưới 1.763 tù có được điều kiện “không bị áp tải”. Kết quả là, công tố viên giận dữ viết tiếp, “luôn luôn có thể bắt gặp tù ở bất cứ đâu trong thị trấn, tại bất cứ cơ quan nào và trong bất cứ căn hộ riêng nào”.[235] Họ cũng tố cáo một trại khác đã để cho 150 tù sống tại những căn hộ riêng, một vi phạm nghiêm trọng chế độ tù, dẫn tới “các trường hợp say rượu, quậy phá và thậm chí là cướp giật cư dân địa phương”.[236]

Nhưng cả bên trong trại, tù cũng không bị tước hết mọi tự do di chuyển. Trái lại, đó lại là một trong những kiểu giễu cợt trại tập trung, một trong những cách khiến nó khác với nhà tù: khi không phải làm việc và không phải ngủ, hầu hết tù có thể đi ra đi vào lán trại tùy ý. Khi không làm việc, tù cũng có thể quyết định, trong khuôn khổ giới hạn, tùy cách sử dụng thời gian của mình. Chỉ có những tù đang phải chịu chế độ katorga được áp dụng năm 1943, hay những người sau này bị giữ trong “các trại chế độ đặc biệt” được thành lập năm 1948, mới bị khóa nhốt trong lán trại của mình vào ban đêm, một điều kiện mà họ cay đắng phẫn uất và sau này đã nổi loạn chống lại.[237]

Khi tới trại từ những nhà tù Xôviết giam hãm đáng sợ, tù thường rất ngạc nhiên và cảm thấy nhẹ nhõm vì các thay đổi trên. Một zek kể rằng khi ông tới Ukhtpechlag: “Tâm trạng của chúng tôi thật tuyệt vời khi vừa được bước ra ngoài trời thoáng”.[238] Olga Adamova-Sliozberg nhớ lại rằng mình đã huyên thuyên “suốt từ sáng sớm tới chiều tối về những ưu điểm của trại so với cuộc sống trong tù” khi vừa tới Magadan:

Cư dân trong trại (gồm khoảng một ngàn phụ nữ) có vẻ như quá đông trong mắt chúng tôi: quá nhiều người, quá nhiều chuyện để nói với nhau, quá nhiều bạn bè có thể kết thân! Và trên hết là thiên nhiên. Bên trong khu trại với hàng rào thép gai bao quanh, chúng tôi được phép đi lại tự do, nhìn ngắm bầu trời và các dãy đồi xa xa, leo lên những thân cây còi cọc và lấy tay vuốt ve vỏ của chúng. Chúng tôi hít thở hơi biển ẩm ướt, cảm nhận bụi mưa lất phất tháng Tám trên da mặt, ngồi trên bãi cỏ ướt và vọc tay xuống mặt đất. Suốt bốn năm trời chúng tôi không được làm những chuyện đó nên giờ đây nhận thấy làm như vậy quan trọng với con người chúng tôi biết dường nào: không có thế ta không còn cảm thấy mình như một người bình thường nữa.[239]

Leonid Finkelstein cũng tán thành ý trên:

Bạn được chở vào, bạn bước ra khỏi xe chở tù và bạn thật ngạc nhiên bởi rất nhiều điều. Trước hết, tù được đi thoải mái khắp nơi, không có lính gác đi kèm – những người này đang đi làm nhiệm vụ ở chỗ nào khác. Kế đến, họ trông thật khác hoàn toàn so với bạn. Sự trái ngược thậm chí còn trở nên lớn hơn khi tôi đã ở trong trại và người ta chở đến đây tù mới. Đám tù mới hết thảy mặt mũi đều xanh rớt – mặt xanh vì thiếu khí trời, thức ăn tồi tàn và vì mọi thứ. Tù trong trại có nước da không ít thì nhiều trông bình thường hơn. Bạn cảm thấy mình đang ở giữa những người tương đối tự do và có bộ dạng tương đối ổn.[240]

Thời gian trôi đi, sự “tự do” bề ngoài của cuộc sống trong trại thường là trở nên nhạt nhẽo đến chán ngán. Khi còn trong tù – tù nhân người Ba Lan Kazimierz Zarod viết – vẫn còn có thể tin rằng đã có sai lầm nào đó, và người ta sẽ sớm thả mình ra. Trên hết là, “chúng tôi vẫn còn bị vây quanh bởi những cám dỗ của nền văn minh – bên ngoài bức tường nhà tù là một thị trấn lớn”. Tuy nhiên, ở trong trại ông thấy mình bị nghiền đều vào giữa “một loại người kỳ lạ… mọi cảm xúc theo kiểu bình thường đều bị treo lơ lửng. Khi ngày tháng trôi qua tôi ngập tràn một thứ sợ hãi dần dần biến thành nỗi tuyệt vọng. Tôi cố gắng gạt cái cảm giác ấy đi, tìm cách quay về với chiều sâu tâm thức, nhưng từ từ nó lại ló ra trong tôi đến nỗi tôi nhận thấy mình có những hành vi yếm thế rất vô lý bởi lý do nhận ra rằng không có cách nào để thoát khỏi nơi đây…”[241]

Còn tệ hơn nữa, sự tự do đi lại này có thể dễ dàng và nhanh chóng biến thành sự vô chính phủ. Lính gác và chính quyền trại có mặt đông đủ bên trong lagpunkt vào ban ngày, nhưng họ thường biến mất hoàn toàn vào ban đêm. Một hoặc hai người có thể ở lại trong vakhta, nhưng đám còn lại sẽ rút về phía bên kia tường rào. Chỉ khi nào tù tin rằng tính mạng mình đang bị đe dọa thì đôi khi họ mới quay sang đám lính gác trong vakhta. Một người viết hồi ký nhớ lại rằng do hậu quả của một cuộc cãi vã giữa tù chính trị và tù tội phạm – một hiện tượng thường thấy vào thời kỳ hậu Thế chiến, như chúng ta sẽ xem sau này – bọn tội phạm thua cuộc liền “chạy tới vakhta”, cầu xin giúp đỡ. Ngày hôm sau, bọn chúng bị chuyển lên một chuyến vận chuyển tới một lagpunkt khác, do ban quản lý trại muốn tránh một cuộc tàn sát tập thể.[242] Một phụ nữ khác, cảm thấy mình đang có nguy cơ bị hãm hiếp và có thể bị giết chết bởi tay một tên tù phạm, đã “quay vào” vakhta và đề nghị được tống vào khám phạt qua đêm để được bảo vệ.[243]

Vakhta tuy nhiên không phải là một nơi an toàn đáng tin cậy. Lính gác trú bên trong nhà bảo vệ không nhất thiết phải đáp lại đề nghị của tù. Được báo về sự xúc phạm của nhóm tù này đối với nhóm tù khác, bọn họ chắc cũng chỉ phá ra cười. Đã có các ghi chép, cả trong giấy tờ chính thức lẫn trong các hồi ký, về việc lính gác vũ trang lờ đi hoặc đứng cười khẩy trước những vụ giết người, hành hạ hoặc hãm hiếp giữa tù với nhau. Tả lại một vụ hiếp dâm tập thể tại một trong các lagpunkt của Kargopollag vào ban đêm, Gustav Herling đã viết rằng nạn nhân “chỉ gào lên một tiếng khàn khàn cụt lủn, đẫm nước mắt và bị chặn nghẹn bởi gấu váy của mình. Một giọng ngái ngủ thốt lên từ phía tháp canh: ‘Lại đây, lại đây lũ nhóc, chúng mày đang làm gì thế? Không thấy xấu hổ à?” Tám tên đàn ông lôi người con gái về phía nhà vệ sinh và rồi lại tiếp tục”.[244]

Về lý thuyết, các quy định khá nghiêm khắc: tù phải ở bên trong zona. Trong thực tế, quy định này đã bị phá vỡ. Và những hành vi nào về kỹ thuật không vi phạm quy định thì mặc dù có bạo lực hay gây hại tới đâu chăng nữa cũng không nhất thiết phải bị trừng phạt.

 

Rezhim

Những quy định về đời sống

 

Zona kiểm soát về không gian hoạt động của tù.[245] Nhưng chính rezhim, tức “chế độ”, mới kiểm soát thời gian của họ. Nói đơn giản, chế độ được lập bởi một loạt các quy định và thủ tục mà dựa theo đó để trại hoạt động. Nếu hàng rào thép gai giới hạn sự tự do di chuyển của zek trong zona, một loạt các mệnh lệnh và hiệu còi điều phối giờ giấc họ sinh hoạt bên trong đó.

Mức độ nghiêm khắc của chế độ khác nhau giữa lagpunkt này với lagpunkt kia, vừa căn cứ theo các ưu tiên giờ giấc vừa căn cứ theo hình thức giam giữ tù trong từng trại. Đã có, tùy theo mỗi thời kỳ khác nhau, các chế độ trại nhẹ nhàng cho người tàn tật, chế độ trại thường, chế độ trại đặc biệt và chế độ trại trừng phạt. Nhưng hệ thống cơ bản vẫn là như nhau. Chế độ sẽ quyết định khi nào và như thế nào tù phải thức dậy; anh ta phải đi tới nơi làm việc ra sao; anh ta được nhận thức ăn khi nào và ra làm sao; anh ta được ngủ khi nào và trong bao lâu.

Ở hầu hết các trại, một ngày của tù chính thức bắt đầu với razvod: thủ tục bố trí tù thành các đội lao động và đưa họ bước đi tới chỗ làm. Một hồi còi báo hoặc một kiểu hiệu lệnh khác sẽ đánh thức họ dậy. Một hồi còi thứ hai báo cho họ biết rằng bữa sáng đã chấm dứt và sắp phải đi làm. Sau đó tù xếp hàng trước cổng trại để điểm danh buổi sáng. Valery Frid, một nhà viết kịch bản điện ảnh Xôviết và là tác giả của một hồi ký sống động lạ thường, đã mô tả cảnh này như sau:

Các đội sẽ tự tập hợp phía trước cổng ra vào. Những cán bộ phân việc cầm một tấm bảng ghi chép hẹp dài bào nhẵn: trên đó có viết con số các đội, con số những công nhân (do thiếu giấy viết nên các con số sẽ bị cạo đi bằng mảnh thủy tinh và viết lại vào ngày hôm sau). Lính gác áp tải và người phân việc sẽ kiểm tra xem mọi người có mặt đầy đủ không, và nếu đủ thì họ sẽ được đưa đi làm việc. Nếu có thiếu ai, mọi người sẽ phải đứng đợi, trong khi đó người ta đi tìm kiếm kẻ trốn việc kia.[246]

Theo những hướng dẫn của Moscow, việc chờ đợi này không được kéo dài hơn mười lăm phút.[247] Tất nhiên, như Kazimierz Zarod viết, nó thường kéo dài lâu hơn, bất kể điều kiện thời tiết xấu:

Vào 3 giờ 30 sáng chúng tôi phải có mặt giữa sân trại, đứng thành hàng năm người và chờ để điểm danh. Lính gác thường đếm sai, sau đó phải đếm lại lần nữa. Sáng nào mà trời có tuyết rơi thì quá trình này thật dài lê thê, lạnh buốt và khổ sở. Nếu lính gác tỉnh táo và tập trung, việc điểm danh thường mất khoảng ba mươi phút, nhưng nếu họ đếm sai, chúng tôi phải đứng chẳng được trò trống gì có khi cả tiếng đồng hồ.[248]

Trong khi việc này diễn ra, một số trại có những biện pháp đối phó để “tăng tinh thần cho tù”. Ở đây ta gặp lại Frid: “Razvod chỗ chúng tôi diễn ra trong tiếng nhạc của một tay chơi đàn gió ác-coóc-đê-ông. Một gã tù, không phải vướng bận công việc gì, chơi những giai điệu thật vui tai…”[249] Zarod cũng ghi nhận hiện tượng kỳ dị về một ban nhạc sáng sớm gồm nhiều nhạc công tù, gồm cả dân chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư:

Mỗi buổi sáng, “ban nhạc” lại đứng cạnh cổng vào và chơi những đoạn hành khúc, còn chúng tôi thì bị thúc đi đều bước “thật mạnh mẽ và thật hạnh phúc” để tới nơi làm việc. Phải chơi cho tới khi khúc cuối đoàn người bước hết qua cổng, các nhạc công mới buông nhạc cụ xuống và, nối đuôi vào cuối đoàn người, cùng với đám lao động đi về phía khu rừng.[250]

Từ đấy, tù phải đi đều bước tới chỗ làm. Lính gác la hét những khẩu lệnh thường ngày – “Một bước sang phải hay một một bước lệch sang trái sẽ bị xem là tìm cách chạy trốn – Áp tải sẽ bắn mà không cần báo trước – Bước đều, bước!” – và tù bước đi, vẫn theo từng hàng dọc năm người, để tới chỗ làm. Đường rất xa và họ đi kèm với lính gác và chó. Thủ tục khi quay về buổi chiều cũng khá giống như vậy. Sau một tiếng ăn tối, tù lại phải ra xếp hàng ngang. Và một lần nữa, lính gác ra đếm (nếu đám tù ấy may mắn) và đếm lại lần nữa (nếu họ không may). Hướng dẫn của Moscow cho thời gian điểm danh buổi chiều dài hơn – ba mươi tới bốn mươi phút – có lẽ bởi vì trốn trại thường bắt đầu từ nơi làm việc nhiều hơn.[251] Sau đó có một hồi còi báo khác, và đấy là tới giờ đi ngủ.

Các quy định và thời gian biểu trên không phải bất di bất dịch. Trái lại, chế độ thay đổi theo thời gian, thường là trở nên khắc nghiệt hơn. Jacques Rossi đã viết rằng “nét chính của chế độ trại cải tạo Xôviết là sự dữ dội có hệ thống của nó, dần dần đưa sự tàn ác xađích nguyên chất và độc đoán tùy tiện vào giữ vị trí của luật pháp”, và có lẽ thực tế gần đúng như vậy.[252] Trong suốt những năm 1940, chế độ trở nên chặt chẽ hơn, ngày làm việc dài hơn, ngày nghỉ thưa hơn. Năm 1931, tù của Đoàn Thám hiểm Vaigach, một bộ phận của Đoàn Thám hiểm Ukhtinskaya, phải làm việc sáu giờ mỗi ngày theo ba ca. Người lao động ở vùng Kolyma đầu những năm 1930 cũng làm việc giờ giấc bình thường, ngắn hơn vào mùa đông và dài hơn vào mùa hè.[253] Tuy nhiên, trong vòng một thập kỷ, ngày làm việc đã dài ra gấp đôi. Vào cuối thập kỷ 1930, các phụ nữ trong xí nghiệp may của Elinor Olitskaya phải làm “mười hai giờ trong một gian phòng không có thông gió”, và ngày làm việc ở Kolyma cũng kéo dài ra tới mười hai giờ.[254] Tuy nhiên sau này, Olitskaya làm trong một đội công nhân xây dựng: mười bốn tới mười sáu tiếng mỗi ngày, trong đó có năm phút nghỉ vào 10 giờ sáng và 4 giờ chiều, và một giờ nghỉ ăn trưa.[255]

Không phải chỉ có mình bà. Năm 1940, ngày làm việc của Gulag chính thức kéo dài thành mười một tiếng, mặc dù thậm chí quy định này cũng thường bị vi phạm.[256] Tháng 3/1942, ban quản lý Gulag trung tâm tại Moscow đã gửi một bức thư giận dữ cho tất cả các chỉ huy trại, nhắc nhở họ về quy định “tù phải được cho ngủ không dưới tám tiếng mỗi ngày”. Nhiều chỉ huy trại đã lờ đi quy định này, bức thư giải thích, và đã cho tù ngủ có bốn hoặc năm tiếng mỗi tối. Kết quả là, Gulag than phiền, “tù mất dần sức làm việc, họ trở thành các ‘công nhân yếu sức’ và người tàn tật”.[257]

Sự vi phạm vẫn tiếp tục, đặc biệt do yêu cầu sản xuất tăng nhanh trong những năm tháng chiến tranh. Tháng 9/1942, sau khi quân Đức xâm lược, ban quản lý Gulag chính thức kéo dài ngày làm việc của tù xây dựng các cơ sở sân bay lên mười hai tiếng, gồm một tiếng nghỉ ăn trưa. Tình hình tương tự trên khắp đất nước Liên Xô. Ngày làm việc mười sáu tiếng được ghi nhận ở Vyatlag trong thời chiến.[258] Ngày làm việc mười hai tiếng được ghi nhận ở Vorkuta mùa hè năm 1943, mặc dù bị giảm xuống – có lẽ do tỷ lệ tử vong và bệnh tật cao – trở lại mười giờ tháng 3/1944.[259] Sergei Bondarevsky, tù trong một sharashka thời chiến, tức một trong những phòng nghiên cứu đặc biệt của tù khoa học gia, cũng nhớ đã làm mười một tiếng mỗi ngày, gồm cả thời gian nghỉ. Một ngày điển hình ông làm từ 8 giờ sáng tới 2 giờ chiều, rồi từ 4 giờ chiều tới 7 giờ tối, và rồi lại từ 8 giờ tối tới 10 giờ tối.[260]

Trong mọi trường hợp, các quy định thường bị vi phạm. Một zek thuộc đội đãi vàng ở Kolyma phải sàng hết 150 xe cút kít mỗi ngày. Những ai không hoàn thành khối lượng này vào cuối ngày làm việc đơn giản là phải ở lại cho tới khi làm xong – đôi khi tận mãi nửa đêm. Sau đó họ quay về nhà, ăn súp, rồi phải dậy lúc 5 giờ sáng để bắt đầu làm tiếp.[261] Ban quản lý trại Norilsk áp dụng nguyên tắc tương tự vào cuối những năm 1940, nơi một tù khác làm việc đào móng cho các công trình mới ngay giữa băng giá đóng cứng: “Vào cuối mười hai giờ làm việc họ kéo chúng tôi lên khỏi hố, nhưng chỉ khi nào chúng tôi hoàn thành được công việc. Nếu không, bạn sẽ bị bỏ lại đó”.[262]

Thông thường trong ngày không có nhiều dịp nghỉ, như lời một tù thời chiến, bị phân làm việc trong một xưởng dệt, sau này đã giải thích:

Vào sáu giờ chúng tôi phải có mặt trong xưởng. Mười giờ chúng tôi có năm phút nghỉ để hút một điếu thuốc, vì chuyện này chúng tôi phải chạy vào một tầng hầm cách đó khoảng hai trăm thước, nơi duy nhất trong cơ ngơi của xưởng cho phép hút. Vi phạm quy định này bị phạt thêm hai năm tù. Đến một giờ là nửa tiếng nghỉ ăn trưa. Cầm cái bát bằng đất nung, mỗi tù phải phóng gấp tới nhà ăn, xếp thành hàng dài, nhận một thứ súp đậu tương ghê tởm mà ai cũng ngán – và bằng mọi giá phải quay về xưởng máy khi các động cơ bắt đầu chạy. Sau đó, không được rời chỗ làm, chúng tôi ngồi làm mãi tới bảy giờ tối.[263]

Số ngày nghỉ làm cũng được quy định theo luật. Tù nhân thường được cho phép nghỉ một ngày mỗi tuần, những người bị phân chế độ khắc nghiệt hơn thì hai ngày mỗi tháng. Nhưng các quy định này trong thực tế cũng khác nhau. Ngay từ năm 1933, ban quản lý Gulag ở Moscow đã gửi đi một mệnh lệnh nhắc nhở các chỉ huy trại về tầm quan trọng của ngày nghỉ của tù, nhiều ngày đã bị hủy trong cơn điên cuồng hoàn thành kế hoạch.[264] Một thập kỷ sau, khó mà có gì thay đổi. Trong chiến tranh, Kazimierz Zarod cứ mười ngày thì được cho một ngày nghỉ.[265] Một người khác nhớ lại được nghỉ có một mỗi tháng.[266] Gustav Herling nhớ rằng ngày rảnh rỗi thậm chí còn hiếm hơn:

Theo quy định, cứ làm mười ngày thì tù được phép nghỉ trọn một ngày. Nhưng trong thực tế hóa ra thậm chí một ngày mỗi tháng cũng đe dọa làm giảm sản lượng của trại, do đó nó đã biến thành một quy ước đầy kiểu cách về việc thưởng cho một ngày nghỉ nếu trại vượt được kế hoạch sản xuất trong mỗi quý… Lẽ tự nhiên chúng tôi không có cơ hội kiểm tra con số sản lượng hay kế hoạch sản xuất, do đó quy ước này là một trò tưởng tượng mà trong thực tế khiến chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào lòng nhân từ của ban quản trại.[267]

Thậm chí cả vào những ngày nghỉ hiếm hoi của mình, đôi khi tù vẫn phải đi làm công tác bảo trì trong trại, lau dọn lán ở, lau chùi nhà vệ sinh hay dọn tuyết vào mùa đông.[268] Tất cả những chuyện này khiến một mệnh lệnh do Lazar Kogan chỉ huy trại Dmitlag ban hành trở nên đặc biệt chua xót. Bị quấy rầy bởi nhiều báo cáo về việc ngựa của trại gục ngã vì kiệt sức, Kogan bắt đầu bằng việc lưu ý rằng: “Số lượng gia tăng những trường hợp ngựa bị bệnh và gục ngã có rất nhiều nguyên nhân, bao gồm chất tải cho ngựa quá mức, điều kiện đường sá tồi tệ và việc thiếu thời gian nghỉ trọn vẹn và đầy đủ cho ngựa để hồi phục sức kéo”.

Sau đó ông này tiếp tục, ban hành thêm các hướng dẫn mới:

  1. Ngày làm việc của ngựa trại không được quá mười tiếng, chưa tính hai giờ bắt buộc để nghỉ ngơi và ăn uống.
  2. Trung bình, ngựa không được cho chạy quá 32 cây số mỗi ngày.
  3. Ngựa phải có được một ngày nghỉ thường xuyên cứ mỗi tám ngày, và phải được nghỉ trọn ngày.[269]

Tuy nhiên, với nhu cầu của tù cần một ngày nghỉ thường xuyên cứ mỗi tám ngày thì ở đây không hề đề cập tới.

 

Baraki

Không gian sinh hoạt

 

Hầu hết tù ở hầu hết các trại đều sống trong lán ở. Tuy nhiên, hiếm có trại nào mà lán ở lại được xây dựng trước khi tù chuyển đến. Những tù không may được gửi đến để xây dựng khu trại mới phải sống trong các lều bạt hay có khi trống không chẳng có gì. Giống như một bài hát tù mô tả:

Chúng tôi chạy băng băng qua vùng đài nguyên

Và rồi đột nhiên, đoàn tàu bỗng dừng lại.

Quanh chúng tôi, chỉ rừng hoang và bùn lầy –

Tại đây chúng tôi phải đào con kênh mới.[270]

Ivan Sulimov, một tù ở Vorkuta thập niên 1930, đã bị ném cùng một nhóm tù khác vào “một khu đất vuông giữa miền đài nguyên cực bắc”, và bị yêu cầu phải dựng lều bạt, nhóm một đống lửa và bắt tay vào xây dựng “một hàng rào bằng đá tảng, vây quanh bằng dây thép gai” cùng các lán trại.[271] Janusz Siemiński, một tù người Ba Lan ở Kolyma sau chiến tranh, cũng tham dự một nhóm xây dựng một lagpunkt mới “từ con số không”, giữa mùa đông khắc nghiệt. Ban đêm, tù ngủ ngay trên mặt đất. Nhiều người chết, đặc biệt là những ai không có khả năng chiến đấu dành được chỗ ngủ cạnh đống lửa.[272] Tù tới trại Prikaspiisky ở Azerbaijan tháng 12/1940 cũng ngủ, theo lời một thanh tra NKVD thấy chướng tai gai mắt, “ngay giữa trời trống trên mặt đất ẩm ướt”.[273] Cũng không phải chỉ do điều kiện hạn chế mới có chuyện như thế. Mãi đến năm 1955, tù tại một số trại vẫn còn phải sống trong lều bạt.[274]

 Nếu và khi tù xây xong lán ở, chúng cũng chỉ là những công trình làm bằng gỗ đơn giản và không khác gì nhau. Moscow quyết định thiết kế của chúng và kết quả là diện mạo của chúng khá lặp đi lặp lại: hết tù này đến tù khác mô tả những ngôi nhà bằng gỗ dài hình chữ nhật, tường không trát vữa, những vết nứt trám bằng bùn, không gian bên trong nhét đầy những chuỗi giường tầng làm sơ sài. Đôi khi có thêm một cái bàn thô kệch, đôi khi không. Đôi khi có thêm băng ghế để ngồi, đôi khi không.[275] Tại Kolyma và tại những vùng khác nơi mà gỗ khá hiếm, tù xây lán ở, cũng rẻ và nhanh y như vậy, bằng đá tảng. Khi không có sẵn cái gì để cách ly, các phương pháp cũ hơn được sử dụng. Trong ảnh chụp các lán ở tại Vorkuta vào mùa đông năm 1945, trông chúng gần như vô hình: mái của chúng xây khá nhọn nhưng sà gần sát mặt đất, để cho tuyết chất xung quanh giúp giữ ấm thêm bên trong lán.[276]

Thường thường, các lán ở không phải là một công trình thực sự, mà đúng hơn là những zemlyanka, tức “hầm vách đất”. A. P. Evstonichev từng sống trong một hầm như vậy ở Karelia vào đầu những năm 1940:

Một zemlyanka là một khoảnh trống được dọn sạch tuyết, với lớp đất phía trên được xúc đổ đi. Vách và mái ghép bằng những súc gỗ tròn và thô sần. Toàn bộ cấu trúc được phủ thêm một lớp đất và tuyết. Lối vào hầm che bằng một tấm cửa vải bạt… một góc hầm đặt thùng đựng nước uống. Ở giữa hầm có cái lò sưởi bằng sắt, trên đầu có ống khói kim loại dẫn thẳng qua mái, cùng một thùng đựng dầu hỏa.[277]

15.png

Mặt cắt và mặt bằng một zemlyanka

Tại những trại cơ sở lagpunkt tạm thời hình thành dọc theo công trường thi công các tuyến đường bộ và đường sắt, chỗ nào cũng có zemlyanka. Như đã trình bày ở Chương 5, vết tích của chúng ngày nay vẫn rải dọc theo những con đường do tù xây ở miền viễn bắc, cũng như dọc các bờ sông gần những khu vực cũ của thành phố Vorkuta. Đôi khi tù cũng sống trong các lều bạt. Một hồi ký về những ngày đầu của Vorkutlag đã mô tả việc lắp dựng trong vòng ba ngày “mười lăm chiếc lều với những bộ giường ba tầng” dành cho 100 tù, cùng với một zona có bốn tháp canh và hàng rào dây thép gai.[278]

Nhưng các lán ở thực sự hiếm khi tồn tại lâu với mức tiêu chuẩn thấp mà Moscow ấn định cho chúng. Chúng hầu như luôn luôn đông đúc đến đáng sợ, thậm chí kể cả sau khi kết thúc sự hỗn loạn cuối thập niên 1930. Một báo cáo thanh tra về hai mươi ba trại viết năm 1948 đã rất khó chịu khi lưu ý rằng trong hầu hết các trại này “mỗi tù chỉ có không hơn một mét tới một mét rưỡi vuông không gian sinh hoạt”, và thậm chí lại còn ở trong điều kiện thiếu vệ sinh: “tù không có chỗ riêng để ngủ, cũng như không có vải trải giường và chăn riêng cho mình”.[279] Đôi khi thậm chí còn chật hơn thế. Margarete Buber-Neumann ghi lại rằng khi bà tới trại, thực sự hoàn toàn không có đủ chỗ ngủ bên trong lán ở, và bà bị bắt phải ngủ vài đêm đầu tiên trên sàn nhà tắm.[280]

Tù bình thường được phân cho những giường gọi tên là vagonka, một tên gọi lấy từ những chiếc giường tháo từ toa tàu chở khách cũ. Đó là các giường hai tầng, đủ chỗ cho hai tù nằm mỗi tầng, tổng cộng là bốn tù. Trong nhiều trại, tù thậm chí còn ngủ trên sploshnye nary đơn giản hơn nhiều. Đó là những tấm phản ngủ bằng gỗ dài, thậm chí còn không ngăn thành các giường riêng. Tù nào bị phân giường này chỉ còn cách nằm sát cạnh nhau thành một chuỗi dài. Do những giường chung này bị xem là mất vệ sinh, các thanh tra trại thường xuyên phản đối việc dùng chúng. Năm 1948, ban quản lý Gulag trung ương ban hành một chỉ thị yêu cầu tất cả giường kiểu này phải bị thay bằng vagonka.[281] Tuy nhiên, Anna Andreeva, một tù tại Mordovia từ cuối thập niên 1940 tới đầu thập niên 1950, vẫn ngủ trên sploshnye nary và nhớ rằng rất nhiều tù còn phải ngủ cả trên sàn dưới gầm giường.[282]

Đệm giường cũng khá tùy tiện, khác nhau từ trại này qua trại khác, mặc dù đã có những quy định chặt chẽ hơn (và khá phải chăng) ban hành từ Moscow. Quy định nói rằng tất cả tù phải có một bộ khăn tắm mới hàng năm, một vỏ gối cứ bốn năm một bộ, vải trải giường hai năm một bộ và một tấm chăn năm năm thay một lần.[283] Trong thực tế, “cái gọi là đệm giường đi liền với mỗi giường cho tù”, Elinor Lipper viết:

Không có rơm nhồi nệm và ít khi có cỏ khô, bởi vì không có đủ cỏ khô cho gia súc; thay vào đó nó nhét phoi bào hoặc quần áo chưa dùng, nếu người tù vẫn còn giữ được bộ nào. Ngoài ra, còn có chăn và vỏ gối bằng len trong đó ta có thể nhồi với bất cứ thứ gì có sẵn, do đó không cần gối.[284]

Những người khác có khi còn chẳng có gì. Mãi tới năm 1950, Isaak Filshtinsky, một chuyên gia về Ả rập học bị bắt năm 1948, vẫn còn ngủ dưới áo choàng của mình ở Kargopollag, dùng mớ giẻ rách giữ lại được để làm gối đầu.[285]

Chỉ thị năm 1948 cũng kêu gọi tất cả sàn nhà đất nện trong lán ở phải được thay bằng sàn gỗ. Nhưng mãi tới thập niên 1950, Irena Arginskaya vẫn sống trong một lán với sàn nhà không thể lau cọ vì rằng nện bằng đất sét.[286] Thậm chí nếu sàn làm bằng gỗ, chúng cũng thường không được cọ sạch bởi thiếu bàn chải. Khi kể lại chuyện của mình cho một ủy ban thời hậu chiến, một nữ tù người Ba Lan giải thích rằng trong trại của bà, một nhóm tù luôn phải “giữ nhiệm vụ” vào ban đêm, lau cọ lán ở và nhà vệ sinh trong khi người khác đi ngủ: “đất bùn trên sàn lán ở phải được cạo sạch bằng dao. Đám phụ nữ Nga phát cáu vì chúng tôi không quen làm thế, và hỏi chúng tôi xem chúng tôi làm thế nào khi sống ở nhà. Họ không thể tưởng tượng được rằng thậm chí sàn nhà bẩn nhất cũng có thể được cọ sạch bằng bàn chải”.[287]

16.png

Một lán ở đông đúc…

17.png

Barak của một kỹ sư trong trại. 1935-36. Siblag, lagpunkt Temirtau. Miền Tây Sibir.

18.png

Di tích một barak. Trại Gorniak. Vùng Ust-Omchuga. Tỉnh Magadan.

19.png

Một barak bỏ hoang.

20.png

Tranh của K. Sobolevskiy. ‘Trại vào ban đêm’. Vẽ tháng 10/1935. Dmitlag.

21.png

Mô hình một barak. Tỉnh Komi.

Sưởi ấm và chiếu sáng thường hết sức thô sơ, nhưng một lần nữa chúng rất khác biệt giữa trại này với trại khác. Một tù nhớ lại rằng các lán ở gần như tối thui: “những bóng đèn điện chiếu ra thứ ánh sáng trắng vàng, lờ mờ, còn đèn dầu hỏa khói mù và khét lẹt”.[288] Những người khác than phiền về vấn đề ngược lại, rằng đèn luôn chiếu suốt đêm.[289] Một số tù trong các trại thuộc vùng Vorkuta không gặp vấn đề với việc sưởi ấm, do họ có thể đem than đá từ mỏ về, nhưng Susanna Pechora, tại một lagpunkt gần mỏ than ở Inta, đã nhớ rằng bên trong lán ở “vào mùa đông quá lạnh đến nỗi tóc đóng băng dính xuống giường, nước uống đông lại trong ca”.[290] Trong lán của bà cũng không có nước máy, chỉ có nước xách từng xô vào lán nhờ dezhurnaya – một phụ nữ lớn tuổi, không còn khả năng làm việc nặng – người lau dọn và chăm nom lán vào ban ngày.[291]

Tệ hơn nữa, “một mùi hôi kinh khủng” tỏa khắp lán, do vô số quần áo bẩn và ẩm mốc phơi dọc mép giường tầng hoặc trên bàn, tức là bất cứ đâu có thể phơi móc được. Trong những lán ở các trại đặc biệt cửa đóng chặt ban đêm và cửa sổ có song sắt, mùi hôi bên trong khiến “hầu như không thể thở được”.[292]

Việc thiếu nhà vệ sinh không làm cho không khí dễ thở hơn. Tại những trại mà tù bị khóa nhốt trong lán ban đêm, đám zek phải dùng các parasha, tức cái “xô”, giống như trong nhà tù. Một tù viết lại rằng đến buổi sáng cái parasha “không thể xách nổi, phải kéo lết nó trên sàn nhà trơn trượt. Những thứ bên trong lần nào cũng sánh ra ngoài một chút”.[293] Một người khác, Galina Smirnova, bị bắt đầu những năm 1950, nhớ lại rằng “nếu bị chuyện gì nghiêm trọng, ta phải nhịn cho tới trời sáng, bởi nếu không mùi thối sẽ rất kinh khủng”.[294]

Bằng không thì nhà vệ sinh ở ngoài, và ở ngoài tức là ở bên ngoài lán, thường là cách khá xa, vốn rất vất vả trong cái lạnh mùa đông. “Có những nhà vệ sinh bằng gỗ ở ngoài”, Smirnova kể về một trại khác, “thậm chí có lúc trời nhiệt độ xuống âm 30 hoặc 40 độ”.[295] Thomas Sgovio viết về hậu quả việc này như sau:

Bên ngoài, phía trước mỗi lán ở, người ta đóng xuống một cái cọc gỗ và để cho nó đóng băng chặt dưới đất. Lại là một sắc lệnh nữa! Chúng tôi bị cấm đi tiểu ở những chỗ khác trong trại ngoại trừ ở nhà xí ngoài lán hoặc chỗ cái cọc với mảnh giẻ trắng buộc trên đầu. Bất cứ ai bị bắt vi phạm sắc lệnh này sẽ bị phạt mười đêm trong khám phạt… Sắc lệnh được ban hành vì ban đêm có những tù do không muốn đi bộ xa tới nhà xí đã tiểu lung tung trên lối đi tuyết đã được đầm chặt. Mặt đất rải rác đầy những vết vàng vàng. Khi tuyết tan cuối mùa xuân, ở đấy bốc mùi hôi thối khủng khiếp… hai lần mỗi tháng chúng tôi lại chặt cụt cái chóp kim tự tháp băng ấy và chở những mảnh băng đi vứt rất xa khỏi zona[296]

Nhưng bẩn thỉu và đông đúc không chỉ là vấn đề về thẩm mỹ hay chuyện khó chịu lặt vặt. Các giường tầng đông đúc và thiếu không gian cũng rất nguy hiểm, đặc biệt tại các trại làm việc theo thời gian biểu 24 giờ. Tại một trại như vậy, nơi tù phải làm tới ba ca, cả ngày lẫn đêm, một người hồi ký ghi lại rằng “mọi người ngủ trong lán ở bất cứ giờ nào trong ngày. Đánh nhau để có chỗ ngủ cũng là đánh nhau vì mạng sống. Vì cãi nhau về chuyện ngủ, mọi người chửi rủa lẫn nhau, đánh lẫn nhau, thậm chí giết lẫn nhau. Radio trong lán lúc nào cũng mở hết công suất, và bị mọi người ghét vào bậc nhất”.[297]

Chính vì câu hỏi anh được phép ngủ chỗ nào quá cốt yếu nên điều kiện ngủ ngáy luôn luôn là một công cụ cực kỳ quan trọng để điều khiển tù, và ban quản lý trại rất tỉnh táo sử dụng nó. Trong văn khố trung tâm của mình ở Moscow, những chuyên viên lưu trữ của Gulag cẩn thận bảo quản các ảnh chụp từng kiểu lán ở khác nhau, thiết kế cho những loại tù khác nhau. Kiểu lán ở cho otlichniki – “nhóm ưu tú” hay “các công nhân xung kích” – có những giường đơn với đủ chăn đệm, sàn gỗ và tranh ảnh treo trên tường. Các tù nhân, nếu không phải là đang cười trước mặt nhiếp ảnh viên, thì cũng ít nhất là đang đọc báo và có bộ dạng tốt khỏe. Mặt khác, ở các lán rezhim – lán phạt dành cho người làm việc kém hoặc bất kham – chỉ có những tấm phản gỗ với khung cọc thô thiển thay cho giường. Thậm chí trong các tấm ảnh ở đó, chụp nhằm mục đích tuyên truyền, tù rezhim không hề có đệm giường và thấy rõ là phải dùng chung chăn.[298]

Tại một số trại, nghi thức xung quanh việc sắp xếp chỗ ngủ trở nên khá phức tạp. Chỗ rộng hay chật có giá đến mức việc có được một chỗ, và sở hữu riêng nó, được xem là một ưu đãi lớn, chỉ dành cho những ai được xếp hạng thuộc giới quý tộc của trại. Những tù chức cao – đội trưởng đội lao động, chuyên viên tính chỉ tiêu và các chức vụ tương tự – thường được phép ngủ trong những lán nhỏ hơn, có ít người hơn. Solzhenitsyn, ban đầu được phân công việc “quản lý lao động” khi vừa tới một trại ở Moscow, đã được phân một chỗ tại căn lán nơi

Thay vì những giường nhiều tầng, ở đấy có các giường nhỏ với một bàn đầu giường cho cứ hai người một, chứ không phải cho cả một đội lao động. Vào ban ngày cửa bị khóa và ta có thể để lại đồ đạc của mình ở đấy. Sau hết, có một bếp lò điện bán hợp pháp, nên không cần phải đi xúm xít quanh cái lò sưởi chung to đùng ngoài sân nữa.[299]

Tất cả những thứ đó được xem là sang trọng vô cùng. Chắc chắn những công việc đáng thèm muốn hơn – như thợ mộc hay người sửa dụng cụ – cũng đi kèm với cái quyền mà nhiều người săn tìm là được ngủ lại trong xưởng. Anna Rozina ngủ lại trong xưởng đóng giày khi bà làm thợ đóng giày tại trại Temnikovsky, và cũng có “quyền” đi vào nhà tắm thường xuyên hơn, tất cả điều này được tính như một ưu tiên lớn.[300]

Hầu như ở trại nào cũng vậy, các bác sĩ, thậm chí chỉ là bác sĩ tù thôi, cũng được phép ngủ riêng, một ưu tiên phản ánh rõ tình trạng đặc biệt của họ. Isaac Vogelfanger, bác sĩ giải phẫu, cảm thấy mình được ưu tiên bởi ông được phép ngủ trên một giường tầng trong một “căn phòng nhỏ gần khu tiếp khách” của bệnh xá trại: “mặt trăng dường như mỉm cười với tôi khi tôi lên giường ngủ”. Cùng chỗ ngủ với ông là viên feldsher của trại, tức “trợ lý bác sĩ”, người cũng có được ưu tiên này.[301]

Đôi khi, điều kiện sống đặc biệt cũng được bố trí cho người tàn tật. Nữ diễn viên Tatyana Okunevskaya đã xoay sở để được gửi tới một trại cho người tàn tật tại Lithuania, ở đó “lán ở rất dài, với nhiều cửa sổ, sáng sủa sạch sẽ, không có giường tầng trên ở trên đầu bạn”.[302] Tù bị đưa đến làm việc tại các sharashka của Beria – các “văn phòng đặc biệt” cho những kỹ sư và kỹ thuật viên tài năng – được nhận khu nhà ngủ tốt nhất hạng. Ở Bolshevo, một sharashka ngay gần Moscow, các lán ở “rộng rãi, sáng sủa, sạch sẽ và có lò sưởi kiểu Hà Lan thay vì lò sưởi bằng sắt. Giường có khăn trải giường và gối, đèn được tắt ban đêm và có cả vòi tắm hoa sen riêng.[303] Tù sống tại những khu ở đó tất nhiên hiểu rõ rằng họ rất dễ dàng bị chuyển đi nơi khác, khiến bọn họ vô cùng chú tâm làm việc cật lực.

Một cách không chính thức thì thường cũng có một cơ chế khác tồn tại bên trong lán ở. Tại hầu hết các lán, các quyết định then chốt về việc ai sẽ ngủ ở đâu được thực hiện bởi những nhóm tù khỏe nhất và đoàn kết nhất trong trại. Cho tới cuối thập niên 1940, khi các nhóm dân tộc đông đảo – người Ukraina, Baltic, Chechen, Ba Lan – trở nên mạnh hơn, những tù được tổ chức tốt nhất thường là đám tù tội phạm, như chúng ta sẽ xem về sau. Như một quy luật, họ do đó sẽ ngủ tại các giường tầng trên cùng, nơi không khí thoáng hơn và rộng rãi hơn, có thể nện gậy hoặc giơ chân đá xuống những ai chống đối. Những người ngủ tầng dưới có ít quyền hơn. Những ai ngủ dưới sàn – tầng lớp tù thấp nhất trong trại – phải chịu đựng nhiều nhất, như một tù nhớ lại:

Tầng này được gọi là “khu kolkhoz”, và đó là tầng mà bọn trộm cướp dồn cho đám kolkhoznik – tu sĩ và trí thức thuộc nhiều lứa tuổi, thậm chí có nhiều kẻ cùng thuộc nhóm của chúng, những người vi phạm luật giang hồ của giới trộm cướp. Rơi xuống đầu những người này không chỉ có những gì từ tầng trên cùng và tầng giữa: bọn trộm cướp cũng trút xuống cả canh cặn, nước bẩn, xúp thiu từ ngày hôm qua. Và khu kolkhoz (nông trang) phải chịu đựng tất cả, bởi nếu than phiền họ sẽ phải nhận thiều thứ bẩn thỉu hơn… những người ấy có khi phát bệnh, tức thở, bất tỉnh, phát điên, chết vì sốt chấy rận, kiết lỵ hay phải tự sát.[304]

Tuy nhiên, tù nhân, thậm chí cả tù chính trị, cũng có thể cải thiện hoàn cảnh cho mình. Khi còn làm một feldsher, tức trợ lý bác sĩ, Karol Colonna-Czosnowski, một tù chính trị người Ba Lan, được Grisha, “ông trùm” tội phạm trong trại, chọn ra từ một lán hết sức đông người: “Hắn oai vệ giơ chân đá một trong những gã tay chân để ra lệnh cho gã lùi ra và nhanh chóng để chỗ ngồi lại cho tôi. Tôi bối rối phản đối rằng tôi không nên ngồi quá gần bếp lửa, nhưng điều này không hợp với ý chủ nhà của tôi, tôi hiểu ra ngay sau khi một trong những kẻ đi theo Grisha đẩy dúi tôi một cái thật mạnh”. Khi lấy lại thăng bằng, ông thấy mình đang ngồi trên trường kỷ ở dưới chân Grisha: “Có lẽ đó là nơi hắn muốn tôi ngồi lại…”[305] Colonna-Czosnowski không cãi lại. Thậm chí chỉ trong có vài tiếng, việc quyết định ai ngồi hay đặt đầu nằm ở đâu cũng là vấn đề rất căng thẳng.

 

 

Banya

Nhà tắm

 

Bẩn thỉu, đông đúc và vệ sinh kém dẫn tới cái họa rận và rệp. Trong những năm 1930, một biếm họa “khôi hài” trên tờ Perekovka, tờ báo của Kênh Đào Moscow-Volga, đã mô tả một zek được phát quần áo mới. Phía dưới là chú thích, “Họ cho anh quần áo ‘sạch’, nhưng chúng lúc nhúc toàn rận”. Một bức khác thì ghi “Còn trong khi anh ngủ trong lán, lũ rận cắn xé anh tựa một đám cua đen ngòm”.[306] Qua năm tháng vấn đề này không hề đỡ hơn. Một tù người Ba Lan ghi nhận rằng, trong thời gian chiến tranh, một người quen trong trại của ông đã bị ám ảnh bởi chúng: “Là một nhà sinh vật học, anh ta quan tâm tới việc có bao nhiêu con rệp có thể tồn tại trên một khoảng không nhất định. Đếm chúng trên áo sơmi của mình, anh ta tìm được sáu mươi con, một giờ sau lại ra thêm sáu mươi con nữa”.[307]

Đến những năm 1940, các ông chủ của Gulag từ lâu đã nhận ra mối nguy hiểm chết người của các bệnh sốt do rận rệp đem lại và chính thức tiến hành một cuộc chiến liên tục chống lại ký sinh trùng. Việc đi tắm được lệnh phải thực hiện cứ mười ngày một lần. Mọi thứ quần áo được yêu cầu được nấu nước sôi tại các đơn vị tẩy trùng, cả lúc họ vừa vào trại cũng như phải thực hiện định kỳ để tiêu diệt mọi côn trùng gây hại.[308] Như chúng ta đã biết, đám thợ cắt tóc trong trại cắt cạo toàn thân tất cả nam nữ khi họ vào trại, và thường xuyên cạo đầu họ sau đó. Xà phòng, mặc dù số lượng có hạn, thường xuyên nằm trong danh sách sản phẩm được phân phối cho tù: lấy ví dụ, năm 1944 tiêu chuẩn này là 200 gram mỗi tháng cho mỗi tù nhân. Phụ nữ, con cái của tù và tù đang nằm bệnh viện được phân phối thêm 50 gram, thanh thiếu niên nhận thêm 100 gram, và tù làm “các công việc đặc biệt bẩn thỉu” nhận thêm 200 gram. Những phần bé tí xíu này dùng để vừa vệ sinh cá nhân vừa giặt giũ đồ len và quần áo vải.[309] (Xà phòng chưa bao giờ bị giảm bớt, cả bên trong lẫn bên ngoài trại. Mãi đến năm 1991, thợ đào than Liên Xô vẫn còn đình công vì, ngoài những thứ khác, họ không được cấp phát xà phòng).

Tuy nhiên, không phải ai cũng bị thuyết phục về tính hiệu quả của quá trình khử ký sinh của trại. Trong thực tế, như một tù viết, “nhà tắm dường như còn làm tăng sức sinh sản của lũ rận rệp”.[310] Varlam Shalamov còn đi xa hơn: “Không những việc diệt rận rệp là hoàn toàn vô tích sự, mà còn chẳng có con rận nào bị giết bởi cái phòng khử trùng ấy. Chỉ toàn là hình thức và cơ cấu này được tạo ra chỉ nhằm mục đích hành hạ tù hơn nữa”.[311]

Về mặt kỹ thuật thì Shalamov nói không đúng. Cơ cấu này không phải được tạo ra nhằm mục đích hành hạ tù – như tác giả đã viết, Ban quản lý trung ương của Gulag ở Moscow thực sự đã viết các chỉ thị rất nghiêm ngặt, hướng dẫn đám chỉ huy trại tiến hành cuộc chiến chống lại ký sinh trùng, và có vô số báo cáo điều tra tố cáo việc họ đã không thực hiện tốt chuyện này. Một số liệu năm 1933 về tình trạng ở Dmitlag đã giận dữ than phiền về các lán ở của nữ, “bẩn thỉu, thiếu khăn trải giường và chăn đắp; tù nữ than phiền về chuyện rệp giường quá nhiều trong khi Ban Vệ sinh không tài nào chống lại được”.[312] Một cuộc điều tra năm 1940 về tình trạng tại một nhóm các trại miền bắc đã điên tiết mô tả “rận đầy trong các lán, còn rệp thì gây hậu quả tiêu cực tới khả năng nghỉ ngơi của tù” về một lagpunkt, trong khi trại lao động cải tạo Novosibirsk có “100 trăm phần trăm tù bị nhiễm rận… là hậu quả của điều kiện vệ sinh cực kém, tỷ lệ bệnh ngoài da và đau dạ dày khá cao… từ đó thấy rõ là điều kiện thiếu vệ sinh trong trại đã gây thiệt hại rất, rất lớn”.

Trong khi đó, dịch sốt chấy rận đã bùng ra hai lần tại một lagpunkt khác, trong khi ở những trại còn lại, tù “đen kịt vì đất bẩn”, bản báo cáo tiếp tục trong nỗi xúc động sâu sắc.[313] Các ủy viên công tố của Gulag đã than phiền về lũ rận và giận dữ ban các mệnh lệnh tiêu diệt chúng, tính toán năm thực hiện và năm hoàn tất trong các báo cáo thanh tra của mình.[314] Sau một trận dịch sốt chấy rận tại Temlag năm 1937, cả trại trưởng của lagpunkt và trưởng ban y tế trại đều bị sa thải, với cáo buộc đã “cẩu thả gây tội ác và hành xử thụ động”, và bị đưa ra tòa.[315] Giải thưởng được sử dụng đồng thời với các hình phạt: năm 1933, cư dân của một trong những lán tù ở Dmitlag được nhận nhiều ngày nghỉ như là phần thưởng cho việc họ đã tẩy sạch lũ rệp khỏi giường chiếu.[316]

Việc tù từ chối đi tắm cũng được xem xét rất nghiêm túc. Irena Arginskaya, người từng ở trong trại đặc biệt cho tù chính trị tại Kengir đầu những năm 1950, đã nhớ lại rằng có một giáo phái đặc biệt của nữ trong trại đã từ chối đi tắm vì những lý do nào đó mà chỉ mình họ biết:

Một hôm tôi phải ở lại trong lán vì bị bệnh nên không đi làm được. Tuy nhiên, một lính gác tới và cho chúng tôi biết rằng tù bị bệnh phải ra giúp tắm cho “các xơ”. Cảnh tượng xảy ra như sau: một xe ngựa được kéo tới chỗ khu lán của họ, và chúng tôi phải đưa họ ra và đẩy họ lên xe. Họ chống lại, giơ chân giơ tay đấm đá chúng tôi, v.v. Nhưng cuối cùng khi chúng tôi đưa được họ lên xe thì họ nằm yên, không tìm cách chạy trốn. Sau đó chúng tôi kéo chiếc xe tới nhà tắm, lôi họ ra và đưa họ vào trong, cởi quần áo cho họ – và lập tức hiểu ra tại sao ban quản lý trại không thể cho phép họ không tắm. Khi vừa cởi quần áo họ ra, rận rơi xuống hàng đàn. Sau đó chúng tôi nhúng họ xuống nước để tắm cho họ. Trong khi đó, quần áo của họ được đem luộc để giết rận…[317]

Arginskaya cũng nhớ rằng “theo quy định thì có thể đi tới nhà tắm bao nhiêu tùy ý” ở Kengir, nơi không có giới hạn về sử dụng nước. Tương tự như vậy, Leonid Sitko, từng là cựu tù binh chiến tranh ở Đức, cho rằng các trại Xôviết có ít rận hơn ở trại của Đức. Ông từng ngồi ở cả Steplag và Minlag, nơi “ta có thể tắm bao nhiêu cũng được… thậm chí ta còn tùy ý giặt quần áo”.[318] Một số nhà máy và công trường có khu tắm vòi sen riêng, giống như Isaak Filshtinsky thấy ở Kargopollag, nơi tù có thể sử dụng chúng vào ban ngày, mặc dù các tù nơi khác phải chịu cảnh thiếu nước.[319]

Nhưng Shalamov không hoàn toàn sai trong mô tả yếm thế của mình về hệ thống vệ sinh. Bởi thậm chí nếu chúng được xây dựng để tắm một cách nghiêm túc, sự việc thường xảy ra là những nhà quản lý các trại địa phương chỉ theo dõi về hình thức việc khử trùng và tắm rửa mà không quan tâm đúng mức về hiệu quả. Hoặc không có đủ than để đủ nhiệt độ khử trùng; hoặc những người chịu trách nhiệm không thèm làm việc đúng mức; hoặc không được cấp tiêu chuẩn xà phòng hàng tháng; hoặc tiêu chuẩn này bị ai đó tham nhũng mất. Tại lagpunkt Dizelny ở Kolyma, trong những ngày đi tắm người ta “cấp cho mỗi tù một mẩu xà phòng và một gáo to nước ấm. Họ trút năm hay sáu gáo nước ấy vào một cái bồn và thế là đủ vừa để tắm vừa để giặt cho năm hoặc sáu người”. Tại lagpunkt Sopka, “nước được chở đến, giống như các chuyến hàng khác, theo những tuyến đường bộ và đường sắt chật hẹp. Vào mùa đông họ lấy nước từ tuyết, mặc dù ở đó không có nhiều tuyết bởi gió thường thổi tuyết đi xa… Đám công nhân trở về từ hầm mỏ khắp người đầy bụi, nhưng không có chậu để cho họ tắm.[320]

Thường xuyên, lính gác phải phát chán vì việc tắm rửa cho tù, và chỉ cho phép họ vài phút sử dụng nhà tắm, miễn là cho đủ nghi thức.[321] Tại một lagpunkt của Siblag năm 1941, một thanh tra đã giận dữ phát hiện ra “tù không được tắm trong hai tháng”, chỉ đơn giản là do lính gác không quan tâm.[322] Còn tại những trại tệ nhất, sự thờ ơ công khai với nhân tính của tù thực sự khiến tắm rửa trở thành một sự hành hạ. Nhiều người mô tả sự kinh khủng của việc tắm rửa, nhưng không ai rõ ràng như, lại một lần nữa, là Shalamov, người dành cả một truyện ngắn để kể về nỗi khiếp sợ của nhà tắm ở Kolyma. Mặc dù đã kiệt sức, tù phải chờ hàng giờ liền để đến lượt mình: “Khu nhà tắm được bố trí sử dụng cả trước lẫn sau khi làm việc. Sau nhiều giờ làm việc trong cái lạnh (và cũng không dễ dàng hơn vào mùa hè) khi tất cả suy nghĩ và hy vọng chỉ còn tập trung vào khao khát về được cái giường của mình và ăn uống sao cho ngủ thiếp đi ngay lập tức, sự chậm trễ ở nhà tắm quả là gần như không chịu đựng nổi”.

Trước hết, đám zek phải đứng sắp hàng ngoài trời giữa giá rét; sau đó họ bị lùa vào phòng thay đồ chen chúc người, xây cho mười lăm người nhưng phải chứa đến cả trăm. Tất cả trong lúc đó biết rằng lán ở của họ đang được lau dọn và lục soát. Đồ đạc nghèo nàn của họ, bao gồm bát đĩa rách và giẻ quấn chân, bị quẳng ra ngoài tuyết:

Có một đặc điểm của con người, dù anh ta có là kẻ ăn mày hay người đoạt giải Nobel đi chăng nữa, anh ta cũng mau chóng dành dụm những thứ lặt vặt. Người tù cũng không có gì khác. Xét cho cùng, anh ta là một người lao động và cần cây kim sợi chỉ để may vá, và có lẽ cần thêm cả cái bát nữa. Tất cả những thứ ấy bị quăng ra và chất đống trở lại sau mỗi buổi đi tắm, trừ khi nó bị chôn vùi đâu đó sâu trong đám tuyết.

Đến khi ở trong nhà tắm, thường là có quá ít nước đến nỗi không thể tắm sạch được. Tù được phát “một cái chậu gỗ chứa nước không quá nóng… không có thêm nước và có tiền cũng không mua được”. Trong nhà tắm cũng không được ấm: “Cảm giác lạnh tăng lên bởi hàng ngàn cơn gió lùa vào từ dưới cửa đi và từ các khe hở. Nhà tắm không được ấm hoàn toàn; chúng có nhiều khe hở trên tường”. Bên trong, cũng có “tiếng ồn ào liên hồi cộng với hơi khói, sự chen chúc và la hét; thậm chí còn thành ra lối nói phổ biến: ‘la hét như khi đang ở nhà tắm’ ”.[323]

Thomas Sgovio cũng mô tả cảnh địa ngục ấy, viết rằng tù ở Kolyma đôi khi phải bị đánh để bắt họ vào nhà tắm:

Phải chờ bên ngoài giữa giá rét để cho người bên trong ra ngoài – sau đó vào phòng thay đồ cũng rất lạnh – quá trình khử trùng và xông khói bắt buộc là nơi chúng tôi phải vứt mớ giẻ rách của mình thành một đống – không bao giờ ta được nhận lại món đồ cũ của mình – đánh nhau và chửi rủa, “đồ chó đẻ đó là áo của tao” – chọn lựa mớ đồ lót tập thể ẩm ướt đầy trứng rận giữa mỗi đường may – việc cạo lông tóc trên cơ thể bởi tay Thợ cắt tóc của trại… sau đó, khi cuối cùng đã đến lượt chúng tôi bước vào phòng tắm, chúng tôi cầm lấy một chậu tắm bằng gỗ, nhận một ca nước nóng, một ca nước lạnh và một mẩu xà phòng đen mùi ngửi muốn bệnh…[324]

Và rồi, sau khi tất cả kết thúc, cùng một quá trình nhục nhã phát quần áo lại bắt đầu lần nữa, như Shalamov viết, người luôn bị ám ảnh về chuyện đồ lót: “Sau khi tắm rửa xong, mọi người tập hợp chỗ cửa sổ phía xa để bắt đầu việc phân phát đồ lót. Hết lần này đến lần khác họ tranh cãi chi tiết về món đồ lót được nhận lần trước và món đồ lót được nhận năm năm trước ở Bamlag…”[325]

Hiển nhiên, quyền được tắm tương đối thoải mái cũng trở nên xoắn xuýt mật thiết với hệ thống quyền ưu tiên. Ví dụ như tại Temlag, những người làm các công việc đặc biệt có quyền tắm thường xuyên hơn.[326] Chính công việc của người phục vụ nhà tắm, bao gồm cả việc kiếm được nước sạch và quyền cho phép hay từ chối người khác những điều kiện như vậy, luôn luôn là một trong những công việc được ham muốn nhất trong trại. Cuối cùng, mặc cho có các mệnh lệnh nghiêm khắc nhất, gay gắt nhất và quyết liệt nhất từ Moscow, sự thoải mái, vệ sinh và sức khỏe của tù hoàn toàn tùy thuộc vào ý thích và điều kiện từng địa phương.

Do đó có một khía cạnh khác của cuộc sống thường ngày bị lộn trái, biến từ một niềm vui thích đơn giản thành thứ mà Shalamov gọi là “một sự kiện tiêu cực, một gánh nặng trên cuộc đời tù ngục… một bằng chứng của việc thay đổi các giá trị vốn là phẩm chất chính mà trại truyền dẫn cho tù của chúng thấm nhuần…”[327]

 

Stolovaya

Nhà ăn

 

Nền văn học rộng lớn của Gulag bao gồm nhiều mô tả khác nhau về hệ thống trại, và phản ánh kinh nghiệm của vô số kiểu người khác nhau. Nhưng có một khía cạnh của đời sống trại luôn thống nhất từ trại này tới trại khác, từ năm này qua năm khác, từ ký ức người này qua ký ức người khác: đó là các mô tả về balanda, món súp tù phải ăn một lần hoặc đôi khi là hai lần mỗi ngày.

Tất cả các cựu tù đều nhất trí rằng mùi vị của nửa lít súp tù được chia một lần hoặc hai lần hàng ngày là khá đáng chê trách: nó lõng bõng toàn nước, và những thứ bên trong thật đáng ngờ. Galina Levinson viết rằng nó được làm từ “một ít cải bắp và khoai tây luộc, đôi khi có một mẩu mỡ lợn, đôi khi có đầu cá trích”.[328] Barbara Armonas nhớ rằng súp được làm từ “cá hoặc phổi súc vật và một ít khoai tây”.[329] Leonid Sitko mô tả món súp là “không bao giờ có chút thịt nào trong đó”.[330]

Một tù khác nhớ rằng món súp làm từ thịt chó, do đó một trong những người làm chung với ông, một người Pháp, đã không thể ăn được: “người từ một quốc gia phương Tây không phải lúc nào cũng vượt qua được rào cản tâm lý, thậm chí kể cả khi anh ta đói”, ông kết luận.[331] Thậm chí Lazar Kogan, ông trùm Dmitlag, có lần đã than phiền rằng “Một số đầu bếp hành xử như thể họ không phải đang nấu món ăn Xôviết, mà là món cám lợn. Do có thái độ đó, thức ăn họ nấu là không phù hợp, thường là vô vị và nhạt nhẽo”.[332]

Cơn đói tuy nhiên là một động lực mạnh mẽ: món súp có thể không nuốt được trong điều kiện bình thường, nhưng ở trong trại, nơi hầu hết mọi người đều luôn đói ngấu, tù ăn chúng không cần suy nghĩ. Và cơn đói của họ cũng không phải là ngẫu nhiên: tù bị giữ cho đói, bởi vì ngoài các quy định về thời khóa biểu và không gian sống cho tù, quy định về thức ăn cho tù là công cụ quan trọng nhất của ban quản lý trại để quản lý họ.

Vì lý do đó, việc phân phát thức ăn cho tù trong trại trở thành một khoa học khá phức tạp. Khẩu phần chính xác cho từng loại tù và công nhân trại được lập từ Moscow, và thường xuyên bị thay đổi. Ban quản lý Gulag thường xuyên điều chỉnh định lượng của mình, tính đi tính lại khối lượng thực phẩm tối thiểu cần cho tù để tiếp tục làm việc được. Các mệnh lệnh mới lên danh sách các mức khẩu phần ban hành cho những chỉ huy trại với tần suất cực lớn. Những mệnh lệnh sau cùng hóa thành các văn bản dài thượt, phức tạp, viết bằng thứ ngôn ngữ quan liêu nặng nề.

Lấy ví dụ, điển hình là mệnh lệnh của Ban quản lý Gulag về khẩu phần, ban hành ngày 30/10/1944. Mệnh lệnh quy định một “sự bảo đảm” hay chỉ tiêu cơ bản dành cho hầu hết tù nhân: 550 gram bánh mì mỗi ngày, 8 gram đường, và một bộ sưu tập các thứ thực phẩm khác trên lý thuyết được dành để sử dụng cho món balanda, món súp bữa trưa, và cho món kasha, tức “món cháo”, được phát vào bữa sáng và bữa tối: 75 gram kiều mạch hoặc mì sợi, 15 gram thịt hay sản phẩm từ thịt, 55 gram cá hay sản phẩm từ cá, 10 gram mỡ, 500 gram khoai tây hoặc rau, 15 gram muối và 2 gram thứ “thay thế cho trà”.

Trong danh sách sản phẩm trên, có thêm vào một số lưu ý. Các chỉ huy trại được hướng dẫn phải giảm bớt khẩu phần bánh mì của những tù chỉ đạt được 75 phần trăm chỉ tiêu sản lượng đi 50 gram, và giảm bớt của những ai chỉ đạt 50 phần trăm sản lượng đi 100 gram. Những người làm vượt kế hoạch, mặt khác, được nhận thêm 50 gram kiều mạch, 25 gram thịt và 25 gram cá, cộng thêm những thứ khác.[333]

Để so sánh, lính gác trại năm 1942 – năm đói kém hơn nhiều trên toàn lãnh thổ Liên Xô – được nhận 700 gram bánh mì, gần nửa ký rau tươi và 75 gram thịt, cùng những thứ bổ sung đặc biệt cho những ai sống ở độ cao lớn so với mực nước biển.[334] Những tù làm việc tại các sharashka trong thời chiến thậm chí còn được cho ăn khá hơn, theo lý thuyết họ được nhận 800 gram bánh mì và 50 gram thịt so với 15 gram cho tù thường. Ngoài ra, họ được nhận 15 điếu thuốc lá một ngày, cùng với diêm quẹt.[335] Phụ nữ có thai, tù vị thành niên, tù binh chiến tranh, công nhân tự do và trẻ em sống trong trại nuôi trẻ được nhận khẩu phần nhỉnh hơn một chút.[336]

Một số trại có thử nghiệm với điều chỉnh theo hướng còn tốt hơn thế. Tháng 7/1933, Dmitlag ban hành một mệnh lệnh liệt kê các loại khẩu phần khác nhau cho những tù hoàn thành trên 79 phần trăm chỉ tiêu; 80-89 phần trăm chỉ tiêu; 90-99 phần trăm chỉ tiêu; 100-109 phần trăm chỉ tiêu; 110-124 phần trăm chỉ tiêu và từ 125 phần trăm chỉ tiêu trở lên.[337]

Như ta có thể hình dung, nhu cầu phân phối những lượng thực phẩm cụ thể ấy tới đúng người và đúng khối lượng được nhận – các khối lượng mà đôi khi khác biệt giữa ngày này với ngày kia – đòi hỏi một bộ máy quan liêu khổng lồ, và nhiều trại thấy như vậy khó mà theo kịp. Họ phải giữ toàn bộ hồ sơ đầy các hướng dẫn trong tay, liệt kê tù nhân nào trong hoàn cảnh nào được nhận cái gì. Thậm chí những lagpunkt nhỏ nhất cũng phải lưu vô số hồ sơ, liệt kê mức hoàn thành chỉ tiêu hàng ngày của từng tù nhân, và khối lượng thực phẩm được cấp căn cứ theo kết quả đó. Lấy ví dụ, tại một lagpunkt nhỏ Kedrovy Shor – một nông trang tập thể thuộc Intlag – năm 1943 tại đây có ít nhất 13 định mức khẩu phần. Viên kế toán trại – có lẽ cũng là tù nhân – phải quyết định xem mỗi người trong 1.000 tù của trại được nhận mức khẩu phần nào. Trên những trang giấy dài thượt, ông ta thoạt đầu vạch những dòng kẻ viết tay bằng bút chì, sau đó ghi vào họ tên và con số bằng bút mực, phủ kín hết trang này đến trang khác các tính toán của mình.[338]

Tại các trại lớn hơn, sự quan liêu thậm chí còn nặng nề hơn. Cựu tổng kế toán của Gulag, A. S. Narinsky, đã mô tả cách những người quản lý trại, liên quan tới việc xây dựng một trong những tuyến đường sắt miền cực bắc, đã nghĩ ra ý tưởng phân phát phiếu thực phẩm cho từng tù nhằm đảm bảo rằng họ sẽ được phát đúng khẩu phần mỗi ngày. Nhưng thậm chí cả việc phát được cái phiếu thực phẩm cũng gặp khó khăn trong một hệ thống tràn ngập việc thiếu hụt giấy kinh niên. Không tìm ra được giải pháp tốt hơn, họ liền quyết định sử dụng các vé xe buýt, vốn phải mất ba ngày mới tới nơi. Vấn đề này “thường xuyên đe dọa việc phá rối tổ chức toàn bộ hệ thống cấp dưỡng”.[339]

Vận chuyển thực phẩm vào mùa đông tới các lagpunkt xa xôi cũng là một vấn đề, đặc biệt với những trại không có lò nướng bánh riêng. “Thậm chí bánh mì mới còn nóng ấm”, Narinsky viết, “khi vận chuyển trong một toa tàu kín suốt 400 km dưới nhiệt độ âm 50 độ thì tới nơi đã giá cứng đến nỗi không chỉ con người không thể tiêu hóa được, mà đến dùng làm củi đốt cũng không được”.[340] Mặc dù có sự phân phát các chỉ dẫn phức tạp để cất trữ số rau quả và khoai tây hiếm hoi tại miền bắc vào mùa đông, phần lớn chúng bị đông giá và trở nên không ăn được. Vào mùa hè, trái lại, thịt và cá hư thối, cùng một số thực phẩm khác bị hỏng. Các nhà kho quản lý kém bị hỏa hoạn cháy trụi, hoặc là lúc nhúc đầy chuột.[341]

Nhiều trại tự lập ra cho riêng mình các kolkhoz – tức những nông trang tập thể, hoặc là các lagpunkt chăn nuôi gia súc lấy sữa, nhưng chúng thường hoạt động kém hiệu quả. Một báo cáo về một kolkhoz của trại đã liệt kê ra, bên cạnh các vấn đề khác, việc thiếu hụt nhân sự kỹ thuật có kiến thức, thiếu bộ phận dự trữ cho máy kéo, thiếu một cái chuồng nuôi gia súc lấy sữa và thiếu sự chuẩn bị cho mùa thu hoạch.[342]

Hậu quả là tù hầu như luôn thiếu vitamin, thậm chí cả khi họ không thực sự bị đói, là một vấn đề mà các quan chức quản lý trại không ít thì nhiều rất quan tâm. Do hiện thời thiếu các viên vitamin, nhiều tù buộc phải uống khvoya, một chất lên men mùi vị ghê tởm làm từ lá thông và có tác dụng rất đáng ngờ.[343] Để so sánh, tiêu chuẩn của “các sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang” cho thấy quy định có vitamin C và hoa quả khô để bù lại việc thiếu vitamin trong khẩu phần thường lệ. Cấp tướng và đô đốc ngoài ra chính thức có thể được nhận pho mát, trứng cá, cá hộp và trứng.[344]

Thậm chí cả chính quá trình phân phát súp, dù có hay không có vitamin, cũng gặp khó khăn trong cái lạnh mùa đông miền cực bắc, đặc biệt nếu phát vào buổi trưa tại ngay công trường. Năm 1939, một bác sĩ Kolyma có viết một than phiền chính thức gửi lên chỉ huy trại, nêu ra rằng tù bị bắt phải ăn ở ngoài trời, thức ăn bị đông cứng ngay khi đang ăn.[345] Đông đúc quá cũng gây khó khăn cho việc phân phát thức ăn: một tù nhớ lại rằng tại lagpunkt gần mỏ Maldyak ở Magadan, chỉ có một cửa sổ phát thức ăn cho hơn 700 con người.[346]

Cung cấp thức ăn cũng bị cản trở bởi các sự kiện bên ngoài trại: lấy ví dụ, trong Thế Chiến thứ II nó thường bị ngưng trệ. Những năm tồi tệ nhất là năm 1942 và 1943, khi phần lớn miền tây Liên Xô bị quân Đức chiếm giữ, và hầu hết phần còn lại của đất nước phải tập trung chống lại chúng. Nạn đói hoành hành khắp đất nước – và Gulag không thuộc ưu tiên cao. Valdimir Petrov, một tù ở Kolyma, đã nhớ lại khoảng thời gian năm ngày không có chút thực phẩm nào được vận chuyển đến trại: “một nạn đói thực sự diễn ra ở khu mỏ. Năm ngàn người không có một mẩu bánh mì”.

Dao và bát đĩa cũng thường xuyên thiếu. Vẫn là Petrov đã viết rằng “súp vẫn còn ấm khi được phát nhưng sẽ sớm đóng một lớp băng trong khi người ấy đứng chờ chiếc thìa của người khác ăn xong. Điều này có lẽ giải thích tại sao phần lớn mọi người thích ăn không cần thìa”.[347] Một tù khác tin rằng bà sống sót được vì đã “đổi bánh mì lấy cái bát tráng men nửa lít… Nếu có bát riêng, ta sẽ được nhận phần tốt nhất –mỡ màng luôn nổi trên bề mặt. Những người khác phải chờ tới khi bát của ta ăn xong. Ta ăn, sau đó đưa nó cho người khác, người này lại chuyền cho người khác nữa…”[348]

22

“Nếu có bát riêng, ta sẽ được nhận phần tốt nhất”

Những tù khác tự làm lấy bát và thìa nĩa cho mình từ gỗ. Bảo tàng nhỏ bé tại trụ sở Lưu trữ Ký ức ở Moscow trưng bày một số các đồ vật kỳ lạ đáng xúc động ấy.[349] Như mọi khi, ban quản lý trung ương của Gulag hoàn toàn ý thức được các thiếu sót ấy và thường là cố gắng làm điều gì đó để cải thiện chúng: chính quyền có thời điểm đã khen ngợi một trại vì biết sử dụng khéo léo số vỏ đồ hộp sắt tây còn thừa cho chính mục đích ấy.[350] Nhưng thậm chí khi thìa nĩa và bát chén đã có thì thường cũng không có cách để rửa chúng: một mệnh lệnh của Dmitlag đã “thẳng thừng” cấm các đầu bếp trại phát thức ăn vào các bát đĩa bẩn.[351]

Bởi tất cả các lý do nêu trên, quy định về khẩu phần ban hành tại Moscow – đã được tính toán từ mức tối thiểu cần thiết để có thể tồn tại – không phải là chỉ dẫn đáng tin cậy về những gì tù thực sự được ăn. Hoặc chúng ta cũng không nên chỉ dựa vào các ký ức của tù để cho rằng tù trong trại Xôviết luôn luôn đói khát. Bản thân Gulag có tiến hành thanh tra định kỳ các trại của mình và lưu trữ hồ sơ về những gì tù thực sự được ăn, cũng như phản đối về những gì họ được cho ăn. Một lần nữa, lỗ hổng kỳ quặc giữa bản danh sách rành mạch những khẩu phần được lập ra ở Moscow với các báo cáo thanh tra lại khiến ta phải giật mình.

Lấy ví dụ, cuộc điều tra tổ hợp trại Volgostroi năm 1942 ghi nhận rằng tại một lagpunkt, nơi có tám mươi ca bị bệnh viêm da pellagra, một căn bệnh do thiếu dinh dưỡng: “mọi người đang chết dần vì đói”, báo cáo thẳng thừng nhấn mạnh. Tại Siblag, một tổ hợp trại lớn miền tây Siberi, một phó ủy viên công tố Liên Xô đã phát hiện ra trong quý một của năm 1941, định mức thực phẩm đã bị “vi phạm có hệ thống: thịt, cá và chất béo rất hiếm khi được phân phối… khẩu phần đường hoàn toàn không được cấp”. Tại vùng Sverdlovsk năm 1942, thực phẩm trong trại bao gồm “không có chất béo, không cá hay thịt, và thường xuyên không có rau”. Tại Vyatlag năm 1942, “thực phẩm trong tháng Bảy rất tồi tệ, gần như không thể nuốt nổi và rất thiếu vitamin. Điều này là do thiếu chất béo, thịt, cá, khoai tây… tất cả thức ăn chỉ toàn là sản phẩm bột mì và ngũ cốc”.[352]

Dường như một số tù nhân bị giảm bớt khẩu phần vì trại đã không nhận được đủ tiêu chuẩn. Đó là một vấn đề thường trực: tại Kedrovy Shor, kế toán của lagpunkt giữ lại một danh sách tất cả các thực phẩm có thể thay thế cho những gì đáng ra tù được nhận nhưng đã không được cung cấp. Chúng không chỉ bao gồm pho mát thay thế cho sữa, mà cả bánh khô để thay bánh mì, nấm rừng để thay thịt và dâu rừng thay cho đường.[353] Chẳng có gì ngạc nhiên, kết quả là chế độ ăn uống khiêng khem của tù trông rất khác so với những gì viết trên giấy tờ tại Moscow. Một cuộc thanh tra tổ hợp trại Birlag năm 1940 xác định rằng “toàn bộ bữa trưa cho các lao động zek chỉ có nước cộng thêm 130 gram ngũ cốc, và món thứ hai là khoảng 100 gram bánh mì đen. Bữa sáng và bữa tối là hâm lại cũng một món súp ấy”. Qua trao đổi với đầu bếp trại, viên thanh tra cũng được cho biết rằng “khẩu phần lý thuyết không bao giờ được thực hiện đủ”, và rằng cá, thịt, rau hay chất béo không hề được chuyển tới. Báo cáo kết luận rằng khu trại “không có tiền để mua thực phẩm hay quần áo… và không có tiền thì chẳng ai trong cơ quan cung ứng muốn hợp tác cùng”. Kết quả là có hơn 500 ca scoócbuýt do thiếu vitamin đã được báo cáo.[354]

Tuy nhiên, thực phẩm tới trại cũng thường xuyên bị ăn cắp ngay lập tức. Trộm cắp có mặt ở mọi cấp độ. Thông thường, thực phẩm bị đánh cắp trong khi đang được soạn chia bởi những người làm việc trong nhà bếp hoặc kho thực phẩm. Vì lý do đấy, tù tìm kiếm các công việc cho phép họ tiếp cận với thực phẩm – nấu ăn, rửa bát, làm việc trong nhà kho – để có thể ăn cắp được. Evgeniya Ginzburg có lần được “cứu” nhờ công việc rửa chén bát trong nhà ăn nam. Bà không chỉ có thể ăn “nước hầm thịt thực sự và món hoành thánh tuyệt vời rán trong dầu hướng dương”, mà còn nhận thấy các tù khác tỏ ra rất khúm núm trước mặt bà. Khi nói chuyện với bà, giọng đám đàn ông trở nên run sợ, “là một pha trộn của sự ghen tỵ sâu sắc và khúm núm tôn thờ đối với bất cứ ai có được một vị trí cao quý đến như vậy – ‘ở nơi có thức ăn!’ ”.[355]

Thậm chí công việc thu hoạch vụ mùa tại các nông trang của trại hoặc gọt vỏ khoai tây cũng là rất đáng thèm muốn, và tù phải đút lót để có được chúng, đơn giản để có vị trí có thể ăn cắp được thực phẩm. Sau này trong trại, Ginzburg cũng làm công việc chăn nuôi bầy gà thịt phục vụ các ông trùm trại. Bà và người làm chung hoàn toàn tận dụng được ưu thế công việc của mình: “chúng tôi nhào món bột trong trại với chỗ dầu gan cá ‘mượn tạm’ từ lũ gà. Chúng tôi nấu món cháo bột yến mạch. Chúng tôi cũng chén chung với nhau mỗi ngày ba quả trứng – một cho vào súp, và mỗi người hút sống một quả với sự thích thú ngon miệng đặc biệt. (Chúng tôi không lấy thêm vì không dám giảm bớt sản lượng trứng khiến có thể ảnh hưởng tới công việc của mình)”.[356]

Trộm cắp cũng xuất hiện ở quy mô lớn hơn, đặc biệt trong các thị trấn dân cư trại ở miền viễn bắc, nơi thiếu thốn thực phẩm cho cả công nhân tự do và lính gác trại lẫn cho tù khiến nó quá giá trị để mọi người phải ăn cắp. Trại nào cũng lập báo cáo hàng năm về tài sản bị mất mát. Những báo cáo từ lagpunkt Kedrovy Shor cho thấy mất mát hàng hóa và tiền bạc vượt hơn 20,000 rúp trong chỉ riêng quý tư của năm 1944.[357]

Ở tầm mức quốc gia, con số còn cao hơn nhiều. Ví dụ như, một báo cáo của văn phòng ủy viên công tố đã liệt kê nhiều vụ đánh cắp, trong đó có vụ ở Vyatlag, nơi mười hai người, bao gồm cả viên quản lý nhà kho của trại, đã tự hỗ trợ mình bằng số lương thực và rau củ giá trị tới 170.000 rúp. Một báo cáo khác cùng năm đó đã tính toán rằng chỉ riêng trong ba mươi tư trại được điều tra quý hai năm 1946, có tổng cộng 70.000 ký bánh mì bị mất cắp, cùng với 132.000 ký khoai tây và 17.000 ký thịt. Thanh tra viên viết báo cáo đã kết luận rằng “hệ thống cấp dưỡng cho tù nhân quá phức tạp đã tạo điều kiện dễ dàng ăn cắp bánh mì và các nhu yếu phẩm khác”. Ông này cũng quy trách nhiệm cho “hệ thống cấp dưỡng cho công nhân tự do bằng phiếu thực phẩm”, cũng như cho đội ngũ thanh tra nội bộ của trại mà cán bộ của nó cũng rất tích cực tham nhũng.[358]

Trong một vài vụ hệ thống thanh tra đã có gây được ảnh hưởng: tại một số trại, do sợ rắc rối, đã có cố gắng thực hiện ít nhất là về hình thức nếu như không phải là nội dung của quy định. Lấy ví dụ, một tù trại đã được nhận nửa cốc đường cuối mỗi tháng, và anh ta ăn sống bằng hết. Đó là cách mà ông trùm trại của anh ta đảm bảo cho tù nhận được đủ số lượng do bộ máy quan liêu ở Moscow quy định. Anh ta và bạn tù của mình đã mừng dịp này như một “Ngày xơi đường”.[359]

Rốt cục, không phải tù nào cũng đói. Bởi vì thậm chí nếu hầu hết các loại thực phẩm đều biến mất trước khi rơi vào nồi súp thì một thứ thực phẩm chủ yếu vẫn luôn có sẵn: bánh mì. Giống như súp, bánh mì của Gulag từng được mô tả nhiều lần. Đôi khi nó được nhớ tới như một thứ đồ nướng dở ẹt: một tù nhớ rằng nó cứng đến nỗi “giống như ăn gạch”, và nhỏ đến nỗi có thể ngoạm hết “trong hai miếng”.[360] Một người khác viết rằng nó “đúng là bánh mì ‘đen’ bởi vì bột cám bên trong khiến bánh có màu đen và làm thớ bánh thô dai”.[361] Ông cũng ghi nhận rằng bột được trộn với rất nhiều nước, khiến bánh “ướt và nặng hơn, nên trong thực tế chúng tôi nhận được ít hơn 700 gram quy định”.

Những người khác nhớ rằng tù đã giành giật nhau để có được phần đầu mẩu ổ bánh khô và ít nước hơn.[362] Trong truyện ngắn “Rượu từ quả anh đào” của Shalamov, một mô tả hư cấu về cái chết của Osip Mandelstam, cái chết đang tới gần của nhà thơ được báo trước bởi sự thiếu quan tâm của ông với những chuyện như vậy: “Anh không còn dài cổ tìm kiếm đầu mẩu bánh mì hay gào lên khi không kiếm được chúng nữa. Anh không còn tọng bánh mì vào miệng bằng những ngón tay run rẩy nữa”.[363]

 Ở các trại đói hơn, trong những năm tháng đói kém hơn, bánh mì chiếm một vị trí gần như thiêng liêng, và một nghi thức đặc biệt hình thành xung quanh cách ăn nó. Lấy ví dụ, trong khi bọn trộm cướp trong trại ăn trộm hầu như mọi thứ mà không cần do dự, việc trộm bánh mì được xem là vô cùng ghê tởm tàn ác và không thể tha thứ. Vladimir Petrov nhận thấy trên chuyến đi tàu hỏa dài ngày tới Kolyma rằng “trộm cắp được cho phép và có thể áp dụng với mọi thứ trong điều kiện khả năng và vận may của tên trộm, nhưng có một ngoại lệ – đó là bánh mì. Bánh mì là thiêng liêng và không thể xâm phạm, bất kể mọi khác biệt trong cộng đồng cư dân của toa tàu”. Petrov trong thực tế được chọn làm starosa của toa, và với khả năng ấy được phép nện nhừ tử một tên trộm vặt dám ăn cắp bánh mì. Ông đã làm việc ấy một cách thích đáng.[364] Thomas Sgovio cũng viết rằng luật bất thành văn của bọn tội phạm trong trại ở Kolyma là: “Ăn cắp mọi thứ – ngoại trừ khẩu phần bánh mì thiêng liêng”. Ông cũng đã “chứng kiến hơn một lần tù bị đánh tới chết do vi phạm truyền thống thiêng liêng ấy”.[365] Tương tự như vậy, Kazimierz Zarod nhớ rằng

Nếu một tên tù ăn trộm quần áo, thuốc lá hay hầu hết những thứ khác và bị phát hiện, hắn ta có thể bị bạn tù đánh đập, nhưng luật bất thành văn của trại – và tôi được nghe từ nhiều người của các trại khác rằng ở nơi nào cũng giống như vậy – đó là một tù bị bắt khi ăn cắp bánh mì của người khác sẽ bị đánh cho chết.[366]

Trong hồi ký của mình, Dmitri Panin, người bạn thân của Solzhenitsyn, đã mô tả chính xác một án tử như vậy được thực hiện như thế nào: “Bị cáo bị bắt khi đang ăn cắp bánh mì sẽ bị các tù khác ném lên trời cho rơi thẳng xuống đất; việc này được lặp lại nhiều lần khiến thận của hắn ta dập nát. Sau đó họ lôi hắn ta vứt ra khỏi lán như một cái xác chết”.

Panin, giống như nhiều tù trại khác từng trải qua những năm tháng chiến tranh, cũng viết rất hùng hồn về các nghi thức riêng tư mà một số tù thực hiện khi ăn bánh mì. Nếu tù được nhận bánh mì chỉ một lần mỗi ngày vào buổi sáng, họ sẽ phải đối mặt với một quyết định khổ sở: ăn hết ngay một lúc, hay để dành một phần cho buổi chiều. Để dành bánh mì có nguy cơ đánh mất hay bị ăn cắp mất một phần tư ổ bánh quý giá. Mặt khác, mẩu bánh mì đó là thứ mà ta cứ dòm ngó trong suốt cả ngày. Lời nhắc nhở của Panin đối với cách sau cùng có lẽ là một chứng thực độc đáo cho khoa học nghiên cứu cách tránh né cơn đói:

Khi ta nhận được khẩu phần, ta phải vượt qua ham muốn để kéo dài niềm khoan khoái khi ăn nó, cắt bánh thành các mẩu nhỏ đều nhau, vân vê vụn bánh thành mấy viên tròn be bé. Bằng cái que và sợi dây ta chế thành chiếc cân để cân cho từng miếng. Nhờ cách ấy ta cố gắng kéo dài được việc ăn trong ba giờ hoặc lâu hơn. Nhưng điều này cũng tương đương với tự sát!

Chưa bao giờ có ai mất lâu hơn nửa tiếng để ăn hết phần bánh. Mỗi miếng cắn được nhai thật kỹ, để giúp dạ dày tiêu hóa nó càng dễ càng tốt sao cho nó đem lại cho cơ thể lượng năng lượng tối đa… nếu ta luôn chia phần bánh ra và để dành một phần cho buổi chiều, thế là ta sẽ tiêu. Hãy ăn hết khi ta ngồi xuống; mặt khác, nếu ta ngấu nghiến nó quá nhanh, như những người bị đói thường làm trong điều kiện bình thường, ta sẽ tự rút ngắn đời mình…[367]

Tuy nhiên, đám zek không phải là những cư dân duy nhất của Liên Xô bị ám ảnh bởi bánh mì và có nhiều cách để ăn nó. Cho đến ngày nay, một người Nga quen với tác giả từ chối ăn mọi loại bánh mì nâu, bởi vì khi còn nhỏ vào thời chiến tranh ở Kazakhstan, ông ta đã không ăn thứ gì khác. Còn Susanna Pechora, tù tại Minlag vào thập niên 1950, có lần nghe lỏm được cuộc nói chuyện về bánh mì trại giữa hai nữ nông dân Nga, cũng là tù nhân – những phụ nữ từng hiểu rõ cuộc đời sẽ ra sao nếu không có bánh mì trại:

Một người trong bọn họ cầm lấy mẩu bánh mì và vuốt ve nó. “Ôi, khlebushka của tôi” (một tên gọi âu yếm, có nghĩa là “bánh mì bé nhỏ”, giống như khi ta gọi một đứa trẻ), bà ấy nói đầy vẻ biết ơn, “người ta đem mày cho chúng ta mỗi ngày”. Người kia nói, “Mình có thể sấy khô nó và đem cho bọn trẻ con, chúng lúc nào cũng đói. Nhưng tôi không nghĩ bố mẹ chúng cho phép chúng ta làm thế…”[368]

Sau đó, Pechora cho tác giả hay rằng, bà sẽ suy nghĩ cẩn thận mỗi khi muốn than phiền về việc thiếu thực phẩm trong trại.

 

11. Lao động trong Trại

 

Kẻ nào ốm là đồ vô dụng

Bởi quá yếu xuống mỏ được đâu

Nên hạ cấp hắn, chuyển hắn đi

Tới trại nào chế độ tệ nhất

Đi mà đốn gỗ rừng Kolyma.

Viết ra giấy nghe thật đơn giản.

Nhưng làm sao tôi có thể quên

Chuỗi xe trượt lướt nhanh trên tuyết

Với đoàn người bám lấy ách cương.

Lồng ngực hóp, họ kéo xe trượt.

Không được phép dừng để nghỉ ngơi,

Không được phép ngã trên sườn dốc…

Chiếc xe nặng tiếp tục xuống đèo

Và sẵn sàng bất cứ lúc nào

Lôi tuột họ, nghiền nát chân họ…

Ai chưa thấy giống ngựa ấy ngã?

Không phải tôi, kẻ thấy họ bám lấy ách cương…

– Elena Vladimirova, “Kolyma”

 

Rabochaya Zona

Nơi lao động

 

Lao động là chức năng trung tâm của hầu hết các trại Xôviết. Đó là công việc chính của tù, và là mối bận tâm chính của ban quản lý. Đời sống hàng ngày được tổ chức tập trung xung quanh công tác lao động, và phúc lợi của tù tùy thuộc vào kết quả lao động của họ. Tuy nhiên, rất khó để khái quát hóa xem lao động trong trại như thế nào: hình ảnh đám tù đang dùng cuốc chim đào vàng hay đào than giữa cơn bão tuyết chỉ là khuôn sáo. Có rất nhiều tù như vậy – đến hàng triệu người, như các con số của các trại ở Kolyma và Vorkuta cho thấy – nhưng giờ đây chúng ta cũng biết, vẫn có những trại ở trung tâm Moscow nơi tù ngồi thiết kế máy bay, các trại ở miền trung nước Nga nơi tù xây dựng và điều hành lò phản ứng hạt nhân, những trại đánh cá ở bờ biển Thái Bình Dương, các trại nông trang tập thể ở miền nam Uzbekistan. Hồ sơ lưu trữ về Gulag ở Moscow đầy ắp những bức ảnh chụp cảnh tù đứng cạnh lũ lạc đà.[369]

Không nghi ngờ gì nữa, phạm vi hoạt động kinh tế bên trong Gulag cũng rộng khắp như phạm vi hoạt động kinh tế trên khắp bản thân nước Nga. Liếc qua cuốn Cẩm nang về Hệ thống Trại Lao động-Cải tạo tại Liên Xô, một liệt kê toàn diện nhất về các tổ hợp trại tính cho tới nay, cho ta thấy sự tồn tại của các tổ hợp trại tổ chức xung quanh những mỏ vàng, mỏ than đá, mỏ nickel; các công trường xây dựng đường quốc lộ hoặc đường sắt; những nhà máy sản xuất vũ khí, xưởng hóa học, nhà máy luyện kim, nhà máy điện; các công trình sân bay, khu nhà chung cư, hệ thống cống ngầm; bãi đào than bùn, hạ đốn gỗ và đóng hộp cá.[370] Bản thân những người quản lý hệ thống Gulag cũng lưu trữ một album ảnh chụp dành riêng cho các sản phẩm do tù làm ra. Ngoài những thứ khác, còn có các bức ảnh về đạn cối, tên lửa và những trang thiết bị quân sự khác; các bộ phận của xe hơi, khóa cửa, khuy áo; những súc gỗ đẩy trôi xuôi dòng sông; đồ nội thất bằng gỗ, bao gồm có ghế, tủ đứng nhiều ngăn, buồng điện thoại và thùng phuy; giầy, giỏ đựng và hàng dệt (có đính kèm mẫu vải); thảm, đồ da, mũ lông, áo khoác lông cừu; cốc thủy tinh, đèn bàn và bình lọ; xà phòng và nến; thậm chí cả đồ chơi – những xe tăng bằng gỗ, cối xay gió bé tí và con thỏ máy đang gõ trống.[371]

Lao động khác biệt giữa mỗi trại với nhau cũng như bên trong từng trại. Thật vậy, nhiều tù nhân tại các trại lâm nghiệp không làm gì khác ngoài đốn gỗ. Tù chịu án ba năm hoặc ít hơn làm việc trong các “phân khu lao động cải tạo”, tức những trại có chế độ nhẹ nhàng thường được tổ chức xung quanh một xí nghiệp hay một khu đơn lẻ. Các tổ hợp trại Gulag rộng hơn, trái lại, có thể chứa nhiều ngành công nghiệp: khai mỏ, một xí nghiệp làm gạch và một nhà máy điện, cũng như các công trường xây dựng nhà ở hay đường sá. Trong những trại như vậy, tù bốc dỡ các đoàn tàu chở nhu yếu phẩm hàng ngày, lái xe tải, thu hoạch rau, làm việc trong nhà bếp, bệnh viện và nhà nuôi trẻ. Một cách không chính thức, tù cũng làm người hầu, bảo mẫu và thợ may cho các chỉ huy trại, lính gác và vợ con họ.

Tù chịu án dài thường trải qua nhiều loại công việc khác nhau, thường xuyên thay đổi việc làm mỗi khi vận may lên hay xuống. Trong gần hai thập kỷ làm việc trong trại, Evgeniya Ginzburg đã làm việc đốn gỗ, đào hào, lau dọn nhà khách của trại, rửa đĩa bát, nuôi gà, giặt giũ cho các bà vợ của chỉ huy trại và chăm sóc con cái tù nhân. Cuối cùng, bà trở thành một người trông trẻ.[372] Trong mười một năm ở trại, Leonid Sitko, một tù chính trị khác, đã làm thợ hàn, thợ xây đá trong một mỏ đá, làm thợ xây dựng trong một đội xây dựng, làm thợ khuân vác tại một kho đường sắt, làm thợ khai mỏ than đá và làm thợ mộc tại một xí nghiệp đồ gỗ sản xuất bàn ghế và giá sách.[373]

Nhưng mặc dù nghề nghiệp có thể khác biệt bên trong hệ thống trại giống như tại thế giới bên ngoài, lao động tù thường phân chia thành hai loại: những người thuộc obshchie raboty – “lao động phổ thông” – và pridurki, một từ thường được dịch là “tù được tin cẩn”. Loại thứ hai, như chúng ta sẽ xem, được có vị trí của một đẳng cấp riêng. Lao động phổ thông, số phận dành cho phần rất đông tù nhân, là đúng như tên gọi của nó: lao động thể xác vất vả không cần chuyên môn. “Mùa đông đầu tiên trong trại năm 1949-1950 đặc biệt khó khăn đối với tôi”, Isaak Filshtinsky viết. “Tôi không có nghề nghiệp nào để có thể hữu dụng trong trại, nên buộc phải đi từ nơi này đến nơi khác, làm nhiều loại lao động phổ thông khác nhau, phải cưa, khuân vác, kéo, đẩy, v.v. – nói cách khác là đi tới bất cứ đâu mà tay quản lý phân công lao động muốn đưa tôi tới”.[374]

Với ngoại lệ dành cho những ai may mắn thuộc hàng đầu tiên của bảng phân công lao động – thường là những người từng là kỹ sư xây dựng hoặc thuộc nhóm các nghề nghiệp hữu ích khác cho trại, hoặc đã củng cố vị trí cho mình nhờ làm chỉ điểm – đa số zek bị phân làm lao động phổ thông như một lẽ tất yếu sau khi tuần lễ cách ly của họ đã chấm dứt. Họ cũng bị phân công vào các đội lao động: là một nhóm bất kỳ từ bốn tới 400 zek, không chỉ làm việc cùng nhau mà còn ăn cùng nhau và ngủ chung trong cùng lán ở. Mỗi đội lao động được chỉ huy bởi một đội trưởng, là một tù được tin cẩn, có vị trí cao, chịu trách nhiệm điều phối công việc và giám sát lao động – và đảm bảo rằng đội mình đạt được chỉ tiêu sản lượng.

Tầm quan trọng của người đội trưởng, có địa vị nằm đâu đó ở giữa tù và nhân viên quản lý trại, được chính quyền trại nhận thức rõ. Năm 1933, ông trùm của Dmitlag đã gửi một mệnh lệnh tới tất cả thuộc cấp của mình, nhắc nhở họ về nhu cầu “tìm kiếm trong số các công nhân xung kích của chúng ta những người có khả năng cần thiết cho công tác của chúng ta”, do “vị trí đội trưởng là nhân vật quan trọng nhất, nổi bật nhất tại công trường xây dựng”.[375]

Từ quan điểm của cá nhân người tù, quan hệ của anh ta với đội trưởng còn có ý nghĩa hơn cả sự quan trọng: nó có thể quyết định cuộc sống của anh ta tồi tệ hay dễ chịu – thậm chí quyết định anh ta được sống hay phải chết, như lời một tù đã viết:

Cuộc sống của bạn tùy thuộc rất nhiều vào đội lao động và người đội trưởng của bạn, lý do là bạn phải trải qua suốt cả ngày lẫn đêm cùng với họ. Khi lao động, trong nhà ăn, và khi ở trên giường tầng – luôn luôn là những khuôn mặt quen thuộc. Các thành viên đội lao động có thể làm việc tất cả cùng nhau theo nhóm, hoặc từng cá nhân riêng lẻ. Họ có thể giúp bạn sống sót, hay góp tay hủy hoại bạn. Hoặc tỏ ra thông cảm và giúp đỡ, hoặc thù địch và thờ ơ. Vai trò của đội trưởng không hề kém quan trọng chút nào. Cũng cần phải biết ông ta là ai, ông ta nghĩ gì khi nhiệm vụ và nguyên tắc của đội trưởng là: phục vụ các ông chủ của mình bằng sức lực của bạn và cho lợi ích riêng của ông ta, đối xử với thành viên trong đội của mình như lũ bộ hạ, đầy tớ, lâu la – hoặc sẽ là đồng đội của bạn trong lúc khó khăn và làm tất cả điều gì có thể để khiến các thành viên của đội sống dễ thở hơn.[376]

Một vài đội trưởng đúng là có hăm he đe dọa đám người lao động dưới tay mình. Trong ngày đầu tiên của mình ở khu mỏ Karaganda, Alexander Weissberg gần ngất xỉu vì đói và kiệt sức: “gầm lên như một con bò điên, tay đội trưởng quay về phía tôi, húc toàn bộ sức nặng thân hình mạnh khỏe của y vào tôi, ra sức đấm đá và cuối cùng cho tôi một cú trời giáng lên đầu đến nỗi tôi ngã vật xuống đất, nửa mê nửa tỉnh, khắp mình bầm tím và máu chảy đầy mặt…”[377]

Trong một số trường hợp khác, đội trưởng cho phép bản thân đội mình hoạt động như một nhóm người có tổ chức và đồng đều nhau, gây sức ép lên những tù nào dám làm việc hăng hái hơn mặc cho sau đó họ nhụt đi. Trong tiểu thuyết Một ngày trong cuộc đời của Ivan Denisovich, người anh hùng của Solzhenitsyn có một lúc đã trầm ngâm rằng một đội lao động trong trại “không giống như một đội lao động ở ngoài, nơi Ivan Ivanovich và Pyotr Petrovich mỗi người kiếm được một ít tiền công cho mình. Trong trại mọi việc được sắp đặt sao cho đám zek bị kiềm giữ cho đúng mức không chỉ bởi đám trùm trại mà cả bởi những kẻ khác trong nhóm mình. Hoặc là mọi người cùng được hưởng hoặc là cùng chết chùm với nhau”.[378]

Vernon Kress, một tù Kolyma khác, bị những người cùng đội nện nhừ tử và quát vào mặt vì không thể theo kịp công việc, cuối cùng bị đẩy vào một đội “yếu”, không có thành viên nào được nhận khẩu phần đầy đủ.[379] Yuri Zorin cũng trải qua thời gian cùng một đội lao động nặng ngay thật, gồm hầu hết là người Lithuania không thể chấp nhận có kẻ trốn việc trong nhóm mình: “Bạn không thể tưởng tượng nổi họ làm việc tự nguyện và giỏi đến thế nào đâu… nếu họ nghĩ bạn làm việc kém, bạn sẽ bị đá đít khỏi đội Lithuania ngay”.[380]

Nếu không may bạn rơi vào một đội “kém”, và bạn không thể hối lộ hay luồn lách thoát ra, bạn có thể sẽ bị đói. M. B. Mindlin, sau này là một trong những người sáng lập Hội Ký ức, có lần bị phân vào một đội lao động ở Kolyma gồm chủ yếu là người Grudia và do một đội trưởng Grudia dẫn đầu. Ông mau chóng nhận ra rằng không chỉ các thành viên trong đội sợ đội trưởng của mình ngang bằng sợ đám lính gác, mà cả do “là thằng Do Thái duy nhất trong một đội người Grudia”, ông sẽ không được ưu ái chút tẹo gì. Một hôm ông làm việc đặc biệt nỗ lực, cố gắng để được thưởng mức khẩu phần cao nhất 1.200 gram bánh mì. Tuy nhiên, gã đội trưởng đã từ chối ghi nhận chuyện này và gạt ông xuống chỉ được nhận 700 gram. Nhờ có đút lót, Mindlin đã đổi sang đội mới và được đối xử khác hẳn: người đội trưởng mới thực sự quan tâm đến các thuộc hạ của mình, thậm chí cho phép ông vài ngày đầu làm công việc nhẹ hơn, để lấy lại được sức lực: “Ai lọt vào đội của anh ta cũng nhận thấy mình may mắn và thoát khỏi tử thần”. Sau này, bản thân ông cũng trở thành một đội trưởng, nhận lấy trách nhiệm phân phát quà đút lót để đảm bảo cho mọi thành viên trong đội mình được nhận phần tốt nhất từ đám đầu bếp trại, đám chia bánh và các nhân vật quan trọng khác.[381]

Thái độ của đội trưởng là rất đáng lưu ý bởi vì, đối với hầu hết bộ phận, lao động phổ thông không được dự tính để trở thành giả tạo hay vô nghĩa. Không như trong trại của Đức, căn cứ theo một học giả nổi tiếng, lao động thường được thiết kế để “chủ yếu là một hình thức hành hạ và sỉ nhục”, tù Xôviết được hoạch định nhằm hoàn thành một số mặt của kế hoạch sản xuất của trại.[382] Đúng ra là có các ngoại lệ đối với quy định này. Vào một số thời điểm, các lính gác ngu ngốc hoặc bị ác dâm đúng là có giao cho tù những nhiệm vụ vô nghĩa. Susanna Pechora nhở lại đã bị giao việc xách các xô đất sét đi tới đi lui, “hoàn toàn là một công việc vô nghĩa”. Một trong những “ông trùm” chịu trách nhiệm về công trường chỗ bà đã nói riêng với bà, “tôi không cần lao động của cô, tôi cần cô phải chịu khốn khổ”, một cụm từ có lẽ là quen thuộc đối với những tù trên Solovetsky những năm 1920.[383] Vào những năm 1940, như chúng ta sẽ xem, còn xuất hiện một hệ thống các trại trừng phạt, mục đích của chúng không phải ưu tiên kinh tế mà là để trừng trị. Tuy nhiên, thậm chí với các trại này tù cũng được trông đợi để sản xuất ra thứ gì đó.

Trong hầu hết thời gian ở trại, tù không nhất thiết phải bị khổ sở – hay có lẽ đúng hơn là không ai quan tâm đến chuyện họ bị khổ hay không. Điều quan trọng hơn nhiều là họ có phù hợp với kế hoạch sản xuất của trại và hoàn thành chỉ tiêu sản lượng hay không. Chỉ tiêu có thể là bất cứ chuyện gì: một con số nhất định mét khối gỗ phải được đốn hạ, mét khối rãnh đất phải được đào, mét khối than đá phải được vận chuyển. Và những con số ấy được cân nhắc hết sức nghiêm túc. Khắp trại dán đầy những áp phích hô hào tù hoàn thành chỉ tiêu của mình. Toàn thể cơ cấu “văn hóa-giáo dục” của trại đều giành cho nội dung thông điệp như vậy. Phòng ăn hay quảng trường trung tâm một số trại trang trí các bảng viết khổng lồ, liệt kê từng đội lao động và mức hoàn thành chỉ tiêu mới nhất của họ.[384]

Chỉ tiêu được tính toán hết sức cẩn thận và khoa học nhờ các chuyên viên lập chỉ tiêu (normirovshchik), công việc của những người này đòi hỏi có kỹ năng rất cao. Lấy ví dụ, Jacques Rossi đã ghi nhận rằng những người xúc tuyết được phân giao các chỉ tiêu khác nhau tùy theo loại tuyết mới rơi, tuyết xốp, tuyết hơi nén, tuyết nén (cần ấn mạnh chân lên xẻng), tuyết nén chặt hay tuyết đóng băng (cần làm bằng cuốc chim). Thậm chí sau khi cân nhắc tất cả những chuyện đó, còn “cần tính đến một loạt các hệ số về khoảng cách và chiều cao chỗ tuyết cần xúc, v.v.”.[385]

Nhưng mặc dù mang tính khoa học về mặt lý thuyết, quá trình thiết lập các chỉ tiêu để thực hiện, và quyết định xem người nào đã hoàn thành được chúng, đã bị nhiễm đầy tham nhũng, trái quy tắc và bất hợp lý. Trước hết, tù thường thường được giao các chỉ tiêu tương đương với các chỉ tiêu được phân cho công nhân tự do: họ được yêu cầu phải làm được ngang với đám thợ rừng hay thợ đào mỏ chuyên nghiệp. Tuy nhiên, nhìn chung thì tù không phải là thợ rừng hay thợ đào mỏ chuyên nghiệp, và thường có rất ít khái niệm về những gì mà họ được yêu cầu phải làm. Ngoài ra, sau thời gian dài ngồi giam và chuyến đi vất vả trong các toa tàu chở gia súc không được sưởi ấm, họ thậm chí khó có được sức khỏe thể chất ở mức trung bình.

Tù càng thiếu kinh nghiệm và kiệt sức thì càng phải chịu khốn khổ vất vả. Evgeniya Ginzburg đã viết một mô tả kinh điển về hai người phụ nữ, đều là dân trí thức không quen lao động nặng, cả hai đều yếu đi sau nhiều năm ngồi tù, nay phải ráng sức đi đốn gỗ:

Trong ba ngày, Galya và tôi phải vật lộn để đạt được điều bất khả thi. Những cái cây tội nghiệp, chúng hẳn phải đau đớn lắm khi bị đôi tay chúng tôi chặt chém nham nhở. Vừa sống dở chết dở, vừa hoàn toàn không có chuyên môn, chúng tôi không có cách gì xử lý được chúng. Rìu cứ trượt đi làm văng dằm gỗ tứ tung vào mặt chúng tôi. Chúng tôi luống cuống cưa gỗ chệch lên chệch xuống, thầm nguyền rủa lẫn nhau vì vụng về – chúng tôi biết mình không đủ sức để phung phí cho chuyện cãi cọ. Hết lần này đến lần khác cưa bị kẹt. Nhưng khoảng khắc kinh hoàng nhất là khi cái cây sắp ngã, nhưng chúng tôi không biết nó sẽ đổ về phía nào. Có lần Galya bị đập trúng đầu, nhưng trợ lý y tế thậm chí còn từ chối bôi i-ốt lên chỗ rách, miệng làu bàu, “À há! Mánh này cũ rồi! Tìm cách để trốn việc ngay trong ngày đầu tiên phải không?”

Vào cuối ngày, đội trưởng tuyên bố rằng Evgeniya và Galya đã đạt được 18 phần trăm chỉ tiêu, và “trả công” cho kết quả nghèo nàn ấy như sau: “Được nhận mẩu bánh mì tương xứng với thành quả của mình, ngày hôm sau chúng tôi được dẫn tới chỗ làm mà bước chân cứ liêu xiêu vì kiệt sức”. Trong khi đó, tay đội trưởng cứ lặp đi lặp lại là hắn ta “không hề muốn vứt bỏ chỗ thực phẩm quý giá để cho lũ phản bội cứ không thể hoàn thành được chỉ tiêu”.[386]

Trong các tổ hợp trại miền viễn bắc – đặc biệt là các trại thuộc vùng Kolyma, cũng như Vorkuta và Norilsk, tất cả đều nằm trên Vòng Bắc Cực – khí hậu và địa hình càng làm tăng phần khắc nghiệt. Vào mùa hè, trái với suy nghĩ thông thường, điều kiện ở vùng Cực Bắc ấy còn khó chịu đựng hơn cả vào mùa đông. Thậm chí ở đấy, nhiệt độ có thể lên đến hơn 30 độ C. Khi tuyết tan, bề mặt vùng đài nguyên hóa thành vũng bùn, đi lại cực kỳ khó khăn và muỗi bay thành những đám mây xám xịt, kêu vo ve inh tai đến nỗi không thể nghe thấy gì xung quanh. Một tù đã nhớ lại:

Bầy muỗi chui vào trong ống tay áo, len cả vào dưới ống quần. Mặt mũi chúng tôi sưng vù vì vết đốt. Tại công trường, khi bữa trưa được đem tới, lúc chúng tôi ăn súp thì muỗi đậu kín cả bát y như món cháo kiều mạch. Chúng lao đầy vào mắt, mũi và cổ họng, vị muỗi hơi ngòn ngọt giống vị máu. Ta càng cử động và xua đuổi chúng thì chúng càng xông vào tấn công ta. Cách tốt nhất là lờ chúng đi, ăn mặc mỏng hơn và thay vì đội mũ chống muỗi thì đeo một cái vòng cổ kết bằng cỏ hay vỏ bạch dương.[387]

Tất nhiên, mùa đông ở đây thì rất, rất lạnh. Nhiệt độ có thể xuống 30, 40 hoặc 50 độ âm. Các hồi ký, thơ ca và tiểu thuyết đều cố gắng mô tả việc lao động trong giá rét như vậy ra sao. Một người viết rằng quá lạnh đến nỗi “mỗi cử động đột ngột đơn giản nhất của bàn tay trong không khí cũng gây ra tiếng sột soạt nghe rất rõ”.[388] Một người khác viết rằng vào một sáng Năm Mới nọ, ông thức dậy và nhận ra rằng mình không thể nhấc đầu lên được.

Suy nghĩ đầu tiên của tôi sau khi thức dậy là ban đêm đầu mình bị cái gì đó trói xuống tấm phản giường, nhưng khi tôi cố ngồi dậy, cái thứ mà tôi đã buộc quanh đầu và bịt tai mình trước khi đi ngủ đêm hôm qua đã bị tuột ra. Nhấc người lên đến cỡ khuỷu tay, tôi giật mạnh thứ đó ra và nhận thấy rằng nó đã bị đóng băng dính xuống tấm phản gỗ. Hơi thở của tôi và của tất cả những người trong lán lơ lửng trong không khí như khói vậy.[389]

Còn một người khác nữa viết rằng “Rất nguy hiểm nếu ngưng cử động. Khi điểm danh chúng tôi nhảy, chạy tại chỗ và đập đập vào người để giữ ấm. Tôi liên tục xoa bóp đầu ngón chân và co duỗi ngón tay thành nấm đấm… tay trần mà chạm vào một dụng cụ kim loại có thể làm rách da, còn đi vào nhà tắm thì hết sức nguy hiểm. Một cơn đau bụng ỉa chảy có thể quăng bạn nằm xuống tuyết vĩnh viễn”. Hậu quả là một số tù chỉ có cách bĩnh thẳng ra quần: “Làm việc cạnh họ thật khó chịu, và khi quay về lều, lúc người bất đầu ấm lên, mùi thối thật không thể chịu nổi. Những kẻ tự bĩnh trong quần thường bị nện một trận và quăng ra ngoài”.[390]

Rõ ràng xét theo góc độ thời tiết thì công việc của lao động phổ thông tệ hơn những việc khác. Trong các mỏ than vùng Cực Bắc, như một tù nhớ lại, không khí dưới mặt đất ấm hơn, nhưng nước lạnh buốt không ngừng nhỏ xuống mình của thợ mỏ: “Thợ mỏ biến thành một thứ cột nước đá khổng lồ, cơ thể của anh ta bị đông cứng một lúc lâu. Sau ba hoặc bốn tháng làm việc kinh khủng như vậy, tù bắt đầu bị nhiễm những bệnh nặng…”[391]

Isaak Filshtinsky cũng bị phân làm một trong những công việc mùa đông khó chịu nhất ở Kargopollag, phân loại gỗ để được chế biến. Việc này có nghĩa là đứng suốt ngày ngập trong nước, và mặc dù nước ấm – nó được bơm ra từ nhà máy điện – nhưng không khí thì không:

Bởi vì vào mùa đông năm ấy vùng Arkhangelsk duy trì một nhiệt độ băng giá ổn định âm bốn mươi tới âm bốn mươi lăm độ, một làn sương dày lơ lửng liên tục ở vũng sông phân loại gỗ. Trời đồng thời vừa rất ẩm ướt vừa rất lạnh… công việc không khó, nhưng sau ba mươi tới bốn mươi phút toàn thân bạn sẽ bị thấm và phủ đầy nước, cằm, môi và lông mày phủ đầy băng giá, băng giá thấm vào từng đốt xương, xuyên qua mớ quần áo khốn khổ của trại.[392]

Công việc tệ nhất trong mùa đông là ở trong rừng. Không chỉ bởi vì rừng taiga lạnh vào mùa đông mà còn vì thường xuyên bị các cơn bão mùa đông – được gọi là burany hay purgai – quét qua không hề báo trước. Dmitri Bystroletov, một tù ở Siblag, từng bị một cơn bão như vậy:

Từ xa xa, gió bắt đầu hú lên một cách man rợ và khủng khiếp, ép chúng tôi nằm rạp xuống đất. Tuyết bị tung lên không và mọi thứ đều biến mất – ánh đèn từ khu trại, các ngôi sao, vầng đông phương bắc – còn chúng tôi phải vương lại đơn độc trong sương mù trắng đục. Giang rộng cánh tay, vụng về vấp và trượt chân, ngã xuống rồi lại được người khác đỡ lên, chúng tôi cố gắng tìm lại đường đi càng nhanh càng tốt. Đột nhiên, một tiếng sét nổ rầm ngay trên đầu chúng tôi. Tôi vừa nắm được lấy cái gậy chống của bạn mình thì một dòng băng tuyết và đất đá cuồn cuộn tuôn xuống mặt chúng tôi. Tuyết xoáy khiến không thể thở hay nhìn thấy gì…[393]

Janusz Bardach cũng bị kẹt giữa một trận buran tại Kolyma khi đang làm việc trong mỏ khai thác đá. Cùng với cánh lính gác, ông và các bạn tù tìm đường về trại nhờ đi theo lũ chó canh, người này được buộc liền với người đằng trước bằng sợi dây thừng:

Tôi không thể nhìn thấy gì sau lưng Yuri và bám chặt vào sợi thừng như thể một đấng cứu sinh… Do những mốc địa hình quen thuộc đều biến mất, tôi không biết được chúng tôi đã đi bao xa và có thể sẽ không bao giờ tìm về được. Chân tôi hụt xuống cái gì đó mềm mềm – một người tù bị tuột mất sợi dây. “Dừng lại!” Tôi hét lên. Nhưng không ai dừng lại. Không ai nghe thấy tiếng của tôi. Tôi cúi xuống và kéo tay anh ta lên về phía sợi thừng. “Đây này!” Tôi cố gắng kéo tay anh ta tới sợi dây. “Giữ lấy!” nhưng không có kết quả. Cánh tay người ấy vật xuống đất khi tôi buông ra. Mệnh lệnh đi tiếp nghiêm khắc của Yuri đã thúc tôi bước tới…

Khi đội của Bardach quay về trại, có ba tù đã mất tích. Thông thường, “xác của những tù nhân bị lạc được tìm thấy vào mùa xuân, thường chỉ cách zona trong vòng chừng trăm mét”.[394]

Quần áo cấp cho tù theo quy định ít giúp họ chống nổi với thời tiết. Lấy ví dụ, năm 1943 ban quản lý Gulag trung ương ra lệnh rằng tù phải được nhận, ngoài những thứ khác, một áo sơmi mùa hè (dùng trong vòng hai mùa), một chiếc quần mùa hè (dùng trong vòng hai mùa), một áo khoác độn bông mùa đông (dùng trong vòng hai mùa), một quần độn bông mùa đông (dùng trong vòng mười tám tháng), ủng dạ (dùng trong vòng hai mùa) và đồ lót dự định dùng trong chín tháng.[395] Trong thực tế, thậm chí không bao giờ có đủ các loại đồ dùng ít ỏi đó. Một điều tra hai mươi ba tổ hợp trại năm 1948 báo cáo rằng việc cung cấp “quần áo, đồ lót và giày ủng không được thực hiện đúng”. Nhưng hóa ra như vậy là vẫn chưa đúng. Tại một tổ hợp trại ở Krasnoyarsk, chưa tới nửa số tù được có giày. Tại Norilsk miền viễn bắc, chỉ 75 phần trăm có ủng ấm, và chỉ 86 phần trăm có quần áo ấm. Tại Vorkuta, cũng ở miền viễn bắc, chỉ 25-30 phần trăm tù có đồ lót, trong khi chỉ 48 phần trăm có ủng ấm.[396]

Với chuyện thiếu giày thì tù có cách đối phó. Họ làm ủng từ vỏ cây bạch dương, những mẩu vải hay lốp xe cao su. Trong trường hợp khá nhất thì những thứ tạm bợ ấy cũng rất bất tiện và khó bước đi, đặc biệt trong tuyết dày. Còn tệ nhất là chúng hở nên hay dẫn tới bị giá ăn chân.[397] Elinor Lipper mô tả lại đôi ủng tự chế của mình, mà trong trại của bà gọi là “Che-Te-Ze”, viết tắt của Nhà máy Săm lốp Chelyabinsk:

Chúng làm bằng vải bao tải may độn chút bông với ống cao rộng lên đến đầu gối, bản thân đôi ủng được gia cường bằng vải dầu hoặc giả da ở phần mũi và gót. Đế ủng làm bằng ba lớp cắt vỏ xe cao su cũ. Toàn bộ được buộc vào bàn chân và túm dưới đầu gối bằng dây để tuyết không lọt vào được… sau một ngày sử dụng chúng bị vặn vẹo hoàn toàn, phần đế xộc xệch xiên xẹo theo mọi hướng. Chúng thấm nước nhanh không tưởng tượng được, đặc biệt là khi cái bao tải dùng làm ra nó vốn đã từng để đựng muối…[398]

Một tù khác mô tả một cải tiến tương tự: “Hai bên giày để trống khiến ngón chân lộ ra ở hai bên. Vải xà cạp quấn quanh ngón chân không thể thật chặt được, do đó làm ngón chân phơi ra trước giá tuyết”. Hậu quả của việc đi những chiếc giày đó là ông này cuối cùng đã bị giá ăn – điều mà theo ông chính nó đã cứu sống mạng ông, do ông không còn có khả năng làm việc được nữa.[399]

Các tù khác nhau có những giải pháp khác nhau đối phó với cái lạnh. Ví dụ như, để hồi phục sau giá rét vào cuối ngày, một số tù thường ùa vào trong lán sau khi làm việc và túm tụm quanh lò sưởi, gần đến nỗi đôi khi quần áo của họ bắt lửa: “Cái mùi ghê tởm của giẻ rách cháy khét bốc lên chọc vào hai lỗ mũi bạn”.[400] Những người khác lại cho như vậy là không khôn ngoan. Isaak Filshtinsky được các bạn tù có kinh nghiệm chỉ cho rằng tụ tập xung quanh lò sưởi hay đống lửa trại là rất nguy hiểm, do sự thay đổi nhiệt độ đột ngột dễ gây ra viêm phổi: “Cơ thể con người được cấu tạo sao cho bất kể nhiệt độ lạnh ra sao, cơ thể vẫn điều chỉnh và làm quen được với nó. Tôi luôn luôn tuân theo quy tắc khôn ngoan này trong trại và không bao giờ bị nhiễm lạnh”.[401]

Chính quyền trại được cho phép có vài nhượng bộ khi quá lạnh. Theo quy định, tù ở những trại nhất định miền bắc được nhận khẩu phần bổ sung. Nhưng các phần này, dựa theo các tài liệu năm 1944, cũng chỉ là thêm 50 gram bánh mì mỗi ngày – chỉ được vài miếng – khó mà đủ để bù lại cái lạnh cực độ.[402] Theo lý thuyết, những khi trời quá lạnh hay có bão tuyết, tù hoàn toàn không phải đi làm. Vladimir Petrov tuyến bố rằng dưới triều đại Berzin ở Kolyma, tù ngưng làm việc khi nhiệt độ xuống tới âm 50 độ. Mùa đông 1938-1939, sau khi Berzin bị hạ bệ, nhiệt độ phải xuống âm 60 độ tù mới không phải làm việc. Thậm chí quy định này không phải lúc nào cũng được tôn trọng triệt để, theo như Petrov viết, do nhân vật duy nhất ở mỏ vàng được giữ cái nhiệt kế là chỉ huy trại. Kết quả là “chỉ có ba ngày trong mùa đông 1938-1939 được xét là ngày không làm việc do nhiệt độ xuống thấp, so với mười lăm ngày của mùa đông 1937-1938”.[403]

Hồi ký của Kazimierz Zarod ghi nhận nhiệt độ tới hạn ở trại của ông trong Thế chiến thứ II là âm 45 độ, và nhớ lại rằng có một lần đội đốn gỗ của ông được cho quay về trại giữa ban ngày, do nhiệt kế đã xuống âm 47 độ: “Chúng tôi nhanh nhẹn thu dọn dụng cụ, xếp hành đội hình và quay về trại”.[404] Bardach nhớ lại rằng trong những năm chiến tranh ở Kolyma, quy định là âm 50 độ, “mặc dù các cơn gió buốt không bao giờ được cân nhắc đến”.[405]

Nhưng thời tiết không phải là cản trở chính với việc hoàn thành chỉ tiêu. Tại rất nhiều trại, chỉ tiêu được xác định thực sự ở mức rất cao. Một phần đấy là tác động phụ bởi lô gích của kế hoạch trung ương, vốn yêu cầu rằng các đơn vị sản xuất hàng năm đều phải gia tăng sản lượng. Elinor Olitskaya nhớ rằng bạn tù của bà đã phải vật lộn để hoàn thành chỉ tiêu tại một trại phụ trách xí nghiệp may, mong giữ được công việc ấm áp trong nhà của họ. Nhưng bởi vì họ đã hoàn thành được chỉ tiêu, ban quản lý trại lại gia tăng định mức, kết quả là chúng trở nên không tài nào đạt được.[406]

Chỉ tiêu cũng tăng đều bởi vì tù và chuyên viên lập chỉ tiêu cùng nói dối, khai quá khối lượng công việc đã làm được và có thể làm được. Kết quả là chỉ tiêu sản lượng đôi khi trở nên lớn quá mức theo thời gian. Alexander Weissberg nhớ lại rằng thậm chí với những công việc vẫn được xem là dễ thở hơn, chỉ tiêu định mức cũng cao không thể tưởng: “Có vẻ mọi người đều phải đối mặt với một nhiệm vụ hầu như không thể hoàn thành được. Hai người đàn ông chịu trách nhiệm giặt giũ phải giặt số quần áo của 800 người chỉ trong vòng 10 ngày”.[407]

Cũng không phải thực hiện vượt mức chỉ tiêu là có thể có được phần thưởng mong đợi. Antoni Ekart nhớ lại một lần băng trên mặt sông gần trại ông bị vỡ, dẫn tới nguy cơ một cơn lụt: “Nhiều đội tù khỏe mạnh nhất, bao gồm tất cả những người “xung kích”, đã làm việc như điên trong suốt hai ngày, gần như không ngưng nghỉ. Vì thành tích công tác đó họ chỉ được nhận một con cá trích cho mỗi hai người và một gói makhorka (thuốc lá sợi thô) cho mỗi bốn người”.[408]

Trong điều kiện như vậy – ngày làm việc rất dài, ít ngày nghỉ và thời gian nghỉ trong ngày rất ngắn – tai nạn thường xuyên xảy ra. Đầu những năm 1950, một nhóm nữ tù thiếu kinh nghiệm được lệnh đi dập tắt một đám cháy cỏ hoang gần Ozerlag. Chỉ có mỗi thế thôi, theo lời một người bọn họ kể lại, mà “đã khiến nhiều người bị lửa thiêu chết”.[409] Kiệt sức và thời tiết xấu thường dẫn tới một kết hợp chết người, như lời Alexander Dolgun xác nhận:

Cái rét, khiến các ngón tay không thể cầm chặt cán rìu, đòn bẩy, cây gỗ hay thùng vật nặng, khiến gây ra nhiều tai nạn, thường là rất nghiêm trọng. Một người đã bị nghiến bẹp lúc đang lăn gỗ khỏi toa tàu, sử dụng hai súc gỗ làm mặt dốc. Anh ta bị vùi kín khi hai mươi hoặc hơn cây gỗ bị tuột cùng một lúc mà bản thân lại không né tránh kịp. Lính gác kéo anh ta khỏi sân ga và cái xác máu khô đen đặc nằm đó chờ chúng tôi đưa về lán khi trời tối.[410]

Moscow lập thống kê về các tai nạn, các số liệu ấy thường gây ra các trao đổi giận dữ giữa thanh tra viên và chỉ huy trại. Một tài liệu như vậy, trong năm 1945, đã liệt kê 7.124 tai nạn chỉ riêng tại các mỏ than của Vorkuta, trong đó 482 vụ gây thương tật nghiêm trọng và 137 vụ dẫn đến chết người. Các thanh tra viên quy trách nhiệm do thiếu đèn cá nhân cho thợ mỏ, do hỏng hóc điện, và do sự thiếu kinh nghiệm của công nhân và việc họ thường bị luân chuyển. Rất giận dữ, các thanh tra viên tính ra con số ngày công bị mất do tai nạn là 61.492 ngày.[411]

Tổ chức kém một cách phi lý và quản lý cẩu thả cũng góp phần cản trở công việc. Mặc dù rất cần lưu ý rằng các nơi làm việc bình thường ở Liên Xô cũng bị quản lý kém, tình hình bên trong Gulag còn tệ hơn nhiều, ở đó mạng sống và sức khỏe của người lao động không được xem là quan trọng, và các chuyến hàng chở những bộ phận thay thế bị cản trở bởi thời tiết và đường xá xa xôi. Sự hỗn loạn thống trị tinh thần của Gulag ngay từ thời Kênh đào Bạch Hải, và vẫn tiếp tục cho tới những năm 1950, thậm chí rất lâu sau khi nhiều nơi làm việc ở Liên Xô đã được cơ khí hóa. Với những người làm khai thác lâm nghiệp, “không có cưa máy, không có máy kéo kéo gỗ, không có máy nâng gỗ”.[412] Những người làm việc ở xí nghiệp dệt được phát “dụng cụ lao động hoặc là quá thiếu hoặc là không phù hợp”. Điều này, theo lời một tù nhân, có nghĩa là “tất cả các đường may phải được là ủi bằng một cục sắt lớn nặng hai ký. Một người phải ủi 426 chiếc quần trong một buổi làm, bàn tay tê dại vì phải nhấc vật nặng và đôi chân sưng lên đau đớn”.[413]

Máy móc cũng thường xuyên hư hỏng, một yếu tố không cần được xem xét tới khi người ta tính toán chỉ tiêu. Trong cùng xí nghiệp may kể trên, “thợ máy thường xuyên bị gọi lên. Họ hầu hết đều là nữ tù. Việc sửa chữa kéo dài hàng giờ, bởi đám phụ nữ không có tay nghề. Không tài nào hoàn thành được khối lượng công việc bị buộc phải làm, kết quả là chúng tôi không được phát bánh mì”.[414]

Việc máy móc hỏng hóc và kỹ thuật viên điều hành máy móc không có tay nghề xuất hiện hết lần này đến lần khác trong sử biên niên của ban quản lý Gulag. Các quan chức quản lý trại cấp vùng tham dự Đại hội Đảng vùng Viễn Đông ở Khabarovsk năm 1934 đã than phiền về những hư hỏng trong thiết bị máy móc được cung cấp và chất lượng kém của đội ngũ kỹ thuật viên khiến họ không thể đạt được định mức sản lượng khai thác vàng.[415] Một bức thư năm 1938 gửi cho Thứ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về Gulag đã cho biết rằng “40-50 phần trăm số máy kéo chỗ chúng tôi đã gặp hỏng hóc”. Nhưng thậm chí cả các phương tiện sản xuất thô sơ hơn cũng thường xuyên không hoạt động được. Một bức thư viết năm 1937 lưu ý rằng trong số 36.491 con ngựa do Gulag sử dụng, có 25 phần trăm không còn phù hợp để làm việc.[416]

Các xí nghiệp của Gulag cũng cảm nhận sâu sắc về việc thiếu kỹ sư và chuyên viên quản lý. Rất ít kỹ thuật viên có tay nghề tình nguyện làm việc cho các dự án của Gulag, và người nào tình nguyện thì lại không nhất thiết phải có kỹ năng phù hợp. Qua năm tháng, nhiều cố gắng đã được thực hiện để thu hút công nhân tự do tới trại, có nhiều ưu đãi vật chất được nêu ra. Ngay từ giữa những năm 1930, các nhà tuyển dụng của Dalstroi đã lùng sục khắp nước, đề nghị những ưu đãi đặc biệt cho bất cứ ai chịu ký một hợp đồng lao động hai năm. Chúng bao gồm một mức lương cao hơn 20 phần trăm so với mức trung bình ở Liên Xô cho hai năm đầu, và 10 phần trăm cao hơn cho những năm kế tiếp, cũng như được đi nghỉ miễn phí, được mua các loại thực phẩm và hàng hóa đặc biệt, và khoản lương hưu rất hào phóng.[417]

Các trại miền viễn bắc cũng được mô tả phô trương ầm ỹ và hết sức nhiệt tình trên báo chí Liên Xô. Một ví dụ của loại tuyên truyền này có trên một bản tiếng Anh của ấn phẩm Sovietland, viết phục vụ cho độc giả nước ngoài. Trong một bài viết tháng 4/1939 về chủ đề Magadan, thuộc thể loại kinh điển, tờ tạp chí đã tuôn hàng tràng về sự cuốn hút kỳ diệu của thành phố:

Quầng sáng đèn ban đêm từ Magadan là một cảnh tượng vô cùng xúc động và quyến rũ. Đấy là một thị trấn sống động và rộng ràng từng giây từng phút cả đêm lẫn ngày. Nó lúc nhúc những con người có cuộc sống bị chi phối bởi một thời gian biểu làm việc chặt chẽ. Sự chính xác và nhanh nhẹn dẫn đến tốc độ, và tốc độ khiến công việc dễ dàng và vui đời hơn…[418]

Nhưng nó không hề đề cập gì đến chuyện những con người mà cuộc sống bị “chi phối bởi một thời gian biểu làm việc chặt chẽ” đó, thực tế đều là các tù nhân.

Và cũng chẳng thành vấn đề: dù sao các nỗ lực đó đều thất bại trong việc lôi kéo những chuyên gia có năng lực phù hợp, khiến Gulag chỉ biết dựa vào đám tù nhân được tình cờ phát hiện ra. Một tù nhớ lại rằng đã bị chuyển cùng một đội xây dựng tới cách Magadan 600 cây số về phía bắc để xây một cây cầu. Khi tới nơi, họ mới vỡ ra rằng không một ai trong đội từng tham gia xây dựng cầu cống lần nào. Một kỹ sư trong đám tù của đội được giao trách nhiệm quản lý dự án, mặc dù chuyên môn ông này không phải là xây cầu. Chiếc cầu cuối cùng cũng xây xong, và bị cuốn phăng đi ngay trong cơn lũ đầu tiên.[419]

Nhưng đó chỉ là một tai nạn nhỏ nhặt nếu so với một số thảm họa khác. Có những dự án Gulag trọn vẹn, sử dụng hàng ngàn người và với chi phí khổng lồ, hóa ra lại là vô cùng phí phạm và được lên kế hoạch rất tồi. Trong số đó, có lẽ nổi tiếng nhất là dự án cố gắng xây dựng tuyến đường sắt từ vùng Vorkuta tới cửa sông Ob tại Bắc Băng Dương. Quyết định khởi công xây dựng do chính quyền Xôviết ký tháng 4/1947. Một tháng sau, việc thám hiểm, làm công tác khảo sát và xây dựng cùng bắt đầu đồng thời. Tù cũng bắt đầu xây dựng một cảng biển mới tại mũi Kamenny, nơi sông Ob mở rộng ra đến biển.

Như thường lệ, bắt đầu xuất hiện các rắc rối: không có đủ máy kéo, do đó tù phải dùng xe tăng cũ thay thế. Những người lập kế hoạch bù đắp cho việc thiếu máy móc bằng cách bắt tù làm quá sức. Ngày làm việc mười một tiếng là chuyện bình thường, thậm chí công nhân tự do đôi khi cũng phải ở lại làm việc từ chín giờ sáng cho tới tận nửa đêm vào giữa mùa hè mặt trời lặn muộn. Đến cuối năm, các rắc rối biến chuyển phức tạp hơn. Đội khảo sát đã xác định ra rằng mũi Kamenny không phải địa điểm thuận lợi để đặt cảng: nước ở đây không đủ sâu cho tàu lớn và nền đất không ổn định để xây công nghiệp nặng. Tháng 1/1949, Stalin chủ trì một cuộc họp khuya, tại đó vị lãnh đạo Xôviết quyết định thay đổi địa điểm cảng và cả tuyến đường sắt: tuyến đường giờ sẽ nối sông Ob không phải với vùng Vorkuta ở phía tây, mà với sông Yenisei ở phía đông. Hai tổ hợp trại mới được lập – Công trường Xây dựng số 501 và Công trường Xây dựng số 503. Mỗi trại đều đồng thời tiến hành thi công tuyến đường sắt, mục tiêu là sẽ nối với nhau ở giữa đường. Khoảng cách giữa hai trại là 1.300 km.

Công việc tiến triển. Cao điểm ở đây có, theo một nguồn tài liệu, 80.000 người cùng xây dựng tuyến đường sắt; theo một nguồn khác là đến 120.000. Dự án trở nên nổi tiếng với tên gọi “Con đường Tử thần”. Gần như không thể xây dựng đường sá tại vùng đài nguyên Bắc Cực. Đang từ băng giá mùa đông đột ngột chuyển sang bùn lầy mùa hè, các đường mòn phải liên tục được gia cường chống lún sụt. Thậm chí nếu không bị vậy thì các toa tàu cũng thường xuyên bị chệch đường rày. Do vấn đề cung cấp hậu cần, tù bắt đầu phải sử dụng gỗ thay cho thép để xây dựng đường sắt, một quyết định khiến dự án cầm chắc thất bại. Khi Stalin chết năm 1953, người ta đã xây được 500 km từ một đầu tuyến đường sắt và 200 km từ đầu bên kia. Còn bến cảng thì chỉ tồn tại trên giấy tờ. Vài tuần sau đám tang Stalin, toàn bộ dự án, lúc này đã tiêu tốn 40 triệu rúp và hàng chục ngàn mạng người, đã bị hủy bỏ vĩnh viễn.[420]

Ở quy mô nhỏ hơn, những câu chuyện như vậy lặp đi lặp lại hàng ngày, xuất hiện rải khắp hệ thống Gulag. Nhưng mặc cho thời tiết tồi tệ, thiếu kinh nghiệm và quản lý kém, áp lực lên các nhà quản lý trại không hề bị giảm bớt, đi kèm với áp lực lên tù nhân. Các ông trùm là đối tượng bị thanh tra và điều chỉnh liên miên, cũng như thường xuyên được kêu gọi phải làm tốt hơn. Dù là bị hư cấu, kết quả công việc vẫn là vấn đề quan trọng. Mặc dù đối với tù nhân, những người biết rất rõ công việc đã thực sự được làm bết bát cỡ nào, có vẻ là lố bịch buồn cười, thực tế đó là một trò chơi nghiêm túc chết người. Rất nhiều người trong bọn họ đã không sống sót vượt qua nổi trò chơi này.

 

KVCh

Ban Văn hóa-Giáo dục

 Nếu không được đánh dấu rõ ràng là thuộc hồ sơ lưu trữ của NKVD, người tình cờ được xem có thể dễ dàng nhầm rằng các bức ảnh chụp Bogoslovlag, nằm trong một album được cất giữ cẩn thận ghi năm 1945, là không phải chụp tại một trại lao động. Các bức ảnh cho thấy một khu vườn trồng tỉa cẩn thận, các khóm hoa, bụi cây cảnh, một đài phun nước và chòi ngắm cảnh nơi tù có thể ngồi nghỉ chân. Lối vào trại được nhấn mạnh bằng một ngôi sao đỏ và tấm biểu ngữ: “Tất cả sức lực của chúng ta dành để xây dựng Tổ quốc tương lai giàu mạnh!” Ảnh chụp các tù nhân của nó nằm trong một album khác, đánh số thứ tự gần đấy, cũng khó mà giống với các ảnh chụp tù nhân Gulag bình thường. Ảnh một người vui vẻ cầm quả bí ngô; đàn bò đang kéo cái cày; một chỉ huy trại tươi cười thò tay hái quả táo. Bên cạnh các bức ảnh là những bảng biểu đồ. Một bảng cho thấy kế hoạch sản xuất của trại, tấm khác là kết quả hoàn thành kế hoạch.[421]

Tất cả những cuốn album đó, được cắt xén gọn gàng, dán và đính nhãn với sự chú tâm hệt như đám học trò đang cùng làm một bài tập chung trong lớp, được thực hiện bởi cùng một cơ chế: ban Kulturno-vospitatelnaya chast của Gulag, tức Ban Văn hóa-Giáo dục hay KVCh như tù thường gọi. KVCh, hay các đơn vị tương đương, đã tồn tại ngay từ khi xuất hiện Gulag. Năm 1924, ngay trong ấn bản đầu tiên của SLON, tạp chí của nhà tù Solovetsky, đã có một bài viết về tương lai của tù nhân ở nước Nga Xôviết: “Chính sách lao động cải tạo của nước Nga cần tái giáo dục tù nhân thông qua việc làm cho họ quen với tham gia lao động sản xuất có tổ chức”.[422]

Tuy nhiên, trong hầu hết thời gian, mục tiêu thực sự của công tác tuyên truyền trong trại là đạt được con số sản lượng cao hơn. Thậm chí trong trường hợp khi xây dựng Kênh đào Bạch Hải, như chúng ta đã xem, việc tuyên truyền “tái giáo dục” đã đạt tới mức ồn ào và có lẽ là chân thành nhất. Vào lúc đó, sự sùng bái của quốc gia đối với các công nhân xung kích đang đạt đến đỉnh điểm. Các nghệ sĩ trong trại vẽ chân dung của những công nhân giỏi nhất kênh đào, còn các diễn viên và nhạc sĩ trại biểu diễn các buổi hòa nhạc đặc biệt phục vụ cho họ. Những công nhân xung kích được mời tới những cuộc họp mặt đông đảo, có ca hát và diễn văn. Một cuộc họp như vậy, tổ chức ngày 21/4/1933, được tiếp nối bằng một đợt “bão lao động” dài hai ngày: trong suốt bốn mươi tám giờ, không một ai trong số 30.000 công nhân xung kích rời khỏi chỗ làm việc của mình.[423]

Loại hình sinh hoạt như vậy bị hủy bỏ không kèn không trống vào cuối những năm 1930 khi tù biến thành các “kẻ thù” và đồng thời không còn là “công nhân xung kích” nữa. Tuy nhiên, sau khi Beria nắm quyền quản lý hệ thống trại năm 1939, tuyên truyền dần dần quay trở lại. Trong khi sẽ không bao giờ có một Kênh đào Bạch Hải nữa – cái dự án Gulag mà sự “thành công” của nó được rêu rao khắp thế giới – ngôn ngữ của việc tái giáo dục được mang trở lại hệ thống trại. Những năm 1940, mỗi trại về lý thuyết có ít nhất một tuyên truyền viên KVCh, cũng như một thư viện nhỏ và một “câu lạc bộ” KVCh, nơi tổ chức những hoạt động sân khấu và hòa nhạc, các bài thuyết trình chính trị và thảo luận chính trị. Thomas Sgovio nhớ lại về một câu lạc bộ như vậy: “Căn phòng chính, ngồi được khoảng ba mươi người, có vách gỗ sơn vẽ lòe loẹt. Có vài cái bàn, có lẽ dành để đọc. Tuy nhiên không có sách, báo hay tạp chí. Làm sao mà chúng còn ở đây được? Báo có giá trị ngang với vàng ròng. Chúng tôi dùng chúng để vấn thuốc hút”.[424]

Từ những năm 1930 trở đi, “khách hàng” chủ yếu của KVCh được xác định là đám tù tội phạm. Do vẫn chưa rõ là tù chính trị có được phép nắm các công việc của chuyên gia hay không, cho nên vẫn chưa rõ có ai đáng mất thời giờ để tìm cách tái giáo dục cho họ. Một mệnh lệnh NKVD năm 1940 về công tác văn hóa-giáo dục của trại tuyên bố dứt khoát rằng những kẻ phạm tội phản cách mạng không phải là mục tiêu phù hợp để tái giáo dục. Trong các sản phẩm sân khấu của trại, họ được phép tham gia chơi nhạc cụ, nhưng không được nói hay hát.[425]

Cũng như các trường hợp khác, những mệnh lệnh như vậy bị lờ đi thường xuyên hơn là được tuân theo. Và – cũng như các trường hợp khác – chức năng thực sự của KVCh trong trại thay đổi khác biệt tùy theo ý các ông chủ Gulag ở Moscow muốn gì. Trong khi Moscow dự định để KVCh thúc ép tù nhân làm việc nhiều hơn, thì tù sử dụng KVCh cho mục đích riêng của mình: để hỗ trợ tinh thần – và để sống sót.

Về bề ngoài, có vẻ như các tuyên truyền viên văn hóa-giáo dục bên trong trại tìm cách truyền bá giá trị của lao động giữa những tù nhân cùng giống với cách mà các nhà hoạt động Đảng thực hiện ở thế giới ngoài trại. Trong các trại lớn hơn, KVCh xuất bản những tờ báo của trại. Đôi khi chúng là những ấn bản báo hoàn chỉnh, có các phóng sự và bài viết về thành công của trại, cũng như những “tự phê bình” – bình luận về những thiếu sót sai lầm trong trại – một đặc trưng tiêu biểu của tất cả báo chí Xôviết. Ngoài một thời kỳ ngắn đầu thập niên 1930, những tờ báo này được dự kiến chủ yếu phục vụ cho công nhân tự do và ban quản lý trại.[426]

Với tù nhân, cũng còn có “báo tường”, được tổ chức không phải nhằm phổ biến (giấy luôn luôn thiếu) mà để trưng bày như một bảng thông báo đặc biệt. Một tù đã mô tả báo tường như là “một thuộc tính của đời sống Xôviết, không ai thèm đọc chúng nhưng chúng vẫn xuất hiện thường xuyên”. Chúng thường được tập trung ở “góc hài hước”. “Chúng hiển nhiên làm ra vẻ rằng đám công nhân đang chết dần vì đói sẽ chịu đọc nội dung ở mục này, phá ra cười rung cả rốn và cuối cùng chê cười những kẻ lười nhác trốn việc không muốn trả món nợ của mình đối với Tổ quốc bằng cách lao động trung thực”.[427]

Mặc dù đối với nhiều người chúng có vẻ lố lăng, ban quản lý trung ương Gulag ở Moscow xem xét rất nghiêm túc về chuyện báo tường. Báo tường, theo một bản mệnh lệnh, phải “miêu tả các tấm gương lao động tiêu biểu nhất, phổ biến cho mọi người về những công nhân xung kích và lên án bọn trốn việc”. Hình ảnh của Stalin không được phép đăng: xét cho cùng họ cũng vẫn là tội phạm, không phải là “đồng chí”, và họ vẫn đang bị cách ly khỏi đời sống Xôviết, thậm chí còn bị cấm nhìn lên lãnh tụ của họ. Thái độ giấu giấu diếm diếm khá vô lý xuất hiện trong trại từ năm 1937 cũng vẫn còn nguyên trong suốt thập kỷ 1940: các tờ báo in trong trại không được phép mang ra ngoài trại.[428]

Cùng với việc treo báo tường, KVCh cũng cho chiếu phim. Gustav Herling được cho xem một phim âm nhạc Mỹ, “đầy cảnh phụ nữ mặc áo lót sát người, đàn ông trong áo vét bó và cà vạt xếp nếp”, và một bộ phim tuyên truyền kết thúc trong “cuộc khải hoàn của sự công bằng”: “Đám sinh viên vụng về dẫn đầu trong cuộc thi đua lao động xã hội chủ nghĩa và với ánh mắt rực sáng phát biểu một bài diễn văn ca ngợi Đất nước nơi mà lao động chân tay được nâng lên vị trí vinh dự cao nhất”.[429]

Trong khi đó, một số tù tội phạm lợi dụng căn phòng tối đèn khi chiếu phim để thực hiện việc giết người và ám sát. “Tôi nhớ vào cuối một buổi biểu diễn như vậy đã trông thấy xác một người chết được mang ra ngoài trên cáng”, một tù kể với tác giả.[430]

KVCh cũng tài trợ cho các trận đấu bóng, đấu cờ, hòa nhạc và diễn kịch được trịnh trọng tuyên bố như là “các hoạt động sáng tạo tự học hỏi”. Một tài liệu lưu trữ có liệt kê tiết mục biểu diễn một buổi đồng diễn ca múa nhạc của NKVD, trình diễn vòng quanh cho các trại:

  1. Bản ballad về Stalin.
  2. Suy tư của người côdắc về Stalin.
  3. Bài ca về Beria.
  4. Bài ca về Tổ quốc.
  5. Chiến đấu vì Tổ quốc.
  6. Tất cả cho Tổ quốc.
  7. Bài ca về người chiến sĩ NKVD.
  8. Bài ca của người Chekist.
  9. Bài ca về Chốt Biên giới xa xôi.
  10. Hành khúc Chiến sĩ Biên phòng.[431]

Cũng có một số bài khác được đánh số thấp hơn, như bài “Nào ta cùng hút” và “Bài ca về Dnieper”, bài sau ít nhất còn ca ngợi về một con sông chứ không phải là một cơ quan công an mật. Chương trình tiết mục sân khấu cũng bao gồm một số vở kịch của Chekhov. Tuy nhiên, phần lớn các nỗ lực nghệ thuật đều nhằm mục đích, ít nhất là về lý thuyết, giúp mở mắt cho tù, chứ không phải để giải trí cho họ. Như một mệnh lệnh từ Moscow năm 1940 đã tuyên bố: “Mọi buổi biểu diễn đều phải nhằm giáo dục cho tù nhân, dạy cho họ nhận thức mạnh mẽ hơn về lao động”.[432] Như chúng ta sẽ xem, tù cũng đã học được cách lợi dụng các buổi biểu diễn để sống sót.

Nhưng “các hoạt động sáng tạo tự học hỏi” không phải là quan tâm duy nhất của Ban Văn hóa-Giáo dục – cũng không phải là cách duy nhất để khiến cho lao động bớt nặng nề. KVCh cũng chịu trách nhiệm tập hợp các đề xuất như làm cách nào cải thiện hay “hợp lý hóa” lao động của tù, một nhiệm vụ được thực hiện hết sức nghiêm túc. Trong báo cáo giữa năm gửi Moscow, một trại ở Nizhne-Amursk thông báo, không hề có ý mỉa mai, rằng đã đưa ra được 302 cải tiến, trong đó 157 được áp dụng vào thực tế, do đó tiết kiệm được 812.332 rúp.[433]

Isaak Filshtinsky cũng ghi nhận, với đầy ý châm biếm, rằng một số tù trở nên lão luyện trong việc bẻ quẹo chính sách trên thành có lợi cho mình. Một người từng là tài xế tuyên bố rằng anh ta biết cách làm một bộ máy có thể cho phép xe hơi chạy bằng khí ôxy. Phấn khích với viễn cảnh tìm ra một “cải tiến” thực sự quan trọng, ông trùm trại giao cho anh ta một phòng thí nghiệm để nghiên cứu ý tưởng đó: “Tôi không thể biết được liệu họ có tin anh ta hay không. Họ chỉ đơn thuần thực hiện theo hướng dẫn của Gulag. Tại mỗi trại đều có những người làm công tác nghiên cứu cải tiến và sáng chế… và ai mà biết được, có thể Vdovin sẽ tìm ra được gì đó, và rồi tất cả sẽ cùng được trao Giải thưởng Stalin!” Cuối cùng, trò bịp của Vdovin cũng chấm dứt khi một ngày nọ anh ta quay về từ phòng thí nghiệm với một công trình khổng lồ làm bằng sắt vụn, mà mục đích của nó thì anh ta không tài nào giải thích được.[434]

Giống như ở thế giới bên ngoài, các trại cũng tiếp tục duy trì “việc thi đua xã hội chủ nghĩa”, là các cuộc thi đua lao động mà tù phải so tài với nhau xem ai giỏi tăng sản lượng hơn. Họ cũng tôn vinh những công nhân xung kích của trại, vì khả năng được cho là có thể tăng gấp ba hoặc gấp bốn chỉ tiêu. Tác giả cuốn sách này đã mô tả những chiến dịch đầu tiên như vậy ở Chương 4, vốn bắt đầu từ thập niên 1930, nhưng chúng vẫn tiếp diễn – với nhiệt tình giảm đáng kể và được cường điệu phi lý đáng kể – vào thập niên 1940. Tù nào tham gia có thể được trao nhiều loại giải thưởng khác nhau. Một số được nhận khẩu phần cao hơn hay điều kiện sống tốt hơn. Số khác được nhận các phần thưởng hết sức mơ hồ. Lấy ví dụ, năm 1942 một phần thưởng cho kết quả tốt bao gồm một knizhka otlichnika, một cuốn sổ tay tặng cho những ai đạt được mức lao động “xuất sắc”. Nó gồm một cuốn lịch nhỏ, có khoảng trống để điền tỷ lệ hoàn thành chỉ tiêu hàng ngày; một khoảng trống để viết các đề xuất hay “cải tiến”; một danh sách liệt kê quyền của người chủ cuốn sổ tay (được nhận chỗ tốt nhất trong lán ở, được phát đồng phục tốt nhất, quyền được nhận quà nhà gửi không giới hạn v.v.); và một câu trích lời Stalin: “Người lao động hăng hái tự cảm thấy mình là công dân tự do của đất nước mình, một kiểu người hoạt động vì xã hội. Và nếu anh ta lao động hăng hái, mang lại cho xã hội tất cả những gì anh ta có thể làm, anh ta xứng đáng là một anh hùng lao động”.[435]

Không phải ai cũng xem các giải thưởng như vậy một cách nghiêm túc. Antoni Ekart, tù người Ba Lan, cũng mô tả về một chiến dịch lao động như vậy:

Một Bảng Danh dự bằng gỗ dán được dựng lên, trên đó đăng kết quả của Cuộc thi Công nhân Xã hội Chủ nghĩa. Đôi khi nó trưng ra chân dung thô thiển của người “xung kích” dẫn đầu, cho biết chi tiết của kỷ lục đạt được. Hầu hết là những con số không thể tin nổi, cho thấy một sản lượng năm trăm phần trăm hoặc thậm chí một ngàn phần trăm mức bình thường. Đấy là đề cập tới việc đào đất bằng xẻng. Thậm chí một tù lạc hậu nhất cũng hiểu được là đào gấp năm gấp mười lần mức tiêu chuẩn là điều không thể thực hiện được…[436]

Nhưng các tuyên truyền viên KVCh cũng chịu trách nhiệm sau cùng về chuyện thuyết phục “bọn trốn việc” rằng nếu họ muốn làm việc thì có thể thoát cảnh phải ngồi trong khám phạt hay phải xoay sở sống sót bằng khẩu phần ít ỏi. Rõ ràng là không có nhiều người muốn quan tâm nghiêm túc đến bài giảng của họ: có quá nhiều cách thức khác để thuyết phục tù làm việc. Nhưng chỉ có ít cách làm vừa lòng các ông trùm Gulag ở Moscow. Trong thực tế, họ xem xét chức năng này vô cùng nghiêm túc, và thậm chí còn tổ chức những hội nghị định kỳ cho các tuyên truyền viên KVCh, mục đích để thảo luận những câu hỏi như “Động cơ cơ bản thúc đẩy những kẻ trốn việc là gì?” và “Kết quả thực tế của việc hủy bỏ ngày nghỉ của tù như thế nào?”

Tại một trong những cuộc hội nghị như thế, được tổ chức giữa Thế Chiến thứ II, các nhà tổ chức đã đem ra đối chiếu những kết quả ghi nhận. Một người đã công nhận rằng một số “kẻ trốn việc” không thể làm việc bởi vì họ quá yếu để sống sót bằng lượng thực phẩm được cấp. Tuy nhiên, ông này tuyên bố, thậm chí người đói cũng cần được khích lệ: ông đã nói với một kẻ trốn việc rằng hành vi của anh ta như “một lưỡi dao chĩa vào cổ các anh em của mình, những người đang ở ngoài mặt trận”. Chỉ một lời nói thế là đủ để thúc đẩy con người kia quên đi cơn đói và làm việc hăng hái hơn. Một người khác tuyên bố rằng ông ta cho một số kẻ trốn việc xem các bức ảnh chụp “Leningrad trong chiến tranh”, sau đó tất cả bọn họ lập tức đi thẳng đến nơi làm việc. Còn một người khác nói rằng trong trại của mình, những đội giỏi nhất được phép trang trí cho lán ở của mình, và những người lao động giỏi nhất được khuyến khích trồng hoa trong các chậu riêng của mình. Trong biên bản của cuộc họp đó, lưu trong hồ sơ văn khố, có ai đó đã ghi một lưu ý bên dưới cái kiến nghị cuối cùng này là: “Khorosho!” “Tuyệt vời!”[437]

Việc chia sẻ kinh nghiệm như trên được xem là rất quan trọng đến nỗi vào cao điểm của chiến tranh, Ban Văn hóa-Giáo dục của Gulag ở Moscow đã nhận lấy khó khăn là in một cẩm nang bỏ túi về chủ đề này. Tiêu đề – với nét ảnh hưởng rõ rệt của tôn giáo – là Quay về với Cuộc đời. Tác giả, một đồng chí Loginov nào đó, đã tả lại một loạt cuộc tiếp xúc giữa mình với các tù “trốn việc”. Sử dụng kiểu chiến thuật tâm lý khéo léo, ông đã chuyển biến tất cả khiến bọn họ trở nên tin tưởng vào giá trị của lao động tích cực.

Các câu chuyện kể trong đó hoàn toàn có thể đoán trước được. Lấy ví dụ, trong một chuyện như vậy, Loginov đã giải thích cho Ekaterina Sh., người vợ có văn hóa của một người bị án tử hình vì là “gián điệp” năm 1937, rằng cuộc đời đã bị hủy hoại của bà có thể một lần nữa có ý nghĩa đối với Đảng. Đối với một tù khác, Samuel Goldshtein, Loginov đã nhắc lại “học thuyết phân biệt chủng tộc” của Hitler và giải thích “trật tự mới của Hitler” ở Châu Âu sẽ đem lại điều gì cho ông này. Goldshtein đã bị thuyết phục bởi sức hấp dẫn đáng kinh ngạc (ở Liên Xô) đối với những người Do Thái như ông ta đến nỗi ông lập tức đề nghị xin được ra mặt trận. Loginov nói với ông rằng “ngày hôm nay, vũ khí của anh chính là lao động”, và thuyết phục ông làm việc trong trại nhiệt tình hơn. “Sinh mạng của anh cần thiết cho tổ quốc, và cả anh này cũng vậy”, ông ta nói với một tù khác mắt đang rưng rưng, khiến ông này quay lại làm việc ngay sau khi nghe xong.[438]

Rõ ràng đồng chí Loginov tự hào vì việc làm của mình và thực hiện với rất nhiều tâm huyết. Sự nhiệt tình của ông là thật. Phần thưởng ông nhận được vì công tác của mình cũng là thật nốt: V. G. Nasedkin, khi đó đang là ông trùm toàn bộ hệ thống Gulag, đã quá hài lòng với cố gắng của ông đến nỗi ra lệnh gửi cuốn cẩm nang tới tất cả các trại thuộc hệ thống, và khen thưởng Loginov 1.000 rúp.

Chưa chắc Loginov và đám trốn việc của ông ta có thực sự tin hay không vào những gì ông ta làm. Lấy ví dụ, chúng ta không thể biết liệu Loginov có hiểu ở một mức độ nào đó rằng nhiều người mà ông ta “đưa trở về với cuộc đời” vốn hoàn toàn vô tội. Hay chúng ta không thể biết những người như Ekaterina Sh. (nếu như bà này có thực sự tồn tại) có thực sự quay về với những giá trị Xôviết, hay là bà đột nhiên nhận ra rằng bằng cách giả vờ thay đổi thì sẽ được phát thức ăn đầy đủ hơn, được đối xử tốt hơn hay có được công việc nhẹ nhàng. Cả hai khả năng này thậm chí đều có thể tồn tại song song không hề loại trừ lẫn nhau. Với những người choáng váng và mất định hướng do bị biến chuyển quá mau lẹ từ một công dân hữu ích thành một tên tù đáng khinh, cảm nhận “tìm thấy ánh sáng” và tái hòa nhập với xã hội Xôviết có thể sẽ giúp họ hồi phục tâm lý sau những nếm trải của mình, đồng thời tạo cho họ điều kiện sống tốt hơn nhờ thế cứu được mạng sống của họ.

Trong thực tế, câu hỏi sau đây – “Họ có thực sự tin vào những gì mình đang làm hay không?” – thực sự chỉ là phần nhỏ của câu hỏi lớn hơn, lởn vởn trong tâm can của chính xã hội Liên Xô: liệu có ai trong số lãnh đạo của đất nước thực sự tin tưởng vào những gì mà họ đang làm? Mối quan hệ giữa tuyên truyền Xôviết và thực tế đất nước Xôviết luôn luôn là một mối quan hệ kỳ lạ: các nhà máy hoạt động chật vật, trong cửa hàng chẳng có gì để mua, các cụ già không đủ điều kiện để sưởi ấm căn hộ của mình, trong khi ngoài đường phố các biểu ngữ lại ca ngợi về “sự khải hoàn của chủ nghĩa xã hội” và “những thành tựu anh hùng của tổ quốc Xôviết”.

Những nghịch lý như vậy tồn tại giống hệt nhau cả bên trong lẫn bên ngoài trại. Trong tác phẩm về lịch sử thành phố công nghiệp Magnitogorsk Stalinist của mình, Stephen Kotkin đã chỉ ra rằng trong tờ báo tù của phân khu lao động cải tạo Magnitogorsk, tiểu sử của những tù được cải biến được viết bằng “thứ ngôn ngữ ấn tượng khiến ta nhớ ngay đến những gì nghe được từ các công nhân chân chính bên ngoài phân khu: họ cũng đang lao động, học tập, cống hiến hy sinh và tìm cách tự trau dồi bản thân”.[439]

Tuy vậy, có một mức độ kỳ lạ khác ở trong trại. Nếu trong thế giới tự do bên ngoài lỗ hổng khổng lồ giữa kiểu tuyên truyền Xôviết đó và thực tế xã hội Xôviết đã khiến nhiều người ngạc nhiên về sự lố bịch, thì trong trại sự vô lý dường như còn đạt đỉnh cao hơn. Trong Gulag, nơi mọi người thường xuyên bị xem là “kẻ thù”, bị thẳng thừng cấm gọi người khác là “đồng chí”, và bị cấm nhìn lên chân dung Stalin, tuy nhiên tù lại được mong đợi là sẽ lao động vì vinh quang của quê hương của chủ nghĩa xã hội, giống hệt như những người tự do bên ngoài – và tham gia “hoạt động sáng tạo tự học hỏi” như thể họ đang làm chỉ vì tình yêu nghệ thuật thuần túy. Sự vô lý là hết sức rõ ràng đối với tất cả mọi người. Có một lúc trong trại, Anna Andreeva đã làm “nghệ sĩ” của trại, nghĩa là bà thực sự được tuyển dụng để vẽ những khẩu hiệu như trên. Công việc này, rất nhẹ nhàng theo tiêu chuẩn của trại, rõ ràng đã giúp bà lấy lại sức khỏe và có lẽ đã cứu mạng bà. Nhưng khi được phỏng vấn nhiều năm sau, bà tuyên bố rằng thậm chí không thể nhớ nổi nội dung những khẩu hiệu ấy. Bà nói mình cho rằng “Các ông trùm đã tự nghĩ ra chúng. Kiểu như ‘Chúng ta dành tất cả sức lực cho lao động’, hay từa tựa như vậy… Tôi viết chúng rất mau gọn, về kỹ thuật thì rất tốt, nhưng sau đó tôi quên sạch mọi thứ mình đã viết. Đó là một kiểu cơ chế tự phòng vệ”.[440]

Leonid Trus, tù khoảng đầu những năm 1950, cũng bất ngờ vì sự vô nghĩa của các khẩu hiệu dán khắp trại, và được lặp đi lặp lại qua loa phóng thanh:

Có một hệ thống radio của trại, thường xuyên phát sóng thông tin về thành tích lao động của chúng tôi, và lên án những ai làm việc kém. Những buổi phát sóng ấy rất thô thiển, nhưng chúng làm tôi nhớ lại những buổi phát sóng mình từng nghe khi còn tự do. Sau cùng tôi phải tin rằng chúng không hề khác biệt nhau, ngoại trừ việc ở thế giới tự do người ta tài năng hơn, họ biết cách mô tả tất cả với cách thức hấp dẫn hơn… nhưng nói chung (trong trại) cũng hệt như ở chốn tự do – cũng cùng những áp phích ấy, cùng các khẩu hiệu ấy – ngoại trừ là trong trại câu cú tất tần tật nghe nó ngớ ngẩn hơn. “Họ đảm nhận nhiệm vụ, họ hoàn thành nhiệm vụ”, ví dụ như vậy. Hay “Lao động ở Liên Xô – là trung thực, là danh dự, là dũng cảm và là chủ nghĩa anh hùng” – lời của Stalin. Hay tất cả các khẩu hiệu khác, như “Chúng ta vì hòa bình”, hay “Chúng ta đón chào hòa bình cho toàn thể nhân loại”.[441]

Người nước ngoài, những kẻ không quen với sự hiện diện của khẩu hiệu và biểu ngữ, cảm nhận về công việc của những “người tuyên truyền tái giáo dục” còn kỳ quái hơn. Antoni Ekart, một người Ba Lan, đã mô tả một buổi truyền giáo chính trị điển hình như sau:

Phương pháp áp dụng là như sau: một gã thuộc ban KVCh, là một kẻ kích động chuyên nghiệp với trí óc của đứa trẻ lên sáu, kêu gọi tù nhân vì danh dự hãy đặt hết nỗ lực vào công việc. Hắn bảo họ rằng người cao quý là những người yêu nước, rằng tất cả những người yêu nước đều yêu nước Nga Xôviết, đất nước tuyệt vời nhất thế giới đối với người lao động, rằng các công dân Xôviết đều tự hào vì thuộc về đất nước ấy v.v. trong suốt hai giờ liền – tất cả điều ấy nói với đám thính giả mà chính họ là nhân chứng phải chịu đựng sự vô lý và đạo đức giả của những tuyên bố như vậy. Nhưng người nói không hề tự ái vì sự tiếp nhận lạnh lùng mà vẫn tiếp tục nói. Cuối cùng hắn ta hứa với tất cả những công nhân “xung kích” sẽ được tăng lương, tăng khẩu phần và cải thiện điều kiện sống. Ta dễ dàng tưởng tượng tác động với những ai đang bị cái đói chi phối sẽ ra sao.[442]

Một người lưu đày Ba Lan cũng có phản ứng tương tự với buổi tuyên truyền mà ông tham dự ở một trại ở Siberi.

Hết giờ này đến giờ khác tay thuyết trình viên liên tục cố gắng chứng minh rằng Chúa không tồn tại, rằng Ngài không là gì khác ngoài một sáng tác của bọn tư bản. Chúng tôi phải xem rằng mình may mắn vì đang sống giữa những người Xôviết, ở đất nước hoàn hảo nhất trên thế giới. Ở trong trại này chúng tôi phải học cách lao động và cuối cùng là trở thành người chân chính. Hết lần này đến lần khác hắn cố gắng dạy dỗ chúng tôi: hắn bảo chúng tôi rằng “quả đất hình tròn” và hắn tin chắc rằng chúng tôi không biết gì về điều ấy, và rằng chúng tôi cũng ngu dốt về những chuyện ví dụ như Crete là một “bán đảo”, hay rằng Roosevelt là một thủ tướng nước ngoài nào đó. Hắn phổ biến những sự thật như vậy với niềm tin không thể lay chuyển rằng chúng tôi hoàn toàn không biết gì hết, bởi làm sao chúng tôi, những kẻ lớn lên tại một quốc gia tư bản, có thể có được thuận lợi được hưởng thứ giáo dục thậm chí là cơ bản nhất… Hắn hài lòng nhấn mạnh rằng chúng tôi thậm chí không thể mơ đến chuyện lấy lại được tự do, rằng Ba Lan sẽ không bao giờ đứng dậy được nữa…

Tội nghiệp cho tay thuyết trình viên, người Ba Lan này kể tiếp, cố gắng của gã thật vô ích: “Hắn càng đẩy vấn đề tiến tới thì thâm tâm chúng tôi càng chống đối, hy vọng càng trỗi dậy. Các khuôn mặt thêm sắt lại vì kiên quyết”.[443]

Một người Ba Lan khác, Gustav Herling, đã tả lại các hoạt động văn hóa trong trại mình như là “dấu vết nhắc nhở các quy định được lập nên ở Moscow từ những ngày mà trại còn thực sự được dự định trở thành một cơ quan cải tạo và giáo dục. Có lẽ Gogol hẳn hiểu rõ nhất sự phục tùng mù quáng đối với một chuyện hư cấu được thừa nhận chính thức bất cần xét tới thực tế chung của trại – hệt như bài học giáo dục trong ‘Những linh hồn chết’ ”.[444]

Các quan điểm trên không có gì lạ: chúng xuất hiện trong vô số các hồi ký, hầu hết số đó đều hoặc không đề cập gì đến KVCh, hoặc chế giễu nó. Vì lý do đó, thật khó để viết về vai trò của tuyên truyền trong trại và đưa ra đánh giá về tầm quan trọng của nó với ban quản lý trung ương. Một mặt, khá hợp lý để cho rằng (và nhiều người đã làm) tuyên truyền trong trại, giống như tất cả những tuyên truyền ở Liên Xô, là hoàn toàn khôi hài, rằng không ai tin vào chúng, rằng chúng do ban quản lý trại tạo ra đơn thuần chỉ để lừa gạt đám tù còn non nớt và thiếu chín chắn.

Mặt khác, nếu các tuyên truyền, biểu ngữ và những buổi thuyết trình chính trị chỉ toàn chuyện nực cười – và nếu không ai tin chúng chút nào – vậy thì tại sao phải tốn quá nhiều thời giờ thật và tiền bạc thật cho chúng? Chỉ riêng trong lưu trữ của ban quản lý Gulag thôi đã có hàng trăm tài liệu xác nhận cho những công tác tập trung và căng thẳng của Ban Văn hóa-Giáo dục. Lấy ví dụ, trong quý đầu của năm 1943, vào cao điểm của cuộc chiến tranh, các bức điện tín bay qua bay lại như điên giữa Moscow và các trại, chỉ vì những chỉ huy trại cố gắng bằng mọi cách để kiếm cho được nhạc cụ cho tù chơi. Trong khi đó, các trại tổ chức một cuộc thi về chủ đề “Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại của Nhân dân Liên Xô chống lại bọn chiếm đóng Phát xít Đức”: năm mươi họa sĩ và tám nhà điêu khắc trại đã tham gia. Vào thời điểm này đất nước đang rất thiếu nhân công, nhưng tổ chức trung tâm vẫn đề nghị mỗi trại tuyển dụng một người thủ thư, một kỹ thuật viên chiếu phim để chiếu phim tuyên truyền, và một kultorganizator, một tù nhân trợ lý cho tuyên truyền viên văn hóa, nhằm giúp thực hiện “cuộc chiến” dọn dẹp rác bẩn, nâng trình độ văn hóa cho tù, tổ chức hoạt động nghệ thuật – và giúp dạy cho tù “hiểu đúng những câu hỏi về chính trị hiện tại”.[445]

Những tuyên truyền viên văn hóa của trại cũng lập các báo cáo bán thường niên hay báo cáo hàng quý về công tác của mình, thường là liệt kê những thành tựu họ đạt được một cách rất chi tiết. Lấy ví dụ, tuyên truyền viên KVCh của Vosturallag, lúc này là một trại với 13.000 tù, đã gửi một báo cáo như vậy vào năm 1943. Bản báo cáo 21 trang bắt đầu bằng việc công nhận rằng, trong nửa đầu năm 1943, kế hoạch kinh tế của trại đã “không được hoàn thành”. Tuy nhiên, trong nửa sau của năm đó, các giải pháp đã được thực hiện. Ban Văn hóa-Giáo dục đã giúp “vận động tù nhân hoàn thành và hoàn thành vượt chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất được đồng chí Stalin quy định”, đã giúp “tù nhân hồi phục sức khỏe và sẵn sàng cho mùa đông” và giúp “loại bỏ các thiếu sót trong công tác văn hóa-giáo dục”.[446] Trưởng ban KVCh của trại sau đó tiếp tục liệt kê các phương pháp mình đã áp dụng. Ông ta nhấn mạnh cụ thể rằng trong nửa sau năm đó, đã thực hiện 762 bài diễn văn chính trị, có tham dự của 70.000 tù (có lẽ nhiều người tham dự nhiều lần). Đồng thời, ban KVCh đã tổ chức 444 buổi thông tin chính trị, có tham dự của 82.400 tù; đã in 5.046 “tờ báo tường”, được 350.000 lượt tù đọc; thực hiện 232 buổi hòa nhạc và diễn kịch, chiếu 69 phim và tổ chức 38 nhóm sân khấu. Một trong những nhóm này thậm chí đã viết một bài hát, được hãnh diện trích lại trong báo cáo:

Đội chúng ta thật thân thiện

Nhiệm vụ của chúng ta kêu gọi

Công trường đang chờ đợi chúng ta

Mặt trận cần chúng ta lao động.[447]

Ta cần rất cố gắng mới có thể theo kịp những giải thích cho nỗ lực khổng lồ đó. Có lẽ trong cơ chế của Gulag, Ban Văn hóa-Giáo dục có chức năng như kẻ giơ đầu chịu báng cuối cùng: nếu kế hoạch không được hoàn thành, đó không phải là do tổ chức kém hay thiếu thức ăn, không phải do chính sách sử dụng lao động tàn bạo hay việc thiếu ủng dạ – mà là do tuyên truyền chưa đầy đủ. Có lẽ cơ chế cứng nhắc của hệ thống đã có sai lầm: khi trung ương đã quy định là phải có tuyên truyền, mọi người đều cố gắng thực hiện mệnh lệnh không cần thắc mắc về tính bất hợp lý của nó. Có lẽ giới lãnh đạo Moscow quá bị thiếu thông tin từ trại đến nỗi họ thực sự tin rằng 444 buổi thông tin chính trị và 762 bài diễn văn chính trị sẽ khiến đám đàn ông đàn bà đói khát làm việc nỗ lực hơn – mặc dù trong báo cáo thanh tra trại cũng dường như không chắc chắn là như thế đã đủ.

Hay có lẽ chẳng có cách giải thích hợp lý nào. Vladimir Bukovsky, nhà hoạt động chống đối Liên Xô sau này cũng trở thành tù nhân, đã nhún vai khi nghe tác giả hỏi về điều này. Nghịch lý ấy, ông nói, đã khiến Gulag trở nên độc nhất vô nhị: “Trong trại của chúng tôi, bạn được mong muốn phải trở thành không chỉ là những lao động nô lệ, mà phải cả hát và cười khi đang làm việc. Họ không chỉ muốn đàn áp chúng tôi: họ muốn chúng tôi phải cám ơn họ vì điều đó”.[448]

 

12

Thưởng và Phạt

 

Những ai chưa vào đây tất sẽ tới lượt. Còn kẻ nào từng vào rồi, ắt nhớ mãi không quên.

– Ngạn ngữ Liên Xô về nhà tù.

 

SHIZO

Khám phạt

 

Rất ít trại tập trung Liên Xô còn tồn tại nguyên vẹn cho đến ngày nay, kể cả trong tình trạng phế tích. Tuy nhiên, có một sự thật đáng tò mò rằng một số kha khá những shtrafnye izolyator – “biệt khám trừng phạt” hay (sử dụng lối viết tắt quen thuộc) SHIZO – vẫn còn vững nguyên. Không còn lại gì của lagpunkt số 7 thuộc Ukhtpechlag – ngoại trừ khối nhà phạt của nó, ngày nay là xưởng làm việc của một thợ cơ khí ôtô người Armenia. Ông này vẫn để nguyên các cửa sổ chấn song sắt, theo lời ông là hy vọng rằng “Solzhenitsyn sẽ mua lại khu nhà của tôi”. Không còn lại gì của lagpunkt nông trại ở Aizherom, Lokchimlag – lại là ngoại trừ khối nhà phạt của nó, giờ đây được chuyển thành ngôi nhà ở của nhiều hộ gia đình. Một trong những phụ nữ lớn tuổi sống trong đó còn khen ngợi độ chắc chắn của các cánh cửa. Nó vẫn còn “cái lỗ Juda” khá to ở giữa, mà lính gác từng dùng để dòm xét tù nhân hay nhét khẩu phần bánh mì cho họ.

Sự trường thọ của những khối nhà phạt này chứng tỏ chúng được xây dựng với độ vững chắc cao. Thường là công trình duy nhất xây bằng gạch trong khu trại chỉ toàn làm bằng gỗ, biệt khám chính là zona bên trong một zona. Giữa những bức tường của nó ngự trị một chế độ rezhim bên trong rezhim. “Một ngôi nhà bằng đá ảm đạm”, một tù đã mô tả như thế về khu biệt khám trong trại của mình: “cổng ngoài, cổng trong, chốt gác có vũ trang ở khắp nơi”.[449]

Trong những năm 1940, Moscow đã ban hành những hướng dẫn tỉ mỉ cả về việc xây dựng khám phạt lẫn các quy định về ai sẽ bị kết tội phải sống trong đó. Mỗi lagpunkt – hay nhóm lagpunkt, trong trường hợp nhóm các trại quy mô nhỏ – có một khối nhà phạt, thường nằm ngay ngoài zona, hay, nếu nằm trong, thì “bị bao bằng một tường rào không lọt qua được”, cách xa khỏi những công trình khác của trại. Theo lời một tù, sự chặt chẽ này có lẽ không cần thiết, bởi rất nhiều tù cố gắng tránh xa khám phạt của lagpunkt bằng cách “đi vòng tránh nó từ xa, thậm chí không dám nhìn về hướng các bức tường xám xịt đó, lởm chởm những khe trống dường như đang thở ra hơi thở trống rỗng lạnh lẽo và tăm tối”.[450]

Xuất hiện mỗi tổ hợp trại cũng nghĩa là có thêm một khu khám phạt trung tâm gần trụ sở của nó, ở Magadan, ở Vorkuta hay Norilsk cũng vậy. Khám trung tâm thực tế thường là một nhà tù rất lớn mà theo quy định là “phải được dựng tại nơi xa khu dân cư và đường giao thông nhất, phải được canh gác cẩn thận, và đảm bảo cách ly chặt chẽ. Lính gác phải gồm toàn những người đáng tin cậy nhất, có kỷ luật nhất và có kinh nghiệm nhất trong trong số các công nhân tự do.”. Các nhà tù trung tâm đó gồm có cả phòng giam chung và khám biệt giam. Loại sau phải nằm trong một khu nhà tách riêng và được xây đặc biệt, được dành cho “những thành phần đặc biệt hiểm độc”. Tù bị giam trong biệt khám không được ra ngoài làm việc. Ngoài ra, họ bị cấm mọi loại thể dục, thuốc lá, giấy và diêm. Ở mức dưới đó là các hạn chế “thường” đối với những tù bị giam trong phòng giam chung: không thư từ, không nhận quà nhà gửi, không gặp gỡ thân nhân.[451]

Về bề ngoài, sự tồn tại của khám phạt có vẻ như mâu thuẫn với các nguyên tắc kinh tế tổng thể làm cơ sở để hình thành Gulag. Để duy trì các công trình đặc biệt và đám lính gác ngoại lệ này rất tốn kém. Giữ tù không cho làm việc cũng rất phí. Nhưng theo quan điểm của ban quản lý trại thì khám phạt không phải là một hình thức hành hạ bổ sung, mà là một phần của toàn bộ cố gắng chung để khiến tù làm việc tích cực hơn. Cùng với việc giảm khẩu phần, chế độ phạt còn được thiết kế để hù dọa đám otkazchiki – những kẻ không chịu lao động – cũng như để trừng phạt những kẻ bị bắt khi đang phạm tội trong trại như giết người hay tìm cách chạy trốn.

Bởi hai loại tội ấy có khuynh hướng bị phạm bởi những kiểu loại tù nhân khác nhau, ở một số trại khám trừng phạt cũng có không khí rất đặc biệt. Một mặt, chúng chứa đầy bọn trộm cắp chuyên nghiệp, những kẻ có vẻ giống lũ giết người và bỏ trốn hơn. Tuy nhiên, theo thời gian, một loại tù khác cũng bắt đầu chen đầy trong khám phạt: đám tù nam tín đồ, cũng như đám monashki – đám tín đồ “nữ tu”, những kẻ cũng từ chối nguyên tắc lao động cho bọn Satan Xôviết. Ví dụ như Aino Kuusinen, lúc ấy đang bị giam ở một lagpunkt Potma, thấy chỉ huy trại cho xây một lán trừng phạt đặc biệt cho nhóm nữ tín đồ cuồng tín “từ chối làm việc trên cánh đồng để suốt ngày lớn tiếng cầu nguyện và hát thánh ca”. Đám phụ nữ này không được cho ăn chung với những tù nhân khác, thay vào đó là phải nhận khẩu phần phạt trong lán riêng của họ. Lính gác vũ trang áp tải họ hai lần mỗi ngày tới nhà xí: “Hết lần này đến lần khác tay trưởng khối tay cầm roi chui vào lán họ, và trong lán vang lên tiếng la hét đau đớn: đám phụ nữ thường bị lột quần áo trước khi bị đánh, nhưng không có thứ bạo lực nào có thể khuyên họ bỏ thói quen cầu nguyện và ăn kiêng”. Cuối cùng họ bị đưa đi nơi khác. Kuusinen tin rằng họ đã bị xử bắn.[452]

Những loại “kẻ trốn việc” thâm căn cố đế khác cũng chui vào khám trừng phạt. Thực ra, chính sự tồn tại của khám phạt đem lại cho tù một sự lựa chọn. Họ có thể hoặc là làm việc – hoặc có thể ngồi vài ngày trong khám, sống nhờ khẩu phần ít ỏi, chịu đựng cái lạnh và sự bất tiện, nhưng không phải làm kiệt sức trong rừng rậm. Lev Razgon nhớ lại câu chuyện về Bá tước Tyszkiewicz, một nhà quý tộc Ba Lan rơi vào trại đốn gỗ ở Siberi, đã quyết định rằng mình không thể sống nổi nếu nhờ vào khẩu phần lao động nên đã từ chối làm việc. Ông tính toán rằng nhờ thế có thể thoát chết, thậm chí bất chấp việc chỉ được nhận khẩu phần phạt.

Mỗi buổi sáng trước khi tù lên đường từ trại đi làm việc và đoàn zek đang xếp hàng trước sân, hai lính gác lại tìm đến chỗ Tyszkiewicz trong khám phạt. Khuôn mặt và mái đầu húi cua của ông lởm chởm râu tóc bạc xám, ông quấn mình trong cái áo choàng cũ rách tả tơi và mớ xà cạp. Viên sĩ quan an ninh của trại bắt đầu bài thuyết giảng hàng ngày, “Này thằng Bá tước khốn nạn, mẹ kiếp đồ ngu ngốc khốn nạn, mày có chịu đi làm hay không?”

“Không, thưa ngài, tôi không thể”, vị bá tước đáp lại bằng một giọng kiên quyết sắt đá.

“Ồ vậy ra mày không thể, mẹ cha mày!” Tay sĩ quan an ninh công khai giải thích với viên bá tước những gì anh ta nghĩ về ông và về các họ hàng xa và gần của ông, và điều gì anh ta sắp sửa làm với ông trong tương lai gần. Màn đấu khẩu này luôn khiến đám tù trong trại hết sức hả lòng hả dạ.[453]

Nhưng mặc dù Razgon kể lại câu chuyện đầy vẻ khôi hài, đối sách đó có nguy cơ rủi ro rất cao, bởi chế độ trừng phạt được thiết lập không hề dễ chịu chút nào. Theo chính thức thì khẩu phần phạt hàng ngày cho những tù không hoàn thành được chỉ tiêu gồm có 300 gram “bánh mì lúa mạch đen”, 5 gram bột, 25 gram kiều mạch hoặc mì ống, 27 gram thịt và 170 gram khoai tây. Mặc dù chúng chỉ là lượng thực phẩm ít ỏi, những cư dân trong khám phạt còn được nhận ít hơn nhiều: 300 gram “bánh mì lúa mạch đen” mỗi ngày, có thêm nước nóng và “thức ăn lỏng nóng” – súp, chỉ được phát ba ngày một lần.[454]

Dù vậy đối với hầu hết tù nhân, sự khó chịu nhất của chế độ phạt không phải nằm ở sự cực khổ thể xác – tòa nhà biệt lập, thức ăn ít ỏi – mà ở những hành hạ khác tùy theo ý thích của chỉ huy trại địa phương. Ví dụ, có thể là căn giường tầng sẽ bị thay chỉ bằng một băng ghế. Hay bánh mì sẽ bị nướng bằng bột chưa lên men. Hay “thức ăn lỏng nóng” sẽ thực sự rất lỏng loãng. Janusz Bardach từng bị giam trong một khám phạt với sàn nhà sũng nước, tất cả các bức tường đều ẩm ướt và mốc meo:

Quần áo lót của tôi đều bị ẩm nên tôi lạnh run. Cổ và vai cứng đờ và chuột rút. Gỗ thô bị ẩm mục dần, nhất là ở chỗ gờ băng ghế… băng ghế quá hẹp đến nỗi không nằm ngửa lưng được, khi tôi nằm nghiêng người thì chân thò ra ngoài chỗ gờ; tôi phải cong chân như thế suốt đêm. Rất khó chọn xem nên nằm nghiêng bên nào – quay một bên thì mặt tôi hướng thẳng vào phía tường lấm đầy bùn ẩm; quay bên kia thì lưng lại bị ướt.[455]

Ẩm ướt cũng phổ biến như cái lạnh. Mặc dù quy định là nhiệt độ trong khám phạt không được thấp hơn 16 độ, việc sưởi ấm thường bị lờ đi. Gustav Herling nhớ lại rằng trong biệt khám của mình “cửa sổ trong phòng giam nhỏ không có kính cửa, thậm chí một tấm ván che cũng không, cho nên nhiệt độ không bao giờ ấm hơn ngoài trời”. Ông mô tả nhiều cách khác để khiến phòng giam trở nên thực sự khó chịu:

Phòng giam của tôi thấp đến nỗi tôi có thể thò tay chạm đến trần… không thể ngồi trên giường tầng trên cùng mà không phải cong lưng chạm trần, và chỉ có thể chui vào giường tầng dưới bằng cách chúi người, đầu xuống trước, và chui ra bằng cách quơ tay đẩy người ra khỏi giường gỗ, giống như bơi khỏi bờ sông cát nông vậy. Khoảng cách giữa cạnh của giường với cái xô ở cửa chỉ chưa đầy nửa bước chân.[456]

Các chỉ huy trại cũng có thể quyết định có cho phép tù mặc quần áo trong phòng giam hay không – nhiều người bị giam chỉ với đồ lót trên người – và có cho anh ta đi lao động hay không. Nếu không làm việc, anh ta sẽ bị giam suốt ngày trong lạnh lẽo mà không được tập thể dục. Nếu có đi làm, anh ta sẽ rất đói. Nadezhda Ulyanovskaya bị giam với khẩu phần phạt trong suốt một tháng mà vẫn phải đi làm. “Lúc nào tôi cũng chỉ muốn ăn”, bà viết. “Tôi bắt đầu lúc nào cũng chỉ nói về món ăn”.[457] Bởi những bất lường hay được vặn vẹo áp dụng đối với chế độ phạt, tù rất sợ bị đưa vào biệt khám. “Tù ở đấy thường òa khóc như trẻ con, hứa sẽ cư xử tốt chỉ để mong được thả ra”, Herling viết.[458]

Bên trong các tổ hợp trại lớn hơn, có những kiểu hành hạ khác: không chỉ là khám phạt, mà có cả lán phạt và thậm chí trọn vẹn cả các lagpunkt phạt. Dmitlag, tổ hợp trại đã xây dựng Kênh đào Moscow-Volga, năm 1933 đã lập một “lagpunkt có chế độ khắc nghiệt” dành cho “bọn trốn việc, trốn trại, trộm cắp và các tội tương tự”. Để đảm bảo an ninh, các ông trùm trại đã hạ lệnh rằng lagpunkt mới phải có hai lớp hàng rào thép gai bao quanh thay vì chỉ có một; rằng phải có thêm lính gác áp tải dẫn tù đi lao động; và rằng tù phải làm công việc thể xác nặng nhọc tại các công trường có điều kiện rất khó bỏ trốn.[459]

Cũng vào khoảng thời gian ấy, Dalstroi đã thành lập một lagpunkt phạt, mà đến cuối thập kỷ 1930 đã trở thành một trong những trại tai tiếng nhất Gulag: Serpantinnaya – hay Serpantinka – nằm trên những quả đồi xa mãi về phía bắc Magadan. Cẩn thận chọn vị trí để nhận được rất ít ánh sáng mặt trời, lạnh hơn và tối tăm hơn những trại còn lại trong thung lũng (mà vốn cũng đã rất lạnh và tối tăm hầu hết thời gian trong năm), trại phạt của Dalstroi được gia cố chắc chắn hơn nhiều những lagpunkt còn lại, và cũng dùng làm địa điểm hành quyết trong các năm 1937 và 1938. Nội tên gọi của nó thôi cũng đủ làm tù nhân khiếp vía, bởi nhận một bản án tới Serpantinka là đồng nghĩa với nhận án tử hình.[460] Một trong rất ít người sống sót của Serpantinka đã tả lại là các lán ở “chen chúc đến nỗi tù phải thay phiên ngồi xuống sàn trong khi những người khác đứng chờ. Vào buổi sáng, cửa ra vào mở ra và người ta gọi tên mười đến mười hai tù. Không ai trả lời. Người đầu tiên bị tóm lấy sẽ bị lôi ra ngoài và bắn chết”.[461]

Trong thực tế, có rất ít thông tin về Serpantinka, chủ yếu bởi quá ít người thoát khỏi để mà kể lại về nó. Thông tin về các lagpunkt phạt lập tại những trại khác như Iskitim – lagpunkt phạt của tổ hợp Siblag, được xây xung quanh một mỏ khai thác đá vôi – thậm chí còn hiếm hoi hơn. Tù làm việc ở đây không hề có máy móc hay dụng cụ, phải đào đá vôi bằng tay. Sớm hay muộn, bụi vôi cũng sẽ giết hầu hết bọn họ qua các căn bệnh về phổi và những chứng bệnh hô hấp khác.[462] Anna Larina, người vợ trẻ của Bukharin, đã mau chóng bị tống vào đây. Phần lớn các tù khác của Iskitim – và những người đã chết ở Iskitim – hiện vẫn còn vô danh.[463]

Tuy nhiên, họ không hoàn toàn bị lãng quên. Nỗi thống khổ đám tù phải trải qua tại đây hằn lên trí tưởng tượng của dân địa phương tại Iskitim mạnh mẽ đến mức, nhiều thập kỷ sau, sự xuất hiện của một con suối nước trong vắt trên ngọn đồi ngay bên ngoài khu trại cũ đã được họ xem như một phép màu. Bởi vì theo giai thoại địa phương kể lại, cái rãnh đất dưới con suối chính là khu vực hành quyết hàng loạt tù nhân, và họ tin rằng dòng nước thánh kia là cách để Thượng đế tưởng niệm cho những người đã khuất. Vào một ngày lạnh lẽo tĩnh mịch cuối đông vùng Siberi, khi tuyết vẫn còn đọng dày một mét trên mặt đất, tôi đã được thấy cảnh hàng đoàn tín đồ lũ lượt đi lên đồi tới dòng suối, hứng đầy chai lọ và ca cốc thứ nước tinh khiết ấy và, vừa nhấp nước một cách cung kính, vừa chốc chốc lại liếc nhìn đầy trang nghiêm xuống khe rãnh bên dưới.

 

Pochtovyi Yashchik

Thùng gửi thư

 

SHIZO là mức trừng phạt cao nhất của cơ cấu hình phạt. Nhưng Gulag cũng cung cấp cho đám tù của nó các loại phần thưởng: cà rốt luôn đi kèm với cây gậy. Ngoài thức ăn cho tù, điều kiện ngủ nghỉ và nơi làm việc, trại còn chi phối khả năng của anh ta tiếp cận với thế giới bên ngoài. Hết năm này qua năm khác, đám quan chức Gulag ở Moscow gửi đi các bản hướng dẫn, quy định bao nhiêu lá thư, bao nhiêu bưu kiện và tiền bạc tù được phép nhận, cũng như khi nào và như thế nào thân nhân được tới thăm họ.

Giống như các hướng dẫn về khám phạt, những quy định khống chế về liên hệ với bên ngoài cũng thay đổi bất thường theo mỗi thời kỳ. Hay có lẽ chính xác hơn là nói chung, liên hệ với bên ngoài ngày càng trở nên bị giới hạn hơn. Lấy ví dụ, các hướng dẫn sơ bộ cho chế độ tù năm 1930 đã chỉ tuyên bố rằng tù được phép viết thư, nhận thư và bưu phẩm không giới hạn số lượng. Gặp gỡ thân nhân cũng được phép, không có giới hạn đặc biệt, mặc dù số lượng người đến thăm – không ghi rõ trong hướng dẫn – phải tùy theo thái độ cải tạo của tù tốt hay xấu.[464]

  Tuy nhiên, đến năm 1939 các chỉ dẫn đã chi tiết hơn nhiều. Chúng đặc biệt nói rõ rằng chỉ những tù hoàn thành được chỉ tiêu sản lượng mới được phép gặp người nhà, và ghi thêm là chỉ được một lần trong mỗi sáu tháng. Những ai vượt mức chỉ tiêu được phép gặp một lần mỗi tháng. Bưu phẩm cũng bị giới hạn hơn: tù chỉ được phép một lần mỗi tháng, và tù bị tội phản cách mạng chỉ được nhận bưu phẩm một lần trong ba tháng.[465]

Trong thực tế, vào năm 1939, cả một đống quy định chi phối việc gửi và nhận thư từ đã được tung ra áp dụng. Một số tù chính trị được nhận thư một lần mỗi tháng, những người khác phải ba tháng mới được một lần. Kiểm duyệt của trại cũng tuyệt đối cấm tù không được viết về những vấn đề cụ thể: họ không được đề cập tới số lượng tù nhân trong trại của mình, không nhắc cụ thể tới chế độ trong trại, không nêu tên lính gác trong trại, không nói về loại công việc mà trại thực hiện. Các bức thư chứa những nội dung nêu trên không những bị kiểm duyệt của trại chặn lại mà còn bị ghi chép cẩn thận trong hồ sơ cá nhân của người tù đó – có lẽ vì chúng là bằng chứng cho tội “dọ thám”.[466]

Tất cả những quy định ấy liên tục bị thay đổi, sửa chữa và điều chỉnh cho phù hợp hoàn cảnh. Lấy ví dụ, trong những năm chiến tranh, tất cả hạn chế về số lượng bưu kiện thực phẩm nhà gửi đều bị xóa bỏ: chính quyền trại hình như hy vọng đơn giản rằng thân nhân sẽ góp sức nuôi ăn cho tù, một nhiệm vụ mà NKVD cảm thấy đặc biệt khó vào thời kỳ ấy. Ngược lại, sau chiến tranh, tù trong những trại kỷ luật đặc biệt vì phạm trọng tội, cũng như tù trong các trại đặc biệt cho tù chính trị, một lần nữa lại bị giới hạn quyền liên hệ với thế giới bên ngoài. Họ chỉ được phép gửi thư có bốn lần một năm và chỉ được nhận thư từ những người thân trực tiếp trong gia đình, tức là cha mẹ, anh chị em ruột, vợ chồng và con cái.[467]

Chính vì các quy định bị thay đổi quá nhiều và phức tạp, và vì chúng thay đổi quá thường xuyên, các liên hệ với thế giới bên ngoài một lần nữa lại bị bỏ mặc tùy theo ý muốn của cánh chỉ huy trại. Thư từ và bưu phẩm chắc chắn không bao giờ đến được đám tù trong khám phạt, lán phạt hay lagpunkt phạt. Chúng không đến được những tù bị chính quyền trại ghét bỏ hay vì bất cứ lý do gì. Hơn nữa, có những trại đơn giản là quá biệt lập, do đó không nhận được bất cứ thư từ nào.[468] Có những trại vô tổ chức đến nỗi không thèm quan tâm đến việc chuyển thư từ. Tại một trại, một thanh tra viên NKVD đã phẫn nộ viết rằng “bưu phẩm, thư từ và phiếu chuyển tiền không được trao cho tù nhân mà bị vứt đống hàng ngàn cái trong nhà kho và điểm trung chuyển”.[469] Tại nhiều trại, thư bị chuyển muộn đến hàng tháng, có khi còn không đến được người nhận. Nhiều tù nhiều năm sau mới biết bao nhiêu thư và bưu phẩm gửi cho họ đã thất lạc. Bị đánh cắp hay thất lạc, chẳng ai có thể biết rõ. Trái lại, những tù đã bị cấm ngặt không được nhận thư đôi khi lại vẫn nhận được, mặc cho đã có các nỗ lực tối đa từ ban quản lý trại.[470]

Mặt khác, một số kiểm duyệt viên của trại không chỉ làm nhiệm vụ của mình và đi phân phát thư, họ thậm chí còn cho phép một số thư từ lọt qua không cần mở ra kiểm tra. Dmitri Bystroletov nhớ lại có một “komsomolka trẻ tuổi” – nữ Đoàn viên Komsomol, đã chuyển cho tù thư từ chưa bị bóc và không qua kiểm duyệt: “Cô ấy đã mạo hiểm không chỉ khẩu phần bánh mì, mà cả tự do của mình: nếu bị phát hiện, họ sẽ cho cô một án mười năm ngay lập tức”.[471]

Tất nhiên, có nhiều cách né tránh sự kiểm duyệt và giới hạn về số lượng thư từ. Anna Rozina có lần nhận được một bức thư của chồng nhét bên trong ruột chiếc bánh ngọt: khi thư đến tay bà, chồng bà đã bị hành quyết mất rồi. Bà cũng chứng kiến những bức thư được khâu vào quần áo của đám tù đã được tha khỏi trại, hay lén tuồn ra thế giới bên ngoài bằng cách nhét dưới đế giày.[472] Trong một trại có chế độ lỏng lẻo, Barbara Armonas đã tuồn thư ra nhờ một nhóm tù nhân làm việc không bị lính giám sát bên ngoài zona.[473]

Tướng Gorbatov cũng tả lại chuyện ông đã gửi một bức thư không qua kiểm duyệt cho vợ khi đang ngồi trong đoàn tàu vận chuyển, sử dụng một cách được nhiều người khác nhắc đến. Thoạt đầu, ông mua một mẩu bút chì từ một gã trong đám tù tội phạm:

Tôi đưa cho gã tù số thuốc lá cuộn, nhận lấy từ tay gã mẩu bút chì và, trong khi đoàn tàu lăn bánh chạy tiếp, tôi viết một bức thư trên mớ giấy thuốc lá mỏng, đánh số kỹ từng tờ. Kế tiếp tôi làm cái phong bì từ tờ giấy gói makhorka và dán lại bằng ruột bánh mì nhai nát. Để cho bức thư của mình không bị gió thổi bay vào đám bụi rậm bên đường ray, tôi chặn nó bằng một mẩu bánh mì mà tôi buộc vào thư bằng sợi chỉ rút từ chiếc khăn mặt. Giữa phong bì và mẩu bánh tôi nhét vào tờ một rúp và bốn tờ giấy cuốn thuốc lá, mỗi tờ đều ghi lại tin nhắn: ai tìm thấy phong bì này xin hãy dán hộ con tem và gửi nó đi. Tôi tuồn nó qua cửa sổ toa khi tàu đi qua một nhà ga lớn và thả bức thư rơi xuống…[474]

Chẳng bao lâu sau đó, vợ ông đã nhận được thư.

Một số hạn chế về viết thư không được đề cập trong hướng dẫn. Lấy ví dụ, được phép viết thoải mái, nhưng không phải lúc nào cũng tìm được bút hay giấy để viết, như Bystroletov nhớ lại: “Giấy trong trại là một thứ hết sức có giá trị, bởi vì tuy tù cực kỳ cần nó nhưng không tài nào kiếm được: tiếng kêu “Hôm nay là ngày gửi thư! Hãy chuyển thư cho tôi!” nào có ý nghĩa gì nếu không có một tờ giấy gửi thư, nếu chỉ một vài người may mắn có thể viết thư, và số còn lại buộc phải nằm rầu rĩ trên giường?”[475]

Một tù nhớ mình đã đổi bánh mì để lấy hai trang giấy xé từ cuốn Câu hỏi về Chủ nghĩa Leninít, một cuốn sách của tác giả Stalin. Ông đã viết lá thư gửi gia đình mình lên khoảng trống giữa các hàng chữ in.[476] Thậm chí các quan chức quản lý trại ở những lagpunkt nhỏ hơn còn nghĩ ra khá nhiều giải pháp đầy sáng tạo. Tại Kedrovy Shor, một kế toán trại đã dùng giấy dán tường cũ để làm giấy viết văn bản giải quyết công việc.[477]

Các quy định xoay quanh nhận gửi bưu phẩm thậm chí còn có phần phức tạp hơn. Những hướng dẫn gửi cho tất cả các chỉ huy trại đều quy định chính xác rằng tù phải mở tất cả bưu kiện ngay trước mặt lính gác để họ kiểm tra xem có đồ vật bị cấm nào không.[478] Trong thực tế, việc nhận bưu phẩm thường đi kèm một loạt thủ tục. Trước tiên, tù được báo cho hay về vận may của mình. Sau đó, lính gác dẫn anh ta vào nhà kho, tại đấy vật dụng cá nhân của tù được giữ trong tủ khóa. Sau khi anh ta mở gói kiện, lính gác sẽ cắt hoặc xẻ toang mọi đồ vật bên trong – từng củ hành, từng miếng xúc xích – để đảm bảo rằng nó không chứa thông tin bí mật, vật dụng nguy hiểm có thể dùng làm vũ khí hay tiền bạc. Nếu mọi thứ đã được kiểm tra xong, tù sẽ được phép lấy một số trong gói bưu phẩm. Số còn lại phải để lại trong kho, chờ tới lần được phép vào kho kế tiếp. Tù đang bị giam trong SHIZO hay những người đang chịu các kiểu hạ cấp khác tất nhiên sẽ bị cấm nhận thực phẩm từ nhà gửi đến.

Hệ thống này cũng có nhiều biến thể. Một tù nhân đã sớm nhận ra rằng nếu ông để lại gói bưu phẩm trong nhà kho, chúng sẽ mau chóng mất dần do bị lính gác lấy mất. Do đó ông đã tìm cách treo cái chai đầy bơ trên thắt lưng mình và giấu nó dưới quần: “Do hơi ấm từ người tôi, nó lúc nào cũng chảy lỏng”. Đến chiều, ông đem bơ ra quết lên bánh mì.[479] Dmitri Bystroletov sống trong một lagpunkt không có cái nhà kho nào, và đã phải sáng tạo hơn rất nhiều:

Sau đó tôi làm việc trên vùng đài nguyên, tại một công trường xây dựng nhà máy, và sống trong một lán ở công nhân nơi không thể để lại bất cứ món đồ nào, cũng không thể đem theo bất cứ món đồ nào đến công trường: đám lính đứng ở cửa ra vào trại sẽ tước bất cứ món gì chúng tìm thấy và ăn hết ngay, nếu có bất cứ thứ gì còn lại thì cũng sẽ bị đám dnevalnyi (tù được phân công lau dọn và canh gác lán) lấy và ăn mất. Mọi thứ phải được ăn hết tại chỗ. Tôi moi một cái đinh khỏi chiếc giường tầng và đục hai lỗ trên hộp sữa đặc, rồi chui xuống dưới chăn và từ từ mút sữa trong hộp. Nhưng tôi mệt đến nỗi lăn ra ngủ thiếp và món chất lỏng quý giá đã bị chảy phí hoài xuống mớ rơm lót bẩn thỉu ở dưới.[480]

Cũng có những vấn đề phức tạp về đạo đức xung quanh các gói bưu phẩm, do không phải ai cũng được nhận chúng. Có nên chia chúng cho người khác hay không? Và nếu có thì nên chia cho bạn bè hơn hay là chia cho những nhân vật có khả năng che chở mình hơn? Trong tù còn có thể tổ chức ra “Ủy ban người nghèo”, nhưng trong trại việc này là không thể. Một số tù chia ra cho mọi người, hoặc vì lòng tốt hoặc vì muốn phân phát lấy lòng. Một số người khác chỉ chia cho đám bạn bè thân. Và có đôi khi, như một tù đã nhớ lại, “đến nỗi có một người phải đợi đêm đến để lên giường ăn hết bánh bích quy, bởi vì cảm thấy khó chịu khi ăn nó trước mặt người khác”.[481]

Trong những năm tháng chiến tranh khắc nghiệt nhất, tại các trại phương bắc gian khổ nhất, bưu phẩm có thể quyết định số phận của một tù được sống hay phải chết. Một người viết hồi ký, diễn viên Georgi Zhenov, đã tuyên bố rằng thẳng rằng đã thoát chết nhờ hai gói bưu phẩm. Mẹ ông đã gửi chúng từ Leningrad năm 1940, và ông nhận được chúng ba năm sau, “ở thời điểm nguy cấp nhất, khi tôi quá đói khát đến mất hết mọi hy vọng, đang chết dần vì bệnh scoócbuýt…”

Vào thời điểm đó, Zhenov đang làm việc trong nhà tắm của trại ở một lagpunkt vùng Kolyma, đã quá yếu không thể làm việc trong rừng. Khi nghe thấy mình được nhận hai bưu kiện, thoạt đầu ông không dám tin vào tai mình. Sau đó, khi đã được giải thích đó là chuyện thật, ông xin phép phụ tá của quản lý nhà tắm để đi bộ 10 km tới trụ sở quản lý trại trung tâm nơi có khu nhà kho. Sau hai tiếng rưỡi, ông quay trở về: “Tôi đi được có một cây số mà đã kiệt sức rồi”. Sau đó, trông thấy một nhóm các vị trùm trại đang đi trên xe ngựa, “một suy nghĩ kỳ quặc lóe lên trong đầu tôi: sao không thử xin họ cho tôi đi cùng?” Họ bảo được – thế là những gì xảy ra tiếp theo “cứ y như trong một giấc mơ”. Zhenov leo lên xe ngựa, đi 10 cây số, chật vật xuống xe với sự giúp đỡ của các ông trùm NKVD, bước chân vào nhà kho, thông báo về những bưu kiện đã được gửi từ ba năm trước, và rồi mở chúng ra:

Mọi thứ được bỏ trong gói bưu phẩm: đường, xúc xích, phô mai, bánh ngọt, hành củ, tỏi, bánh bích quy, bánh quy dòn, thuốc lá, sô cô la, cùng với tờ giấy gói tất cả những món quà đó, trong suốt ba năm trời đuổi theo tôi từ hết địa chỉ này tới địa chỉ khác, nay đã trộn tung với nhau như thể ở trong chiếc máy giặt, cuối cùng biến thành một khối cứng ngắc với mùi ngòn ngọt của mục, mốc, thuốc lá và mùi thơm của đồ ngọt…

Tôi đi về phía cái bàn lấy con dao cắt ra một miếng, và ngay trước mặt mọi người, hầu như không cần nhai mà nghiến ngấu nuốt chửng không phân biệt nổi mùi vị, trong bụng sợ rằng chỉ cần một lời của ai đó sẽ chặn ngang hay cướp mất nó từ tay tôi…[482]

 

Dom Svidanii

Nhà gặp người thân

 

Thư từ và bưu phẩm tuy nhiên không gợi lên trong tù những cảm xúc mạnh mẽ nhất hay các đau đớn thống khổ nhất. Đau đớn giằn vặt hơn rất nhiều là những cuộc gặp gỡ với người thân, thường là vợ chồng hay cha mẹ. Chỉ những tù đã vừa hoàn thành được chỉ tiêu vừa tuân thủ quy định của trại mới được phép cho các cuộc gặp như thế: tài liệu chính thức công khai mô tả đó là phần thưởng cho “công tác tốt, tận tâm và với cường độ cao”.[483] Và lời hứa cho gặp người thân thực sự là một động cơ cực kỳ mạnh mẽ để tù có thái độ cư xử tốt.

Tất nhiên, không phải tù nào cũng có điều kiện được đón chờ người thân. Ví dụ, gia đình của họ phải đủ lòng dũng cảm để duy trì liên lạc với một người thân mang danh “kẻ thù”. Chuyến hành trình tới Kolyma, Vorkuta, Norilsk hay Kazakhstan, thậm chí là đi với tư cách một công dân tự do, cũng cần nhiều gan dạ và sức khỏe. Người khách không chỉ phải trải qua một chuyến tàu dài ngày tới thành phố xa xôi sơ khai, sau đó anh ta còn phải đi bộ hay đi nhờ một quãng đường gập gề trên thùng xe tải để tới lagunkt. Sau đó, người khách phải chờ suốt nhiều ngày hay có thể lâu hơn, năn nỉ đám chỉ huy trại khinh khỉnh để được phép gặp người nhà bị tù của mình – xin phép có thể bị từ chối, nhiều khi chẳng có lý do gì. Sau cùng, họ phải đối diện với một chặng đường dài nữa để trở về nhà, cũng qua cùng lộ trình tẻ ngắt cũ.

Gạt qua những vất vả về thể xác, sự căng thẳng tâm lý của các cuộc gặp ấy cũng có thể rất khủng khiếp. Các bà vợ đến gặp chồng mình, như Herling viết lại, “cảm thấy nỗi khổ vô giới hạn của cuộc sống tù mà không hiểu hết được nó, hay không cách nào để giúp được; những năm dài xa cách có thể giết chết khá nhiều tình cảm vợ chồng… khu trại, xa cách và rào chặn đối với khách đến, vẫn phủ bóng đe dọa lên họ. Họ không phải là tù nhân, nhưng họ có quan hệ với đám kẻ thù của nhân dân này…”[484]

Hay không chỉ các bà vợ mới có cảm xúc lẫn lộn. Một tù đã kể lại câu chuyện về một phụ nữ đưa đứa con gái hai tuổi tới gặp cha nó. Khi vừa tới, cô ta bảo con bé “tới hôn cha đi”. Cô gái chạy tới chỗ viên lính gác và hôn vào cổ anh ta.[485] Con gái nhà khoa học tên lửa Liên Xô Sergei Korolev vẫn nhớ cảnh mình được đưa đến gặp cha khi ông đang làm trong một sharashka. Cô đã được kể là ông đang ở xa, chiến đấu trong lực lượng không quân. Khi bước vào nhà tù, cô rất ngạc nhiên trước kích cỡ nhỏ của cái sân tù. Cô cất tiếng hỏi mẹ, cái máy bay của cha đang đỗ ở đâu?[486]

Trong tù – cũng như trong các trại cụ thể – những cuộc gặp như vậy dài ngắn khác nhau, thường diễn ra với sự có mặt của lính gác, một quy định cũng gây ra nhiều căng thẳng. “Tôi muốn nói, nói rất nhiều điều, kể lại mọi thứ xảy ra trong năm ấy”, một người tù nhớ lại về cuộc gặp với mẹ mình mà ông được ban cho. Không chỉ khó tìm ra lời, mà “nếu ai bắt đầu nói hay kể lại chuyện gì đó thì tay lính gác cảnh giác lập tức chặn ngay lại: ‘Không được phép!’ ”.[487]

Câu chuyện do Bystroletov kể lại còn bi kịch hơn, ông này được cho phép một loạt cuộc gặp với vợ mình vào năm 1941 – tất cả đều có mặt của lính gác. Bà vợ từ Moscow tới để gặp nhau lần cuối: từ khi ông bị bắt, bà đã bị nhiễm bệnh lao và đang cận kề cái chết. Khi nói lời vĩnh biệt, bà nhào tới và ôm lấy cổ ông, một điều vốn bị nghiêm cấm. Khách thăm bị cấm có tiếp xúc đụng chạm tới người tù nhân. Tay lính gác gạt mạnh tay bà ra, khiến bà ngã xuống sàn và ho ra máu. Bystroletov viết rằng mình đã “mất hết kiềm chế” và lao vào đánh trả lính gác, khiến hắn chảy máu. Ông thoát khỏi bị án phạt tàn khốc nhờ chiến tranh nổ ra ngay ngày hôm ấy. Trong cảnh hỗn loạn kế tiếp, việc ông tấn công lính gác đã bị quên mất. Ông cũng không bao giờ được gặp lại vợ mình nữa.[488]

Tuy nhiên, không phải lúc nào lính gác cũng có mặt. Trong thực tế, tại những lagpunkt lớn hơn, trong các tổ hợp trại lớn hơn, tù đôi khi được phép gặp gỡ kéo dài nhiều ngày, không có lính gác bên cạnh. Trong những ăm 1940, những cuộc gặp như vậy luôn diễn ra tại một “Nhà gặp người thân” được chỉ định rõ – dom svidanii – một công trình xây dựng đặc biệt cho mục đích đó nằm ở rìa khu trại. Herling đã tả lại một ngôi nhà như vậy:

Bản thân ngôi nhà, nhìn thấy trên đường dẫn từ làng vào trại, đã tạo ra một ấn tượng khá dễ chịu. Nó xây bằng những súc gỗ thông bào thô, khe hở trám bằng xơ dây thừng cũ, mái lợp ngói khá đẹp… Cửa vào mở ra ngoài zona, chỉ có thể sử dụng bởi khách thăm không phải tù nhân, bước lên từ mấy bậc thềm gỗ cứng; rèm cửa vải bông che cửa sổ, và dưới bậu cửa sổ có những hộp gỗ dài trồng hoa. Mỗi phòng đều có đặt hai chiếc giường sắp đặt gọn gàng, một cái bàn lớn, hai băng ghế dài, một cái chậu và bình đựng nước, một tủ quần áo và lò sưởi sắt; thậm chí có cả chao đèn chụp trên bóng đèn điện. Một người tù, đã sống hàng năm trời trên chiếc giường tầng trong lán trại bẩn thỉu, nay còn mong gì hơn căn nhà kiểu tiểu tư sản ấy được nữa? Giấc mơ về cuộc sống chốn tự do của chúng tôi đều dựa trên hình dáng căn phòng ấy.[489]

Chưa hết, những ai khao khát mong đợi “giấc mơ về chốn tự do” đấy thường cảm thấy còn tệ hơn khi cuộc gặp xoay chuyển sang hướng xấu, như nó vốn thường thế. Sợ rằng mình sẽ phải ở lại sau hàng rào thép gai cho đến hết đời, một số tù vừa gặp người thân đã bảo họ không nên quay lại đây nữa. “Anh nên quên chỗ này đi”, một tù nói với anh mình, người đã đi suốt nhiều ngày trong nhiệt độ lạnh buốt để gặp mặt ông trong hai mươi phút: “Đối với em quan trọng hơn hết là anh không gặp phải chuyện gì không hay”.[490] Đàn ông gặp lại vợ lần đầu sau bao nhiêu năm đột nhiên thấy mình nặng trĩu lo lắng về chuyện chăn gối, như lời Herling nhớ lại:

Nhiều năm lao động nặng nhọc và đói khát đã xói mòn khả năng đàn ông của họ, và giờ đây, trước một cuộc gặp gỡ chung đụng với một người phụ nữ gần như đã xa lạ, họ cảm thấy, bên cạnh những phấn khích hồi hộp, một sự giận dữ và tuyệt vọng không gì giúp đỡ được. Đã nhiều lần tôi nghe thấy đám đàn ông khoe khoang về khả năng của họ sau cuộc gặp, nhưng các chuyện ấy luôn là nguyên nhân gây ra sự xấu hổ và im lặng của tất cả tù khác…[491]

Vợ tới thăm chồng có vấn đề riêng để mà lo lắng. Thông thường, họ đã phải chịu đựng rất nhiều từ khi chồng bị đi tù. Họ không thể kiếm việc làm, không thể đi học, và thường phải giấu giếm cuộc hôn nhân của mình trước đám hàng xóm tọc mạch. Một số đến đây để thông báo dự tính của mình nhằm xin ly dị. Trong Vòng địa ngục đầu tiên, Solzhenitsyn đã thuật lại chi tiết với sự thông cảm đáng ngạc nhiên về một cuộc trò chuyện như vậy, dựa trên chuyện thật của ông với chính vợ mình, Natasha. Trong tiểu thuyết, Nadya, vợ của người tù Gerasimovich, đang sắp sửa bị mất việc làm, chỗ ở trong một ký túc xá sinh viên và khả năng hoàn tất luận án tốt nghiệp của mình, tất cả chỉ vì chồng cô bị đi tù. Cô biết ly dị là cách duy nhất để “có cơ hội tái sinh”:

Nadya cụp mắt xuống. “Em muốn nói – nhưng chỉ khi nào anh thông cảm cho em, được không? Có lần anh đã nói chúng ta nên ly dị”. Cô nói rất khẽ…

Đúng, đã có lúc anh khăng khăng muốn thế. Nhưng giờ anh lại giật mình. Chỉ mãi đến lúc này anh mới để ý là cái nhẫn cưới, vốn cô luôn luôn đeo, nay không còn trên ngón tay cô nữa.

“Ừ, tất nhiên”, anh tán thành, vẻ hết sức sốt sắng.

“Vậy là anh không phản đối… nếu… em… buộc phải… làm thế?” Cô phải dùng hết sức cố gắng để nhìn lên anh. Mắt cô mở to. Đôi đồng tử xám của mắt cô sáng lên như cầu xin tha thứ và thông cảm. “Có lẽ nên… giả vờ thôi”, cô thêm, không phải là nói mà như buông ra từng lời.[492]

Những cuộc gặp như vậy còn tệ hơn là không gặp lần nào. Izrail Mazus, bị bắt trong những năm 1950, đã kể lại câu chuyện của một tù đã sai lầm khi thông báo cho các bạn tù mình biết là vợ anh ta vừa tới. Trong lúc anh phải trải qua các thủ tục cần thiết mà tù nào cũng phải làm khi có người đến thăm – tới nhà tắm, gặp thợ cắt tóc, vào nhà kho để lấy lại quần áo cá nhân – những tù khác nháy mắt không ngớt và thọc huých anh, trêu anh về chuyện cái giường cót két trong Nhà gặp thân nhân.[493] Nhưng đến lúc cuối, thậm chí anh còn không được ở một mình trong phòng cùng với vợ. Vậy là kiểu “thoáng chút tự do” gì đây?

Những liên lạc với thế giới bên ngoài luôn luôn rất phức tạp – bởi các mong đợi, ham muốn, trông ngóng. Một lần nữa Herling lại viết:

Bất cứ vì lý do gì khiến họ thất vọng – hoặc là sự tự do được nhận trong ba ngày thực tế không khớp với những gì đã mong đợi một cách lý tưởng hóa, hoặc là do nó quá ngắn ngủi, hoặc do tan biến tựa một giấc mơ bị đánh thức, nó chỉ để lại sự trống rỗng không còn biết phải làm gì tiếp theo – các tù nhân đều im lặng và cáu kỉnh hệt nhau sau những lần có người tới thăm, đó là chưa nói về những người mà cuộc tới thăm biến thành một nghi thức ly hôn hay chia tay đầy bi thảm. Krestynski… đã hai lần tìm cách treo cổ sau một lần gặp vợ, cô này đã xin anh cho ly dị và đồng ý đưa lũ trẻ con vào một trại trẻ của thành phố.

Herling, một người Ba Lan xa lạ “không bao giờ mong chờ được gặp bất cứ ai” tại Nhà gặp người thân, lại thấy rõ ý nghĩa của nơi này hơn nhiều nhà văn Xôviết khác: “Tôi đi tới kết luận là nếu hy vọng thường là ý nghĩa duy nhất còn lại trong cuộc đời, vậy thì nhận thức rõ bản chất của nó đôi khi lại là một sự đau khổ không thể chịu đựng nổi”.[494]

 

13. Lính gác

 

Viết tặng các chiến sĩ Chekist

Một nhiệm vụ vĩ đại và đầy trách nhiệm

Được Ilyich đặt lên vai các anh,

Gương mặt người Chekist cau lại vì lo lắng

Mà không ai khác có thể hiểu sâu.

Trên khuôn mặt người Chekist đó là dũng cảm,

Anh sẵn sàng chiến đấu cho tận hôm nay,

Vì công bằng cho tất cả, vì hạnh phúc của họ,

Anh đứng lên vì người lao động thế gian.

Nhiều, nhiều lắm các anh ngã xuống trong trận đánh,

Nhiều nấm mộ anh em ta đã mọc lên.

Nhưng vẫn còn nhiều, rất nhiều chiến sĩ,

Đầy trung thực và dũng mãnh như các anh.

Lũ kẻ thù kia, run rẩy và khiếp sợ!

Giờ tận thế của bay đang tới, gần, gần lắm rồi!

Anh, người Chekist vẫn luôn luôn đứng gác

Trong trận đánh anh luôn xung phong đầu tiên!

– Thơ của Mikhail Panchenko, một thanh tra viên trong hệ thống nhà tù Xôviết, lưu trong cùng tập hồ sơ cá nhân về trường hợp ông bị khai trừ khỏi Đảng và khỏi NKVD[495]

Mặc dù nghe có vẻ kỳ lạ, không phải tất cả các quy định trong trại đều được viết bởi những chỉ huy trại. Cũng có những quy định bất thành văn – về việc làm cách nào để đạt được các vị trí, làm cách nào để có được các ưu tiên, làm cách nào để sống tốt hơn những người khác – cũng như về hệ thống chức vụ không chính thức. Những người nắm rõ các quy định bất thành văn ấy và học được cách leo lên trong bộ máy cơ cấu, sẽ cảm thấy dễ tồn tại ở đây hơn nhiều.

Trên đỉnh của cơ cấu quản lý trại là các chỉ huy trại, những đốc công, lính gác, cai ngục, cai tù và lính gác. Tác giả cố ý viết “ở trên đỉnh” thay vì “ở trên” hay “ở ngoài” cơ cấu quản lý trại, bởi trong Gulag các nhân viên quản lý và lính gác không phải là một đẳng cấp riêng, tách rời và xa cách với tù nhân. Không như lính gác SS trong các trại tập trung Đức, họ không được xem là ưu việt bất di bất dịch hay vượt trội về mặt chủng tộc đối với tù nhân, những người thường có cùng nguồn gốc dân tộc với họ. Lấy ví dụ, có hàng trăm ngàn tù người Ukraina trong các trại thời kỳ sau Thế Chiến thứ II. Nhưng cùng thời kỳ này cũng có số lượng đáng kể lính gác trại là người Ukraina.[496]

Lính gác và tù cũng không thuộc các địa vị xã hội hoàn toàn cách biệt. Một số lính gác và nhân viên quản lý trại có quan hệ đổi chác chợ đen lằng nhằng với tù. Một số nhậu nhẹt say xỉn với tù. Nhiều người “chung sống” với tù, một lối nói tránh trong Gulag để đề cập về quan hệ xác thịt.[497] Chính xác hơn là, bản thân nhiều người cũng là cựu tù. Đầu những năm 1930, chuyện được xem rất bình thường khi tù có hành vi tốt được “thăng cấp” lên vị trí lính gác trại – một số thậm chí còn lên cao hơn.[498] Sự nghiệp của Naftaly Frenkel có lẽ cho thấy một sự chuyển biến ngoạn mục nhất, nhưng vẫn còn nhiều người khác như thế.

Lấy ví dụ, sự nghiệp của Yakov Kuperman tuy có kém cao quý hơn của Frenkel, nhưng lại tiêu biểu hơn. Kuperman – người sau này đã hiến bộ hồi ký chưa xuất bản của mình cho Hội Ký ức Moscow – bị bắt năm 1930 và lãnh án mười năm. Ông ngồi một thời gian ở Kem, nhà tù trung chuyển của Solovetsky, sau đó vào làm việc tại ban kế hoạch của Kênh đào Bạch Hải. Năm 1932, trường hợp của ông được điều tra lại và tình trạng của ông được chuyển từ tù nhân thành người bị lưu đày. Cuối cùng, ông được tha và kiếm một việc làm trên tuyến Đường sắt Baikal-Amur – BAMlag – một kinh nghiệm mà ông thường nhớ lại “với sự hài lòng” cho đến cuối cuộc đời mình.[499] Quyết định của ông không phải là một điều bất thường. Năm 1938, hơn một nửa nhân viên quản lý và gần nửa số lính gác vũ trang của Belbaltlag, tổ hợp trại điều hành Kênh đào Bạch Hải, đều là cựu hay thậm chí vẫn còn là tù nhân.[500]

Tuy nhiên, địa vị có thể bị mất cũng như có thể đạt được. Cũng dễ như khi một tù trở thành cai tù, một cai tù rất dễ bị biến thành tù nhân. Đám quản lý Gulag và chỉ huy trại bị lọt trong số hàng ngàn nhân viên NKVD bị bắt trong những năm tháng thanh trừng 1937 và 1938. Cũng vậy, trong những năm về sau, lính gác và nhân viên Gulag thường bị bắt giữ bởi đám đồng nghiệp đầy đa nghi của họ. Trong các lagpunkt cách ly, đầy rẫy những chuyện ngồi lê đôi mách và nói xấu sau lưng: toàn bộ kho hồ sơ lưu trữ của Gulag đều giành cho việc tố cáo và bác bỏ tố cáo, những bức thư giận dữ về các khuyết điểm trong trại, thiếu sự hỗ trợ từ trung ương, điều kiện lao động tồi tệ – và những lời kêu gọi sau đó đòi bắt giữ kẻ phạm tội hay những người họ không ưa.[501]

Lính gác vũ trang và quản lý thường xuyên bị bắt vì tội đào ngũ, say xỉn, ăn cắp, đánh mất vũ khí, thậm chí cả vì ngược đãi tù nhân.[502] Lấy ví dụ, hồ sơ của trại trung chuyển cảng Vanino có chứa bản mô tả về V. D. Suvorov, người đã tổ chức một buổi nhậu và gây ra cuộc đánh lộn với một nhóm sĩ quan – cũng như về các người khác đã “uống rượu đến bất tỉnh”, hay những người quá say không làm tròn được nhiệm vụ của mình.[503] Trong giấy tờ cá nhân của Georgi Malenkov, một trong những tay chân của Stalin, có bản báo cáo về trường hợp hai quản lý trại đã giết hai đồng nghiệp trong một cuộc rượu chè túy lúy, có mặt một nữ bác sĩ và hai trẻ nhỏ.[504] Cuộc sống quá buồn chán ở những nhiệm sở trại xa xôi, và một quản lý trại đã than phiền trong bức thư gửi Moscow rằng việc thiếu giải trí “đã đẩy nhiều thanh niên đến chỗ phải đào ngũ, vi phạm kỷ luật, say rượu và bài bạc – tất cả đều thường kết thúc với một bản án”.[505]

Thậm chí vẫn có thể, mà thực sự là khá phổ biến, có vài người còn lên voi xuống chó thành vòng tròn: từ sĩ quan NKVD xuống làm tù, sau đó lại trở thành cai tù, lãnh một chức vụ mới trong hệ thống quản lý Gulag. Nhiều cựu tù đã viết hẳn về tốc độ chóng mặt mà một sĩ quan NKVD bị giáng chức lọt chân vào trong trại, sau đó tiếp tục được nhận giữ các chức vụ rất có thực quyền. Trong hồi ký của mình, Lev Razgon đã kể lại chi tiết cuộc gặp với một nhân viên NKVD cấp thấp Korabelnikov nào đó trên chuyến tàu đi từ Moscow. Korabelnikov kể cho Razgon nghe rằng mình bị bắt vì “đã ba hoa với người bạn thân nhất… về một trong những nhân tình của ông trùm… lãnh án năm năm vì là Thành phần Nguy hiểm cho Xã hội – và bị vận chuyển cùng những tù khác”. Nhưng anh ta không giống hẳn như những tù khác. Vài tháng sau, Razgon lại gặp lại anh ta, lần này trong một bộ quân phục trại sạch sẽ, gọn gàng. Anh ta đã bò lên được một chức vụ “ngon”, quản lý trại phạt của Ustvymlag.[506]

Câu chuyện của Razgon phản ánh thực tế đã được ghi nhận trong văn khố lưu trữ. Rất nhiều, rất nhiều sĩ quan Gulag đã từng phạm tội. Thực ra, dường như ban quản lý Gulag được công khai phân công là nơi đi đày của NKVD, nơi nghỉ mát cuối cùng cho cánh công an mật bị giáng chức.[507] Một khi đã bị chuyển vào phạm vi biên giới của đế chế Gulag, các sĩ quan hiếm khi được phép quay về bất cứ nhánh nào khác của NKVD chứ chưa nói về Moscow. Như là dấu hiệu của vị thế khác biệt của mình, nhân viên Gulag mặc loại quân phục riêng, đeo một hệ thống phù hiệu và cấp bậc có đôi chút điều chỉnh.[508] Tại các Đại hội Đảng, đám sĩ quan Gulag luôn than phiền về vị thế chiếu dưới của mình. “Gulag được xem như một ban quản lý nơi mà người ta đòi hỏi mọi thứ nhưng chẳng trả lại được cái gì”, một sĩ quan đã nhấn mạnh: “Cái kiểu suy nghĩ khiêm tốn quá đáng này – rằng chúng tôi kém hơn tất cả những kẻ khác – là hết sức sai lầm, và nó dẫn tới sự bất công trong tiền lương, nơi ở, v.v., cứ mãi tiếp diễn”.[509] Về sau, năm 1946, khi NKVD bị phân chia và đổi tên lần nữa, Gulag bị chuyển sang tay Bộ Nội vụ (MVD) trong khi gần như tất cả các nhánh thú vị hơn của NKVD, đặc biệt là tình báo và phản gián, đều được chuyển tới Bộ An ninh Quốc gia (MGB, sau đổi tên thành KGB) sáng giá hơn nhiều. MVD, quản lý hệ thống nhà tù cho đến tận khi Liên Xô sụp đổ, sẽ vẫn là một cơ quan có ảnh hưởng kém hơn.[510]

Trong thực tế, ngay từ đầu các chỉ huy trại đã có địa vị với quyền hạn khá thấp. Trong một lá thư tuồn khỏi Solovetsky đầu những năm 1920, một tù đã viết rằng ban quản lý trại gồm toàn những tay Chekist bị giáng chức “từng bị kết tội đầu cơ, tống tiền, hành hung, hay các tội khác vi phạm luật hình sự”.[511] Trong thập niên 1930 và 1940, Gulag trở thành điểm đến cuối cùng của các quan chức NKVD có lý lịch không phù hợp yêu cầu: những người có nguồn gốc xã hội không đủ mức vô sản, hay có gốc Ba Lan, Do Thái hoặc Baltic khiến họ thuộc vòng nghi ngờ trong các giai đoạn những nhóm sắc tộc này bị đàn áp tích cực. Gulag cũng là nơi trốn tránh cuối cùng cho những kẻ quá thiếu thông minh, bất tài hay nghiện rượu. Năm 1937, xếp Gulag khi ấy là Izrail Pliner đã than phiền rằng

Chúng tôi phải nhận những kẻ thừa từ các bộ phận khác; người ta gửi nhân sự tới đây theo quy tắc “Anh hãy nhận những kẻ mà chúng tôi không cần đến”. Lớp váng sữa trong mớ người này là những tay nghiện rượu vô phương cứu chữa; khi một gã đã chuyển sang uống thì bị vứt ngay qua Gulag… Từ quan điểm đó của cơ quan NKVD, nếu có ai phạm tội gì, hình phạt nặng nhất là chuyển hắn ta vào làm trong trại.[512]

Năm 1939, một quan chức Gulag khác đã mô tả lính gác trại là “không phải là công dân hạng hai mà là hạng tư, thứ cặn bã”.[513] Năm 1945, Vasily Chernyshev, lúc này là trùm Gulag, đã gửi một bản quy định cho tất cả các chỉ huy trại và xếp NKVD địa phương bày tỏ sự khiếp sợ về chất lượng kém của lính gác vũ trang trại, trong đó phát hiện ra mức độ quá cao “kẻ tự sát, đào ngũ, đánh mất hay ăn cắp súng ống, nghiện rượu và các tội vô đạo đức khác”, cũng như thường xuyên “vi phạm bộ luật cách mạng”.[514] Đến tận năm 1952, khi tham nhũng bị phát hiện đã đạt mức cao nhất trong lực lượng công an mật, phản ứng đầu tiên của Stalin vẫn là cho “đi đày” một trong những thủ phạm chính, người đã mau chóng trở thành chỉ huy phó của trại Bazhenovsky ở vùng Ural.[515]

Văn khố của chính Gulag cũng xác nhận niềm tin của một cựu tù được phát biểu tế nhị là cả lính gác lẫn quản lý “đều như một quy tắc, là những người rất có giới hạn”.[516] Ví dụ, trong số mười một người từng giữ chức vụ “Tổng chỉ huy Gulag” – quản lý toàn bộ hệ thống trại – từ 1930 tới 1960, chỉ có năm người có trình độ học vấn cao hơn, trong khi ba vị chưa bao giờ học hết mức tiểu học. Những người giữ vị trí này hiếm khi ở được lâu: trong thời gian hơn ba mươi năm, chỉ có hai người là Matvei Berman và Viktor Nasedkin giữ được lâu hơn năm năm. Izrail Pliner trụ được một năm (1937-1938), trong khi Gleb Filaretov chỉ được có ba tháng (1938-1939).[517]

Mặt khác, ở dưới đáy của tổ chức NKVD, hồ sơ cá nhân của nhân viên ngạch quản lý tù từ những năm 1940 cho thấy thậm chí những cai ngục thuộc thành phần ưu tú nhất – Đảng viên và những người cảm tình Đảng – chủ yếu cũng xuất thân từ gia đình nông dân, có trình độ học vấn tối thiểu. Rất ít người hoàn tất năm năm tiểu học, một số chỉ học hết lớp ba.[518] Vào tháng 4/1945, gần ba phần tư quản lý của Gulag trình độ không hơn bậc tiểu học, tỷ lệ gần gấp đôi so với phần còn lại của NKVD.[519]

Đám lính gác vũ trang của trại – voenizirovannaya okhrana, thường được biết dưới tên gọi tắt là VOKhR – thậm chí còn ít học hành hơn. Đó là những người hàng ngày đi vòng quanh chu vi khu trại, áp tải tù đi làm, đi theo đoàn tàu chở họ về phía đông, thường chỉ có những hiểu biết lờ mờ nhất về trách nhiệm mà họ phải làm. Theo một báo cáo từ Kargopollag, “hóa ra đám lính gác không biết cả đến tên những thành viên Bộ Chính trị hay các lãnh tụ Đảng”.[520] Một tài liệu khác liệt kê một loạt vụ liên quan đến lính gác sử dụng súng không đúng. Một người làm bị thương ba tù nhân “do không biết cách dùng súng”. Một người khác, “khi đứng gác trong tình trạng say rượu đã làm bị thương công dân Timofeev”.[521]

Các trưởng ban than phiền tại cuộc họp rằng “Lính gác không biết cách tra dầu, lau chùi và bảo dưỡng súng đạn… Một lính gác nữ đã đứng gác với nòng súng vẫn còn nhét cái giẻ rách… Một số lính gác cầm súng người khác đi làm nhiệm vụ, bỏ súng của mình ở nhà vì quá lười không chịu lau chùi súng đều đặn”.[522] Thường xuyên có các công văn qua lại giữa Moscow và các trại hối thúc chỉ huy địa phương để tâm hơn đến “công tác văn hóa-giáo dục” cho đám lính gác.[523]

Nhưng thậm chí đám “của thừa” và “nghiện rượu vô phương cứu chữa” từ các phòng ban khác của NKVD cũng khó mà đáp ứng đủ nhu cầu nhân sự của Gulag. Hầu hết các cơ quan của Liên Xô đều luôn thiếu nhân sự kinh niên, và ở Gulag thì đặc biệt nghiêm trọng. Thậm chí cả NKVD cũng không thể sản xuất đủ kẻ phạm tội để tuyển cho đầy nhu cầu ban bệ đã tăng gấp mười tám lần từ 1930 tới 1939, hay cho 150.000 người được tuyển dụng từ 1939 tới 1941, hay cho sự mở rộng khổng lồ thời kỳ hậu chiến. Năm 1947, với 157.000 người đang phục vụ chỉ trong các lữ đoàn lính gác vũ trang trại, Gulag vẫn tự cho rằng mình còn thiếu đến 40.000 lính gác.[524]

Mãi cho tới khi hệ thống cuối cùng bị giải tán, tình trạng tiến thoái lưỡng nan này vẫn chưa bao giờ thôi quấy rầy ban quản lý Gulag. Với ngoại lệ là trừ các vị trí cao cấp nhất, làm việc cho hệ thống trại không bao giờ được xem là sáng giá hay có tính hấp dẫn, và điều kiện cuộc sống khó mà đảm bảo cho được thoải mái, đặc biệt tại những chốt nhỏ hơn và xa hơn ở miền viễn bắc. Sự thiếu thốn thực phẩm nói chung có nghĩa là lính gác và quản lý phải nhận thực phẩm được định khẩu phần với số lượng tùy theo cấp bậc của người nhận.[525] Quay về sau một vòng thanh tra các trại miền bắc vùng Vorkuta, một thanh tra viên Gulag đã than phiền về điều kiện sống tồi tệ của lính gác vũ trang, những người làm việc mười bốn đến mười sáu tiếng một ngày trong “điều kiện khí hậu miền bắc khắc nghiệt”, không phải lúc nào cũng có đủ giày ủng và quần áo thích hợp, và sống trong các lán ở bẩn thỉu. Một số mắc bệnh scoócbuýt, viêm da pellagra và các căn bệnh do thiếu vitamin khác, hệt như đám tù.[526] Một người khác viết rằng tại Kargopollag, hai mươi sáu lính của VOKhR đã bị kết án tội phạm, nhiều người vì đã ngủ quên tại chốt gác. Vào mùa hè, họ làm việc liên tục mười ba tiếng một ngày – khi không gác thì họ cũng không có hình thức giải trí nào. Những ai có gia đình thì lâm vào cảnh đặc biệt nghèo khổ, do họ thường không được cấp căn hộ và buộc phải sống trong lán ở.[527]

23.png

Bốn chỉ huy trại, Kolyma, 1950. Con gái một tù đã viết chữ “Lũ sát nhân!” chéo trên bức ảnh.

24.png

Lính gác vũ trang với chó canh.

Những người muốn chuyển đi nơi khác cảm thấy không dễ dàng gì, thậm chí kể cả ở các cấp cao. Văn khố NKVD lưu trữ một bức thư não nùng của công tố viên thành phố Norilsk, cầu xin được chuyển việc làm khỏi “vùng Bắc Cực”, lấy lý do sức khỏe và làm việc quá sức: “Nếu không thể thuyên chuyển chức vụ công tố viên của tôi đến một trại lao động cải tạo khác, tôi xin được nhận một công việc về địa bạ hoặc chuyển khỏi ngành kiểm sát cũng được”. Đáp lại, ông ta được chấp thuận chuyển đến Krasnoyarsk, một việc mà ông từ chối vì điều kiện ở đây – Krasnoyarsk nằm ở phía nam Norilsk, nhưng vẫn thuộc miền bắc Siberi – gần như cũng tương tự.[528]

Kể từ khi Stalin chết, các quan chức trại cũ thường tìm cách bảo vệ công việc sinh nhai của mình bằng cách mô tả những khó khăn và vất vả của nó. Khi tôi đến gặp, Olga Vasileeva, một cựu thanh tra viên của các trại thuộc bộ phận xây dựng đường xá cho Gulag, đã đãi tôi vô số câu chuyện về cuộc sống vất vả của nhân viên Gulag. Trong cuộc trò chuyện – diễn ra tại căn hộ rộng rãi khác thường của bà này ở Moscow, món quà đầy biết ơn của Đảng tặng cho – Vasileeva đã ngay lập tức kể cho tôi rằng khi đến kiểm tra một trại xa xôi, bà được mời vào ngủ trong nhà của một chỉ huy trại, trên chiếc giường của con trai ông ta. Ban đêm, bà thấy trên người nóng và rát. Cho rằng mình bị ốm, bà bật đèn lên: “Cái chăn lính màu xám của cậu ta như sống động, lúc nhúc đầy rận. Không chỉ tù nhân có rận, các ông trùm cũng có”. Như một thông lệ, khi bà trở về nhà sau một chuyến đi thanh tra, bà cởi bỏ tất cả quần áo trước khi bước qua cửa để tránh đem ký sinh trùng vào nhà.

Như Vasileeva đã chứng kiến, công việc của chỉ huy trại cực kỳ khó khăn: “Không phải nói đùa, anh phải chịu trách nhiệm về hàng trăm hàng ngàn tù nhân, trong đó có cả bọn tái phạm và giết người, những kẻ phạm các trọng tội, những người mà anh không thể mong đợi bất cứ điều gì. Điều này có nghĩa là anh phải luôn luôn hết sức cảnh giác”. Các chỉ huy, mặc dù dưới áp lực phải làm việc càng hiệu quả càng tốt, cũng cần phải giải quyết tất cả các loại vấn đề khác:

Người đứng đầu một dự án xây dựng thì cũng là người đứng đầu của trại, anh ta phải dùng ít nhất 60 phần trăm thời gian của mình không chỉ vào công việc xây dựng, đưa ra các quyết định kỹ thuật và giải quyết vấn đề thi công, mà còn phải đương đầu giải quyết vấn đề của trại. Có ai đó bị bệnh, bệnh dịch có thể lây lan, hay một loại tai nạn đã xảy ra nghĩa là có ai đó phải được đưa vào bệnh viện, ai đó cần có ôtô hay một con ngựa và chiếc xe kéo.

Vasileeva cũng nói rằng các “ông trùm” cũng không cần được cho ăn ngon ở Moscow, đặc biệt trong thời gian chiến tranh. Tại căngtin của trụ sở Gulag, chỉ có xúp bắp cải và kasha: “Tôi không nhớ có thịt, tôi không thấy có”. Khi Stalin còn sống, nhân viên của Gulag ở Moscow làm việc từ chín giờ sáng cho đến tận hai hoặc ba giờ sáng hôm sau, ngày nào cũng vậy. Bà chỉ được gặp con có ngày chủ nhật. Tuy nhiên, sau khi Stalin chết, mọi việc được cải thiện. S. N. Kruglov, khi đó là lãnh đạo của NKVD, đã ban hành một mệnh lệnh cho phép nhân viên thường của ban quan lý NKVD trung ương một giờ nghỉ bữa trưa và các sĩ quan NKVD nghỉ bữa trưa hai giờ. Năm 1963, Vasileeva và chồng cũng được nhận một căn hộ rất rộng ở trung tâm Moscow, giống như căn bà đang sống khi tôi đến thăm năm 1998.[529]

Khi Stalin còn sống, dù vậy công việc tại Gulag được khen thưởng kém hậu hĩnh hơn, khiến ban quản lý trại trung ương phải đề cập đến vấn đề sự thiếu hấp dẫn thực chất của công việc bằng nhiều cách khác nhau. Năm 1930, khi hệ thống vẫn được hiểu là thành phần của nền kinh tế mở rộng thời kỳ đó, OGPU đã tiến hành các chiến dịch quảng cáo nội bộ, khuyến khích những người nhiệt tình làm việc tại những nơi sẽ trở thành các trại mới miền viễn bắc:

Sự hăng hái và tích cực của các chiến sĩ Chekist đã tạo ra và củng cố tổ hợp trại Solovetsky, đóng một vai trò to lớn và tích cực trong sự phát triển công nghiệp và văn hóa khu vực viễn bắc Châu Âu của đất nước ta. Các trại mới, giống như Solovetsky, cần phải đóng vai trò cải cách trong kinh tế và văn hóa của khu vực ngoại biên. Vì nhiệm vụ này… chúng ta cần những chiến sĩ Chekist đặc biệt kiên nghị, tình nguyện và khao khát đảm nhiệm lao động gian khổ…

Những người tình nguyện được cấp, ngoài các thứ khác, thêm 50 phần trăm tiền lương phụ trội, được nghỉ phép hai tháng mỗi năm, và sau ba năm được một khoản thưởng bằng lương ba tháng và một kỳ nghỉ phép ba tháng. Ngoài ra, các quản lý cao cấp được nhận các gói khẩu phần miễn phí hàng tháng, và được sử dụng “radio, các phương tiện dụng cụ thể thao và văn hóa”.[530]

Về sau, do những người nhiệt tình chân chính đã biến mất hoàn toàn, việc lôi kéo trở nên có hệ thống hơn. Các trại được xếp hạng dựa theo độ xa xôi và khắc nghiệt của chúng. Trại càng xa và càng khắc nghiệt thì sĩ quan NKVD càng được trả cao hơn khi làm việc. Một số trại thu hút bằng cách tổ chức hoạt động thể thao và các hoạt động khác cho nhân viên mình. Ngoài ra, NKVD còn cho xây những trại an dưỡng ở Biển Đen, Sochi và Kislovodsk để các sĩ quan cao cấp nhất có thể đi nghỉ dài ngày đầy đủ tiện nghi và ấm áp.[531]

Ban quản lý trung ương cũng thành lập các trường học để sĩ quan Gulag có thể bồi dưỡng nâng cao trình độ và cấp bậc cho mình. Lấy ví dụ một trại được lập tại Kharkov, đào tạo các khóa học không chỉ có môn “Lịch sử Đảng” và “Lịch sử NKVD” bắt buộc mà cả môn luật hình sự, chính sách trại, quản lý, điều hành, kế toán và quân sự.[532] Những ai muốn làm việc ở Dalstroi, vùng Kolyma xa xôi, thậm chí còn có thể khiến cho con cái được tái phân loại thành “con cái của giai cấp công nhân”: việc này giúp chúng được quyền ưu tiên chấp nhận tại các học viện đào tạo cao cấp hơn, và là một lý do có tính hấp dẫn đại chúng khá cao.[533]

Tiền bạc và lợi ích rõ ràng cũng đủ để thu hút một số người lao động ở các tầng lớp thấp nhất. Nhiều người đơn giản chỉ xem Gulag như một lựa chọn đỡ xấu nhất trong những công việc phù hợp khả năng mình. Tại Liên Xô thời đại Stalin – một đất nước của chiến tranh, nạn đói và thiếu thốn – đi làm lính gác tù hay cai ngục có thể báo hiệu cho một thăng tiến xã hội không thể lường trước được. Susanna Pechora, tù vào đầu những năm 1950, đã nhớ lại mình có gặp một nữ cai tù đi làm trong trại vì đó là cách duy nhất để thoát khỏi cảnh khốn cùng kinh khủng trong nông trang tập thể nơi cô ta sinh ra: “cô ấy phải nuôi bảy đứa em trai em gái chỉ bằng đồng lương cai tù của mình”.[534] Một hồi ký khác kể lại câu chuyện về Maria Ivanova, một phụ nữ trẻ tình nguyện đi làm trong một trại năm 1948. Hy vọng thoát khỏi cuộc sống ở nông trang tập thể và còn hy vọng hơn có cơ hội kiếm được tấm chồng, thay vì thế Maria Ivanova trở thành tình nhân của một loạt công chức bậc rất thấp. Cuối cùng cô sống với hai đứa con ngoài giá thú và bà mẹ già trong căn hộ chỉ có một phòng.[535]

Nhưng thậm chí viễn cảnh của lương cao, kỳ nghỉ dài ngày và thăng tiến xã hội không phải lúc nào cũng đủ để cuốn hút người lao động vào hệ thống, đặc biệt tại các vị trí cấp dưới. Trong thời kỳ nhu cầu tăng cao, các văn phòng tuyển dụng lao động Liên Xô đơn giản là gửi người lao động tới nơi nào họ cần, thậm chí không thèm cho họ biết sẽ đi đâu. Một cựu y tá của Gulag, Zoya Eremenko, đã bị đưa thẳng từ trường đào tạo điều dưỡng đến làm việc ở nơi mà bà được cho biết sẽ là một công trường xây dựng. Khi đến nơi, bà nhận ra rằng đó là một trại tù, Krasnoyarsk-26. “Chúng tôi kinh ngạc và khiếp sợ, nhưng khi chúng tôi quen với nơi này, chúng tôi nhận ra rằng ở ‘nơi đó’, mọi người cũng không gì khác và công việc chăm sóc y tế cũng hệt như những gì chúng tôi đã hình dung khi đang học tập”, bà nhớ lại.[536]

Đặc biệt bi thảm là trường hợp của những người bị cưỡng bức phải vào làm việc trong các trại sau Thế Chiến thứ II. Hàng ngàn cựu tù binh Hồng quân từng lăn lộn dọc khắp nước Đức, cũng như các dân thường từng sống “ở nước ngoài” trong chiến tranh, cũng như người bị trục xuất hay đi tỵ nạn, đều bị bắt gọn sau khi vượt qua biên giới trở về Liên Xô, và nhốt trong các “trại thanh lọc”, ở đó họ bị thẩm vấn kỹ lưỡng. Những ai không bị bắt giam đôi khi bị chuyển ngay vào làm lính gác tù. Đầu năm 1946, có 31.000 người như vậy, và trong một số trại họ chiếm tới 80 phần trăm lực lượng lính gác.[537] Họ cũng không dễ dàng rời khỏi đó. Nhiều người bị tước hết giấy tờ – hộ chiếu, giấy phép cư trú, thẻ quân nhân. Không có những thứ này, họ không thể rời khỏi trại, chưa nói đến chuyện đi tìm công việc khác. Có khoảng từ 300 đến 400 người tự sát mỗi năm. Một người từng thử tự sát sau này đã giải thích lại: “Tôi từng phục vụ một thời gian rất dài, vậy mà vẫn không thể có được giấy phép cư trú, và gần như mỗi ngày một công an lại tới nhà với tờ trát bắt rời khỏi căn hộ đang ở, việc đó dẫn đến những cãi cọ trong gia đình tôi ngày nào cũng xảy ra”.[538]

Những người khác đơn giản là trở nên biến chất. Karlo Stajner, một Đảng viên Nam Tư và tù ở Norilsk trong và sau chiến tranh, đã nhớ lại rằng những lính gác kiểu đó “khác rõ rệt so với những ai không trải qua chiến tranh”:

Có những dấu hiệu rõ rệt của sự sa ngã đạo đức của một người. Ta có thể thấy điều đó trong việc họ sẵn sàng nhận hối lộ của đám tù nữ để trở thành khách thường xuyên của những người xinh mắt nhất, hay cho phép tù tội phạm rời đội để chui vào các căn hộ, sau đó chia chác của kiếm được với chúng. Họ không còn sợ các hình phạt nghiêm khắc có thể chịu lãnh nếu cấp trên của họ biết được những điều sai trái đó.[539]

Chỉ rất, rất ít kẻ phản ứng. Lấy ví dụ, hồ sơ lưu trữ ghi nhận trường hợp của một người được tuyển dụng ngoài nguyện vọng, tên là Danilyuk, đã dứt khoát từ chối phục vụ trong lực lượng lính gác vũ trang, lấy lý do là “tôi không muốn phục vụ cho bất cứ tổ chức nào của Bộ Nội vụ”. Danilyuk giữ khăng khăng như vậy mặc dù rằng lưu trữ ghi nhận đã có “các buổi họp chấn chỉnh”, không nghi ngờ gì là quá trình dọa nạt kéo dài, thậm chí là có đánh đập thực sự. Cuối cùng, ông này đã được thả khỏi lực lượng. Ít nhất trong trường hợp này, việc kiên quyết và khăng khăng từ chối làm việc cho Gulag đã có được kết quả.[540]

Mặc dù vậy, cuối cùng đúng là hệ thống trại có thưởng cho những nhân viên may mắn và trung thành nhất của mình, một số trong đó được nhận không chỉ có thăng tiến xã hội và cải thiện khẩu phần: những ai cùng đám lao động tù của mình chuyển được cho đất nước số lượng lớn vàng và gỗ rừng cuối cùng sẽ được nhận khen thưởng. Và trong khi một lagpunkt đốn gỗ bình thường không bao giờ là một nơi tốt đẹp để sống, kể cả với những người quản lý nó, trụ sở của một số trại lớn hơn lúc nào cũng là một nơi thực sự hết sức dễ chịu.

 Trong những năm 1940, các thành phố nằm tại trung tâm của những tổ hợp trại lớn – Magadan, Vorkuta, Norilsk, Ukhta – là những nơi rất rộng lớn, đông đúc, có cửa hàng, nhà hát và công viên. Cơ hội để có cuộc sống tốt đẹp tăng lên đáng kể kể từ những ngày khai phá đầu tiên của Gulag. Các chỉ huy hàng đầu tại những trại lớn có tiền lương cao, bổng lộc hậu hĩnh và nghỉ phép dài ngày hơn cả người làm trong giới lao động đời thường. Họ có thể dễ dàng mua những món hàng hóa và thực phẩm mà ở chỗ khác đang thiếu thốn. “Cuộc sống ở Norilsk tốt hơn nhiều so với bất cứ đâu trên đất nước Liên Xô”, Andrei Cheburkin, một quản đốc ở Norilsk và sau này trở thành quan chức địa phương, đã nhớ lại:

Điểm đầu tiên là mọi ông trùm đều có người hầu, là tù nhân. Kế đó là thực phẩm thật tuyệt vời. Có tất cả mọi loại cá. Bạn có thể đi câu hẳn ở trong hồ.Và nếu ở những nơi khác trên đất nước Liên Xô phải dùng phiếu thực phẩm thì ở đây chúng tôi thực sự không cần đến chúng. Nào thịt, nào bơ. Nếu bạn muốn sâm banh bạn phải lấy thêm cua nữa, chúng có nhiều lắm. Trứng cá muối… hàng thùng chất đống. Tất nhiên là tôi đang nói về đám các ông trùm. Tôi không đề cập đến người lao động. Nhưng người lao động ở đây là tù mà…

Lương khá hậu… nếu bạn là đội trưởng, bạn sẽ lãnh 6.000-8.000 rúp. Ở miền trung nước Nga bạn chỉ có thể được không hơn 1.200. Tôi tới Norilsk để làm quản đốc lao động thuộc một ban giám đốc đặc biệt của NKVD, có trách nhiệm tìm kiếm uranium. Tôi được hưởng lương quản đốc: 2.100 rúp trong tháng đầu, sau đó cứ mỗi sáu tháng tôi được tăng lương 10 %, khoảng gấp năm lần so với người khác hưởng trong giới lao động đời thường.[541]

Điểm đầu tiên của Cheburkin – “mọi ông trùm đều có người hầu” – là điểm mấu chốt, bởi trong thực tế nó chỉ áp dụng cho các ông trùm chứ không phải bất cứ ai khác. Về kỹ thuật, việc sử dụng tù để làm việc nhà là bị cấm. Những điều này lại hết sức phổ biến, cũng như được chính quyền biết rất rõ, và mặc dù có các cố gắng thường xuyên để chấm dứt tình trạng này, nó vẫn tiếp diễn.[542] Tại Vorkuta, Konstantin Rokossovsky, một sĩ quan Hồng quân về sau được thăng chức tướng, rồi nguyên soái, và rồi trở thành Bộ trưởng Quốc phòng của Ba Lan thời Stalin, đã từng làm người hầu cho một “cai ngục thô lỗ tên là Buchko, nhiệm vụ của ông bao gồm dọn bữa ăn, dọn dẹp và sưởi ấm căn nhà của ông chủ và v.v.”.[543] Ở Magadan, Evgeniya Ginzburg từng có thời làm thợ giặt cho vợ của một quan chức trại.[544]

Thomas Sgovio cũng làm cần vụ riêng cho một lính gác cấp cao trong trại ở Kolyma, soạn bữa ăn và tìm cách xoay sở ra rượu cho ông ta. Ông ta trở nên rất tin cậy Thomas. “Thomas, con trai ta”, ông ta nói, “hãy nhớ lấy một điều. Hãy để ý tấm thẻ Đảng của ta. Bất cứ lúc nào ta say – phải trông chừng đừng để ta đánh mất nó. Mày là người hầu của ta – và nếu ta đánh mất nó, ta sẽ buộc phải bắn mày như một con chó… mà ta thì không muốn phải làm chuyện đó”.[545]

Nhưng đối với những ông trùm lớn thực sự thì người hầu chỉ là chuyện khởi đầu. Ivan Nikishov, trở thành ông trùm Dalstroi năm 1939, giữa cao điểm của cuộc thanh trừng, và giữ chức vụ này đến tận năm 1948, đã nổi tiếng với việc tích lũy vô số của cải giữa cảnh xung quanh nghèo đói đến kinh khủng. Nikishov thuộc một thế hệ khác hẳn với người tiền nhiệm, Berzin – một thế hệ khá xa với những năm tháng đói kém và nhiệt tình hơn nhiều của thời Cách Mạng và Nội chiến. Có lẽ điều này đã dẫn đến việc Nikishov không ngần ngại gì lợi dụng vị trí của mình để thu xếp cuộc sống sung sướng. Ông ta trang bị cho mình một “lực lượng cảnh vệ cá nhân đông đảo, các xe hơi sang trọng, văn phòng tiện nghi đầy đủ và một nhà nghỉ dacha tuyệt vời nhìn ra Thái Bình Dương”.[546] Căn nhà nghỉ này, theo lời kể của một tù nhân, được trang bị thảm dệt phương Đông, da gấu và đèn chùm pha lê. Trong căn phòng ăn sang trọng, ông ta và vợ kế của mình – một chỉ huy trại trẻ tuổi và giàu tham vọng tên là Gridasova – được kể là ăn tối món thịt gấu quay, rượu vang vùng Caucasus, hoa quả và dâu tươi bay từ miền nam tới, cùng cà chua và dưa chuột tươi từ nhà lồng trồng rau cá nhân.[547]

Nikishov không phải người duy nhất thích hưởng thụ cuộc sống giàu sang. Lev Razgon, trong mô tả đáng nhớ về đại tá Tarasyuk, chỉ huy thời chiến của Ustvymlag, đã ghi lại những sự quá đáng tương tự:

Ông ta sống hệt như một quý tộc La Mã được cử làm tổng trấn tại một tỉnh man rợ vừa chiếm được. Rau quả và hoa tươi vô cùng xa lạ ở miền phương bắc, được trồng riêng cho ông ta trong những nhà lồng và vườn ươm đặc biệt. Những thợ làm tủ giỏi nhất được gọi để đóng đồ gỗ cho ông ta. Người thợ may nổi tiếng nhất vùng may cắt quần áo cho bà vợ tính tình đồng bóng và ngang ngạnh của ông ta. Khi thấy không khỏe ông ta không chịu khám bởi tay bác sĩ tự do quèn tự nguyện làm việc cho Gulag như một sinh viên trường y. Không, Tarasyuk được chữa trị bởi các giáo sư từng đứng đầu những bệnh viện lớn nhất của Moscow mà hiện đang chịu án dài năm trong lán y tế tại các trại lâm nghiệp xa xôi.[548]

Thường thường, tù bị yêu cầu phải giúp làm thỏa mãn những ý thích như vậy. Isaac Vogelfanger, một bác sĩ trại, đột nhiên thấy mình thường xuyên thiếu cồn y tế vì tay dược sĩ của ông lấy cồn để uống. Ông trùm trại sau đó dùng thứ rượu này để thết đám chức sắc tới thăm: “Dùng càng nhiều rượu cồn, họ càng nảy ra nhiều ý hay cho công tác ở Sevurallag”. Vogelfanger cũng chứng kiến một đầu bếp trại sửa soạn “đại tiệc” cho khách đến thăm, sử dụng những thực phẩm mà anh ta trữ sẵn cho các dịp như vậy: “trứng cá muối, cá chình xông khói, vằn thắn làm bằng bột nhào Pháp nhân nấm, cá hồi Bắc Cực sốt chanh, ngỗng quay và lợn sữa quay”.[549]

Cũng trong thời kỳ những năm 1940 này, các ông trùm như Nikishov bắt đầu thấy mình không chỉ còn là cai ngục nữa. Một số thậm chí còn cạnh tranh với nhau trong cuộc thi kỳ quái để bắt chước với lối sống Mỹ. Họ tranh đua xem ai có được đoàn kịch tù giỏi nhất, ban nhạc tù hay nhất, nghệ sĩ tù xuất sắc nhất. Lev Kopelev ngồi trại Unzhlag năm 1946, vào thời kỳ mà chỉ huy trại thường chọn thẳng từ trại tù ra “các diễn viên, nhạc công và nghệ sĩ giỏi nhất, từ đó ông ta cho họ những công việc được tin cẩn nhất, làm người lau dọn và chăm nom ở bệnh viện”. Khu trại trở nên nổi tiếng như một “chốn nương náu cho nghệ sĩ”.[550] Dalstroi cũng khoe ra một gánh hát tù gọi là Câu lạc bộ Sevvostlag, biểu diễn ở Magadan và một số trại ngoại vi của khu khai mỏ, gom tụ nhiều ca sĩ và vũ công nổi tiếng bị giam ở Kolyma.[551] Lev Razgon cũng tả lại về chỉ huy trại Ukhtizhemlag, “người duy trì một đoàn hát opera thực thụ tại Ukhta”, do một diễn viên Xôviết nổi tiếng chỉ đạo. Ông ta cũng “tuyển dụng” một nữ vũ công balê nổi tiếng của nhà hát Bolshoi, cùng với các ca sĩ và nhạc công tiếng tăm khác:

Đôi khi lãnh đạo của Ukhtizhemlag tới thăm đồng nghiệp hàng xóm của mình. Mặc dù mục đích chính thức là “chia sẻ kinh nghiệm”, cái cách giải thích nhạt nhẽo này trái ngược với những chuẩn bị và các nghi thức phức tạp y như dành cho chuyến viếng thăm của một nguyên thủ nước ngoài. Các ông trùm đi cùng đoàn tùy tùng khá đông gồm đủ lãnh đạo các phòng ban, những chỗ đặc biệt trong khách sạn được dọn sẵn cho họ, đường đi được cẩn thận lên kế hoạch và quà tặng được chuẩn bị sẵn… Ông trùm Ukhtizhemlag cũng mang theo những diễn viên giỏi nhất để các chủ nhà được chứng kiến nghệ thuật đang nở hoa ở chỗ ông ra sao, không nói quá chút nào.[552]

Cho đến ngày nay, nhà hát Ukhtizhemlag cũ – một công trình khổng lồ, màu trắng với các hàng cột mặt tiền, có gắn các biểu tượng sân khấu ở đầu hồi – vẫn là một trong những công trình có giá trị nhất tại thành phố Ukhta. Nó nằm trong bán kính đi bộ từ nơi ở cũ của chỉ huy trại, một căn nhà gỗ rộng gần rìa của công viên.

Nhưng không chỉ những ai có sở thích nghệ thuật mới khoái được chiều theo ý muốn. Những người thích thể thao cũng có cơ hội thử tay thành lập đội bóng cho riêng mình, đi thi đấu quyết liệt với các đội khác. Nikolai Starostin – cầu thủ ngôi sao bị bắt do đội của mình không may đã thắng đội của Beria – cũng bị chuyển đến Ukhta, nơi ông gặp toán áp tải mình ngay tại ga tàu. Ông được đưa đến gặp huấn luyện viên đội bóng địa phương, ông này gọi tên ông rất lịch sự nhã nhặn và cho ông biết rằng ông trùm trại đặc biệt muốn gặp ông: “Tâm hồn của tướng quân chỉ có bóng đá. Ông ấy chính là người đã đưa anh đến đây”. Starostin đã trải qua hầu hết thời gian để huấn luyện các đội bóng cho NKVD, di chuyển từ nơi này đến nơi khác tùy ý bất cứ vị chỉ huy nào muốn ông làm huấn luyện.[553]

 Thỉnh thoảng, chỉ là thỉnh thoảng, thông tin về những sự thái quá như vậy làm lóe lên tín hiệu báo động, hay ít nhất là khiến Moscow phải để ý. Có lẽ để phản ứng lại với những than phiền, Beria có lần đã ra lệnh thực hiện một cuộc điều tra bí mật về lối sống xa hoa của Nikishov. Báo cáo kết quả đã xác nhận rằng ngoài những chuyện khác, có một lần Nikishov đã dùng hết 15.000 rúp, một khoản tiền khổng lồ vào thời ấy, để tổ chức buổi tiệc kỷ niệm chuyến đến thăm của Đoàn hát Operetta Khabarovsk.[554] Báo cáo cũng lên án “bầu không khí nịnh hót” xung quanh Nikishov và bà vợ ông ta Gridasova: “Ảnh hưởng của Gridasova rất lớn, đến nỗi thậm chí các cấp phó của Nikishov cũng xác nhận rằng họ chỉ có thể giữ được vị trí của mình cho đến khi nào mà bà ta còn có cảm tình với họ”.[555] Tuy nhiên không có thay đổi nào được thực hiện. Gridasova và Nikishov vẫn tiếp tục ngự trị trong yên bình.

Trong những năm gần đây, thịnh hành ý kiến cho rằng, trái ngược với những cam đoan sau chiến tranh của mình, rất ít người Đức bị cưỡng bức phải lao động trong các trại tập trung hay những đội hành quyết. Một nhà nghiên cứu gần đây tuyên bố rằng hầu hết họ đã làm vậy một cách tự nguyện – một quan điểm đã gây ra vài tranh cãi.[556] Trong hoàn cảnh của nước Nga và các quốc gia hậu Liên Xô khác, vấn đề này cần phải được nghiên cứu theo cách khác. Rất thông thường, những nhân viên của trại – giống như hầu hết công dân Liên Xô khác – có rất ít chọn lựa. Một ủy ban lao động đơn giản là sẽ phân công cho họ một nơi làm việc, và thế là họ phải chuyển tới đó. Sự thiếu chọn lựa được chủ ý tổ chức trực tiếp trong hệ thống kinh tế Xôviết.

Tuy nhiên, không phải là đúng hẳn khi mô tả các sĩ quan NKVD và lính gác là “không khá khẩm gì hơn đám tù mà họ quản lý”, hay là nạn nhân của cùng một hệ thống, như một số người tìm cách chứng minh. Bởi mặc dù có thể họ muốn làm việc ở chỗ khác hơn, một khi họ đã đặt chân vào trong hệ thống thì các nhân viên của Gulag có nhiều lựa chọn hơn nhiều so với đám đồng sự Quốc xã, những kẻ có công việc bị giới hạn cứng nhắc hơn. Họ có thể chọn cách cư xử tàn bạo hay tử tế tùy ý. Họ có thể tùy ý bắt tù làm việc cho đến chết, hay có thể giúp nhiều người sống sót tùy sức. Họ có thể thông cảm với những người tù có số phận mà họ có lẽ đã từng trải qua, và có thể cùng chia sẻ với những người ấy lần nữa, hay họ có thể lợi dụng vận may hiện tại của mình để choàng khổ đau lên những người đồng chí trước đây hoặc sắp tới của mình.

Không gì trong quá khứ của họ có thể vạch trước ra tương lai cho họ, bởi cả đám quản lý Gulag lẫn lính gác trại bình thường đều xuất thân từ nhiều dân tộc và hoàn cảnh xã hội khác nhau, hệt như tù. Thực ra, khi được yêu cầu tả lại tính cách của đám lính gác, những người sống sót qua Gulag hầu như đều trả lời rằng bọn họ vô cùng khác biệt nhau. Tác giả có nêu câu hỏi đó với Galina Smirnova, người nhớ lại rằng “họ cũng như mọi người khác, rất khác biệt nhau”.[557] Anna Andreeva kể với tác giả rằng “có những kẻ ác dâm bệnh hoạn, và cũng có những người tốt hoàn toàn bình thường”. Andreeva cũng nhớ cái ngày vừa sau khi Stalin chết, viên kế toán trưởng của trại bà bất ngờ xông vào văn phòng kế toán nơi tù đang làm việc, chúc mừng, ôm chầm lấy họ và hét lên: “Các cô gái, hãy lột hết số tù ra, người ta đang trả lại quần áo tư trang cho các cô đó!”

Irena Arginskaya cũng kể cho tác giả rằng đám lính gác của cô không chỉ “là những loại người rất khác nhau”, mà còn là những người có thay đổi theo thời gian. Đặc biệt là đám lính nghĩa vụ hành xử “như thú vật” khi mới nhận việc, do họ bị nhiễm nặng tuyên truyền, nhưng “sau một thời gian họ bắt đầu hiểu ra – không phải là tất cả, nhưng một phần lớn – và thường là họ có thay đổi”.[558]

Đúng là chính quyền có áp đặt một số áp lực lên cả lính gác lẫn nhân viên quản lý, ngăn cản họ tỏ ra thương hại tù. Văn khố của thanh tra Gulag ghi lại trường hợp của Levin, trưởng ban hậu cần một khu vực của Dmitlag năm 1937, đã bị tích cực điều tra vì lòng nhân hậu của mình. Tội của ông này là đã cho phép một tù gặp anh ruột mình: thông thường, thân nhân bị giữ cách xa hệ thống nhà tù. Levin cũng bị tố cáo tỏ ra quá thân thiện với đám zek nói chung, và đặc biệt là với nhóm zek bị cho là Menshevik. Để đáp lại, Levin – bản thân ông là một cựu tù của Kênh đào Bạch Hải – đã tuyên bố rằng ông không hề biết họ là Menshevik. Bởi vì đó là năm 1937, dù gì thì ông cũng vẫn bị kết án.[559]

Tuy nhiên những sự phê bình kiểu ấy không được áp dụng chặt chẽ. Trong thực tế, nhiều vị chỉ huy cấp cao đúng là có nổi tiếng về việc tử tế đối với tù. Trong cuốn Hãy để Lịch sử phán xét lên án chủ nghĩa Stalin, nhà sử học bất đồng quan điểm và chuyên gia về luật quốc tế Roy Medvedev đã mô tả về vị chỉ huy trại V. A. Kundush, người đã cân nhắc hết sức nghiêm túc yêu cầu gia tăng sản lượng trong thời gian chiến tranh. Ông này đã đặt những tù chính trị có trình độ học vấn cao đảm nhiệm các công tác văn phòng và bắt tay vào đối xử tốt với tù của mình, thậm chí còn đảm bảo cho một số tù được tha sớm. Đơn vị của ông được nhận “Huân chương Cờ đỏ cho Quản lý” trong thời gian chiến tranh. Nhưng khi chiến tranh kết thúc, ông cũng bị bắt giam, có lẽ do sự quá nhân đạo tạo nên những thay đổi trong quá trình sản xuất.[560] Lev Razgon đã tả về một nhà tù trung chuyển khác thường ở Georgievsk, nơi mà cả ông lẫn Rika vợ kế của mình đã cùng trải qua:

Phòng giam không chỉ được quét dọn mà còn được lau chùi, cả sàn nhà lẫn phản giường. Thức ăn đầy đủ đến mức sự đói khát thường trực của tù khi vận chuyển đã hoàn toàn biến mất. Bạn có thể tắm táp sạch sẽ thực sự trong nhà tắm. Thậm chí còn có một căn phòng đặc biệt trang bị đầy đủ (điều này khiến Rika ngạc nhiên hơn bất cứ chuyện gì khác) nơi phụ nữ có thể trang điểm và làm dáng…[561]

Và còn có những chỗ khác nữa. Có lúc trong quá trình làm việc trong trại, Genrikh Gorchakov, một người Do Thái Nga bị bắt năm 1945, đã được phân công vào một trại cho tù tàn tật bên trong tổ hợp Siblag. Khu trại vừa được chuyển cho vị chỉ huy mới đảm nhiệm, một cựu sĩ quan tiền tuyến sau chiến tranh không thể tìm nổi bất cứ công việc nào khác. Nhận nhiệm vụ một cách nghiêm túc, vị chỉ huy cho xây các lán ở mới, xoay sở cho tù ở đó có được đệm giường và thậm chí cả khăn trải giường, tổ chức lại hệ thống lao động và đã hoàn toàn biến đổi khu trại.[562]

Còn Aleksei Pryadilov, một zek khác bị bắt khi mười sáu tuổi, đã bị đưa vào một trại nông nghiệp ở Altai. Ở đấy ông trùm trại “điều hành khu trại như một tổ chức kinh tế, và đối xử với tù nhân không phải như họ là lũ tội phạm và kẻ thù, những kẻ cần được “tái giáo dục”, mà như những người lao động. Ông ta tin rằng cố gắng bắt người đói phải làm việc cho tốt thì chẳng có ích gì”.[563] Thậm chí các thanh tra Gulag đôi khi cũng che giấu cho các chỉ huy tốt bụng. Một thanh tra đến thăm Birlag năm 1942 và nhận ra rằng “tù tại xí nghiệp này làm việc thật tuyệt vời bởi vì điều kiện sống của họ là tuyệt vời”. Lán ở của họ sạch sẽ, mỗi tù có chăn và khăn trải giường riêng, quần áo ấm và giày ủng chất lượng.[564]

Cũng có những hình thức nhân đạo trực tiếp hơn. Hồi ký của Galina Levinson ghi lại câu chuyện một chỉ huy trại trao đổi với một tù nữ về việc phá thai. “Khi cô rời trại cô sẽ thấy cô đơn”, ông nói với cô ta. “Hãy nghĩ xem sẽ tốt biết bao nếu có một đứa con”. Cho đến cuối đời, người phụ nữ này vẫn luôn nhớ ơn ông.[565] Anatoly Zhigulin cũng viết về một ông trùm trại “tốt” đã “cứu mạng hàng trăm người”, đã gọi những người được ông quản lý là “các đồng chí tù nhân” bất chấp các quy tắc, và ra lệnh đầu bếp cho họ ăn uống đầy đủ hơn. Rõ ràng, Zhigulin nhấn mạnh, ông ta “đã không nắm hết các quy tắc”.[566] Mariya Sandratskaya, bị bắt vì là vợ của một “kẻ thù”, cũng mô tả một ông trùm trại quan tâm đặc biệt đến các bà mẹ trong trại mình, đảm bảo cho việc nuôi trẻ được thực hiện tốt, các phụ nữ chăm con được ăn uống đầy đủ, và các bà mẹ không phải làm việc quá nặng.[567]

Trong thực tế, lòng nhân đạo là có thể cho phép: ở mọi mức độ, luôn luôn có một số người chống lại việc tuyên truyền mô tả tất cả tù nhân đều là kẻ thù, một số người hiểu được bản chất thật của sự việc. Và một số lượng đáng giật mình những hồi ký ghi nhận những trường hợp riêng lẻ của một lính gác tốt bụng, hay những cân nhắc cá biệt. “Tôi không nghi ngờ gì”, Evgeniya Ginzburg viết, “rằng trong đội quân đông đảo đám quản lý trại, có những con người lương thiện cảm thấy đau khổ trong vai trò của mình khi phải giám sát những kẻ hoàn toàn vô tội”.[568] Nhưng đồng thời, hầu hết hồi ký cũng tự hỏi làm thế nào vẫn tồn tại những quan niệm đặc biệt như vậy được. Bởi mặc dù có một số ít những ví dụ trái ngược, tù sạch sẽ không phải là cảnh phổ biến, rất nhiều trại gian khổ chết người – và hầu hết lính gác đều đối xử với tù của mình ít nhất là thờ ơ, còn tệ nhất là vô cùng tàn bạo độc ác.

Tác giả xin nhắc lại, không có trại nào bị yêu cầu phải thực sự tàn bạo. Trái lại: sự tàn bạo độc ác cố ý bị ban quản lý trung ương chính thức không chấp nhận. Lính gác trại và quản lý tỏ ra khắc nghiệt không cần thiết với tù sẽ bị trừng phạt, và rất thường xảy ra như thế. Văn khố của Vyatlag chứa nhiều báo cáo về các lính gác bị phạt vì “đánh đập zek có hệ thống”, vì ăn cắp đồ đạc của tù, và vì hãm hiếp tù nữ.[569] Văn khố của Dmitlag ghi lại nhiều bản án tội phạm cho quản lý trại vì bị tố cáo đánh đập tù nhân khi đang say rượu. Văn khố của Gulag trung ương cũng ghi lại các án phạt cho chỉ huy trại tù đã đánh đập tù nhân, hành hạ họ trong quá trình điều tra, hay chuyển tù đi trên các đoàn tàu chuyên chở mà không có quần áo ấm mùa đông thích hợp.[570]

 Nhưng sự tàn bạo vẫn tồn tại dai dẳng. Đôi khi nó chuyển thành ác dâm thực sự. Viktor Bulgakov, tù trong những năm 1950, đã nhớ lại có một lính gác chỗ ông, một người Kazakh thất học, tìm thấy sự thỏa mãn khi bắt tù phải đứng giữa trời tuyết, bị rét cóng từ từ, và một lính khác thích “phô trương sức mạnh của mình và đánh tù” chẳng vì lý do gì đặc biệt.[571] Văn khố của Gulag ngoài nhiều lưu trữ tương tự khác cũng chứa một mô tả về ông xếp của một trong những lagpunkt ở Volgostroi trong chiến tranh, đồng chí Reshetov, đã tống đám zek vào các phòng giam lạnh cóng để trừng phạt, và ra lệnh cho tù bị ốm phải làm việc trong băng giá khắc nghiệt, hậu quả là nhiều người chết ngay chỗ làm.[572]

Phổ biến hơn là những tàn bạo không quá ác dâm như việc tự thỏa mãn. Các lính gác bắn trúng tù chạy trốn được thưởng tiền, thậm chí có thể được cho nghỉ phép về thăm nhà. Lính gác do đó bị cám dỗ đến mức khuyến khích những vụ “chạy trốn” như vậy. Zhigulin đã tả lại hậu quả:

Tay lính gác có khi hét lên với ai đó đi trong đoàn “Ê, đưa tao tấm ván kìa!”

“Nhưng nó nằm ngoài hàng rào…”

“Không sao. Đi đi!”

Người tù đi, và thế là một tràng súng máy nổ vang sau lưng.[573]

Nhưng chuyện như vậy là phổ biến – như hồ sơ lưu trữ cho thấy. Năm 1938, bốn lính gác VOKhR làm việc tại Vyatlag bị kết tội giết chết hai tù mà họ đã “xúi giục” chạy trốn. Chung cuộc, hóa ra chỉ huy ban và trợ lý ông ta cũng đã tiếp tay để lấy đồ đạc của tù nhân.[574] Nhà văn Boris Dyakov cũng nhắc đến việc xúi giục bỏ trốn trong cuốn hồi ký Gulag “thân Liên Xô” của mình, xuất bản ở Liên Xô năm 1964.[575]

Giống như trên các đoàn tàu vận chuyển, sự tàn bạo trong trại dường như, tùy thời kỳ, bắt nguồn từ sự tức giận hay buồn chán do phải làm công việc hèn kém. Trong khi làm cô nuôi trẻ ở một bệnh viện Kolyma, Đảng viên Đảng Cộng sản Hà Lan Elinor Lipper đã ngồi suốt đêm cạnh một bệnh nhân bị viêm màng phổi và sốt cao. Ông ta cũng nổi nhọt mủ ở lưng, nguyên nhân do tay lính gác đã đưa ông tới bệnh viện:

Trong hơi thở hổn hển đau đớn, ông ấy kể cho tôi rằng tên lính gác đã muốn chuyến đi khó chịu này kết thúc càng sớm càng tốt, vì thế hắn đã thúc người tù bị bệnh và sốt cao đi hàng giờ liền bằng những cú quất gậy. Đến cuối chặng đi bộ hắn dọa sẽ nện gãy mọi đốt xương trên người tù nếu ông ta báo cáo lại ở bệnh viện rằng lính gác đã đánh ông.

Quá sợ hãi, người đàn ông đã từ chối kể câu chuyện lại trước mặt người khác. “Chúng tôi tiễn ông qua đời trong bình yên”, Lipper viết, “còn tên lính gác vẫn tiếp tục đánh đập tù mà không bị ai can thiệp”.[576]

Tuy nhiên, trong hầu hết thời gian, sự tàn bạo của lính gác trại Xôviết là không suy xét, ngu xuẩn, độc ác một cách biếng nhác, theo kiểu mà người ta hay làm đối với gia súc hay lũ cừu. Nếu lính gác không được yêu cầu rõ ràng phải ngược đãi tù nhân, bọn họ cũng không được dạy phải tôn trọng tù như những con người đàng hoàng, đặc biệt với đám tù chính trị. Trái lại, đã có cố gắng lớn được thực hiện để gieo rắc sự căm ghét đối với tù, những người thường xuyên bị mô tả là “đám tội phạm nguy hiểm, bọn gián điệp và phá hoại đang tìm cách tiêu diệt nhân dân Liên Xô”. Những tuyên truyền như vậy gây tác động ghê gớm lên những người đã chịu nhiều cay đắng vì không may mắn, vì các công việc mà họ không mong muốn và vì điều kiện sống tồi tệ.[577] Nó cũng hình thành nên quan điểm của đám công nhân tự do trong trại – những người địa phương làm việc trong trại nhưng không phải là nhân viên NKVD – cũng mạnh như hiệu quả nó tác động lên đám lính gác vũ trang, như lời một tù kể lại: “Thường thường, chúng tôi bị ngăn cách với đám công nhân tự do bởi một bức tường ngờ vực lẫn nhau… Bóng dáng xám xịt của chúng tôi, được dẫn đi bởi lính áp tải và đôi khi với chó canh, đối với họ có lẽ là thứ gì đó rất đáng ghét mà tốt nhất là không nên nghĩ tới”.[578]

Đúng là từ đầu những năm 1920, có thời kỳ lính gác trại Solovetsky đã bắt đám tù lạnh cóng phải nhảy xuống dòng sông khi có tiếng hô “Cá heo!” Tất nhiên, chuyện này trở nên tồi tệ hơn vào cuối những năm 1930, với sự hạ bậc của tù chính trị trở thành “kẻ thù của nhân dân”, cộng với sự khắc nghiệt của chế độ trại. Năm 1937, khi nghe thấy có một đoàn vận chuyển lớn chở đám Trốtkít đang trên đường tới Kolyma, ông trùm trại Eduard Berzin đã nói với một nhóm đồng sự rằng “Nếu lũ lợn ấy, hiện đang trên đường đi tới đây, đã thực hiện hành vi phá hoại ở đất liền, cần đảm bảo rằng tại Kolyma này chúng phải làm việc cho Liên bang Xô viết. Chúng ta có đủ phương tiện để bắt chúng làm việc…”[579]

Tuy nhiên, thậm chí sau khi Đại Khủng bố đã kết thúc, tuyên truyền cũng không bao giờ thực sự giảm bớt. Trong suốt thập niên 1940 và 1950, tù thường xuyên bị quy là tội phạm chiến tranh và cộng tác với kẻ thù, phản bội hoặc làm gián điệp. Đám dân tộc chủ nghĩa Ukraina ùa vào trại sau Thế chiến thứ II bị gọi tên theo nhiều kiểu như “bầy chó rắn độc, nô lệ của lũ đao phủ Quốc xã”, bọn “phát xít Đức Ukraina” hay “gián điệp của cơ quan tình báo nước ngoài”. Nikita Khrushchev, khi ấy là lãnh đạo Ukraina, đã phát biểu tại phiên họp toàn thể Hội đồng Trung ương rằng bọn dân tộc chủ nghĩa Ukraina đã “tự giết mình khi tìm cách làm vừa lòng ông chủ Hitler của chúng, chỉ mong bằng công phục vụ chó má ấy kiếm được một mẩu nhỏ của cướp được”.[580] Trong chiến tranh, lính gác hầu như đã gọi tất cả đám tù chính trị đều là “quân phát xít” hay “bầy lũ Hitler” hay “bọn Vlasovite” (những người đi theo tướng Vlasov, kẻ đã rời bỏ hàng ngũ Hồng quân quay sang phục vụ Hitler).

Điều này đặc biệt gây khó chịu đối với những người gốc Do Thái, với các cựu chiến binh từng chiến đấu dũng cảm chống lại quân Đức, và với các Đảng viên Cộng sản nước ngoài đã phải rời bỏ chính quê hương mình vì bọn phát xít.[581] “Chúng tôi không phải là quân phát xít, hầu hết chúng tôi đều từng là Đảng viên”, Đảng viên Đảng Cộng sản Nam Tư Karlo Stajner căm phẫn nói trước một nhóm tù tội phạm đang nhạo báng mình, những kẻ đang chửi đội lao động của tù chính trị là “bọn phát xít”.[582] Margarete Buber-Neumann, một Đảng viên Đảng Cộng sản Đức được thả khỏi Gulag chỉ để bị chuyển thẳng vào một trại tập trung Quốc xã, trại Ravensbruck, cũng viết lại rằng bà liên tục bị gọi là “đồ phát xít Đức”.[583] Và khi Mikhail Shreider, một sĩ quan NKVD bị bắt giam, nói với người hỏi cung mình rằng vì là người Do Thái nên khó có thể vu cáo ông tội cộng tác với bọn Hitler được, ông được trả lời rằng ông không phải là người Do Thái, mà đúng hơn là “một tên Đức cải trang làm Do Thái”.[584]

Tuy nhiên, cách gọi này không chỉ là một kiểu tập tành vô nghĩa ấu trĩ. Bằng cách mô tả họ là “kẻ thù” hay “không phải là con người chân chính”, lính gác đảm bảo cho mình cái quyền chính đáng để hành động. Trong thực tế, lối tu từ “kẻ thù” chỉ là một phần của hệ tư tưởng trong lực lượng quản lý Gulag. Phần còn lại – gọi là lối tu từ “nhà nước nô lệ” – thường xuyên đóng vào đầu tầm quan trọng của lao động, và của các chỉ tiêu sản lượng gia tăng không ngừng, cần thiết cho đất nước Liên Xô tiếp tục tồn tại. Nói thẳng ra là chuyện gì cũng có thể bào chữa được miễn nó đem lại nhiều vàng hơn cho đất nước. Lập luận này đã được tổng hợp rất khéo bởi Aleksei Loginov, vị giám đốc sản xuất đã nghỉ hưu của một số trại tù lao động ở Norilsk, phát biểu trong cuộc phỏng vấn với một nhà làm phim tài liệu người Anh:

Ngay từ đầu chúng tôi đã biết rõ rằng thế giới bên ngoài sẽ không bao giờ để yên cho cuộc Cách mạng của Liên Xô chúng tôi. Không chỉ có Stalin nhận ra điều này, mà tất cả mọi người, mỗi Đảng viên bình thường, mỗi cá nhân bình thường đều nhận ra rằng chúng tôi không chỉ phải xây dựng, mà phải xây dựng với nhận thức sâu sắc rằng chúng tôi sẽ phải sớm đương đầu với chiến tranh. Vì vậy tại khu vực của tôi, việc tìm kiếm tất cả các mỏ khoáng sản như đồng, nickel, nhôm và sắt v.v. đều nhộn nhịp không tưởng tượng nổi. Chúng tôi luôn luôn biết rằng Norilsk có nguồn khoáng sản khổng lồ – nhưng làm thế nào để khai thác chúng nơi miền Cực Bắc? Thế là toàn bộ sự mạo hiểm đều giao vào tay NKVD, Bộ Nội vụ. Còn ai có thể làm hơn được chứ? Anh biết có bao nhiêu người đã bị bắt rồi đấy. Và chúng tôi cần đến hàng chục ngàn người tới đó…[585]

Loginov phát biểu như trên vào những năm 1990, gần nửa thế kỷ sau khi Norilsk không còn là một tổ hợp lao động tù khổng lồ. Nhưng lời của ông ta đã lặp lại những gì được Anna Zakharova, vợ của một chỉ huy trại, viết ra vào năm 1964, trong một bức thư gửi tờ báo thông tấn Izvestiya của chính phủ mà không bao giờ được đăng – nhưng sau này được in bởi một tờ báo hoạt động ngầm. Giống như Loginov, Zakharova cũng nói về trách nhiệm và sự hy sinh mà chồng bà đã làm để phụng sự vinh quang của tổ quốc: “Sức khỏe của anh ấy đã bị hủy hoại khi làm việc với thế giới tội phạm, bởi mọi công việc ở đấy đều làm thần kinh ta mệt mỏi. Chúng tôi rất vui nếu được chuyển đi, bởi chồng tôi đã phục vụ hết nhiệm kỳ, nhưng họ không cho anh ấy đi. Anh ấy là một Đảng viên và là sĩ quan, anh ấy phải làm tròn trách nhiệm của mình”.[586]

Các quan điểm tương tự cũng được trao đổi với tác giả bởi một quản lý trại muốn giấu tên. Bà hãnh diện kể với tôi về công việc mà tù của bà đã làm được vì đất nước Liên Xô trong chiến tranh: “Mỗi người tù đều tuyệt đối làm việc và đóng góp theo cách riêng mình, cống hiến mọi thứ trong khả năng của mình cho mặt trận”.[587]

Trong cái giới hạn rộng lớn của lòng trung thành với tổ quốc Liên Xô và mục tiêu kinh tế của nó, đối với các thủ phạm, sự tàn bạo tiến hành nhân danh chỉ tiêu sản lượng dường như là sự thẳng thắn đáng khâm phục. Đúng hơn là, bản chất thật của sự tàn bạo, giống như bản chất thật của hệ thống trại, có thể được che lấp dưới yếu tố kinh tế. Sau khi phỏng vấn một cựu quản lý của Karlag năm 1991, nhà báo Mỹ Adam Hochschild đã phàn nàn rằng: “Nếu theo lời của đại tá thì ta không thể biết rằng đó là một nhà tù. Thay vào đó, ông ta gần như toàn nói về vai trò của Karlag trong nền kinh tế Liên Xô. Ông ta nghe cứ như một bí thư tỉnh ủy đang hãnh diện vậy: ‘Chúng tôi có các trạm thí nghiệm nông nghiệp của riêng mình. Nhân giống gia súc cũng được tiến hành. Một giống bò sữa đặc biệt, Thảo nguyên Đỏ, đã được gây giống tại đây…’ ”[588]

Ở những cấp cao nhất, quản lý thường mô tả tù nhân như thể họ không gì hơn là các máy móc hay công cụ sản xuất, cần thiết để hoàn thành công việc. Họ công khai nghĩ đó là thứ lao động rẻ tiền, tiện lợi – cần thiết và đơn giản, giống như nguồn xi măng hay sắt thép vậy. Cũng lại là Loginov, chỉ huy của Norilsk, tiếp tục giải thích:

Nếu chúng tôi gửi thường dân (tới Norilsk) trước hết chúng tôi phải xây nhà cho họ sống. Và làm sao mà dân thường có thể đến sống tại đây? Với tù thì thật dễ – tất cả những gì ta cần chỉ là cái lán ở, một lò sưởi có ống khói, và thế là họ tồn tại. Tiếp theo sau đó là chút thức ăn. Tóm lại, trong hoàn cảnh của thời kỳ đó, tù nhân là những người duy nhất ta có thể sử dụng với quy mô lớn như vậy. Nếu chúng tôi có đủ thời gian, có lẽ chúng tôi đã không phải làm cách ấy…[589]

Đồng thời, yếu tố kinh tế cho phép lãnh đạo trại bào chữa cho mọi thứ, thậm chí cả cái chết: tất cả đều vì gia tăng lợi ích. Có thời điểm, chuyện tranh cãi nêu trên được đẩy tới cực độ. Lấy ví dụ, Lev Razgon đã kể lại về cuộc nói chuyện giữa đại tá Tarasyuk, lúc đó là chỉ huy Ustvymlag, và một bác sĩ trại tên là Kogan, người đã mắc sai lầm khi khoe với Tarasyuk về việc có bao nhiêu bệnh nhân đã được ông này “giật khỏi tay căn bệnh viêm da pellagra”, một bệnh gây ra vì đói khát và thiếu vitamin. Theo Razgon, cuộc đối thoại tiếp theo như sau:

Tarasyuk: Họ được phát cái gì?

Kogan: Tất cả bọn họ được nhận liều chống viêm da do Ban Sức khỏe và Y tế Gulag cấp (và ông ta nêu rõ số lượng protein theo calory).

Tarsyuk: Có bao nhiêu người bọn họ sau đó đi làm tiếp trong rừng, và khi nào?

Kogan: À, tất nhiên không ai có thể quay lại làm việc trong rừng nữa. Nhưng hiện giờ họ đều sống sót và có thể sử dụng cho làm việc nhẹ trong zona.

Tarasyuk: Vậy không phát họ thêm liều chống viêm da nữa. Viết đi: những liều thuốc ấy phải phát cho những người đang làm việc trong rừng. Những tù khác phải nhận khẩu phần không có thuốc.

Kogan: Đồng chí đại tá! Chắc tôi đã giải thích chưa rõ. Những người ấy chỉ sống nổi nếu họ được nhận khẩu phần đặc biệt. Một tù tàn phế nhận có 400 gram bánh mì. Với khẩu phần như vậy chỉ mười ngày là họ chết. Chúng ta không thể làm như vậy!

Tarasyuk nhìn vị bác sĩ đang bối rối và thậm chí còn tỏ vẻ quan tâm. “Chuyện gì vậy? Chẳng lẽ lương tâm nghề nghiệp ngăn anh không được làm thế?”

“Tất nhiên là như vậy…”

“Tốt, tôi không cần quan tâm đến lương tâm của anh”, Tarasyuk lạnh lùng nói, và cũng không tỏ ra giận dữ. “Anh có chịu viết như thế không? Đi đi…”

Tất cả 246 người đều chết trong vòng một tháng.[590]

Những cuộc nói chuyện như vậy không phải là duy nhất hay là tự nghĩ ra, theo như văn khố cho thấy. Một thanh tra viên, khi báo cáo về điều kiện sống của tù ở Volgostroi trong thời gian chiến tranh, đã than phiền rằng ban quản lý trại “chỉ quan tâm tới sản lượng gỗ… thậm chí không chút để ý đến việc ăn uống hay quần áo cho tù, bắt họ đi làm mà không xem xét đến sức khỏe, không bao giờ lo lắng về chuyện họ có mặc đủ, hay đủ sức và đủ ăn hay không”.[591] Hồ sơ lưu cũng ghi lại nhận xét sau đây, thực hiện tại cuộc họp của các sĩ quan Vyatlag tháng 1/1943. Nói với thứ ngôn ngữ thống kê kinh tế thuần túy, đồng chí Avrutsky đã đưa ra đề nghị sau đây: “Chúng ta có đủ 100 phần trăm lực lượng lao động, nhưng không thể hoàn thành kế hoạch của mình, do số lượng Nhóm B cứ tiếp tục tăng. Nếu thức ăn chúng ta phát cho nhóm B được chuyển sang cho nhóm kế tiếp thì sau đó chúng ta không có Nhóm B nữa, và chúng ta sẽ hoàn thành được kế hoạch…”[592] Cụm từ “Nhóm B” tất nhiên là để chỉ những tù nhân yếu sức, thực sự sẽ không tồn tại nổi nếu họ bị cắt thực phẩm.

Nếu đám chỉ huy trại có quyền mặc sức đưa ra các quyết định như vậy vốn có thể ảnh hưởng lớn tới những người bị tác động, có lẽ không cần thiết để bắt những kẻ cấp dưới hơn phải nương tay. Một tù người Ba Lan, Kazimierz Zarod, đi cùng đoàn tù tới khu trại mới. Không được phát chút thức ăn nào, tù bắt đầu yếu dần. Cuối cùng, một người trong họ gục xuống và không thể đứng lên được nữa. Một lính gác chĩa súng vào anh ta. Người lính gác thứ hai dọa sẽ nổ súng:

“Vì Chúa”, tôi nghe tiếng người ấy rên rỉ, “xin anh cho tôi nghỉ một chút thôi tôi sẽ đuổi kịp mọi người”.

“Mày đi, hoặc là chết”, tên lính đầu tiên nói…

Tôi thấy hắn giương súng lên và nhắm bắn – tôi không tin nổi là hắn sẽ nổ súng. Những người trong đoàn đằng sau tôi lúc này đã tụm lại và hướng nhìn của tôi bị che khuất, nhưng đột nhiên một phát súng vang lên, tiếp theo là phát thứ hai, và tôi hiểu ra rằng con người kia đã chết.

Nhưng Zarod cũng ghi lại rằng không phải tất cả những người ngã xuống khi di chuyển đều bị bắn. Nếu họ còn trẻ, những người quá kiệt sức không thể bước nổi sẽ được tìm lại và ném lên xe ngựa, trên đó họ “nằm như những bao bột cho tới khi hồi lại… Lý do, theo như tôi thấy, là những người trẻ có thể hồi phục và tiếp tục làm việc, trong khi người lớn tuổi không đáng để được cứu. Rõ ràng những kẻ được ném như đống đồ cũ lên chiếc xe chuẩn bị sẵn không phải bởi vì lý do nhân đạo. Đám lính canh, mặc dù đều là người trẻ, đã đi lại quãng đường này nhiều lần và có lẽ không còn cảm xúc thương xót nào nữa”.[593]

Mặc dù không có hồi ký nào chứng minh, thái độ trên chắc chắn đã ảnh hưởng cả những kẻ nắm giữ vị trí hàng đầu của hệ thống trại. Trong suốt các chương ở trên, tác giả đã thường xuyên trích dẫn các báo cáo tìm thấy trong hồ sơ lưu của thanh tra Gulag, một bộ phận của văn phòng công tố Liên Xô. Những báo cáo ấy, được lập hết sức thường xuyên và chính xác, mang tính trung thực vô cùng. Chúng đề cập tới các cơn dịch sốt chấy rận, việc thiếu thốn thực phẩm, thiếu thốn quần áo. Chúng báo cáo về những trại nơi tỷ lệ tử vong là “quá cao”. Chúng giận dữ tố cáo các chỉ huy trại cụ thể vì cung cấp điều kiện sống không phù hợp cho tù. Chúng ước lượng số “ngày lao động” bị mất do bệnh tật, tai nạn và chết người. Khi đọc chúng, ta không còn nghi ngờ gì rằng các ông trùm Gulag ở Moscow biết – rất rõ và đích xác – cuộc sống trong trại là như thế nào: tất cả nằm ở đó, với thứ ngôn ngữ không kém chân thực hơn những gì Solzhenitsyn và Shalamov đã viết.[594]

Nhưng mặc dù đôi khi có các thay đổi, mặc dù đám chỉ huy lâu lâu có bị kết án, điều nổi bật trong các báo cáo đó là chúng luôn lặp đi lặp lại: chúng nhắc ta về thứ văn hóa thanh tra giả tạo ngớ ngẩn lố bịch đã được mô tả rất khéo bởi nhà văn Nga thế kỷ 19 Nikolai Gogol. Cứ như thể là cũng có theo dõi về hình thức, cũng có viết báo cáo đàng hoàng, cũng có tỏ ra giận dữ cho phải phép – nhưng những chuyện ảnh hưởng cụ thể lên người này người khác thì bị lờ tịt đi. Đám chỉ huy trại bị quở trách như cơm bữa vì không cải thiện nổi điều kiện sống, điều kiện sống tiếp tục không cải thiện nổi, và cuối cùng là câu chuyện dậm chân tại chỗ.

Rốt cục, không có ai buộc đám lính gác phải cứu tù thanh niên và giết chết tù già. Không có ai buộc đám chỉ huy trại phải giết bớt tù bị bệnh. Không có ai buộc các ông trùm Gulag ở Moscow phải lờ đi các kiến nghị trong báo cáo thanh tra. Nhưng các quyết định như vậy vẫn được thực hiện công khai và hàng ngày, bởi lính gác và quản lý trại có lẽ đã được làm cho hiểu rằng họ có quyền làm như vậy.

Hệ tư tưởng nhà nước nô lệ cũng không phải chỉ dành riêng cho các ông chủ Gulag. Tù nhân cũng được khuyến khích hợp tác với nó – và một số người đã làm như vậy.

 

14. Tù trại

 

Con người là giống sinh vật có thể thích nghi với mọi thứ, và tôi cho rằng đó là khái niệm đúng nhất về nó.

– Fyodor Dostoevsky, Ghi chép từ Ngôi nhà chết.

 

Urki

Bọn tội phạm

 

Đối với đám tù chính trị kinh nghiệm non nớt, đối với cô gái nông dân trẻ tuổi bị bắt vì ắn cắp một ổ bánh mì, đối với tay người Ba Lan bị lưu đày hoàn toàn không có chuẩn bị, cuộc chạm trán đầu tiên với bọn urki, tầng lớp tội phạm chuyên nghiệp ở Liên Xô, chắc hẳn sẽ rất lúng túng, choáng váng và không thể hiểu nổi. Evgeniya Ginzburg gặp bọn tù tội phạm nữ lần đầu tiên khi đang lên tàu đi Kolyma:

Chúng là lớp váng sữa của thế giới tội phạm: bọn giết người, lũ ác dâm, lão luyện trong mọi trò đồi bại tính dục… không bỏ phí chút thời gian nào, chúng bắt tay vào khủng bố tinh thần và bắt nạt các “quý bà”, khoái trá nhận thấy “lũ kẻ thù của nhân dân” là những sinh vật bị khinh rẻ và ruồng bỏ còn hơn cả bản thân chúng… Chúng giật lấy mẩu bánh mì của chúng tôi, cướp sạch đến mảnh giẻ rách và món đồ đạc tư trang cuối cùng, xua chúng tôi khỏi chỗ nằm mà chúng tôi phải chật vật mới tìm được…[595]

 Di chuyển trên cùng tuyến đường, Aleksandr Gorbatov – tướng quân Gorbatov, một anh hùng Liên Xô, khó có thể xem là một người hèn nhát – đã bị cướp mất đôi ủng ngay trong khoang chiếc tàu hơi nước Dzhurma khi đang vượt Biển Okhotsk:

Một tên trong bọn chúng đấm mạnh vào ngực tôi, sau đó vào đầu rồi vừa nói vừa nhìn thật đểu cáng: “Nhìn thằng này xem – mấy hôm trước nó bán tao đôi ủng, tiền thì bỏ túi mà ủng thì không chịu đưa!” Chúng bỏ đi với của món cướp được, cười ha hả vì hài lòng và chỉ ngưng đánh tôi nhừ tử cho đến khi, đã hoàn toàn tuyệt vọng, tôi đi theo chúng và xin được trả lại đôi ủng.[596]

Hàng chục hồi ký khác cũng mô tả các cảnh tương tự. Bọn tội phạm chuyên nghiệp xông vào đám tù với vẻ giận dữ điên cuồng, hất họ khỏi giường tầng trong lán hay trên tàu hỏa; ăn cắp mọi thứ quần áo còn lại của họ; hú hét, chửi bới và nguyền rủa. Đối với những người bình thường, sự xuất hiện và cung cách của chúng thật cực kỳ quái đản. Antoni Ekart, một tù người Ba Lan, đã chết khiếp bởi “sự hoàn toàn không thèm kiềm chế của bọn urka, chúng nhơn nhơn thực hiện mọi nhu cầu tự nhiên trước mặt mọi người, kể cả chuyện thủ dâm. Điều này khiến chúng giống bầy khỉ một cách đáng sợ, có vẻ còn có nhiều điểm chung với khỉ hơn là với người”. Mariya Ioffe, vợ của một người Bolshevik nổi tiếng[597], cũng viết rằng bọn trộm công nhiên giao cấu với nhau, trần truồng đi bộ trong lán và không có cảm xúc gì với người khác: “Chúng chỉ sống có mỗi phần xác”.[598]

Chỉ cần vài tuần hay vài tháng trong trại thôi là những kẻ ngoại đạo ngờ nghệch sẽ hiểu ra rằng thế giới tội phạm không chỉ có bề ngoài, rằng nó có tôn ti trật tự và hệ thống thứ bậc riêng của nó; rằng, trong thực tế, có rất nhiều kiểu trộm cướp khác nhau. Lev Razgon đã giải thích: “Chúng được chia ra thành các đẳng cấp và băng nhóm, mỗi loại có thứ kỷ luật sắt riêng với nhiều quy tắc và luật lệ, và nếu vi phạm thì sự trừng phạt sẽ rất nghiêm khắc: đỡ nhất thì cá nhân đó bị loại ra khỏi nhóm, còn tệ nhất là bị giết chết”.[599]

Karol Colonna-Czosnowski, một tù người Ba Lan nhận ra mình là tù chính trị duy nhất trong một trại đốn gỗ miền bắc gồm toàn tù tội phạm, cũng chứng kiến các khác biệt như trên:

Bọn tội phạm người Nga ngày ấy rất ý thức về chuyện đẳng cấp. Trong thực tế, đẳng cấp đối với chúng là tất cả. Trong hệ thống tôn ti của chúng, đám tội phạm tiếng tăm như cướp ngân hàng hay cướp tàu hỏa thuộc đẳng cấp trên. Grisha Tchorny, thủ lãnh bọn xã hội đen trong trại, là một kẻ như vậy. Dưới đáy hệ thống là lũ trộm vặt như bọn móc túi chẳng hạn. Bọn đàn anh sử dụng chúng làm phục dịch và đưa tin, tóm lại là chúng khá bị xem thường. Tất cả những tội khác tạo thành số đông thuộc tầng lớp ở giữa, nhưng thậm chí ở trong đám này cũng phân ra nhiều loại.

Theo nhiều cách, cái xã hội lạ lùng này như một phiên bản biếm họa của thế giới “đời thường”. Tại đó ta có thể tìm thấy hình ảnh tương tự của mọi khía cạnh tính cách tốt xấu đúng sai của con người. Lấy ví dụ, ta dễ dàng nhận ra trong đó một người giàu tham vọng thăng tiến, một kẻ hợm hĩnh, một gã thấy sang bắt quàng làm họ, một thằng lừa đảo, cũng như có những con người trung thực và hào sảng…[600]

Trên đỉnh của hệ thống trật tự ấy, có quyền áp đặt luật lệ lên trên tất cả, là bọn tội phạm chuyên nghiệp. Được gọi là urki, là blatnye, hay, nếu chúng thuộc đẳng cấp ưu tú độc đáo nhất của thế giới tội phạm, là vory v zakone – được dịch là “bọn cướp đúng luật” – lũ tội phạm chuyên nghiệp người Nga sống theo một loạt quy định luật lệ nằm trên cả quy định của Gulag, thậm chí còn lâu đời hơn. Chúng không giống chút gì với hầu hết vô số tù nhân bị lãnh án “tội phạm hình sự” bên trong Gulag. Những tù tội phạm được gọi là “thông thường” – những kẻ bị kết án trộm vặt, vi phạm quy định tại công trường, hay các tội phi chính trị khác – ghét cay ghét đắng bọn cướp đúng luật cũng ngang như họ ghét tù chính trị vậy.

Cũng không có gì đáng ngạc nhiên: bọn cướp đúng luật có lối văn hóa rất khác biệt so với cung cách của một công dân Liên Xô bình thường. Nguồn gốc của nó bắt rễ sâu xa từ lũ tội phạm ngầm thời nước Nga Sa hoàng, từ các băng nhóm trộm cướp và xin ăn điều hành các vụ trộm vặt vào thời kỳ đó.[601] Tuy nhiên nó đã phát triển lan rộng hơn nhiều trong những thập niên đầu tiên của chế độ Xôviết, nhờ hàng trăm ngàn trẻ mồ côi – nạn nhân trực tiếp của cách mạng, nội chiến và tập thể hóa – những kẻ phải vật lộn để sống sót, thoạt tiên là lang thang đường phố, sau đó là đi ăn trộm. Đến cuối những năm 1920, khi hệ thống trại bắt đầu lan rộng theo quy mô lớn, bọn tội phạm chuyên nghiệp biến thành một cộng đồng hoàn toàn độc lập, có bộ luật hành xử hoàn chỉnh và nghiêm khắc cấm chúng tuyệt đối không được có bất cứ liên hệ gì với chính quyền Xôviết. Một tên cướp đúng luật phải từ chối lao động, không được dùng giấy thông hành, từ chối cộng tác dưới bất cứ hình thức nào với chính quyền trừ phi nhằm mục đích lợi dụng nó: bọn “quý tộc” trong vở kịch Aristokraty năm 1934 của Nikolai Pogodin đã có thể xem là bọn cướp đúng luật, những kẻ về nguyên tắc từ chối làm bất cứ việc gì.[602]

Phần lớn nội dung chương trình truyền bá và tái giáo dục đầu những năm 1930 trong thực tế đều nhắm vào bọn cướp đúng luật hơn là vào tù chính trị. Lũ trộm cướp, vốn được xem là “gần gũi với xã hội” (sotsialno-blizkii) – trái ngược với tù chính trị, được xem là “nguy hiểm cho xã hội” (sotsialno-opasnyi) – được cho là có thể cải tạo được. Nhưng đến cuối thập niên 1930, chính quyền cuối cùng đã từ bỏ ý định cải tạo bọn tội phạm chuyên nghiệp. Thay vào đó, họ quyết định sử dụng bọn cướp đúng luật để quản lý và dọa dẫm các tù nhân khác, đặc biệt là đám “phản cách mạng”, những người mà bọn cướp đương nhiên là rất ghét.[603]

Đó không phải là một sáng tạo hoàn toàn mới. Một thế kỷ trước đấy, tù tội phạm ở Siberi đã rất ghét tù chính trị rồi. Trong cuốn Ghi chép từ Ngôi nhà chết, hồi ký có chút hư cấu về năm năm trong tù của mình, Dostoevsky đã ghi lại nhận xét của một người bạn tù như sau: “Không, chúng không ưa những tù quý phái, đặc biệt là tù chính trị; chúng không ngần ngại giết chết họ, và chẳng có gì là lạ. Trước hết vì ta là một loại người khác hẳn, không giống như chúng…”[604]

Tại Liên bang Xô viết, ban quản lý trại đã công khai bố trí những nhóm nhỏ tội phạm chuyên nghiệp để quản lý các tù khác từ khoảng 1937 cho tới cuối chiến tranh. Trong thời kỳ này các tên cướp đúng luật đẳng cấp cao nhất không phải làm việc, mà giữ nhiệm vụ bắt những người khác phải làm.[605] Lev Razgon đã mô tả như sau:

Chúng không làm việc nhưng chúng được cấp cho đầy đủ khẩu phần; chúng thu một món tiền cống từ tất cả đám “nông dân”, những người phải làm việc; chúng lấy đi phân nửa gói thực phẩm do thân nhân gửi và những món đồ tù mua từ cửa hàng nhu yếu phẩm; và chúng trơ trẽn vơ vét các đoàn tàu vận chuyển, lấy đi tất cả chỗ quần áo tốt nhất của người mới đến. Nói ngắn gọn, chúng là bọn ăn cướp, lũ khốn nạn, là băng tội phạm thực sự. Tất cả những tù tội phạm thường của trại – mà họ thì chiếm phần đông – đều căm ghét chúng vô vùng.[606]

Một số tù chính trị tìm được cách chung sống hòa thuận với bọn cướp đúng luật, đặc biệt là sau chiến tranh. Một số trùm tội phạm thích giữ tù chính trị bên cạnh làm kẻ lấy hên hay làm thủ hạ. Alexander Dolgun đã chiếm được sự tôn trọng của một trùm tội phạm tại một trại trung chuyển bằng cách nện nhừ tử một tội phạm cấp thấp hơn.[607] Một phần nhờ cũng đã đánh bại một tên tội phạm bằng đấu tay đôi, Marlen Korallov – một tù chính trị trẻ tuổi, sau này là người đồng sáng lập Hội Ký ức – đã được Nikola, trùm tội phạm trong trại, chú ý và cho phép Korallov ngồi cạnh mình trong lán. Quyết định này đã thay đổi địa vị của Korallov trong trại, ông lập tức được xem là được “bảo kê” bởi Nikola và được xếp ngay một chỗ ngủ tốt hơn hẳn: “Cả trại đều hiểu: nếu tôi trở thành một trong bộ ba xung quanh Nikola, vậy thì tôi là một phần của tầng lớp sáng giá trong trại… thái độ của mọi người đối với tôi thay đổi ngay lập tức”.[608]

Tuy nhiên, đối với phần đông, sự cai trị của bọn trộm cướp đối với tù chính trị là tuyệt đối. Địa vị chiếu trên của chúng giúp ta giải thích được tại sao chúng cảm thấy, theo như lời của một nhà tội phạm học, ở trại y như “ở nhà”: chúng sống sướng hơn các tù khác, và nắm một mức thực quyền trong trại mà chúng không thể hưởng được ở thế giới bên ngoài.[609] Lấy ví dụ, Korallov giải thích rằng Nikolai nằm trên “chiếc giường sắt duy nhất” trong lán, đã được đẩy vào một góc. Không có ai khác dám ngủ trên đó, và một nhóm thủ hạ luôn lởn vởn xung quanh để đảm bảo nó còn trống. Chúng cũng treo các tấm chăn hai bên giường quanh tên đại ca để ngăn không cho ai nhìn vào. Khoảng trống xung quanh đại ca được kiểm soát chặt chẽ. Những tên tù như vậy thậm chí còn xem bản án dài hạn của chúng là một niềm hãnh diện rất đàn ông. Korallov đã quan sát thấy như sau

Có một số gã thanh niên, nhằm nâng thêm vị thế cho mình, đã tìm cách trốn trại, một thứ cố gắng vô vọng, và sau đó nhận án thêm hai mươi lăm năm, có thể còn chịu thêm hai mươi lăm năm nữa vì tội phá hoại. Sau đó khi đến cắm chốt tại trại mới, chúng đi kể với mọi người rằng chúng phải chịu án 100 năm, khiến chúng trở thành các nhân vật đáng nể theo tiêu chuẩn đạo đức trong trại.[610]

Địa vị cao hơn của chúng khiến thế giới của bọn trộm cướp hấp dẫn đối với đám tù trẻ, những kẻ đôi khi được đưa vào bang hội huynh đệ theo các nghi lễ kết nạp rất phức tạp. Theo số liệu tập hợp bởi các sĩ quan công an mật và quản lý nhà tù những năm 1950, thành viên mới của các bè đảng phải tuyên thệ hứa trở thành một “tên trộm đáng giá” và phải chấp nhận các quy tắc chặt chẽ nghiêm khắc của cuộc đời trộm cướp. Đám trộm cướp xung quanh tiến cử kẻ mới nhập môn, khen ngợi hắn đã “bất chấp kỷ luật của trại” và đặt cho hắn một biệt danh. Tin tức về cuộc “phong tước” sẽ được truyền đi khắp hệ thống trại thông qua mạng lưới truyền tin của bọn trộm cướp, sao cho nếu tên cướp mới này có bị chuyển sang lagpunkt khác thì địa vị của hắn vẫn không thay đổi.[611]

Đó cũng là hệ thống mà Nikolai Medvedev (không có quan hệ gì với giới trí thức Moscow) nhận thấy vào năm 1946. Bị bắt khi còn tuổi thiếu niên vì tội ăn trộm thóc của nông trang tập thể, Medvedev được che chở dưới bóng của một trong những tay cướp đúng luật hàng đầu khi vẫn còn trên chuyến tàu vận chuyển, và dần dần len lỏi vào thế giới trộm cướp. Khi đến Magadan, Medvedev bị tống vào làm việc như các tù nhân khác – ông được phân công lau dọn nhà ăn, một nhiệm vụ khó có thể xem là nặng nhọc, nhưng đại ca của ông hét lên bắt ông không được làm: “và thế là tôi không làm việc, hệt như tất cả các tên trộm cướp khác không chịu làm việc”. Thay vào đó, những tù khác đã làm thay cho ông.[612]

Như Medvedev đã giải thích, ban quản lý trại không hề quan tâm đến việc đám tù đặc biệt này có làm việc hay không. “Đối với họ chỉ có một chuyện duy nhất là đáng kể: đó là khu mỏ có sản xuất ra vàng, càng nhiều vàng càng tốt, và trại có ổn định trật tự hay không”. Và, như hồi ký của ông đã chứng tỏ, bọn trộm có đảm bảo trật tự được giữ gìn. Những gì mà trại để mất khi hao hụt giờ công làm việc, sẽ được bù lại bằng kỷ luật trong trại. Ông giải thích rằng “nếu có ai đó bị kẻ khác xúc phạm, anh ta sẽ đi gặp “chính quyền” tội phạm để than phiền chứ không liên hệ chính quyền trại. Ông tuyên bố, hệ thống này giảm thiểu mức độ bạo lực và cãi vã, không có nó thì tình trạng này sẽ cao đến phát điên.[613]

Mô tả rõ ràng của Nikolai Medvedev về sự thống trị của bọn trộm cướp trên khu trại là thật tuyệt vời, một phần bởi vì nó tả lại thế giới tội phạm từ phía bên trong – rất nhiều tên urka hoàn toàn mù chữ, khó mà có ai viết lại được hồi ký – nhưng chủ yếu bởi vì nó tỏ ra thông cảm. Hầu hết những nhà chép sử “kinh điển” về Gulag – nhân chứng của những khủng bố, cướp bóc và hãm hiếp mà bọn trộm cướp đã làm đối với các cư dân khác trong trại – đều căm ghét chúng vô cùng tận. “Bọn tội phạm không phải là con người”, Shalamov đã viết thẳng thừng. “Những hành động xấu xa do bọn tội phạm gây ra trong trại thật vô số kể”.[614] Solzhenitsyn viết rằng “Chính xác là toàn thể thế giới loài người này, thế giới của chúng ta, với những đạo lý, truyền thống, cùng các mối quan hệ qua lại tương hỗ, chính là thứ đáng ghét nhất đối với bọn trộm cướp, là mục tiêu chính yếu để chúng phỉ báng, đối chọi sâu sắc nhất với các kubla, hay các băng đảng phản xã hội, phản cộng đồng của chúng”.[615] Zhigulin đã mô tả đầy sinh động về cái ách “trật tự” giả dối của bọn tội phạm đã thực sự hoạt động như thế nào. Một hôm, trong khi đang ngồi giữa căn phòng ăn gần như chẳng có ai, ông nghe thấy hai tù giành giật nhau vì cái thìa. Đột nhiên Dezemiya, “phó” thủ lãnh của tên thủ lãnh bọn cướp đúng luật trong trại, xộc ngay vào cửa:

“Ồn ào gì vậy, sao lại cãi nhau!? Chúng mày không được phép gây rối trong phòng ăn!”

“Hãy xem, nó lấy cái thìa của tôi và thay bằng cái khác. Tôi có cái còn nguyên, nó đưa lại cái bị gãy…”

“Tao sẽ phạt cả hai, mày đồng ý không”, Dezemiya phá ra cười. Và bằng hai động tác chọc gậy nhanh về phía hai kẻ đang tranh cãi; nhanh như chớp hắn chọc thủng mắt cả hai.[616]

Ảnh hưởng rõ ràng của bọn tội phạm lên đời sống trong trại là rất sâu sắc. Tiếng lóng của chúng, khác biệt so với tiếng Nga thông thường đến nỗi gần như có thể xếp nó thành một ngôn ngữ riêng, đã trở thành lối giao tiếp quan trọng nhất trong trại. Mặc dù nổi tiếng vì vốn từ chửi thề rủa xả phong phú phức tạp, một danh sách từ lóng tội phạm được sưu tập trong thập niên 1980 (nhiều từ vẫn còn giống với những từ được dùng trong thập niên 1940) còn bao gồm hàng trăm từ để chỉ các vật dụng bình thường, bao gồm quần áo, các bộ phận cơ thể và đồ dùng hàng ngày, khá khác biệt so với những từ tiếng Nga thông thường. Đối với các món được quan tâm đặc biệt – như tiền bạc, gái điếm, ăn trộm và kẻ trộm – có tới hàng chục từ đồng nghĩa. Cũng như các khái niệm chung về tội phạm (trong số đó có po muzike khodit, dịch sát nghĩa là “di chuyển theo tiếng nhạc”) có nhiều khái niệm riêng cho việc trộm cắp: trong số đó có ăn cắp tại ga tàu (derzhat sadku), ăn cắp trên xe buýt (marku derzhat), một vụ trộm không chuẩn bị trước (idti na shalnuyu), một vụ trộm ban ngày (dennik), một tên trộm nhà thờ (klyukvennik).[617]

Học được cách nói blatnoe slovo, “tiếng của trộm” – đôi khi còn gọi là blatnaya muzyka, nghĩa là “âm nhạc của trộm” – là một nghi lễ nhập môn mà gần như tù nào cũng phải làm, mặc dù không nhất thiết phải tự nguyện. Một số người không bao giờ quen được. Một nữ tù chính trị sau này viết lại rằng

Điều khó nhất phải chịu đựng trong một trại như vậy chính là bị phỉ báng và chửi rủa thường xuyên… thứ tiếng lóng bọn tội phạm nữ sử dụng tục tĩu đến nỗi khó có thể chịu đựng nổi và dường như chúng chỉ biết nói với người khác bằng cách thấp kém và thô tục nhất như thế mà thôi. Mỗi khi chúng cất tiếng chửi thề rủa xả, chúng tôi ghét đến mức quay sang nói với nhau, “Nếu nó có sắp chết khát ngay cạnh tớ thì tớ cũng không thèm cho nó một giọt nước đâu”.[618]

Những người khác thì tìm cách phân tích nó. Ngay từ năm 1925, một tù Solovetsky đã suy đoán về nguồn gốc của kho từ vựng phong phú ấy trong một bài báo ông viết cho tờ Solovetskie Ostrova, một trong các tạp chí của trại. Một số từ, ông nhấn mạnh, đơn giản là phản ánh đạo lý của bọn tội phạm: các từ ngữ về phụ nữ nửa tục tĩu, nửa ủy mị sướt mướt. Một số từ xuất phát từ ngữ cảnh: bọn trộm sử dụng từ “gõ” (stukat) thay cho từ “nói” (govorit), sẽ rõ nghĩa nếu ta biết tù hay gõ lên tường phòng để liên lạc với nhau.[619] Một cựu tù khác chú ý đến thực tế rằng một số từ – ví dụ shmon tức “khám xét”; musor tức “cớm”; fraier tức “tù không phải tội phạm” (còn được dịch là “thằng non nớt”) – dường như xuất phát từ tiếng Hebrew hay Yiddish.[620] Có lẽ đó là cuốn thánh kinh bắt nguồn từ vai trò mà thành phố cảng rộng lớn Odessa, một thời từng là thủ đô móc túi của nước Nga, giữ vị trí trong sự phát triển nền văn hóa của bọn trộm cướp.

Thậm chí, hết lần này đến lần khác, ban quản lý trại còn tìm cách loại bỏ thứ tiếng lóng này. Năm 1933, chỉ huy trại Dmitlag đã ra lệnh cho cấp dưới “thực hiện các biện pháp thích hợp” để khiến tù – cũng như lính gác và quản lý trại – chấm dứt sử dụng ngôn ngữ của bọn tội phạm, vốn đã được “sử dụng phổ biến, thậm chí cả trong văn bản và các phát biểu chính thức”.[621] Không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ rằng ông đã thành công.

Bọn trộm cướp đẳng cấp cao nhất không chỉ phát âm khác lạ, chúng còn trông rất khác so với tù thường. Có lẽ với tác động còn mạnh hơn cả ngôn ngữ, trang phục và gu thời trang kỳ quái đã củng cố đẳng cấp riêng dễ nhận biết của chúng, làm tăng sức đe dọa mà chúng tác động lên các tù thường. Trong thập niên 1940, theo lời Shalamov, tất thảy bọn cướp đúng luật tại Kolyma đều đeo thập giá bằng nhôm quanh cổ, không nhằm lý do tôn giáo: “Đó chỉ là một thứ biểu tượng”. Nhưng thời trang cũng có thay đổi:

Trong những năm hai mươi, bọn trộm cướp đội mũ lưỡi trai của trường dạy nghề; trước đấy một chút thì thời thượng là mũ lưỡi trai sĩ quan. Trong những năm bốn mươi, vào mùa đông, chúng đội mũ da không chóp, bẻ gập cổ ủng dạ và đeo thập giá quanh cổ. Chiếc thập giá này thường để trơn nhưng nếu quanh đấy có một họa sĩ thì anh ta sẽ bị buộc phải dùng cái kim để khắc lên nhiều thứ khác nhau: trái tim, lá bài, cảnh bị đóng đinh câu rút, một phụ nữ cởi truồng…[622]

Georgi Feldgun, cũng ở trong trại những năm 1940, nhớ lại rằng bọn trộm cướp có kiểu đi rất đặc trưng, “bước các bước ngắn, chân hơi giạng ra”, và bọc răng bạc hay vàng được chúng xem như một kiểu thời trang: “Bọn vor năm 1943 thường thường ra ngoài với bộ trang phục màu xanh dương sẫm đầy đủ áo quần mũ mão, gấu quần nhét trong ống ủng giả da. Cái mũ kéo sụp xuống mắt. Các hình xăm, thường là rất sướt mướt: ‘Con mãi nhớ mẹ yêu’, ‘Hận đời sao chỉ thấy sầu’…”[623]

Những hình xăm ấy, được nhiều người đề cập đến, cũng giúp phân biệt thành viên của thế giới trộm cướp với các tù tội phạm thông thường, và nhằm nhận biết địa vị của mỗi tên bên trong cái thế giới ấy. Theo một nhà nghiên cứu lịch sử trại, có nhiều kiểu hình xăm khác nhau dành cho đám đồng tính, cho bọn nghiện, cho những kẻ bị kết án hiếp dâm và cho những tên bị kết án giết người.[624] Solzhenitsyn giải thích rõ ràng hơn:

Chúng dành hết bộ da màu đồng của mình để xăm trổ và bằng cách này dần dần thỏa mãn thẩm mỹ, cảm hứng tính dục, thậm chí cả nhu cầu đạo lý của bản thân: chúng ngắm nhìn đầy thán phục con đại bàng dũng mãnh đậu trên vách đá hoặc đang bay lượn trời cao ở trên ngực, bụng hay lưng một tên khác. Hay hình ảnh chiếc búa khổng lồ cùng vầng mặt trời với các tia sáng chiếu đi mọi hướng; hay cảnh đàn ông đàn bà giao hợp; hay từng bộ phận cơ thể riêng lẻ tùy theo sở thích tình dục của mỗi tên; và rất bất ngờ, gần trái tim của chúng có ảnh Lenin hay Stalin, hay đôi khi cả hai… Đôi khi chúng phá ra cười trước ảnh một thợ đốt lò trông kỳ cục đang lùa than vào hậu môn chúng, hay một con khỉ đang thủ dâm. Và chúng đọc các khẩu hiệu trên người tên khác, kể cả những đứa đã quen nhìn chán mắt vẫn cứ tha thiết thích đọc đi đọc lại! “cưa được gái là ở miệng mình!”… Hay trên bụng một tên trộm nữ có hàng chữ “Chơi sướng một cái, chết cũng được!”[625]

Là một họa sĩ chuyên nghiệp, Thomas Sgovio mau chóng ngập đầu vào việc xăm mình. Có lần ông được đề nghị vẽ khuôn mặt Lenin lên ngực một tên: có một niềm tin trong bọn trộm cướp cho rằng đội hành quyết sẽ không bao giờ nổ súng vào chân dung Lenin hay Stalin.[626]

 Bọn trộm cướp cũng phân biệt bản thân với đám tù khác qua lối giải trí của mình. Có nhiều nghi thức phức tạp quanh các cuộc bài bạc của chúng, vốn mạo hiểm vô cùng, xuất phát cả từ bản thân trò chơi thường đặt cược rất lớn, lẫn từ phía chính quyền trừng phạt bất cứ ai bị bắt đang chơi bài.[627] Nhưng sự mạo hiểm có lẽ là một phần hấp dẫn khiến mọi người quen với nguy hiểm: Dmitri Likhachev, nhà bình luận văn học bị tù trên Solovetsky, nhận xét rằng nhiều tên đã “so sánh cảm xúc khi chơi bài giống như cảm xúc khi chúng đang phạm một tội”.[628]

Thực tế, bọn tội phạm qua mặt mọi cố gắng của NKVD nhằm chấm dứt việc đánh bài. Các cuộc khám xét và tịch thu đều vô tác dụng. Đám “chuyên gia” trong bọn chúng đã chuyên nghiệp hóa việc sản xuất các bộ bài, một quá trình cho đến thập niên 1940 đã trở thành tinh vi vô cùng. Trước tiên, tên “chuyên gia” sẽ cắt một vuông giấy bằng con dao cạo thật sắc. Để đảm bảo lá bài đủ cứng, hắn sẽ dán năm hoặc sáu vuông giấy với nhau bằng “keo” làm bằng cách chà mẩu ruột bánh mì ướt vào chiếc khăn tay. Sau đó, hắn nhét lá bài dưới giường suốt đêm cho cứng lại. Khi đã sẵn sàng, hắn đóng dấu lên lá bài bằng con dấu đục trên đáy cái ca nước. Hắn dùng tro đen làm quân bài màu đen. Nếu có thuốc streptomycin – trong trường hợp bác sĩ của trại hay nhà tù có, và bị hăm dọa hay hối lộ để xùy ra một ít – hắn sẽ làm cả quân bài màu đỏ nữa.[629]

Nghi thức chơi bài là một khía cạnh khủng khiếp nữa mà bọn trộm cướp gây ra đối với tù chính trị. Khi chơi với kẻ khác, bọn chúng đặt cược tiền, bánh mì và quần áo. Khi thua hết đồ của mình, chúng đặt đến tiền, bánh mì và quần áo của tù khác. Gustav Herling lần đầu chứng kiến một vụ như vậy trên một toa tàu kiểu Stolypin đi về Siberi. Ông đang đi cùng một bạn người Ba Lan tên là Shklovski. Cùng trên toa có ba tên urka, trong đó có một “tên khỉ đột với gương mặt Mông Cổ bèn bẹt”, đang chơi bài.

… thằng khỉ đột bất ngờ quăng bài, nhảy từ băng ghế xuống và đi tới chỗ Shklovski.

“Đưa tao cái áo”, hắn hét, “tao thua nó ván rồi”.

Shklovski mở to mắt và, không nhấc khỏi chỗ ngồi, nhún vai một cái.

“Đưa đây”, thằng khỉ nổi giận gầm lên, “đưa, hay là glaza vykolu (tao móc mắt mày ra)!” Vị đại tá từ từ đứng dậy và đưa hắn cái áo.

Chỉ sau này, khi đã ở trong trại lao động, tôi mới hiểu ý nghĩa cái cảnh kỳ quái ấy. Đặt cược vật dụng của tù khác khi chơi bài là một trong những trò giải trí phổ biến nhất của bọn urki, và sự hấp dẫn chính của nó nằm ở chỗ kẻ thua buộc phải ép nạn nhân đưa món đồ chúng đã thỏa thuận trước.[630]

Một tù nữ sống trong một lán toàn nữ đã “thua” một ván bài. Sau khi hay tin, đám phụ nữ lo lắng chờ đợi suốt mấy ngày liền, “đầy hoài nghi” – cho đến một đêm, cuộc tấn công nổ ra: “Sự náo động thật kinh khủng – phụ nữ la hét thất thanh như trời sụp, mãi cho tới khi có đàn ông xô tới cứu chúng tôi… cuối cùng không có gì nghiêm trọng xảy ra ngoại trừ vài bọc quần áo bị lấy mất và starosta trưởng lán bị đâm”.[631]

Nhưng đánh bài còn không nguy hiểm bằng chính bọn tội phạm chuyên nghiệp. Tướng Gorbatov đã gặp một tên trộm ở Kolyma chỉ còn hai ngón trên bàn tay trái. Hắn giải thích:

Tao chơi bài và thua đậm. Không có tiền nên tao đặt tiếp một bộ quần áo tốt, tất nhiên không phải của tao, mà của một thằng chính trị đang mặc. Nghĩa là tao phải lấy bộ đó ban đêm khi bọn tù cởi quần áo đi ngủ. Tao phải giao nó trước tám giờ sáng, nhưng đúng ngày đó người ta lại chuyển bọn chính trị đi trại khác. Hội các đại ca chỗ tao gặp nhau để đưa ra hình phạt cho tao. Thằng thắng bài muốn tao bị chặt hết ngón bàn tay trái. Các đại ca ra lệnh chỉ chặt hai. Họ cò kè một lát rồi đồng ý là chặt ba. Thế là tao đặt tay lên bàn và thằng thắng bài tao cầm cái gậy nện năm nhát đứt mất ba ngón tay của tao…

Hắn ta kết luận khá tự hào: “Chúng tao cũng có luật của mình, chỉ có điều khắc nghiệt hơn của chúng mày. Nếu mày làm đồng bọn thất vọng, mày phải trả giá”.[632] Thực ra, nghi thức hành luật của bọn tội phạm cũng rắc rối như lễ nhập môn của chúng, bao gồm một “phiên tòa”, xử án, và một bản án có thể yêu cầu đánh một trận, làm nhục hay thậm chí tử hình. Colonna-Czosnowski đã chứng kiến một canh bạc kéo dài, quyết liệt giữa hai tên cướp cấp cao, chỉ kết thúc khi một trong hai tên mất sạch đồ đạc. Thay vì phải mất một chân hay một tay, kẻ thắng yêu cầu một hình phạt nhục nhã khủng khiếp: hắn ra lệnh cho “họa sĩ” lán xăm một cái dương vật khổng lồ lên mặt tên kia, chĩa vào miệng gã. Mấy phút sau, kẻ thua ấn cái que cời lò nóng đỏ lên mặt mình, xóa hình xăm đi và khiến khuôn mặt mang sẹo suốt đời.[633] Anton Antonov-Ovseenko, con trai một lãnh đạo Bolshevik, cũng tuyên bố rằng đã gặp một “gã câm điếc” trong trại, tay này do thua bài nên bị cấm nói trong suốt ba năm. Thậm chí khi bị chuyển đến trại khác hắn cũng không dám vi phạm án phạt này, bởi urka mọi địa phương đều đã biết về chuyện đó: “Vi phạm thỏa thuận như vậy sẽ bị trừng phạt bằng cái chết. Không kẻ nào dám lẩn tránh luật lệ giang hồ”.[634]

Chính quyền biết rõ các nghi thức ấy và thường tìm cách can thiệp, nhưng không phải lúc nào cũng thành công. Trong một vụ năm 1951, một tòa án giang hồ quy tội chết cho một gã trộm tên là Yurilkin. Chính quyền trại nghe được về bản án này và chuyển Yurilkin, trước tiên là qua một trại khác, kế tiếp là một trại trung chuyển, sau đó là trại thứ ba nằm tại một vùng khác hẳn của đất nước. Tuy nhiên, cuối cùng hai tên cướp đúng luật đã đuổi theo hắn đến đấy và giết chết – tận bốn năm sau. Chúng cuối cùng bị đưa ra tòa và xử bắn vì tội giết người, nhưng thậm chí các hình phạt như vậy cũng không đủ làm chúng nhụt chí. Năm 1956, văn phòng công tố Xôviết lưu hành một nhận xét gây nản chí rằng “tổ chức tội phạm này tồn tại trong mọi Trại Lao động Cải tạo và thường quyết định do nhóm đưa ra để giết tù này tù kia trong các trại khác được thực hiện ngay tại trại đó mà không hề bị thắc mắc”.[635]

 Tòa án giang hồ cũng hoàn toàn có thể trừng phạt những kẻ bên ngoài, điều này có lẽ giải thích cho tại sao chúng gây ra nỗi khiếp sợ đến thế. Leonid Finkelstein, tù chính trị đầu thập niên 1950, nhớ lại một vụ giết người trả thù như vậy:

Tôi chỉ tận mắt chứng kiến một vụ giết người, nhưng rất ngoạn mục. Anh có thấy cái giũa thép lớn trông như thế nào không? Cái giũa như vậy, một đầu được mài nhọn, hoàn toàn là một thứ vũ khí chết người…

Chỗ chúng tôi có một naryadchik, người phân công công tác cho tù – anh ta bị tội gì thì tôi không nói được. Nhưng bọn cướp đúng luật quyết định rằng anh ta phải chết. Chuyện xảy ra khi chúng tôi đang đứng điểm danh, trước khi đi làm. Mỗi đội lao động đứng tách quãng với nhau. Tay naryadchik đang đứng hàng đầu. Anh ta tên là Kazakhov, người to lớn với cái bụng phệ. Một tên trong đám trộm cướp xông ra khỏi hàng, thọc cái giũa vào bụng anh ấy, ngay chỗ dạ dày. Có lẽ đòn đó đã được tập luyện cẩn thận. Hắn bị bắt ngay lập tức – nhưng chỉ bị án hai lăm năm. Tất nhiên hắn bị xử lại và bị thêm một án hai lăm năm nữa, vậy là hạn tù của hắn kéo dài thêm nhiều năm, nhưng ai mà quan tâm…[636]

Tuy nhiên, rất hiếm khi bọn cướp chĩa “công lý” của chúng vào những người quản lý khu trại. Nói chung, bọn chúng nếu không phải là những công dân Xôviết trung thành thì ít nhất cũng vui vẻ làm tròn một trách nhiệm mà chính quyền Xôviết phân công cho: đó là chúng hết sức vui lòng đi đè đầu cưỡi cổ tù chính trị – nhóm người mà, theo như lời Ginzburg đã nêu, thậm chí còn bị khinh rẻ và ruồng bỏ còn hơn cả bản thân chúng”.

 

 

Kontriki và Bytovye

Tù chính trị và Tù thường

 

Với thứ tiếng lóng riêng biệt, trang phục đặc trưng và lối văn hóa khắc nghiệt, bọn tội phạm chuyên nghiệp rất dễ bị nhận biết, và cũng dễ miêu tả. Sẽ là khó hơn nhiều nếu ta muốn khái quát hóa đám tù còn lại, những người tạo nên phần cốt lõi của lực lượng lao động Gulag, bởi họ xuất phát từ mọi tầng lớp trong xã hội Xôviết. Thực tế, trong một thời gian rất dài, hiểu biết của chúng ta về việc chính xác ai là nhóm tù chiếm số đông trong trại đã bị bóp méo bởi sự căn cứ mang tính gượng ép dựa vào các hồi ký, đặc biệt là các hồi ký xuất bản bên ngoài Liên Xô. Tác giả của chúng luôn là trí thức, thường là người nước ngoài và hầu như toàn là tù chính trị.

Tuy nhiên, kể từ khi Gorbachev tiến hành cởi mở glanost năm 1989, vô số chất liệu hồi ký thuộc nhiều dạng khác nhau được tiếp cận, cùng với một số tài liệu lưu trữ. Theo các nguồn lưu trữ này, vốn cần được xem xét hết sức thận trọng cân nhắc, giờ đây hóa ra là phần đông tù nhân hoàn toàn không phải là trí thức – tức là, không phải những người thuộc giới trí thức kỹ thuật và học thuật Nga, đủ sức tạo thành một giai cấp xã hội riêng biệt – mà là công nhân và nông dân. Một vài con số trong thập niên 1930, những năm mà phần lớn tù Gulag là kulak, đã đặc biệt tiết lộ nhiều điều. Năm 1934, chỉ có 0,7 % cộng đồng tù trại có trình độ cao hơn sơ cấp, trong khi 39,1 % được xếp loại chỉ ở trình độ sơ cấp. Đồng thời, có 42,6 % được mô tả là “nửa mù chữ”, và 12 % hoàn toàn mù chữ. Thậm chí đến năm 1938, năm mà Đại Khủng bố nổi thịnh nộ khắp giới trí thức Moscow và Leningrad, những người trình độ trên sơ cấp vẫn chỉ chiếm 1,1 % trong trại, trong khi hơn một nửa chỉ trình độ sơ cấp và một phần ba là nửa mù chữ.[637]

Có vẻ như không có đủ số liệu để so sánh về nguồn gốc xã hội của tù, nhưng cần lưu ý rằng vào năm 1948, chưa đến một phần tư số tù nhân là tù chính trị – những người bị kết án, căn cứ Điều 58 của Luật Hình sự, vì các tội “phản cách mạng”. Điều này trùng khớp một tỷ lệ đã có trước đó. Tù chính trị được thống kê chiếm chỉ từ 12 tới 18 % tù trong những năm khủng bố 1937 và 1938; leo lên khoảng 30-40 % trong thời gian chiến tranh; năm 1946 tăng đến gần 60 %, kết quả của đợt ân xá tù tội phạm nhân dịp chiến thắng; và rồi trở lại ổn định, chiếm khoảng từ một phần tư tới một phần ba tổng số tù trong suốt thời gian trị vì còn lại của Stalin.[638] Căn cứ số lượng cao hơn của tù phi chính trị – có thể yên tâm mà nói rằng phần lớn tù trải qua hệ thống Gulag cả trong những năm 1930 lẫn 1940 đều là những người bị án hình sự, và do đó chủ yếu là công nhân và nông dân.

Phác thảo chân dung hai zek của Sergei Reikhenberg. Magadan, chưa rõ thời gian.

Nhưng mặc dù các con số trên có thể giúp ta chỉnh lại ấn tượng xưa cũ, chúng cũng có thể khiến ta lệch hướng. Nhìn vào các chất liệu hồi ký mới chồng chất ở nước Nga kể từ khi Liên Xô sụp đổ, ta cũng thấy rõ rằng nhiều tù chính trị không phải thực sự là “tù chính trị” theo cách ngày nay người ta định nghĩa thuật ngữ này. Trong những năm 1920, hệ thống trại đúng là có giam giữ thành viên của các đảng phái chống Bolshevik, những người thực sự tự gọi mình là “tù chính trị”. Trong những năm 1930, cũng có một số Trốtkít chính cống – những người đúng là có ủng hộ Trotsky chống lại Stalin. Trong những năm 1940, sau khi có các cuộc bắt bớ tập thể ở Ukraina, những nước Baltic và Ba Lan, một làn sóng phiến quân và những nhà hoạt động chống Liên Xô thực thụ cũng ùa vào trong trại. Đầu những năm 1950, một số sinh viên chống chủ nghĩa Stalin cũng đã bị bắt.

Tuy nhiên, với hàng trăm ngàn người được xem là tù chính trị trong trại, phần lớn không phải là người bất đồng quan điểm, hay linh mục bí mật làm lễ, hay thậm chí các quan chức cấp cao trong Đảng. Họ là những người thường, bị gom từ các cuộc bắt bớ tập thể, những người không nhất thiết phải có bất cứ quan điểm chính trị mạnh mẽ nào. Olga Adamova-Sliozberg, từng là nhân viên thuộc Bộ công nghiệp ở Moscow, đã viết: “Trước khi bị bắt, tôi sống một cuộc sống rất đỗi bình thường, điển hình của một nữ chuyên gia Xôviết không phải là Đảng viên. Tôi làm việc vất vả nhưng không can dự đến vấn đề chính trị hay công cộng đặc biệt nào. Mối quan tâm thực sự của tôi chỉ là tổ ấm và gia đình”.[639]

Nếu tù chính trị không nhất thiết phải là nhà chính trị, hầu hết tù tội phạm cũng không nhất thiết phải là kẻ tội phạm. Trong khi cũng có một số tội phạm chuyên nghiệp và, trong những năm chiến tranh, có một số tội phạm chiến tranh và bọn cộng tác với Quốc xã thực thụ trong trại, hầu hết những người khác đều bị kết các án gọi là “thông thường” hay các tội “phi chính trị” mà trong những xã hội khác người ta không bao giờ xem là tội hình sự. Cha đẻ của Aleksandr Lebed, vị tướng và là nhà chính trị Nga thời hiện đại, có hai lần đi trễ làm mười phút ở nhà máy của mình, do đó ông phải nhận một án đi trại năm năm.[640] Tại trại tội phạm rộng lớn Polyansky nằm gần Krasnoyarsk-26, nơi có một trong những lò phản ứng hạt nhân của Liên Xô, hồ sơ lưu trữ ghi lại một tù “tội phạm” bị án sáu năm chỉ vì ăn cắp đôi ủng cao su ngoài chợ trời, một người khác bị mười năm vì ăn cắp mười ổ bánh mì, còn một người nữa – một tài xế xe tải một mình nuôi hai con – bị bảy năm vì ăn cắp ba chai rượu mà ông ta đang chở. Một người khác nữa bị năm năm vì “đầu cơ”, nghĩa là ông ta đã mua thuốc lá ở chỗ này và đem bán ở nơi khác.[641] Antoni Ekart kể lại câu chuyện một phụ nữ bị bắt bởi vì cô ta lấy cái bút chì từ văn phòng mình làm việc. Cô lấy nó cho con trai mình đang không thể làm bài tập vì thiếu bút viết.[642] Trong cái thế giới lộn tùng phèo của Gulag, tù tội phạm không giống bọn tội phạm thực thụ hơn bao nhiêu so với tù chính trị giống với những người tích cực chống đối chế độ.

Nói cách khác, tội phạm không phải lúc nào cũng là những kẻ phạm một tội ác thực thụ. Thậm chí còn hiếm khi hơn có tù chính trị thực sự phạm một tội chính trị. Tuy nhiên, điều này không ngăn được hệ thống luật pháp Xôviết phân loại họ cực kỳ cẩn thận. Xét theo nhóm, tình trạng phản cách mạng được đặt nguy hiểm hơn tù tội phạm; như tác giả đã viết, họ bị xem là “nguy hiểm cho xã hội”, không phù hợp với xã hội Xôviết bằng đám tội phạm “gần gũi với xã hội”. Nhưng tù chính trị cũng bị phân loại theo mỗi khoản của Điều 58 thuộc Luật Hình sự mà họ bị buộc tội. Evgeniya Ginzburg nhấn mạnh rằng trong số các tù chính trị “tốt” nhất là bị kết án theo Mục 10 của Điều 58 vì tội “Khích động Chống Xô viết” (ASA). Có những “kẻ bép xép”: họ đi kể các chuyện hài không may bài xích Đảng, hoặc lỡ miệng có đôi lời chỉ trích Stalin hay lãnh đạo Đảng địa phương (hoặc bị gã hàng xóm đố kỵ tố cáo là có làm thế). Thậm chí chính quyền trại cũng ngầm hiểu là đám “bép xép” đó chẳng phạm bất cứ tội nào, do đó những ai bị kết tội ASA đôi khi dễ được phân các công việc nhẹ nhàng hơn.

Dưới họ là những người bị kết tội “hoạt động phản cách mạng” (KRD). Dưới nữa là những người bị kết tội “hoạt động khủng bố phản cách mạng” (KRTD). Chữ “T” cộng thêm có nghĩ là, trong một số trại, một tù sẽ thực sự bị cấm phân giao bất cứ việc gì ngoại trừ những “lao động phổ thông” khó khăn nhất – đốn cây, đào mỏ, làm đường – đặc biệt nếu tội KRTD đi kèm một án mười, mười lăm năm hay nhiều hơn.[643]

Và còn có thể bị xuống thấp hơn nữa. Dưới KRTD là một loại nữa: KRTTD, không chỉ là hoạt động khủng bố, mà là “hoạt động khủng bố Trốtkít”. “Tôi biết có những trường hợp”, Lev Razgon viết, “bị thêm chữ T trong hồ sơ một tù trại vì đã cãi vã trong buổi điểm danh chung với tay phân công lao động hay tay trưởng Ban phân công lao động, cả hai đều là tội phạm”.[644] Một thay đổi nhỏ như thế có nghĩa là sự khác biệt giữa sống và chết, bởi không có đốc công nào dám giao cho tù KRTTD bất cứ việc gì ngoài những lao động tay chân nặng nhọc nhất.

Các quy định như vậy không phải lúc nào cũng rõ ràng. Trong thực tế, tù thường xuyên phải cân nhắc giá trị của các loại án khác nhau ấy, cố gắng hiểu được chúng sẽ ảnh hưởng ra sao đến cuộc đời họ. Varlam Shalamov ghi lại rằng sau khi ông được chọn để tham gia một khóa học hộ lý, chương trình học có thể giúp ông trở thành một feldsher – trợ lý bác sĩ, một trong những công việc sáng giá và dễ chịu nhất trong trại – ông đã lo lắng về ảnh hưởng của bản án mình đang chịu có thể tác động tới khả năng ông có được hoàn tất khóa học hay không: “Liệu họ có chấp nhận tù chính trị bị kết án theo Điều 58 Luật Hình sự không? Có khi chỉ cho những ai bị theo Khoản 10. Thế còn người đi chung với mình đằng sau xe tải? Anh ta cũng bị ASA, tội khích động chống Xôviết”.[645]

Các bản án chính thức không thôi chưa đủ để quyết định vị trí của người tù chính trị trong cơ cấu trại. Mặc dù họ không có một bộ luật nghiêm khắc quy định hành vi ứng xử như của bọn tội phạm và không có thứ ngôn ngữ thống nhất, cuối cùng họ vẫn tự chia tách thành những nhóm riêng biệt. Những băng nhóm chính trị ấy gắn bó với nhau bởi tình đồng chí, vì mong muốn tự bảo vệ, hay vì cùng chia sẻ chung một thế giới quan. Chúng không dễ nhận ra – chúng chồng chéo với nhau và với các băng nhóm phi chính trị khác – và chúng không phải trại nào cũng có. Tuy nhiên, khi xuất hiện, chúng thực sự quan trọng đối với sự sống còn của người tù.

Những nhóm chính trị cơ bản nhất, và sau cùng là mạnh mẽ nhất, là các nhóm được hình thành dựa trên quốc tịch hoặc cùng sinh quán. Những nhóm này trở nên quan trọng hơn trong và sau Thế Chiến thứ II, khi số lượng tù người nước ngoài tăng đột ngột. Sự hình thành của nó rất tự nhiên. Một tù mới đến sẽ lập tức đi tìm trong lán ở của mình đồng hương người Estonia, đồng hương người Ukraina hay, trong một số ít trường hợp, đồng hương người Mỹ. Walter Warwick, một trong những người “Mỹ gốc Phần Lan” xuất hiện trong trại cuối thập niên 1930, đã mô tả trong một bản chép tay ông viết cho gia đình về việc những người nói tiếng Phần Lan trong trại ông đã kết nhóm lại với nhau đặc biệt để tự bảo vệ chống lại lũ trộm cướp băng đảng của bọn tội phạm chuyên nghiệp: “Chúng tôi đi đến kết luận rằng nếu muốn dễ thở hơn một chút đối với chúng, chúng tôi phải có một băng nhóm. Vậy là chúng tôi lập băng nhóm riêng để giúp đỡ lẫn nhau. Tất cả chúng tôi có sáu người: hai người Mỹ gốc Phần… hai người Phần Lan nói tiếng Phần … và hai người tỉnh Leningrad nói tiếng Phần…”[646]

Không phải nhóm dân tộc nào cũng có chung nhau đặc tính. Lấy ví dụ, ý kiến mọi người khác nhau về việc tù Do Thái có nên có mạng lưới của riêng mình không, hay họ nên nhập vào cộng đồng chung người Nga (hay, trong trường hợp số lượng lớn người Ba Lan gốc Do Thái, nhập vào cộng đồng chung người Ba Lan). Trong những thời điểm khác nhau, dường như câu trả lời là khác nhau, và tùy thuộc rất nhiều vào quan điểm từng cá nhân. Nhiều người Do Thái bị bắt vào cuối thập niên 1930, trong thời kỳ tầng lớp ưu tú cấp cao và giới chức quân đội bị đàn áp, có vẻ đã tự xem mình trước hết là những người cộng sản, kế đến mới là Do Thái. Như một tù có nêu, trong hệ thống trại “Mọi người đều trở thành người Nga – người Kavkaz, Tartar, Do Thái”.[647]

Về sau, khi thêm nhiều người Do Thái cùng với người Ba Lan bị đưa tới trong thời gian chiến tranh, dường như họ đã lập ra các mạng lưới dân tộc rõ nét. Ada Federolf, người viết chung hồi ký với Adriadna Efron, con gái của Marina Tsvetaeva[648], đã mô tả một trại nơi xưởng may – theo tiêu chuẩn trong trại thì đây là nơi làm việc hết sức sang trọng – do một người tên là Lieberman quản lý. Bất cứ khi nào có đoàn tàu vận chuyển mới tới, ông ta liền đi thẳng vào giữa đám đông và gọi lớn “Có ai là Do Thái không? Có ai Do Thái không?” Khi gặp người Do Thái ông ta liền thu xếp cho họ làm việc với mình trong xưởng, nhờ thế cứu họ khỏi phải lao động phổ thông trong rừng. Lieberman cũng bày ra các kế hoạch tài tình để cứu các rabbi, vốn phải suốt ngày cầu nguyện. Ông cho xây một căn phòng xép đặc biệt cho vị rabbi, giấu ông này bên trong để không ai biết rằng ông này không làm việc. Ông cũng tự nghĩ ra công việc “quản lý chất lượng” cho một vị rabbi khác. Điều này cho phép ông rabbi đi lại tới lui suốt ngày giữa hàng các phụ nữ đang ngồi khâu may, vừa mỉm cười với họ vừa lầm rầm cầu nguyện.[649]

Đầu những năm 1950, khi việc bài Do Thái chính thức ở Liên Xô trở nên mạnh mẽ hơn, bị đẩy cao do sự ám ảnh của Stalin đối với các bác sĩ Do Thái mà ông cho rằng đang tìm cách giết mình, một lần nữa mọi việc trở nên khó khăn hơn đối với người Do Thái. Tuy vậy thậm chí kể cả vào thời điểm đó thì mức độ bài Do Thái cũng khác biệt giữa trại này với trại kia. Ada Puryzhinskaya, một tù Do Thái bị bắt vào cao điểm của “Mưu đồ Do thái” (anh trai bà đã bị xử án và hành quyết vì “âm mưu giết hại Stalin”), đã nhớ lại rằng “không có vấn đề đặc biệt gì nếu chỉ vì là người Do Thái”.[650] Nhưng Leonid Trus, một tù Do Thái khác bị bắt vào cùng thời kỳ, lại nhớ khác hẳn. Ông kể, có lần một zek già đã cứu ông thoát khỏi một gã điên cuồng chống Do Thái, một kẻ từng bị bắt vì bán tranh tượng thánh. Ông zek già quát gã bán tranh: anh, một người dám “mua và bán ảnh Chúa”, nên tự xấu hổ với chính mình.

Tuy nhiên, Trus không tìm cách che dấu chuyện mình là người Do Thái: trái lại, ông đã vẽ Ngôi sao David lên ủng của mình, chủ yếu để phòng có người muốn ăn cắp chúng. Trong trại của ông, “Người Do Thái, cũng như người Nga, không tự tổ chức các băng nhóm cho riêng họ”. Việc này khiến ông rất khó kiếm bạn thân: “Điều tệ nhất đối với tôi… đó là sự cô đơn, cảm giác phải là một người Do Thái giữa những người Nga, khi mọi người đều có bạn cùng địa phương thì tôi lại chỉ có một mình”.[651]

Bởi vì số lượng ít, người Tây Âu và Bắc Mỹ trong trại cũng rất khó lập ra được các mạng lưới nhóm mạnh. Họ ở trong tình thế khó mà có thể giúp đỡ ai được: nhiều người cảm thấy rối tinh rối mù với cuộc sống trong trại, không nói được tiếng Nga, thức ăn không nuốt nổi và điều kiện sống không thể chịu đựng nổi. Sau khi chứng kiến toàn bộ một nhóm phụ nữ Đức chết trong trại tù trung chuyển ở Vladivostok, mặc dù đã được cho uống nước đun sôi, Nina Gagen-Torn, một tù người Nga, đã nửa khóc nửa cười mà viết rằng “Giá như lán ở chỉ toàn công dân Xô viết vốn quen với thức ăn, thì họ hẳn đã chịu nổi món cá muối kể cả cá muối ươn thối. Khi một đoàn tàu vận chuyển lớn chở toàn thành viên của Quốc tế III bị bắt tới, tất cả bọn họ đều gục vì kiết lỵ nặng”.[652] Lev Razgon cũng thương hại những người nước ngoài khi viết rằng “họ không hiểu được cũng không thể nhắm mắt chấp nhận được; họ không tìm cách thích ứng để tồn tại. Họ chỉ biết túm tụm lại với nhau theo bản năng”.[653]

Nhưng người phương Tây – nhóm này gồm cả người Ba Lan, Tiệp và các nước Đông Âu khác – cũng có một số ưu điểm. Họ là đối tượng được đặc biệt quan tâm và có sức hấp dẫn, điều này đôi khi đem lại lợi thế trong quan hệ giao tiếp, được tặng những món thực phẩm, được đối xử nhẹ nhàng hơn. Antoni Ekart, một người Ba Lan học tập tại Thụy Sĩ, được phân một chỗ trong bệnh viện nhờ công viên hộ lý tên là Ackerman, người gốc Bessarabia: “Chính nhờ tôi đến từ phương Tây đã giúp đơn giản hóa vấn đề”: ai cũng chú ý đến người người phương Tây và muốn cứu giúp họ.[654] Flora Leipman, một phụ nữ Scotland mà chính cha dượng người Nga của bà đã khuyên gia đình bà chuyển đến Liên Xô, đã chủ động công khai gốc tích “Scot” của mình để làm vui cho các bạn tù:

Tôi kéo váy mình cao quá đầu gối để trông như cái kilt[655] và cuộn vớ chân xuống khiến chúng giống như đôi tất chân đàn ông Scot. Theo kiểu Scot, tôi lấy cái chăn vắt qua vai và lận cái mũ phía trước bụng để trông như cái sporran[656]. Tôi cất cao giọng đầy tự hào, hát bài “Annie-Laurie”, “Ye Banks and Braes o’ Bonnie Doon”, luôn luôn kết thúc với câu “Chúa phù hộ Đức Vua” mà không cần dịch lại.[657]

Ekart cũng kể lại về cảm xúc được là “một đối tượng gây sự tò mò” đối với đám trí thức Nga ra sao:

Tại những cuộc gặp gỡ được tổ chức đặc biệt và cẩn trọng với một số người đáng tin cậy nhất trong bọn họ, tôi kể lại với họ cuộc sống của mình tại Zurich, tại Warsaw, tại Vienna và các thành phố khác ở phương Tây. Cái áo khoác thể thao tôi mua ở Geneva và mấy chiếc sơmi lụa được xăm xoi kỹ càng nhất, bởi chúng là những thứ bằng chứng duy nhất về chất lượng cao của đời sống bên ngoài thế giới cộng sản. Một số người bọn họ tỏ ra hoài nghi rõ ràng khi nghe tôi nói rằng mình có thể dễ dàng mua tất cả những vật dụng ấy bằng tiền lương tháng kỹ sư bậc thấp của mình tại một nhà máy sản xuất xi măng.

“Anh có bao nhiêu bộ comlê?” một chuyên gia nông nghiệp hỏi tôi.

“Sáu hay bảy bộ gì đó”.

“Anh nói dối!” một anh chàng không hơn 25 tuổi thốt lên, sau đó quay sang những người khác: “Tại sao chúng ta có thể chịu nghe mấy câu chuyện vớ vẩn thế này? Mọi thứ đều có giới hạn; chúng ta không phải là trẻ con”.

Tôi phải chật vật giải thích rằng ở phương Tây, một người thường, biết quan tâm tới bề ngoài của mình, luôn tìm cách có nhiều bộ comlê bởi cách giữ quần áo vải vóc tốt nhất là đổi trang phục thường xuyên. Đối với các thành viên của giới trí thức Nga, hiếm khi có hơn một bộ comlê, điều này thật khó mà hiểu nổi.[658]

John Noble, một người Mỹ bị tóm ở Dresden, cũng trở thành một “VIP của Vorkuta” và thết đãi các bạn cùng trại mình những chuyện kể về cuộc sống Mỹ mà họ xem là không thể tin nổi. “Ê Johnny”, một người bọn họ nói với ông, “cậu muốn làm chúng tớ tin là công nhân Mỹ mỗi người đều có xe hơi riêng à?”[659]

Nhưng mặc dù quốc tịch nước ngoài khiến họ có được sự thán phục, nó cũng ngăn cản họ không thể liên hệ gần cận hơn đối với rất nhiều người trong trại được. Leipman viết rằng “thậm chí các ‘bạn’ cùng trại mới chuyển đến cũng sợ lại gần tôi vì tôi là người nước ngoài trong con mắt họ”.[660] Ekart cũng đau khổ khi nhận ra mình là người tù duy nhất không phải người Nga trong lagpunkt, vừa bởi vì các công dân Xôviết không ưa ông vừa vì ông cũng không ưa họ: “Tôi bị bao vây bởi một bầu không khí lạnh nhạt nếu không muốn nói là căm ghét… họ không hài lòng với thực tế là tôi không giống như họ. Từng bước chân một tôi đều cảm thấy sự ngờ vực, hung bạo, ác tâm và thô lỗ bẩm sinh của họ. Tôi phải mất ngủ nhiều đêm để canh chừng cho bản thân và vật dụng của mình”.[661]

Một lần nữa, cảm giác của ông chỉ là lặp lại từ một thời kỳ trước đó. Những mô tả của Dostoevsky về mối quan hệ giữa đám tù tội người Ba Lan và người Nga vào thế kỷ mười chín cũng giống hệt các chịu đựng Ekart phải trải qua: “Đám Ba Lan (tôi chỉ nói về những người phạm tội chính trị) cư xử theo một kiểu lịch sự tao nhã đầy sỉ nhục đối với chúng tôi, họ tuyệt đối không cởi mở và không thèm giấu diếm về sự xa lạ mà họ cảm thấy về đám tù xung quanh; về phần mình, những người tù hiểu điều đó rất rõ và cũng ăn miếng trả miếng với họ”.[662]

 Ở một địa vị thậm chí còn thấp hơn nữa là người Hồi giáo và các tù khác đến từ vùng Trung Á và một số nước cộng hòa vùng Kavkaz. Họ phải chịu cùng một kiểu rối tung như người phương Tây, nhưng lại luôn không thể giải trí hay khiến người Nga quan tâm được. Được gọi là natsmeny (trong tiếng Nga có nghĩa là “dân tộc thiểu số”), họ từng có trong trại vào cuối những năm 1920. Một số lượng lớn từng bị bắt trong quá trình bình định – và Xô viết hóa – vùng Trung Á và Bắc Kavkaz, rồi bị đưa tới làm việc trên Kênh đào Bạch Hải, nơi một người cùng thời viết rằng “Mọi thứ đối với họ đều khó mà chấp nhận nổi: những người chỉ huy họ, cái kênh đào mà họ đang xây, thứ thức ăn mà họ đang ăn”.[663] Từ 1933 trở đi nhiều người bọn họ cũng lao động tại Kênh đào Moscow-Volga, nơi ông trùm trại có vẻ thương hại họ. Có lúc ông này ra lệnh cho thuộc cấp dựng các lán ở riêng và lập những đội lao động riêng cho họ, nhờ thế ít nhất họ cũng được sống xung quanh đồng hương của mình.[664] Sau này, Gustav Herling có gặp họ trong một trại đốn gỗ miền bắc. Ông nhớ mình trông thấy họ mỗi buổi chiều tại bệnh xá trại, đứng chờ để gặp bác sĩ trại:

Thậm chí từ chỗ phòng chờ đã thấy họ ôm bụng đau đớn, ngay lúc bước vào sau vách ngăn họ lập tức òa lên rên rỉ, vừa kêu vừa nói thứ tiếng Nga bồi kỳ quặc nghe không phân biệt nổi. Không có phương thuốc nào chữa được cho bệnh của họ… họ cứ chết dần vì nhớ nhà, vì mong mỏi được về quê hương, vì đói, lạnh và cảnh tuyết trắng tẻ ngắt. Cặp mắt xếch của họ, không quen với cảnh quan phương bắc, lúc nào cũng ứa nước và lông mi bết lại với nhau thành một bệt nhỏ màu vàng. Vào mấy ngày hiếm hoi mà chúng tôi không phải làm việc, những người Uzbek, Turkmen và Kirghiz tụ tập trong một góc lán, ăn mặc thứ trang phục lễ hội của họ, áo dài lụa sặc sỡ và mũ chỏm thêu hoa văn. Không thể đoán được họ đang nói những gì với sự sinh động và phấn khích tột độ, hoa tay múa chân, la hét vào tai nhau rồi gật gật đầu buồn bã, nhưng tôi dám chắc rằng đó không phải là về khu trại.[665]

Cuộc sống không khá hơn đối với đám người Triều Tiên, chủ yếu là các công dân Xôviết gốc Triều Tiên hay người Nhật, có khoảng 600.000 người như vậy đến Gulag và hệ thống trại tù binh chiến tranh vào cuối chiến tranh. Người Nhật đặc biệt khổ vì chuyện thức ăn ở đây, vốn không chỉ thiếu mà còn lạ và rất khó ăn. Kết quả là họ đi tìm và ăn những thứ mà đối với bạn tù của họ là cũng khó ăn không kém: rau dại, côn trùng, sâu bọ, rắn và các loại nấm mà thậm chí người Nga còn không dám sờ vào.[666] Thường thường, những cải thiện như vậy kết thúc rất buồn: có các lưu trữ về chuyện tù người Nhật chết vì ăn lá độc hoặc rau dại.[667] Một chút ám chỉ về việc người Nhật cảm thấy bị cô lập ra sao trong trại xuất hiện trong hồi ký của một tù người Nga mà có lần, tại thư viện của trại, đã tìm thấy một cuốn sách mỏng – in bài phát biểu của nhà lãnh đạo Bolshevik Zhdanov – viết bằng tiếng Nhật. Ông đem nó cho một tù binh chiến tranh người Nhật mà ông quen: “Lần đầu tiên tôi thấy anh ấy thật sự hạnh phúc. Về sau anh ấy nói với tôi rằng anh đọc nó mỗi ngày, chỉ cốt để được đọc thứ ngôn ngữ của xứ sở mình”.[668]

Vài dân tộc vùng Viễn Đông khác thích ứng mau lẹ hơn. Một số hồi ký đề cập tới tổ chức chặt chẽ của người Trung Hoa – một số là người “Xôviết” thuộc dân tộc Trung Hoa sinh ra tại Liên Xô, một số là lao động làm thuê hợp pháp trong những năm 1920, còn một số là những người không may mắn vô tình hay hữu ý bước qua đường biên giới dài dằng dặc giữa Trung Quốc và Liên Xô. Một tù nhớ lại đã được một người Hoa kể rằng anh ta, cũng như nhiều người khác, đã bị bắt vì bơi qua sông Amur vào Liên Xô, bị thu hút bởi cảnh quan ở bờ bên kia: “Những tán lá vừa xanh vừa vàng… thảo nguyên đẹp vô cùng! Nhưng mấy người vùng tôi vượt qua sông đều không bao giờ quay về. Chúng tôi cho rằng đó là do cuộc sống ở đấy rất sung sướng, vì thế chúng tôi quyết định cũng vượt sông. Vừa bơi qua là chúng tôi bị bắt và kết án theo Điều 58, Khoản 6, tội gián điệp. Mười năm”.[669]

 Dmitri Panin, một trong những bạn cùng trại với Solzhenitsyn, nhớ lại, trong trại người Hoa “chỉ liên hệ trao đổi chung với nhau. Để trả lời bất cứ câu hỏi nào của chúng tôi, họ chỉ im lặng nhìn lại vẻ không hiểu”.[670] Karlo Stajner nhớ lại rằng họ cực kỳ giỏi dắt mối việc làm cho người khác: “Ở khắp Châu Âu, người Hoa đều nổi tiếng vì giỏi bịp, nhưng trong trại họ được giao cho làm việc giặt giũ. Tôi nhớ không thấy bất cứ ai làm việc giặt quần áo mà không phải là người Hoa tại mọi trại mà tôi từng trải qua”.[671]

Cho đến lúc này các cộng đồng dân tộc có ảnh hưởng nhất trong trại là của người Baltic và Tây Ukraina, những người bị gom hàng loạt vào trại trong và sau chiến tranh (xem Chương 20). Ít hơn về số lượng những cũng có ảnh hưởng là người Ba Lan, đặc biệt là những người Ba Lan nổi loạn chống cộng xuất hiện trong trại vào cuối thập niên 1940 – cũng như những người Chesnia, vốn được Solzhenitsyn mô tả là “một dân tộc không chịu đầu hàng, không chấp nhận thói quen quy phục”, và là những người nổi bật, theo một vài khía cạnh, trong số các dân tộc Kavkaz khác.[672] Sức mạnh của những nhóm sắc tộc đặc biệt này là ở số lượng ít ỏi của họ và trong sự chống đối rõ rệt của họ đối với Liên Xô, việc nó xâm chiếm vùng đất của họ được họ xem là bất hợp pháp. Những người Ba Lan, Baltic và Ukraina thời hậu chiến cũng có kinh nghiệm quân sự và hoạt động du kích, và trong một vài trường hợp tổ chức du kích của họ vẫn được duy trì trong trại. Ngay sau chiến tranh, ban tham mưu của UPA, Quân đội Khởi nghĩa Ukraina, một trong nhiều nhóm chiến đấu giành độc lập cho Ukraina thời kỳ ấy, đã ban hành một tuyên bố gửi tất cả người Ukraina đã bị lưu đày hay chuyển vào trại: “Bất cứ bạn ở đâu, trong hầm mỏ, trong rừng hay trong trại, hãy luôn vững vàng không thay đổi, luôn là người Ukraina chân chính và hãy tiếp tục chiến đấu”.

Trong trại, các cựu du kích tự giác giúp đỡ lẫn nhau và trông nom những người mới đến. Adam Galinski, một người Ba Lan từng chiến đấu cùng Đội quân Quê hương Ba Lan chống Xô viết, cả trong lẫn sau chiến tranh, đã viết rằng: “Chúng tôi đặc biệt chăm sóc những thanh niên trong Đội quân Quê hương và giúp họ giữ vững tinh thần, điều quan trọng nhất giữa bầu không khí dễ gây thoái hóa đạo đức tác động lên nhiều nhóm dân tộc khác nhau bị giam tại Vorkuta”.[673]

Trong những năm về sau, khi cần có nhiều quyền lực hơn để ảnh hưởng tới việc điều hành quản lý trong trại, người Ba Lan, Baltic và Ukraina – cũng như người Gruzia, Armenia và Chesnia – cũng lập ra các đội lao động riêng chỉ toàn người cùng xứ sở, ngủ trong các lán riêng cho người cùng xứ sở và tổ chức kỷ niệm các ngày lễ dân tộc. Trong một số thời kỳ, những nhóm đầy uy thế này có hợp tác chung với nhau. Nhà văn Ba Lan Aleksander Wat đã viết rằng người Ukraina và Ba Lan, những kẻ thù quyết liệt của nhau thời chiến tranh với các hoạt động du kích giành giật nhau từng tấc đất miền Tây Ukraina, nay liên kết với nhau trong nhà tù Liên Xô “vừa dè chừng nhưng cũng vừa giữ uy tín với nhau chưa bao giờ sai hẹn. ‘Chúng ta là kẻ thù, nhưng không phải tại đây’ ”.[674]

Trong vài thời điểm khác, những nhóm dân tộc này lại vừa kèn cựa nhau, vừa kèn cựa với người Nga. Lyudmila Khachatryan, bản thân bà bị bắt vì yêu một người lính Nam Tư, đã nhớ lại rằng người Ukraina trong trại bà từ chối không chịu làm việc chung với người Nga.[675] Một người từng chứng kiến khác cũng viết lại rằng các nhóm dân tộc chống đối “có đặc điểm là một mặt thì thù ghét chế độ, mặt khác cũng rất thù ghét người Nga”. Edward Buca nhớ rằng có một kiểu thù ghét còn phổ biến hơn – “Hiếm khi một tù chịu giúp bất cứ thứ gì cho một người thuộc quốc tịch khác”[676] – mặc dù Pavel Negretov, ở Vorkuta cùng thời với Buca, cảm thấy rằng hầu hết các quốc tịch đều sống hòa thuận với nhau, trừ khi họ vướng phải “sự khiêu khích” của ban quản lý: “bọn họ cố gắng, thông qua đám chỉ điểm của mình… khiến chúng tôi cãi cọ với nhau”.[677]

Vào cuối thập niên 1940, khi các nhóm sắc tộc khác nhau thay thế trách nhiệm của bọn tội phạm để làm cảnh sát giữ trật tự trong trại, đôi lúc họ có đánh lẫn nhau để tranh giành quyền lực. Marlen Korallov nhớ lại rằng “bọn họ bắt đầu đánh nhau giành quyền lực, và có quyền lực nghĩa là rất có lợi: lấy ví dụ, ai làm chủ được nhà ăn sẽ rất sướng bởi đầu bếp phải làm việc trực tiếp vì ông chủ đó”. Theo Korallov, sự cân bằng giữa các nhóm tù lúc đó là hết sức mong manh, có thể dễ dàng bị đảo ngược vì một chuyến tàu vận chuyển mới tới. Lấy ví dụ, khi một nhóm người Chesnia tới lagpunkt của ông, họ tiến vào lán  và “ném tất cả đồ đạc tầng giường dưới xuống sàn” trong trại đó tầng giường dưới là tầng của đám “quý tộc” – và thay vào bằng các vật dụng của riêng họ”.[678]

Leonid Sitko, một tù từng trải qua trại tù binh Quốc xã nhưng bị bắt lại ngay sau khi trở về Nga, đã chứng kiến một trận chiến khốc liệt hơn nhiều giữa người Chesnia, người Nga và người Ukraina vào cuối thập niên 1940. Chuyện cãi cọ bắt đầu bằng một tranh luận riêng tư giữa mấy tay đội trưởng và dần dần leo thang: “nó biến thành cuộc chiến tranh, chiến tranh toàn diện”. Đám Chesnia sắp xếp một cuộc tấn công vào lán người Nga, kết quả là nhiều người bị thương. Sau đó, tất cả những tay đầu sỏ đều bị tống vào khám phạt. Mặc dù các tranh luận chỉ có ảnh hưởng bên trong trại, chúng vốn bắt nguồn sâu xa từ vấn đề dân tộc, Sitko giải thích: “Người Baltic và Ukraina xem người Xôviết và Nga là một và cùng giống nhau. Mặc dù có rất nhiều người Nga trong trại, điều đó không cản họ cho rằng người Nga là bọn chiếm đóng và trộm cướp”.

Bản thân Sitko có lần vào giữa đêm bị một nhóm người Tây Ukraina tiến lại gần:

“Tên mày nghe có vẻ Ukraina”, chúng nói với tôi. “Mày là thằng nào, phản bội phải không?”

Tôi giải thích với chúng rằng mình lớn lên ở Bắc Kavkaz, trong một gia đình nói tiếng Nga, và rằng tôi không biết tại sao tôi lại mang họ Ukraina. Chúng ngồi một lát rồi bỏ đi. Hẳn chúng đã có thể giết chết tôi – chúng có đem theo một con dao.[679]

Một tù nữ, người trái lại đã nhớ rằng sự khác biệt về dân tộc “không phải là chuyện to tát”, cũng đùa rằng điều đó đúng với mọi người ngoại trừ đám Ukraina, những kẻ đơn giản là “thù ghét tất cả”.[680]

Mặc dù nghe có vẻ thừa, trong hầu hết các trại không có băng nhóm riêng của người Nga, nhóm dân tộc chiếm số đông quyết định trong trại, theo như thống kê của chính Gulag trong suốt quá trình tồn tại của cơ quan này.[681] Đúng là người Nga có gắn bó với nhau theo thành phố hay địa phương nơi họ tới. Người Muscovite đi tìm người Muscovite, người Leningrad tìm người Leningrad, v.v. Vladimir Petrov có lần được giúp bởi một bác sĩ, người đã lên tiếng hỏi ông:

“Trước đây cậu ở đâu?”

“Là sinh viên ở Leningrad”.

”A! Vậy cậu là đồng hương với tớ – hay quá”, anh bác sĩ nói, tay vỗ vỗ vai tôi.[682]

Thông thường thì đám Muscovite đặc biệt mạnh mẽ và có tổ chức. Leonid Trus, bị bắt khi còn là sinh viên, đã nhớ lại những người Muscovite lâu năm trong trại mình lập ra một mạng lưới chặt chẽ đã gạt ông ra ngoài. Thậm chí trong một dịp, khi muốn mượn một cuốn sách từ thư viện trại, ông đã phải trước hết là thuyết phục người thủ thư, một thành viên của nhóm trên, rằng ông đáng được nhóm tin cậy.[683]

Tuy nhiên, thông thường hơn là các liên hệ như vậy khá yếu ớt, chỉ cung cấp cho tù không gì hơn là những người còn nhớ con phố mà họ từng sống hay biết về ngôi trường họ từng đi học. Trong khi các nhóm dân tộc khác lập ra cả một mạng lưới hỗ trợ hoàn chỉnh, tìm kiếm chỗ ở trong lán cho người mới đến, giúp họ kiếm công việc dễ thở hơn, thì người Nga lại không làm được. Ariadna Efron viết lại rằng khi tới Turukhansk, nơi bà bị đày cùng các tù khác khi bản án trại của bà kết thúc, đoàn tàu của bà gặp một nhóm lưu đày đã định cư tại đây:

Một người Do Thái kéo đám phụ nữ Do Thái vào nhóm mình, cho họ bánh mì, giải thích cho họ cách xử sự và cái gì phải làm. Sau đó nhóm phụ nữ Gruzia gặp được một người Gruzia – và, sau một chốc, chỉ còn lại mình người Nga chúng tôi, có lẽ khoảng mười tới mười lăm người. Không ai tới gặp chúng tôi, mời chúng tôi bánh mì hay cho chúng tôi bất cứ lời khuyên nào.[684]

Đã vậy, lại còn có một số phân biệt trong đám tù người Nga – sự phân biệt căn cứ theo lý tưởng hơn là theo sắc tộc. Nina Gagen-Torn viết rằng “phần đông cơ bản phụ nữ trong trại hiểu rằng số phận và sự đau khổ của mình là một điều bất hạnh ngẫu nhiên và không cố tìm hiểu nguyên nhân”. Tuy nhiên, đối với những người “tự tìm cho mình một cách giải thích cho những gì đã và đang xảy ra và tin vào đó thì mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn”.[685] Chủ yếu những người tìm thấy lời giải thích là đám người cộng sản: đó là những tù tiếp tục giữ được sự ngây thơ của mình, tiếp tục thừa nhận trung thành với đất nước Liên Xô, và tiếp tục tin, bất chấp mọi bằng chứng, rằng những người khác là kẻ thù thực sự và cần phải tránh xa. Anna Andreeva nhớ lại rằng người cộng sản đi tìm kiếm đồng chí: “Họ tìm thấy và gắn bó với nhau, họ là những người Xôviết trong sạch và cho rằng mọi người khác đều là tội phạm”.[686] Susanna Pechora kể lại cảnh bắt gặp họ lúc tới Minlag đầu những năm 1950, “đang ngồi trong một góc phòng và nói với nhau: ’Chúng ta là những người Xôviết trung thực, Stalin muôn năm, chúng ta vô tội và đất nước sẽ giải phóng chúng ta khỏi sống cùng tất cả đám kẻ thù này’ ”.[687]

Cả Pechora lẫn Irena Arginskaya, một tù ở Kengir cùng thời gian đó, đều nhớ lại rằng hầu hết thành viên các nhóm như vậy đều thuộc tầng lớp Đảng viên cao cấp bị bắt những năm 1937 và 1938. Hầu hết đều lớn tuổi; Arginskaya nhớ rằng họ thường tụ tập trong trại tù tàn tật, nơi vẫn còn nhiều người bị bắt trong các thời kỳ trước đó. Anna Larina, vợ của nhà lãnh đạo Xôviết Nikolai Bukharin, là một trong những người bị bắt thời kỳ đó ban đầu vẫn còn trung thành với Cách Mạng. Khi còn ở trong nhà tù, bà đã viết một bài thơ chào mừng lễ kỷ niệm Cách Mạng Tháng Mười:

Mặc dù phải ngồi sau song sắt này,

Gặm nhấm nỗi đau đớn cảnh đọa đày

Tôi vẫn vui mừng kỷ niệm Ngày lễ

Đến cùng tổ quốc hạnh phúc của tôi.

Hôm nay tôi tìm được niềm tin mới

Tôi như được tái sinh và sẽ sống,

Sẽ lại rảo bước cùng Đoàn Komsomol

Vai chung vai dọc trên Quảng trường Đỏ!

Về sau, Larina xem bài thơ này “như cơn mê đắm của một người điên”. Nhưng vào lúc ấy, bà ngâm nó cho các bà vợ của những nhà lão thành Bolshevik khác, rồi “họ cảm động đến ứa lệ và vỗ tay hoan hô”.[688]

Solzhenitsyn dành hẳn một chương của Quần đảo Gulag cho những người cộng sản, những người mà ông quy kết một cách không độ lượng cho lắm là đám “những nhà tư tưởng tốt bụng viển vông”. Ông lấy làm lạ trước khả năng họ thậm chí có thể thanh minh cho việc mình bị bắt, tra tấn và tống giam, tùy hoàn cảnh, là do “hoạt động vô cùng xảo quyệt của các cơ quan tình báo nước ngoài” hay do “sự phá hoại trên một quy mô khổng lồ” hay là “một âm mưu của bọn NKVD địa phương” hay do “sự phản bội”. Một số đi đến một cách giải thích thậm chí còn trịch thượng hơn nữa: “Những sự đàn áp này là một tất yếu lịch sử cần thiết để giúp xã hội chúng ta phát triển”.[689]

Về sau, một số những con người trung thành ấy cũng có viết hồi ký, được chế độ Xôviết vui lòng cho xuất bản. Ví dụ như cuốn tiểu thuyết ngắn của Boris Dyakov, Câu chuyện của người sống sót, đã được xuất bản năm 1964 trên tạp chí Oktyabr, cùng với lời giới thiệu sau: “Sức mạnh trong câu chuyện của Dyakov nằm ở thực tế rằng nó viết về những con người Xô viết chân chính, viết về những người cộng sản trung thực. Trong điều kiện khó khăn, họ không bao giờ để mất nhân tính của mình, họ trung thành với lý tưởng của Đảng, họ cống hiến tất cả cho Tổ quốc”. Một trong những anh hùng của Dyakov, Todorsky, kể lại mình đã giúp một trung úy NKVD viết bài diễn văn về lịch sử Đảng như thế nào. Trong một lần khác, anh này nói với viên sĩ quan an ninh của trại, thiếu tá Yakovlev, rằng mặc dù mình bị kết án oan, anh vẫn tin mình là một người cộng sản chân chính: “Tôi không phạm tội chống lại chính quyền Xôviết. Do đó, tôi đã và vẫn là một người cộng sản”. Viên thiếu tá khuyên anh nên giữ im lặng về việc này: “Sao lại phải la lớn về chuyện này? Anh tưởng mọi người trong trại thích dân cộng sản lắm à?”[690]

Thực sự bọn họ đúng là không được ưa: những người cộng sản công khai thường bị nghi ngờ là làm việc, hoặc bí mặt hoặc không, cho chính quyền trại. Khi viết về Dyakov, Solzhenitsyn đã nhấn mạnh rằng hồi ký của ông này hóa ra đã lờ đi một số chuyện. “Để đổi lấy cái gì”, ông hỏi, mà viên sĩ quan an ninh Sokovikov đã đồng ý bí mật gửi bức thư của Dyakov cho ông ta, vượt qua kiểm duyệt trong trại? “Thứ tình bạn đó – xuất phát từ đâu vậy?”[691] Trong thực tế, hồ sơ lưu trữ hiện nay cho thấy Dyakov là một nhân viên công an mật trong suốt cuộc đời mình – mật danh “Chim gõ kiến” – và rằng ông ta đã tiếp tục làm chỉ điểm trong trại.[692]

Nhóm duy nhất có được niềm tin tuyệt đối vượt trên những người cộng sản là các tín đồ Chính thống, cũng như tín đồ của các giáo phái Tin Lành Nga cũng là đối tượng của sự ngược đãi chính trị: phái Tẩy Lễ, phái Nhân chứng của Jehovah, cùng các biến thể của chúng ở Nga. Họ có mặt đặc biệt mạnh mẽ trong các trại của nữ, nơi họ được gọi một cách phổ thông là monashki, tức là “các xơ”. Cuối thập niên 1940, trong trại nữ ở Mordovia, Anna Andreeva nhớ rằng “phần lớn tù đều là tín đồ”, đã tự tổ chức sao cho “vào các ngày lễ thì người Kitô giáo làm lễ cho Chính thống giáo và ngược lại”.[693]

 Như đã lưu ý ở trên, một số những giáo phái đó từ chối cộng tác bằng bất cứ hình thức nào với bọn quỷ dữ Xôviết, không chịu làm việc hay ký bất cứ giấy tờ chính thức nào. Gagen-Torn kể lại một nữ tín đồ được thả vì bị bệnh, nhưng đã từ chối rời trại. “Ta không công nhận chính quyền các người”, bà ta nói với người lính gác đưa ra đề nghị cho bà mọi giấy tờ cần thiết và đưa bà về nhà. “Quyền lực của các người là bất hợp pháp, sự phản Chúa nằm trên giấy phép của các người… Nếu ta được tự do, các người sẽ lại bắt ta. Không có bất cứ lý do gì để rời khỏi đây”.[694] Aino Kuusinen ở chung trại với một nhóm tù nữ từ chối mặc quần áo có đánh số, và vì thế mà “thay vào đó số tù được đóng dấu ngay trên da trần của họ”, và họ bị buộc phải tham gia điểm danh buổi sáng và buổi chiều trong trạng thái trần như nhộng.[695]

Solzhenitsyn kể lại câu chuyện, được nhắc lại dưới nhiều hình thức bởi những người khác, về một nhóm tín đồ giáo phái bị đưa tới Solovetsky năm 1930. Họ từ chối bất cứ thứ gì của “bọn phản Chúa”, từ chối cầm hộ chiếu và tiền Liên Xô. Để trừng phạt, họ bị đưa tới một hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo Solovetsky, nơi họ được cho biết sẽ chỉ được nhận thức ăn nếu đồng ý ký nhận chuyện này. Họ đã từ chối. Trong vòng hai tháng tất cả đều chết đói. Chuyến tàu kế tiếp tới đảo, một nhân chứng kể lại, “chỉ tìm thấy những xác chết đã bị lũ chim rỉa bới”.[696]

Thậm chí những tín đồ giáo phái đồng ý làm việc cũng không chịu sống chung với các tù khác, và đôi khi còn từ chối nói chuyện với họ. Họ tụ tập với nhau trong một lán, giữ hoàn toàn im lặng, hoặc cầu nguyện và lầm nhầm hát bài thánh ca của mình vào giờ giấc định sẵn:

Tôi ngồi sau chấn song nhà tù

Lòng thầm nhớ hình ảnh Chúa Kitô

Khiêm nhường từ tốn vác Thập giá nặng trĩu

Cùng sự ăn năn, lên núi Golgotha.[697]

Các tín đồ quyết liệt hơn có khuynh hướng truyền các cảm xúc lẫn lộn lên một bộ phận của cộng đồng tù. Arginskaya, một tù vô thần đầy kiên nghị, đã đùa mà nhớ lại rằng “tất cả chúng tôi đều không ưa họ”, đặc biệt là những người vì lý do tôn giáo đã từ chối tắm rửa.[698] Gagen-Torn nhớ rằng các tù khác đã than phiền về những người từ chối làm việc: “Chúng tôi làm còn họ thì không! Vậy mà họ cũng vẫn có bánh mì!”[699]

Nhưng trong một khía cạnh nào đó, những đàn ông và phụ nữ tới khu trại mới mà ngay lập tức gia nhập được vào một băng nhóm hay một giáo phái đều là đã may mắn. Bởi những ai trong đó, băng nhóm tội phạm, các nhóm dân tộc chống đối, những người cộng sản chân chính hay các giáo phái tôn giáo, hễ lúc nào tìm kiếm đều nhận được sự giúp đỡ và ủng hộ. Trái lại, hầu hết tù chính trị và phần lớn đám tội phạm “thường” – chiếm số đông trong cộng đồng cư dân Gulag – đều không hòa hợp quá dễ dàng với các nhóm như vậy. Họ cảm thấy khó nắm bắt cách sống trong trại hơn, khó quen với nguyên tắc trong trại và cơ chế quản lý trại. Không có mạng lưới quan hệ có uy thế, họ phải tự học lấy các quy tắc để tồn tại.

 

15 . Phụ nữ và trẻ em

 

… người tù làm phục vụ quét dọn trong lán tôi đón tôi với câu hét: “Chạy đến xem cái gì dưới gối cô kìa!”

Tim tôi như muốn nhảy lên: có khi mình được khẩu phần bánh mì cũng nên!

Tôi chạy tới giường và lôi cái gối ra. Dưới đó là ba lá thư nhà, cả ba lá thư nguyên vẹn! Đã sáu tháng nay tôi không nhận được bất cứ thứ gì.

Phản ứng đầu tiên của tôi khi thấy chúng là sự thất vọng sâu sắc.

Sau đó là nỗi khiếp sợ.

Tôi sẽ ra sao nếu một mẩu bánh mì đối với mình còn giá trị hơn cả những bức thư của mẹ, của bố và con tôi.

… Tôi quên khuấy chuyện bánh mì và òa khóc.

– Olga Adamova-Sliozberg, Chuyến đi của tôi[700]

 

Họ phải đạt cùng một sản lượng công tác và họ ăn chung cùng món xúp lõng bõng. Họ sống cùng một kiểu lán ở và đi trên cùng chuyến tàu chở gia súc. Quần áo của họ hầu như giống nhau, giầy dép của họ cũng thiếu thốn y như vậy. Họ bị đối xử khi điều tra chẳng khá hơn chút nào. Thế nhưng, trải nghiệm trong trại của đàn ông và phụ nữ không hoàn toàn giống nhau.

Hiển nhiên nhiều phụ nữ sống sót cho rằng làm phụ nữ có nhiều ưu thế hơn trong hệ thống trại. Phụ nữ biết tự chăm sóc tốt hơn, biết khâu vá quần áo tốt hơn và giữ đầu tóc sạch sẽ hơn. Họ dường như có khả năng tồn tại với khẩu phần ít ỏi tốt hơn và không dễ chết vì bệnh viêm da pellagra và những căn bệnh do thiếu dinh dưỡng khác.[701] Họ có tình bạn bè mạnh mẽ, biết giúp đỡ người khác theo những cách mà đàn ông không tài nào làm được. Margarete Buber-Neumann ghi lại rằng một trong những phụ nữ bị giam cùng với bà ở nhà tù Butyrka bị bắt trong bộ áo đầm nhẹ mùa hè mau chóng biến thành giẻ rách. Phòng giam của bà quyết định may cho người này một chiếc áo mới:

Họ họp lại với nhau và đem tới nửa tá khăn tắm bằng vải lanh thô kiểu Nga. Nhưng không có kéo thì cắt áo làm sao đây? Một chút khéo léo là giải quyết được vấn đề. Đường “cắt” được đánh dấu bằng đầu que diêm cháy hết, các mảnh vải được gấp theo đường đánh dấu, và một que diêm cháy được hơ đi hơ lại một chốc dọc theo đường gấp. Sau đó mảnh vải được gấp ngược lại và đường cắt bị cháy bị gập đứt. Chỉ để khâu có được bằng cách thận trong rút chỉ từ các quần áo khác…

Cái áo đầm bằng khăn tắm – được may cho một phụ nữ Latvia béo tốt – được chuyền tay từ người này sang người khác và được thêu rất đẹp ở cổ áo, hai ống tay và quanh gấu váy. Khi cuối cùng đã làm xong, nó được rấm nước và gấp lại cẩn thận. Người chủ may mắn ban đêm nằm lên nó mà ngủ. Bạn có tin hay không thì tùy, nhưng khi xuất hiện vào buổi sáng, trông nó tuyệt đẹp; chắc chắn nó sẽ không làm mất mặt bà chủ một cửa tiệm áo dài rất hợp mốt.[702]

Tuy nhiên, trong số nhiều cựu tù nam lại thịnh hành một quan niệm ngược lại, cho rằng phụ nữ bị sa đọa đạo đức nhanh hơn đàn ông. Nhờ giới tính của mình mà họ có cơ hội đặc biệt để được phân cấp lao động tốt hơn, được nhận công việc nhẹ nhàng hơn và có địa vị cấp cao hơn trong trại. Hậu quả là, họ trở nên mất phương hướng, mất sức kiềm chế giữa thế giới khắc nghiệt trong trại. Lấy ví dụ, Gustav Herling đã viết về “một nữ ca sĩ tóc đen của Nhà hát Opera Moscow”, bị bắt vì làm “gián điệp”. Do bản án quá nặng, cô này lập tức bị phân vào làm trong rừng khi vừa đến Kargopollag:

Không may là gã Vanya, một tên urka lùn tịt chỉ huy đội của cô, đã để ý đến cô, và cô bị đẩy vào làm việc tỉa gọn cành lá những cây thông đã bị đốn ngã bằng cái rìu lớn mà cô vất vả mới nhấc nổi. Tụt lại nhiều bước phía sau đám thợ rừng vạm vỡ, buổi chiều cô về tới zona kiệt sức đến nỗi chật vật bò vào nhà ăn và nhận “muôi đầu nồi” của mình (khẩu phần xúp chất lượng kém nhất)… rõ ràng rằng cô đã bị sốt cao, nhưng tay trợ lý bác sĩ lại là bạn của băng Vanya và không cho cô nghỉ làm…

Cuối cùng cô đành đầu hàng, ban đầu là cho Vanya, sau cùng là cho “một xếp trại nào đó” đã “nắm tóc cô lôi từ đống rác lên và đặt cô ngồi sau cái bàn làm việc ở phòng kế toán trại”.[703]

Cũng còn các số phận khốn khổ hơn nữa, như vẫn là Herling mô tả. Lấy ví dụ, ông kể lại chuyện một cô gái trẻ người Ba Lan, người mà một “ban giám khảo không chính thức của bọn urka” đã đánh giá rất cao. Thoạt đầu,

cô bước đi làm với mái đầu ngẩng cao kiêu hãnh, gạt phăng bất cứ gã nào đánh bạo đến gần mình bằng ánh mắt tóe lửa giận dữ. Chiều đi làm về cô trở nên khiêm tốn hơn nhiều, nhưng vẫn không thể lại gần được và vẫn tỏ ra kiêu kỳ vừa phải. Cô đi thẳng từ chòi gác của lính canh tới nhà ăn để nhận phần xúp, và không rời khỏi lán nữ lần nào trong suốt buổi tối. Do đó có vẻ như cô đã không mau chóng trở thành nạn nhân các cuộc săn đêm trong vùng zona của trại.

Nhưng các cố gắng ban đầu ấy đều trở thành vô vọng. Sau nhiều tuần bị theo dõi kỹ càng bởi tay đốc công của mình, kẻ ngăn cô không lấy trộm được một củ cà rốt nhỏ hay một mẩu khoai thối nào từ nhà kho thực phẩm mà cô đang làm việc, cuối cùng cô gái đã đầu hàng. Một chiều nọ, gã kia bước vào lán của Herling và “không nói một lời ném một cặp trang sức gẫy lên giường tôi”. Đó là lúc bắt đầu bước biến đổi của cô:

Kể từ lúc ấy cô gái trải qua một sự thay đổi hoàn toàn. Cô không bao giờ vội vàng đến lấy xúp ở nhà ăn như trước nữa, mà sau khi đi làm về cô lảng vảng quanh khu zona trại cho đến tối như một con mèo rượng đực. Gã nào muốn cô cũng chịu, bất kể là trên giường, dưới giường, trong phòng ngủ xép của chuyên gia kỹ thuật hay trong kho quần áo. Bất cứ lúc nào gặp tôi, cô đều quay mặt đi và mím chặt đôi môi đang run run. Có lần, khi bước vào kho khoai tây ở giữa trại, tôi thấy cô trên đống khoai cùng tay đội trưởng đội 56, gã người lai gù lưng tên là Levkovich; cô òa lên khóc, đôi vai run rẩy giật giật, và khi quay về trại buổi chiều vẫn thấy cô kìm những giọt nước mắt bằng hai nắm tay bé nhỏ…[704]

Đó là cách của Herling kể về một câu chuyện thường xảy ra ở khắp nơi – loại chuyện mà, cần phải nói rằng, luôn nghe có chút khác biệt nếu được thuật lại dưới góc nhìn của người phụ nữ. Lấy ví dụ, một chuyện tương tự được kể bởi Tamara Ruzhnevits, người mà “niềm lãng mạn” trong trại bắt đầu bằng một bức thư, một “lá thư tình điển hình, kiểu đặc trưng trong trại”, từ anh Sasha, một thanh niên có nghề đóng giày dễ thở khiến anh thuộc thành phần quý tộc trong trại. Đó là một bức thư ngắn, thô thiển: “Hãy chung sống cùng nhau nhé, và anh sẽ giúp em”. Vài ngày sau khi gửi nó đi, Sasha kéo Ruzhnevits vào một góc, yêu cầu có câu trả lời. “Em có chịu sống với anh hay không?” anh ta hỏi. Cô đáp là không. Anh ta nện cô một trận bằng cái đai sắt. Sau đó anh ta đưa cô đến bệnh viện (nơi vị thế đặc biệt của thợ đóng giày khiến anh rất có ảnh hưởng) và yêu cầu ban quản lý chăm sóc tốt cho cô. Cô ở lại đây để hồi phục vết thương trong suốt nhiều ngày. Khi rời viện, đã có nhiều thời gian để suy nghĩ, cô bèn đi đến với Sasha. Bằng không, anh ta sẽ nện cô nhừ tử lần nữa.

“Cuộc sống gia đình của tôi bắt đầu thế đó”, Ruzhnevits viết. Lợi ích xuất hiện ngay lập tức: “Tôi khỏe hơn trước, bước đi trong những đôi giày đẹp, không còn phải mặc những thứ gớm ghiếc trời mới biết là giẻ rách kiểu gì: tôi có áo khoác mới, cái quần mới… Thậm chí có cả nón mới”. Nhiều thập kỷ sau, Ruzhnevits vẫn mô tả Sasha là “tình yêu đầu tiên và đích thực của đời tôi”. Bất hạnh thay, anh ta sớm bị chuyển đi tới trại khác, và không bao giờ Ruzhnevits gặp lại anh nữa. Tệ hơn thế, gã đàn ông chịu trách nhiệm chuyển Sasha đi cũng thích cô. Do “không cách nào khác”, cô cũng bắt đầu ngủ với hắn. Không bao giờ viết rằng mình có chút yêu thương nào với tay này, cô nhớ lại rằng chuyện này cũng có đem lại lợi lộc cho cô: cô được cấp một giấy phép đi lại không cần lính áp tải và một con ngựa cho riêng mình.[705] Câu chuyện của Ruzhnevits, giống như chuyện mà Herling đã kể, có thể xem là một vụ sa đọa đạo đức. Nói cách khác, nó có thể gọi là một chuyện nhằm mục đích sống còn.

Xét từ quan điểm của ban quản lý, không có trường hợp nào kể trên được phép xảy ra. Về nguyên tắc, đàn ông và đàn bà không được giam giữ chung đụng trong trại, và có những tù đã tuyên bố rằng mình không hề liếc mắt đến giới tính kia suốt hàng năm trời. Các chỉ huy trại cũng không hề đặc biệt muốn có tù nữ trong trại mình. Thế chất yếu hơn, họ có thể cản trở việc hoàn thành chỉ tiêu sản xuất của trại, điều này khiến một số quản lý trại cố gắng chuyển họ đi nơi khác. Có thời điểm, vào tháng 2/1941, Ban quản lý Gulag thậm chí còn gửi một bức thư tới toàn thể lãnh đạo NKVD và tất cả các chỉ huy trại, nghiêm khắc hướng dẫn họ việc tiếp nhận các đoàn vận chuyển tù nữ và liệt kê tất cả những loại công việc mà phụ nữ có thể làm được một cách hữu hiệu. Bức thư đề cập tới công nghiệp nhẹ và dệt may; làm đồ gỗ và đồ kim loại; các loại công tác lâm nghiệp cụ thể; bốc xếp và khuân dỡ hàng hóa.[706]

Có lẽ bởi vì sự phản đối từ phía cánh chỉ huy trại, số lượng tù nữ thực sự bị chuyển tới các trại luôn duy trì ở mức khá thấp (giống như số phụ nữ bị hành quyết trong thời kỳ thanh trừng 1937-1938). Lấy ví dụ, theo các số liệu thống kê chính thức, chỉ có khoảng 13 phần trăm tù Gulag trong năm 1942 là phụ nữ. Con số này tăng lên 30 phần trăm năm 1945, một phần do rất nhiều tù nam bị động viên và gửi ra mặt trận, và cũng do luật quy định cấm công nhân đi khỏi nhà máy – dẫn tới việc bắt giữ nhiều nữ thanh niên.[707] Năm 1948 con số này là 22 phần trăm, và lại tụt xuống 17 phần trăm trong năm 1951 và 1952.[708] Tuy nhiên, thậm chí các con số trên cũng không đủ để phản ánh tình hình thực tế, bởi phụ nữ rất thường được phân về thi hành án tù tại các “tiểu khu” có chế độ nhẹ nhàng. Tại các tổ hợp trại công nghiệp rộng lớn vùng viễn bắc, họ thậm chí còn ít hơn, sự có mặt của họ là rất hiếm hoi.

Tuy nhiên, số lượng thấp của tù nữ có nghĩa là phụ nữ – cũng như thực phẩm, quần áo và các vật dụng khác – gần như lúc nào cũng thiếu.  Vậy là mặc dù có thể họ ít có giá trị đối với những người tổng hợp số liệu thống kê sản lượng trại, họ lại mang một loại giá trị khác đối với đám tù nam, lính gác và công nhân tự do của trại. Trong những trại mà không ít thì nhiều có những quan hệ công khai giữa tù nam và tù nữ – hay tại các nơi trong thực tế có những loại đàn ông nhất định được phép vào trại phụ nữ – họ thường xuyên bị đề nghị, gạ gẫm và, phổ biến nhất, được tặng thực phẩm và những công việc nhẹ nhàng để đổi lấy tình dục. Điều này có lẽ không phải là một đặc trưng riêng của cuộc sống trong Gulag. Ví dụ, một báo cáo Ân xá Quốc tế năm 1999 về tù nữ ở Hoa Kỳ đã tiết lộ những vụ cai tù nam và tù nhân nam hãm hiếp tù nhân nữ; tù nam hối lộ lính gác để vào gặp tù nữ; phụ nữ bị lột trần khám xét và đùa ghẹo bởi lính gác nam.[709] Tuy nhiên, cơ chế xã hội kỳ quặc của hệ thống trại Xôviết có nghĩa là phụ nữ bị hành hạ và làm nhục đến một mức độ thái quá kể cả đối với một hệ thống trại tù.

Ngay từ đầu, số phận một người phụ nữ tùy thuộc rất nhiều vào địa vị và vị trí của cô ta trong nhiều phe cánh khác nhau của trại. Bên trong thế giới tội phạm, phụ nữ là đối tượng của một hệ thống quy định và nghi thức chi tiết, được nhận rất ít tôn trọng. Theo Shalamov, “Một tên tội phạm thế hệ thứ ba hoặc thứ tư sẽ được học cách xem thường phụ nữ ngay từ khi còn nhỏ… phụ nữ, loại người thấp kém, được tạo ra chỉ để làm thỏa mãn sự thèm khát thú vật của bọn tội phạm, làm mục tiêu cho những trò đùa thô lỗ của chúng và là nạn nhân của các trận đánh hội đồng khi thằng côn đồ của cô ta quyết định ‘quậy lên’ ”. Phụ nữ làm gái điếm thực sự “thuộc sở hữu” của đám tội phạm nam hàng đầu, có thể được trao đổi hoặc mua bán, hoặc thậm chí được thừa kế từ anh trai hay bạn bè, nếu người đàn ông đó bị chuyển sang trại khác hoặc bị giết chết. Khi có trao đổi diễn ra, “thường những người liên quan không tới can thiệp, và cô điếm cam chịu ngủ với người chủ mới của mình. Không có chuyện tình bộ ba[710] – hai đàn ông chia nhau một phụ nữ – trong thế giới tội phạm. Cũng không có chuyện một tên trộm nữ lại sống chung với một tù không phải tội phạm”.[711]

Phụ nữ cũng không phải là những con mồi duy nhất. Trong số đám tội phạm chuyên nghiệp, quan hệ đồng tính hóa ra được dàn xếp với những quy tắc không kém phần tàn bạo. Một số ông trùm tội phạm có các cậu trai đồng tính trong đám tay chân của mình, đi cùng hoặc thay cho các “phi tần” trong trại. Thomas Sgovio có viết về một đội trưởng có người “vợ” nam – một thanh niên được nhận thêm khẩu phần để đổi lấy quan hệ tình dục.[712] Tuy nhiên, khó mà diễn tả rõ được những quy tắc quy định về quan hệ đồng tính nam trong trại, bởi các hồi ký hiếm khi đề cập tới chủ đề này. Có lẽ là do chuyện đồng tính, trong văn hóa Nga, vẫn là việc bị cấm đoán phần nào, và mọi người tránh không viết về nó. Đồng tính nam trong trại dường như cũng chủ yếu giới hạn trong giới tội phạm – mà bọn tội phạm thì rất ít kẻ viết hồi ký.

Tuy nhiên, chúng ta biết được rằng trong các thập niên 1970 và 1980, bọn tội phạm ở Liên Xô đã phát triển các quy định vô cùng phức tạp về những nghi thức đối với quan hệ đồng tính. Đám đồng tính nam “thụ động” bị tẩy chay khỏi xã hội tù, phải ăn ở bàn riêng, và không được nói chuyện với đàn ông khác.[713] Mặc dù hiếm khi được mô tả, các quy định tương tự dường như đã tồn tại ở một số khu vực ngay từ cuối thập niên 1930, khi Pyotr Yakir, mười lăm tuổi, đã chứng kiến một vụ quan hệ đường hậu môn trong một phòng giam cho tội phạm vị thành niên. Thoạt đầu, ông bị sốc khi nghe các thiếu niên khác kể về kinh nghiệm tình dục của mình và tin rằng chúng chỉ thêm hành thêm tỏi:

nhưng tôi đã lầm. Một trong những thằng kia giữ lại phần bánh mì của mình cho tới tận buổi chiều và tới hỏi Mashka, kẻ mà nguyên ngày hôm đó không có gì để ăn cả, “Mày có muốn cắn một miếng không?”

“Muốn”, Mashka đáp.

“Thế thì cởi quần ra”.

Chuyện ấy xảy ra trong một góc phòng, từ lỗ quan sát ở cửa thì khó mà thấy được, nhưng ở trong phòng thì ai cũng nhìn rõ. Chẳng ai buồn ngạc nhiên và tôi cũng giả vờ không hề ngạc nhiên. Nhiều vụ khác nữa xảy ra khi tôi ở trong phòng giam ấy; luôn luôn vẫn những thằng nhóc đó đóng vai trò làm kẻ thụ động. Chúng bị đối xử như đám mạt hạng, không được phép uống cốc chung và là đối tượng của nhiều trò nhục mạ.[714]

Đáng tò mò là, đồng tính nữ trong trại công khai hơn, hay ít nhất là được mô tả thường xuyên hơn. Trong số đám tội phạm nữ, chuyện này cũng được quy định hóa rất nặng nề. Đồng tính nữ trong tiếng Nga được đề cập bằng đại từ nhân xưng giống trung, ono, và họ tự phân chia mình thành đám “ngựa cái” nữ tính hơn và “chồng” nam tính hơn. Theo như một ghi chép, loại người đầu đôi khi còn được gọi là đám “nô lệ thực thụ”, phải lau dọn và chăm sóc cho “chồng” mình. Loại người sau mang các biệt danh kiểu đàn ông, hầu hết lúc nào cũng phì phèo thuốc lá.[715] Bọn họ công khai nói về chuyện đồng tính nữ, thậm chí còn hát những bài về chuyện đó:

Ôi ta nhờ ơn Stalin

Người khiến tôi thành nữ công tước

Tôi đây người nửa nam nửa nữ

Vừa bò cái vừa bò đực sống chung.[716]

Họ cũng tự khẳng định bằng trang phục và cung cách ứng xử của mình. Một tù nữ người Ba Lan sau này viết lại rằng:

Những cặp phụ nữ như vậy ai cũng biết, và họ không thèm giấu giếm hành vi của mình. Người đóng vai trò của đàn ông thường là mặc quần áo đàn ông, cắt tóc ngắn và xỏ tay túi quần. Khi một cặp tình nhân như vậy đột nhiên trào dâng cảm xúc, họ bật dậy từ chỗ ngồi, rời khỏi máy khâu và đuổi theo nhau, sau đó vừa điên cuồng hôn hít vừa ngã lăn ra đất.[717]

Valery Frid viết rằng đám tù tội phạm nữ ăn mặc như đàn ông, tự nhận mình là kẻ lưỡng tính. Một cô “tóc ngắn, xinh đẹp, mặc quần dài sĩ quan”; một cô khác dường như đã bị biến dạng sinh dục thực sự.[718]

Một tù khác mô tả cảnh “hãm hiếp” đồng tính nữ; bà đã chứng kiến một cặp nữ đồng tính dồn bắt một “cô gái e lệ ít nói” dưới gầm giường, sau đó chọc rách trinh cô này.[719] Trong giới trí thức, đồng tính nữ dường như ít được vui lòng để ý hơn. Một cựu tù chính trị nhớ rằng đó là “một thói quen đáng phẫn nộ”.[720] Tuy nhiên, mặc dù thường bị giấu diếm trong giới tù chính trị, nó cũng vẫn tồn tại trong số họ, thường xảy ra giữa các phụ nữ có chồng con tự do. Susanna Pechora kể cho tác giả rằng tại Minlag, một trại tù chính trị lớn, quan hệ đồng tính nữ “đã giúp một số người sống sót”.[721]

Bất kể là tình nguyện hay ép buộc, bất kể là do ham muốn đồng tính hay quá thèm khát quan hệ khác giới, hầu hết quan hệ tình dục trong trại đều cùng chia sẻ bầu không khí tàn bạo chung. Khi cần thiết, chúng được thực hiện với sự công khai khiến rất nhiều tù nhân cảm thấy choáng váng. Các cặp thường “bò dưới hàng rào thép gai và làm tình ngay cạnh nhà vệ sinh, trên mặt đất”, như lời một cựu tù kể với tác giả. “Một chiếc giường tầng che bằng mấy mảnh giẻ rách khỏi mắt đám phụ nữ hàng xóm đã là một cảnh phổ biến kinh điển trong trại”, Solzhenitsyn viết.[722] Isaak Filshtinsky có lần đã thức giấc lúc nửa đêm và thấy một phụ nữ nằm trên chiếc giường gần mình. Cô ta đã lén leo qua tường để vào làm tình với tay đầu bếp trại: “Khác hẳn với tôi, không một ai ngủ đêm hôm ấy, mọi người đều tập trung say sưa lắng nghe cuộc mây mưa”.[723] Hava Volovich viết rằng “những điều mà một người tự do thường phải suy nghĩ hàng trăm lần trước khi dám làm, lại diễn ra tại đây rất đơn giản y như chuyện giữa đám mèo hoang vậy”.[724] Một tù khác nhớ rằng tình yêu, đặc biệt là tình trong đám trộm cướp, “y như thú hoang”.[725]

Thực ra, tình dục diễn ra công khai đến nỗi nó bị mọi người khá hờ hững: hãm hiếp và bán dâm đối với một số người đã trở thành bộ phận của cuộc sống ngày thường. Edward Buca có lần làm việc gần một đội lao động nữ ở xưởng cưa. Một nhóm tù tội phạm xuất hiện. Chúng “tóm lấy những phụ nữ mà chúng muốn và đè họ ra trên tuyết, hoặc ẩy họ dựa vào đống gỗ. Dường như đám phụ nữ đã quen nên không chống cự gì. Họ cũng có đội trưởng của mình, nhưng cô ta không chống lại những sự gián đoạn ấy, trong thực tế chúng có vẻ gần như là một phần khác của công việc”.[726] Lev Razgon cũng kể câu chuyện về một cô gái trẻ tóc vàng mà có lần ông bắt gặp đang quét khoảng sân của một khu trạm xá trại. Lúc ấy ông đã là công nhân tự do, đến thăm một bác sĩ quen, và mặc dù không đói, ông vẫn được mời dùng bữa trưa thịnh soạn. Ông đưa nó cho cô gái, cô này “ăn thật lặng lẽ và gọn gàng, ta có thể nói rằng cô đã lớn lên trong một gia đình tử tế”. Thực ra cô làm Razgon nhớ tới chính con gái mình:

Cô gái ngừng ăn, gọn gàng xếp mấy cái đĩa vào khay gỗ. Sau đó cô kéo váy lên, tụt quần lót xuống và, cầm chúng trong tay, cô quay khuôn mặt không cười về phía tôi.

“Nằm hay thế nào?” cô hỏi.

Thoạt đầu vẫn chưa hiểu, và rồi phát hoảng vì phản ứng của tôi, cô nói bằng giọng tự bào chữa, cũng lại vẫn không cười “Không ai cho tôi ăn không…”[727]

Cũng có khi, tại một vài trại, những lán nữ nhất định trở thành không hơn gì một nhà thổ công khai. Solzehnitsyn mô tả một lán như vậy

Bẩn thỉu và ọp ẹp không gì so sánh nổi, bên trong vảng vất mùi ngột ngạt, các giường tầng không có chăn đệm. Có một lệnh cấm chính thức cấm đàn ông vào đây, nhưng chẳng ai thèm quan tâm và không ai tuân theo. Không chỉ có đàn ông tới, mà cả bọn thiếu niên, những thằng nhóc mười hai mười ba tuổi, bu tới để học hỏi… Mọi thứ được thực hiện hết sức tự nhiên như ngoài thiên nhiên, giữa mắt mọi người, và tại nhiều nơi cùng một lúc. Hiển nhiên chỉ có tuổi già và sự xấu xí rõ mồn một mới là thứ bảo vệ duy nhất cho phụ nữ ở đấy – ngoài ra không còn gì khác.[728]

Tuy nhiên – ngược hẳn lại với những câu chuyện về bạo lực tình dục và sự thô lỗ, trong nhiều hồi ký cũng có số lượng nhiều tương tự những câu chuyện không chắc thực lắm về tình yêu trong trại, một số đơn giản chỉ bắt đầu từ mong muốn tự bảo vệ của phụ nữ. Theo các quy tắc đặc trưng của cuộc sống trại, những phụ nữ chọn cách đi theo một “ông chồng trại” thường được đám đàn ông khác để yên, một hệ thống mà Herling gọi là “ius primae noctis[729] đặc thù của trại”.[730] Đó không nhất thiết phải là “các cuộc hôn nhân xứng đôi vừa lứa”: phụ nữ đứng đắn đôi khi vẫn sống chung với những tên trộm cướp.[731] Hay, như Ruzhnevits đã kể, họ cũng không nhất thiết được lựa chọn theo ý mình. Tuy nhiên, cũng không hoàn toàn đúng nếu xem bọn họ là gái điếm. Theo như Valery Frid viết, đúng hơn đấy là “braki po raschetu” – “hôn nhân có tính toán” – “đôi khi đồng thời cũng là hôn nhân vì tình yêu”. Thậm chí nếu khởi đầu chỉ là vì các lý do thực dụng, tù cũng cân nhắc những mối quan hệ như vậy hết sức nghiêm túc. “Khi đề cập về người tình không ít thì nhiều cũng là thường xuyên của mình, một zek sẽ nói ‘vợ tôi’, ” Frid viết, “Và cô ta sẽ nói anh ta là ‘chồng tôi’. Không phải là nói chơi: các quan hệ trong trại khiến cuộc sống của chúng tôi có nhân tính hơn”.[732]

Và, mặc dù nghe có vẻ lạ, những tù không quá mệt mỏi hay kiệt sức thực sự có đi tìm kiếm tình yêu. Hồi ký của Anatoly Zhigulin có mô tả lần ông tìm cách tán tỉnh một nữ tù chính trị người Đức, cô “Marta vui tươi, tốt bụng, mắt xám, tóc vàng”. Sau này ông được biết cô đã sinh một đứa con, đặt tên là Anatoly. (Đây là vào mùa thu 1951, và do cái chết của Stalin dẫn tới một cuộc tổng ân xá cho tù nước ngoài, ông cho rằng “Marta và đứa trẻ, nếu không có gì xui xẻo xảy ra, hẳn đã trở về quê hương”.[733]) Hồi ký của viên bác sĩ trại Isaac Vogelfanger có những lúc đọc nghe cứ như tiểu thuyết tình cảm, với nhân vật anh hùng phải bước dọ dẫm rất cẩn thận giữa một bên là nỗi nguy hiểm của cuộc dan díu với bà vợ ông trùm trại và một bên là niềm hạnh phúc của một tình yêu thực thụ.[734]

25.png

Trẻ em người Ba Lan, ảnh chụp ngay sau khi được tha năm 1941.

26.png

Khu dưỡng nhi của trại: một tù nữ cho con bú.

27.png

Nhà trẻ trại: trang trí cây thông năm mới.

Những con người bị tước hết mọi thứ khao khát các mối quan hệ tình cảm mạnh mẽ đến nỗi một số lún sâu vào những cuộc tình lý tưởng thuần túy kiểu Platon, chỉ bằng những lá thư. Đó đặc biệt là những trường hợp cuối thập niên 1940, tại các trại đặc biệt cho tù chính trị, nơi tù nhân nam và nữ bị giam giữ tách biệt rất nghiêm túc. Ở Minlag, một trại giống như vậy, tù nam và nữ gửi bút đàm cho nhau qua các bạn tù trong bệnh viện trại, được cả hai giới dùng chung. Tù cũng tổ chức một “hộp thư” bí mật tại công trường xây dựng tuyến đường sắt nơi có đội lao động nữ làm việc. Cứ mỗi vài ngày, một phụ nữ làm trên đường ray lại giả vờ để quên cái áo khoác hay món đồ nào đó để đi tới chỗ hộp thư, gom nhặt thư từ được gửi đến và để lại thư trả lời. Sau đó một tù nam tới lấy chúng.[735] Cũng có những phương thức khác: “Tại một thời điểm nhất định, một người được chọn trước tại một khu vực sẽ ném xuống thư của nam gửi cho nữ hay của nữ gửi cho nam. Đó là một kiểu ‘dịch vụ bưu điện’ .”[736]

Những bức thư như vậy, như Leonid Sitko nhớ lại, được viết trên các vuông giấy nhỏ, cỡ chữ li ti. Mọi người ký tên trong thư bằng tên giả: chàng là “Hamlet”, bạn gái của chàng là “Marsianka”. Hai người được “giới thiệu” với nhau thông qua những phụ nữ khác, họ cho chàng hay là nàng đang vô cùng sầu não, do phải rời xa đứa con nhỏ sau khi nàng bị bắt. Chàng bắt đầu viết thư cho nàng, thậm chí bọn họ còn tìm cách gặp được nhau một lần, bên trong khu mỏ bỏ hoang.[737]

Những người khác sáng tạo ra các phương cách thậm chí còn kỳ quái hơn nữa để tìm kiếm một mối làm quen. Tại trại đặc biệt Kengir, có những tù nhân – hầu như tất cả đều là tù chính trị người nước ngoài, bị tước mất mọi liên hệ với gia đình, bạn bè và vợ chồng ở quê nhà – đã phát triển những mối quan hệ phức tạp với những con người mà họ chưa từng gặp mặt.[738] Một số đã làm đám cưới với nhau qua các bức tường ngăn chia giữa trại nam và trại nữ mà không hề gặp nhau. Người phụ nữ đứng bên này, người đàn ông bên kia; họ cất lời thề và một tù là linh mục ghi nhận hôn thú trên một mảnh giấy.

Kiểu tình yêu này rất bền bỉ, kể cả khi ban quản lý trại xây cao bức tường, chằng thêm lên dây thép gai và cấm tù lảng vảng lại gần. Mô tả các hôn nhân mù quáng kiểu này, thậm chí ngay Solzhenitsyn cũng buông những lời nhạo báng chua cay mà ông gán cho hầu hết tất cả các quan hệ khác trong trại: “Trong cuộc hôn nhân với một người không quen biết bên kia bức tường thế này … tôi nghe được tiếng đồng ca của các thiên thần. Tựa như một đấng cõi trên điềm đạm thanh khiết, đầy vị tha. Điều ấy quá cao quý trong thời buổi đầy tính toán vụ lợi và nhảy nhót lố lăng thế này…”[739]

Nếu tình yêu, tình dục, hãm hiếp và mại dâm là một phần của đời sống trong trại, vậy thì chúng cũng dẫn tới bầu bì và sinh nở. Cùng với các công trường khai mỏ và xây dựng, các đội sản xuất lâm nghiệp và khám phạt, lán ở và đoàn tàu chở súc vật, trong Gulag còn có cả bệnh viện phụ sản và trại dưỡng nhi – cũng như các bảo mẫu chăm sóc cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

Không phải tất cả những trẻ em đến các cơ sở đó đều được sinh ra trong trại. Một số bị “bắt” cùng với mẹ của chúng – những quy định chi phối chuyện này không bao giờ được biết rõ. Trong mệnh lệnh hành động năm 1937, yêu cầu bắt giữ tất cả vợ con của các “kẻ thù của nhân dân”, đã cấm tuyệt đối bắt giữ phụ nữ mang thai và phụ nữ nuôi con nhỏ.[740] Mặt khác, một mệnh lệnh năm 1940 lại nói rằng trẻ con phải ở cùng mẹ chúng trong một năm rưỡi, “cho tới khi chúng không còn cần sữa mẹ”, lúc chúng phải bị đưa vào trại trẻ mồ côi hoặc đưa về với người thân.[741]

Trong thực tế, cả phụ nữ mang thai lẫn đang nuôi con nhỏ cùng bị bắt đều đặn. Khi tiến hành kiểm tra định kỳ một đoàn tàu vận chuyển tù mới tới, một bác sĩ trại phát hiện một phụ nữ đang co thắt dạ con. Cô này bị bắt khi đang mang thai bảy tháng.[742] Một phụ nữ khác, Natalya Zaporozhets, bị tống lên đoàn tàu vận chuyển khi đang mang thai tám tháng: sau khi bị quăng quật trên tàu và đằng sau xe tải, cô sảy ra cái thai nhi đã chết.[743] Hồi ký của nghệ sĩ Evfrosiniya Kersnovskaya kể lại chuyện bà đã đỡ đẻ một em bé sinh ra trên đoàn tàu vận chuyển.[744]

Trẻ nhỏ cũng bị “bắt” cùng với cha mẹ chúng. Một tù nữ, bị bắt trong thập niên 1920, đã viết một bức thư chua xót than phiền với Dzerzhinsky, cám ơn ông ta đã “bắt luôn” đứa con trai ba tuổi của bà: nhà tù, bà nói, tốt hơn ở nhà trẻ, nơi mà bà gọi là “nhà máy sản xuất các thiên thần”.[745] Hàng trăm ngàn trẻ em đã thực sự bị bắt cùng với cha mẹ mình trong hai đợt sóng lưu đày vĩ đại, đợt đầu là đám kulak đầu những năm 1930, đợt thứ hai là đám người dân tộc và những nhóm thuộc các quốc gia “kẻ thù” trong và sau Thế Chiến thứ II.

Đối với những trẻ em này, cú sốc thay đổi sẽ tồn tại với chúng đến suốt cuộc đời. Một tù người Ba Lan nhớ lại rằng có tù nữ bị giam trong phòng giam của bà cùng đứa con trai mới ba tuổi: “Đứa trẻ rất ngoan, nhưng ốm yếu và ít nói. Chúng tôi cố gắng hết sức làm nó vui bằng cách kể chuyện cổ tích và nói chuyện với nó, nhưng bé thường ngắt lời chúng tôi ‘Chúng ta đang ở tù, phải không ạ?’ ”[746]

Nhiều năm sau, người con trai của một kulak bị đi đày nhớ lại sự cam go trải qua trên đoàn tàu chở gia súc: “Mọi người như hóa dại… Tôi không rõ là chúng tôi đã đi được bao nhiêu ngày rồi. Trong toa có bảy người chết vì đói. Chúng tôi tới Tomsk và họ đưa các gia đình chúng tôi ra ngoài. Họ cũng dỡ xuống nhiều xác chết, có đủ trẻ con, thanh niên và người già”.[747]

Mặc dù vất vả, cũng có nhiều phụ nữ cố ý chủ động, thậm chí là bất chấp, có bầu khi đang ở trong trại. Đó luôn là tù nữ tội phạm hay bị bắt vì tội vặt muốn có thai để tránh phải làm việc nặng, để được cấp thức ăn có đôi chút khá hơn và có lẽ để được hưởng dịp ân xá định kỳ phụ nữ có con nhỏ. Những đợt ân xá như vậy – lấy ví dụ một đợt năm 1945 và một đợt khác năm 1948 – không phải lúc nào cũng áp dụng cho tù nữ phạm tội phản cách mạng.[748] “Mang bầu có thể khiến cuộc sống dễ thở hơn”, Lyudmila Khachatryan nói với tác giả như một cách để giải thích tại sao một số phụ nữ vui lòng ngủ với đám cai tù của mình.[749]

Một phụ nữ khác nhớ lại đã nghe một tin đồn rằng tất cả phụ nữ có con nhỏ – mamki, theo thứ tiếng lóng trong tù – sẽ được thả. Bà đã cố tình có thai sau đó.[750] Nadezhda Joffe, một tù có thai sau khi được phép gặp chồng, đã viết rằng các bạn tù của bà tại “lán dưỡng nhi ẩm ướt” ở Magadan đơn giản là “không có chút bản năng làm mẹ nào”, và vứt bỏ đứa trẻ lại ngay sau khi họ có thể rời đi.[751]

Có lẽ không có gì ngạc nhiên rằng không phải tất cả phụ nữ dính bầu khi ở trong trại đều muốn giữ lại. Ban quản lý Gulag dường như có mâu thuẫn về việc có nên cho phép phụ nữ phá thai hay không, đôi khi cho phép, đôi khi lại phang thêm án tù nữa cho những ai tìm cách làm vậy.[752] Hoặc ta cũng không rõ chúng có xảy ra thường xuyên hay không, bởi chúng hiếm khi được kể lại: trong hàng chục cuộc phỏng vấn và hồi ký, tác giả chỉ đọc hoặc nghe thấy có hai trường hợp. Trong một cuộc phỏng vấn, Anna Andreeva kể cho tác giả về một phụ nữ “nhét cái đinh vào cửa mình, ngồi xuống tiếp tục làm việc trên máy khâu. Cuối cùng cô bị xuất huyết rất nặng”.[753] Một phụ nữ khác kể lại chuyện viên bác sĩ trại đã tìm cách phá thai cho bà ra sao:

Hãy hình dung ra cảnh này. Lúc đó ban đêm. Trời tối… Andrei Andreevich cố gắng phá thai cho tôi, chỉ dùng ngón tay bôi iod, không có dụng cụ gì khác. Nhưng anh ấy căng thẳng đến nỗi không có tác dụng gì. Tôi nghẹn thở vì đau, nhưng cố chịu đựng không kêu một tiếng để không bị ai phát hiện. “Thôi!” cuối cùng tôi hét lên vì đau không chịu nổi, và toàn bộ câu chuyện chấm dứt sau hai ngày. Kết cục, tất cả đều ra hết – toàn bộ cái thai, cùng một lượng máu khủng khiếp. Đó là lý do tôi không bao giờ còn có thể làm mẹ.[754]

Nhưng cũng có những phụ nữ muốn có con, và số phận của họ thường là bi kịch. Ngược với mọi điều từng được viết về tính ích kỷ và dễ bị mua chuộc của những phụ nữ sinh con trong trại, bật lên câu chuyện của Hava Volovich. Là một tù chính trị bị bắt năm 1937, bà vô cùng cô đơn trong trại, và chủ động tìm cách sinh cho được một đứa con. Mặc dù bà không có tình cảm gì đặc biệt với cha đứa bé, Eleonora được sinh hạ năm 1942, tại một trại không có trang bị gì riêng cho các bà mẹ:

Ở đấy có tất cả ba người mẹ, và chúng tôi được phân riêng cho một căn buồng bé xíu trong lán. Rệp rơi xuống như mưa từ trần và tường nhà; suốt đêm chúng tôi phải phủi chúng khỏi người lũ trẻ. Vào ban ngày chúng tôi phải ra ngoài làm việc và để con lại cho bất cứ phụ nữ lớn tuổi nào chúng tôi thấy không phải đi làm; những người này bình thản chén sạch chỗ thức ăn mà chúng tôi để lại cho đám trẻ.

Tuy nhiên, Volovich viết

Đêm nào cũng vậy trong suốt một năm trời, tôi đứng bên chiếc giường con mình, nhặt bỏ lũ rệp và cầu nguyện. Tôi cầu Chúa hãy kéo dài sự khốn khổ của tôi thêm trăm năm nữa miễn sao tôi không phải xa rời con gái mình. Tôi cầu mong mình sẽ được thả cùng bé, thậm chí nếu tôi phải đi ăn xin hay tàn phế cũng được. Tôi cầu cho mình có thể nuôi dạy con cho tới lớn, thậm chí phải quỳ phục dưới chân mọi người van xin tôi cũng làm. Nhưng Chúa không đáp lại lời tôi. Con tôi chật vật tập đi, tôi vất vả mới được nghe những tiếng đầu của nó, thốt lên lời kỳ diệu ấm lòng “Mama” khi chúng tôi quấn trên mình toàn giẻ rách dù đang giữa mùa đông giá rét, chen chúc trong toa tàu chở hàng và di chuyển tới “trại cho các bà mẹ”. Tại đây, thiên thần bé nhỏ bụ bẫm với mớ tóc vàng xoăn tít của tôi mau chóng biến thành một bóng ma xanh xao với những quầng thâm dưới mắt và vết lở loét khắp môi.

Volovich ban đầu bị nhét vào một đội lâm nghiệp, sau đó chuyển tới làm tại trại cưa. Mỗi buổi chiều, bà mang về nhà một ôm củi để đưa cho các cô nuôi trẻ trong nhà trẻ. Để đáp lại đôi khi bà được phép đến gặp con gái mình ngoài giờ thăm con bình thường.

Tôi thấy các bảo mẫu đánh thức trẻ con dậy vào buổi sáng. Họ xô đẩy và đá đít để lùa chúng ra khỏi những chiếc giường lạnh lẽo… lấy nắm tay đẩy dúi chúng và chửi rủa thô bạo, họ lột quần áo ngủ và tắm cho chúng bằng nước lạnh buốt. Thậm chí lũ trẻ đến khóc cũng không dám. Chúng chỉ khụt khịt khe khẽ như người già và buột ra những tiếng rít trầm trầm.

Tiếng rít dễ sợ phát ra từ giường cũi ấy suốt cả ngày. Lũ trẻ đã đến tuổi ngồi thẳng lưng và bò trườn nay thường nằm ngửa, đầu gối gập đến tận bụng, đã tạo ra những tiếng động kỳ lạ ấy, giống như tiếng gù của con bồ câu bị bóp nghẹt họng.

Một bảo mẫu phải lo cho mười bảy đứa trẻ, nghĩa là cô ta khó mà có đủ thời gian để cho tất cả thay đồ và ăn uống, chưa nói đến chăm sóc đúng mức:

Cô nuôi trẻ đem ra một thau cháo bốc khói từ nhà bếp, chia nó vào từng đĩa. Cô ta tóm lấy đứa gần nhất, nắm tay nó ra sau, trói lại bằng cái khăn mặt rồi bắt đầu nhồi hết muỗng này đến muỗng khác món cháo nóng vào họng nó không để thời gian cho nó nuốt, chính xác y như nhồi thức ăn cho gà tây vậy.

Dần dần, Eleonora bắt đầu héo lả đi.

Vào một trong những chuyến đến thăm tôi trông thấy những vết bầm trên mình nó. Tôi không bao giờ quên cảnh nó ôm lấy cổ tôi bằng đôi tay gầy trơ xương mà kêu van “Mama, muốn về nhà!” Nó vẫn chưa quên cái phòng nát đầy rệp nơi lần đầu tiên nó thấy ánh sáng mặt trời, nơi nó được luôn bên mẹ suốt cả ngày…

Eleonora bé bỏng, nay mới có mười lăm tháng tuổi, mau chóng nhận ra việc đòi về “nhà” chỉ là vô vọng. Nó thôi không còn vươn tay với tôi khi tôi đến thăm; thay vào đó nó lặng lẽ quay đi. Vào cái ngày cuối cùng trong đời, khi tôi nhấc nó lên (họ cho phép tôi cho con bú) nó đã mở to mắt nhìn vào khoảng trống xa xăm, sau đó đập nắm tay nhỏ bé lên mặt tôi, bấu lấy ngực tôi rồi cắn lấy. Rồi nó chỉ xuống cái giường.

Đến chiều, khi quay về với ôm củi, cái giường của nó đã bỏ trống. Tôi thấy nó trần truồng nằm trong phòng xác cùng xác của những tù người lớn. Nó trải qua một năm và bốn tháng trên cõi đời này, rồi chết ngày 3/3/1944… Đó là câu chuyện về việc, khi sinh hạ đứa con duy nhất của mình, tôi đã phạm cái tội khốn nạn nhất như vậy đó.[755]

Trong văn khố Gulag, có lưu trữ các bức ảnh chụp kiểu trại nuôi trẻ mà Volovich mô tả. Một cuốn album như vậy bắt đầu bằng lời giới thiệu sau đây:

Mặt trời chiếu trên tổ quốc Stalinít của các em. Đất nước tràn đầy tình yêu thương các lãnh tụ và trẻ em tuyệt vời của chúng ta hạnh phúc cũng như toàn thể đất nước non trẻ đang hạnh phúc. Nơi đây, với giường chiếu rộng rãi và ấm áp, các công dân mới mẻ của đất nước ta đang nằm ngủ. Sau khi ăn, chúng ngủ say sưa và chắc hẳn đang mơ những giấc mơ hạnh phúc…

Các bức ảnh trong đó ngược hẳn lại với lời chú thích. Trong một tấm, một hàng các bà mẹ nuôi con với khẩu trang trắng che kín mặt – bằng chứng của thực hành vệ sinh trong trại – ngồi với ánh mắt nghiêm trang không mỉm cười trên băng ghế, tay ôm lũ trẻ. Trong tấm khác, lũ trẻ đang cùng nhau đi bộ buổi chiều. Kéo đuôi nhau thành hàng, chúng nhìn không thoải mái gì hơn các bà mẹ của chúng. Trong nhiều tấm ảnh, lũ trẻ bị cạo trọc đầu, có lẽ để ngừa chấy rận, tạo cảm giác chúng trông như những tù nhân bé nhỏ và trong thực tế chúng cũng bị xem như vậy.[756] “Khu nhà cho bọn trẻ cũng là một phần của tổ hợp trại”, Ginzburg viết. “Nó có chòi gác của mình, có cổng riêng, có lán riêng và hàng rào thép gai của riêng mình”.[757]

Ở mức độ nào đó, Ban quản lý Gulag ở Moscow chắc hẳn phải biết cuộc sống trong trại đối với trẻ em trong đó kinh khủng ra sao. Chúng ta biết ít nhất là các thanh tra trại có chuyển về các thông tin này: một báo cáo năm 1949 về tình trạng của phụ nữ trong trại nhấn mạnh một cách chê trách rằng trong số 503.000 tù nữ thuộc hệ thống Gulag khi đó, 9.300 người có thai trong khi 23.790 người khác đang chịu án cùng con nhỏ. “Ngoài ra cần tính thêm các tác động xấu lên sức khỏe và điều kiện giáo dục trẻ em”, báo cáo đề nghị thả sớm cho mẹ chúng, cũng như thả sớm cho những phụ nữ có con ở nhà, tổng số – trừ những trường hợp tái phạm và tù chính trị phản cách mạng – khoảng 70.000.[758]

Hết lần này đến lần khác các đợt ân xá như vậy đã được thực hiện. Nhưng có rất ít cải thiện được thực hiện cho đời sống những đứa trẻ còn lại. Trái lại, bởi chúng không đóng góp gì cho sản lượng của trại, sức khỏe và phúc lợi cho chúng ở mức rất thấp trong danh sách ưu tiên của hầu hết chỉ huy trại, và chúng luôn phải sống trong những căn nhà tồi tàn nhất, lạnh lẽo nhất và cũ kỹ nhất. Một thanh tra viên xác nhận rằng nhiệt độ tại nhà trẻ của một trại không bao giờ vượt quá 11 độ C; một người khác phát hiện thấy ở nhà trẻ nọ sơn tường bị bong và không hề được chiếu sáng, thậm chí đến đèn dầu cũng không có.[759] Một báo cáo năm 1933 từ Siblag cho biết trại này thiếu 800 đôi giày trẻ em, 700 áo khoác trẻ em và 900 bộ đồ ăn.[760] Những người làm việc trong đó cũng không nhất thiết phải đủ tiêu chuẩn. Trái lại, công tác bảo mẫu là loại công việc “tin cậy”, và những việc như vậy thường được giao cho tù tội phạm chuyên nghiệp. Joffe viết rằng “Hàng giờ liền không dứt, chúng đứng dưới cầu thang với “chồng” của chúng, hay đơn giản là chúng bỏ đi chơi, trong khi lũ trẻ con, chưa ăn uống và không được chăm sóc, có thể bị ốm và lả dần”.[761]

Thậm chí các bà mẹ, mà bản thân việc mang thai của họ cũng đã làm tốn của trại khá nhiều, không phải lúc nào cũng được phép để góp sức giảm bớt cho sự bỏ bê kể trên – đấy là giả sử rằng họ có quan tâm để làm vậy. Họ bị buộc phải quay lại làm việc càng sớm càng tốt, và chỉ miễn cưỡng được cho đủ thời gian nghỉ giữa giờ để về cho con bú. Thông thường, họ chỉ được nghỉ giữa giờ làm cứ bốn tiếng một lần, mỗi lần mười lăm phút cho con – trên mình vẫn còn mặc bộ quần áo lao động bẩn thỉu – sau đó quay lại ngay, nghĩa là đứa trẻ vẫn còn đói. Đôi khi thậm chí họ còn không được phép làm vậy. Một thanh tra trại đã trích dẫn trường hợp một phụ nữ chỉ đến cho con bú trễ có vài phút, do quy định nơi làm việc, mà đã bị từ chối cho vào.[762] Trong một cuộc phỏng vấn, một cựu quản lý trại dưỡng nhi đã kể với tác giả – rất thô bạo – rằng những đứa trẻ nào không thể uống no trong khoảng thời gian mà bà ta nói là nửa tiếng cho phép sẽ bị một trong những bảo mẫu cho bú nốt từ bình.

Cũng chính người phụ nữ này đã xác nhận sự mô tả của tù về một hình thức tàn nhẫn khác: khi cho bú xong, bà mẹ thường bị cấm có thêm tiếp xúc với con mình. Trong trại của bà ta, bà ta nói, bản thân bà  ta đã cấm tất cả các bà mẹ tiếp tục đi cùng với con, lấy lý do là bà mẹ tù nhân có thể làm hư con mình. Bà ta tuyên bố đã thấy một bà mẹ đưa cho con miếng đường tẩm thuốc lá để ăn, nhằm mục đích đầu độc nó. Một người khác, bà ta nói tiếp, đã cố ý lột chiếc giầy con mình ngay giữa tuyết. “Tôi phải chịu trách nhiệm về tỷ lệ tử vong của trẻ con trong trại”, bà ta nói với tác giả để giải thích tại sao bà ta phải tách rời các bà mẹ ra. “Đám trẻ đó không cần thiết đối với mẹ chúng, lũ bà mẹ ấy chỉ muốn giết bỏ chúng thôi”.[763] Cũng chính thứ lập luận này có lẽ đã dẫn đến việc các chỉ huy trại khác cấm bà mẹ đến gặp con mình. Tuy nhiên, cũng rất có thể các quy định như vậy là một sản phẩm khác của sự tàn bạo không suy tính của ban quản lý trại: ban cảm thấy phiền phức khi phải bố trí cho các bà mẹ gặp con, thế là nó cấm chuyện này.

Hậu quả của việc tách cha mẹ khỏi con cái ở tuổi quá nhỏ như vậy là có thể tiên đoán được. Bệnh dịch ở trẻ em nổ ra vô số. Tỷ lệ tử vong trẻ nhỏ hết sức cao – cao đến nỗi, theo các báo cáo của thanh tra cũng có ghi nhận, chúng thường bị cố ý che dấu.[764] Nhưng thậm chí những đứa trẻ sống sót lúc còn nhỏ cũng có ít cơ hội để có cuộc sống bình thường bên trong trại dưỡng nhi. Một số có thể may mắn được các nữ bảo mẫu tù tốt bụng hơn chăm sóc. Một số thì không. Bản thân Ginzburg từng làm trong một trại dưỡng nhi và, khi vừa đến, đã thấy thậm chí trẻ đã quá tuổi cũng vẫn chưa biết nói:

Chỉ một số trẻ bốn tuổi có thể phát ra được vài từ rời rạc, trống không. Kêu ú ớ không rõ ràng, bắt chước và đập đập là những cách chủ yếu để trao đổi với nhau. “Làm sao có thể trông chờ chúng nói được? Có ai ở đó mà dạy cho chúng?” Anya thản nhiên giải thích. “Trong nhóm ấu nhi chúng suốt ngày chỉ có nằm trên giường cũi. Không ai ẵm chúng lên, kể cả khi chúng có gào rách phổi đi chăng nữa. Điều này là không được phép, ngoại trừ để thay tã bẩn – tất nhiên là nếu có sẵn tã khô”.

Khi Ginzburg cố gắng dạy cho những bé do mình phụ trách, bà nhận thấy chỉ một hoặc hai trong số những đứa có duy trì được vài quan hệ với mẹ mình là còn có thể học được chút gì. Và thậm chí kiến thức của chúng cũng rất giới hạn:

“Xem này”, tôi nói với Anastas, chỉ cho nó ngôi nhà nhỏ mà tôi vừa vẽ. “Cái gì đây?”

“Lán trại”, chú bé trả lời khá quả quyết.

Với vài nét bút chì tôi vẽ thêm con mèo bên cạnh nhà. Nhưng chẳng đứa nào nhận ra nó, kể cả Anastas. Chúng chưa bao giờ trông thấy loại động vật hiếm này. Sau đó tôi vẽ một hàng rào gỗ truyền thống thôn quê xung quanh ngôi nhà.

“Thế cái này là gì?”

Zona!” Vera thích thú reo lên.[765]

Thông thường, trẻ con lên hai tuổi thì bị chuyển khỏi các trại dưỡng nhi để vào những trại mồ côi bình thường. Một số bà mẹ tán thành như vậy, xem như là cơ hội để lũ trẻ được thoát khỏi trại. Số khác thì phản đối, biết rằng mình có thể vô tình hay cố ý bị chuyển sang trại khác, xa rời con cái, tên tuổi của chúng sau đó có thể bị thay đổi hay quên mất khiến không thể còn giữ quan hệ với nhau hay thậm chí liên lạc được.[766] Điều này đôi khi xảy ra cả với trẻ em trong những nhà trẻ thường. Valentina Yurganova, con gái của một kulak Đức vùng Volga, bị đưa vào một nhà trẻ nơi một số khu trông nom quá nhỏ để cần nhớ tên chúng, và chính quyền cũng quá vô tổ chức nên không ghi lại tên chúng. Một bé, bà kể với tác giả, đơn giản được đặt lại tên là “Kashtanova” (Hạt dẻ) bởi có rất nhiều cây dẻ trong công viên phía sau nhà trẻ.

Nhiều năm sau, một đứa trẻ như vậy đã viết một đoạn văn tan nát cõi lòng mô tả cuộc tìm kiếm dài đằng đẵng nhưng không thành của mình để tìm lại họ tên thật của bố mẹ bà: không có ghi nhận về bất cứ đứa trẻ nào được sinh ra trong vùng với cái họ ghi trong hộ chiếu của bà, và lúc đó bà lại quá nhỏ để nhớ được họ tên thật của hai người. Tuy nhiên, bà nhớ được từng đoạn trong ký ức của mình: “Mẹ ngồi bên máy khâu. Tôi xin mẹ cái kim và sợi chỉ… Tôi đang ở trong vườn… Rồi sau đó… Căn phòng rất tối, cái giường ở bên tay phải để trống, có điều gì đó đã xảy ra. Vì lẽ nào đó mà tôi còn lại một mình. Tôi sợ quá”.[767]

Không có gì ngạc nhiên rằng khi con họ bị đưa đi, một số bà mẹ đã khóc và la hét, một số thậm chí phát điên và bị khóa nhốt trong hầm cho tới khi họ hồi lại. Ngay khi chúng bị đưa đi, khả năng được đoàn tụ là rất mờ nhạt.[768]

Ở bên ngoài, cuộc sống của những trẻ em sinh ra trong trại không nhất thiết là được cải thiện. Thay vào đó, chúng gia nhập đội ngũ vô số trẻ con bị chuyển thẳng vào nhà trẻ do cha mẹ bị bắt – là một loại nạn nhân trẻ em khác. Như thành thông lệ, các trại mồ côi nhà nước quản lý luôn đông đúc quá tải, bẩn thỉu, thiếu nhân viên và thường gây chết người. Một cựu tù nhớ lại những cảm xúc và kỳ vọng khi trại của bà gửi một nhóm con cái tù vào trại mồ côi thành phố – và nỗi khủng khiếp họ cảm nhận khi nghe thấy tất cả mười một đứa đã chết trong một đợt bệnh dịch.[769] Ngay từ năm 1931, vào cao điểm của cuộc tập thể hóa, hiệu trưởng các nhà trẻ vùng Ural đã viết những bức thư tuyệt vọng gửi chính quyền vùng, cầu xin giúp đỡ chăm sóc hàng ngàn trẻ mồ côi kulak mới đến:

Trong một căn phòng 12 mét vuông, phải nhét tới 30 thằng bé. Chỉ có mỗi bảy cái giường cho chung 38 đứa trẻ, trên đó có những kẻ “tái phạm” nằm ngủ. Hai đứa mười tám tuổi đã phá hỏng máy phát điện, cướp cửa hàng và uống rượu với viên giám đốc… trẻ con ngủ ngay trên sàn nhà bẩn thỉu, chơi bài mà chúng làm từ những bức ảnh bị xé rời của “Lãnh tụ”, hút thuốc, đập gãy chấn song cửa sổ và trèo qua tường để định bỏ trốn.[770]

Trong một nhà trẻ khác cho con cái kulak:

Trẻ con ngủ trên sàn nhà, giày dép không đủ… đôi khi nhiều ngày liền không có nước máy. Thức ăn cho chúng rất tồi; ngoài nước lã và khoai tây, chúng không được ăn bữa trưa. Không có chén đĩa, chúng cứ húp thẳng từ muôi. 140 đứa chỉ có một cái chén, mà lại không có đủ thìa; chúng đành thay phiên nhau mà ăn, hoặc bốc tay. Không có đủ đèn điện, chỉ mỗi một bóng cho cả căn nhà, và dầu hỏa cũng không có.[771]

Năm 1933, một nhà trẻ gần Smolensk đã gửi bức điện sau đây cho ủy ban trẻ em ở Moscow: “Thực phẩm cung cấp cho nhà trẻ đã bị cắt. Một trăm đứa trẻ đang bị đói. Tổ chức từ chối cấp khẩu phần. Không có ai giúp đỡ. Cần có các biện pháp khẩn cấp”.[772]

Chuyện này cũng không hề thay đổi theo thời gian. Một mệnh lệnh năm 1938 của NKVD mô tả một nhà trẻ có hai bé gái tám tuổi bị mấy đứa con trai lớn tuổi hơn cưỡng hiếp, và một nhà trẻ khác có 212 đứa trẻ dùng chung 12 cái thìa và 20 cái đĩa, phải mặc quần áo và đi giày để ngủ vì không có đồ ngủ.[773] Năm 1940, Natalya Savelyeva bị “bắt cóc” khỏi nhà trẻ của mình – cha mẹ cô bé đã bị bắt – và nuôi dạy bởi một gia đình muốn sử dụng cô làm người giúp việc nhà. Vì thế cô bị tách lìa khỏi chị mình, người mà không bao giờ cô gặp lại nữa.[774]

Trẻ em của tù chính trị bị bắt phải trải qua thời gian đặc biệt khó khăn trong những nhà trẻ như vậy, và thường bị đối xử tệ hơn các trẻ mồ côi bình thường cùng sống chung. Chúng bị yêu cầu, như Svetlana Kogteva lúc mười tuổi, phải “quên cha mẹ mình đi, bởi bọn họ là kẻ thù của nhân dân”.[775] Các sĩ quan NKVD chịu trách nhiệm về những nhà trẻ như vậy được lệnh phải duy trì sự cảnh giác đặc biệt và phải tách riêng con cái của bọn phản cách mạng, để đảm bảo rằng chúng không được nhận bất cứ hình thức đối xử ưu đãi nào.[776] Do quy định này, Pyotr Yakir phải trải qua đúng ba ngày tại một trong những trại mồ côi như vậy, sau khi cha mẹ ông bị bắt. Trong thời gian này, ông “tìm cách khai lấy tên của con của một đầu sỏ nhóm ‘phản bội’ ” và lập tức bị bắt khi mới mười bốn tuổi. Ông bị chuyển vào nhà tù, cuối cùng bị đưa vào trại.[777]

Thường xuyên hơn là con cái của tù chính trị phải chịu sự chế nhạo và tẩy chay. Một người nhớ lại rằng ngay khi tới trại trẻ mồ côi, con cái “kẻ thù” phải bị lấy dấu vân tay giống như bọn tội phạm. Các giáo viên và người chăm sóc tất cả đều sợ tỏ ra có tình cảm với chúng, do không muốn bị tố giác là thông cảm với “kẻ thù”.[778] Con cái có cha mẹ bị bắt bị giễu cợt không thương tiếc về thân phận “kẻ thù” của mình, theo lời Yurganova, người chủ động quên đi tiếng Đức bà từng nói sõi lúc nhỏ cũng vì lý do này.[779]

Trong bối cảnh ấy, thậm chí con cái của những cha mẹ có học cũng mau chóng tập theo cung cách bọn tội phạm. Vladimir Glebov, con trai nhà lãnh đạo Bolshevik Lev Kamenev, là một đứa trẻ như vậy. Vào tuổi lên bốn, cha của ông này bị bắt, và Glebov bị “đày” tới nhà trẻ mồ côi đặc biệt ở miền tây Siberi. Khoảng 40 phần trăm trẻ con ở đấy là con cái của “kẻ thù”, khoảng 40 phần trăm là tội phạm vị thành niên, và khoảng 20 phần trăm là con cái dân Digan bị bắt vì tội lang thang. Như lời Glebov giải thích với nhà văn Adam Hochschild, có những lợi thế, thậm chí cả với con của tù chính trị, khi sớm có quan hệ với đám tội phạm trẻ:

Bạn bè dạy tôi những điều sẽ giúp tôi rất nhiều trong phần đời sau này để tự bảo vệ mình. Ở đây tôi có một cái sẹo, ở đây một cái nữa… khi người ta tấn công anh bằng dao, anh cần biết phải đánh trả thế nào. Nguyên tắc chính là phản ứng thật sớm, không để cho chúng đánh trúng anh. Thời niên thiếu Xôviết hạnh phúc của chúng tôi là như thế đó![780]

Tuy nhiên, một số trẻ thường xuyên cảm thấy tổn thương bởi những gì trải qua ở trại mồ côi. Một bà mẹ trở về sau thời gian lưu đày và đoàn tụ với con gái nhỏ của mình. Đứa bé, mới tám tuổi, bước đi vẫn rất chập chững, hay vồ lấy thức ăn và cư xử như thú hoang giống theo cách mà trại mồ côi đã dạy cho nó.[781] Một bà mẹ khác, được thả sau khi chịu án tám năm, đến đón lũ con mình tại trại mồ côi nhưng nhận ra chúng từ chối đi theo bà. Chúng đã được dạy rằng cha mẹ chúng là “kẻ thù của nhân dân” không xứng đáng được yêu thương và có tình cảm. Chúng đã được đặc biệt chỉ dẫn để từ chối đi theo họ, “nếu mẹ cháu đến đưa cháu đi”, và chúng không bao giờ muốn sống tiếp với cha mẹ mình nữa.[782]

Không có gì ngạc nhiên, trẻ em thường bỏ trốn khỏi các trại mồ côi như vậy – với số lượng đông đảo. Ngay khi thoát ra được ngoài phố, chúng rất mau chóng rơi vào đáy thế giới tội phạm. Và ngay khi chúng gia nhập phần đáy thế giới tội phạm, vòng chu kỳ tồi tệ lại tiếp diễn. Không sớm thì muộn, chúng cũng sẽ bị bắt.

Thoạt đầu, báo cáo NKVD thường niên 1944-1945 của một nhóm đặc biệt tám trại thuộc Ukraina cho thấy không có gì khác thường. Bản báo cáo liệt kê những trại nào đạt được Kế hoạch Năm năm và trại nào không. Nó ca ngợi các tù công nhân-xung kích. Nó nghiêm khắc lưu ý rằng tại hầu hết các trại thực phẩm rất kém và đơn điệu. Nó có vẻ hài lòng hơn khi lưu ý rằng bệnh dịch chỉ xảy ra ở một trại, trong thời gian báo cáo khảo sát – và rằng chuyện này xảy ra sau khi năm tù bị chuyển đến đấy từ nhà tù Kharkov quá đông đúc.

Tuy nhiên, một vài chi tiết trong báo cáo là nhằm minh họa cho bản chất chính xác của tám tổ hợp trại ở Ukraina này. Lấy ví dụ, một thanh tra viên phản ánh rằng một trại rất thiếu “vở viết, bút, sổ tay, bút chì”. Cũng có một lưu ý nghiêm khắc về khuynh hướng một số tù cụ thể thua bài sạch thức ăn, đôi khi tiêu trước khẩu phần bánh mì nhiều tháng trời từ rất sớm: những cư dân trẻ tuổi của trại dường như quá thiếu kinh nghiệm khi chơi bài với bọn lớn tuổi hơn.[783]

Tám trại ta đang đề cập chính là tám tiểu khu trẻ em ở Ukraina. Bởi không phải tất cả trẻ con rơi vào phạm vi quyền hạn pháp lý của Gulag đều có cha mẹ bị bắt. Một bộ phận trong đó xuất hiện trong hệ thống trại là vì chính bản thân chúng. Chúng đã phạm tội, bị bắt và bị chuyển đến những trại đặc biệt cho trẻ vị thành niên. Những trại này được điều hành bởi cùng bộ máy quản lý điều hành các trại cho người lớn, và chúng giống với những trại cho người lớn ở rất nhiều khía cạnh.

Về nguồn gốc, những “trại trẻ em” này được tổ chức cho đám besprizornye, trẻ mồ côi, bị bỏ rơi và lũ trẻ em đường phố bẩn thỉu bị lạc hay chạy trốn cha mẹ trong những năm tháng có nội chiến, nạn đói, tập thể hóa và bắt bớ hàng loạt. Những trẻ em đường phố này đến đầu thập niên 1930 đã trở thành cảnh tượng phổ biến tại nhà ga đường sắt và công viên công cộng ở các thành phố Xôviết. Nhà văn Nga Viktor Serge đã mô tả chúng như sau:

Tôi thấy chúng ở Leningrad và ở Moscow, sống trong lòng cống, trong các kiosk quảng cáo, dưới vòm mộ nghĩa trang nơi chúng là những chủ nhân không bị quấy rầy; tổ chức tụ tập tại nhà xí công cộng ban đêm; chu du trên mái toa tàu hay dưới gầm toa. Chúng xuất hiện, chuyên gây chuyện xấu, mình sạm mồ hôi, hỏi xin khách đi tàu vài kopek và nằm chờ cơ hội để ăn cắp một vài chiếc vali…[784]

Những đứa trẻ như trên quá đông và gây phiền phức đến nỗi năm 1934 Gulag đã dựng ra các nhà dưỡng nhi đầu tiên bên trong trại người lớn, nhằm ngăn ngừa con cái của những cha mẹ bị bắt túa ra lang thang ngoài đường phố.[785] Không lâu sau, năm 1935, Gulag cũng quyết định thành lập những tiểu khu đặc biệt cho trẻ con. Trẻ con bị gom từ ngoài phố trong những cuộc bố ráp tập thể, rồi chuyển tới các tiểu khu để giáo dục và chuẩn bị cho gia nhập đội ngũ lao động.

Năm 1935, chính quyền Xôviết cũng thông qua một đạo luật tai tiếng cho phép trẻ em từ mười hai tuổi trở lên có thể bị xét xử như người lớn. Kể từ đó, các cô bé nông dân bị bắt vì ăn trộm một ít thóc hay lúa mì, và con cái của “kẻ thù” bị nghi ngờ là giúp đỡ cha mẹ chúng, bắt đầu xuất hiện trong nhà tù vị thành niên cùng với bọn gái điếm non tuổi, lũ trẻ con móc túi, trẻ em đường phố và những loại tương tự.[786] Theo một báo cáo nội bộ, các nhân viên NKVD trong thập niên 1930 đã tóm một cô bé người Tartar mười hai tuổi không biết nói tiếng Nga và bị lạc mẹ tại một nhà ga tàu. Họ cho đi đày cô bé, chỉ một thân một mình, tới miền viễn bắc.[787] Tội phạm trẻ con ở Liên Xô nhiều đến nỗi NKVD đã lập ra các nhà trẻ với “chế độ đặc biệt” năm 1937, dành cho những đứa trẻ vi phạm có hệ thống các quy định của nhà trẻ thông thường. Năm 1939, trẻ mồ côi đơn thuần không còn bị chuyển tới các trại trẻ nữa. Thay vào đó, các trại này giờ dành cho đám tội phạm trẻ con đã thực sự bị kết án bởi các tòa án hay bởi osoboe soveshchanie, các “ủy ban đặc biệt”.[788]

 Mặc cho có mối đe dọa trừng phạt mạnh tay hơn, con số tội phạm vị thành niên tiếp tục gia tăng. Chiến tranh đã tạo ra không chỉ có trẻ mồ côi mà cả những người đi sơ tán, những đứa trẻ không được ai giám sát có cha đang ở ngoài mặt trận, có mẹ đang làm việc mười hai tiếng mỗi ngày trong nhà máy, cũng như cả một tầng lớp trẻ tội phạm mới mẻ: những công nhân chưa đủ tuổi bỏ chạy khỏi nơi làm việc ở nhà máy – đôi khi sau lúc nhà máy được sơ tán xa khỏi nơi có gia đình đứa trẻ – do đó vi phạm đạo luật thời chiến “Di chuyển không có giấy phép khỏi nơi làm việc tại các xí nghiệp quân sự”.[789] Theo thống kê của chính NKVD, các “trung tâm tiếp nhận” trẻ em đã tập hợp được một số lượng đông khác thường 842.144 trẻ vô gia cư trong thời gian 1943-1945. Hầu hết bị chuyển về lại cho cha mẹ chúng, tới các nhà trẻ hay vào trường dạy nghề. Nhưng một con số đáng kể – 52.830 đứa, theo như ghi nhận – bị phân vào các “tiểu khu lao động-giáo dưỡng”. Cụm từ “tiểu khu lao động-giáo dưỡng” không có nghĩa gì hơn là một diễn tả nghe êm tai của trại tập trung trẻ em.[790]

Trong nhiều khía cạnh, sự đối xử với trẻ em trong trại vị thành niên không khác biệt mấy với sự đối xử với cha mẹ chúng. Trẻ em bị bắt và chuyển đi theo cùng những quy định, chỉ với hai ngoại lệ: chúng bị quy định phải được giữ riêng khỏi tù người lớn và không bị xử bắn trong trường hợp tìm cách bỏ trốn.[791] Chúng bị giữ trong cùng loại nhà giam như người lớn, trong các phòng giam riêng nhưng trang bị cũng sơ sài y như vậy. Một mô tả của thanh tra viên về một phòng giam như vậy nghe quen thuộc đến đáng buồn: “Những bức tường bẩn thỉu; không phải tù nào cũng có giường và nệm. Chúng không có vải trải giường, vỏ gối hay chăn. Tại phòng giam số 5, cửa sổ bị che lại bằng cái gối vì không có kính cửa, còn tại phòng giam số 14, một cửa sổ mở toang không đóng lại được”.[792] Một báo cáo khác mô tả nhà tù vị thành niên là “thiếu vệ sinh không thể chấp nhận được”, cùng với thiếu nước nóng và các vật dụng cơ bản như ca uống nước, chén bát và ghế.[793]

Một số tù trẻ hơn cũng bị điều tra hỏi cung như người lớn. Sau khi bị bắt khỏi trại mồ côi, cậu bé Pyotr Yakir mười bốn tuổi thoạt đầu bị đưa vào một nhà tù người lớn, sau đó trải qua một cuộc hỏi cung toàn diện kiểu người lớn. Điều tra viên của ông quy kết ông là “tổ chức một băng kỵ binh vô chính phủ, với mục đích là hoạt động đằng sau chiến tuyến của Hồng quân”, vin vào bằng chứng là trong thực tế Yakir rất mê cưỡi ngựa. Sau đó, Yakir bị kết án vì tội là một “Thành phần Nguy hiểm cho Xã hội”.[794] Jerzy Kmiecik, một cậu bé Ba Lan mười sáu tuổi bị bắt khi đang gắng vượt qua biên giới Liên Xô vào Hungary – đây là năm 1939, sau khi Liên Xô xâm lược Ba Lan – cũng bị hỏi cung như người lớn. Kmiecik bị giữ phải đứng hoặc ngồi trên cái ghế đẩu không có lưng tựa hàng giờ liền không nghỉ, phải ăn xúp mặn chát và không được uống nước. Ngoài những chuyện khác, người hỏi cung ông còn muốn biết “Mr Churchill đã trả anh bao nhiêu để cung cấp thông tin?” Kmiecik không biết Churchill là ai và đã đề nghị người kia giải thích câu hỏi.[795]

Văn khố cũng lưu trữ biên bản hỏi cung Vladimir Moroz, mười lăm tuổi, bị tố cáo đã tiến hành “hoạt động phản cách mạng” tại trại mồ côi của mình. Mẹ và anh trai mười bảy tuổi của Moroz đã bị bắt trước đó. Cha của cậu bé bị xử bắn. Cậu bé còn giữ cuốn nhật ký mà NKVD tìm thấy, trong đó cậu công khai chỉ trích “những dối trá và vu khống” xung quanh mình: “Nếu có ai đó rơi vào giấc ngủ sâu mười hai năm trước và đột nhiên thức dậy bây giờ, anh ta hẳn sẽ choáng váng vì những thay đổi diễn ra tại đây vào lúc này”. Mặc dù bị kết án phải chịu ba năm trong trại, Moroz đã chết ngay trong tù năm 1939.[796]

Đó không phải là những vụ riêng lẻ. Năm 1939, sau khi báo chí Liên Xô cho đăng một số trường hợp sĩ quan NKVD bắt bớ căn cứ theo lời khai ép cung, một tờ báo Siberi kể lại câu chuyện về một vụ liên quan tới 160 trẻ em, hầu hết có độ tuổi từ mười hai đến mười bốn, nhưng một số chỉ mới lên mười. Bốn sĩ quan thuộc NKVD và văn phòng công tố phải nhận án từ năm tới mười năm vì đã hỏi cung những trẻ em này. Nhà sử học Robert Conquest viết rằng lời thú tội của họ được chấp nhận với “sự dễ chịu tương đối”: “Một đứa mười tuổi bị kiệt sức sau chỉ một cuộc hỏi cung suốt đêm, và đã thú nhận mình là thành viên của một tổ chức phát xít từ lúc bảy tuổi”.[797]

Tù trẻ con cũng không được miễn trừ khỏi các đòi hỏi không khoan nhượng của hệ thống lao động nô lệ. Mặc dù như một quy định, các tiểu khu trẻ con không phải đặt trong phạm vi các vùng khai thác lâm nghiệp hay trại khai mỏ khắc nghiệt, trong thập niên 1940 có một lagpunkt trẻ con thuộc tổ hợp trại Norilsk miền viễn bắc. Một số trong khoảng 1.000 tù của nó bị đưa vào làm việc trong nhà máy gạch Norilsk, trong khi những đứa khác bị đưa đi dọn tuyết. Trong số đó có một số trẻ em mười hai, mười ba và mười bốn tuổi, và phần lớn từ mười lăm tới mười sáu tuổi, những tù vị thành viên lớn hơn đã bị chuyển vào trại người lớn. Nhiều thanh tra viên lên án điều kiện sinh hoạt ở trại trẻ em của Norilsk và cuối cùng nó bị chuyển tới vùng gần phía nam hơn của Liên Xô – nhưng phải sau khi nhiều tù nhân trẻ của nó đã thành nạn nhân của cũng những căn bệnh do lạnh giá và thiếu dinh dưỡng đã hạ gục các tù người lớn cùng số phận.[798]

Điển hình hơn là báo cáo từ Ukraina, với giải thích rằng trẻ em ở các tiểu khu lao động trẻ em ở Ukraina đã được phân công công việc trong trại lâm nghiệp, xưởng cơ khí và xưởng may.[799] Kmiecik, có mặt trong một tiểu khu trẻ em gần Zhitomir, Ukraina, đã làm việc trong một nhà máy làm đồ gỗ.[800] Hơn nữa, các tiểu khu tuân theo nhiều luật lệ giống như của các trại người lớn. Cũng có mục tiêu sản lượng để nhắm tới, chỉ tiêu sản lượng cá nhân để hoàn thành và một chế độ làm việc để tuân thủ. Một mệnh lệnh NKVD năm 1940 hướng dẫn trẻ em độ tuổi từ mười hai đến mười sáu làm việc bốn tiếng mỗi ngày, và bốn tiếng nữa để học ở trường. Cũng mệnh lệnh đó đã yêu cầu trẻ em tuổi từ mười sáu đến mười tám làm việc tám tiếng một ngày, với hai tiếng dành cho việc học.[801] Tại trại Norilsk, chế độ này không được tuân thủ, do ở đây hoàn toàn không có trường học.[802]

Trong trại vị thành niên của Kmiecik, chỉ có lớp học buổi chiều. Ngoài những điều khác, ở đấy ông được dạy rằng “Anh quốc là một hòn đảo ở Tây Âu… Nó được cai trị bởi các lãnh chúa mặc áo choàng đỏ và cổ áo trắng. Chúng làm chủ những công nhân làm việc cực nhọc phục vụ chúng, trả công cho họ rất ít ỏi”.[803] Được giáo dục không chỉ là ưu tiên hàng đầu của trẻ em: năm 1944 Beria tự hào báo cáo Stalin rằng các trại vị thành niên của Gulag đã đóng góp đầy ấn tượng cho nỗ lực phục vụ chiến tranh, sản xuất ra mìn, lựu đạn và các sản phẩm khác trị giá tổng cộng 150 triệu rúp.[804]

Trẻ em cũng là đối tượng của cùng kiểu tuyên truyền trong trại giống như người lớn. Các tờ báo trại giữa thập niên 1930 đăng phác thảo chân dung các chiến sĩ Stakhanovets trẻ con, tán dương không tiếc lời khu “số 35”, khu phố trẻ em đặt trong trại dựa theo đạo luật năm 1935, vinh danh những người đã nhận thấy ánh sáng và được hoán cải bởi lao động chân tay. Cũng tờ báo ấy chê bai những trẻ em đã không hiểu rằng “mình phải từ bỏ quá khứ, rằng đã đến lúc bắt đầu cuộc đời mới… Chơi bài, say rượu, phá hoại, không chịu làm việc, trộm cắp v.v. chúng đều tham gia rất phổ biến”.[805] Để chống lại “sự ăn bám” trẻ tuổi ấy, trẻ em bị buộc phải tham gia cùng những buổi biểu diễn văn hóa-giáo dục giống như người lớn, ca hát cùng những bài hát ca ngợi Stalin.[806]

Cuối cùng, trẻ em là đối tượng của cùng những áp lực tâm lý như người lớn. Một chỉ thị khác của NKVD yêu cầu tổ chức một agenturno-operativnoe obsluzhivanie – một “mạng lưới chỉ điểm viên” – bên trong các tiểu khu và trung tâm tiếp nhận trẻ em của NKVD. Tin đồn lan truyền về những tình cảm phản cách mạng xuất hiện trong cả ban quản lý lẫn trẻ em trong trại, đặc biệt những đứa con cái của bọn phản cách mạng. Trẻ con ở một trại nọ thậm chí còn dàn dựng một cuộc nổi loạn nhỏ. Chúng chiếm phòng ăn, xả rác bừa bãi và tấn công lính gác làm bị thương sáu người.[807]

Chỉ có một khía cạnh mà trẻ em trong trại vị thành niên là có may mắn: chúng không bị đưa tới các trại thường, bị vây quanh bởi các tù người lớn thông thường như các trẻ em khác bị. Thực ra, giống như các phụ nữ mang thai ở chỗ nào cũng có, con số luôn gia tăng trẻ vị thành niên trong trại người lớn khiến các chỉ huy trại phải nhức đầu kinh niên. Tháng 10/1935, Genrikh Yagoda giận dữ viết cho tất cả các chỉ huy trại rằng “mặc cho tôi đã có chỉ dẫn, các tù chưa đến tuổi vẫn không bị đưa tới các tiểu khu lao động cho trẻ vị thành niên, mà đang bị ngồi tù chung với người lớn”. Theo tính toán cuối cùng, ông tuyên bố, có tới 4.305 trẻ vị thành niên vẫn ở trong nhà tù thường.[808] Mười ba năm sau, năm 1948, các điều tra viên thuộc văn phòng công tố vẫn còn phàn nàn rằng có quá nhiều tù chưa đủ tuổi trong trại người lớn, nơi chúng bị làm hư hỏng bởi bọn tội phạm người lớn. Thậm chí chính quyền trại cũng phải để ý khi một tên trùm tội phạm thống trị trong trại đã biến một gã trộm vặt mười tám tuổi thành một tên giết người thuê.[809]

Bọn maloletki – “vị thành niên” – gây rất ít cảm thông trong lũ tù đồng bọn. “Cái đói và nỗi khiếp sợ về những gì đã xảy ra đã tước đi của chúng mọi thứ để che chở”, Lev Razgon viết, người đã quan sát rằng trẻ vị thành niên bị thu hút một cách rất tự nhiên về phía những kẻ có vẻ có quyền lực nhất. Đó là bọn tội phạm chuyên nghiệp, những kẻ biến lũ con trai thành “người hầu, bọn nô lệ câm điếc, những thằng hề, lũ con tin và thành bất cứ thứ gì”, và cả bọn con trai lẫn con gái thành lũ bán dâm.[810] Tuy nhiên, những trải nghiệm đầy kinh hãi của chúng không gây được nhiều thương hại; trái lại, một số lời chửi rủa tàn tệ nhất theo các hồi ký văn học trong trại là dành cho chúng. Razgon viết rằng bất kể nguồn gốc chúng ra sao, tù trẻ con mau chóng “tất cả đều phô bày một sự tàn bạo trả thù đáng sợ và không thể lung lạc, không hề kiềm chế hay có chịu trách nhiệm”. Còn tệ hơn,

Chúng không hề biết sợ ai và sợ cái gì. Lính gác và các trùm trại cũng sợ bước vào các lán riêng biệt nơi bọn vị thành niên sống. Đó là nơi những hành động xấu xa, độc địa và tàn bạo nhất diễn ra trong trại. Nếu một trong những thủ lĩnh bọn tù tội phạm chơi bài, mất hết mọi thứ và đặt cược mất cả mạng sống của mình, bọn con trai sẽ giết hắn ngay chỉ vì khẩu phần bánh mì hàng ngày hay đơn giản vì “để cho vui”. Bọn con gái khoe khoang rằng chúng có thể làm thỏa mãn trọn vẹn bất cứ đội đốn gỗ tự do nào. Không còn chút nhân tính nào trong những đứa trẻ ấy và không thể tưởng tượng rằng chúng có thể quay lại thế giới bình thường và trở thành con người được nữa.[811]

Solzhenitsyn cũng cảm thấy thế:

Trong ý thức của chúng không có ranh giới giữa cái gì chấp nhận được và cái gì không chấp nhận được, và không có khái niệm về cái tốt và cái xấu. Với chúng, mọi thứ mà chúng muốn đều tốt và mọi thứ cản trở chúng đều xấu. Chúng có được lối cư xử trơ tráo và láo xược của mình vì đó là hình thức cư xử có lợi nhất trong trại…[812]

 Một tù người Hà Lan tên là Johan Wigmans cũng viết về những thanh niên “có lẽ không thực sự quan tâm đến chuyện phải sống trong những trại này. Về chính thức thì chúng phải làm việc, nhưng trong thực tế đó là chuyện cuối cùng mà chúng chịu làm. Đồng thời chúng có lợi thế trong những phương tiện chính thức và nhiều cơ hội để học tập từ chiến hữu của chúng”.[813]

Cũng có những ngoại lệ. Aleksandr Klein kể lại câu chuyện về hai cậu bé mười ba tuổi bị bắt vì là du kích, phải nhận án hai mươi năm đi trại. Cả hai trải qua mười năm trong trại, xoay sở để được ở cạnh nhau bằng cách tuyên bố sẽ tuyệt thực nếu có ai tách chúng ra. Vì tuổi còn nhỏ, mọi người thương hại chúng, phân cho chúng công việc nhẹ nhàng và cho thêm thức ăn. Cả hai tìm cách tham gia các khóa học kỹ thuật trong trại, trở thành những kỹ sư có trình độ trước khi được thả ra nhờ các đợt ân xá sau khi Stalin chết. Nếu không phải là ở trong trại, Klein viết, “ai có thể giúp mấy cậu bé dân quê nửa mù chữ kia trở thành những người có giáo dục và là những chuyên gia giỏi?”[814]

Tuy nhiên, khi vào cuối thập niên 1990 lúc tác giả bắt đầu tìm kiếm hồi ký của những người từng là tù vị thành niên, tác giả nhận thấy rất khó để tìm ra một ai. Với các ngoại lệ hồi ký của Yakir, Kmiecik và một vài người khác thu thập bởi Hội Ký ức và các tổ chức khác, số còn lại rất ít.[815] Vậy mà đã có hàng chục ngàn trẻ em như vậy, và rất nhiều vẫn hãy còn sống. Thậm chí tác giả có đề nghị một người bạn Nga rằng chúng ta hãy đăng quảng cáo trên báo, cố gắng tìm lấy một số người sống sót như vậy để phỏng vấn. “Đừng”, cô ta khuyên tác giả. “Tất cả chúng ta đều biết những con người ấy ra sao”. Hàng thập kỷ tuyên truyền, biểu ngữ dán khắp tường trại mồ côi, cám ơn Stalin “vì thời niên thiếu hạnh phúc của chúng cháu”, đã thất bại trong việc thuyết phục người dân Xôviết rằng trẻ con trong trại, trẻ con ngoài đường phố, và trẻ con trong trại mồ côi sẽ trở thành bất cứ thứ gì ngoại trừ những thành viên đầy đủ lông cánh của tầng lớp tội phạm đông đảo và len lỏi khắp nơi ở Liên Xô.

 

16. Cái chết

 

Kiệt sức – thế có nghĩa gì?

Mệt nhọc – thế có nghĩa gì?

Mọi cử động đều thật đáng sợ,

Mỗi cử động chân tay làm ta đau buốt

Cái đói khủng khiếp – thèm khát bánh mì

“Bánh, bánh” theo nhịp trái tim đập.

Xa tít kia trên bầu trời ảm đạm,

Là mặt trời hờ hững xoay xoay

Hơi thở ta rít lên thoi thóp

Trong cái lạnh năm mươi độ âm

Cái chết – thế có nghĩa gì?

Những rặng núi cụp mắt xuống im lặng.

– Nina Gagen-Torn, Memoria[816]

 

Trong suốt quá trình tồn tại của Gulag, tù luôn luôn dành vị trí ở dưới đáy cùng của cơ cấu trại cho những kẻ sắp chết – hay đúng hơn, cho những xác chết vẫn còn ngắc ngoải. Cả một loạt những từ đồng nghĩa trong tiếng lóng của trại được sáng tạo ra để mô tả họ. Đôi khi, người sắp chết được gọi là fitili, tức là “dây bấc”, do cũng leo lét giống như dây bấc nến. Họ cũng được gọi là gavnoedy (“kẻ ăn cứt”) hay pomoechniki (“thằng cọ bùn”). Thông thường nhất họ được gọi là dokhodyagi, có gốc từ động từ tiếng Nga dokhodit nghĩa là “đạt tới” hay “tới nơi”, một từ thường được dịch là “kẻ tới số”. Jacques Rossi, trong cuốn Gulag Handbook của ông, đã tuyên bố rằng thành ngữ này mang ý mỉa mai: người sắp chết ít nhất cũng “đang đạt tới chủ nghĩa xã hội”.[817] Những người khác, không mơ mộng như vậy, cho rằng thành ngữ này có nghĩa họ đang đạt tới không phải là chủ nghĩa xã hội, mà là sự kết thúc đời mình.

Nói đơn giản, những kẻ dokhodyagi là đang đói khát sắp chết, và họ đang khốn khổ vì những căn bệnh do đói khát và thiếu vitamin: scoócbuýt, viêm da pellagra và nhiều loại bệnh ỉa chảy khác nhau. Trong các giai đoạn đầu, những bệnh này thể hiện dưới hình thức rụng răng và lở loét trên da, các triệu chứng mà đôi khi cũng xuất hiện ở lính gác trại.[818] Trong các giai đoạn tiếp theo, tù sẽ mất khả năng nhìn rõ ban đêm. Gustav Herling vẫn nhớ lại “cái cảnh những kẻ quáng gà, dò dẫm bước qua zona vào sáng sớm và chiều muộn, hai tay quơ quơ phía trước mặt”.[819]

Người đang chết đói cũng phải chịu các trục trặc về dạ dày, hoa mắt và chân bị sưng phù rất kỳ cục. Thomas Sgovio, người đã mon men bên bờ vực chết đói trước khi phục hồi được, đã thức dậy một sáng nọ và nhận thấy một bên chân “phù tím, phồng bằng hai lần kích thước chân bên kia. Rất buốt. Những vết sưng tấy xuất hiện khắp nơi”. Chẳng bao lâu, “chỗ sưng tấy biến thành những cái nhọt lớn. Máu và mủ rỉ ra từ đó. Khi tôi lấy ngón tay ấn vào phần da sưng tím, vết hõm sẽ giữ nguyên rất lâu không phồng trở lại”. Khi Sgovio thấy hai chân mình không nhét lọt đôi ủng nữa, ông được khuyên hãy rạch bớt ủng ra.[820]

Vào giai đoạn cuối cùng, một dokhodyaga sẽ có bề ngoài kỳ quái và không còn giống người nữa, biến thành một hình mẫu hoàn chỉnh về mặt thể xác của thuật hùng biện làm mất nhân tính được chính quyền sử dụng: nói cách khác, trong những ngày sắp chết, lũ kẻ thù của nhân dân không còn chút nào có vẻ là con người nữa. Chúng đã hóa điên, thường lảm nhảm mê sảng hàng giờ liền. Bộ da chúng khô quắt và lùng thùng. Cặp mắt chúng lóe lên những ánh lạ lùng. Chúng ăn bất cứ thứ gì lọt vào tầm tay – chim, chó, rác rưởi. Chúng di chuyển chậm chạp và không thể kìm nổi tiêu tiểu bừa bãi, vì thế chúng tỏa ra mùi hôi thối kinh khủng. Tamara Petkevich kể lại chuyện lần đầu tiên bà trông thấy cảnh này:

Đằng sau hàng rào thép gai chỗ ấy là một hàng những sinh vật chỉ còn hơi hám nhắc nhở về bộ dạng con người… có tất cả mười người như vậy, những bộ xương kích cỡ khác nhau phủ lên các bộ da thâm nâu loang lổ, tất cả đều trần cho đến thắt lưng, đầu cạo trọc và da chỗ ngực teo tóp lòng thòng. Trang phục duy nhất của họ là cái quần đùi bẩn thỉu khốn khổ, xương ống chân nhô ra dưới lớp da đã quắt hết thịt. Những phụ nữ ấy! Đói khát, cái nóng và công việc nặng nhọc đã biến họ thành những mẫu vật khô quắt không hiểu sao vẫn còn bám lấy chút hơi tàn của sự sống.[821]

Varlam Shalamov cũng để lại một bài thơ khó có thể quên được, mô tả các dokhodyaga, về sự giống nhau của họ, về việc họ mất hẳn những cá tính và bản sắc con người, và về sự vô danh của họ, là một phần của nỗi khiếp sợ mà họ gây ra:

Nâng cốc uống vì con đường khốn khổ

Vì những ai đã ngã xuống nửa chừng

Vì những ai không thể lê nổi nữa

Nhưng vẫn cố mà lết bàn chân sưng

Vì những đôi môi xanh xám khô cứng

Vì mặt người giống hệt nhau vô hồn

Vì bộ áo rách phủ bạc sương giá

Vì đôi tay trần không có găng che

Vì suất nước đong theo vỏ đồ hộp

Vì nướu lợi sưng máu bọc chân răng

Vì đôi nanh bầy chó xám béo mập

Đánh thức tù mỗi sớm dậy điểm danh

Vì mặt trời chễm chệ trên cao vút

Xói xuống trần thế không chút xót thương

Vì rừng mộ chí tuyết trắng rơi vương

Là tác phẩm của bão tuyết tận tình

Vì phần bánh ướt thớ dai rùng mình

Mà mỗi ngày tù nhắm mắt mà nuốt

Vì vòm trời vòi vọi nhưng nhợt nhạt

Vì dòng Ayan-Yuryakh hững hờ trôi![822]

Nhưng thuật ngữ dokhodyaga, như được sử dụng trong hệ thống trại Liên Xô, không chỉ là diễn tả một trạng thái thể xác. Những “kẻ tới số”, như Sgovio đã giải thích, không chỉ bị ốm đau: họ là những tù nhân đã đạt tới mức độ đói khát quá mức tới nỗi họ không còn để ý chăm nom tới bản thân nữa. Sự bại hoại tinh thần này thường tiến triển theo từng giai đoạn, như là tù không chịu rửa ráy nữa, không còn kiểm soát tiêu tiểu nữa, không còn có những phản ứng của con người bình thường khi bị lăng mạ nữa – cho tới khi họ phát điên vì đói đúng theo nghĩa đen. Sgovio đã choáng váng sâu sắc khi lần đầu tiên ông gặp một người trong tình trạng này – một người cộng sản Mỹ tên là Eisenstein – người quen của ông lúc còn ở Moscow:

Thoạt tiên tôi không tài nào nhận ra bạn mình. Eisenstein không trả lời khi tôi tiến lại chào anh. Khuôn mặt anh có biểu hiện vô hồn của một dokhodyaga. Anh nhìn xuyên qua tôi như thể tôi không tồn tại. Dường như Eisenstein không nhìn thấy một ai – đôi mắt anh chẳng có biểu hiện gì. Gom nhặt những chiếc đĩa trống trên bàn ăn, anh vét từng chiếc một để gom những vụn thừa. Anh đưa ngón tay quết khắp mặt đĩa rồi giơ lên liếm.

Eisenstein, Sgovio viết tiếp, đã trở thành giống như các “dây bấc” khác, bởi anh ta đã đánh mất tất cả lòng tự trọng của mình:

Họ đã thờ ơ với bản thân, không chịu rửa ráy – thậm chí cả khi họ có cơ hội để làm. Hoặc đám dây bấc không thèm tìm giết lũ rận đang hút máu mình. Đám dokhodyaga không còn lấy ống tay áo bushlats chùi giọt nước trên chóp mũi… gã dây bấc đã quên mất cách hỉ mũi. Khi bị các zek khác đánh, anh ta chỉ biết che đầu tránh những cú đấm. Anh ta ngã xuống sàn và khi còn lại một mình, hồi lại sức, anh ta sẽ đứng dậy và rên rỉ bước đi như thể không có chuyện gì xảy ra. Sau giờ làm việc sẽ chỉ thấy gã dokhodyaga lảng vảng quanh nhà ăn xin xỏ mẩu vụn thừa. Để giải trí, tay đầu bếp có thể sẽ hắt một muôi súp vào mặt gã. Trong những trường hợp như vậy, linh hồn khốn khổ kia sẽ vội vàng quệt ngón tay lên râu rồi đưa vào mồm mút… Bọn dây bấc đứng xung quanh bàn, chờ có ai đó bỏ thừa lại cơm thừa canh cặn. Khi thấy ai làm vậy, kẻ gần nhất sẽ nhào tới chỗ thừa. Trong cuộc tranh giành chắc chắn xảy ra, họ thường sẽ đánh đổ chỗ xúp. Thế là, bò cả bốn chân, họ đánh lộn và giành giật cho tới khi mẩu thức ăn quý giá cuối cùng được tọng mất vào họng.[823]

Một vài tù từng trở thành dokhodyaga, sau đó hồi phục và sống sót, đã cố gắng giải thích một cách không trọn vẹn cảm giác của mình ra sao khi là một xác chết ngắc ngoải. Janusz Bardach nhớ lại rằng sau tám tháng ở Kolyma, “tôi thấy hoa mắt mỗi khi thức dậy, tâm trí tôi như trong đám sương mù. Mỗi lúc mỗi mất thời gian và nỗ lực hơn để tỉnh lại và đi tới nhà ăn vào buổi sáng”.[824] Yakov Efrussi trở thành dokhodyaga sau lần đầu bị ăn cắp mất cặp kính – “bất cứ ai bị cận thị đều biết rõ cuộc đời sẽ ra sao nếu không có kính, mọi thứ xung quanh đều như trong đám mây mù” – và rồi bị mất mấy ngón bàn tay trái vì giá ăn. Ông mô tả cảm giác của mình như sau:

Cơn đói thường trực hủy hoại tâm trí con người. Không thể ngưng suy nghĩ về thức ăn, ta nghĩ về thức ăn suốt cả ngày. Ngoài sự mất thể lực còn là tinh thần suy sụp, do cái đói thường trực sẽ tước hết lòng tự trọng và phẩm giá. Tất cả suy nghĩ của ta chỉ dồn về một hướng: làm thế nào để có thêm thức ăn? Đó là tại sao ở chỗ hố rác, gần nhà ăn, ngay cửa vào nhà bếp, luôn lảng vảng một đám dokhodyagi. Họ đứng chờ xem có ai vứt thứ gì ăn được khỏi nhà bếp, mấy mẩu bắp cải chẳng hạn.[825]

Sự hấp dẫn của nhà bếp và nỗi ám ảnh về thức ăn đã che khuất rất nhiều hay gần như tất cả những suy nghĩ khác, như lời Gustav Herling cũng tìm cách mô tả:

Không có giới hạn về ảnh hưởng của cái đói tới thể xác mà khi xuống dưới ngưỡng đó thì phẩm giá của một con người đang loạng choạng có thể vẫn thiếu ổn định nhưng có được sự cân bằng một cách độc lập. Rất nhiều lần tôi dán bộ mặt xanh xao của mình vào ô kính đóng băng của cái cửa sổ nhà bếp, câm lặng đưa mắt xin thêm một muôi xúp loãng từ gã trộm người Leningrad Fyedka chịu trách nhiệm chia phần. Và tôi nhớ rằng người bạn thân nhất của mình, viên kỹ sư Sadovski, đã có lần, trên cái nền vắng vẻ cạnh nhà bếp, giật từ tay tôi một ca xúp đầy và vừa bỏ chạy, thậm chí không thèm chờ cho đến lúc tới được chỗ nhà xí, vừa húp sạch cái ca nóng bỏng bằng đôi môi luống cuống ngay trên đường đi. Nếu Chúa có tồn tại, xin ngài hãy trừng phạt không thương tiếc kẻ nào dám bẻ gãy người khác bằng cái đói.[826]

Yehoshua Gilboa, một kẻ phục quốc Do Thái người Ba Lan bị bắt năm 1940, đã hùng hồn mô tả sự lừa gạt mà tù dùng để tự thuyết phục bản thân rằng họ đang ăn nhiều hơn thực tế:

Chúng tôi cố gắng đánh lừa dạ dày bằng cách nghiền vụn bánh mì ra cho tới khi thành gần như bột rồi trộn nó với muối và một lượng nước lớn. Cái món tinh tế này được gọi là “xốt bánh mì”. Món nước mặn chát có màu sắc và mùi vị cũng gần như bánh mì. Ta uống nước và bột bánh mì đọng lại. Ta lại đổ thêm nước vào cho tới khi giọt bột bánh cuối cùng tan biến trong đó. Nếu ta ăn thứ xốt bánh mì này để tráng miệng sau khi đã căng một bụng nước bánh, nó sẽ không cho mùi vị gì, mà thực sự là thế, nhưng ta đã tự tạo ra cho mình cái ảo giác rằng đã chén tới hàng trăm gram bánh.

Gilboa viết rằng ông cũng ngâm cá muối vào nước. Kết quả là một thứ chất lỏng “có thể dùng để làm xốt bánh mì và rồi ta thực sự có một món cao lương mỹ vị xứng với một vị vua”.[827]

Ngay vào lúc một tù bắt đầu dành trọn thời gian của mình để lảng vảng quanh nhà bếp, nhặt nhạnh mẩu thừa, anh ta sẽ luôn cận kề cái chết và thực tế là có thể chết bất cứ lúc nào: trên giường vào ban đêm, trên đường đi làm việc, đi bộ quanh zona, hay lúc đang ăn bữa tối. Janusz Bardach có lần thấy một tù ngã gục trong lúc điểm danh cuối ngày:

Một nhóm tù tụ tập quanh anh ta. “Tôi lấy cái mũ”, một người nói. Mấy người khác thì lột lấy đôi ủng, cặp xà cạp, cái áo choàng và chiếc quần của anh ta. Một trận chiến nổ ra xung quanh bộ đồ lót của anh.

Ngay khi bị lột trần xong người tù ngã gục kia liền động đậy cái đầu, giơ tay lên và cất tiếng yếu ớt nhưng rất rõ ràng: “Lạnh quá”. Nhưng chẳng mấy chốc đầu anh ta lại vật xuống tuyết và trong ánh mắt đã kéo lên một làn sương mù. Vòng vây thú ăn xác chết kia vội lẩn mất cùng món đồ kiếm được, không mảy may xúc động. Trong mấy phút sau khi bị lột quần áo ấy, có lẽ anh ấy đã chết vì bị hở lạnh.[828]

Tuy nhiên, cái đói không phải là thứ duy nhất khiến tù chết. Nhiều người chết tại nơi làm việc, trong điều kiện không an toàn của khu mỏ và nhà máy. Một số khác, bị cái đói làm cho yếu lả, cũng gục ngã dễ dàng vì những bệnh tật hay bệnh dịch. Tác giả đã nhắc đến các cơn dịch sốt chấy rận, nhưng tù yếu và đói khát còn rất dễ tổn thương trước vô số căn bệnh khác. Lấy ví dụ, tại Siblag, trong quý đầu của năm 1941, có 8.029 người phải nhập viện, 746 người vì bệnh lao, trong đó 109 tử vong; 72 người bị viêm phổi, trong đó 22 tử vong; 36 bị kiết lỵ, trong đó 9 người tử vong; 177 người bị giá ăn, trong đó 5 tử vong; 302 bị đau dạ dày, trong đó 7 tử vong; 210 bị tai nạn khi làm việc, trong đó 7 người chết; và 912 người mắc bệnh tim mạch, trong đó 123 người chết.[829]

Mặc dù đây là một chủ đề cấm kỵ đáng tò mò, tù cũng có khi tự sát. Thật khó nói có bao nhiêu người chọn con đường này. Không hề có số liệu thống kê chính thức. Hoặc, thật lạ lùng là trong số những người sống sót có rất nhiều người nhất trí về chuyện có bao nhiêu vụ tự sát đã xảy ra. Nadezhda Mandelstam, bà vợ của nhà thơ, đã viết rằng mọi người trong trại đều không tự sát, họ vật lộn quyết liệt để sống sót – và niềm tin của bà được nhiều người khác lặp lại.[830] Evgeny Gnedin viết rằng mặc dù ông có nghĩ đến chuyện tự tử trong nhà tù và sau này khi đi lưu đày, nhưng trong tám năm ở trại, “những suy nghĩ về chuyện tự sát không bao giờ nảy ra trong đầu tôi. Mỗi ngày là một trận chiến để sống sót: làm sao mà ở giữa trận chiến như vậy có thể nghĩ đến chuyện từ bỏ cõi đời? Chỉ có một mục đích – thoát được khỏi nỗi khốn khổ ấy – và một niềm hy vọng: được gặp lại những người dấu yêu”.[831]

Nhà sử học Catherine Merridale đưa ra một lý thuyết khác. Trong khi nghiên cứu, bà đã gặp hai nhà tâm lý học có cơ sở ở Moscow từng nghiên cứu hay làm việc trong hệ thống Gulag. Giống như Mandelstam và Gnedin, họ khăng khăng rằng tự sát và bệnh tâm thần ở đấy rất ít: “Họ rất ngạc nhiên – và cảm thấy tương đối bị xúc phạm” khi bà nêu ra các bằng chứng chứng minh ngược lại. Bà cho rằng sự cố chấp kỳ lạ đó là do “chủ nghĩa Stoic[832] hoang đường” ở Nga, nhưng điều này cũng có thể có những căn nguyên khác.[833] Nhà bình luận văn học Tzvetan Todorov đoán rằng các nhân chứng viết về sự vắng mặt kỳ lạ của việc tự sát do họ muốn nhấn mạnh sự độc đáo của các trải nghiệm của mình. Rất đáng sợ rằng thậm chí không một ai ghi chép về cách tự sát “thông thường”: “những người sống sót chỉ nhắm tới trên hết là truyền đạt về sự khác biệt trong trại”.[834]

Trong thực tế, bằng chứng mang tính giai thoại về việc tự sát là rất rõ ràng, và có nhiều người viết hồi ký nhắc đến chúng. Một người kể lại vụ tự sát của một cậu bé bị một tên tù tội phạm “thắng” được quyền làm tình sau một ván bài.[835] Một người khác kể về vụ tự sát của một công dân Xôviết gốc Đức, người đã để lại lời nhắn gửi Stalin: “Cái chết của tôi là một hành động tỉnh táo để phản đối lại bạo lực và sự phi luật pháp của các cơ quan NKVD trực tiếp chống lại chúng tôi, những người Đức Xôviết”.[836] Một người từng trải qua Kolyma đã viết rằng vào thập niên 1930, khá phổ biến việc tù đi thẳng, rất nhanh và có mục đích, tới “vùng chết”, tức vùng trắng cạnh hàng rào trại, rồi cứ đứng ở đó để chờ bị bắn.[837]

Bản thân Evgeniya Ginzburg cũng đã phải cắt sợi thừng mà Polina Melnikova bạn mình dùng để tự treo cổ, và đã viết về người này đầy khâm phục: “Cô ấy đã khẳng định được mình có quyền là một con người bằng cách hành động như vậy, và cô đã làm việc ấy một cách hiệu quả”.[838] Lại là Todorov cũng có viết rằng nhiều người sống sót qua cả Gulag lẫn trại tập trung Quốc xã đều thấy việc tự sát là một cơ hội để thể hiện ý chí tự do: “Bằng cách tự sát, một người đã thay đổi được tiến trình của sự việc – nếu đó là lần cuối cùng trong đời họ – thay vì chỉ đơn giản phản ứng lại với chúng. Tự sát kiểu này là hành động thách thức chứ không phải tuyệt vọng”.[839]

Đối với ban quản lý trại, tù chết kiểu nào cũng là chết. Vấn đề với hầu hết bọn họ là giữ bí mật về tỷ lệ chết, hoặc ít nhất là giữ bí mật một nửa: chỉ huy các trại cơ sở lagpunkt có tỷ lệ chết bị nhận xét là “quá cao” sẽ có thể bị trừng phạt. Mặc dù quy định không thường xuyên bắt buộc, và mặc dù một số người có bào chữa cho quan điểm rằng nhiều tù hơn nên phải chết nhiều hơn, các chỉ huy của một số trại đặc biệt sát số thỉnh thoảng có bị cách chức.[840] Đó là lý do tại sao, như một số cựu tù có mô tả, ta được biết các bác sĩ có che giấu xác chết khỏi mắt thanh tra viên tới trại, và tại sao ở một số trại khá phổ biến việc thả sớm những tù sắp chết. Bằng cách đó, họ sẽ không xuất hiện trong số liệu thống kê tử vong của trại.[841]

Thậm chí khi cái chết được ghi nhận, các số liệu cũng không phải lúc nào cũng trung thực. Bằng cách này hay cách khác, các chỉ huy trại sẽ đảm bảo rằng đám bác sĩ viết giấy chứng tử cho tù sẽ không ghi rằng “chết đói” là nguyên nhân cơ bản gây tử vong. Lấy ví dụ, bác sĩ giải phẫu Isaac Vogelfanger đã được ra lệnh dứt khoát phải viết “cơ tim ngưng làm việc” bất kể rằng nguyên nhân thật sự khiến tù chết là gì.[842] Chuyện này cũng có thể phản tác dụng: tại một trại, các bác sĩ đã liệt kê danh sách có quá nhiều vụ “đau tim” đến nỗi khiến bên thanh tra nghi ngờ. Các công tố viên buộc đám bác sĩ phải đào xác chết lên và xác minh lại rằng, mà thực tế là như vậy, họ đã chết vì bệnh viêm da pellagra.[843] Không phải tất cả những lộn xộn này đều là cố ý: tại một trại khác, hồ sơ lưu trữ lộn xộn đến mức một thanh tra viên đã than phiền rằng “người chết bị ghi thành người sống, người bỏ trốn thành người đang ngồi tù và ngược lại”.[844]

Tù cũng thường xuyên bị cố ý che giấu không cho biết về thực tế cái chết. Mặc dù không thể giấu giếm hoàn toàn những trường hợp tử vong – một tù đã kể rằng các xác chết nằm “chất đống cạnh tường rào cho tới khi băng tan”[845] – nó có thể bị che đậy bằng nhiều cách. Tại nhiều trại, xác chết bị chuyển đi vào ban đêm và đưa tới những địa điểm bí mật. Chỉ vì tình cờ mà Edward Buca, bị buộc phải ở lại muộn để hoàn thành cho xong chỉ tiêu, mới được thấy người ta đã làm gì với các xác chết tại Vorkuta:

Sau khi họ đã bị chất thành đống như súc gỗ trong một túp lều hở vách cho tới khi đã đủ số lượng để chôn tập thể tại nghĩa trang trại, họ mới được dỡ ra, cởi bỏ quần áo, chất lên xe trượt, đầu đưa ra ngoài, chân quay vào trong. Mỗi xác có một tấm thẻ gỗ gọi là birka buộc vào ngón chân cái của bàn chân phải, trên ghi tên và số tù. Trước khi mỗi xe đi ra cổng trại, tay nadziratel, một sĩ quan NKVD, đều lấy cuốc chim nện vào đầu một cái. Điều này để đảm bảo không ai còn sống thoát ra được. Khi đã ra ngoài trại, xác được chất vào transheya, một trong nhiều rãnh đất rộng đào trong mùa hè cho mục đích này. Nhưng do số người chết tăng, thủ tục để kiểm tra họ chết thực sự chưa cũng có thay đổi. Thay vì đập đầu bằng cuốc chim, lính gác sử dụng shompol, cái que to có một đầu mài sắc, dùng để đâm vào từng xác một. Có lẽ cách này dễ hơn là phải vung cuốc chim.[846]

Các hố chôn tập thể có lẽ cũng được giữ bí mật vì chúng bị cấm về mặt kỹ thuật – không có nghĩa là chúng không được ai biết đến. Các khu trại cũ khắp nước Nga đầy rẫy chứng cứ về những địa điểm rõ ràng là khu mộ chôn tập thể, và hết lần này đến lần khác, các nấm mộ thậm chí còn lộ hẳn ra: vùng viễn bắc giá cứng không chỉ bảo quản được xác chết, đôi khi trong tình trạng còn nguyên vẹn lạ thường, mà cũng di chuyển và thay đổi vị trí của chúng theo mùa đông giá và tan băng hàng năm, như lời Shalamov viết: “Phương Bắc dùng hết sức để kháng cự lại việc làm này của con người, nó không tiếp nhận các xác chết vào trong lòng mình… mặt đất mở ra, hé lộ những kho tàng dưới đất, bởi chúng không chỉ chứa các mạch vàng và chì, tungsten và uranium, mà còn có cả những xác người chưa rữa hết”.[847]

Tuy nhiên, họ không được mong chờ xuất hiện ở đó, và vào năm 1946, ban quản lý Gulag gửi một mệnh lệnh tới tất cả các chỉ huy trại, chỉ đạo họ phải chôn các xác chết riêng rẽ, bọc trong vải liệm và dưới các nấm mồ sâu không ít hơn 1,5 mét. Vị trí của xác không ghi thành tên, mà phải đánh số. Chỉ có người lưu trữ số liệu của trại mới được phép biết ai được chôn ở đâu.[848]

Tất cả những điều này nghe có vẻ rất văn minh – ngoại trừ việc một mệnh lệnh khác cho phép trại lấy răng vàng của người chết. Việc lấy răng này nghĩa là phải thực hiện dưới sự bảo hộ của một ủy ban, bao gồm đại diện của bộ phận y tế trại, ban quản lý trại và ban tài chính trại. Vàng sau đó phải được chuyển vào một ngân hàng quốc gia gần nhất. Tuy nhiên, khó mà tưởng tượng rằng những ủy ban như vậy lại được họp thường xuyên. Việc lấy răng vàng càng thẳng thừng rõ ràng thì càng quá dễ để thực hiện, quá dễ để giấu bớt, trong một thế giới nơi có quá nhiều xác chết.[849]

Bởi đã có quá nhiều xác chết – và cuối cùng điều này chính là sự khủng khiếp đối với cái chết của một tù nhân, như Herling đã viết:

Cái chết trong trại mang một nỗi khủng khiếp nữa: sự vô danh. Chúng ta không thể biết người chết được chôn ở đâu, hoặc sau khi một tù chết thì người ta có ghi lại tờ giấy chứng tử nào không… Sự hiển nhiên rằng không ai có thể biết được về cái chết của họ, rằng sẽ không ai biết nơi họ được chôn, chính là một sự hành hạ tâm lý kinh khủng nhất đối với người tù…

Các bức tường của lán ở phủ đầy tên họ mà tù khắc lên vữa trát, và người ta nhờ vả bạn bè để họ khắc thêm ngày mất bằng cách vạch một chữ thập và ngày tháng; mỗi tù đều đều đặn viết cho gia đình ghi rõ ngày tháng cụ thể, nhằm khi có đột ngột mất liên lạc thì gia đình còn tương đối biết được thời điểm họ chết.[850]

Mặc cho có nhiều nỗ lực của tù, nhiều, rất nhiều cái chết đã không được ai để ý, bị lãng quên và không được ghi nhận. Giấy tờ không được lập; người thân không biết; bia mộ gỗ mục nát. Đi vòng quanh các khu trại cũ miền viễn bắc, ta có thể nhìn thấy dấu vết các nấm mộ tập thể: mặt đất gồ ghề đều đều, những cây thông non và lùm cỏ cao che giấu những hố chôn đã gần nửa thế kỷ. Đôi khi có chỗ dân địa phương dựng lên một bia tưởng niệm. Thông thường hơn thì chẳng thấy có ghi lại gì. Tên tuổi, cuộc đời, chuyện riêng tư, quan hệ gia đình, sự nghiệp – tất cả đều bị xóa sạch.

 

17. Kế sách để sống sót

 

Khổ nghèo, đơn độc và rách rưới

Tôi không còn lửa cháy trong tim.

Miền địa cực ánh tía ảm đạm

Vây quanh tôi lối thoát nơi đâu…

Tôi ngâm nga bài thơ mình viết,

Hét gào lên từng khổ từng câu

Rặng cây kia, xơ xác điếc câm

Nghe tôi kêu rùng mình sợ hãi.

Chỉ âm vang núi kia vẳng lại

Là đáp trả ngân trong tai tôi

Khe khẽ buông một tiếng thở dài

Tôi trở lại hít thở nhẹ nhõm.

– Varlam Shalamov,

Neskolko moikh zhiznei[851].

 

Cuối cùng thì nhiều tù vẫn sống sót. Họ sống sót thậm chí cả ở những trại tồi tệ nhất, thậm chí cả trong những điều kiện khắc nghiệt nhất, thậm chí cả trong những năm tháng chiến tranh, những năm tháng của nạn đói, những năm tháng có hành quyết tập thể. Không chỉ có thế, một số sống sót với đầu óc vẫn còn nguyên vẹn đủ để trở về nhà, hồi phục và sống tiếp một cuộc đời tương đối bình thường. Janusz Bardach trở thành bác sĩ phẫu thuật tạo hình ở thành phố Iowa. Isaak Filshtinsky quay về dạy văn học Ả Rập. Lev Razgon quay về viết tiểu thuyết thiếu nhi. Anatoly Zhigulin quay về viết thơ. Evgeniya Ginzburg chuyển đến Moscow, và trong suốt nhiều năm là trái tim và tâm hồn của tập thể những người sống sót, thường gặp gỡ nhau để ăn uống và tranh cãi trong phòng ăn của bà.

Ada Puryzhinskaya, bị tù khi còn thiếu niên, đã lập gia đình và sinh được bốn người con, một số trong đó trở thành những nhạc sĩ đầy tài năng. Tác giả đã gặp hai người bọn họ trong một bữa tối gia đình thịnh soạn vui vẻ, tại đó Puryzhinskaya dọn lên hết đĩa này đến đĩa khác những món ăn lạnh mát ngon lành, thậm chí còn có vẻ thất vọng khi tác giả không thể ăn thêm được nữa. Căn nhà của Irena Arginskaya cũng tràn đầy tiếng cười, phần lớn xuất phát từ chính Irena. Bốn mươi năm sau, bà vẫn có thể khôi hài về những quần áo mình mặc khi còn là tù nhân: “Tôi cho rằng cô có thể gọi nó là một thứ áo jacket”, bà nói, cố gắng miêu tả cái áo khoác chẳng ra hình thù gì của trại phát cho. Cô con gái trưởng thành ăn nói khéo léo của bà phá lên cười theo.

Một số người thậm chí còn tiếp tục một cuộc đời phi thường. Aleksandr Solzhenitsyn trở thành một trong những nhà văn Nga nổi tiếng và có sách bán chạy trên toàn thế giới. Tướng Gorbatov đã tham gia chỉ huy Hồng quân công phá Berlin. Sau khi chịu xong án ở Kolyma và tại một phòng thí nghiệm sharashka thời chiến, Sergei Korolev tiếp tục trở thành cha đẻ của chương trình không gian Liên Xô. Gustav Herling rời khỏi trại, chiến đấu cùng Quân đội Ba Lan, và, mặc dù viết khi ở chốn lưu đày Napoli, đã trở thành một trong những văn sĩ được kính trọng nhất tại Ba Lan thời hậu chiến. Tin về cái chết của ông tháng 7/2000 xuất hiện trên trang đầu của các tờ báo Warsaw và toàn bộ thế hệ trí thức Ba Lan đã tỏ lòng tôn kính tác phẩm của ông – đặc biệt là cuốn Một Thế giới Riêng rẽ, hồi ký của ông về Gulag. Khả năng phục hồi được không phải là chỉ riêng những đàn ông đàn bà đó mới có. Isaac Vogelfanger, bản thân ông trở thành một giáo sư giải phẫu của Đại học Ottawa, đã viết rằng “vết thương sẽ lành, và anh sẽ lại hồi phục, với đôi chút mạnh mẽ và có nhân tính hơn trước kia…”[852]

Tất nhiên, không phải câu chuyện của tất cả cựu tù Gulag đều kết thúc tốt đẹp như vậy, những chuyện không nhất thiết phải nói ra khi đọc hồi ký. Hiển nhiên, những người không sống sót được đều không để lại gì. Những người bị hủy hoại tinh thần hay thể xác bởi thời gian trong trại cũng không viết lại hồi ký. Những ai sống sót bằng cách làm những điều mà sau này họ thấy xấu hổ khi viết lại cũng vậy – hoặc, nếu họ có viết, thì cũng không nhất thiết sẽ kể lại toàn bộ câu chuyện. Có ít, rất ít hồi ký của những chỉ điểm viên – hay của những người thú nhận đã từng là chỉ điểm viên – và rất ít kẻ sống sót chịu thừa nhận đã làm hại hay giết chết bạn tù nhằm mục đích sống sót.

Vì các lý do trên, một số người sống sót đặt vấn đề là liệu viết hồi ký có chút giá trị gì không. Yuri Zorin, một cụ già sống sót và không trải lòng lắm được tác giả phỏng vấn tại thành phố Arkhangelsk quê nhà của ông, đã xua đi câu hỏi mà tác giả hỏi về triết lý để sống sót. Chẳng có thứ triết lý nào, ông nói. Mặc dù theo hồi ký của họ có vẻ như tù “tranh luận về mọi điều, trầm ngâm trước mọi chuyện”, ông nói với tác giả rằng không phải như vậy: “Tất cả chỉ là làm sao để sống qua được ngày hôm sau, để được tiếp tục tồn tại, sao cho không bị ốm, làm sao để được làm ít hơn và ăn nhiều hơn. Và đó là lý do tại sao, như một quy tắc, không ai tranh luận về triết học… Chúng tôi được cứu sống nhờ tuổi trẻ, sức khỏe và sức mạnh cơ bắp, bởi ở đấy chúng tôi sống theo quy luật sinh tồn của Darwin, kẻ sống sót là người thích nghi nhất”.[853]

Do đó, toàn bộ chủ đề về những người sống sót – và tại sao họ sống sót được – cần phải được tiếp cận thật thận trọng. Trong vấn đề này, không thể dựa vào tài liệu lưu trữ nào, và cũng không có “bằng chứng” thực tế. Chúng tôi buộc phải lấy lời của những người sẵn sàng kể lại kinh nghiệm của mình, cả bằng cách ghi chép lẫn qua phỏng vấn. Bất cứ ai trong số đó đều có thể có lý do để che giấu một số khía cạnh trong cuộc đời mình đối với độc giả.

Với lời cảnh báo này, ta vẫn có thể nhận diện ra các hình mẫu từ hàng trăm hồi ký đã được xuất bản hay lưu trong lưu trữ. Bởi đúng là có các kế sách để sống sót, và lúc đó chúng khá được phổ biến, mặc dù chúng khác nhau rất nhiều tùy theo hoàn cảnh đặc biệt của mỗi tù nhân. Sống sót trong một tiểu khu lao động miền Tây nước Nga giữa thập niên 1930 hay thậm chí vào cuối thập niên 1940, khi phần lớn công việc đều là làm việc trong nhà máy và thực phẩm khá đều đặn hợp lý, nếu không nói là tương đối nhiều, có lẽ không cần có điều chỉnh tâm lý đặc biệt nào. Trái lại, sống sót tại một trong các trại miền viễn bắc – Kolyma, Vorkuta, Norilsk – trong những năm chiến tranh đói khát, thường đòi hỏi rất nhiều tài năng và ý chí hoặc khả năng tàn ác ghê gớm, các phẩm chất mà tù nhân khi còn tự do có lẽ không bao giờ tự khám phá ra.

Không thể nghi ngờ gì, nhiều tù như vậy sống sót bởi họ đã tìm được cách nâng mình lên trên các tù khác, tách biệt bản thân so với đám zek chết đói đông lúc nhúc. Hàng chục châm ngôn và tục ngữ trong trại đã phản ánh tác động làm suy giảm đạo đức của cuộc đấu tranh sinh tồn khốc liệt ấy. “Mày trước, tao sau” là một câu trong số đó. “Người với người là sói dữ” – thành ngữ mà Janusz Bardach đã dùng làm tựa đề hồi ký của mình – là một câu khác.

Nhiều cựu zek kể rằng cuộc chiến sinh tồn là rất tàn bạo, và có nhiều người, giống như Zorin, cho rằng đó là theo quy luật Darwin. “Trại là bãi thí nghiệm vĩ đại cho sức mạnh tinh thần và phẩm hạnh hàng ngày của chúng tôi, có đến 99 phần trăm trong số chúng tôi không vượt qua nổi nó”, Shalamov viết.[854] “Chỉ cần sau ba tuần, phần lớn tù đã bị bẻ gãy, không còn quan tâm gì khác ngoài chuyện ăn. Họ hành xử như thú vật, thù ghét và nghi ngờ bất cứ ai, xem bạn bè cũ chỉ còn như một đối thủ cạnh tranh trong cuộc chiến sinh tồn”, Edward Buca viết.[855]

Elinor Olitskaya, có quá khứ từng tham gia hoạt động dân chủ xã hội tiền cách mạng, đã đặc biệt khiếp hãi bởi điều mà bà xem là sự vô luân của trại: trong khi các tù nhân ở nhà tù thường hợp tác với nhau, lá lành đùm lá rách, thì ở trại Xôviết mọi tù đều “sống vì bản thân”, tìm cách đạp người khác xuống để đạt được vị trí cao hơn trong cơ cấu trại.[856] Galina Usakova kể lại chuyện bà đã cảm thấy nhân cách của mình biến đổi ra sao trong trại: “Tôi vốn là một cô gái tốt tính, được dạy dỗ cẩn thận, xuất thân trong gia đình trí thức. Nhưng với các tính cách đó ta sẽ không sống sót nổi, ta phải trở nên cứng rắn, phải học nói dối, phải biết giả nhân giả nghĩa bằng nhiều cách”.[857]

“Sau năm năm ở trại (những người sống sót)” – khuôn mặt tù biến đổi theo thời gian: phác thảo của tù nhân Aleksei Merekov, thời gian và địa điểm chưa rõ.

Gustav Herling nói chi tiết hơn, mô tả việc những tù mới dần dần học được cách sống “không biết thương xót”:

Ban đầu anh ta chia sẻ phần bánh của mình với đám tù đói khát điên dại, cầm tay dắt những kẻ quáng gà trên đường đi làm về nhà, kêu gọi giúp đỡ khi bạn làm chung trong rừng chặt đứt phải hai ngón tay, và kín đáo đem hộp súp và đầu cá cho kẻ sắp chết. Vài tuần sau anh ta nhận ra rằng động cơ của mình trong tất cả những chuyện ấy chẳng có gì là trong sáng hay vô tư cả, rằng mình đang đi theo sự dẫn dắt ích kỷ của bộ não để trước hết là cứu rỗi bản thân. Khu trại, nơi tù đang sống ở mức nhân tính thấp nhất và tuân theo quy luật của riêng họ cho phép hành xử tàn bạo đối với kẻ khác, đã giúp anh ta đạt tới cái kết luận này. Ở trong tù, làm sao anh ta có thể tin rằng một người có thể thoái hóa đến mức không chỉ không gợi được lòng trắc ẩn mà thậm chí còn khiến các bạn tù ghét bỏ và ghê tởm? Làm sao anh có thể giúp bọn quáng gà được, khi mà hàng ngày anh đều thấy chúng liên tục ăn báng súng bởi chúng cản trở đội lao động trên đường từ chỗ làm về nhà, và rồi bị các tù khác sốt ruột gạt khỏi lối đi tới nhà bếp để lấy súp; làm sao có thể tới thăm kẻ sắp chết bất chấp bóng tối mịt mù và mùi phân hôi thối; làm sao có thể chia sẻ phần bánh của mình với một gã điên dại vì đói, kẻ mà ngay ngày hôm sau sẽ lại đón anh ở lán với ánh nhìn đòi hỏi dai dẳng… Anh ta sẽ nhớ lại và tin vào những lời của tay thẩm phán thẩm vấn mình, kẻ bảo anh ta rằng nhát chổi thép của công lý Xôviết chỉ quét có toàn rác rưởi vào trong trại của nó mà thôi…[858]

Những tình cảm như vậy không chỉ riêng người sống sót trong trại Xôviết mới có. “Nếu ta đề nghị một vị trí ưu đãi với một vài cá nhân đang trong cảnh nô lệ”, Primo Levi, một người sống sót từ Auschwitz, đã viết, “đòi hỏi phải đổi lại bằng việc phản bội tình đoàn kết tự nhiên với các đồng chí của mình, chắc chắn sẽ có kẻ nào đó đồng ý chấp nhận”.[859] Cũng viết về trại tập trung Đức, Bruno Bettelheim quan sát thấy rằng các tù lớn tuổi thường đi tới việc “chấp nhận các giá trị của bọn SS và hành xử như thể đó chính là giá trị của mình”, đặc biệt là nuôi dưỡng lòng thù ghét với kẻ yếu và các cư dân cấp dưới của trại, nhất là người Do Thái.[860]

Trong trại của Liên Xô, giống như trại Quốc xã, tù tội phạm cũng sẵn sàng làm theo hệ tư tưởng làm mất tính người của NKVD, sỉ nhục tù chính trị là “đồ kẻ thù”, và biểu lộ sự ghê tởm với đám dokhodyagi xung quanh chúng. Do vị trí bất thường của mình là tù chính trị duy nhất giữa một lagpunkt toàn tù tội phạm, Karol Colonna-Czosnowski đã có thể lắng nghe được thế giới quan của bọn tội phạm về tù chính trị: “Rắc rối chỉ ở chỗ ở đấy có quá nhiều bọn chúng. Chúng yếu ớt, bẩn thỉu và chỉ biết thèm ăn. Chúng chẳng làm ra được gì. Tại sao chính quyền còn thèm quan tâm, chỉ có Trời mới biết…” Một tên tội phạm, Colonna-Czosnowski viết, đã nói rằng hắn từng gặp một tù phương Tây ở trại trung chuyển, là một nhà khoa học và giáo sư đại học. “Tao bắt được nó đang ăn, ừ, đúng là đang ăn khúc đuôi cá Treska đã thối quá nửa. Tao cho nó tới bến, mày biết rồi đấy. Tao hỏi nó có biết nó đang làm gì không. Nó chỉ biết nói nó đói… Thế là tao giọng cho nó một cú vào cổ làm nó ói phọt hết ra. Nghĩ đến cũng thấy tởm rồi. Tao còn báo nó cho lính gác, nhưng thằng già dơ dáy ấy đã chết trước khi trời sáng. Đáng đời!”[861]

Những tù khác theo dõi, học hỏi và làm theo, như lời Shalamov viết:

Gã nông dân trẻ bị đi tù nay thấy rằng trong chốn địa ngục này chỉ có bọn tội phạm là sống tương đối khỏe, rằng ban quản lý trại quyền lực đầy mình còn phải sợ chúng. Bọn tội phạm luôn có đủ quần áo và thức ăn, và chúng hỗ trợ lẫn nhau… anh ta bắt đầu cảm thấy rằng bọn tội phạm làm chủ được chân lý trong trại, rằng chỉ bằng cách bắt chước chúng anh ta mới tìm được con đường cứu mạng mình… trong trại đám tù trí thức bị nghiền vụn. Mọi thứ có giá trị với họ đều bị nghiền thành bụi trong khi văn minh và tri thức rời bỏ anh ta chỉ sau vài tuần. Phương pháp để thuyết phục là dùng nắm đấm hoặc cái gậy. Cách để khiến ai đó làm điều gì là dùng báng súng, hoặc một quả đấm vào mõm…[862]

Nhưng tuy nhiên – nói rằng cuộc sống trong trại hoàn toàn vô luân thì cũng không đúng, mà đúng hơn phải là không thương xót hoặc không khoan nhượng. Thật lạ lùng, thậm chí những người viết hồi ký yếm thế nhất cũng thường tự phủ nhận điều này. Bản thân Shalamov, với mô tả của mình về sự man rợ trong trại vượt trội hơn tất cả những người khác, cũng đã có lúc viết rằng “Tôi không tán thành với ý kiến cho rằng công việc của người đốc công, vốn cho ta một cơ hội để sống sót, là công việc xấu nhất ở trong trại khi phải áp đặt ý muốn của mình hay của ai đó lên một người khác bị tù cũng giống như mình”. Nói cách khác, Shalamov có một ngoại lệ đối với quy tắc của riêng mình.[863]

Hầu hết các hồi ký cũng chứng minh rằng Gulag không phải là một thế giới đen trắng rạch ròi nơi đường ranh giữa ông chủ và đầy tớ được vạch rõ, và cách duy nhất để tồn tại là tàn nhẫn tuyệt đối. Không chỉ có tù nhân, công nhân tự do và lính gác cùng thuộc một mạng lưới xã hội phức tạp, mà cả cái mạng lưới ấy cũng thường xuyên nằm trong dòng chảy thay đổi liên tục, như chúng ta đã xem ở trên. Tù có thể lên voi xuống chó trong bộ máy cơ cấu, và nhiều người đã thực sự như vậy. Họ có thể thay đổi số phận của mình không chỉ thông qua việc hợp tác hay thách thức chính quyền, mà cả thông qua khôn khéo luồn lách và đổi chác, thông qua quan hệ và giao tiếp. Vận may hay xui xẻo cũng quyết định đến quá trình làm việc trong trại, vốn nếu lâu dài có thể có những thời kỳ “hạnh phúc” khi tù có được việc làm tốt, ăn uống đầy đủ và không phải làm vất vả, cũng như có thời kỳ khi cũng những tù ấy rơi xuống thế giới dưới đáy của bệnh viện, nhà xác và tầng lớp dokhodyagi luôn tụ tập quanh đống rác để tìm kiếm cơm thừa canh cặn.

Trong thực tế, nhiều phương pháp để tồn tại đã được hình thành trên cơ sở của hệ thống trại. Trong hầu hết mọi thời kỳ, ban quản lý trại đều không tìm cách cố tình giết chết tù; họ chỉ cố gắng hoàn thành các chỉ tiêu sản lượng cao quá khả năng do các kế hoạch gia trung ương ở Moscow lập nên. Kết quả là, lính gác trại thiên về hướng thưởng cho tù nào họ thấy giúp ích cho mình đạt được mục tiêu ấy. Rất tự nhiên, tù tìm cách dựa vào thiện ý ấy. Hai nhóm này có các mục tiêu khác nhau – lính gác muốn đào được nhiều vàng hơn hay đốn được nhiều gỗ hơn, còn tù thì muốn sống sót – nhưng đôi khi họ dùng chung phương tiện để đạt tới các mục tiêu khác nhau. Một vài kế sách để sống sót đặt biệt phù hợp với cả tù lẫn lính gác, như tác giả sẽ liệt kê dưới đây.

 

Tufta

Giả vờ làm việc

 

Để viết một mô tả thẳng thắn về tufta – một từ thường được dịch rất không chính xác là “lừa bịp ông chủ” – không phải là việc dễ dàng. Ví dụ, những thực tiễn thế này đã bén rễ sâu trong hệ thống xã hội Xô viết đến nỗi khó có thể mô tả chúng như là cái gì đó độc đáo của riêng Gulag.[864] Chúng cũng chẳng là của riêng Liên Xô. Thành ngữ thời cộng sản “Họ giả vờ trả lương còn ta thì giả vờ làm việc” đã có lúc có thể nghe thấy bằng gần hết ngôn ngữ các nước theo Hiệp ước Warsaw.

Đúng hơn là, tufta thực sự thấm nhuần trong mọi khía cạnh của lao động – phân công công việc, tổ chức công việc, kết toán công việc – và thực sự ảnh hưởng tới mọi thành viên trong trại, từ các ông trùm Gulag ở Moscow cho tới gã lính gác quèn nhất, cho tới tên tù bị chà đạp nhất. Điều này đúng ngay từ khi Gulag mới hình thành cho tới tận lúc nó tiêu tùng. Một điệp khúc được tù hay lặp đi lặp lại có từ thời Kênh đào Bạch Hải là:

Bez tufty i ammonala

Ne postroili by kanala.

Nếu không có tufta và thuốc nổ

Họ chẳng bao giờ xây nổi kênh đào.[865]

Trong những năm tháng chủ đề này trở thành đối tượng để tranh luận, các bàn cãi cũng xuất hiện xung quanh câu hỏi tù đã làm hoặc không làm việc tích cực đến mức độ nào, và có bao nhiêu cố gắng mà họ đã thực hiện hoặc không thực hiện để né tránh làm việc. Ngay từ khi tác phẩm Một ngày trong Cuộc đời Ivan Denisovich của Solzhenitsyn xuất bản năm 1962 mở ra một cuộc tranh luận công khai không ít thì nhiều về chủ đề hệ thống trại, số người sống sót càng đông thì các nhà luận chiến và sử gia trại càng gặp khó khăn đáng kể khi đi tìm sự nhất trí về giá trị đạo đức của lao động trong trại. Bởi phần lớn nội dung cuốn tiểu thuyết ngắn mang tính đột phá của Solzhenitsyn thực ra đều viết về nỗ lực của nhân vật anh hùng của nó nhằm trốn tránh công việc. Trong trình tự một ngày của Ivan Denisovich, anh ta đi gặp bác sĩ với hy vọng được xác định có bệnh để nghỉ làm; mơ màng đến việc bị ốm khoảng vài tuần; theo dõi nhiệt kế của trại, mong rằng nó sẽ báo trời quá lạnh được nghỉ không phải đi tới nơi làm; khâm phục nói về những đội trưởng có khả năng “làm cho công việc trông có vẻ như đã làm xong, bất kể làm được ra sao”; cảm thấy nhẹ nhõm khi đội trưởng của mình lấy được “phần trăm định mức tốt”, mặc cho thực tế rằng “đã nửa ngày trôi qua nhưng họ vẫn chưa làm được gì”; ăn cắp mảnh gỗ từ công trường để về đốt trong lán; và trộm thêm cháo trong giờ ăn trưa. “Công việc”, Ivan đã có lúc suy nghĩ, “đến ngựa cũng lăn ra chết”. Anh đã cố gắng để né tránh nó.

Trong những năm tiếp theo sau khi cuốn sách được xuất bản, bức chân dung của một tay zek điển hình đó bị nhiều người sống sót phản đối, bởi cả các lý do lý tưởng lẫn cá nhân. Một mặt, những ai tin tưởng vào hệ thống Xôviết – và do đó cũng tin rằng “công việc” trong trại là có giá trị và cần thiết – cảm thấy “sự lười nhác” của Denisovich là thật gớm ghiếc. Nhiều ghi chép “chuyển biến” và “thân Liên Xô” hơn về cuộc sống trong trại, xuất bản trên báo chí chính thức của Liên Xô nhân làn sóng Ivan Denisovich, thậm chí còn tập trung thẳng vào cống hiến trong lao động của những người mà, mặc cho đã bị bắt bớ không công bằng, vẫn giữ được niềm tin chân thành. Nhà văn Xôviết (và là chỉ điểm viên lâu năm) Boris Dyakov kể về một kỹ sư làm việc cho dự án xây dựng của Gulag ở gần Perm. Viên kỹ sư tập trung mê mải vào công việc, theo như lời ông ta kể cho người thuật chuyện Dyakov, đến nỗi ông quên đi mình đang là tù nhân. “Có những lúc tôi thích thú với công việc tới mức tôi quên hẳn mình đang là gì”. Viên kỹ sư trong truyện của Dyakov tận tâm đến mức ông ta còn bí mật gửi một lá thư cho tờ báo địa phương, than phiền về sự tổ chức yếu kém của hệ thống vận chuyển và tiếp tế của trại. Mặc dù bị viên chỉ huy trại khiển trách vì hành động hớ hênh này – chuyện tên tuổi một tù nhân xuất hiện trên mặt báo trước giờ chưa từng có – viên kỹ sư, như lời Dyakov kể, vẫn thấy vui vì “sau bài báo, mọi việc có được cải thiện đôi chút”.[866]

Quan điểm của những người điều hành trại thậm chí còn quá khích hơn. Một cựu quản lý trại giấu tên khá giận dữ nói với tác giả rằng tất cả các câu chuyện về việc tù trại sống khổ cực đều hoàn toàn không đúng. Những người làm việc tốt sống vô cùng ổn, bà ta nói, còn ổn hơn nhiều so với xã hội bên ngoài nói chung: thậm chí họ có thể mua được sữa đặc – tác giả viết in nghiêng – mà người thường không thể kiếm ra. “Chỉ những kẻ từ chối làm việc mới sống khổ”, bà nói tiếp.[867] Những quan điểm như vậy thường không được nói thẳng trước công luận, nhưng có vài ngoại lệ. Anna Zakharova, vợ của một sĩ quan NKVD người có lá thư gửi tờ Izvetstiya được lưu truyền trong báo chí ngầm thập niên 1960, đã chỉ trích gay gắt Solzhenitsyn. Zakharova viết rằng bà “giận dữ đến tận đáy sâu tâm hồn” bởi Ivan Denisovich:

Chúng tôi có thể hiểu rõ tại sao nhân vật anh hùng của câu chuyện này, nuôi dưỡng một thái độ như vậy đối với nhân dân Liên Xô, hy vọng không gì khác ngoài một chỗ bấu víu để bằng cách nào đó thoát khỏi việc chuộc lại tội lỗi của mình, chuộc lại những sai trái hắn đã làm với tổ quốc mình thông qua lao động vất vả… Và tại sao chính một kẻ như vậy lại tìm cách trốn tránh lao động thể xác và tỏ ra khinh miệt nó? Trên hết tất cả, đối với chúng ta lao động là nền tảng của hệ thống Xôviết, và chỉ thông qua lao động mà con người mới trở nên nhận thức đầy đủ về sức mạnh chân thực của mình.[868]

Có các phản đối khác ít lý tưởng hóa hơn từ phía những zek thường. V. K. Yasny, một người bị tù năm năm vào đầu thập niên 1940, đã viết trong hồi ký rằng “Chúng tôi cố gắng làm việc một cách trung thực, không phải do sợ bị cắt khẩu phần hay bị tống vào biệt khám… và đó chính là điều xảy ra ở trong đội của tôi, đã giúp ta quên đi, giúp xua tan những suy nghĩ lo âu”.[869] Nadezhda Ulyanovskaya, người bị tù cùng với mẹ mình, đã viết rằng mẹ bà làm việc hăng hái “để chứng tỏ rằng người Do Thái và dân trí thức làm việc không tệ hơn những kẻ khác”. (Tuy nhiên, bà viết về bản thân mình “Tôi làm việc vì tôi bị buộc phải làm”, “Tôi sợ rằng về điểm này, tôi đã không giữ được danh dự cho dân tộc Do Thái”)[870]

Những tù đã làm việc nhiệt tình cho chế độ Xôviết trong suốt cuộc đời cũng không mau chóng thay đổi thái độ. Aleksandr Borin, một tù chính trị và là kỹ sư hàng không, được phân vào một nhà máy cơ khí Gulag. Trong hồi ký của mình, ông đã tự hào mô tả các cải tiến kỹ thuật mình thực hiện tại đó, hầu hết được làm trong thời gian rảnh rỗi.[871] Alla Shister, một tù chính trị khác bị bắt cuối thập niên 1930, nói với tác giả trong khi phỏng vấn rằng “Tôi luôn làm việc như thể tôi đang tự do. Đó là nét tính cách của tôi, tôi không thể làm việc tồi được. Nếu phải đào cái hố, tôi sẽ đào cho tới khi nào xong mới thôi”. Sau hai năm lao động phổ thông, Shister trở thành một đội trưởng, bởi vì, như bà nói, “Họ thấy rằng tôi không làm như một người tù làm, mà làm với tất cả sức lực của mình”. Với năng lực ấy, bà tiếp tục làm mọi nỗ lực để truyền cảm hứng cho những người dưới mình, mặc dù thừa nhận rằng không phải bằng cách đốt nóng họ với tình yêu đất nước Xôviết. Dưới đây là mô tả của bà về cuộc chạm trán đầu tiên với những người làm việc cho bà:

Tôi đi tới mỏ đá nơi bọn họ đang đào. Lính gác đề nghị đi cùng tôi, nhưng tôi nói rằng không cần thiết, và tôi đi một mình. Lúc đó là nửa đêm. Tôi bước tới đội và nói với họ, “Tôi cần phải hoàn thành kế hoạch, gạch rất cần ngoài mặt trận”.

Họ nói, “Alla Borisova, chúng tôi không quan tâm về kế hoạch sản xuất gạch, hãy đưa chúng tôi khẩu phần bánh mì’.

Tôi đáp, “Các anh sẽ có khẩu phần bánh mì, nếu hoàn thành được kế hoạch”.

Họ nói, “Chúng tôi sẽ ném cô vào hố, lấp đất lại và sẽ không có ai tìm thấy được”.

Tôi lặng lẽ đứng đó, rồi đáp, “Các anh sẽ không lấp đất tôi đâu. Tôi hứa rằng nếu hôm nay, lúc mười hai giờ trưa, các anh hoàn thành được chỉ tiêu, tôi sẽ đem cho một ít thuốc lá”. Ở đấy thuốc lá còn quý hơn cả vàng hay kim cương…

Shister đã, bà kể, để dành phần thuốc lá mình được phát, do bản thân bà không hút, và vui vẻ đưa cho họ để trả công.[872]

Tất nhiên, cũng có những người nhận ra lợi ích vật chất đạt được khi làm việc. Một số tù cố gắng, một cách đơn giản, làm những gì người khác muốn: vượt được chỉ tiêu, đạt tới danh hiệu công nhân xung kích, được nhận khẩu phần tốt hơn. Vladimir Petrov tới một lagpunkt ở Kolyma và lập tức nhận ra rằng cư dân của “căn lều Stakhanovets”, những người làm việc nỗ lực hơn các tù khác, có được tất cả những đặc tính mà đám dokhodyagi không có:

Họ sạch sẽ hơn đáng kể. Thậm chí với điều kiện cuộc sống trong trại vô cùng khắc nghiệt họ vẫn xoay sở để rửa mặt mỗi ngày, và khi không lấy được nước thì họ dùng tuyết. Họ cũng ăn mặc tốt hơn… [và] có tài sản hơn. Họ không tụ tập quanh lò sưởi, mà ngồi trên giường của mình hoặc làm việc gì đó, hoặc trò chuyện về mình. Thậm chí nhìn từ bên ngoài lều của họ trông cũng khác.

Petrov xin được vào đội của họ – thành viên ở đó được phát 1 ký bánh mì mỗi ngày. Tuy nhiên, có lần ông không theo kịp nhịp làm việc. Ông bị đuổi khỏi đội, vốn không tha thứ cho sự yếu ớt.[873] Đó không phải là kinh nghiệm của riêng ông, theo như Herling viết:

Sức mê hoặc của chỉ tiêu không phải là độc quyền của những người tự do đã áp đặt nó, mà cũng là bản năng chế ngự của các nô lệ đã làm việc theo nó. Tại những đội lao động nơi công việc được thực hiện bởi các nhóm biết làm việc phối hợp với nhau, kẻ đốc công tận tâm và nhiệt tình nhất lại chính là tù nhân, bởi ở đấy chỉ tiêu được tính đều bằng cách chia tổng khối lượng cho số người làm. Bất cứ cảm xúc bằng hữu qua lại nào cũng đều bị thủ tiêu hoàn toàn trong khao khát chạy đua hoàn thành phần trăm định mức. Tù nào không đủ tiêu chuẩn, bị phân vào một đội công nhân có kinh nghiệm đã phối hợp ăn ý với nhau, sẽ không thể mong chờ có được chút quan tâm tôn trọng nào; sau một thời gian vùng vẫy ngắn ngủi anh ta sẽ buộc phải bỏ cuộc và chuyển tới một đội khác mà tại đó, đến lượt mình, anh ta cũng sẽ liên tục giám sát các đồng chí yếu kém hơn. Trong tất cả những chuyện này có cái gì đó rất vô nhân, đã tàn nhẫn cắt đứt mối liên hệ tự nhiên duy nhất giữa các tù với nhau – sự đoàn kết của họ trước mặt những kẻ ngược đãi họ.[874]

Nhưng nỗ lực lao động đôi khi lại phản tác dụng. Lev Razgon kể lại về những nông dân đã tự dấn vào cái chết khi cố gắng làm vượt chỉ tiêu để kiếm được cho mình “khẩu phần lớn” gồm 1,5 ký bánh mì: “Có thể là bột bánh ủ không kỹ và nướng cháy, nhưng là bánh thật. Với những nông dân từng phải sống hàng năm trời đói khát thì đây là một lượng bánh khổng lồ, thậm chí kể cả khi không kèm theo thức ăn nóng nào khác”.[875] Shalamov cũng mô tả “huyền thoại về khẩu phần lớn”, còn Solzhenitsyn viết rằng “khẩu phần lớn là thứ giết người. Trong mùa kéo gỗ, kẻ nào hăm hở nhất sẽ tự làm gãy chân mình trước tiên”.[876]

Tuy nhiên, phần đông những người viết hồi ký (được chứng thực ở một mức độ nào đó bởi số liệu lưu trữ) thực sự có nói về việc trốn làm. Nhưng động cơ cơ bản của họ không phải luôn luôn là do lười biếng, hay thậm chí là mong muốn “tỏ ra coi khinh” hệ thống Xôviết: động cơ cơ bản của họ là để sống sót. Bị phát cho quần áo tồi tàn và thực phẩm ít ỏi, bị ra lệnh phải làm việc trong thời tiết vô cùng khắc nghiệt với máy móc hư hỏng, nhiều người nhận ra rằng trốn việc có thể giúp họ giữ được mạng sống.

Hồi ký không xuất bản của Zinaida Usova, một trong những bà vợ bị bắt năm 1938, đã minh họa rõ nét việc tù đi đến kết luận nêu trên như thế nào. Ban đầu Usova được đưa tới Temlag, một trại chứa hầu hết là phụ nữ như bà, tức là vợ của các Đảng viên hàng đầu và các nhân vật trong trọng của quân đội đã bị xử bắn. Với một ông trùm trại khá dễ tính và kế hoạch lao động hợp lý, mọi người trong Temlag đều làm việc nhiệt tình. Phần lớn bọn họ vẫn là “những công dân Xôviết trung thành”, không chỉ tin rằng việc họ bị bắt phần nào là do một sai lầm khổng lồ, mà còn tin rằng bằng việc lao động hăng hái họ sẽ được tha sớm. Bản thân Usova “đi ngủ và thức dậy chỉ với những suy tính về công việc, nghĩ ngợi về các thiết kế của mình. Một trong số đó thậm chí đã được áp dụng vào sản xuất”.

Tuy nhiên, về sau Usova và một nhóm các bà vợ khác bị chuyển đến trại khác, cũng chứa cả tù tội phạm. Tại đấy bà làm việc trong một nhà máy làm đồ gỗ. Trại mới của bà đặt chỉ tiêu sản lượng cao hơn và chặt chẽ hơn nhiều – rất nhiều tù nói về chuyện chỉ tiêu “bất hợp lý”. Hệ thống như vậy, Usova viết, “biến mọi người thành nô lệ và mang tâm lý của kẻ nô lệ”. Chỉ những ai hoàn thành toàn bộ chỉ tiêu mới được nhận đủ khẩu phần bánh mì 700 gram. Những ai không thể hoàn thành, hoặc những người hoàn toàn không thể làm việc, được nhận 300 gram, khó mà đủ để có thể sống nổi.

Để bù lại, tù ở trại của bà cố gắng tối đa để “đánh lừa đám trùm trại, né tránh công việc, sao cho phải làm càng ít càng tốt”. Với tinh thần tương đối nhiệt tình lao động, những tù mới đến từ Temlag thấy mình y như đám người cùng khổ. “Theo quan điểm của đám người cũ, chúng tôi là lũ ngốc, hoặc loại gì đó giống như những kẻ phá đám. Ngay lập tức bọn họ trở nên căm ghét chúng tôi”.[877] Tất nhiên, đám tù nữ đến từ Temlag mau chóng làm theo các kỹ thuật trốn việc đã được mọi người khác nắm vững. Do đó tự thân hệ thống đã tạo ra tufta, chứ không phải ngược lại.

Đôi khi, tù tự cũng nghĩ ra các phương pháp trốn việc tufta của riêng mình. Một tù nữ người Ba Lan làm việc tại một nhà máy chế biến cá ở Kolyma nơi người nào hoàn thành được chỉ tiêu cao không tưởng chỉ có thể là kẻ biết gian lận. Đám Stakhanovets chỉ là “bọn gian lận giỏi nhất”: thay vì đóng lọ tất cả cá trích, họ chỉ nhét vài mẩu vào lọ và vứt bỏ số còn lại, làm “khéo đến nỗi tay đốc công không bao giờ nhận ra được”.[878] Trong khi góp sức xây dựng nhà tắm của trại, Valery Frid được chỉ cho một mánh lới tương tự: che giấu các vết nứt trên tường công trình bằng cách nhét rêu vào thay vì trát kín bằng vữa xi măng. Ông chỉ tiếc duy nhất một điều về cái mưu sách tiết kiệm sức lực ấy: “Sẽ ra sao nếu có một ngày tôi tới tắm trong cái nhà tắm ấy? Xét cho cùng, chỗ rêu sẽ khô đi, và rồi gió lạnh sẽ thổi xuyên qua các khe hở”.[879]

Ginzburg cũng mô tả cách bà và Galya, người bạn đi xẻ gỗ chung xưa kia, cuối cùng đã xoay sở hoàn thành được chỉ tiêu đốn cây cao không tưởng. Để ý rằng một trong những người cùng làm luôn tìm cách đạt được chỉ tiêu, “mặc dù cô ấy chỉ làm một mình với cái cưa một tay cầm”, họ tới hỏi xem cô này làm cách nào:

Khi chúng tôi hỏi dấn tới, cô ấy lén lút nhìn quanh rồi giải thích:

“Khu rừng này đầy những đống gỗ do các đội lao động trước đốn rồi. Không ai chịu đếm thử xem ở đây có bao nhiêu súc”.

“Ừ, nhưng ai cũng thấy là chúng không phải gỗ mới cắt…”

“Lý do duy nhất khiến cậu thấy được là do chỗ vết cắt màu sậm lại. Nếu cậu cưa bỏ một khúc ngắn ở mỗi đầu thì nó sẽ trông như vừa mới cắt. Sau đó cậu xếp nó ra chỗ khác, thế là nó thành “chỉ tiêu” của cậu”.

Mánh lới này, mà chúng tôi đặt tên là “làm tươi món xăng-uých”, đã cứu mạng chúng tôi trong thời gian này… Tôi cần nói thêm rằng chúng tôi không hề cảm thấy chút ân hận nào…[880]

Thomas Sgovio cũng trải qua một thời gian trong một đội đốn gỗ ở Kolyma, nơi đơn giản là chẳng làm chuyện gì:

Trong nửa đầu tháng Giêng, bạn cùng làm Levin và tôi không đốn một cây gỗ nào. Mọi người khác trong đội xẻ gỗ cũng vậy. Có rất nhiều khúc gỗ trong rừng. Chúng tôi chọn lấy một hoặc hai khúc, chùi sạch tuyết rồi ngồi xuống bên đống lửa. Thậm chí cũng chẳng cần phải chùi sạch tuyết, bởi chưa lần nào trong suốt tháng đầu tiên có đội trưởng, đốc công hay bất cứ tay giám sát nào buồn tới kiểm tra sản lượng của chúng tôi.[881]

Những người khác sử dụng các mối quan hệ và giao tiếp để tìm cách đối phó với phần công việc quá đáng được phân công. Một tù ở Kargopollag đã trả công cho một tù khác – dưới hình thức một khúc phó mát – để dạy anh ta cách đốn cây cho hiệu quả hơn, nhờ thế anh ta có thể hoàn thành được chỉ tiêu, thậm chí còn được nghỉ xả hơi vào buổi chiều.[882] Một tù khác được giao đãi vàng ở Kolyma đã đút lót để được nhận công việc nhẹ nhàng hơn, chỉ phải đứng làm trên đống quặng thay vì đứng ngập chân trong nước.[883]

Phổ biến hơn là tufta được tổ chức ở cấp độ đội lao động, bởi các đội trưởng mới có thể che giấu chuyện có bao nhiêu tù thực sự làm việc. Một cựu zek đã kể lại việc đội trưởng của ông cho phép ông khai là đã hoàn thành 60 phần trăm định mức, trong khi thực tế ông chật vật mà làm chưa xong nổi một phần.[884] Còn một tù khác viết về việc đội trưởng của mình đã thương lượng với chính quyền trại để hạ bớt định mức cho đội của ông, do tất cả công nhân trong đội đang kiệt quệ dần mòn.[885] Nhiều đội trưởng khác lại nhận đút lót, như Yuri Zorin, bản thân ông cũng là một đội trưởng, đã công nhận: “Tại đấy, ở trong trại, có những luật lệ trại mà người sống bên ngoài không thể nào hiểu được”, ông đề cập một cách tế nhị.[886] Leonid Trus nhớ rằng các đội trưởng của ông ở Norilsk đơn giản là “quyết định ngay ai sẽ được nhận thức ăn và trả công khá hơn người khác”, không cần quan tâm xem anh ta đã thực sự làm được ra sao. Biết hối lộ và trung thành với băng nhóm là yếu tố quyết định ra “sản lượng” của một tù nhân.

Xét trên quan điểm của zek, người đội trưởng tốt nhất là người có khả năng tổ chức tufta với quy mô lớn. Làm việc tại mỏ đá vùng bắc Ural cuối thập niên 1940, Leonid Finkelstein có mặt trong một đội lao động với ông đội trưởng biết cách lập ra một hệ thống gian lận hết sức phức tạp. Mỗi sáng, toàn đội cùng đi xuống hẻm núi. Đám lính gác thường dừng lại ở rìa vách đá, tại đó họ ngồi quanh đống lửa sưởi cho đến hết ngày. Ivan, tên của người đội trưởng, sau đó sẽ bắt tay vào tổ chức tufta:

Chúng tôi biết đích xác khu vực nào của đáy hẻm núi có thể bị quan sát từ phía trên, và đó là mánh bịp của chúng tôi… ở vùng thấy được của đáy hẻm, chúng tôi ra sức đục hăng say vào vách đá. Chúng tôi cứ việc làm và gây ra tiếng ồn dữ dội – lính gác vừa nghe vừa thấy rõ là chúng tôi đang làm. Sau đó, Ivan sẽ đi dọc theo hàng người … rồi nói, “Một bước sang trái” – và mỗi người chúng tôi bước một bước sang trái. Lính gác không bao giờ để ý chuyện này.

Thế là chúng tôi cứ từ từ bước, một bước sang trái, một bước nữa, cho tới khi người cuối cùng bước vào khu vực không nhìn thấy được – chúng tôi biết nó rất rõ, bởi có một vạch phấn kẻ sẵn trên đất. Ngay khi lọt vào vùng không nhìn thấy, chúng tôi sẽ xả hơi, ngồi phệt xuống đất, cầm cái cuốc chim nện thẳng xuống mặt đất quanh đấy, với cách ít tốn sức nhất chỉ để tạo ra tiếng động. Sau đó một người khác nện tiếp, rồi tới phiên người kế tiếp. Rồi Ivan nói – “Cậu, sang bên phải!” – và người này sẽ bước và vòng tuần tự cứ thế tiếp diễn. Không ai trong chúng tôi phải thực sự làm quá nửa ca.[887]

Finkelstein được nhiều tù kể cho những kỹ thuật họ đã dùng ở nơi khác khi xây dựng kênh đào. Ở đấy, tufta có khác biệt, nhưng không kém phần phức tạp: “Điều cốt yếu là phải tỏ ra nhóm đã hoàn thành được định mức”. Tù được yêu cầu phải đào, nhưng để lại “một cọc nhỏ, một cái trụ, để cho thấy cao độ ta bắt đầu đào trong ca làm việc và chiều sâu ta đào được”. Mặc dù định mức hết sức cao, “Có những nghệ sĩ, nghệ sĩ thực thụ, biết cách kéo dài chiều cao cái trụ này ra. Khó có thể tin nổi, bởi nó được xắn ra từ đất sao cho có thể nhìn thấy lập tức nếu có ai đó muốn làm giả, nhưng nó vẫn bị làm giả với cách thức mang tính nghệ thuật cao nhất. Sau đó, tất nhiên là toàn đội sẽ được chén bữa tối theo tiêu chuẩn công nhân Stakhanovets”.[888]

Không phải lúc nào cũng cần thiết đến những năng khiếu kiểu ấy. Có thời gian, Leonid Trus bị phân công bốc dỡ hàng hóa trên toa tàu: “Chúng tôi đơn giản là ghi rằng chúng tôi đã khuân được hàng hóa đi xa hơn thực tế, viết thành 300 mét thay vì chỉ có 10 mét”. Nhờ thế, họ được phát khẩu phần nhiều hơn. “Tufta không ngớt”, ông nói về Norilsk, “ở đấy không làm thế thì chẳng có gì mà ăn”. Tufta cũng được tổ chức ở cấp cao hơn trong bộ máy của ban quản lý, thông qua các thương lượng cẩn trọng giữa đội trưởng và người lập định mức, một viên chức trong trại có trách nhiệm xác định một đội lao động có hoặc không có thể làm được khối lượng bao nhiêu trong một ngày. Người lập định mức, giống như các đội trưởng, hay có khuynh hướng thiên vị và nhận hối lộ – và cũng rất tùy hứng. Ở Kolyma vào cuối thập niên 1930, bản thân Olga Adamova-Sliozberg được thăng làm đội trưởng, chỉ huy một đội nữ đào hào bao gồm chủ yếu là tù chính trị, tất cả đều đã xuống sức sau thời gian dài ngồi tù. Sau ba ngày làm việc, khi họ chỉ hoàn thành được có 3 phần trăm định mức, bà đi đến gặp người lập định mức và xin được giảm xuống mức dễ thở hơn. Khi nghe thấy đội yếu này hầu hết gồm toàn cựu Đảng viên, khuôn mặt anh ta sa sầm lại.

“À vâng, họ là cựu Đảng viên phải không? Bây giờ nếu các cô mà là gái điếm, tôi sẽ rất vui lòng cho các cô đi lau cửa sổ với định mức thấp hơn ba lần. Năm 1929 khi đám Đảng viên ấy quyết định trừng phạt tôi vì là kulak, ném tôi cùng với sáu đứa con ra khỏi nhà, tôi đã nói với họ, “Lũ trẻ có tội tình gì?” và họ bảo tôi, “Luật Xôviết quy định như vậy”. Thế thì các cô cứ đi mà bám lấy cái luật Xôviết ấy và đào chín mét khối đất bùn một ngày cho tôi”.[889]

Người lập định mức cũng rất ý thức về nhu cầu bảo toàn lực lượng lao động ở những thời điểm cụ thể – lấy ví dụ, nếu trại bị chỉ trích vì có tỷ lệ tử vong cao, hay khi trại thuộc một trong những trại vùng viễn bắc chỉ có thể nhận lao động bổ sung một lần mỗi mùa. Trong các hoàn cảnh như vậy, trong thực tế họ có thể hạ thấp định mức, hay bịt mắt mỗi khi chỉ tiêu không được hoàn thành. Thực tế này được gọi trong trại là “kéo dãn định mức”, nhưng nói việc này phổ biến thì cũng không đúng sự thật.[890] Một tù làm việc trong một khu mỏ vốn yêu cầu tù phải đào 5,5 tấn than mỗi ngày, một nhiệm vụ không thể thực hiện nổi. Một cách hợp lý, mỗi ngày viên kỹ sư trưởng của mỏ – là lao động tự do – hỏi xung quanh để biết được xem có bao nhiêu tù phải hoàn thành định mức, và đơn giản là bàn với người lập định mức của mình để quyết định về việc có bao nhiêu khối lượng đã thực sự được thực hiện dựa trên cơ sở ấy, sau đó xoay vòng sự biệt đãi của công nhân xung kích cho tất cả các tù nhân sao cho tất cả bọn họ không ít thì nhiều đều được nhận lượng thực phẩm tương đương nhau.[891]

Hối lộ cũng len lỏi ở phần ngọn của cơ cấu trại, đôi khi thông qua cả một chuỗi xích nhân vật. Aleksandr Klein có mặt trong một trại vào cuối thập niên 1940, tại thời kỳ có những khoản tiền công nho nhỏ được phát cho zek để khuyến khích họ làm việc hăng hái hơn:

Khi vừa nhận món tiền mình kiếm được (cũng không nhiều) tù liền đem hối lộ đội trưởng. Đó là chuyện bắt buộc: đội trưởng sau đó sẽ phải đút cho đám đốc công và người lập định mức, những kẻ quyết định đội đã hoàn thành được định mức đến đâu… bên cạnh đó, đốc công và các đội trưởng phải đút lót cho tay naryadchik, người phân công lao động. Các đầu bếp cũng phải đút cho bếp trưởng, còn nhân viên nhà tắm phải đút cho viên quản lý nhà tắm.

Xét trung bình, Klein viết, ông phải đưa phân nửa “tiền công” của mình. Kết cục của những kẻ không chịu làm thế sẽ rất thảm khốc. Những tù không trả được tiền hối lộ sẽ tự động bị hạ tỷ lệ sản lượng xuống dưới định mức, và do đó phải nhận ít thức ăn hơn. Các đội trưởng không chịu đưa hối lộ cũng phải chịu kết quả tồi tệ. Có người, Klein viết, bị giết chết ngay trên giường mình. Đầu anh ta bị đập vỡ bằng một tảng đá – những ai ngủ cạnh đó thậm chí còn không thèm thức dậy.[892]

Tufta cũng ảnh hưởng tới việc lập thống kê ở mọi cấp độ trong đời sống trại. Các chỉ huy trại và kế toán trại thường xuyên thay đổi những con số để làm lợi cho mình, căn cứ theo hàng tá báo cáo về ăn cắp và tham nhũng lưu trong hồ sơ của thanh tra. Bất cứ ai thậm chí chỉ có liên hệ xa với trại cũng ăn cắp thực phẩm, tiền bạc hay bất cứ thứ gì có thể ăn cắp được: năm 1942, chị của một xếp cũ phụ trách ban đường sắt của tổ hợp trại ở Dzhezkazgan, Kazakhstan, bị tố cáo đã “lấy đi bất hợp pháp một số thực phẩm” và liên quan tới tội đầu cơ. Ở một lagpunkt năm 1941, chỉ huy trại và kế toán trưởng đã “lợi dụng địa vị chuyên gia của mình” để lập sổ ngân hàng giả mạo, cho phép họ đút túi số tiền của trại. Tay chỉ huy ăp cắp được 25.000 rúp, viên kế toán 18.000, một số tiền lớn trong thời kỳ Xôviết. Nhưng các khoản tiền không phải lúc nào cũng lớn: một tập hồ sơ dày ở Siblag, chứa các báo cáo của công tố viên từ năm 1942 tới 1944, ngoài những thứ khác còn bao gồm cả một chồng dày các bức thư phản ánh cuộc bàn luận cay đắng về trường hợp một nhân viên trại bị cho là đã ăn cắp hai cái bát sắt, một ấm trà sứ tráng men, một chiếc chăn, một tấm đệm giường, hai tấm trải giường, hai cái gối và hai vỏ gối.[893]

Từ chuyện ăn cắp đi tới việc dối trá về số liệu thống kê sản lượng không xa xôi gì cho lắm. Nếu tufta bắt đầu ở cấp độ đội lao động và được khuấy trộn chế biến trên cấp độ lagpunkt, cho tới khi bộ phận kế toán tại những tổ hợp trại lớn hơn bắt tay vào tính toán thống kê tổng sản lượng, các con số đã khác xa với thực tế – và sẽ, như chúng ta sẽ xem, dẫn tới các ý tưởng sai lầm về sản lượng thực tế của trại, vốn nhìn chung có lẽ là hết sức thấp.

Trong thực tế, ta hầu như không thể biết cái gì đã tạo ra những số liệu về sản lượng của Gulag, căn cứ theo mức độ dối trá và lừa gạt đã diễn ra. Vì lý do đó, tác giả luôn rất bối rối trước các báo cáo thường niên đầy chi tiết và hết sức kỹ lưỡng của Gulag, giống như bản được lập vào tháng 3/1940 chẳng hạn. Dày hơn 124 trang, tài liệu đầy ấn tượng này mô tả các con số sản lượng của hàng chục trại, cẩn thận liệt kê từng nơi theo đặc điểm của nó: các trại lâm nghiệp, trại công nghiệp, trại khai mỏ, trại nông trường. Bản báo cáo đi kèm những biểu đồ và tính toán bao quát, cùng nhiều loại số liệu khác nhau. Trong phần kết luận, tác giả của báo cáo tin tưởng tuyên bố rằng tổng giá trị sản phẩm của Gulag trong năm 1940 là 2.659,5 triệu rúp – một con số mà trong hoàn cảnh này cần được xem là hoàn toàn vô nghĩa.

 

Pridurki

Cộng tác và Hợp tác

 

Tufta không chỉ là cách duy nhất mà tù dùng để làm cầu nối giữa định mức cao ngất ngưởng mà họ phải đảm nhiệm với khẩu phần quá ít ỏi mà họ được cung cấp. Đó cũng không phải là công cụ duy nhất mà chính quyền trại dùng để đạt được các mục tiêu sản lượng không tưởng của mình. Có những cách khác để thuyết phục tù hợp tác, như Isaak Filshtinsky đã mô tả rất sinh động và đáng nhớ trong chương đầu của bộ hồi ký của mình, cuốn My shagaem pod konvoyem (“Chúng tôi đi đều bước theo chân lính áp tải”).

Filshtinsky bắt đầu câu chuyện của mình từ một trong những ngày đầu tiên của ông ở Kargopollag, trại đẵn gỗ và xây dựng nằm ở phía bắc của Arkhangelsk. Khi vừa tới đây, ông gặp một người mới đến khác, một phụ nữ trẻ. Cô thuộc một nhóm tù nữ bị tạm thời phân vào trong đội lao động của ông. Để ý đến “bề ngoài rụt rè, sợ sệt” và mớ quần áo trại rách rưới của cô, ông tới gần chỗ cô đang đứng xếp hàng. Vâng, cô trả lời câu hỏi của ông, “tôi tới đây ngày hôm qua trên đoàn tàu vận chuyển từ nhà tù”. Họ bắt đầu nói chuyện với nhau. Ở cô có cái điều mà Filshtinsky mô tả là “trong thời đại này, đó là một lý lịch cá nhân khá bình thường”. Cô là một họa sĩ, hai sáu tuổi. Cô đã lập gia đình, có con trai ba tuổi. Cô bị bắt vì đã “nói gì đó với một người bạn họa sĩ, và người này đi báo cáo về cô”. Do cha cô cũng bị bắt năm 1937, cô mau chóng bị kết tội xúi giục tuyên truyền chống Xôviết.

Trong khi trò chuyện, người phụ nữ, vẫn nhìn quanh với ánh mắt sợ hãi, đưa tay nắm lấy tay Filshtinsky. Những tiếp xúc như vậy vốn bị cấm, nhưng may thay lính gác đã không nhìn thấy. Khi họ tới công trường, đàn ông và phụ nữ bị tách ra, nhưng trên đường về nhà cô họa sĩ trẻ đã tìm lại được Filshtinsky. Trong suốt một tuần rưỡi sau đó, họ cùng nhau đi đi về về khu rừng, và cô kể cho ông về nỗi nhớ nhà, về người chồng đã từ bỏ cô, về đứa con mà cô có thể sẽ không bao giờ gặp lại. Sau đó đội của cô gái bị tách hẳn khỏi đội của ông, và Filshtinsky mất dấu người bạn mình.

Ba năm trôi qua. Đó là một ngày nóng nực – rất hiếm hoi ở miền viễn bắc – khi Filshtinsky bắt gặp lại người phụ nữ. Lần này cô mặc một “chiếc áo khoác mới, vừa khít với kích cỡ thân hình cô”. Thay vì chiếc mũ lưỡi trai rách nát tù thường dùng, cô đội một cái mũ nồi. Thay cho đôi ủng mòn vẹt của tù là một đôi giày. Khuôn mặt cô đầy đặn hơn, ánh mắt cô sỗ sàng hơn. Khi mở miệng, cô nói bằng thứ tiếng lóng thô tục nhất, giọng cô nói “chứng tỏ cô đã có liên hệ khá lâu và chặt chẽ với thế giới tội phạm trong trại”. Bắt gặp cái nhìn của Filshtinsky, một nét khiếp sợ lóe lên trên trên mặt cô. Cô quay lưng và bỏ đi, “gần như đang chạy”.

Đến khi Filshtinsky gặp lại cô lần thứ ba và là lần cuối cùng, người phụ nữ đã ăn mặc theo kiểu mà ông đánh giá là “thời trang mới nhất chốn thành thị”. Cô ngồi sau chiếc bàn làm việc cấp lãnh đạo và không còn là tù nữa rồi. Giờ đây cô cũng đã lấy thiếu tá L., một quản lý trại nổi tiếng vì tính tàn bạo. Cô gọi tên Filshtinsky rất xẵng, không còn thấy bối rối khi phải nói với ông. Sự chuyển biến nay đã hoàn tất: cô đã đổi từ tù thành kẻ hợp tác, và rồi từ kẻ hợp tác lên lãnh đạo trại. Cô bắt chước theo trước tiên là ngôn ngữ của thế giới tội phạm, thứ đến là lối ăn mặc và thói quen của nó. Thông qua con đường này, cuối cùng cô đã đạt được địa vị ưu đãi của chính quyền trại. Filshtinsky cảm thấy rằng ông “không còn gì để nói thêm với cô” – mặc dù, khi rời khỏi phòng, ông quay lại nhìn cô lần nữa. Ánh mắt họ gặp nhau trong một thoáng, và ông cho rằng mình nhận thấy ở cô một nét “buồn vô hạn” với ngân ngấn nước mắt.[894]

Số phận người quen của Filshtinsky là điều mà những độc giả đọc nhiều về các hệ thống trại khác sẽ dễ dàng nhận ra. Khi mô tả về hệ thống trại Quốc xã, nhà xã hội học người Đức Wolfgang Sofsky đã viết rằng “quyền lực tuyệt đối chính là cấu trúc của hệ thống, chứ không phải là sự sở hữu”. Với nhận xét này, ông muốn nói rằng quyền lực trong các trại tập trung của Đức không phải là vấn đề đơn giản là chuyện một người làm chủ mạng sống của những kẻ khác. Thay vào đó, “bằng cách cho phép một số ít các nạn nhân trở thành kẻ tòng phạm, chính quyền trại đã làm nhòa ranh giới giữa cơ cấu nhân viên trại với đám tù nhân”.[895]

Mặc dù tính tàn bạo ngự trị tại Gulag có khác biệt, về khía cạnh tổ chức và sự ảnh hưởng, các trại của Quốc xã và Xôviết là gần giống nhau: chế độ Xôviết cũng sử dụng tù nhân giống như vậy, cám dỗ một số người hợp tác với hệ thống đàn áp, nâng họ lên trên những người khác, và ban cho họ các ưu đãi cho phép họ, đến lượt mình, giúp chính quyền sử dụng quyền lực của họ. Không phải tình cờ mà Filshtinsky đã tập trung, trong câu chuyện của mình, nhấn mạnh vào các quần áo luôn luôn được cải thiện của người phụ nữ ông quen: trong trại, nơi mọi thứ đều thiếu thốn thường xuyên, những cải thiện nho nhỏ trong trang phục, thực phẩm hay điều kiện sinh hoạt là đã quá đủ để thuyết phục tù nhân cộng tác và phấn đấu để thăng tiến. Những tù đạt được điều này sẽ trở thành đám pridurki, tức “người được tin cậy”. Và ngay khi họ đạt được địa vị này, cuộc sống của họ trong trại sẽ được cải thiện theo vô số hướng li ti.

Solzhenitsyn, người hết lần này đến lần khác quay về với chủ đề người được tin cậy, đã mô tả sự ám ảnh của họ đối với những ưu đãi và đặc ân nho nhỏ trong cuốn Quần đảo Gulag:

Bởi loài người luôn gắn chặt một cách nhỏ nhen theo thói quen với hệ thống đẳng cấp, đám pridurki rất mau chóng sẽ cảm thấy khó chịu vì phải ngủ cùng lán với những kẻ đầu tắt mặt tối bình thường, khó chịu vì phải ngủ cùng tầng, hay thậm chí, đối với vấn đề này, khó chịu vì phải ngủ trên giường có tầng hay trên bất cứ chỗ nào ngoại trừ trên một cái giường, hay vì phải ăn cùng mâm, phải cởi quần áo trong cùng chỗ nhà tắm, hay phải mặc cùng thứ đồ lót mà lũ đầu tắt mặt tối kia đã đổ mồ hôi lên mà bản thân chúng cũng đã từng phải mặc…

Mặc dù hiểu rằng “tất cả các giai tầng trên thế giới này đều không có ranh giới rõ rệt”, Solzhenitsyn vẫn cố gắng tối đa để mô tả hệ thống thứ bậc của đám pridurki. Ông giải thích, ở nấc thang thấp nhất là đám “lao động được tin cậy”: các tù là kỹ sư, nhà thiết kế, thợ cơ khí và nhà địa chất. Xếp ngay trên họ là tù làm đốc công, người lập kế hoạch, người lập định mức, nhà quản lý, kỹ thuật viên. Cả hai nhóm này đều phải xếp hàng và điểm danh mỗi sáng, phải xếp hàng đi làm có lính áp tải. Mặt khác, họ không phải làm việc chân tay và do đó không phải “hoàn toàn kiệt sức” vào cuối mỗi ngày; điều này khiến họ có ưu tiên hơn so với những tù làm lao động phổ thông.

“Người được tin cậy kép” còn được ưu tiên hơn nữa. Đó là những tù không bao giờ phải rời zona vào ban ngày. Theo lời Solzhenitsyn,

Một người làm trong xưởng máy của trại sống dễ dàng và đầy đủ hơn nhiều đám đầu tắt mặt tối làm lao động phổ thông: anh ta không phải ra xếp hàng, nghĩa là anh ta có thể thức dậy và ăn sáng muộn hơn nhiều; anh ta không phải đi bộ với lính áp tải để tới công trường và quay về nhà; ở đấy ít khắc nghiệt hơn, đỡ lạnh hơn, đỡ tốn sức hơn; ngày làm việc của anh ta cũng kết thúc sớm hơn; anh ta hoặc là được làm ở nơi ấm áp hoặc là luôn có sẵn chỗ để ra đó sưởi cho ấm… Nghề “Thợ may” trong trại nghe và mang ý nghĩa tựa như chức “Trợ lý giáo sư” ở thế giới tự do.[896]

Nhóm thấp nhất trong hệ thống thứ bậc của tầng lớp người được tin cậy kép thực tế có phải làm việc chân tay: người phục vụ nhà tắm, người giặt quần áo, thợ đốt lò và phụ việc, cũng như những người làm việc trong xưởng máy của trại, sửa chữa quần áo, giày ủng và máy móc. Xếp trên đám người làm việc trong nhà đó là những người được tin cậy kép “chân chính”, những kẻ hoàn toàn không phải làm việc chân tay: đầu bếp, người chia bánh mì, thư ký, bác sĩ, y tá, trợ lý y tế, thợ cắt tóc, phục vụ cao cấp, người phân công lao động, kế toán. Tại một vài trại, thậm chí còn có tù được phân công làm người nếm thức ăn chính thức.[897] Nhóm sau cùng này, như Solzhenitsyn viết, “không chỉ được ăn ngon, mặc sạch, được miễn không phải mang vác còng lưng mà còn có quyền lực to lớn đối với những món thiếu yếu của một con người, và do đó nắm quyền lực đối với mọi người”.[898] Đó là những người được tin cậy có quyền quyết định loại công việc nào mà một tù thường phải làm, bao nhiêu thức ăn họ sẽ được nhận, và họ có được chăm sóc y tế hay là không – tóm lại, họ sẽ được sống hay phải chết.

Không như đám tù được ưu tiên ở trại Quốc xã, những người được tin cậy trong trại Xôviết không phải bắt buộc thuộc một nhóm dân tộc đặc biệt nào. Về lý thuyết, bất cứ ai cũng có thể vươn lên vị trí người được tin cậy – giống như ai cũng có thể trở thành lính gác tù – và có một sự dịch chuyển lên xuống rất lớn giữa hai nhóm. Mặc dù về lý thuyết tù thường có thể trở thành người được tin cậy, và về lý thuyết người được tin cậy có thể bị hạ cấp xuống thành tù thường, có những quy định rất phức tạp chi phối quá trình này.

Những quy định như vậy khác biệt rất lớn giữa trại này với trại khác và giữa thời kỳ này với thời kỳ khác, mặc dù dường như có một số thỏa thuận ngầm diễn ra không ít thì nhiều theo thời gian. Quan trọng hơn, sẽ dễ lên thành người được tin cậy hơn nếu tù được phân loại là tù tội phạm “gần gũi với xã hội” chứ không phải tù chính trị “nguy hiểm cho xã hội”. Bởi thứ tôn ti trật tự đạo đức bị bẻ quẹo của hệ thống trại Xôviết đã xác định rằng thành phần “gần gũi với xã hội” – không chỉ là bọn tội phạm chuyên nghiệp, mà cả đám trộm cắp, lừa đảo, giết người và hiếp dâm thông thường – có khả năng hoán cải thành một công dân Xôviết chân chính nhiều hơn, chúng đương nhiên có tiềm năng được nhận địa vị tin cậy nhiều hơn. Và có thể cảm thấy rõ là bọn trộm, vốn không ngần ngại tỏ ra tàn bạo, là những kẻ đáng tin cậy lý tưởng. “Ở bất cứ đâu và tại bất cứ lúc nào”, một tù chính trị cay đắng viết, “bọn tù ấy gần như đều được hưởng sự tin cậy vô giới hạn của ban quản lý nhà tù và trại, và được giao cho những công việc nhẹ nhàng như làm việc trong văn phòng, nhà kho tù, nhà ăn, nhà tắm, cửa hàng cắt tóc và v.v.”.[899] Như tác giả đã viết, điều này đặc biệt đúng vào cuối thập niên 1930 và trong thời gian chiến tranh, những năm tháng mà các nhóm tội phạm nắm quyền thống trị trong hệ thống trại Xôviết. Thậm chí cả sau đấy – như Filshtinsky đã viết về giai đoạn cuối thập niên 1940 – vẫn khó mà phân biệt nổi giữa “văn hóa” của đám người được tin cậy với thứ văn hóa của bọn tội phạm chuyên nghiệp.

Nhưng bọn tội phạm được tin cậy cũng đem tới một vấn đề rắc rối cho chính quyền trại. Chúng không phải là “kẻ thù” – nhưng chúng cũng không có văn hóa. Trong nhiều trường hợp chúng thậm chí còn mù chữ và cũng không muốn học hành: thậm chí khi trại lập ra các lớp xóa mù chữ, bọn tội phạm thường cũng không thèm tham gia.[900] Chuyện này khiến đám trùm trại không có chọn lựa, như Lev Razgon viết, ngoại trừ việc sử dụng tù chính trị: “Bản thân kế hoạch sản xuất mang trong nó một áp lực không khoan nhượng và đầy kiên quyết. Dưới ảnh hưởng này thậm chí các trùm trại hăng hái tỏ ra căm thù sâu sắc bọn tù phản cách mạng nhất cũng buộc phải đưa tù chính trị vào làm việc”.[901]

Trong thực tế, sau năm 1939, khi Beria lên thay Yezhov – và đồng thời bắt đầu cố gắng làm cho Gulag sinh lợi – các quy định không bao giờ nghiêng hẳn về hướng nào. Hướng dẫn của Beria tháng 8 năm 1939, trong khi tuyệt đối cấm các chỉ huy trại sử dụng tù chính trị trong bất cứ loại công tác quản lý nào, tuy vậy trong thực tế lại có những ngoại lệ. Các bác sĩ đủ điều kiện vẫn được sử dụng theo khả năng chuyên môn của họ và, trong các hoàn cảnh đặc biệt, kể cả những tù chịu án dưới một số tội “nhẹ hơn” của Điều 58 – các khoản 7, 10, 12 và 14, vốn bao gồm tội “kích động chống Xôviết” (ví dụ như kể chuyện tiếu lâm đả kích chế độ) và tội “tuyên truyền chống Xôviết”. Mặt khác, những người bị kết án “khủng bố” hay “phản bội tổ quốc” về lý thuyết không được sử dụng vào bất cứ việc gì ngoại trừ lao động nặng.[902] Khi chiến tranh nổ ra, thậm chí mệnh lệnh này đã bị đảo ngược. Stalin và Molotov gửi đi một thông tư đặc biệt cho phép Dalstroi, “trong các tình huống đặc biệt”, có thể “ký những thỏa thuận riêng lẻ trong từng khoảng thời gian riêng biệt với những kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân viên quản lý đã bị gửi tới làm việc ở Kolyma”.[903]

Tuy nhiên quan chức quản lý những trại nào đã có quá nhiều tù chính trị giữ các công việc bậc cao vẫn có thể bị phê bình, và một mức độ mâu thuẫn nhất định vẫn còn tồn tại. Theo nhận xét của cả Solzhenitsyn lẫn Razgon, vì thế đôi khi có chuyện tù chính trị được giao cho các công việc “tốt” làm trong nhà như kế toán hay thủ thư – nhưng chỉ là tạm thời. Một lần mỗi năm, khi những đoàn thanh tra từ Moscow chuẩn bị tới, họ lại bị đổi việc. Razgon đưa ra một lý thuyết cho thủ tục này:

Một ông trùm trại tốt sẽ chờ đến lúc ủy ban tới, kệ cho ủy ban làm việc của mình, rồi chuyển đi bất cứ ai buộc phải bị chuyển. Đó không phải là chuyện mất nhiều thời gian và bất cứ ai không bị chuyển sẽ được ở lại một thời gian dài – trong một năm, cho tới tháng Mười Hai kế tiếp, hay ít nhất là nửa năm. Một trùm trại kém năng lực hơn, một kẻ ngốc nghếch hơn, sẽ chuyển những người ấy ngay từ đầu để có thể báo cáo rằng mọi thứ đều ổn. Gã trùm trại ngu xuẩn nhất, kẻ thiếu kinh nghiệm nhất, sẽ tận tình thực hiện của cấp trên và không cho phép những ai chịu án theo Điều 58 được làm việc bằng bất cứ thứ dụng cụ gì ngoại trừ cuốc chim và xe cút kít, cưa và rìu. Những ông trùm trại như vậy là những kẻ ít thành công nhất. Các trùm trại như vậy sẽ mau chóng bị đuổi việc.[904]

Trong thực tế, các quy định thường đơn giản là vô ý nghĩa. Là một tù chính trị ở Kargopollag, Filshtinsky bị nghiêm cấm tham gia khóa học cho tù về kỹ thuật lâm nghiệp. Tuy nhiên, ông được cho phép đọc sách của khóa học, và khi ông thi đậu nhờ tự học, ông vẫn được nhận công việc làm một chuyên gia lâm nghiệp.[905] Trong khi đó, V. K. Yasny, cũng là tù chính trị cuối thập niên 1940, đã làm kỹ sư tại Vorkuta mà không gặp bất cứ phản đối nào.[906] Trong những năm thời kỳ hậu chiến, do các nhóm dân tộc mạnh lên bắt đầu gây ảnh hưởng trong trại, sự thống trị của bọn tội phạm thường xuyên bị hất đổ bởi các nhóm tù được tổ chức tốt hơn đó, chủ yếu là người Ukraina và Baltic. Những người nắm các công việc tốt hơn – đốc công và giám sát – có thể và đã thực sự chăm lo bản thân, đồng thời phân phối các vị trí béo bở khác cho những tù chính trị tình cờ là đồng hương với mình.

Tuy nhiên, không có thời điểm nào tù được toàn quyền phân phát các công việc tin cậy. Ban quản lý trại có quyền quyết định cuối cùng để cho phép ai sẽ được tin cậy, và hầu hết các chỉ huy trại có khuynh hướng phân những công việc tin cậy dễ chịu hơn cho những ai sẵn sàng cộng tác công khai hơn – nói cách khác là chịu làm chỉ điểm. Than ôi, thật khó để nói chính xác có bao nhiêu chỉ điểm viên đã được hệ thống tuyển dụng. Mặc dù văn khố Quốc gia Nga đã công khai phần lưu trữ của Ban quản lý Gulag, họ vẫn đóng chặt các tài liệu về “Vụ 3”, vụ chịu trách nhiệm về các chỉ điểm viên của hệ thống trại. Sử gia người Nga Viktor Berdinskikh, trong cuốn sách của ông về Vyatlag, đã trích ra một số số liệu mà không nêu rõ nguồn: “Trong những năm 1920, lãnh đạo của OGPU tự đưa ra cho mình nhiệm vụ phải có không dưới 25 phần trăm là chỉ điểm viên trong tổng số tù trại. Trong thập niên 1930 và 1940, con số trù định này được giảm xuống còn 10 phần trăm”. Nhưng Berdinskikh cũng đồng ý rằng việc ước lượng con số thật là “quá phức tạp” khi không thể tiếp cận gần hơn với hồ sơ lưu trữ.[907]

Cũng không có nhiều hồi ký công khai thừa nhận họ từng là chỉ điểm viên, mặc dù một số nhận là họ có được tuyển dụng. Hiển nhiên, tù từng làm chỉ điểm viên trong nhà tù (hay thậm chí cả trước khi họ bị bắt) sẽ vào trại với một lưu ý về sự sẵn sàng cộng tác của họ kẹp sẵn trong hồ sơ. Dường như những người khác đã được tiếp cận sau khi họ tới trại, trong lúc họ vẫn còn cực kỳ bối rối và sợ hãi. Vào ngày thứ hai của mình ở trại, Leonid Trus được đưa tới gặp trưởng ban nội vụ – trong tiếng lóng trại gọi là kum, người tuyển dụng chỉ điểm viên – và được đề nghị cộng tác. Không thực sự hiểu rõ mình đang được đề nghị chuyện gì, ông đã từ chối. Ông cho rằng đó là lý do tại sao mình bị phân công làm việc chân tay vất vả ngay từ đầu, một công việc bậc thấp theo tiêu chuẩn của trại. Berdinskikh cũng trích từ các phỏng vấn và trao đổi thư từ của mình với những cựu tù:

Ngay ngày đầu vào zona, những người mới đến đã được gọi lên gặp kum. Tôi cũng bị gọi lên gặp kum. Tâng bốc, trơn tuột, ngọt xớt, anh ta nói lập lờ rằng chuyện tai nạn xe hơi mà vì nó tôi bị kết án (mười năm trong trại, cộng thêm ba năm mất quyền công dân) không phải là đáng xấu hổ (đó không phải là trộm cắp, giết người hay thứ gì đó tương tự) và anh ta đề nghị tôi làm báo tin – tức tôi phải trở thành thằng mách lẻo. Tôi lịch sự từ chối và không chịu ký vào bản đề nghị của tay kum.

Mặc dù bị gã kum chửi, người tù này không bị tống vào khám phạt. Khi quay về lán, ông nhận thấy không người nào chịu lại gần mình: biết rằng ông đã được đề nghị làm chỉ điểm và thấy ông không bị đánh hay trừng phạt, các tù khác cho rằng ông đã đồng ý.[908]

Có lẽ ngoại lệ nổi tiếng nhất về sự từ chối gần như toàn bộ việc chấp nhận chỉ điểm một lần nữa lại là Aleksandr Solzhenitsyn, người đã mô tả rất dài chuyện chính quyền trại đã ve vãn ông như thế nào. Ông ghi nhận thời điểm vào lúc đầu mình đang còn yếu khi vừa tới trại, khi vẫn còn đang vật lộn để quen được với việc đột ngột mất hết địa vị xã hội. Khi được mời đến nói chuyện với trưởng ban nội vụ, ông bị dẫn vào “một căn phòng nhỏ, bài trí ấm cúng” với chiếc radio đang chơi nhạc cổ điển. Sau khi lịch sự hỏi xem ông có thấy thoải mái và quen với cuộc sống trong trại chưa, người trưởng ban hỏi ông, “Anh vẫn là một công dân Xôviết chứ?” Sau khi tằng hắng ấp úng, Solzhenitsyn đồng ý là mình vẫn.

Nhưng mặc dù việc thừa nhận là “người Xôviết” cũng gần tương đương với thừa nhận mong muốn cộng tác, Solzhenitsyn ban đầu từ chối việc cấp tin. Đó là lúc tay trưởng ban thay đổi chiến thuật. Anh ta tắt nhạc và bắt đầu nói với Solzhenitsyn về đám tội phạm trong trại, hỏi xem ông sẽ cảm thấy thế nào nếu vợ ông ở Moscow bị tấn công bởi một số kẻ trốn thoát được. Cuối cùng, Solzhenitsyn đồng ý rằng nếu có nghe thấy bất cứ kế hoạch chạy trốn nào của chúng, ông sẽ báo cáo lại. Ông ký vào một bản cam kết, hứa sẽ báo cáo tin tức về bất kỳ chuyện chạy trốn nào cho chính quyền trại, và chọn một mật danh bí hiểm: Vetrov. “Sáu chữ cái ấy”, ông viết, “được khắc sâu thành một vết rãnh hổ thẹn trong ký ức của tôi”.[909]

Theo ghi chép của mình, Solzhenitsyn thực tế không bao giờ báo cáo về bất cứ chuyện gì. Khi được tuyển dụng lần nữa năm 1956, ông nói ông từ chối ký bất cứ thứ gì. Tuy nhiên, lời hứa ban đầu của ông đã đủ để cho ông, khi ở trong trại, có được một trong những công việc được tin cậy, sống trong khu đặc biệt dành cho người được tin cậy, ăn mặc có đôi chút khá hơn những tù khác. Kinh nghiệm này “khiến tôi đầy xấu hổ”, ông viết – và chắc chắn gây ra thái độ khinh thị của ông với tất cả người được tin cậy khác.

Vào thời điểm được xuất bản, mô tả của Solzhenitsyn về đám người được tin cậy trong trại đã gây nhiều tranh cãi – và hiện cũng vậy. Giống như mô tả của ông về thói quen lao động của tù, nó cũng thổi bùng cuộc tranh luận liên tục trong những người sống sót qua trại và giới sử gia, điều mà ngày nay vẫn tiếp diễn. Thực ra tất cả những người viết hồi ký kinh điển và được đọc phổ biến nhất đều là người được tin cậy lúc này hay lúc khác: Evgeniya Ginzburg, Lev Razgon, Varlam Shalamov, Solzhenitsyn. Có lẽ cũng đúng, như một số người đã tuyên bố, rằng phần đông trong số tất cả những tù sống sót qua các án trại dài năm đều là người được tin cậy tại một thời điểm nào đó trải qua trong trại. Có lần tác giả gặp một người sống sót đã kể lại cho tác giả về cuộc hội ngộ các bạn tù trại cũ mà ông đã tham dự. Nhóm bạn nhớ lại và cùng phá ra cười trước các câu chuyện hồi xưa trong trại, rồi một người trong bọn họ nhìn quanh phòng và chợt nhận ra điều đã khiến họ gần lại với nhau, điều khiến họ có thể cười với quá khứ thay vì òa khóc: “Tất cả chúng tôi đều từng là pridurki”.

Không nghi ngờ gì rằng nhiều người sống sót bởi họ có thể kiếm được việc làm trong nhà dành cho người tin cậy, nhờ thế thoát khỏi nỗi khủng khiếp của lao động phổ thông. Nhưng điều đó rốt cuộc có luôn phải do tích cực hợp tác với chính quyền trại? Solzhenitsyn cảm thấy là có. Ông khẳng định, thậm chí những người được tin cậy không phải là chỉ điểm viên cũng vẫn có thể xem là người cộng tác. “Tin cậy kiểu gì”, ông hỏi, “nếu không phải là thực tế có dính đến việc nịnh hót xếp và tham gia vào hệ thống chung bắt buộc?”

Đôi khi việc hợp tác là gián tiếp, Solzhenitsyn giải thích, nhưng cũng gây hại không kém. Nhóm “lao động được tin cậy” – người lập định mức, thủ thư, kỹ sư – không thực sự hành hạ người khác, nhưng tất cả họ đều tham gia trong một hệ thống cưỡng bức tù phải làm đến chết. Cũng như vậy với nhóm “người được tin cậy kép”: những người đánh máy mệnh lệnh cho chỉ huy trại. Solzhenitsyn viết, mỗi người chia bánh mì vốn có thể lấy cắp thêm một ổ cho riêng mình đều có thể xem là đã tước đi của gã zek đang làm việc trong rừng trọn vẹn khẩu phần của gã: “Ai đã ăn xén phần bánh của Ivan Denisovich? Ai đã lấy bớt phần đường bằng cách thấm thêm nước vào? Ai đã để riêng mỡ, thịt và ngũ cốc ngon ra khỏi bếp tập thể?”[910]

Những người khác cũng cảm thấy như vậy. Một cựu zek viết rằng bà cố ý giữ cho bị phân công lao động phổ thông suốt chín năm trời để nhằm tránh khỏi bị nhiễm thói đút lót vốn rất cần thiết để nắm lấy một công việc được tin cậy.[911] Dmitri Panin (người mà, như tác giả đã viết, vốn quen Solzhenitsyn từ hồi trong trại và là nhân vật trong tiểu thuyết Vòng địa ngục đầu tiên của ông này) cũng thú nhận rằng ông vô cùng bối rối suốt hai tuần sau khi được nhận một công việc nhẹ nhàng ở nhà bếp trại: “Tệ hơn nữa là khi nhận ra rằng mình đang ăn cắp thực phẩm của các tù khác. Tôi cố gắng tìm kiếm thoải mái bằng suy nghĩ rằng, khi một người bị rơi vào hoàn cảnh giống như tôi, anh ta hẳn sẽ không còn để tâm tới những chuyện viển vông nữa; nhưng điều này không làm tôi nhẹ bớt cảm giác sai trái, và khi bị bọn họ tống khỏi nhà bếp, tôi đã thực sự cảm thấy vui mừng”.[912]

Cay đắng phản đối lại Solzhenitsyn – giống như nhiều người khác nữa đã và đang làm – là Lev Razgon, một nhà văn trong nước vào những năm 1990 gần như đã trở thành người có uy tín nhất về Gulag ở Nga. Khi ở trong trại, Razgon từng là một người lập định mức, một trong những công việc tin cậy hàng đầu. Razgon phản bác rằng đối với ông, và với nhiều người khác, chọn lựa để trở thành một người tin cậy đơn giản chỉ là vấn đề chọn lấy đường sống. Đặc biệt trong những năm chiến tranh, “không thể sống sót nếu ta phải làm việc đốn gỗ”. Chỉ có nông dân là tồn tại được: “những người biết cách mài sắc và sửa chữa dụng cụ, và những người được giao làm các công việc nhà nông quen thuộc mới có thể bù vào khẩu phần đói khát bằng khoai tây, củ cải hay bất kỳ thứ rau củ gì đánh thó được”.[913]

Razgon không tin rằng việc chọn đường sống là vô đạo đức, hay rằng những ai làm vậy là “không tốt gì hơn những kẻ đã bắt giam họ”. Ông cũng phản đối tấm chân dung người tin cậy dễ mua chuộc của Solzhenitsyn. Ngay khi họ có được công việc nhẹ nhàng hơn, nhiều người tin cậy đã thường xuyên giúp đỡ các tù khác:

Không phải rằng trại không quan tâm tới đám người phải ra khỏi trại đi đốn gỗ như Ivan Denisovich, hay rằng trại muốn ghẻ lạnh với những người này. Đơn giản là, họ không thể giúp những ai không biết cách làm bất cứ gì khác ngoài việc lao động chân tay. Và thậm chí trong nhóm người sau trại vẫn cố tìm ra những kẻ có các kỹ năng không ngờ nhất: ai biết cách đẽo vòng ách ngựa và đóng thùng gỗ được gửi đến nơi làm ván trượt tuyết; ai biết cách đan giỏ liễu được giao làm các bộ ghế bành, ghế tựa và tràng kỷ đan lát kiểu cách dành cho lãnh đạo.[914]

Cũng như việc trại luôn có lính gác tốt lẫn lính gác xấu, Razgon lập luận, luôn có người tin cậy tốt và người tin cậy xấu, có người hay giúp đỡ kẻ khác và có người hay tìm cách hại nhân. Rốt cục, số phận của họ cũng chẳng an toàn hơn những người xếp dưới họ trong hệ thống tôn ti trật tự. Nếu họ không phải làm việc cho tới chết thì họ cũng biết mình vẫn có thể sớm thành như vậy. Vào bất cứ lúc nào, một ông trùm trại lạnh nhạt vẫn có thể ra lệnh chuyển họ tới một trại khác, nhận một công việc khác, lãnh một số phận chết chóc khác.

 

Sanchast

Bệnh xá và Bác sĩ

 

Trong số vô số phi lý ta thấy ở cuộc sống trại, có lẽ có một thứ kỳ lạ nhất mà cũng là thứ phổ biến nhất: viên bác sĩ trại. Trại cơ sở lagpunkt nào cũng đều có một người. Nếu không đủ bác sĩ được đào tạo chính thức thì ít nhất lagpunkt phải có một y tá hay một feldsher, tay trợ lý y tế đã được hoặc chưa từng được đào tạo về y tế. Giống như vị thiên sứ hộ mệnh, nhân viên y tế có quyền lôi tù ra khỏi nơi công trường lạnh giá, đặt họ vào bệnh xá sạch sẽ của trại, nơi họ được cho ăn uống và chăm sóc để hồi phục sức khỏe. Tất cả những người khác – cánh lính gác, trại trưởng, đám đội trưởng – đều liên tục thúc zek làm việc nhiều hơn. Riêng tay bác sĩ thì theo lệ không phải làm điều đó. “Chỉ các bác sĩ”, Shalamov viết, “mới có quyền cứu tù khỏi phải ra ngoài trời giữa sương mù mùa đông bạc trắng để đến khu mỏ toàn đá tảng đóng băng suốt nhiều giờ mỗi ngày”.[915]

Một số tù đúng là đã được cứu mạng chỉ nhờ vài lời của nhân viên y tế. Đang sốt bừng bừng, mình mẩy chỉ còn da bọc xương, bị cái đói hành hạ, một bác sĩ đã chẩn đoán cho Lev Kopelev là bị viêm da, nhiễm bệnh đường ruột và cảm lạnh nặng. “Tôi cho gửi anh đến bệnh xá”, cô ta tuyên bố. Chuyến đi từ lagpunkt tới bệnh xá trại trung tâm, sanchast, không phải là chuyện dễ chịu gì. Kopelev phải chịu mất hết tài sản của mình – lý do là tất cả vật dụng trại phát đều phải để lại ở trại – để đi bộ qua “những vũng tuyết sâu lầy lội” và chui vào toa chở gia súc với các tù bệnh và sắp chết khác. Chuyến đi thật khủng khiếp. Nhưng khi tỉnh dậy ở chốn mới, ông cảm thấy đời mình như đã sang trang:

Trong trạng thái lâng lâng nửa thức nửa ngủ, tôi ngồi trong căn phòng sáng sủa sạch sẽ của bệnh xá, trên chiếc giường tầng phủ ga sạch không thể tin nổi… Bác sĩ là một người nhỏ con mặt tròn, có bộ ria mép xám và cặp kính dày cộm làm tăng thêm vẻ nhân hậu và quan tâm của ông. “Ở Moscow”, ông hỏi, “cậu có biết nhà bình luận văn học nào tên là Motylova không?”

“Tamara Lazarevna Motylova? Biết chứ!”

“Cháu gái tôi đấy”.

Chú Borya, như tôi được biết về ông, đưa mắt nhìn cái nhiệt kế. “Ô hô! Đưa anh ta đi tắm”, ông nói với viên trợ lý. “Đem quần áo anh ta đi hấp. Đưa anh ta vào giường”.

Khi thức dậy lần nữa, Kopelev thấy mình được mời đến sáu miếng bánh mì: “Ba miếng bánh mì đen và – thật kỳ diệu, ba miếng bánh mì trắng! Tôi chén chúng một cách thèm khát, hai mắt ứa lệ”. Tuyệt hơn nữa, ông được phát cho khẩu phần chống viêm da pellagra: củ cải và cà rốt, cùng với men bia và tương mù tạt để quết lên bánh mì. Lần đầu tiên ở trại ông được phép nhận bưu phẩm và tiền nhà gửi, nhờ thế ông có thể mua khoai tây luộc, sữa và makhorka, thứ thuốc lá thô rẻ tiền. Đã tưởng bị kết án tử, nay ông nhận thấy mạng mình đã được cứu thoát.[916]

Đó là một kinh nghiệm phổ biến. “Thiên đường” là từ mà Evgeniya Ginzburg dùng để gọi chốn bệnh xá nơi bà làm việc tại Kolyma.[917] “Chúng tôi cảm giác mình như ông hoàng”, Thomas Sgovio viết về “dãy lán hồi sức” ở lagpunkt Srednikan, nơi ông được nhận một “ổ bánh mì ngọt mới nướng mỗi buổi sáng”. Những người khác viết về nỗi kinh ngạc đáng nhớ khi thấy vải trải giường sạch bong, sự tử tế của y tá, quãng đường dài mà bác sĩ lặn lội để tới cứu bệnh nhân. Một tù kể lại câu chuyện về người bác sĩ chịu liều chức vụ của mình để rời trại không xin phép đi kiếm những loại thuốc cần thiết.[918] Tatyana Okunevskaya viết rằng bác sĩ của bà “hồi sinh được cả người chết”.[919] Vadim Aleksandrovich, bản thân là một bác sĩ trại, nhớ lại rằng “Trong trại, bác sĩ và trợ lý của mình được mọi người xem là, nếu không phải thần thánh thì cũng như những bán thần. Trong tay họ là khả năng cho phép có được vài ngày tự do thoát khỏi chốn lao động giết người, thậm chí cả khả năng được đưa tới một viện điều dưỡng”.[920]

Janos Rozsas, một thanh niên Hungary mười tám tuổi có mặt trong cùng trại của Aleksandr Solzhenitsyn sau chiến tranh, đã viết một cuốn sách tựa đề Nữ y tá Dusya, lấy theo tên nữ y tá trại mà ông cho rằng đã cứu sống mạng mình. Không chỉ ngồi nói chuyện với ông, làm cho ông tin rằng mình không thể chết trong sự chăm sóc của cô, y tá Dusya thậm chí còn đổi khẩu phần bánh mì của bản thân mình để lấy sữa cho Rozsas, người lúc đó không nuốt nổi thức ăn. Ông nhớ ơn cô cho đến cuối đời: “Trong đầu tôi luôn gợi lên hình ảnh hai khuôn mặt yêu dấu, đó là mẹ đẻ tôi đã xa tôi lắm rồi, người thứ hai là y tá Dusya. Cả hai đều giống nhau lạ lùng… Tôi tự nhủ rằng nếu có lúc nào đó tôi quên mặt mẹ, tôi chỉ cần nghĩ về khuôn mặt y tá Dusya, và qua đó tôi sẽ luôn nhìn thấy mẹ mình”.[921]

Lòng biết ơn của Rozsas với y tá Dusya cuối cùng tự biến chuyển thành tình yêu với tiếng Nga và văn hóa Nga. Khi tác giả gặp Rozsas ở Budapest nửa thế kỷ sau khi ông được thả, ông vẫn nói được thứ tiếng Nga lưu loát thanh lịch, vẫn duy trì liên lạc với những người bạn Nga, và hãnh diện chỉ cho tác giả biết đoạn có đề cập tới câu chuyện của ông trong cuốn Quần đảo Gulag và trong hồi ký bà vợ của Solzhenitsyn.[922]

Nhưng vẫn có, như nhiều người cũng đã lưu ý, một nghịch lý về lao động tại đây. Khi một tù mắc bệnh scoócbuýt nhẹ trong đội lao động, không một ai để ý đến chuyện anh ta bị tụt răng hay hai chân mưng mủ. Anh ta có than phiền thì chỉ tổ bị lính gác la mắng giễu cợt, thậm chí còn tệ hơn. Nếu anh ta hóa thành một gã dokhodyaga nằm chờ chết trên giường tầng trong trại, anh ta sẽ là đối tượng trêu chọc cho mọi người. Nhưng khi nhiệt độ của anh ta cuối cùng lên đến mức độ cần thiết hay cơn bệnh của anh đã đến thời điểm nguy kịch – nói cách khác, tức là khi anh đạt “đủ tiêu chuẩn” bị ốm – cũng chính con người sắp chết đó sẽ lập tức được phát “khẩu phần scoócbuýt” hay “khẩu phần viêm da pellagra”, và sẽ được nhận tất cả những chăm sóc y tế mà Gulag có thể huy động được.

Nghịch lý này được dựng lên ngay từ trong hệ thống. Từ khi hệ thống trại bắt đầu tồn tại, tù bị ốm đã được đối xử khác biệt. Các đội lao động tàn tật được thành lập, dành cho tù không còn khả năng lao động chân tay nặng nhọc, ngay từ tháng 1/1931.[923] Về sau, còn có cả các lán tàn tật, thậm chí cả những lagpunkt toàn tù tàn tật, dành cho việc chăm sóc hồi phục cho tù suy kiệt sức khỏe. Năm 1933, Dmitlag đã tổ chức các “lagpunkt phục hồi” được thiết kế để giữ đến 3.600 tù.[924] Tài liệu chính thức của Gulag hướng dẫn chi tiết khẩu phần phụ cho tù nhập viện: một vài sản phẩm từ thịt, trà thật (trái hẳn với thứ thế phẩm cung cấp cho tù thường), hành củ để chống bệnh scoócbuýt thiếu vitamin và, không thể giải thích nổi, có cả hạt tiêu và lá nguyệt quế. Thậm chí nếu như, trong thực tế, khẩu phần phụ chỉ vỏn vẹn có “một ít khoai tây hay đậu Hà Lan sấy (chỉ sấy sơ qua để còn giữ được vitamin) hay bắp cải muối” thì so với khẩu phần thường cũng đã là sang trọng đáng kể rồi.[925]

Gustav Herling nhận thấy sự trái ngược giữa điều kiện sống chết người trong trại với các nỗ lực mà đám bác sĩ trại đã thực hiện để hồi sinh những tù có sức khỏe bị hủy hoại gần hết là kỳ quái đến nỗi, ông đã rút ra kết luận là một thứ văn hóa “sùng bái bệnh viện” chắc hẳn đang tồn tại ở Liên Xô:

Có gì đó khó hiểu trong việc ngay vào lúc một tù rời khỏi bệnh xá, anh ta lại quay trở về kiếp tù của mình, nhưng miễn là anh ta còn nằm bất động trên chiếc giường sạch sẽ thì mọi thứ quyền của con người, mặc dù luôn có một ngoại lệ là thiếu mất sự tự do, đều được ban cho anh ta. Với một người không quen với các tương phản dữ dội trong đời sống Xôviết, những bệnh xá trại giống như ngôi nhà thờ đem lại chốn trú ẩn tránh khỏi bàn tay Tòa án Dị giáo quyền lực vô biên.[926]

George Bien, một tù người Hungary được đưa đến một bệnh viện tiện nghi đầy đủ ở Magadan, cũng cảm thấy khó mà hiểu nổi: “Tôi tự hỏi tại sao họ lại tìm cách cứu sống tôi trong khi trước đấy dường như họ chỉ muốn hành hạ tôi đến chết – nhưng sự hợp lý đã rời bỏ chốn này từ lâu lắm mất rồi”.[927]

Rõ ràng các ông trùm Gulag ở Moscow đã cân nhắc hết sức nghiêm túc vấn đề đặt ra do số lượng lớn tù tàn tật “không còn khả năng lao động”. Mặc dù sự tồn tại của chúng khó có thể xem là mới, các vấn đề này trở nên gay gắt sau quyết định của Stalin và Beria năm 1939 loại bỏ chính sách “thả sớm có điều kiện” người tàn tật: đột nhiên, bệnh tật không còn dễ dàng bị lờ đi trong buổi điểm danh đi làm nữa. Điều này, nếu không phải là gì khác, có lẽ đã buộc các chỉ huy trại chuyển hướng chú ý trở lại các bệnh xá trại. Một thanh tra viên đã làm con tính chính xác về thời gian và tiền bạc bị mất mát do bệnh tật : “Từ tháng 10/1940 cho đến nửa đầu tháng 3/1941, ở đây có 3.472 ca bị giá ăn, vì thế đã có 42.334 ngày công bị mất. 2.400 tù trở nên quá yếu không thể làm việc”. Một thanh tra khác báo cáo rằng vào cùng năm ấy, trong số 2.398 tù ở các trại tại Crimea, 860 người chỉ có khả năng làm việc giới hạn, và 273 người hoàn toàn không thể làm việc. Một số nằm trên giường bệnh viện, một số khác, do thiếu giường, bị giữ trong phòng giam nhà tù, gây ra trở ngại đến toàn bộ hệ thống.[928]

Nhưng, cũng như mọi thứ khác trong Gulag, không có gì rõ ràng về nhu cầu chữa lành người bệnh. Tại một số trại, dường như các lagpunkt đặc biệt cho người tàn tật được lập ra chủ yếu để ngăn người tàn tật cản trở thống kê sản lượng của trại. Đó là trường hợp ở Siblag, vốn đếm được 9.000 người tàn tật và 15.000 “nửa tàn tật” trong số 63.000 tù trong các năm 1940 và 1941 – chiếm hơn một phần ba. Khi những tù yếu sức ấy bị chuyển khỏi các điểm lao động quan trọng và thay bằng những đội công nhân mới “sung sức”, các con số sản lượng của trại tăng cao vọt một cách thần kỳ.[929]

Áp lực đạt được kế hoạch đẩy nhiều chỉ huy trại vào thế tiến thoái lưỡng nan. Một mặt, họ thật sự muốn chữa trị cho người bệnh – để có thể đưa họ trở lại làm việc. Mặt khác, họ không muốn khuyến khích đám “lười biếng”. Trong thực tế, điều này thường có nghĩa là ban quản lý trại sẽ định ra các giới hạn – đôi khi hết sức chính xác – xem có bao nhiêu tù được phép bị bệnh trong một thời điểm nhất định, và bao nhiêu có thể được gửi đến những lagpunkt hồi phục.[930] Nói cách khác, bất kể con số thực tù bị bệnh là bao nhiêu, họ cho phép các bác sĩ ghi ngày nghỉ chỉ với một tỷ lệ thấp. Aleksandrovich, viên bác sĩ trại, nhớ lại rằng trong trại mình “có khoảng 10 phần trăm của lagpunkt”, tức ba mươi đến bốn mươi người, xuất hiện mỗi sáng trong giờ khám bệnh của bác sĩ. Tuy nhiên, phải hiểu ngầm rằng không nhiều hơn 3 – 5 phần trăm số đó được phép nghỉ làm: “nếu hơn thế thì sẽ phải tiến hành điều tra”.[931]

Nếu có nhiều người hơn bị bệnh, họ sẽ phải đứng đợi. Điển hình là câu chuyện của một tù ở Ustvymlag, người đã nhiều lần báo bệnh và không thể làm việc được. Theo báo cáo chính thức được lập sau đó, “Các nhân viên y tế không còn để ý đến sự phản đối của anh ta nữa, và anh ta bị đưa đi làm. Sức khỏe không trong tình trạng có thể làm việc được, anh ta từ chối làm, vì thế đã bị tống vào khám phạt. Anh ta bị giữ ở đấy bốn ngày, rồi bị chuyển trong tình trạng rất xấu tới bệnh viện, tại đó anh ta qua đời”. Tại trại khác, một bệnh nhân lao bị đưa đi làm việc và, theo báo cáo của thanh tra viên, “trong một tình trạng tồi tệ đến nỗi anh ta không thể quay về trại mà không có người giúp đỡ”.[932]

Con số người “cho phép” bị bệnh được định ở mức rất thấp có nghĩa là các bác sĩ luôn phải chịu những áp lực kinh khủng và đầy mâu thuẫn. Họ có thể bị phê bình, thậm chí phải lãnh án, nếu có quá nhiều tù bệnh bị chết do bị từ chối cho vào bệnh xá trại.[933] Họ cũng có thể bị đe dọa bởi các thành viên hung hăng và quá khích hơn nhiều của tầng lớp tội phạm ưu tú trong trại, những kẻ luôn muốn được trốn việc. Nếu viên bác sĩ trại muốn ghi ngày nghỉ cho các tù ốm thực sự, anh ta phải vượt qua được trước đề nghị của đám tội phạm đó. Vẫn là Shalamov kể về số phận ông bác sĩ Surovoy, tới làm việc ở một lagpunkt tội phạm lớn thuộc mỏ Spokoiny tại Kolyma:

Anh là một bác sĩ trẻ, và – quan trọng hơn là – anh là tù bác sĩ. Bạn của Surovoy cố gắng thuyết phục anh đừng đi đến đấy. Anh có thể từ chối và bị chuyển vào một nhóm lao động phổ thông thay vì đảm nhiệm cái công việc nguy hiểm rành rành kia. Surovoy đã từ một nhóm lao động phổ thông chuyển vào bệnh xá, anh sợ phải quay lại đó và đồng ý về mỏ làm việc theo chuyên môn của mình. Chính quyền trại có cung cấp cho anh chỉ dẫn nhưng không khuyên anh phải cư xử như thế nào. Anh bị cấm ngặt không được cho tù tội phạm khỏe mạnh chuyển tử mỏ vào bệnh xá. Một tháng sau anh bị giết chết khi đang tiếp bệnh nhân, trên mình có năm mươi hai vết dao.[934]

Khi tới làm feldsher trong một lagpunkt tội phạm, Karol Colonna-Czosnowski cũng được cảnh báo là người tiền nhiệm của ông đã bị lũ bệnh nhân của mình “chém tới chết”. Vào đêm đầu trong trại, ông chạm trán một người tay cầm chiếc rìu, đến đề nghị được nghỉ làm vào ngày hôm sau. Karol đã tìm cách, theo lời ông tuyên bố, khiến hắn ta bất ngờ và tống hắn khỏi lán feldsher. Ngày hôm sau ông đã thỏa thuận được với Grisha, trùm tội phạm trong trại: ngoài số những người thực sự bị ốm, mỗi ngày Grisha sẽ đưa ông thêm tên của hai người nữa được miễn lao động.[935]

Alexander Dolgun cũng kể lại một kinh nghiệm tương tự. Vào một trong những ngày đầu tiên ông làm feldsher, một tù tội phạm đến chào Dolgun, tuyến bố mình bị đau dạ dày – và đòi xin thuốc phiện. “Hắn ra hiệu cho tôi lại gần. ‘Lại đây!’ hắn vừa thì thào hung dữ vừa đưa tay lật ngược chiếc áo khoác. Tay phải hắn thủ trong áo, cầm chặt một con dao chạm khắc chi chít trông như cái mã tấu thu nhỏ. ‘Tao muốn thuốc phiện. Tao luôn được đối xử rất tốt ở đây. Mày là thằng mới. Mày nên biết rõ là nếu tao không được thuốc phiện, mày sẽ được xơi dao’ ”. Dolgun đã xoay sở đuổi được hắn đi bằng cách đưa hắn một liều thuốc phiện giả. Nhưng người khác không nhanh trí bằng có thể bị rơi hoàn toàn vào vòng khống chế của bọn tội phạm.[936]

 Thậm chí khi một tù cuối cùng vào được trong bệnh xá, anh ta thường nhận ra rằng chất lượng chăm sóc y tế khác biệt nhau rất lớn. Các trại lớn hơn có bệnh xá tiện nghi hơn, đầy đủ nhân viên và thuốc men. Bệnh viện trung tâm của Dalstroi, tại thành phố Magadan, nổi tiếng vì có các thiết bị mới nhất, cũng như được điều hành bởi các bác sĩ tù giỏi nhất, thường là dân chuyên gia Moscow. Trong khi hầu hết bệnh nhân của nó là những sĩ quan NKVD hay nhân viên của trại, ở chỗ này chỗ khác một vài tù may mắn hơn vẫn được điều trị bởi các chuyên gia: trong thời gian chịu án đi trại, Leonid Finkelstein thậm chí còn được phép tới khám nha sĩ.[937] Một vài lagpunkt tàn tật cũng được trang bị rất tốt, và dường như thực sự có ý định muốn chăm sóc bệnh nhân hồi phục sức khỏe. Tatyana Okunevskaya từng được vào một nơi như vậy, đã ngây người trước các không gian chung ngoài trời, những lán ở rộng rãi và vườn cây xanh: “Tôi không được thấy chúng biết bao nhiêu năm rồi! Hơn nữa lúc này đang là mùa xuân!”[938]

Trong các bệnh xá lagpunkt nhỏ hơn, tình trạng tồi tệ hơn nhiều. Thông thường, các bác sĩ lagpunkt cảm thấy không thể duy trì được thậm chí chỉ những tiêu chuẩn tối thiểu về vô trùng và sạch sẽ.[939] Thông thường, các bệnh xá không có gì hơn những lán ở bình thường mà trong đó người ốm đơn giản là bị vứt lên các giường nằm bình thường – đôi khi hai người chung một giường – với thuốc men được cung cấp ở mức tối thiểu. Một thanh tra viên khi báo cáo về một trại nhỏ đã than phiền rằng trong đó không có công trình nào được thiết kế phù hợp chức năng bệnh viện, không vải trải giường và đồ lót cho bệnh nhân, không thuốc men và không có nhân viên y tế đủ tiêu chuẩn. Hậu quả là, tỷ lệ tử vong vô cùng cao.[940]

Các nhân chứng đều nhất trí như vậy. Tại một bệnh xá nhỏ, trong một lagpunkt thuộc Sevurallag, “việc điều trị và ghi chép hồ sơ rất tồi tệ”, theo lời Isaac Vogelfanger, khi ấy là bác sĩ phẫu thuật trưởng của trại. Còn tệ hơn,

khẩu phần thức ăn thiếu thấy rõ và rất ít thuốc có sẵn. Những ca phẫu thuật như gãy xương hay vết thương lớn tại mô mềm đều bị thực hiện tồi và cẩu thả. Như sau này tôi phát hiện ra, hiếm khi bệnh nhân được ra viện để đi làm lại. Được nhận vào với các dấu hiệu sớm của bệnh thiếu dinh dưỡng, phần lớn sẽ chết ngay trong bệnh viện.[941]

Một tù người Ba Lan, Jerzy Gliksman, đã nhớ rằng tại một lagpunkt tù luôn phải nằm “bừa cả ra” trên sàn: “Mọi lối đi đều chen chúc người nằm. Bẩn thỉu và hôi thối ở khắp nơi. Nhiều bệnh nhân mê sảng la hét lảm nhảm, trong khi những người khác nằm bất động xanh rớt”.[942]

Các lán bệnh còn tệ hơn nữa, đúng hơn là những nhà xác dành cho bệnh nhân ốm giai đoạn cuối. Tại một trong những lán như vậy, được dựng cho tù bị bệnh kiết lỵ, “bệnh nhân nằm liệt trên giường hàng tuần. Người nào gặp may thì sẽ tự hồi phục. Thông thường là chết. Không có chữa trị, thuốc thang gì… bệnh nhân luôn cố gắng giấu người chết trong ba hay bốn ngày để kiếm được cho mình khẩu phần của những người đã khuất”.[943]

Tình hình bị làm cho tệ hơn bởi sự quan liêu của Gulag. Năm 1940, một thanh tra trại than phiền rằng một trại đã đơn giản là không có đủ giường bệnh cho tù bị ốm. Do một tù không thực sự nằm trong bệnh viện thì không được phép nhận khẩu phần bệnh, điều này dẫn đến việc tù bệnh ở bên ngoài bệnh viện đơn giản là sẽ phải nhận khẩu phần bị cắt bớt của đám “trốn việc”.[944]

Hoặc là, mặc dù nhiều bác sĩ trại có thể nói là đã cứu mạng cho nhiều người, nhưng không phải ai cũng có ý muốn giúp đỡ người bệnh. Một số, do mong muốn được nhận ưu tiên, đã trở nên đồng tình với các ông trùm trại về quan điểm đối với đám “kẻ thù” mà họ được yêu cầu phải chữa trị. Elinor Lipper đã tả lại về một bác sĩ, thủ trưởng một bệnh viện 500 bệnh nhân: “Cô ta cư xử như một pomeshchitsa, một bà lớn lãnh chúa thời Sa hoàng, và xem toàn bộ nhân viên bệnh viện như nông nô của riêng mình. Bằng bàn tay múp thịt, cô ta có lần đã nắm chặt lấy một hộ lý lơ đễnh và kéo mạnh tóc cho đến khi anh này phải hét lên”.[945] Ở một trại khác, bà vợ của chỉ huy trại, một bác sĩ trong khu bệnh viện, đã thực sự bị viên thanh tra trại phê bình vì cô ta đã “chỉ cho người bị ốm nặng nhập viện khi đã quá trễ, không cho người bệnh nghỉ làm, cư xử thô lỗ và đã tống tù bệnh ra khỏi bệnh xá”.[946]

Trong một số trường hợp, các bác sĩ đã cố ý ngược đãi bệnh nhân tù. Khi làm việc ở một trại khai mỏ đầu những năm 1950, một bên chân của Leonid Trus bị gãy. Viên bác sĩ trại đã băng vết thương, nhưng như thế chưa đủ. Trus đã mất nhiều máu và bắt đầu cảm thấy người lạnh run. Bởi vì trại không có thiết bị riêng để truyền máu, chính quyền trại đã cho gửi ông, nằm trên thùng xe tải, tới một bệnh viện địa phương. Khi đang nửa tỉnh nửa mê, ông nghe thấy bác sĩ yêu cầu một y tá bắt đầu cho truyền máu. Người bạn cùng đi với ông nói thông tin cá nhân của ông: tên, tuổi, giới tính, nơi làm việc – sau đó viên bác sĩ lập tức dừng truyền máu. Những hỗ trợ như vậy không được dùng cho tù. Trus nhớ lại đã được cho uống một ít đường – nhờ người bạn đã đút lót mới có được – và tiêm ít morphine. Ngày hôm sau, chân của ông bị cắt:

Bác sĩ giải phẫu quá tin rằng tôi không thể sống được nên anh ta thậm chí còn không tự phẫu thuật và chuyển cho vợ mình, một bác sĩ trị liệu đang cố gắng để thi lại bằng giải phẫu. Sau này người ta kể cho tôi rằng cô ta đã làm mọi việc rất khéo, rằng cô biết rõ mình đang làm gì, ngoại trừ việc cô ta bỏ qua một số chi tiết. Không phải cô ta quên, mà vì cô nghĩ rằng tôi sẽ không sống nổi, do đó việc có hoàn thành các chi tiết y tế đó hay không là không quan trọng. Vậy mà xem đây, tôi đã sống sót![947]

 Cũng không nhất thiết các bác sĩ trại như vậy, dù là tốt bụng hay thờ ơ, phải đạt đủ tiêu chuẩn. Họ bao gồm từ những người mang học vị thuộc hàng chuyên gia hàng đầu ở Moscow đang phải chịu án trại cho đến đám lang băm không biết một chút tẹo nào về thuốc nhưng lại sẵn sàng văng kiến thức lung tung nhằm kiếm được công việc có địa vị cao. Ngay từ năm 1932, OGPU đã than phiền về sự khan hiếm nhân viên y tế đạt tiêu chuẩn.[948] Điều này có nghĩa là tù có bằng cấp y khoa trở thành ngoại lệ đối với mọi quy định chi phối phân công công việc tin cậy: bất kể bị cho là đã thực hiện hành động khủng bố phản cách mạng gì, hầu như họ luôn luôn được phép thực hành nghề y.[949]

Sự thiếu thốn cũng có nghĩa là tù sẽ được huấn luyện làm y tá và feldsher – quá trình đào tạo này khá sơ đẳng. Evgeniya Ginzburg được bằng y tá sau khi trải qua “nhiều ngày” trong một bệnh viện trại để học nghệ thuật “giác hơi” và cách tiêm kim.[950] Alexander Dolgun, sau khi được dạy căn bản công việc của feldsher trong một trại, đã được kiểm tra kiến thức sau khi chuyển tới trại khác. Một sĩ quan nghi ngờ bằng cấp của ông đã yêu cầu ông thử mổ xác, và ông đã “trình diễn với khả năng tốt nhất của mình và làm ra vẻ như tôi đã quá thành thạo với những việc như vậy rồi”.[951] Nhằm kiếm được công việc feldsher, Janusz Bardach cũng đã nói dối: ông tuyên bố mình là sinh viên năm thứ ba trường y, trong khi thực tế ông còn chưa từng vào đại học.[952]

Hậu quả là có thể đoán trước. Khi đảm nhiệm vị trí lần đầu làm bác sĩ tù ở Sevurallag, Isaac Vogelfanger, bản thân là một bác sĩ phẫu thuật có bằng cấp đàng hoàng, đã phát hoảng khi thấy viên feldsher địa phương điều trị các nốt mưng mủ vì scoócbuýt – một tình trạng do thiếu dinh dưỡng chứ không phải do nhiễm trùng – bằng thuốc iod. Sau này, ông còn chứng kiến một số bệnh nhân chết do một bác sĩ không đủ tiêu chuẩn đã nhất định muốn tiêm cho bệnh nhân một liều nước đường bình thường.[953]

Không có điều nào kể trên có thể làm các ông trùm Gulag ngạc nhiên, một trong những người đã than phiền trong bức thư gửi ông trùm ở Moscow của mình về tình trạng thiếu bác sĩ: “Tại nhiều lagpunkt, hỗ trợ y tế được thực hiện bởi các y tá tự học, là những tù không có bất cứ thứ bằng cấp nào về y khoa”. Một người khác viết rằng hệ thống y tế trại đã bất chấp “tất cả các quy định của ngành y Xô viết”.[954] Các ông trùm biết rằng chúng có thiếu sót, đám tù biết rằng chúng có thiếu sót – nhưng hệ thống y tế trại vẫn tiếp tục vận hành y như cũ.

Mặc dù với tất cả những sai sót – mặc dù bác sĩ là có thể mua được, cơ sở trang bị yếu kém, thuốc men thiếu thốn – cuộc sống trong bệnh viện và bệnh xá đối với tù vẫn quá hấp dẫn đến nỗi, để vào được đây họ sẵn sàng không chỉ làm bị thương hay hăm dọa bác sĩ, mà kể cả tự làm mình thương tích. Giống như đám lính lác tìm cách né tránh chiến trường, đám zek cũng áp dụng samorub (“tự gây thương tật”) và mastyrka (“giả bệnh”) trong những cố gắng liều lĩnh để tự cứu mình. Một số người tin rằng sau này họ sẽ được nhận lệnh ân xá cho người tàn tật. Trong thực tế, rất nhiều người tin vào điều này, đến nỗi ít nhất có một lần Gulag đã ban thông báo phủ nhận việc người tàn tật sẽ được tha sớm (mặc dù thỉnh thoảng vẫn có).[955] Tuy nhiên, hầu hết chỉ đơn giản để được tránh việc.

Mức trừng phạt đối với việc tự gây thương tật là đặc biệt cao: thêm một án trại nữa. Có lẽ, điều này phản ánh thực tế rằng công nhân tàn tật được xem là gánh nặng của quốc gia và gây cản trở kế hoạch sản xuất. “Tự gây thương tật bị trừng phạt rất nặng, giống như tội phá hoại”, Zhigulin viết.[956] Một tù đã kể lại câu chuyện về tên trộm tự cắt bốn ngón tay trái. Tuy vậy, thay vì được chuyển tới trại tàn tật, anh ta bị bắt phải ngồi giữa tuyết và quan sát người khác làm việc. Bị cấm di chuyển, sợ bị bắn vì lý do tìm cách trốn chạy, “đích thân hắn ta vội vã đề nghị được phát một cái xẻng và, đung đưa nó như một cái nạng, bằng cánh tay còn lại hắn chọc chọc nó xuống mặt đất băng giá, vừa khóc vừa nguyền rủa”.[957]

Tuy nhiên, nhiều tù cho rằng các lợi ích tiềm tàng khiến việc mạo hiểm là xứng đáng. Một số phương pháp rất thô thiển. Đám tù tội phạm đặc biệt nổi tiếng vì chuyện dám dùng rìu chặt đứt ba ngón giữa, do đó chúng không thể đốn cây hay cầm cán xe cút kít trong hầm mỏ được nữa. Một số kẻ khác chặt một bàn chân hay một bàn tay, hay chà a xít vào mắt. Những kẻ khác nữa, khi bắt đầu cất bước đi làm, đã quấn mảnh giẻ rách thấm nước quanh một bên chân: đến chiều khi quay về bọn họ sẽ bị giá ăn độ ba. Phương pháp này cũng có thể áp dụng với bàn tay. Hồi thập niên 1960, Anatoly Marchenko đã chứng kiến một người đóng đinh bìu dái mình xuống băng ghế nhà tù.[958] Đây không phải là người đầu tiên: Valery Frid có kể lại chuyện một người đã đóng đinh bìu dái mình xuống gốc cây cụt.[959]

Nhưng còn có các phương pháp khác tinh vi hơn được sử dụng. Bọn tội phạm táo tợn hơn thường ăn cắp xi ranh và tiêm nước xà phòng vào dương vật: kết quả là nước xuất ra từ dương vật trông như bị bệnh hoa liễu. Một tù khác tìm được cách làm giả bệnh nhiễm bụi silic, một căn bệnh đường phổi. Đầu tiên, anh ta mài một ít bụi bạc từ chiếc nhẫn bạc mà anh ta giữ được trong số vật dụng của mình. Sau đó anh ta trộn bụi bạc với thuốc lá rồi hút nó. Mặc dù không cảm thấy gì, anh ta đến bệnh viện và ho như thể mình bị nhiễm bụi silic. Trong kết quả chụp X-quang, một vết đen khủng khiếp xuất hiện ở phổi anh ta – quá đủ để loại anh ta khỏi lao động nặng và cho chuyển anh ta tới một trại dành cho các bệnh nhân vô phương cứu chữa.[960]

Tù cũng tìm cách tự mắc bệnh lây nhiễm hay các bệnh mãn tính. Vadim Aleksandrovich đã chữa cho một bệnh nhân tự làm mình nhiễm trùng bằng cái kim khâu bẩn thỉu.[961] Gustav Herling chứng kiếm một tù đã thọc tay mình vào lửa, mỗi khi anh ta cho rằng không có ai theo dõi; anh ta làm thế mỗi ngày một lần, cách tốt nhất để duy trì một vết thương dai dẳng bí ẩn.[962] Anatoly Zhigulin tự làm mình bệnh bằng cách uống nước đóng băng và hít không khí lạnh giá. Việc này khiến ông sốt cao đủ để không phải làm việc: “Ôi mười ngày hạnh phúc ấy ở trong bệnh viện!”[963]

Tù cũng giả vờ bị điên. Khi làm feldsher, Bardach đã có một thời gian làm trong khoa tâm thần của bệnh viện trung tâm ở Magadan. Tại đấy, phương pháp cơ bản để phát hiện người giả bệnh tâm thần phân liệt là nhốt họ chung với người tâm thần phân liệt thật: “Chỉ sau vài giờ, nhiều tù, thậm chí cả những kẻ kiên quyết nhất, cũng sẽ phải gõ cửa xin ra ngoài”. Nếu như thế vẫn không xong, tù sẽ bị tiêm một mũi long não, vốn làm lên cơn ngập máu và kích động. Ai qua được hiếm khi nào muốn lặp lại lần thứ hai.[964]

Theo lời Elinor Lipper, thậm chí còn có cả quy trình tiêu chuẩn kiểm tra tù giả bị liệt. Bệnh nhân được đặt lên một bàn phẫu thuật và gây mê nhẹ. Khi tỉnh dậy, các bác sĩ sẽ dựng anh ta đứng lên. Chắc chắn, khi được gọi tên, anh ta sẽ bước vài bước trước khi nhớ ra và ngã vật xuống sàn.[965] Dmitri Bystroletov cũng chứng kiến một phụ nữ được chữa “bệnh điếc” bằng chính mẹ mình. Ban quản lý, do nghi ngờ tuyên bố của cô ta là mình không nghe rõ, đã mời bà mẹ tới thăm con gái, nhưng từ chối cho bà ta vào lán. Thay vào đó, bà phải đứng ngoài cổng và gọi tên con gái. Rất tự nhiên, cô gái đã đáp lời mẹ.[966]

Nhưng cũng có các bác sĩ giúp bệnh nhân tìm cách tự làm thương tật. Alexander Dolgun, mặc dù rất yếu và bị ỉa chảy không kìm được, vẫn không sốt đủ cao để được nghỉ làm. Tuy nhiên, khi ông nói với bác sĩ trại, một người Latvia có giáo dục, rằng mình là người Mỹ, người đàn ông này lập tức tươi tỉnh lên. “Tôi đang thèm có người để nói tiếng Anh muốn chết đây”, anh ta nói – và cho Dolgun biết cách làm thế nào để gây nhiễm trùng vết cắt của ông. Kết quả là một bọc mủ tím khổng lồ xuất hiện trên tay ông, đủ để khiến đám gác MVD đang kiểm tra bệnh viện tin rằng bệnh của ông thực sự nghiêm trọng.[967]

Một lần nữa, đạo lý thông thường đã bị đảo lộn. Trong thế giới tự do, không một bác sĩ nào cố tình khiến bệnh nhân của mình bị ốm có thể được xem là người tốt. Tuy nhiên, trong trại những bác sĩ như vậy lại được tôn kính như một vị thánh.

 

“Các phẩm hạnh thông thường”

 

Không nhất thiết tất cả những kế sách sống sót trong trại phải có nguồn gốc từ bản thân của hệ thống. Hoặc không nhất thiết chúng liên quan tới việc cộng tác, sự tàn bạo hay tự làm thương tật. Nếu có một số tù – có lẽ là phần lớn tù – xoay sở để sống sót bằng cách vận dụng các quy định của trại theo hướng có lợi cho mình, cũng có một số người đã xây dựng nên điều mà Tzvetan Todorov, trong cuốn sách của ông về đạo đức trong trại tập trung, đã gọi là “các phẩm hạnh thông thường”: sự quan tâm và tình bạn, gìn giữ nhân phẩm và duy trì đời sống tinh thần.[968]

Quan tâm có rất nhiều hình thức. Như chúng ta đã xem, có những tù tự xây dựng cho mình các hệ thống để tồn tại. Thành viên các nhóm dân tộc thống trị một số trại vào cuối thập niên 1940 – người Ukraina, Baltic, Ba Lan – đã tạo ra cả một hệ thống hỗ trợ lẫn nhau hoàn chỉnh. Những người khác xây dựng nên hệ thống người quen cho riêng mình qua nhiều năm trong trại. Nhiều người khác nữa đơn giản là có một hoặc hai người bạn cực kỳ thân thiết. Có lẽ tình bạn nổi tiếng nhất trong Gulag là giữa Ariadna Efron, con gái nữ thi sĩ Marina Tsvetaeva, và bạn cô là Ada Federolf. Họ thực hiện những nỗ lực ghê gớm để được luôn cạnh nhau, cả trong trại lẫn khi lưu đày, và sau này xuất bản chung tập hồi ký của họ. Có lúc trong phần nửa câu chuyện của mình, Federolf đã kể lại bằng cách nào mà họ đoàn tụ được sau một chặng xa cách dài khi Efron bị tống sang một đoàn tàu vận chuyển khác:

Lúc đó đã là mùa hè. Những ngày đầu tiên sau khi đến nơi thật khủng khiếp. Chúng cho chúng tôi ra ngoài tập thể dục một lần một ngày – cái nóng thật không thể chịu đựng nổi. Rồi đột nhiên có đoàn vận chuyển mới tới từ Ryazan và – Alya. Tôi suýt nghẹn vì vui mừng và kéo cô ấy lên giường tầng, chỗ gần nơi khí mát thổi vào… Thế đấy, niềm vui của người tù, niềm vui giản dị là được gặp lại một người.[969]

Những người khác cũng tán thành. “Có bạn bè rất quan trọng, đó là một khuôn mặt tin cậy được, người sẽ không bỏ ta nếu ta gặp rắc rối”, Zoya Marchenko viết.[970] “Không thể một mình mà sống sót được. Mọi người tự tổ chức thành những nhóm hai hoặc ba người”, một tù khác viết.[971] Dmitri Panin cũng cho rằng mình có khả năng trụ được trước các cuộc tấn công của bọn tội phạm là nhờ ông đã thỏa thuận cùng nhau tự vệ với một nhóm tù khác.[972] Tất nhiên, vẫn có những giới hạn. Janusz Bardach viết về người bạn thân nhất trong trại rằng “chúng tôi không bao giờ hỏi xin thức ăn của người kia, và cũng không có lúc nào chúng tôi chịu cho. Chúng tôi đều biết rằng điều linh thiêng đó không thể bị xâm phạm nếu chúng tôi vẫn còn muốn là bạn”.[973]

Nếu việc tôn trọng người khác giúp một số người duy trì được nhân phẩm của mình, việc tự tôn trọng bản thân lại giúp đỡ những người khác. Rất nhiều người, đặc biệt là phụ nữ, đã nói về nhu cầu giữ gìn sạch sẽ, hoặc sạch nhất trong điều kiện cho phép, như một cách gìn giữ nhân phẩm bản thân. Olga Adamova-Sliozberg đã kể lại chuyện một bạn tù “giặt sạch và hong khô cổ áo trắng rồi khâu nó trở lại vào áo bờ lu” mỗi buổi sáng.[974] Tù người Nhật ở Magadan đã dựng ra một “nhà tắm” kiểu Nhật – một thùng gỗ rộng, có gắn các băng ghế – dọc theo bờ vịnh.[975] Trong mười sáu tháng ở nhà tù Kresty tại Leningrad, Boris Chetverikov đã giặt đi giặt lại quần áo của mình và lau chùi tường sàn phòng giam – trước khi tưởng tượng lại trong đầu tất cả những đoạn aria opera mà ông biết.[976] Những người khác tập thể dục hoặc làm vệ sinh hàng ngày. Lại là Bardach:

… mặc cho mệt mỏi và cái lạnh, tôi vẫn tập thể dục hàng ngày theo bài tôi tập ở nhà và trong Hồng quân, rửa mặt và tay ở vòi nước bơm tay. Tôi muốn duy trì lòng kiêu hãnh theo khả năng tối đa của mình, khác hẳn nhiều tù khác mà tôi thấy ngày càng buông xuôi. Trước tiên họ thôi không quan tâm đến việc giữ vệ sinh hay vẻ ngoài của mình, sau đó là đến các bạn tù của mình, cuối cùng không còn quan tâm đến chính mạng sống của họ nữa. Nếu tôi không còn kiểm soát được gì nữa, tôi vẫn phải kiểm soát được các nghi thức này, tôi tin rằng nó sẽ giúp mình không bị biến chất và dẫn đến cái chết.[977]

Những người khác nữa thực hiện thứ kỷ luật tinh thần. Nhiều, rất nhiều tù viết hay chép lại thơ, đọc đi đọc lại các khổ thơ của mình và của người khác, sau đó đọc cho bạn bè nghe. Tại Moscow vào thập niên 1960, Ginzburg có lần đã gặp một nhà văn không chịu tin rằng trong các điều kiện như vậy tù có thể thực sự đọc thơ cho mình và nhờ thế mà được giảm nhẹ tinh thần. “Ừ, đúng”, anh ta nói với bà: “anh ta biết rằng tôi không phải là người đầu tiên làm chứng cho chuyện ấy, nhưng, ừ, đối với anh ta dường như chúng tôi đã tự nghĩ ra chuyện”. Ginzburg viết rằng con người này không hiểu về thế hệ của bà, những nam nữ vẫn còn thuộc về một “thời đại đầy những ảo tưởng lộng lẫy… chúng tôi lao mình vào chủ nghĩa cộng sản từ những đỉnh cao thi ca”.[978]

Nina Gagen-Torn, vốn là một nhà dân tộc học và có viết thơ, đã thường ngâm nga các vần thơ của mình cho bản thân nghe:

Ở trong trại tôi đã hiểu, ở mức độ thực tế, tại sao các nền văn hóa tiền văn tự luôn luôn truyền đạt văn bản dưới dạng bài hát – nếu không thì bạn sẽ không nhớ nổi, bạn sẽ không chắc chắn từ ngữ được tiếp nhận có chính xác hay không. Sách vở ngẫu nhiên xuất hiện trong tay chúng tôi, chúng được đưa đến rồi lại lấy đi. Viết lách bị cấm, việc học nhóm cũng vậy: chính quyền sợ như vậy sẽ dẫn đến phản cách mạng. Do vậy mỗi người đều tự chuẩn bị cho mình, tùy theo sức mỗi người, những thức ăn cho tinh thần.[979]

Shalamov viết thứ thơ ca mà giữa những “giả dối, xấu xa và mục ruỗng” đã cứu ông không hoàn toàn trở nên nhẫn tâm. Dưới đây là trích đoạn một bài thơ của ông, tựa đề “Gửi một nhà thơ”:

Tôi ăn như thú, ngốn choàm choạp

Vậy mà như thần kỳ giữa những thần kỳ

Chỉ một mảnh giấy viết bình thường

Từ trên trời rơi xuống khu rừng tối

Tôi uống như thú, lưỡi tợp nước

Bắn vung lên ướt hết bộ ria dài

Nay tôi sống không bằng năm bằng tháng

Mà chỉ suy tính cho từng giờ từng phút vậy thôi

Và mỗi chiều, thật ngạc nhiên,

Khi nhận thấy mình vẫn còn sống,

Tôi đọc đi đọc lại vần thơ

Như thể đang nghe tiếng em nói.

Tôi khấn chúng như đọc kinh thánh

Tôi ngợi ca chúng tựa cam lồ

Như bức hình thánh thoát khỏi trận đánh

Như ngôi sao dẫn đường soi lối tôi đi

Chúng là mối liên hệ duy nhất

Để nối giữa cuộc sống ngoài trại kia

Với thế giới đây nghẹn những bùn lầy trần tục

Và cái chết theo sát mỗi bước chân.

[980]

Solzhenitsyn có “viết” thơ trong trại, sáng tác chúng trong đầu rồi tự học thuộc lòng nhờ sự giúp sức làm dấu của mấy que diêm gãy, như lời người viết tiểu sử về ông:

Ông sắp hai hàng mười mẩu diêm với chiếc hộp thuốc lá, mỗi hàng tượng trưng cho một khổ mười và các đơn vị. Sau đó ông đọc thầm các khổ thơ của mình, di chuyển một “đơn vị” cho mỗi câu và một “khổ mười” cho mỗi mười câu. Cứ năm mươi và một trăm câu thì lại được ghi nhớ lại thật kỹ, và một lần mỗi tháng ông nhẩm lại toàn bộ bài thơ một lần nữa. Nếu một câu bị sai hay quên, ông sẽ ôn lại cho tới khi tất cả được nhớ đúng.[981]

Có lẽ vì lý do tương tự mà việc cầu nguyện cũng giúp ích ít nhiều. Hồi ký của một tín đồ Tẩy lễ, gửi tới các trại thời hậu Stalin những năm 1970, chứa đựng gần như toàn bộ ghi chép về thời điểm và địa điểm ông đã cầu nguyện, và việc ông đã giấu cuốn kinh thánh của mình ở đâu và như thế nào.[982] Nhiều người viết hồi ký đã viết về tầm quan trọng của các buổi lễ tôn giáo. Lễ Phục sinh thường được tiến hành bí mật, trong một lò bánh của trại – như đã được thực hiện năm nào ở một nhà tù trung chuyển của Solovetsky – hay được tiến hành công khai, giữa chuyến tàu vận chuyển: “toa tàu lắc lư, các bài hát vang lên lộn xộn chói tai, lính gác gõ mạnh vào thành toa tại mỗi chặng dừng. Tuy nhiên, họ vẫn cứ hát”.[983] Lễ Giáng sinh thường được thực hiện bên trong lán ở. Yuri Zorin, một tù người Nga, đã nhớ lại mình đã sửng sốt thế nào khi đám người Lithuania trong trại ông tổ chức mừng Lễ Giáng sinh, một buổi lễ họ đã chuẩn bị từ trước cả năm trời: “Bạn có thể tưởng tượng được không, giữa lán ở, một cái bàn trải ra với mọi thứ, vodka, thịt hun khói, tất cả đều có”. Ông cho là họ đã đưa được vodka vào “bằng cái hốc” trong đế giày.[984]

Lev Kopelev, bản thân là một người vô thần, đã tham dự một lễ Phục sinh kín:

Những chiếc giường được xếp lại dọc tường. Trong phòng thoảng mùi hương trầm thơm thơm. Một cái bàn nhỏ phủ chăn dùng làm ang thờ. Những cây nến tự chế chiếu ánh sáng lên bức tranh thánh. Viên tư tế, mặc áo lễ làm bằng vải trải giường, cầm trong tay chiếc thánh giá sắt. Ánh nến bập bùng trong bóng tối. Chúng tôi không thấy rõ mặt những người trong phòng, nhưng tôi cảm thấy chắc chắn mình không phải là người vô thần duy nhất có mặt ở đây. Viên tư tế tụng kinh lễ với giọng rung rung của một cụ già. Vài phụ nữ đội khăn trắng nhẹ nhàng hòa chung giọng một cách nồng nhiệt và trong sáng. Đội đồng ca đáp lời thật nhịp nhàng, khe khẽ, rất khẽ, sao cho bên ngoài không nghe thấy được.[985]

Kazimierz Zarod có mặt giữa đám người Ba Lan mừng Lễ Giáng sinh năm 1940 trong một trại lao động, dưới sự hướng dẫn của một linh mục lén đi khắp trại chiều hôm ấy để làm Thánh lễ Mass trong từng lán một:

Không hề có Kinh thánh hay một cuốn kinh nào khác, ông cất tiếng đọc từng đoạn thánh lễ bằng tiếng latin quen thuộc, giọng thì thầm nghe rất khẽ và đáp lễ cũng khẽ nghe chỉ như tiếng thở dài –

Kyrie eleison, Christe eleison – Chúa hãy thương xót chúng con, Khơritxtô hãy thương xót chúng con. Gloria in excelsis Deo…”

Những lời ấy tẩy sạch chúng tôi và bầu không khí trong lán, thường ngày vốn tàn nhẫn và khắc nghiệt, nay thay đổi không thể nhận ra, các gương mặt quay về vị linh mục đều dãn ra và dịu xuống khi bọn họ tập trung lắng nghe những lời thì thầm khó mà nghe rõ ấy.

“An toàn rồi”, người đàn ông ngồi quan sát từ chỗ cửa sổ cất tiếng thông báo.[986]

Phổ biến hơn, việc tham gia các dự án tri thức hay nghệ thuật quy mô đã giúp nhiều người có học sống sót, cả về tinh thần lẫn thể xác – bởi những ai có năng khiếu hay thiên bẩm thường đều tìm thấy đất dụng võ trong thực tế. Lấy ví dụ, trong một thế giới lúc nào cũng thiếu thốn, nơi những tài sản cơ bản nhất đều được xem là hết sức quan trọng, những ai có khả năng cung cấp thứ gì đó cho kẻ khác đều được thường xuyên nhờ đến. Vì thế Công tước Kirill Golitsyn đã đi học cách làm kim khâu từ xương cá khi còn ở trong nhà tù Butyrka.[987] Vì thế Alexander Dolgun, trước khi tìm được công việc làm feldsher, đã nhìn quanh để tìm cách “kiếm ra vài rúp hay có thêm vài gram bánh mì”:

Tôi thấy ở đấy có một nguồn cung cấp nhôm rất nhiều từ mớ dây cáp mà thợ hàn điện dùng rồi. Tôi nghĩ bụng nếu mình biết cách nấu chảy chúng, mình sẽ có thể đúc chúng thành thìa. Tôi đi hỏi quanh một số tù nhân trông có vẻ biết cách xử lý kim loại, và gom được một số kinh nghiệm mà không hề lộ ra ý định của mình. Tôi cũng tìm được một số nơi kín đáo để có thể rúc vào một quãng trong ngày mà không bị xua đi làm, và một vài nơi để có thể cất giấu dụng cụ hay các mẩu dây nhôm vụn.

Tôi ghép hai cái hộp rỗng để làm lò nấu, chôm lấy vài mẩu dây nhôm, rèn một cái nồi nấu kim loại thô thiển từ mảnh sắt mỏng lấy từ xưởng cơ khí, ăn cắp một ít than củi và dầu diesel để đốt, và thế là đã sẵn sàng bắt tay vào việc.

Chẳng mấy chốc, Dolgun viết, ông đã có thể “gần như mỗi ngày lại xuất xưởng hai cái thìa”. Ông dùng chúng để đổi cho các tù khác lấy một cái bi đông nước và dầu ăn đựng trong đó. Đó là cách để ông có thể kiếm thêm thứ mà chấm với bánh mì.[988]

Không phải tất cả những thứ tù làm ra cho người này người khác đều nhất thiết phải dùng được. Anna Andreeva, một họa sĩ, đã liên tục nhận được đề nghị thực hiện – và không chỉ từ phía tù nhân. Chính quyền trại đã có lần đề nghị bà trang trí bia mộ trong một lễ tang, đề nghị sửa bát đĩa sứt vỡ và đồ chơi, cũng như đề nghị bà làm đồ chơi: “Chúng tôi làm mọi thứ cho ông trùm, bất cứ thứ gì họ cần hay yêu cầu”.[989] Một tù khác chạm các “đồ lưu niệm” nho nhỏ cho tù từ ngà voi mamút: vòng đeo tay, tượng nhỏ mang chủ đề “phương bắc”, nhẫn, mặt trái tim đeo cổ, nút áo. Thỉnh thoảng, ông lại cảm thấy có lỗi khi lấy tiền của tù khác: “Nhưng đã sao? Ai cũng tha hồ