Ai đã đọc bài thơ Nam Quốc Sơn Hà ở đền Trương Tướng Quân

1

Hình 1: Đền Trương tướng quân (Đền Xà hay Đền Thánh Tam giang)

Lê Đắc Chỉnh

  1. Đặt vấn đề

Nam quốc sơn hà (NQSH) là bài thơ rất nổi tiếng, được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt nam. Bài thơ xuất hiện 2 lần trong 2 trận đánh Tống vang dội cách nhau gần 100 năm (981 [1] và 1077 [2]) ở vùng cửa sông Cà Lồ.  Tuy nhiên đến nay vẫn chưa biết ai là tác giả và ai đã đọc bài thơ trong hai trận đánh Tống đó.

Biết rằng sau khi phát tích lần đầu vào năm 981 và được sử dụng lại vào năm 1077, NQSH chỉ lưu truyền trong nhân dân, sau nhiều thế kỷ mới chính thức được ghi vào quốc sử. Theo Đại Việt sử ký bản kỷ toàn thư (ĐVSKBKTT), quyển III, xuất bản năm 1697 [3],  trong mục Nhân Tông hoàng đế (nhà Lý), sự tích về bài thơ này được chép như sau: “Vua sai  Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, đến sông Như Nguyệt đánh tan được. Quân Tống chết hơn 1 nghìn người…”.  Rồi  “Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng:  Sông núi nước Nam, Nam Đế ở. Rõ ràng phân định tại sách trời. Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm? Cứ thử làm xem, chuốc bại nhơ?“ và  “sau đó quả nhiên như thế”.

Sử liệu chỉ ghi có như vậy thế nhưng người đời sau lại đoán rằng trong cuộc chiến chống quân Tống ở sông Như Nguyệt (một khúc sông Cầu), Lý Thường Kiệt đã sai người vào trong đền thờ Trương tướng quân đọc vang bài thơ NQSH để khích lệ tinh thần quân sĩ Đại Việt. Đi xa hơn có người còn cho rằng Lý Thường Kiệt là tác giả của bài thơ này [4]. Từ đó người ta cứ đưa như thế vào giảng dạy nhiều năm trong các trường phổ thông làm cho GS Hà Văn Tấn [5] phải kêu lên “Không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả”. Sử cũ chỉ cho biết các binh sĩ đang chiến đấu ở đó nghe thấy tiếng đọc bài thơ và trong những năm còn lại dưới vương triều Lý cũng không tìm thấy văn bản nào có bài thơ này.

Bài thơ chỉ có 4 câu với 28 chữ Hán, nhưng khi xuất hiện luôn được gắn liền với truyền thuyết về hai vị anh hùng chống giặc ngoại xâm ở giữa thế kỷ thứ VI tên là Trương Hống và Trương Hát. Qua các kết quả khảo sát và nghiên cứu cho thấy cả 2 địa danh xuất hiện của bài thơ, thành Bình Lỗ [6] và đền Trương tướng quân, đều nằm rất gần cửa sông Cà Lồ và trong khu vực căn cứ kháng chiến cũ của hai vị anh hùng họ Trương.

2

Hình 2:   Cửa sông Cà Lồ ngày nay (hay Vũ Bình Khẩu)

Đến nay có thể khẳng định NQSH không phải của Lý Thường Kiệt [7] và cũng không có tài liệu nào ghi việc ông cho người vào đền Trương tướng quân đọc bài thơ này.  Tuy nhiên, một số sử liệu cũng hé lộ việc thái úy Lý Thường Kiệt có đến đền Xà [8] (tức đền Trương tướng quân) để mượn quân của Thánh Tam giang [9], [10].  Từ những thông tin này chúng ta có thể xác định ai đã đọc bài thơ NQSH ở đền Trương tướng quân vào cái đêm hôm đó.

  1. Đền Trương tướng quân và câu chuyện mượn quân của Lý Thường Kiệt

Đền Trương tướng quân là ngôi đền chính thờ Thánh Tam giang nằm ở bên bờ sông Cầu, gần cửa sông Cà Lồ (hay Vũ Bình Khẩu), có tọa độ  là 21o 14’ 30,95”  vĩ tuyến Bắc và 105o 56’ 2,32”  kinh tuyến Đông.  Nơi này thuộc đất làng Xà (nay là Xà Đoài, xã Tam giang, huyện Yên phong, tỉnh Bắc ninh) nên nhân dân trong vùng quen gọi là đền Xà. 

Tại khu vực này dưới thời vua Lý Nhân Tông, giữa hai bờ sông Như Nguyệt (một khúc sông Cầu) đã xảy ra một cuộc chiến khốc liệt kéo dài từ 18/1/1077 đến 28/2/1077 [11] giữa 6 vạn quân Đại Việt ở bờ Nam chống nhau với 10 vạn quân Đại Tống ở bờ Bắc. Trong 2 tháng đầu quân hai bên lần lượt vượt sông tấn công sang nhau. Với lực lượng đông đảo và tinh nhuệ, ban đầu quân Tống từ bờ Bắc vượt sông 2 lần, nhưng bị chặn đánh quyết liệt, bị giết 1000 tên và phải rút lui. Sau đó đến lượt quân Đại Việt, Lý Thường Kiệt dùng 2 vạn thủy quân  do hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn chỉ huy  đổ bộ lên bờ Bắc tấn công vào gần 5 vạn quân do Quách Quỳ chỉ huy. Bị quân Tống chống trả quyết liệt, quân Đại Việt phải rút lui về bờ Nam, khi qua sông bị bắn đá theo nên thương vong nhiều, mất vài ngàn người, hai chủ tướng đều tử nạn. Trong lúc đội thủy quân hầu như không còn sức chiến đấu và so sánh lực lượng nghiêng thêm về phía quân Tống. Chính lúc đó Lý Thường Kiệt nhận được viện binh (Thiên binh) của đền Xà.  

Sự kiện này được ghi lại như sau [9] : “Đến thời Hậu Lý vua sai Lý Thường Kiệt đi đánh giặc Tống trên sông Như Nguyệt, đóng đại bản doanh ở đền thờ Cao Sơn trên núi đền Yên Phụ (nơi này cách đền Xà khoảng 4 km). Lý Thường Kiệt sắm lễ cầu đảo xin thần giúp kế đánh giặc. Đêm ấy ông nằm mộng gặp thần hiện lên bảo rằng: “Tướng quân hãy đến đền Xà mượn quân của Thánh Tam Giang, còn ta không có lính tráng, nhưng cũng sẽ giúp Tướng quân”. Nghe lời dặn của Cao Sơn, Lý Thường Kiệt sắm lễ tới đền Xà cầu xin Thánh Tam Giang. Tam Giang vui vẻ nhận lời và cho mượn quân chia làm hai đạo đi đánh quân Tống: đạo Cờ trắng đánh từ ngã ba Xà (cửa sông Cà Lồ) ngược lên tới Đu, Đuổm (Thái Nguyên), đạo quân Cờ xanh đánh từ ngã ba Xà xuôi xuống tận sông Lục Đầu. Thế rồi vào một đêm mưa to gió lớn được quân của Thánh Tam Giang ngầm giúp, Lý Thường Kiệt tổ chức đánh úp đồn quân Tống ở Mai Thượng. Từ trên không trung bỗng nghe văng vẳng người đọc vần thơ đanh thép:  “Sông núi nước Nam vua Nam ở. Vua trời đã định tại sách trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm. Một trận gió thổi quét sạch không”. Quả nhiên trận ấy quân ta vừa đánh thì giặc đã tan”.

3

Hình 3: Sơ đồ Trận Như Nguyệt năm 1077

Kết quả là chỉ trong vòng một đêm, cả một khu doanh trại tập trung đến ba, bốn vạn quân Tống do phó tướng nổi tiếng của địch là Triệu Tiết chỉ huy trên cánh đồng làng Mai Thượng (xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) đối diện với đền Xà bị đánh tan, năm sáu phần mười bị giết chết tại trận [11]. Chiến thắng vang dội của trận tập kích chiến lược đã buộc nhà Tống nhanh chóng rút quân về nước và chấm dứt xâm lược nước ta.

Qua câu truyện về giấc mộng của Lý Thường Kiệt trên núi đền Yên Phụ cho thấy người dân trong vùng đã phát hiện ra đội dân binh ở đền Xà. Thái úy Lý Thường Kiệt đã tự đến đền Xà mượn quân của Thánh Tam giang và đi đến hợp nhất lực lượng trước trận đánh lịch sử. Sau cuộc hội ngộ ở đền Xà, Lý Thường Kiệt đã huy động thêm được một đội dân binh đông đảo và không kém phần tinh nhuệ. Với lực lượng bổ xung, ông đã tạo ra tình thế bất ngờ và quyết định cho đánh thẳng vào doanh trại địch bên kia sông, kết quả là đã tiêu diệt gọn đội quân Tống hàng vạn tên trong một đêm [11]. Từ câu chuyện về bài thơ thần đọc ở đền Trương tướng quân (tức đền Xà) đến đội quân của Thánh Tam Giang, đối chiếu với lịch sử cho thấy nội dung cơ bản của trận đánh là có thật [12]. Vậy đội quân của Thánh Tam giang là đội quân nào, họ từ đâu mà ra?  Bí mật này cần được làm rõ.

  1. Đội quân của Thánh Tam giang và câu chuyện về hậu duệ của hoàng đế Lê Trung Tông (nhà Tiền Lê)

Sử liệu cho biết đền Trương tướng quân nằm trên chiến tuyến sông Như Nguyệt, nay vẫn còn và được coi là nơi phát ích của bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Trải qua hơn 1000 năm, ngôi đền luôn được nhân dân trong vùng, trong đó có một dòng họ đông đảo là hậu duệ của Hoàng đế Lê Trung Tông [13] chăm nom và tôn tạo.

Để làm rõ điều này, ta cần ngược lại dòng lịch sử và bắt gặp các sự kiện của năm 1005. Khi đó Lê Đại Hành có 12 người con trai, họ đều đã được phong vương trên 10 năm. Trong số đó có 10 người được phong đất trấn trị, còn 2 người là con trưởng và hoàng tử thứ ba là Lê Long Việt được chọn ở lại bên cạnh vua cha để rèn luyện thêm cho việc kế vị [14].

Năm 1000, người con trưởng ốm chết, Long Việt còn nhỏ nên 4 năm sau mới được lập làm Thái Tử.  Nhưng ngay năm sau (1005) tai họa ập xuống, vua cha đột ngột băng hà. Theo di chiếu của nhà vua, triều thần tôn Thái tử lên ngôi báu lấy hiệu là Trung Tông. Nhà vua lúc đó mới 22 tuổi, tình hình trở nên rối ren, vua mới bị giết chết. Khi Trung Tông chết ”Bầy tôi đều chạy chốn, duy có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc” [13].

Theo sử liệu thì Lê Long Đĩnh là người cướp được ngôi vua và phải đi đánh dẹp các nơi. Vợ và con Trung Tông nhân cơ hội đó đã theo đường hành quân đánh Tống năm xưa của Lê Đại Hành, ngược lên phía Bắc, chạy trốn về Vũ Bình Khẩu (cửa sông Cà Lồ), nơi có thành Bình Lỗ [15]. Khi đó nơi này vẫn thuộc quyền quản lý của hoàng tử thứ 7 tên là Lê Long Tung [16]. Từ đó họ định cư ở đây và dần dần phát triển thành một dòng họ lớn.

Tại Xà Đông (nay là thôn Phương La Đông, xã Tam giang, huyện Yên phong, tỉnh Bắc ninh) còn lưu giữ tộc phả của 6 chi thuộc hậu duệ Hoàng Đế Lê Trung Tông. Trong đó cụ tổ xa xưa của dòng họ này để lại 3 câu chữ Hán, dịch ra như sau: “Tránh cái hiểm họa Long Đĩnh. Chuyển gia quyến về cửa sông Cà Lồ. Giấu tung tích mà lập nghiệp” [17].  

4

Hình 4:  Trích gia phả Họ Lê Lục Chi ở làng Xà Đông

Vậy là từ năm 1005 đã có một nhánh của hậu duệ Hoàng đế Lê Trung Tông, dấu họ đổi tên, trốn chạy về vùng sông nước và rừng rậm xung quanh khu vực đền Trương tướng quân.  Cùng đi với gia quyến của vợ con Trung Tông còn có các trung thần của nhà Tiền Lê, họ là những thiền sư tài giỏi (Khuông Việt Đại sư), các tướng lĩnh, binh lính dũng cảm và cả những gia quyến của các hoàng tử không chịu thần phục nhà Lý.

Với mục đích ban đầu là để tự bảo vệ mình và xa hơn là chờ thời cơ thuận lợi khôi phục lại sự nghiệp nhà Tiền Lê, hậu duệ Hoàng đế Lê Trung Tông đã tập hợp được một lực lượng đáng kế, bí mật hoạt động suốt dọc sông Cà Lồ và Như Nguyệt. Trong thời gian 72 năm (1005 – 1077), đội quân này đã phát triển đến mức không thể dấu kín được nữa. Qua câu truyện về giấc mộng của Lý Thường Kiệt trên núi đền Yên Phụ cho thấy người dân trong vùng đã phát hiện ra. Theo dã sử thì chính Lý Thường Kiệt đã  tự đến đền Xà (đền Trương tướng quân), đại bản doanh của hậu duệ nhà Tiền Lê,  để mượn quân.

  1. Hậu duệ hoàng đế Lê Trung Tông đã đọc bài thơ NQSH ở đền Trương tướng quân

Qua câu chuyện về bài thơ thần được đọc ở đền Trương tướng quân và đội quân của Thánh Tam Giang, đối chiếu với lịch sử cho thấy nội dung cơ bản của trận đánh trên cánh đồng làng Mai Thượng là có thật. Đội quân của Thánh Tam Giang khi xông lên giết địch đã đọc bài thơ NQSH vang vọng cả bầu trời đêm khuya. Vậy đội quân của Thánh Tam giang (do phải dấu họ đổi tên) đông và mạnh đến mức nào?

5

Hình 5: Cổng dinh thự của Thừa Thiên Phủ Doãn Lê Đắc Quang (thời vua Tự Đức) ở làng Xà, nơi lưu giữ tộc phả Họ Lê Lục Chi, Hậu duệ của Hoàng đế Lê Trung Tông (Tiền Lê)

Theo sử liệu, sau chính biến năm 1005 ở Hoa Lư, ngoài Lê Long Đĩnh ra vẫn còn 7 hoàng tử nhà Tiền Lê sống sót. Theo PGS Trần Bá Chí phải đến thời cuối Lý đầu Trần, mới bắt gặp nhân vật Lê Khâm (hậu duệ nhà Tiền Lê). Còn suốt chặng đường từ Lý Thái Tông (Lý Phật Mã) đến Lý Chiêu Hoàng chưa rõ cảnh sinh hoạt của các con Lê Đại Hành như thế nào [12].

Sở dĩ như vậy bởi vì hậu duệ nhà Tiền Lê đã dấu họ đổi tên. Đến khi nhà Lý dời đô về Thăng Long (rất gần đền Trương tướng quân) thì Lê Long Tung đã bí mật đưa lực lượng của mình dời Cổ Loa vào chiếm lĩnh vùng Diễn Châu (Nghệ An) [14].

Còn Lê Long Diên (con của Hoàng đế Lê Trung Tông) khi đó do còn nhỏ nên vẫn ở lại vùng cửa sông Cà Lồ cùng với các trung thần và thân thuộc của mình. Khi Lê Long Đĩnh chết (1009) sử liệu cũng không nhắc đến Lê Long Đề [17]  nữa, có thể ông cũng đã dấu họ đổi tên và rút vào bí mật.

Khi chiến tranh Tống – Việt lần 2 nổ ra (1075 -1077), cùng với nhân dân cả nước,  các đội dân binh của hậu duệ nhà Tiền Lê cũng tự động tập hợp nhau lại và kéo về vùng cửa sông Cà Lồ, bí mật hợp sức với đội quân của hoàng tử Lê Long Diên. Nhờ đó mà hậu duệ hoàng đế Lê Trung Tông nhanh chóng lập được một đội dân binh đông đảo, lấy đền Xà làm đại bản doanh. Khi chiến sự lan đến nơi này, họ trở thành đội quân đông đảo dưới cái danh của Thánh Tam giang. Đúng lúc đó Lý Thường Kiêt đã đến đền Xà để mượn quân.

Sự thật này cho thấy bài thơ NQSH xuất hiện lần đầu từ thời Lê Đại Hành, được hậu duệ nhà Tiền Lê lưu giữ, bài thơ đã bền bỉ sống trong lòng nhân dân, rồi được nhân dân ta trong cả nước tiếp tục lưu giữ qua nhiều thế kỷ. Đến nay bài thơ còn để lại dấu tích ở 372 ngôi đền miếu khác nhau dọc hai con sông Cầu và sông Thương [18].

  1. Nhận xét

Qua những phân tích ở trên có thể đi đến khảng định chính hậu duệ Hoàng đế Lê Trung Tông (Tiền Lê) đã lưu giữ bài thơ NQSH và  96 năm sau (981 – 1077) họ lại sử dụng bài thơ để đọc ở đền Trương tướng quân.


THAM KHẢO

[1]. Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt. Lĩnh Nam Chích Quái.

https://trandinhhoanh.wordpress.com/2010/05/15/linh-nam-chich-quai-truy%E1%BB%87n-hai-v%E1%BB%8B-th%E1%BA%A7n-%E1%BB%9F-long-nhan-nh%C6%B0-guy%E1%BB%87t/

[2]. Truyện Trương Hống, Trương Hát.  Việt Điện U Linh trang 59-61, Lý Tế Xuyên

https://quangduc.com/images/file/DbM05n_d1AgQAHU7/viet-dien-u-linh-tap-ly-te-xuyen.pdf

[3]. Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Toàn, Quyển III, Nhà Lý: Nhân Tông Hoàng đế.

https://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_S%E1%BB%AD_K%C3%BD_B%E1%BA%A3n_K%E1%BB%B7_To%C3%A0n_Th%C6%B0_3:_Nh%C3%A0_L%C3%BD_(1054_-_1138)

[4]. Bùi Duy Tân: Về truyền thuyết một bài thơ: NAM QUỐC SƠN HÀ là vô danh, không phải của Lý Thường Kiệt.  http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/ve-truyen-thuyet-mot-bai-tho-nam-quoc-son-ha-la-vo-danh-khong-phai-cua-ly-thuong-kiet

[5]. Hà Văn Tấn: Lịch sử, sự thật và sử học. Báo Tổ Quốc số 401, tháng 1/1988 hoặc  http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/lich-su-su-that-va-su-hoc 

[6]. Bình Lỗ. Thành Bình Lỗ nằm trong căn cứ kháng chiến của Trương Hống, Trương Hát.  https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_L%E1%BB%97#Th%C3%A0nh_B%C3%ACnh_L%E1%BB%97_n%E1%BA%B1m_trong_c%C4%83n_c%E1%BB%A9_kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn_c%E1%BB%A7a_Tr%C6%B0%C6%A1ng_H%E1%BB%91ng,_Tr%C6%B0%C6%A1ng_H%C3%A1t

[7]. Trần Hưng: Bài thơ “Nam quốc sơn hà”  là của ai?  https://trithucvn.net/van-hoa/khong-phai-cua-ly-thuong-kiet-bai-tho-nam-quoc-son-ha-co-tu-bao-gio.html

[8]. Nguyễn Đình Hưng-VanhoaOnline. Ngày 7/2/2010: Phát hiện văn bản bài thơ “Nam quốc sơn hà”.  http://tuyengiao.vn/van-hoa/tin-hoat-dong/phat-hien-van-ban-bai-tho-nam-quoc-son-ha-17392

[9]. Thánh Tam giang. https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1nh_Tam_Giang

[10].  Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, …: Chiến thắng Như Nguyệt, mùa xuân 1077. Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. 11/2010. http://thu.vietnamdefence.com/Home/quansuvietnam/chiendich/Chien-thang-Nhu-Nguyet-mua-xuan-nam-1077/201011/49908.vnd

[11].  Nơi bắt đầu của huyền thoại Nam quốc sơn hà.

https://issuu.com/chnhledc/docs/n__i_b___t______u_c___a_huy___n_tho

[12]. Lê Trung Tông (Tiền Lê).

https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Trung_T%C3%B4ng_(Ti%E1%BB%81n_L%C3%AA)

[13]. Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn. Phần hai: Sự nghiệp chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Trần Bá Chí: Bàn thêm về sự nghiệp cứu nước và hậu duệ của Lê Hoàn.

https://lichsuhuyenbivietnam.blogspot.com/2013/03/boi-canh-lich-su-cua-le-hoan-va-viec.html

[14].  Bình Lỗ. Wikipedia.

https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_L%E1%BB%97

[15]. Lê Long Tung. Wikipedia. https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Long_Tung

[16]. Họ Lê Lục Chi: Gia phả họ Lê Đắc và nhà trưởng họ Lê Đắc Ảnh. 1990.

[17]. Lê Long Đề. Wikipedia.

 https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Long_%C4%90%E1%BB%81

[18]. Nguyễn Thị Oanh. Về thời điểm ra đời của bài thơ NQSH. Tạp chí Hán Nôm. Số 1/2002. hoặc Hồ sơ văn học. 15/11/2015.

https://phebinhvanhoc.com.vn/ve-thoi-diem-ra-doi-bai-tho-nam-quoc-son-ha/

 

3 thoughts on “Ai đã đọc bài thơ Nam Quốc Sơn Hà ở đền Trương Tướng Quân

  1. toàn dữ liệu không đáng tin cậy. Họ Lê chẳng phải trốn tránh vào thời Lý gì hết. tam nguyên vương Lê Ác Thuyên vẫn là đại liêu ban đi sứ tống rầm rầm. con cháu nhà Lê như họ Lê châu Chân Đăng, châu Phong vẫn vinh hiển đời đời, quan cao lộc hậu. Người thì là thái úy, hoàng hậu, phò mã…..

  2. Đúng, không phải cả họ Lê trốn tránh dưới thời Lý. Chỉ có một số con cháu vua Lê Đại Hành trốn thôi vì họ mới là người biết rõ cái chết bí ẩn của Hoàng đế Lê Trung Tông. Khi Trung Tông chết, bầy tôi đều chạy trốn, duy có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc. Khi đó Công Uẩn đang là chỉ huy quân cấm vệ bảo vệ vua. Vua chết nhưng không bắt được thích khách, vụ án được phong tỏa, dấu kín. Sau khi vua Lê Long Đĩnh bị giết (1009) thì cái tội “giết anh cướp ngôi” gán luôn cho ông em này. Trong khi đó vợ của Lý Công Uẩn chính là công chúa con vua Lê Đại Hành và là mẹ vua Lý Thái Tông. Khi Công Uẩn lên ngôi, bà được phong làm Trinh Minh Hoàng hậu,có quy chế xe kiệu, áo mũ vượt hơn các hoàng hậu khác, thế thì Hậu duệ nhà Tiền Lê (các em và cháu ngoại của bà) làm sao mà công khai chống lại nhà Lý được nữa. Nghĩa là nhà Lý chỉ thực hiện “ai theo thì tha, ai chống thì giết”. Vì thế người họ Lê như Lê Văn Thịnh vẫn được đỗ Tiến sĩ đầu triều và làm quan to. Chỉ đến khi do che dấu tội phạm trong nhà (dưới cái danh người nước Đại Lý) rất giỏi võ nghệ ( đó là thời điểm truy quét Hậu duệ nhà Tiền Lê sau trận Như Nguyệt) mới bị kết án với cái tội rất mơ hồ và vớ vấn “hóa hổ giết vua” mà thôi. Lê Bá Ngọc, một người họ Lê, khi được thăng đến chức Thái sư thì buộc phải đổi sang họ khác. Nghĩa là nhà Lý vẫn sợ Hậu duệ nhà Tiền Lê đòi lại ngôi vị của mình. Cho nên Hậu duệ nhà Tiền Lê phải dấu họ đổi tên suốt 200 năm dưới vương triều Lý đúng như PGS Trần Bá Chí đã tổng kết: suốt từ Lý Thái Tông đến Lý Chiêu Hoàng không thấy con cháu vua Lê Đại Hành ở đâu. Họ vẫn âm thầm chống lại nhà Lý và cuối cùng mới thấy Lê Khâm, Lê Phụ Trần xuất hiện đi theo phù giúp Trần Thủ Độ, dựng lên nhà Trần, giúp nhà Trần chống quân Nguyên Mông (như Lê Phụ Trần, Trần Bình trọng…).

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s