Về cuốn sách The Genesis of East Asia, 221 BC. – AD. 907 (Khởi nguyên của Đông Á, từ năm 221 TCN đến năm 907 SCN)

9780824824150

Hà Văn Thùy

Trong chuyên luận Lịch sử phương Đông và nền sử học không ADN (1), của chúng tôi có đoạn:

“Một sự thực được phơi bày: nhân chủng học là khoa học tự nhiên nên việc tìm nguồn gốc con người không chỉ cần phương pháp luận đúng mà còn rất cần một công nghệ thích hợp. Công nghệ hiệu quả nhất mà khoa học sáng tạo được ở thế kỷ trước là đo sọ: đo những chỉ số của sọ người như chiều dọc, chiều ngang hộp sọ, chiều rộng hố mắt, độ nổi của vành mày, mặt nghiêng hay mặt đứng… rồi từ tỷ lệ giữa chúng mà xếp thành từng chủng người. Công nghệ này gặp nhiều trở ngại. Trước hết là những mẫu sọ cổ thường được phát hiện ngẫu nhiên, vì vậy việc khảo cứu chúng không thể tiến hành theo hệ thống. Mặt khác, số mẫu vật tìm được thường rất ít nên không đủ độ tin cậy trong thống kê học. Nhưng quan trọng nhất, là những số đo các bộ phận của sọ chỉ là biểu hiện đặc điểm bề ngoài (fenotipe), không phản ánh chính xác bản chất giống nòi. Do vậy phương pháp đo sọ không đạt độ tin cậy cần thiết. Công nghệ đo sọ tuy đưa tới những khám phá ban đầu về nhân loại: Loài người gồm ba đại chủng Australoid, Mongoloid và Europid… nhưng việc định loại con người ở bậc phân loại thấp hơn (chủng người race) gặp nhiều khó khăn và thiếu chính xác. Thất bại của Nhân học đã kéo theo thất bại của Sử học thế kỷ XX. Có hai lý do để khẳng định Sử học phương Đông thế kỷ XX không đáng tin:

  1. Loài người hay một chủng người xuất hiện tới nay trên mặt đất đều có một quá trình. Nhưng do chưa biết quá trình đó nên các nghiên cứu về con người phải bỏ qua thời tiền sử để khảo cứu nó từ 2000 năm cách nay. Khi chưa biết gốc thì mọi chuyện nói về ngọn đều không có cơ sở.
  2. Cũng do chưa xác định được nguồn gốc và quá trình hình thành của mỗi chủng người nên mọi khảo cứu về nó dựa vào hình dáng, chất liệu các rìu đá, hoa văn khắc trên đồ gốm rồi ngôn ngữ… đều chỉ là những chứng cứ gián tiếp, không phản ánh đúng sự thực.

Đúng như nhận định của nhà nhân học người Mỹ Jared Diamond: “Giờ không còn là lúc chơi với những mẩu xương và những hòn đá nữa. Những gì thuộc về con người mà không được di truyền học xác nhận đều không đáng tin cậy.” Do vậy, có thể kết luận: về cơ bản, Sử học phương Đông thế kỷ XX không phản ánh đúng thực chất những gì diễn ra trong quá khứ. Đó là nền Sử học thất bại, đã bị khoa học phủ định.”

Tuy nhiên, có sự thực là, cái nền sử học đã chết cả về hồn và xác ấy, vẫn tiếp tục quá trình gieo rắc tác hại của nó mà cuốn The Genesis of East Asia, 221 BC. – AD. 907 (Khởi nguyên của Đông Á, từ năm 221 TCN đến năm 907 SCN) (2) là một thí dụ. Cuốn sách bất cập ngay từ nhan đề khi cho rằng lịch sử Đông Á chỉ được bắt đầu từ năm 221 TCN! Hoàn toàn không phải như vậy. Đông Á có lịch sử lâu dài, không chỉ là giai đoạn tiền sử 40.000 năm mà còn là thời Hoàng Kim rực rỡ Hạ, Thương, Chu! Thời kỳ sau năm 221 BC chỉ là giai đoạn chuyển tiếp muộn màng. Danh không chính ắt ngôn không thuận.

 Tử huyệt của cuốn sách là tác giả trượt dài theo những sai lầm của sử học thế kỷ XX, khi các học giả của Viễn Đông Bác Cổ miệt mài viết về lịch sử văn hóa phương Đông mà chẳng hề biết người Hán, người Việt, người Nhật, người Triều Tiên nguồn gốc từ đâu, có quá trình lịch sử ra sao để hiện diện trên đất châu Á như hôm nay?! Hay nói cụ thể hơn, họ hiểu lịch sử phương Đông theo một định kiến sai lầm: “người Hán từ phía Tây xâm nhập Nam Hoàng Hà xây dựng văn minh Hoa Hạ sau đó đem văn minh Hoa Hạ khai hóa các sắc dân man di phương Nam, làm nên con người và văn minh phương Đông!”

Trong khi đó, thực tế lịch sử đã diễn ra hoàn toàn khác, tới mức trái ngược. Khi sang thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, di truyền học, từ khảo sát ADN dân cư châu Á, đã khám phá: 70.000 năm trước, người hiên đại Homo sapiens từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ tới Việt Nam. Tại đây, những dòng di cư hòa huyết sinh ra người Việt cổ mã di truyền Australoid, sau này được gọi là người Lạc Việt. Rồi từ đất mẹ, người Việt lan tỏa khắp châu Á, chiếm lĩnh Hoa lục 40.000 năm trước! Khám phá này dẫn tới sự thật ngoạn mục: Người Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên là con cháu của người Lạc Việt. Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa. Chữ Việt là chủ thể tạo nên chữ viết Trung Hoa. Văn hóa Lạc Việt là chủ thể làm nên văn minh Trung Quốc! (3) Vâng, sự thật này chỉ được phát hiện vào thập niên đầu của thế kỷ mới. Do vậy, nó hoàn toàn không có mặt trong cuốn sách in năm 2001 của Charles Holcombe. Và cố nhiên, cuốn sách chịu chung số phận những tư tưởng lỗi thời của thế kỷ trước!

Có thể chọn ra ở đây những sai lầm nổi bật.

-Do không biết người Nhật là ai, người Trung Quốc là ai nên tác giả cho rằng lịch sử ban đầu của Nhật Bản tương đồng với lịch sử Trung Hoa. Hoàn toàn không phải vậy. Di truyền học cho thấy, 30.000 năm trước, người Việt cổ đã có mặt trên đất Nhật. Khoảng 20.000 năm trước, người Lạc Việt từ Nam Dương Tử mang rìu đá mới Hòa Bình cùng công nghệ gốm tới Nhật, làm nên văn hóa Jomon. 15.000 năm trước, khi nước biển dâng như mức hiện nay, quần đảo Nhật Bản tách khỏi đất liền châu Á, trở thành vùng đất bị cô lập. Chỉ 400 năm TCN, do sức ép của xung đột thời Chiến Quốc, hàng triệu người Việt ở duyên hải phía Đông Trung Hoa, qua bán đảo Triều Tiên di cư tới Nhật, mang theo nền văn hóa nông nghiệp tiến bộ, làm nên văn hóa Yayoi. Như vậy, Nhật là dân cư trẻ nhất trong các dân tộc Đông Á. (4), (5)

Nhiều kỹ thuật đột phá mới, kể cả việc trồng lúa gạo, được xem là đã du nhập vào vùng này từ người Việt hay, trong một vài trường hợp, có thể từ những người vùng Trung Nguyên Trung Hoa sinh sống xa hơn về phía bắc.

Một tri thức như vậy cũng quá xưa, bị thực tế khảo cổ học phủ định. Chính tại phía Nam Dương Tử, 12.400 năm trước, người Việt thuần hóa lúa nước sớm nhất thế giới. Cũng là từ đây, người Lạc Việt mang giống lúa, giống kê, giống gà, giống chó đi lên xây dựng văn hóa Giả Hồ, Ngưỡng Thiều trên lưu vực Hoàng Hà.(6)

Những sử ký Việt Nam bản xứ cổ xưa nhất, có niên đại từ thế kỷ 14, nói về một vương quốc Văn Lang độc lập được thành lập tại khu vực chung của Việt Nam trong khoảng thế kỷ thứ 7 tr CN và đã tồn tại qua mười tám đời vua. Hơn nữa, thần thoại này có thể nói gần như trùng hợp với nền văn hóa Đông Sơn mà đã được khám phá về mặt khảo cổ học. Các học giả Việt Nam hiện đại đã mau chóng gắn nước Văn Lang này với các nguồn gốc của một “dân tộc” Việt Nam.

Do không thể cập nhật thông tin nên Charles Holcombe không thể ngờ rằng, quốc gia đầu tiên của người Lạc Việt là nhà nước của Thần Nông, được thành lập 5300 năm trước mà kinh đô là Lương Chử tỉnh Chiết Giang, có diện tích ba triệu mét vuông, với bức tường thành vĩ đại dài 1900 m, rộng 1500 m, có đáy 60 m, cao 40 m, bề mặt 40 m. Xích Quỷ, Việt Thường, Văn Lang là hậu thân của nhà nước vĩ đại đó trải những thời kỳ khác nhau. Điều mà tác giả cho là “Những truyền thuyết Việt Nam cổ xưa sơ sài này được thu thập từ các nguồn tài liệu Trung Hoa mơ hồ và cổ xưa hơn nữa, vốn được biên soạn phần lớn vào các thế kỷ thứ 6 và thứ 7, và có thể không đáng tin cậy lắm,” thực tế đó là ký ức của người Lạc Việt, dân cư của những vương quốc Xích Quỷ, Việt Thường, Văn Lang cổ xưa. Trên đất Trung Quốc, những câu chuyện lưu truyền trong dân gian được ghi chép vào thời nhà Đường, sớm hơn trên đất Việt. Điều này phản ánh một thực tế là, dù được ghi lại vào những thời gian khác nhau nhưng đó là truyền thuyết của dân cư “cùng một bọc – đồng bào” từng sống trong cùng một đất nước.(7)

– Cũng do không thể tiếp cận tri thức mới của thế kỷ XXI nên tác giả mắc sai lầm khi cho rằng An Dương Vương là “ông hoàng xâm lược” từ vùng đất Tứ Xuyên, cũng như Triệu Đà là dân Trung Nguyên bản địa,  đã “bị biến đổi bởi các phong tục của dân mọi rợ phương nam” và ở chừng mực nào đó “trở thành dân bản xứ.”Không, sự thật lịch sử xác nhận, Thục Phán cũng như Triệu Đà là người Việt, là con cháu của người Lạc Việt đi lên khai phá Hoa lục trước đây, khi hoàn cảnh lịch sử cho phép, đã trở về quê cũ, lãnh đạo nhân dân xây dựng, bảo vệ đất nước. (8), (9)

– Chính vì coi năm 221 là khởi nguyên của Đông Á đã đẫn tác giả tới nhận định vô cùng chủ quan khinh suất: về sự xuất hiện của quốc gia Việt Nam đầu tiên vào năm 939. Đấy quả là một sự liều lĩnh vượt quá mọi giới hạn của một đầu óc bình thường!

Cũng như cuốn  A history of Vietnamese của Keith Weller Taylor, cuốn The Genesis of East Asia, 221 BC. – AD. 907 của Charles Holcombe đã bị thực tế lịch sử bỏ qua. Không những không giúp người đọc hiểu biết mà còn là sự xuyên tạc nghiêm trọng lịch sử Việt Nam. Khi được coi là sách giáo khoa, vô hình trung nó trở thành công cụ đưa tuổi trẻ phương Tây lạc đường. Bản dịch của dịch giả Ngô Bắc (10) giúp ta nhận ra hai điều. Một là thực trạng lạc hậu thê thảm của Đông phương học Hoa Kỳ. Và hai, thúc giục chúng ta cần nhanh chóng quảng bá lịch sử chân thực của dân tộc Việt, của phương Đông để cứu rỗi học giới phương Tây!

The Genesis of East Asia, 221 BC. – AD. 907 là cuốn sách công phu, bằng ngòi bút tài hoa và trung thực, khai thác triệt để tư liệu giá trị nhất của lịch sử phương Đông thế kỷ XX, tác giả tưởng rằng đã dựng lên tòa lâu đài vàng son cho lịch sử Việt Nam. Đáng tiếc, đó lại là thứ hàng mã dùng để CẦU SIÊU CHO MỘT NỀN SỬ HỌC KHÔNG ADN.

                                                                                                                               Sài Gòn, 1.5.2019

 

Tài liệu tham khảo

  1. Hà Văn Thùy. Lịch sử phương Đông và nền sử học không ADN. Văn hóa học http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-the-gioi/vh-phuong-dong-nhung-van-de-chung/2921-ha-van-thuy-lich-su-phuong-dong-va-nen-su-hoc-khong-adn.html
  2. Charles Holcombe. The Genesis of East Asia, 221 BC. – AD. 907. Association for Asian Studies and University of Hawaii Press, Honolulu, 2001, P. 145-164
  3. Hà Văn Thùy. Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt. NXB Hội Nhà văn. H, 2016
  4. Jared Diamond: Japanese Roots. Just who are the Japanese? Where did they come from, and when?

              http://www2.gol.com/users/hsmr/Content/East%20Asia/Japan/History/roots.html

  1. Hugh McColl et al. The prehistoric peopling of Southeast Asia. Science 6 July 2018. http://www.himalayanlanguages.org/files/driem/pdfs/2018e.pdf
  2. Hà Văn Thùy. Khám phá lịch sử Trung Hoa. NXB Hội Nhà văn. H, 2016
  3. Hà Văn Thùy. Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại đến hiện thực. NXB Hội Nhà văn. H. 2017
  4. Hà Văn Thùy. Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt. NXB Hội Nhà văn, H, 2016
  5. Hà Văn Thùy. Nhà Triệu mấy vấn đề lịch sử. NXB Hội Nhà văn. H, 2017
  6. Charles Holcombe. Nguồn gốc cổ xưa của đất nước Việt Nam. Bản dịch của Ngô Bắc. Thôn Minh triết. https://www.thonminhtriet.com/

                                                                                                        

 

Advertisements

2 thoughts on “Về cuốn sách The Genesis of East Asia, 221 BC. – AD. 907 (Khởi nguyên của Đông Á, từ năm 221 TCN đến năm 907 SCN)

  1. Thời đại Văn Lang – Âu Lạc trong lịch sử Việt Nam: Từ truyện ký đến tín sử

    (Việt Nam, tháng 05 năm 2019. Tích Dã thủ bút)

    Tín sử Việt Nam từ thời đại Hai Ba Trưng về sau khi tiếp xúc và ảnh hưởng của văn minh Trung Quốc là khá rõ ràng. Từ thời Hai Ba Trưng trở về trước, có thời đại Văn Lang- Âu Lạc mà những sự kiện và nhân vật lịch sử của thời đại này phải qua trung gian gián tiếp mới được chép đến. Thời đại Văn Lang-Âu Lạc đặc thù ở Việt Nam chưa tiếp xúc và chưa ảnh hưởng nhiều với văn minh Trung Quốc, cho nên thông tin về Việt Nam chưa đến tai người Trung Quốc, hoặc thông tin rất ít ỏi và mù mờ. Thông qua các truyện ký của các tác giả người Trung Quốc sau khi họ du lịch hoặc sang làm quan ở Giao châu thời Hán-Tấn hoặc An Nam đô hộ phủ thời Đường thì thời đại Văn Lang-Âu Lạc mới được ghi chép trong sách vở, và bắt đầu được các tác giả đưa vào tín sử.

    Liệt kê lần lượt các sách truyện ký được các tác giả trích dẫn qua các thời như sau:

    1. Sử ký – Nam Việt liệt truyện (Tư Mã Thiên thời Hán soạn, Bùi Nhân thời Lưu Tống tập giải, Tư Mã Trinh thời Đường sách ẩn, Trương Thủ Tiết thời Đường chính nghĩa) dẫn Quảng châu ký (Bùi Uyên thời Tấn soạn) chép: 交趾有駱田,仰潮水上下,人食其田,名為駱人。有駱王、駱侯。諸縣自名為駱將,銅印青綬,即今之令長也。後蜀王子將兵討駱侯,自稱為安陽王,治封溪縣。後南越王尉他攻破安陽王,令二使典主交阯、九真二郡人。 Đất quận Giao Chỉ có ruộng Lạc, dân trông nước thủy triều lên xuống mà làm ăn ở ruộng ấy nên đặt tên là người Lạc. Có các chức Lạc Vương-Lạc hầu, các huyện tự đặt chức Lạc tướng đeo ấn đồng dải xanh, tức là chức Lệnh-Trưởng ngày nay vậy. Sau đó con vua Thục đem quân đánh Lạc hầu, tự xưng là An Dương Vương, trị ở huyện Phong Khê. Sau nữa vua Nam Việt là Úy Tha đánh phá An Dương Vương, sai hai sứ giả điển chủ người hai quận Giao Chỉ-Cửu Chân.

    2. Thủy kinh chú – Diệp Du hà (Lịch Đạo Nguyên thời Bắc Ngụy soạn) dẫn Giao châu ngoại vực kí (tác giả khuyết danh thời Tấn) chép: 交趾昔未有郡縣之時,土地有雒田,其田從潮水上下,民墾食其田,因名為雒民,設雒王、雒侯,主諸郡縣。縣多為雒將,雒將銅印青綬。後蜀王子將兵三萬來討雒王、雒侯,服諸雒將,蜀王子因稱為安陽王。後南越王尉佗舉衆攻安陽王,安陽王有神人名臯通,下輔佐,為安陽王治神弩一張,一發殺三百人,南越王知不可戰,却軍住武寧縣。按《晉太康記》,縣屬交趾。越遣太子名始,降服安陽王,稱臣事之。安陽王不知通神人,遇之無道,通便去,語王曰:能持此弩王天下,不能持此弩者亡天下。通去,安陽王有女名曰媚珠,見始端正,珠與始交通,始問珠,令取父弩視之,始見弩,便盜以鋸截弩訖,便逃歸報南越王。南越進兵攻之,安陽王發弩,弩折遂敗。安陽王下船逕出于海,今平道縣後王宮城見有故處。《晉太康地記》,縣屬交趾,越遂服諸雒將。Đất Giao Chỉ ngày xưa khi chưa đặt thành quận huyện, đất đai có ruộng Lạc, dân làm ăn ở ruộng ấy theo nước thủy triều lên xuống, nhân đó có tên là dân Lạc, đặt ra Lạc Vương-Lạc Hầu để làm chủ các quận huyện, huyện phần nhiều có chức Lạc tướng, Lạc tướng đeo ấn đồng thao xanh. Sau có con vua Thục đem ba vạn lính đánh Lạc Vương-Lạc hầu, chinh phục các Lạc tướng, con vua Thục nhân đó xưng là An Dương Vương. Sau nữa vua Nam Việt là Úy Đà đem quân đánh An Dương Vương, An Dương Vương có người thần tên là Cao Thông xuống phụ tá, làm cho An Dương Vương một chiếc nỏ thần, bắn một phát giết ba trăm người, vua Nam Việt biết không đánh được, rút quân về đóng ở huyện Vũ Ninh. Xét sách Tấn Thái Khang kí chép huyện này thuộc quận Giao Chỉ. Vua Nam Việt sai Thái tử tên là Thủy hàng phục An Dương Vương, xưng thần mà thờ vương. An Dương Vương không biết Thông là người thần, đối đãi không phải đạo, Thông bèn bỏ đi, bảo vương rằng: “Giữ được nỏ này thì làm vương thiên hạ, không giữ được nỏ này thì mất thiên hạ.” Thông đi rồi, An Dương Vương có con gái tên là Mị Châu thấy Thủy đoan chính, Châu thông giao với Thủy, Thủy hỏi Châu xin lấy nỏ của cha ra cho mình xem, Thủy thấy nỏ, bèn lén cưa đứt lẫy nỏ rồi trốn về báo cho vua Nam Việt. Vua Nam Việt tiến binh đánh vương, An Dương Vương bắn nỏ thì nỏ đã gãy, liền thua. An Dương Vương xuống thuyền đi tắt ra ở ngoài biển, thành cung cũ của vương ở huyện Bình Đạo ngày nay còn thấy vết tích. Tấn Thái Khang địa kí chép huyện này thuộc quận Giao Chỉ. Vua Nam Việt bèn chinh phục các Lạc tướng.

    3. Hậu Hán thư – Địa lý chí (Phạm Diệp thời Lưu Tống soạn, Lý Hiền thời Đường chú giải) chép: 交趾郡武帝置,即安陽王國。Quận Giao Chỉ đặt ra ở thời (Hán) Vũ Đế, là nước của An Dương Vương.

    4. Bắc Đường thư sao (Ngu Thế Nam thời Đường soạn) dẫn Giao châu ký (Lưu Hân kỳ thời Tấn soạn) chép: 安陽王者其城在平道縣之東北林賀周相睪通徐作神弩趙曲者南越王佗之孫屢戰不克矯託行人因得與安陽王女媚珠通截弦而兵既重交一戰而霸也。An Dương Vương có thành ở phía đông bắc của huyện Bình Đạo, có (người thần là) Cao Thông làm ra chiếc nỏ thần. Triệu Khúc là cháu của vua Nam Việt tên Đà nhiều lần đến đánh nhưng không thắng, bèn muợn cớ gửi người sang nhân đó mà thông giao với con gái của An Dương Vương là Mị Châu, cắt đứt dây nỏ mà đem binh sang đánh nữa, bèn một trận là xưng bá vậy.

    5. Cựu Đường thư – Địa lý chí (Lưu Hú thời Hậu Tấn soạn) dẫn Nam Việt chí (Thẩm Hoài Viễn thời Tiêu Lương soạn) chép: 交趾之地,最為膏腴。舊有君長曰雄王,其佐曰雄侯。後蜀王將兵三萬討雄王,滅之。蜀以其子為安陽王,治交趾。其國地,在今平道縣東。其城九重,周九里,士庶蕃阜。尉佗在番禺,遣兵攻之。王有神弩,一發殺越軍萬人,趙佗乃與之和,仍以其子始為質。安陽王以媚珠妻之,子始得弩毀之。越兵至,乃殺安陽王,兼其地。Đất quận Giao Chỉ rất là màu mỡ, ngày xưa có quân trưởng gọi là Hùng Vương, phụ tá là Hùng Hầu. Sau có vua Thục đem ba vạn lính đánh diệt Hùng Vương đi. Vua Thục nhân đó cho con mình làm An Dương Vương, trị đất Giao Chỉ. Đất nước ấy ở phía đông huyện Bình Đạo ngày nay. Thành nước ấy có chín vòng, chu vi chín dặm, dân chúng đông đúc. Úy Đà đóng đô ở thành Phiên Ngu phát binh sang đánh. Vương có nỏ thần bắn một phát giết một vạn quân Việt. Triệu Đà bèn hòa với vương, rồi sai con mình tên là Thủy làm con tin. An Dương Vương đem con gái tên là Mị Châu gả cho Thủy, Thủy thấy được nỏ thần bèn hủy đi. Kịp khi quân Việt đến liền giết An Dương Vương, chiếm cả nước ấy.

    6. Thái Bình ngự lãm (Lí Phưởng thời Bắc Tống soạn) dẫn Nhật Nam truyện (tác giả khuyết danh thời Tấn) chép: 南越王尉佗攻安陽。安陽王有神人睪通爲安陽王治神弩一張,一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄。Vua Nam Việt là Úy Đà đánh An Dương Vương. An Dương Vương có người thần là Cao Thông giúp An Dương Vương làm một chiếc nỏ thần, bắn một phát giết chết một vạn người, bắn ba phát giết ba vạn người. Đà bèn rút lui, sai Thái tử tên là Thủy hàng An Dương Vương. An Dương Vương không biết Thông là người thần, đối đãi không phải đạo lí, Thông bỏ đi. Thủy có dáng vẻ đẹp đẽ, con gái An Dương Vương tên là Mị Châu thích dáng vẻ ấy mà giao thông với Thủy. Thủy cùng Châu vào kho, lén cưa đứt lẫy nỏ thần, rồi trốn về báo cho Đà. Đà liền ra chỗ không ngờ mà đánh, An Dương Vương vì nỏ gãy quân thua, bèn vượt biển bỏ trốn.

    Những ghi chép trên là của các tác giả thời Tấn về sau, ít nhất cách thời đại Văn Lang – Âu Lạc khoảng 300 – 400 năm. Các tác giả ấy không thể tự mình biết các sự kiện và nhân vật thời kỳ ấy, mà họ phải đọc các sách thời trước. Xét đất Giao châu lần lượt nội thuộc nước Nam Việt, Tây Hán, Đông Hán, Đông Ngô trước khi nội thuộc nhà Tây Tấn, Đông Tấn và Nam triều Lưu Tống – Tiêu Tề – Tiêu Lương – Trần rồi đến thời Tùy-Đường.

    Âu Lạc bắt đầu nội thuộc Nam Việt từ thời Triệu Đà đánh phá An Dương Vương. Sử ký – Nam Việt liệt truyện chép sau khi Lữ Hậu mất (năm 180 trước Công nguyên), “Đà đem quân uy hiếp biên giới, đem tài vật mua chuộc các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc, bắt các nước này thần phục theo mình, đông tây vạn dặm”. Triệu Đà cũng gửi thư cho Hán Văn Đế là Lưu Hằng rằng “phía tây, Âu Lạc là nước cởi trần cũng xưng vương.” Tây Âu Lạc hay Âu Lạc là chỉ nước Âu Lạc của An Dương Vương. Âu Lạc nội thuộc Nam Việt thời điểm năm 180 trước Công nguyên, xét ra cũng phù hợp với truyện ký đã dẫn ở trên và phù hợp với tiến trình lịch sử dựng nước Nam Việt của Triệu Đà. Vào năm Tần Thủy Hoàng thứ ba mươi ba (năm 214 trước Công nguyên) lược định đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận (bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và một phần các tỉnh Quý Châu, Hồ Nam ngày nay), bấy giờ Triệu Đà được làm quan Huyện lệnh Long Xuyên thuộc quận Nam Hải. Sau khi nhà Tần mất dẫn đến Hán Sở tranh hùng thành lập nhà Hán (năm 206 – 202 trước Công nguyên) thì Triệu Đà cát cứ lấy ba quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận và xưng Nam Việt Vũ Vương. Khoảng 20 năm dựng nước tích trữ lương thảo và nuôi dưỡng sĩ dân của nước Nam Việt thì Triệu Đà mới có đủ nhân lực, vật lực chống trả cuộc tấn công của nhà Hán thời Lữ Hậu sai tướng Long Lư Hầu là Chu Táo sang đánh và đủ sức khuếch trương sức mạnh ra các nước xung quanh, đó là “đánh biên ấp của nước Trường Sa, phá mấy huyện rồi rút về”, “đem quân uy hiếp biên giới, đem tài vật mua chuộc các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc”. Thời điểm này, Triệu Đà có sai Thái tử là (Triệu) Thủy sang làm tin và lấy con gái An Dương Vương là Mị Châu cũng khá phù hợp. Tạm tính Triệu Đà xưng Nam Việt Vũ Vương (năm 206 – 202 trước Công nguyên), xưng vương là dựng triều nghi đặt bách quan, lập Vương hậu và bắt đầu sinh Thái tử Thủy, đến lúc chinh phục Âu Lạc (năm 180 trước Công nguyên) là khoảng trên 20 năm, là đủ tuổi để Thái tử Thủy lấy Mị Châu rồi.

    Sau khi Âu Lạc nội thuộc Nam Việt, truyện ký về An Dương Vương cũng như lịch sử của Âu Lạc có thể được người Nam Việt bắt đầu ghi lại. Vì thông thường kẻ chinh phục ít nhiều phải điều tra thân thế sự nghiệp của đối thủ, đối thủ của Triệu Đà là An Dương Vương, qua đó gián tiếp biết thêm về Lạc Vương (Hùng Vương), và điều tra về địa lý, nhân khẩu, lịch sử của vùng đất Âu Lạc bị chinh phục nữa. Những thông tin về lịch sử Âu Lạc và thân thế Lạc Vương An Dương Vương lưu truyền qua thời Nam Việt, Tây Hán, Đông Hán, Đông Ngô đến thời Tấn được ghi lại trong các sách truyện ký đã dẫn là rất tự nhiên. Đây là cách tiếp cận thông tin chủ yếu vào thời xưa. Có thể lấy ví dụ, nhà Hán đương thời biết chuyện các nước Dạ Lang và Điền thông qua cuộc nói chuyện của sứ giả nhà Hán là Đường Mông với người Nam Việt, rồi hỏi nhà buôn đất Thục từng buôn bán ở các nước Tây Nam Di mới biết có nước Dạ Lang ở bên sông Tường Kha, từ đó nhà Hán phát binh đánh Dạ Lang, lược định các nước Tây Nam Di đặt thành bảy quận (bao gồm phần nam bộ tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu ngày nay), từ đó mới biết về lịch sử các nước Dạ Lang. Xem ở Sử ký – Tây Nam Di liệt truyện. Nhà Hán bình định Nam Việt chia thành chín quận (bao gồm Lưỡng Quảng, đảo Hải Nam và Bắc bộ Việt Nam ngày nay), trong đó có quận Giao Chỉ vốn là nước Âu Lạc của An Dương Vương, lẽ thường khi nhà Hán tiếp quản quận Giao Chỉ từ nước Nam Việt thì thu lấy sổ sách và điều tra lịch sử của quận Giao Chỉ thì sự tích An Dương Vương cũng được ghi lại. Ví dụ xa hơn nữa về cách tiếp cận thông tin gián tiếp, đó là sự tích về thời nhà Hạ và Ngũ Đế (Hiên Viên, Chuyên Húc, Cao Tân, Nghiêu, Thuấn), có thể được lưu truyền trong sách vở (hoặc các giáp cốt văn, minh văn) từ thời Thương-Chu về sau. Kẻ chinh phục nhà Hạ là nhà Thương có thể đã dùng văn tự ghi lại sự tích về đối thủ của mình là nhà Hạ, và gián tiếp ghi lại sự tích về Ngũ Đế. Dù sao thì văn tự hình thành có hệ thống từ thời Thương-Chu (giáp cốt văn, triện văn) thì truyện ký về thời trước đó là thời nhà Hạ và Ngũ Đế phải được ghi lại từ thời Thương-Chu vậy.

    Lịch sử Văn Lang-Âu Lạc qua truyện ký ghi lại, ít nhất có từ thời Tấn có các sách Giao cháu ngoại vực ký (交州外域記), Giao châu ký (交州記), Quảng châu ký (廣州記), Nhật Nam truyện (日南傳), Nam Việt chí (南越志), trải qua thời Nam bắc triều, Tùy, Đường đều được các sách ghi lại, và chính thức được tín sử trích dẫn ở Cựu Đường thư (舊唐書) của tác giả Lưu Hú (劉昫) thời Ngũ đại thập quốc (thế kỷ 10 sau Công nguyên). Đó là cơ sở truyện ký và tín sử để khẳng định thời đại Văn Lang-Âu Lạc của Hùng Vương-An Dương Vương là thời đại dựng nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.

  2. Vậy Thần Vũ Thiên Hoàng trong truyền thuyết của người Nhật là người Việt sao, Hoàng gia Nhật Bản bây giờ là con cháu người Việt hả tác giả. Năm xưa người Nhật muốn xây dựng một Đại Đông Á chắc là họ muốn thống nhất tộc Việt lại đó, nên họ mới xâm lăng Triều Tiên, Trung Hoa Dân Quốc và Việt Nam, còn một số nước đông nam á nữa. Nền văn minh Việt Nam phát triển rực rỡ nhất và cổ xưa nhất thế giới luôn. 40.000 năm trước liệu dân tộc Lạc Việt đã xuất hiện chưa. Tác giả đưa ra nhiều luận thuyết nhưng không thấy một bằng chứng khảo cổ nào cả mà chỉ dựa vào các nghiên cứu đi truyền không biết ở đâu, do ai, tổ chức nào nghiên cứu, đã công bố ở đâu. Người ta muốn biết sự thật lịch sử hay một truyền thuyết nào dfos có thật hay không thì chủ yếu dựa vào thì chép và khảo cổ. Trong khi những luận thuyết mà tác giả đưa ra không chỉ có mổi bài này mà còn nhiều bài đăng khác nữa chả thấy nói đến kết quả khảo cổ hay phát hiện thì chép lịch sử gì cả. Xin thưa với tác giả là bên Hàn Quốc người ta con chứng minh rằng kinh dịch, chữ hán là của người Triều Tiên, và lịch sử cùng với văn minh Triều Tiên là khởi nguồn của nền văn minh Trung Quốc, Nhật Bản cà cả khu vực Đông Á kìa. Họ còn đưa ra bằng chứng và thấm chí dựng thành phim kể về Xuy Vưu chiến thắng Hoàng Đế chứ không phải như
    Lịch sử Trung Quốc ghi chép. Không chừng không bao lâu nữa lại nổ ra tranh cãi giữa tác giả và các học giả Hàn Quốc về vấn đề người Việt hay người Hadn là chủ nhân của Văn minh Trung Hoa. Có khi nào tấc giả đăng viết bài nói về nền văn minh Atlantic thực tễ là nền văn minh của người Việt không hay là nền văn minh của người Việt phát triển rực rỡ hơn nền văn minh Atlantic. Hay là tác giả cao thể theo hướng này để viết bài này: Người Việt đi lên khai phá hoa lược rồi vượt biển đến Atlantic tạo nền văn minh Atlantic hay truyền bá kiến thức cho người Atlantic. Hoặc có thể nghiên cứu xem cấc bức tượng ở đảo phục sinh có phải là của người Việt không, hay là Kim tự tháp ở Ai Cập là của người Việt. Còn kim tự tháp của người maya ở châu mỹ chắc chắn là của người Việt rồi vì tác giả công bố người Việt làm nên cư dân châu mỹ mà. Ý mà hình như người da đỏ châu mỹ thuộc đại chủng mongoloic mà, còn người cổ xưa mà tác giả nhạc tới thuộc đại chủng autraloid mà.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s