Quan hệ triều cống Trung-Xiêm 1282-1853

h-sepping-wright-siamese-envoys-paying-tribute-to-emperor-of-china-illustration-hutchinsons-history-of-nations_a-G-6247752-8880731

Phái bộ Siam dâng cống phẩm lên triều đình nhà Minh (ảnh: Hutchinsons History of Nations)

Tác giả: Suebsaeng Promboon

Luận văn tiến sĩ lịch sử tại đại học Wisconsin (University of Wisconsin), 1971

Nguyễn Quốc Vương dịch

Lời nói đầu 

Tất cả các sinh viên ngành lịch sử ngoại giao Trung Hoa hầu như chắc chắn đã quen với khái niệm “hệ thống triều cống”- thứ chứa đựng tất cả các khía cạnh trong các mối quan hệ ngoại giao của Trung Quốc. Sự hiểu biết về tư tưởng chủ yếu, sự phát triển và chức năng của nó là điều kiện tiên quyết để tìm hiểu và giải thích sâu hơn tư cách của Trung Quốc trong các vấn đề ngoại giao.

Điều quan trọng tương tự là cách nhìn nhận các nhà nước triều cống  với mối quan hệ triều cống Trung Quốc. Gần đây, một số học giả có danh tiếng đã tiến hành nhiều nghiên cứu ấn tượng về hệ thống triều cống nhưng hầu như tất cả các nghiên cứu đó quá nhấn mạnh tới tư tưởng của Trung Quốc và không mấy cố gắng thẩm tra động cơ thực sự của các nước tiến hành triều cống. Kết quả là, hệ thống triều cống của Trung Quốc đã bị đối xử bất công. Các ghi chép chi tiết về các hoạt động triều cống  hầu như đã không được đụng tới. Thông tin chi tiết về mục đích ẩn sâu của các nước chư hầu cần phải được hiểu rõ hơn qua hệ thống phức tạp này.

Xiêm, nước đã bị Trung Quốc coi là nước triều cống cung cấp cho chúng ta một trường hợp tiêu biểu để nghiên cứu bởi vì mối quan hệ của nó với Trung Quốc không phải chỉ là mối quan hệ kéo dài mà nó còn được dựa trên bầu không khí thân thiện. Hơn nữa,  các hoạt động của các phái đoàn sứ giả Xiêm, được ghi lại một cách thường xuyên và cung cấp cho chúng ta đủ chi tiết để làm rõ bản chất thực sự của sự tương tác này. Thêm vào đó, việc chưa có một nghiên cứu toàn diện nào về đề tài này đã khiến tôi thực sự muốn thử sức.

Tác phẩm này sẽ giới hạn trong việc thảo luận về mối quan hệ Trung-Xiêm trong các thời kì Sukhothai, Authaya và Bangkok. Thời đại Thonburi (1767-1782) ngắn ngủi được xếp trong thời kì Bangkok. Công việc chính của tôi là là xác định xem rốt cuộc mối quan hệ đó là gì,  Trung Quốc tự bản thân nó đã hình thành mức độ kiểm soát như thế nào để thực thi  và đâu là lợi ích  mà cả hai quốc gia đã đạt được từ mối quan hệ thân thiện này.

Trước hết, tôi sẽ thảo luận về thực tiễn nói chung của các sự kiện ngoại giao giữa hai quốc gia và sự trình diễn của Xiêm trong các mối quan hệ với Trung Quốc. Tiếp theo,  tôi sẽ thảo luận về  mô hình khác nhau của các mối quan hệ được quan sát trong việc điều hành các sứ đoàn của Xiêm tới Trung Quốc và các sứ đoàn Trung Quốc tới Xiêm.  Sau đó, tôi cũng sẽ giới thiệu khía cạnh chính trị và kinh tế của sự tương tác này trong từng vương quốc Xiêm.

Tôi hi vọng rằng nghiên cứu này sẽ cung cấp cho người đọc thông tin và sự hiểu biết rõ ràng hơn, thứ có thể sẽ có giá trị cho tìm hiểu sâu hơn về hệ thống triều cống Trung Quốc và mối quan hệ Trung-Xiêm.

Chương I.  Bối cảnh lịch sử

Vai trò truyền thống và sự phát triển của hệ thống triều cống

Khi thảo luận về mối quan hệ Trung-Xiêm, cần phải hiểu được những khái niệm chung và sự phát triển của hệ thống triều cống Trung Hoa thứ đã đóng vai trò như là phương tiện trung gian đối với sự tương tác với nước ngoài[1].  Ngay từ đầu cần phải chỉ ra rằng hệ thống này không phải được dựa trên những nguyên tắc bình đẳng như ở các quốc gia phương tây mà là dựa trên sự công nhận cương vị chúa tể của Trung Quốc[2]. Do sự khác biệt cơ bản này, nó trở nên cần thiết để xác định  giá trị kinh tế, chính trị, tư tưởng thực sự của hệ thống để có thể xác định mức độ bá chủ của Trung Quốc đối với những người dã man.

Trước hết, từ “triều cống” là từ tương đương nhất của phương Tây ứng với chữ Hán “kung” (Cống), chữ có xu hướng gây ra sự hiểu lầm. Tình hình ở phương Tây trong thời phong kiến, khi từ “triều cống” được tạo ra để miêu tả mô hình chính trị giữa  tôn chủ và các nước chư hầu về cơ bản là khác với những gì thực sự diễn ra ở Đông Á. Do đó, nghĩa của từ “triều cống” trong lịch sử phương Tây không thích hợp để diễn tả sự liên lạc Trung Quốc-nước ngoài. Tuy nhiên để cho thuận tiện, khái niệm “triều cống” vốn đã được dùng rộng rãi sẽ được giữ lại để thay thế cho từ tiếng Trung “kung” nhưng nghĩa thực sự phải được hiểu trong giới hạn truyền thống Nho giáo Trung Hoa[3].

Trong lịch sử Trung Quốc, từ “kung” có nhiều cách dùng và nhiều nghĩa. Nếu nó được dùng trong  việc miêu tả phái đoàn triều cống, khái niệm “ching-kung fang-wu” (Tiến cống phương vật), thứ có nghĩa là sự giới thiệu các sản phẩm của địa phương thường bao gồm ba loại khác nhau – sự triều cống đích thực (Cheng-kung, Chính-cống) do vua chư hầu dâng lên hoàng đế; sự triều cống của các sứ giả tới triều đình Trung Quốc, hàng hóa đơn thuần để buôn bán[4]. Từ tương tự  cũng được áp dụng cho các sự kiện nội địa. J.K. Fairbank giải thích rằng:

       Từ “kung” được dùng để chỉ sự  triều cống những thứ được dâng lên từ các ông vua nước ngoài không phải là người Trung Quốc và nó cũng có mối liên hệ với các mô hình nội địa như “cống mễ” (Ts’ao-mi hay kung-mi) thứ được chuyên chở bằng thuyền hàng năm từ vùng hạ lưu sông Dương Tử tới Bắc Kinh; hoặc là “cống sinh” (Kung-sheng), một loại người có bằng cấp mua bằng tiền trong hệ thống thi cử của nhà Thanh[5].

Hơn nữa từ “hsien”, “feng piao” hoặc “piao chou” và ch’ao (triều), bên cạnh từ “kung” (cống),  cũng được sử dụng để miêu tả đoàn sứ giả từ nước ngoài trong cố gắng bày tỏ sự quy phục và và địa vị thấp kém hơn của họ bởi vì những từ này có nghĩa là “dâng quà”, “đưa biểu cầu” lên hoàng đế hoặc “diện kiến hay vấn an thiên tử, người cai trị thế giới” một cách tôn kính[6].

Khi hệ thống triều cống được chú ý, nó được bắt nguồn từ những mối liên hệ lâu dài giữa Trung Hoa và người dã man[7]. Nó được sử dụng như là công cụ để thể hiện sự ưu việt của văn hóa Trung Hoa.

Những quan niệm tư tưởng phía sau hệ thống này tất cả đều được dựa trên vũ trụ quan Khổng giáo cho rằng tất cả mọi người đều có danh phận ở trong xã hội và phải tiết chế bản thân sao cho thích hợp. Nếu như mọi người biết được danh phận và nghĩa vụ của mình và luôn luôn làm đúng thế giới sẽ hòa bình và thống nhất.

Đạo đức phù hợp là nguyên tắc không thể thiếu để ràng buộc đời sống xã hội và nó không phải là thứ bị ép buộc bởi khế ước hay sức mạnh mà bằng cảm giác về “liêm sỉ” và “thanh danh”[8]. Trung Quốc với tư cách là trung tâm của văn minh thế giới sẽ phải là hình mẫu cho các quốc gia khác noi theo. Hoàng đế Trung Hoa, người nhận “mệnh trời” cai trị sẽ phải có đạo đức tốt và phải là hình mẫu cho tất cả loài người cả người Trung Quốc và người dã man. Niềm tin đi cùng với phương châm này được minh họa rõ ràng trong bản thân lời nói của hoàng đế Ung Chính (Yung-cheng):

        Trong số những thứ cho phép một ông vua cai trị thành công là khả năng bảo vệ tất cả thần dân và mong muốn trải rộng lòng nhân từ tới tất cả loài người. Ông ta sẽ thừa mệnh trời để yêu mến thần dân và tạo ra lý do khiến cho thần dân hân hoan với sự cai trị. Chỉ bằng cách này, ông ta mới có thể thống nhất quốc gia và tên tuổi ông ta sẽ được ghi nhớ với lòng biết ơn vĩnh viễn… Bởi vì triều đình của chúng ta tiếp nhận ý trời để cai trị và bởi nó đã chứng minh giá trị của mình bằng việc trải rộng lòng nhân từ và bảo vệ tất cả mọi người một cách công bằng, tại sao lại có sự phân biệt đối xử chỉ vì đó không phải là người Trung Quốc?[9]

 

Người Trung Quốc rất tự tin về nền văn hóa ưu việt của họ đến nỗi họ tin rằng những người dã man chưa được khai hóa sẽ đến Trung Quốc để tìm kiếm sự đổi thay và sự khai sáng. Để làm điều đó, những người dã man bị yêu cầu phải công nhận quyền bá chủ của Trung Quốc và thực thi tất cả các nghi thức xã giao, thứ làm cho họ trở thành thành viên của xã hội Nho giáo. Rõ ràng những tư tưởng này biểu đạt đặc điểm thứ bậc tôn ti bắt nguồn từ tín điều Nho giáo trong xã hội có phân chia thứ hạng. Trung Quốc luôn là cha, thủ lĩnh, anh hoặc bề trên trong khi các nước khác là con trai, môn đệ, em hoặc kẻ dưới. Như một nguyên tắc chung, mức độ của mối quan hệ giữa Trung Quốc và một quốc gia được xác định bằng khoảng cách. Quốc gia ở gần Trung Quốc sẽ có mối quan hệ gần hơn. Tất cả những điều này chính là các nguyên tắc tư tưởng chủ yếu của mối quan hệ qua lại của Trung Quốc với nước ngoài trong hệ thống triều cống.

Theo Yu Ying-shih[10], hệ thống triều cống đã phát triển dần dần từ hệ thống “ho-ch’in” (hòa thân) được hoàng đế  Cao Tổ (Kao-tsu)của triều Hán đưa ra  xuất phát từ kinh nghiệm quá khứ đối phó với các nước láng giềng. Trong hệ thống “hòa thân”, các món quà của triều đình và các công chúa Trung Quốc được tặng cho người dã man Hung Nô đổi lại họ sẽ phải thề không tấn công các vùng ở biên giới Trung Quốc[11].  Một nguyên tắc cũng được lập ra trong thời kì này: “Không nên đặt chân tới Trung Hoa nếu không mang theo triều cống”[12].  Có thể thấy rằng khía cạnh chính trị của hệ thống này trong thời Hán không nổi trội và kém xa lợi ích kinh tế  nếu có[13].

Về bản chất, tín hiệu chính trị đằng sau hệ thống này ngụ ý thừa nhận sự bá chủ của Trung Quốc.  Sự phục tùng của người dã man là khía cạnh cần thiết của trật tự chính trị Nho giáo. Mục đích cuối cùng là giành được sự ổn định chính trị dưới sự cai trị nhân từ của Thiên tử. Mặt khác, nguyên tắc chính trị này cũng liên quan tới việc phòng thủ của Trung Quốc. Quả thật, việc tặng các món quà của triều đình và những thứ khác thường nhằm trung lập hóa người dã man, những người đôi khi ở vị trí mạnh đe dọa an ninh của Trung Quốc. Mưu kế này ít nhất nhằm thực hiện ba mục đích quan trọng của Trung Quốc. Thứ nhất, thứ có thể gọi là  chính sách “nhân nhượng” được tạo ra để mua lấy hòa bình tạm thời. Thứ hai,  là âm mưu “chia để trị” (dĩ Di chế Di) để làm suy yếu người dã man bằng việc xúi giục họ chống lại lẫn nhau. Thứ ba, là liên minh với các nước hay bộ tộc mạnh để có được tình bạn hay lợi nhuận như mong muốn[14]. Sự áp dụng hệ thống này với mục đích chủ yếu là để phòng thủ đã đạt đến đỉnh cao trong suốt thế kỉ 11 và thế kỉ 12 dướng triều Tống. Đây là thời kì bất ổn cả ở bên trong và ngoài nước – thứ đã tác động tới chiến thắng của Nho giáo mới ở Trung Quốc. Trong số những thứ khác, học thuyết thịnh hành về quan hệ quốc tế  này đòi hỏi một sự phục tùng tuyệt đối từ tất cả các quốc gia mong muốn quan hệ với Trung Quốc[15]. Trong tầm nhìn thực tế rằng nhà Tống-Trung Quốc rất yếu về quân sự, yêu cầu về sự thần phục của người dã man không thể dựa trên sức mạnh mà dựa trên lời hứa hẹn ban tặng các đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, một hành động phải được xem như là biện pháp phòng thủ[16]

Mối quan hệ triều cống Trung Quốc-nước ngoài, như tôi đã đề cập, là dựa trên nguyên tắc qua lại được thể hiện dưới hình thức nghi lễ. Trong con mắt Trung Quốc, việc thực thi triều cống là một hành động của lễ hoặc là hành động thích hợp cần được tiến hành long trọng. Nó liên quan đến những dịp tiến hành triều cống và nghi lễ vào những ngày quan trọng như sinh nhật của hoàng đế, ngày tết .. với những nghi lễ phức tạp. Quan trọng nhất là việc các sứ giả nước ngoài phải tiến hành “quỳ lạy”  “kowtow” (Khấu đầu)*biểu hiện sự phục tùng. Đổi lại, hoàng đế  ân cần ban cho các vua nước ngoài những món quà có giá trị, các buổi triều kiến, tước vị quý tộc, con dấu của triều đình, lịch Trung Hoa và các thứ quý giá khác[17]. Thêm nữa, thành viên của sứ đoàn nước ngoài được tiếp đón trọng thể bằng nhiều buổi yến tiệc của triều đình. Tầm quan trọng của các nghi lễ đi kèm với hệ thống triều cống được chỉ rõ bởi thực tế rằng công việc đón tiếp sứ giả nước ngoài là độc quyền đặt dưới sự giám sát của Bộ Lễ.  Thêm vào đó, chi tiết duy trì trong buổi lễ như “khấu đầu” cho chúng ta chút nghi ngờ rằng Trung Quốc luôn luôn là bề trên.

Khỏi cần phải nói cũng biết người Trung Quốc đã gắn tầm quan trọng vào những chuyến viếng thăm của các đoàn sứ giả như thế nào. Từ thời xa xưa nhất trở đi họ đã chăm sóc chu đáo các sứ giả nước ngoài. Wang Gung-wu đã miêu tả mối quan tâm của người Trung Quốc như sau:

…. Triều cống từ người nước ngoài đã có một vị trí quan trọng trong  âm mưu  của triều đình và sự chăm sóc đáng kể  đã được tiến hành để giúp đỡ sứ giả, đưa họ gặp hoàng đế và bày tỏ sự trân trọng đối với sự viếng thăm của họ. Các cơ quan đặc biệt đều tham dự và các viên quan, thượng thư lớn tuổi đều tham dự các nghi lễ phức tạp đi kèm với triều cống cũng như sự viếng thăm của các ông vua nước ngoài[18].

Các sứ giả nước ngoài quả thật đã nhận được sự đón tiếp nồng nhiệt và được ban cho nhiều đặc ân. Họ được ở trong các nhà trọ công và được đưa đón miễn phí, được nhận thức ăn cùng “tất cả những thứ cần thiết khi họ ở trong nước”[19]. Đồng thời người Trung Quốc giữ tất cả các sứ giả dưới sự giám sát bởi các quy định nghiêm ngặt. Độ lớn, hành trình và số lượng các thuyền và thành viên, tính chất của các món quà và lịch trình triều cống được áp đặt chi tiết  cho từng đoàn sứ giả thường xuyên của các nước.

Như chúng ta đã thấy, Trung Quốc không có mối quan hệ quốc tế với quốc gia khác ngoài các mối quan hệ triều cống. Do đó, quan hệ thương mại nên được gọi là “thương mại triều cống” thay vì gọi là thương mại quốc tế[20]. Sự trao đổi các món triều cống của các nước chư hầu để lấy các món quà của triều đình có lẽ là một dạng phôi thai của ngoại thương Trung Quốc. Người ta thường biết đến một thực tế là các sứ đoàn người dã man tới Trung Quốc thường sử dụng hệ thống triều cống như là một sự ngụy trang cho thương mại, thói quen này được bắt nguồn từ thời Hán[21].  Không thể phủ nhận rằng sự cho phép buôn bán trực tiếp với Trung Quốc sau khi triều cống xong là sự hấp dẫn lớn lao đối với người dã man. Chúng ta có thể kết luận chắc chắn rằng hầu hết nếu như không muốn nói là tất cả các sứ đoàn triều cống đều có các thương nhân,  những người có mục đích chủ yếu là giành lấy đặc quyền thương mại đi theo. Mặt khác, trong con mắt hoàng đế Trung Quốc, giá trị đạo đức của triều cống quan trọng hơn khía cạnh kinh tế của nó. Khía cạnh kinh tế luôn bị phụ thuộc vào triều cống. Nếu xét ở góc độ kinh tế thì hoàng đế Trung Hoa không thu được gì mà chỉ có mất bởi vì các món quà của triều đình ban cho sứ giả  luôn luôn có giá trị lớn hơn nhiều các món đồ triều cống nhận được. Sự nhân nhượng thương mại được người Trung Quốc coi như là một phương tiện để có được thêm sự khao khát và tán tụng cụ thể hơn là sự phục tùng nhún nhường của những người dã man[22].

Tuy nhiên, rất khó để tách rời kinh tế khỏi các động cơ chính trị. John K. Fairbank khéo léo mô tả rằng hai thứ này không thể  tách rời nhau và rất rắc rối trong hệ thống triểu cống:

    …Thương mại và triều cống là những khía cạnh cùng nguồn gốc của một hệ thống riêng trong những mối quan hệ với nước ngoài, giá trị đạo đức của triều cống là quan trọng hơn trong suy nghĩ của các vua Trung Quốc và giá trị vật chất của thương mại trong suy nghĩ của những người dã manmối cân bằng lợi ích này sẽ cho phép sự bằng lòng lẫn nhau và hệ thống tiếp tục hoạt động. … Dường như là không thể ở thời điểm đó để tạo ra một thứ tổng quát hơn: hệ thống triều cống là cái khung nơi tất cả các lợi ích, cả cá nhân và triều đình, kinh tế và xã hội đều tìm được sự biểu đạt của mình[23].

Sự giảm sút thương mại rõ ràng là bị theo sau bởi các nguyên tắc Nho giáo. Tuy nhiên trên thực tế, các viên chức Trung Quốc không can dự vào công việc thương mại dù là trực tiếp hay gián tiếp. Các sứ đoàn triều cống đạt đến mức độ cao nhất về số lượng và độ thường xuyên dưới triều nhà Minh[24]. Từ năm 1371 đến năm 1566, thương mại dưới hình thức triều cống dễ nhận thấy nhất. Tuy nhiên, sự chuyển đổi thú vị bắt đầu hình thành đặc biệt sau khi cuộc viễn chinh trên biển nổi tiếng của hoàng đế Vĩnh Lạc. Mặc dù thương mại triều cống vẫn là đặc trưng của thời kì này, nó đã bắt đầu bị suy yếu dần bởi sự tăng tiến về số lượng các thương nhân Trung Quốc buôn bán ở nước ngoài. Nhu cầu đối với hàng hóa Trung Quốc, thứ vốn hấp  dẫn người dã man tới Trung Quốc giờ đây suy giảm bởi vì chúng được cung cấp bởi các thương nhân Trung Quốc. Theo Fairbank xu hướng đảo ngược này là sự ứng phó chủ yếu đối với sự suy sụp dần dần của hệ thống triều cống chứ không phải là do ảnh hưởng của người châu Âu như người ta thường quan niệm[25].

Bất chấp lệnh cấm thương mại do các vua cuối triều Minh ban hành, thương mại vẫn hưng thịnh thông qua các con đường như buôn lậu, các viên chức Trung Quốc mang theo người hàng hóa và thương mại triều cống thứ duy nhất ít bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm. Các hoàng đế triều Thanh một lần nữa lại giống như các vua đầu triều Minh tích cực quan tâm tới “sự phát triển dưới hình thức nhất định của ngoại thương và ở một mức độ nào đó đã hiểu được những dính líu kinh tế của thương mại”[26]. Tuy nhiên, sau triều vua Khang Hi,  các vua tiếp theo đã phục hồi lệnh cấm buôn bán cho tới tận năm 1842 khi cánh cửa Trung Quốc buộc phải mở bởi người Anh.


[1]  Để biết thêm chi tiết những thảo luận về hệ thống triều cống, mời xem J.K. Fairbank và Teng Ssu-yu, “On the Ch’ing Tributary System”, in the  Ch’ing Admistration: Three Studies(Cambridge: Havard U. Press, 1961), 107-218; Leson de Rosny, Les Peuples Orientaux Connus des Anciens Chinois (2nd ed.; Pris: Lerouy, 1886). Để tìm hiểu chung về hệ thống này mời xem O. Latti-more, Innner Asian Frontiers of China (Boston: Beacon Press, 1962).

[2]  Trung Quốc tự coi mình là “Thượng Quốc” hoặc là tôn chủ và tất cả các nước khác đều bị coi là chư hầu.  A.B Woodside, “Early Ming Expansionism (1406-1427): China’s Abortive Conquest of Vietnam, “Paper on China, XVII (December 1963) (East Asian Research Center, Havard University), 1-37; M.F Nelson, Korea and the Old Orders in Eastern Asia (Baton Rouge: Lousiana State U. Press, 1946).

 

[3] M. Mancall, “The Ch’ing Tribute System: An Interpretive Essay, “ trong J.K. Fairbank, ed,  The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations (Cambridge: Havard U. Press, 1968), 63.

[4] A.B. Woodside, Op. cit.,5.

[5] J.K. Fairbank, “A Preliminary Framework,” trong J.K. Fairbank, ed., The Chinese World Order, op. cit., 10.

[6]  Wang Gung-Wu, “The Nanhai Trade: A Study of the Early History of Chinese Trade in the South China Sea,” JRASMB, XXXI, pt. 2 (June 1958), 1.

[7] J.K. Fairbank, Trade and Diplomacy on the China Coast: The Opening of the Treaty Ports 1842-1854 (Cambridge: Havard U. Press, 1964), 23-28.

[8] M.F Nelson, op. cit.,98.

[9] Yung-cheng, hoàng đế Trung Quốc, “Chinese and Foreigners Are Members of One Family” trong “…Đại Thông Sử” ( Ahistory of the Ch’ing Dynasty) cảu Hsiao Yi-shan ( xuất bản năm 1962-1963 gồm 5 quyển), I, 928-930, được dịch bởi Dun J. Li, The Essence of Chinese Civillization (Princeton: D. Van Nostrand Co., 1967), 129.

[10] Yu  Ying-shih, Trade and Exoansion in Han China: A Study in the Structure of Sino-Barbarian Economic Relations (Berkeley: U. of California Press, 1967.

[11] Ibid., 40

[12]  E.H. Parker, China. Her History. Diplomacy, and Commerce, from the Earliest Times to the Present Day (London: J.murray, 1901), 1.

[13] Yu Ying-shih, op. cit., 189

[14] Chao Chin-yung, A Brief History of Chinese Foreign Relations (Taipei: China Cultural Service, n.d, ), 25.

[15] Tsiang T’ing-fu, “China and European Expansion, “ Plitica, II, no.5 (March 1936), 3-4.

[16] Ibid.

* Ba quỳ chín vái

[17] J.K. Fairbank và Teng Ssu-yu, op. cit., 135-145

[18] Wang Gung-wu, “The First Three Rulers of Mallacca, “ JRASMB, XLI, pt. 1 ( tháng 7 năm 1968), 15.

[19] Để biết thêm chi tiết mời xem Chang T’ien-tse, Sino-Portuguese Trade from 1514 to 1644(Leiden: E.J. Brill, 1934); J.K. Fairbank and Teng Ssu-yu, op. cit, 107-218; Chang Te-ch’ang, “Maritime  Trade at Canton during the Ming Dynasty, “ Chinese Social and Political Science Review, XVII, no. 2 (tháng 7 năm 1933), 264-282; The Chinese Repository, XIV, no. 4 ( tháng 4 năm 1845), 153-156.

[20] O. Lattimore, op. cit., 482-283; và Tsiang T’ing-fu, op. cit., 4.

[21] J.K. Fairbank and Teng Ssu-yu, op. cit., 139-142. Tham khảo các thảo luận sâu hơn về hệ thống triều cống trong M. Mancall, op.cit., 75-84

[22] J.K. Fairbank, Trade and Diplomacy…, op. cit., 33

[23] J.K. Fairbank và Teng Ssu-yu, op.cit., 112-113

[24] Chang Te-ch’ang, op. cit., 265

[25] J.K Fairbank, Trade and Diplomacy…, op. cit., 33-36

[26] M. Mancall, op. cit., 85.

Các cơ quan của Xiêm đối phó với các sự kiện ngoại giao.

Trái ngược với mối quan hệ với nước ngoài của Trung Quốc được ẩn giấu trong cái khung của hệ thống triều cống, các mối quan hệ này của Xiêm được tiến hành dưới hình thức ngoại thương. Trong khi ở Trung Quốc tất cả những người có trách nhiệm liên quan tới việc đón tiếp sứ giả nước ngoài đều thuộc thẩm quyền của Bộ Lễ thì ở Xiêm chúng được điều hành độc quyền bởi người đứng đầu Bộ Ngân khố (Minister of Treasury), người kiểm soát tất cả các chi nhánh ngoại thương. Tên gọi của người đứng đầu Bộ Ngân Khố thường được biết đến như Phra Khlang đã có sự phát triển lâu đời trong lịch sử Thái. Tên của nó trong tiếng Xiêm đã thay đổi từ chỗ là Khun Khlang ở thời kì đầu thành Qg.ja Phra Khlang, Phraja Phra Khlang, và Cawpharaja Phra Khlang ở các thời kì sau đó[1]. Tuy nhiên tất cả các tên này vẫn duy  trì ý nghĩa chung như người đứng đầu Bộ Ngân khố hoặc kho hàng. Sự khác nhau duy nhất là nằm trong danh hiệu đứng trước từ Khlang*. Khi các thương nhân châu Âu tới Xiêm, họ viết từ Phra Khlang thành ký tự La-tinh trong thứ tiếng của chính họ như những gì họ nghe thấy và kết quả là nó biến thành Barcalon trong tiếng Bồ Đào Nha, Pra-clang trong tiếng Pháp và Berkelangh trong tiếng Hà Lan[2].

Xét về lịch sử, Khun Khlang được lập ra bởi vua U-thqng, người sáng lập Ayutthaya, như một cơ quan quan trọng đảm nhận ngân khố hoàng gia[3]. Dưới triều vua Bqrommatraj-logkanad (1448-1488), tên gọi của nó được đổi thành Phra Kosathibqdi hay Phra Khlang[4]. Cho tới thời kì này, các sứ đoàn tới Trung Quốc vốn được bắt đầu từ thời kì Sukhothai là dấu hiệu ngoại thương duy nhất của Xiêm. Các vua Xiêm coi các sứ đoàn được gửi đi này như là phương tiện nhằm tiến hành thương mại. Thương mại với Trung Quốc trong thời kì đầu này được điều hành tương đối tự do không có sự can thiệp nào từ phía chính phủ. Sự thay đổi bắt đầu diễn ra sau khi những người Bồ Đào Nha đầu tiên tiếp xúc với Xiêm vào năm 1512  dưới thời vua Ramathibqdi II (1491-1529). Thương mại của Xiêm với Bồ Đào Nha đi cùng với buôn bán với Trung quốc đã mở rộng đều đặn tới độ phần thu nhập từ thuế tốt nhất của hoàng gia có nguồn gốc từ ngoại thương. Bản thân các vua Xiêm cũng dần dần can dự sâu hơn vào công việc buôn bán. Vào đầu thế kỉ 17, vua Shongtham (1620-1628), người “là một thương nhân có thế lực” hơn là một “võ sĩ”, đã mang tới một sự thay đổi ấn tượng trong sự phát triển thương mại bằng việc đặt tất cả ngoại thương dưới sự điều hành của Phra Khlang[5]. Vua Prasadthqng người thừa kế vương miện vào năm 1630 đã tạo ra tín hiệu thay đổi khác bằng việc tuyên bố sự độc quyền nhà nước về thương mại[6]. Có lẽ ông ta đã vay mượn phong tục độc quyền này từ các thương nhân Ấn Độ, những người thường tới các cảng của Xiêm hoặc là được họ khuyên như vậy[7]. Sự độc quyền này đòi hỏi việc xây dựng các kho hàng của hoàng gia dưới tay các ông vua để trữ các hàng hóa độc quyền bán cho thương nhân nước ngoài và các món hàng nước ngoài bán cho người Xiêm. Những kho hàng này, tất cả có 12 kho* rõ ràng đã bị ảnh hưởng bởi các thương nhân châu Âu, những người đã xây dựng các kho hàng ở bất cứ nơi nào họ có mối quan hệ thương mại[8]. Việc quản lý và kiểm soát các kho hàng này  giống như trước đó nằm dưới tay Phra Khlang và kéo dài tới thời kì Bangkok hoặc Cagkri[9]. Nó đã trở thành phong tục rằng tại lễ lên ngôi của vua mới, Phra Khlang phải thu thập tất cả sự giàu sang của hoàng gia trong 12 nhà kho cho vua mới tùy nghi sử dụng. Ví dụ như trong lễ lên ngôi của vua Mongkut năm 1851, Phraja Phiphadakosa, viên phó của Phra Khlang, người đóng vai trò thay mặt cấp trên của ông ta, đã nói: “ Thần xin trân trọng trình lên bệ hạ tất cả của cải trong 12 kho báu, thứ thuộc về sự tùy nghi của bệ hạ…”[10].

Thầm quyền của Phra Khlang đối với ngoại thương bao gồm từ việc mua và bán hàng hóa cho chính phủ tới việc thu thuế hải quan. Ông ta cũng giám sát công việc nói chung của các tỉnh duyên hải miền đông nam[11]. Bởi vì phần lớn người nước ngoài đến Xiêm là để buôn bán, họ chắc chắn đã phải giải quyết công việc với Phra Khlang. Họ phải đăng kí để xin giấy phép thương mại hoặc Tra (con dấu) từ ông ta[12]. Kết quả là, ông ta đã có can dự tới tất cả các vấn đề liên quan tới người nước ngoài và được họ biết tới như là Bộ trưởng bộ ngoại giao[13]. . . Tất cả việc cư trú của người nước ngoài cũng nằm trong sự phán xử của ông ta. Ông ta có quyền lực trong việc tiến hành các quan hệ ngoại giao bao gồm cả việc thay mặt vua kí các hiệp ước. Ví dụ như,  viên  Phra Khlang  đã kí hiệp ước bất bình đẳng với Hà Lan ngày 22 tháng 8 năm 1644[14]. Thêm vào đó, ông ta cũng đảm nhiệm việc đón tiếp các sứ giả nước ngoài. Theo truyền thống của người Xiêm, chỉ những lá thư của vua hay người đứng đầu nhà nước hoặc cấp bậc tương đương mới được chuyển trực tiếp tới vua Xiêm: trái lại chúng bắt buộc phải chuyển tới Phra Khlang và từ đó các sứ giả nước ngoài mới có được giấy phép để yết kiến hoàng gia. Thực tế này thường được người nước ngoài biết tới thể hiện rõ ràng trong những bức thư của ông Richard Burnaby và ông Geogre White, hai thương nhân người Anh gửi tới ông Steynsham Master thống đốc tại Fort St. George. Lá thư đã khuyên ông ta:

… Nếu từ giờ trở đi có việc gì cần phải gửi tới nhà vua, không được gửi trực tiếp tới nhà vua mà chỉ có thể gứi tới bộ trưởng Barcalong…[15] 

Thật là thú vị là vào năm 1679, hai thương nhân người Anh là ông Ralph Lambton và ông Richard Burnaby, cả hai đều thỉnh cầu Phra Khlang xin ông ta giải quyết sự tranh cãi giữa hai người. Điều này nói lên rằng ông ta có quyền lực đáng kể đối với người nước ngoài. Tuy nhiên, do không muốn can dự vào các việc có tính cá nhân ông ta đã chỉ định một thương nhân người Ba tư giải quyết sự tranh cãi này. Sự việc cuối cùng đã được giải quyết với vai trò trung gian của thương nhân Ba tư vào tháng 4 năm 1679[16].

Từ sự trình bày nói trên rõ ràng rằng tất cả các sự kiện đối ngoại của người Xiêm đều được điều hành trong cái khung thương mại và dưới độc quyền của bộ trưởng bộ Ngân khố-Phra Khlang. J. Crawfurd, đại sứ Anh tới hoàng gia Xiêm vào đầu thế kỉ 19 đã miêu tả thẩm quyền của Phra Khlang như sau:

 

Prah-Khlang đảm nhiệm tất cả các vấn đề liên quan tới thương mại và độc quyền của hoàng gia  và bởi vì chính phủ Xiêm không công nhận bất cứ mối quan hệ với nước ngoài nào ngoài những gì liên quan tới thương mại cho nên ông ta cũng được hiểu ngầm là bộ trưởng bộ ngoại giao… Ông ta cũng giám sát các công việc chung của các tỉnh phía đông hoặc các tỉnh được chỉ định bắtbuộc trồng và cung cấp hạt tiêu, bạch đậu khấu, và các sản phẩm nông nghiệp khác[17].

Không lâu sau sứ đoàn của Crawfurd, Charles Gutzlaff đã viết về Phra Khlang như sau:

Danh hiệu này đã được người châu Âu ở Xiêm biết tới trong nhiều thế kỉ có lẽ bởi vì họ phải tiến hành buôn bán với viên chức này, Okya Phra Khlang phụ trách các công việc thương mại của nhà vua, những chiếc thuyền của ông ta và một số loại thuế nhất định như thuế hải quan được thu tại các cảng của vương quốc… Thêm nữa, …tất cả các vấn đề có liên quan đến chính sách ngoại giao và các quan hệ ngoại giao phát sinh từ đó và khi nhiều năm qua đi thì cơ quan này được người nước ngoài biết đến như là cơ quan ngoại giao[18].

 

Nhiều cơ quan cấp dưới thuộc  sự chỉ đạo của Phra Khlang cũng tham dự vào các vấn đề ngoại giao. Các quý tộc hàng thứ hai với danh hiệu Phraja Srihohiphad và Phraja Phiphadkosa là hai trợ thủ cao cấp nhất. Thêm nữa, cũng có 4 quý tộc hàng thứ hai khác (Phraja), hai quý tộc hàng thứ ba (Phra) và 11 quý tộc hàng thứ tư (Luang) trong cơ quan giúp Phra Khalang điều hành các hoạt động đối ngoại[19].

Trong thời kì Ayutthaya, có vẻ như các mối liên hệ với người Trung Quốc và các thương nhân Hồi giáo quan trọng hơn nhiều so với các người châu Âu[20]. Một bằng chứng là thủ lĩnh của những cư dân người Trung Quốc và thủ lĩnh của cư dân Hồi giáo ở Xiêm thường được chỉ định nắm hai vị trí quan trọng trong cơ quan của Phra Khlang. Phraja Cularadchamontri hay người đứng đầu cơ quan phụ trách cảng phía phải (Krom Tha Khwa) và Phraja Chodygrachasedthi, người đứng đầu cơ quan phụ trách cảng phía trái luôn luôn được dành cho thủ lĩnh người Trung Quốc và thủ lĩnh người Hồi giáo. Thủ lĩnh người Hồi giáo giúp Phra Khlang kiểm tra, giám sát các hoạt động thương mại và ngoại giao với các quốc gia ở phía tây của Xiêm nơi thủ lĩnh người Trung Quốc tiến hành tương tự nhưng với các quốc gia ở phía đông.

Bên cạnh Phra Khlang và thuộc cấp của ông ta, nhà vua đôi khi cũng chỉ định các viên chức tin cẩn khác để giải quyết một số trường hợp đặc biệt liên quan đến các vấn đề đối ngoại. Ví dụ một đô đốc của đội quân đánh thuê người Nhật* đã được vua Ekathodsarod (1605-1620) ủy quyền để kí hiệp ước với Houtman, một đại diện của chính phủ Hà Lan vào ngày 12 tháng 6 năm 1617 liên quan tới các quy định đối với việc buôn bán da hươu nai và các động vật khác[21]. Trong một vài trường hợp, các thành viên của gia đình hoàng gia cũng tham dự vào các sự kiện đối ngoại. Dưới triều vua Rama II thời kì Bangkok, hoàng tử Krom Chiat (Cedsadabqdin), người sau này trở thành vua Rama III đã được J. Crawfurd đề cập đến như là trợ thủ của Phra Khlang, tự mình giám sát cơ quan phụ trách ngoại giao và ngoại thương cùng Phra Khlang[22].  Sự can dự của hoàng tử Cedsadabqdin vào các sự kiện đối ngoại nảy sinh từ sự can dự của ông trong lĩnh vực buôn bán. Vua Chulalongkorn hay Rama V viết về mối quan tâm của  hoàng tử Cedsadabqdin đối với thương mại như sau:

 

Có lẽ hơn ai hết, ông hiểu được sự cần thiết của ngoại thương đối với nguồn thu từ thuế của quốc gia. Bản thân ông sở hữu nhiều thuyền buôn và rất thành công khiến cho cha ông (Rama II) thường gọi đùa ông là “nhà buôn”[23].

Từ sự bàn thảo trên chúng ta có thể kết luận rằng Bộ trưởng bộ Ngân Khố là cơ quan quan trọng nhất của người Xiêm giải quyết các công việc liên quan đến quan hệ với người nước ngoài. Nhưng để có bức tranh rõ ràng hơn về sự quản lý của người Xiêm trong các mối quan hệ đối ngoại cần phải điều tra thêm các khía cạnh khác trong các quy định, phong tục đối ngoại của người Xiêm.

Tư tưởng  của Xiêm về  sứ giả và sứ đoàn

John Crawfurd, người đã gặp khó khăn trong việc đàm phán với người Xiêm tin rằng tư tưởng ngoại giao của Xiêm, thứ vốn rất khác tư tưởng ngoại giao của người châu Âu là những trở ngại chính đối với việc hoàn thành sứ mệnh của ông. Ông đã khéo léo miêu tả những tư tưởng này như sau:

Xiêm và các quốc gia châu Âu xét ở phương diện các sứ đoàn ngoại giao rất khác nhau về bản chất. Đối với người Xiêm thì sự trọng vọng chủ yếu được dành cho lá thư được mang tới chứ không dành cho sứ giả người mang lá thư và họ được coi không khác gì người đưa tin danh dự[24].

Sự quan sát của Crawfurd là chính xác. Trong khi phong tục của châu Âu trọng vọng sứ giả như là một cá nhân,  người thay mặt thật sự của nhà vua hay người đứng đầu nhà nước và đối xử với ông ta như thế thì trái lại Xiêm chỉ coi ông ta như một người đưa tin. Các quốc gia phương Tây coi thư của hoàng gia như là lá thư giới thiệu sứ giả trong khi Xiêm  coi nó như là đại diện thực sự của vua và dành cho nó những nghi lễ long trọng, cầu kì[25]. Bất cứ khi nào Xiêm gửi đi một thông điệp hoàng gia, nó luôn được đi kèm theo các sứ giả với thuyền của hoàng gia đi hộ tống cho đến tận nơi, ít nhất là đến tận biên giới của quốc gia cần đến[26]. Không có sứ giả nào được phái đi mà không có thư của hoàng gia hay thứ gì đó thay thế đi kèm. Trong khoảng thời gian giữa hai đoàn sứ giả, Phra Khlang là người liên lạc giao thiệp với nước ngoài ở cấp độ bộ trưởng. Thư của hoàng gia, trong phong tục phương Tây, có thể được gửi tới mà không có sứ giả đi kèm, một phong tục được coi như là một sự không thích hợp hay sự lăng mạ đối với người Xiêm. Giống như một quy tắc, lá thư của hoàng gia Xiêm được khắc trên một chiếc đĩa vàng với một bản sao trên giấy đi kèm. La Loubere, sứ giả người Pháp tới Xiêm vào thế kỉ 17 đã viết trong cuốn sách của ông chuyện sứ giả đã nhận được rất ít sự trọng vọng từ triều đình Xiêm trong sự tương phản với sự trọng vọng mà họ giành cho lá thư của hoàng gia. Ông viết:

Một sứ giả ở phương Đông chẳng qua cũng chỉ là người đưa tin của nhà vua: ông ta không thay mặt cho ông chủ của mình. Họ ít trọng vọng ông ta so với sự kính trọng được dành cho quốc thư mà họ mang theo. Mr. de Chaumont (sứ giả Pháp tới Xiêm trước La Loubere), mặc dù là một sứ giả xuất sắc, chưa bao giờ có được một chiếc Balon (thuyền rồng hoàng gia) trong đoàn của mình mà chiếc thuyền rồng được dành cho lá thư của nhà vua, thứ ông phải chuyển tới vua Xiêm. Chiếc thuyền rồng này có tới 4 chiếc lọng, mỗi chiếc được bố trí ở từng góc ngồi, và có tới bốn chiếc thuyền rồng khác nhập vào đoàn được trang hoàng với những chiếc lọng[27]

Thêm nữa, trong khi các sứ giả châu Âu là các đại diện toàn quyền, các sứ giả Xiêm không có thẩm quyền gì trong việc đưa bất cứ thỏa thuận nào. Thứ duy nhất mà họ được phép làm là làm rõ hay giải thích những gì còn tối nghĩa trong lá thư của hoàng gia và tất cả chỉ có thế[28].

Liên quan đến thứ hạng của sứ giả, phong tục của Xiêm cũng khác với phong tục ở các nước châu Âu. Các quốc gia châu Âu chỉ coi người đứng đầu sứ đoàn là sứ giả còn các bộ trưởng và nhân viên đi cùng là thuộc cấp của người thay mặt vua. Trái lại, Xiêm coi cả ba quan chức đứng đầu trong sứ đoàn của Xiêm là các sứ giả. Ba quan chức đứng đầu này có danh hiệu chính thức là Radchatud (sứ giả hoàng gia), Uboratud (sứ giả hoàng gia hàng thứ hai) và Tritud (sứ giả hoàng gia hàng thứ ba)[29]. Tuy nhiên hai sứ giả đứng sau phải tuân theo lời sứ giả thứ nhất. Tầm quan trọng của mỗi quốc gia nước ngoài đối với Xiêm được xác định bằng thứ hạng chính thức của sứ giả Xiêm. Các sứ giả của Xiêm tới các quốc gia nhỏ thường thuộc hai hệ thống cấp bậc thấp nhất: Luang và Khun. Những sứ giả tới các quốc gia lớn hơn thuộc hàng thứ ba: Phra[30]. Trên thực tế, các sứ giả của Xiêm hiếm khi có thứ bậc lớn hơn Phra. Thực tế này diễn tả rằng ông ta “không được coi như nhân vật rất quan trọng”[31].

 


[1] Khun là một danh hiệu kính trọng dành cho quý tộc Xiêm có địa vị cao hơn danh hiệu có tên tương tự ở thời kì sau. Qgja là thứ bậc cao nhất tại thời điểm nó được sử dụng. Phraja là chính xác cũng giống như Qgja nhưng ở vào thời  gian đó nó được dùng như thứ bậc thứ hai sau Cawphraja vốn được thêm vào các thứ bậc quý tộc trong thời kì Ayuthaya sau đó.

Trong thời Ayutthaya, thứ bậc quý tộc Xiêm gồm 5 danh hiệu. Thứ nhất: Qgja, thứ hai: Qgphra, thứ ba: Qgluang, thứ tư: Qgkhun, thứ năm: Qgmyn. Khi danh hiệu Cawphraja được thêm vào như thứ bậc thứ nhất các thứ bậc khác hạ thấp hơn một bậc và tên của chúng đổi thành Phraja, Phra, Luang, Khun và Myn.

* Từ Khlang trong tiếng Xiêm có nghĩa “ngân khố” hoặc “kho hàng”

[2] Các phiên bản khác của Phra Khlang là: Berkelang, Barckelangh, Berklam, Berquelang, Concusa, Brah Glan, Phismachan, Schimacha, Barbalong.

[3]  Có 4 cơ quan cao cấp được thành lập cùng nhau trong thời gian này: Khun Wiang ( Wiang =thành phố) đảm nhận các sự kiện nội địa ở thành phố, thị tứ, Khun Wang (Wang= lâu đài) đảm nhận các sự kiện trong cung, Khun Khlang đảm nhận ngân khố hoàng gia và Khun Na (Na=ruộng lúa) đảm nhận nông nghiệp.

[4] Damrong Rajanubhab, Prince, The Royal Chronicle (Phrarad-chaphongsawadan Chabab Phraradachahadleka) ( tiếng Xiêm), I (Bangkok: Cdiansato, 1962), 413-414.

[5] Sarasas, Phra. My Country Thailand:  Its History, Geography, and Civillization ( Tokyo: Maruzenko., 1942), 56: đồng thời xem V. Thompson, Thailand: The New Siam (New York: The MacMillan Co., 1941), 418.

[6]  Damrong Rajanubhab, Prince, The Chronicle of the Second Reign of the Bangkok Dynasty(Phraradchaphongsawadan Krung Radtannakosin Radachankan Thi 2) ( tiếng Xiêm), II (Bangkok: Sygsaphan, 1962), 135.

[7] Ibid.

* Sibsqngthqngphrakhlang.

[8] Damrong Rajanubhab and Narit, Princes, Letters Communicated between the Two Princes ( Sansomded) ( tiếng Xiêm), XIII (Bangkok: Khurusapha, 1961), 181-183.

[9] Ibid., 142-144

[10] Thipakqrawong, Cawpharaja, The Dynastic Chronicles, Bangkok Era, The Fourth Reign, B.E. 2394-2411 (A.D. 1851-1868) ( Chadin (Kanjanavanit) Flood dịch với sự giúp đỡ của E.T. Flood), (Tokyo: Centre for East Asian Cultural Sdudies, (1965)), I, 21.

[11] E. Roberts, Embassy to the Eastern Court of Cochin-China, Siam, and Muscat (New York: Harper &Borthers, 1837), 302

[12] Records of the Relations between Siam and Foreigns Countries in the Seventeenth Century ( Copied from papers presented at the India Office) (Bangkok, 1915-1921), II, 119-120.

[13] J. Crawfurd, The Crawfurd Papers: A Collection of Official Records Relating to the Mission of Dr. John Crawfurd…. ( Bangkok: Vajiranana National Library, 1915), 123.

[14] Records of the Relations…., op. cit., 66-71.

[15] Ibid., 242.

[16] Ibid., 234-235.

[17] J. Crawfurd, The Crawfurd Papers, op. cit., 123-124

[18]  C. Gutzlaff, A Sketch of Chinese History, Ancient and Modern (London: Smith, Elder & Co., 1834), II, 367

[19] E. Roberts. Op. cit., 302; đồng thời xem J. Crawfurd, The Crawfurd Papers, op. cit., 168.

[20] Theo Prince Damrong Rajanubhab, người Xiêm thích buôn bán với người Hồi giáo và người Trung Quốc hơn người châu Âu bởi vì người Hồi giáo và người Trung Quốc tuân thủ luật lệ và phong tục của đất nước trong khi người châu Âu thì không và thường tranh chấp lẫn nhau. Xem Damrong Raja-nubhab, Prince, The Chronicle of the Second Reign…, op.cit., I, 138-139

* Tên của ông ta được biết tới là Olong Luupatou Opra, một người bí ẩn. Xem Records of the Relations, loc. Cit.

[21]  Records of the Relations…., op.cit., I, 77.

[22] J. Crawfurd, The Crawfurd Papers…, op. cit., 124.

[23] Chulalongkorn, King of Thailand, Text for a Sermon in Honor of King Rama III (tiếng Xiêm) (Bangkok, 1939), 38, được dịch và trích dẫn bởi  hoàng tử Chula Chakrabongse, Lords of Life (London: Alvin Redman, 1960), 1945.

[24]  J. Crawfurd, Journal of an Embassy to the Court of Siam and Cochin-China (London: Oxford U. Press, 1967), 80.

[25] H.G.Q. Wales, Siamese State Ceremonies: Their History and Function (London: B. Quaritch, 1931), 180.

[26] Saengsom Kasemsri, M.R., A Series of Lectures Concerning Thai History (given at Chulalongkorn University, Bangkok, Thailand, in 1963).

[27] La Loubere, Simon de, A New Historical Relation of the Kingdom of Siam (S.P. Gen dịch từ tiếng Pháp) (London: Theodore Horne, 1693), I, 108.

[28]  Saengsom Kasemsri, M.R., op.cit.

[29] La Loubere, Simon de, loc . cit: H.G.Q. Wales, Siamese State…, op. cit., 185.

[30] Saengsom Kasemsri, M.R., op.cit

[31] H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 185.

 

Các quy định và phong tục tiếp đón sứ giả tại triều đình Xiêm.

Cả phong tục của Ấn Độ và Trung Hoa đều có ảnh hưởng tới sự ra đời và phát triển của các lễ nghi của triều đình Xiêm trong đón tiếp sứ giả nước ngoài. Ban đầu, các nghi lễ triều đình bị ảnh hưởng nặng bởi văn minh Ấn Độ. Về sau, sự trao đổi sứ giả giữa Xiêm và Trung Quốc sau thời kì Sukhothai dần dần đã ảnh hưởng đến lề lối và phong cách đón tiếp sứ giả, một thực tế thú vị sẽ được đề cập đến ở phần sau[1].

Ngay khi sứ giả nước ngoài tới cửa sông Cawphraja (Menam), ông ta phải neo thuyền ở đó[2]. Sau đó ông ta phải thông báo cho các quan chức Xiêm về mục đích của mình và chờ đợi câu trả lời từ kinh đô, thứ thường mất nhiều ngày. Nếu đi cùng ông ta có sứ giả của Xiêm trở về từ nước ngoài thì sứ giả Xiêm này sẽ phải thông báo tới vua sự trở về của họ trước sau đó mới tâu lên chuyện sứ giả  nước ngoài[3]. Thêm nữa, họ buộc phải giải giáp tất cả các khẩu đại bác trên tàu và trong vài trường hợp họ còn phải rời bỏ các khẩu súng nhỏ và đạn dược nữa[4].  Biện pháp này nhằm mục đích đảm bảo an ninh của quốc gia.

Sau  khi nhận được sự cho phép từ nhà vua, sứ giả nước ngoài có thể ngược sông lên kinh đô. Tuy nhiên, trên đường tới kinh đô, ông ta phải dừng lại lần nữa tại nhà hải quan đầu tiên (khanqn), được đặt tại nơi mà ngày nay là Bangkok[5]. Ông ta cũng bị yêu cầu phải khai toàn bộ hàng hóa nếu có và danh sách các món quà dành cho vua để kiểm tra. Lá thư của hoàng gia cũng sẽ được dịch. Đồng thời, tại kinh đô Ayuthaya của Xiêm, sự chuẩn bị tiếp đón sứ giả được chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ. Khi mọi thứ sẵn sàng, sứ giả sẽ được phép tiếp tục tiến lên. H.G.Q. Wales miêu tả cách thức đón tiếp của người Xiêm như sau:

Một đoàn thuyền rồng của quốc gia được gửi tới để đón nhận lá thư* và sứ giả. Lá thư của hoàng gia được đặt trong một chiếc đế vàng** và được đặt trên đầu của một người Xiêm như là dấu hiệu của sự kính trọng; sau đó nó được chuyển đi dưới tán lọng hoàng gia tới thuyền rồng có ngai vàng và được lắp vào vật hình tháp chóp. Các sứ giả đi theo sau trên những chiếc thuyền rồng kém lộng lẫy hơn…[6]. 

Thông thường, trong thời kì Ayutthaya sứ giả nước ngoài lên bờ tại cảng sông có tên Pratu Chaj (Khải hoàn môn) nằm đối diện ngay tu viện có tên Phudthajsawan. Chiếc đế đựng lá thư hoàng gia được chuyển tới chiếc xe ngựa hoàng gia; sứ giả ngồi trên kiệu hoặc trên ngựa tùy theo thứ bậc của ông ta[7].

Trong thời gian ông ta ở Xiêm, sứ giả sẽ nhận được những gì tốt nhất mà Xiêm có thể đáp ứng như nhà trọ,  thức ăn, phương tiện đi lại…Chỉ sau khi trình quốc thư lên vua và truyền đạt thông điệp của nhà vua, sứ giả mới được tham gia vào các hoạt động thương mại[8].  Trước khi tiếp kiến hoàng gia, sứ giả bị yêu cầu trình lên quốc thư và trình bày về mục đích của chuyến đi tới Phra Khlang tại dinh thự của ông ta. Cuộc gặp với Phra Khlang diễn ra nhiều lần trước khi sứ giả được phép yết kiến vua. Các cuộc gặp này thường được tổ chức tại dinh thự của Phra Khlang bởi vì  nghi thức không cho phép Phra Khlang gặp sứ giả nước ngoài trước khi có phép của hoàng gia. Tuy nhiên, sứ giả bị nghiêm cấm đi tới bất cứ nơi nào ở kinh đô cho tới  khi tiếp kiến hoàng gia.

Theo N. Gervaise, sự đón tiếp của người Xiêm dành cho lá thư của hoàng gia nước ngoài có hai kiểu khác nhau tùy thuộc vào việc nó được gửi tới bởi chính thể có thứ bậc tương đương hay được gửi tới bởi nước chư hầu.  Các lá thư hoàng gia từ Trung Quốc, Ấn Độ và Ba-tư được tiếp đón với “nghi lễ long trọng hơn nhiều” so với những lá thư đến từ các nước chư hầu. Trong trường hợp thư đến từ các nước chư hầu, Gervaise nói với chúng ta rằng:

… Ông ta (vua Xiêm) đối xử với họ kém trang trọng hơn và mặc dù ông ta không tạo ra lý do gì khiến cho sứ giả phàn nàn, ông ta vẫn làm cho họ cảm thấy sự khác biệt tồn tại giữa vua của Xiêm và những ông vua cử họ tới. Trước khi được ban đặc ân tiếp kiến nhà vua,  họ buộc phải  đặt lá thư lên tay của Barcalon và trình bày với ông ta những vấn đề mà sứ đoàn đã được trao, chúng được kiểm tra và nhà vua đưa ra tuyên bố về các vấn đề đó đồng thời đồng ý tiếp họ hay không. Vào ngày tiếp kiến lá thư, một bản đã được dịch ra tiếng Xiêm, được đưa tới một ngôi nhà nhỏ  xây bên ngoài kinh thành có dạng kim tự tháp. Nó được giữ ở đó cho tới khi nhà vua ủy nhiệm cho vài viên quan lớn chấp thuận nó với sự trang trọng giống như dành cho bản thân nhà vua người đã viết ra nó. Họ cầm lá thư một cách trang trọng dưới chiếc lọng lộng lẫy cắm trên một trong số những chiếc thuyền rồng quốc gia và khi đến cung điện họ trình lá thư lên nhà vua, người sẽ đọc nó và sau đó trả lại cho họ để đặt nó vào văn khố của vương quốc nơi lưu trữ  cẩn thận tất cả các lá thư nhận được từ các ông vua nước ngoài từ trước tới nay. Một chiếc thuyền rồng quốc gia khác đồng thời được phái đi  để đưa sứ giả tới vị vua mà ông ta được phép tiếp kiến. Sứ giả tới đó mà không có tùy tùng nào theo ngoài những người đồng hương đã đi theo ông ta trong chuyến hành trình hoặc những người đã sống ở Xiêm. Nhà vua tiếp đón sứ giả ở một căn phòng bên ngoài cung điện và đôi khi là ở ngoài sân điện nơi gần dinh thự của vua nhất; đối với người Xiêm họ thường có một câu cách ngôn cửa miệng rằng: các ông vua láng giềng không xứng đáng đặt đầu của họ vào nơi vua Xiêm nghỉ chân. Nhưng sứ giả tội nghiệp này bị bắt buộc để chân trần  giống như một công dân thông thường khi ông ta tiến tới cánh cửa đầu tiên của sân triều và tiến lên phía trước một mình để yết kiến theo sự hướng dẫn của một vài viên quan. Ngay khi nhà vua xuất hiện, ông ta chào nhà vua như những người khác với ba lần phủ phục thật sâu và trình bày với Barcalon, thông qua sự phiên dịch của ông ta, mục đích của sứ đoàn và  công việc mà nhà vua giao phó muốn được trình lên vua Xiêm. Barcalon sau đó nhắc lại điều này tới vua Xiêm và nói lại với sứ giả câu trả lời của vua Xiêm. Ngay khi sứ giả nhận được câu trả lời qua miệng Barcalon, ông ta  phủ phục hơn ba lần để cảm ơn nhà vua. Sau đó ông ta được tặng trầu đựng trong cơi bằng vàng, một chiếc áo khoác hay những thứ quý hiếm khác và ông ta sẽ phải từ biệt vua ngay từ lần tiếp kiến đầu tiên bởi vì nó hiếm và trên thực tế nó sẽ trở thành vấn đề rất khó khăn nếu như nhà vua không thể kết thúc nó và điều rất quan trọng là nhà vua sẽ cho phép tiếp kiến lần thứ hai[9].

Trái lại,các sứ giả  mang theo thư hoàng gia từ Trung Quốc, Ấn Độ và Ba-tư, những nơi được coi như có thứ bậc ngang bằng với vua Xiêm lại nhận được sự tiếp đãi rất khác. N. Gervaise miêu tả điều này trong cuốn sách của ông:

Ông ta (vua Xiêm) không đối xử bằng cung cách tương tự  đối với các sứ giả của các hoàng đế đứng ngang hàng với nhà vua. Ngay khi biết được họ đã tới vương quốc, vài chiếc thuyền rồng của quốc gia được phái tới để gặp họ. Họ sẽ tự mình mang thư  tới cung điện và đưa cho Barcalon với sự có mặt của vua để trình nó lên nhà vua. Những con đường dọc theo nơi họ đi qua được xếp hàng bởi những người lính gác có vũ trang và những thớt voi cùng những chiếc lọng lộng lẫy và một số lượng lớn các quan lại mặc những bộ quần áo đẹp nhất có các nô lệ đi theo hầu, họ đi trước các sứ giả và đi cùng với họ đến nơi tiếp kiến. Nhà vua tiếp sứ giả tại cung điện của mình,  ở đó nhà vua tiếp đãi họ rất vương giả và không bao giờ nhà vua tiễn họ khi chưa tặng họ những món quà lộng lẫy – thứ đủ để cho họ hiểu sự tôn kính cao thể hiện bằng sự vĩ đại và tráng lệ…[10]

Thủ tục được dẫn ra ở trên được dùng trong buổi đón tiếp  các sứ giả Pháp Chevallier  de Chaumont và Simon de La Loubere vào cuối thế kỉ 17 dưới triều vua Naraj. Trái lại, sứ giả John Crawfurd của Anh đến Bangkok dưới triều vua Rama II (1809-1824) đã được đón tiếp giống như là sứ giả của nước chư hầu. Trên thực tế lá thư của ông ta thậm chí còn “không được đưa ra trong buổi tiếp kiến và chỉ có bản dịch của nó được đọc và những người phiên dịch thuộc sứ đoàn cũng không được phép làm việc này”[11]. Lý do chính của sự đối xử khác biệt này nằm ở thực tế các lá thư của nước Pháp được gửi tới  từ vua Louis XIV trong khi lá thư mà Crawfurd mang tới là lấy từ Thống đốc Anh ở Ấn Độ.

Ngay khi sứ giả tới sân triều đầu tiên, ông ta phải tháo giày ra. Trước khi bước vào khoảng sân thứ hai, ông ta phải đặt tất cả vũ khí xuống. Luật lệ này không hề được xóa bỏ cho tới triều vua Rama IV khi ông cho phép các viên chức trong sứ đoàn của John Bowring đeo gươm. Tuy nhiên, không có thành viên tùy tùng nào của sứ giả được phép bước vào nơi tiếp kiến.

Theo La Loubere, phòng tiếp kiến tại Ayutthaya được mô phỏng theo mô hình của Trung Quốc*. Nhà vua tiếp sứ giả qua một cửa sổ đối mặt với tòa nhà và cao khoảng 9 feet so với sàn nhà[12].  Với kiểu bố trí như vậy, không ai có thể nhìn thấy vương miện và vào lúc cuối buổi tiếp kiến nó được “kéo kín bởi bàn tay vô hình và cánh cửa đóng lại”[13].  Trong thời kì Bangkok, phòng tiếp kiến là sự mô phỏng phòng tiếp kiến ở Ayutthaya ngoại trừ rèm cửa và vương miện mạ vàng được thêm vào dưới triều vua Rama II[14]. Đối với những sự sắp xếp khác bên trong phòng và nghi thức tại buổi tiếp kiến H.G.Q Wales đã miêu tả như sau:

       Ở mỗi bên cánh cửa tiếp kiến có đặt một chiếc lọng bảy tầng và bên trên nó được xếp thành chín tầng bậc. Các viên quan của Xiêm được sắp xếp nghiêm ngặt trong phòng tiếp kiến sao cho phù hợp với thứ bậc của họ, người gần nhất cách cửa sổ khoảng 20 bước chân và tất nhiên tất cả bọn họ đều quỳ phủ phục trong suốt quá trình tiếp kiến. Những sứ giả, trong thế kỉ 17 những nhà truyền giáo người Pháp – những người cũng được phép có mặt để đóng vai trò như là những người phiên dịch, được bố trí vào bất cứ nơi nào mà nhà vua nghĩ là thích hợp với thứ bậc của họ và họ được phép ngồi hoặc đứng tùy theo sự  nới lỏng của luật lệ mà nhà vua đã bị thuyết phục để cho phép nhưng phải ở  vị trí đặc biệt để giữ chân và phần dưới thân thể họ dấu kín. Khi nhà vua xuất hiện, tất cả bày tỏ sự tôn kính bằng việc chắp tay và cúi đầu ba lần cho tới khi trán chạm đất nhưng cử chỉ cúi đầu này không nhất thiết phải áp dụng cho người châu Âu. Sự chào hỏi tương tự cũng sẽ kết thúc thủ tục này[15].

Tài liệu của La Loubere miêu tả sự sắp xếp phòng tiếp kiến khá thú vị. Ông đã phác thảo sơ đồ của căn phòng và giải thích chi tiết*. Ông viết:

 A. Ba bậc thang** được đặt dưới cửa sổ nơi vua Xiêm có mặt giúp nâng tôi đủ cao để đưa lá thư của vua tới tay ông ta.

B. Có ba chiếc lọng

C. Có hai cầu thang dẫn vào cung điện nơi vua Xiêm ngự.

D. Có hai chiếc bàn phủ thảm thêu, trên đó có đặt quà tặng của vua.

E. Con trai của ông Ceberet đứng và cầm lá thư của nhà vua đựng trong một chiếc đế bằng vàng ba tầng.

F. có hai chiếc bàn vuông nhỏ và ghế thấp, mỗi chiếc đều được phủ thảm để cho sứ giả ngồi. Monsieur de Chaumont có một chiếc như thế.

G. Giám mục xứ Metellopolis là Apostolick Vicar ngồi bắt chéo chân.

H. Monsieur Constance phủ phục ở phía tay phải tôi ở phía sau để làm người phiên dịch cho tôi.

I. Cha Tachart ngồi bắt chéo chân.

K. 50 vị quan quỳ phủ phục.

L. Các quý ông người Pháp đều ngồi bắt chéo chân.

M. Có một đôi cầu thang nhỏ làm bằng gạch dẫn lên phòng tiếp kiến.

N. Hai cầu thang này được cố định vào bức tường[16].

Một cuộc tiếp kiến hoàng gia thường ngắn và trang trọng. Trước tiên, một viên thư lại quỳ phủ phục sẽ đọc danh sách các món quà tặng của vương triều nước ngoài dâng lên vua. Một vài món nhỏ được đặt lên chiếc bàn trước cửa sổ (xem hình vẽ trang 35.D). Sau đó đến màn trình lên lá thư đã được miêu tả. Phra Khlang đọc bản dịch lá thư cho vua nghe, sau đó sự trao đổi sẽ diễn ra qua phiên dịch. Thông thường nhà vua sẽ hỏi sứ giả những câu hỏi sau:

Vua và hoàng gia có khỏe không? Sứ giả đã có một chuyến đi thú vị hay không? Chuyến đi kéo dài bao lâu? Sứ giả có vừa lòng với những trận mưa rào vào mùa mưa ở quốc gia này hay không và dân chúng có giàu có hay không?[17].

Nhà vua sau đó sẽ yêu cầu sứ giả trả lời qua Phra Khlang. Câu trả lời phải ngắn gọn vì câu trả lời mà càng dài thì sứ giả càng ít nhận được sự trọng vọng. Lý do ông ta chỉ là người đưa tin vì thế không nên nói những điều không được hỏi. Sau câu trả lời của sứ giả, nhà vua tặng ông ta một món quà nhỏ là cơi trầu[18]. Trong thời gian sứ giả ở kinh đô, người  ta mong đợi sứ giả mặc trang phục kiểu Thái, một sự đòi hỏi có lẽ chịu ảnh hưởng từ phong tục Trung Hoa, vì vậy một tấm vải Thái và một chiếc ô được cấp cho sứ giả. Buổi tiếp kiến kết thúc bằng ba lần quỳ lạy và sau đó nhà vua rút lui vào trong phòng riêng của mình. Về sau, có thể có nhiều cuộc gặp riêng và không trang trọng được dành cho sứ giả và sứ giả được dẫn đi thưởng ngoạn cảnh đẹp xung quanh kinh thành. Cuối cùng, một buổi tiếp kiến trang trọng của hoàng gia sẽ được tiến hành nhằm đánh dấu sự kết thúc tất cả các công việc của cả hai bên. Sau buổi tiếp kiến cuối cùng này sứ giả lại bị đặt trong sự cách ly nghiêm ngặt và người ta mong sứ giả lên đường càng sớm càng tốt[19].

Từ tất cả các quy định, thủ tục của nghi thức ngoại giao người Xiêm nói trên, kết luận chung có thể rút ra là tất cả chúng ban đầu là nhắm tới phục vụ mối quan hệ với Ấn Độ và Trung Quốc bao gồm cả những quốc gia lân bang chịu ảnh hưởng văn minh Ấn Độ, Trung Quốc hoặc là cả hai. Về phần mình, các sứ giả châu Âu nhận thấy rằng phong tục của Xiêm rất khó hiểu và  rắc rối giống như các quốc gia khác ở phương Đông.  Họ cảm thấy bực mình vì sự buồn tẻ và thiếu vắng sự giao tiếp. Cũng cần phải nói thêm rằng vua Xiêm cũng giống như các vương triều phương Đông khác coi việc đón tiếp sứ giả nước ngoài như một sự danh giá lớn. Càng tiếp đón nhiều sứ giả nước ngoài, vương triều càng có uy tín lớn. Tuy nhiên đối với việc gửi sứ giả ra nước ngoài thì Xiêm lại cố gắng hạn chế ở mức ít nhất có thể. Do đó, số lượng sứ giả  của Xiêm được nước ngoài đón tiếp ít nhiều phản ánh mức độ mối quan hệ của nước đó với Xiêm.

Sự diễn giải mối quan hệ của Xiêm với Trung Quốc.

Hiểu được bản chất thực sự của các sứ đoàn triều cống Trung Quốc từ nhiều quốc gia không phải là chuyện dễ dàng do sự thiếu vắng thông tin. Một số tư liệu ngắn ngủi về các sứ đoàn này được ghi lại trong lịch sử các vương triều Trung Quốc thường không đầy đủ và không đáp ứng được mong đợi. Xuất phát từ thực tế rằng Trung Quốc luôn tuyên bố tất cả các sứ giả từ nước ngoài đều là những người thực thi triều cống, chúng ta cần thiết phải nghiên cứu mục đích chính của các sứ đoàn này. Xiêm, nơi bị Trung Quốc xếp vào hạng các nước chư hầu sẽ cho chúng ta một “case study” thú vị. Bất chấp thực tế rằng Xiêm gửi sứ giả tới Trung Quốc một cách đều đặn, Xiêm luôn phủ nhận lời tuyên bố về cương vị chúa tể của Trung Quốc. Cần phải ghi nhớ rằng ở Đông Á những ông vua có quyền lực hơn thường có xu hướng tuyên bố sự phụ thuộc của các ông vua nhỏ hơn, thậm chí cả trong trường hợp các ông vua lớn này không hề kiểm soát hay có thẩm quyền gì đối với các nước nhỏ hơn. Sự tuyên bố của Trung Quốc đối với Xiêm là theo mô hình này. Các sử gia, những người có sự quan tâm về mặt giả thuyết chịu ảnh hưởng bởi sự nhấn mạnh truyền thống về vai trò nổi trội của Trung Quốc ở châu Á đã chia sẻ ý kiến rằng Xiêm là nhà nước triều cống Trung Quốc. Họ đã không mấy cố gắng, nếu có, để tìm ra quan điểm của Xiêm về mối quan hệ này. Quá nhấn mạnh về một phía của câu chuyện có thể sẽ dẫn tới lầm lạc hoặc ít nhất cũng đem lại cho người đọc một sự miêu tả thiên lệch. Việc kết luận các món quà gửi tới Trung Quốc là “triều cống” và các sứ giả là “người triều cống” là quá dễ dãi bởi vì thậm chí tư tưởng của Trung Quốc về hệ thống triều cống theo lời của John K. Fairbank là “không chính xác như những gì nó có”[20]. Bản thân hệ thống này có liên quan đến cả ngoại giao và thương mại quốc tế, thứ được tiến hành trong cùng một cái khung. Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Xiêm chắc chắn chưa được định nghĩa rõ ràng. Nó cũng nhập nhằng như bản chất của các sứ đoàn đến từ các nước khác. Việc phân biệt và phân ly động cơ kinh tế khỏi động cơ chính trị là điều không thể. Ở bất cứ tỉ lệ nào thật dễ dàng để rút ra kết luận rằng các sứ giả được gửi tới Trung Quốc đều mang theo hai mục đích là kinh tế và chính trị. Và tất nhiên những sứ giả  xuất phát từ Xiêm cũng không phải là ngoại lệ. Câu hỏi còn lại là quyết định gửi sứ giả đi của Xiêm  với những món quà thích hợp cho dù được phía Trung Quốc diễn dịch là triều cống để đổi lại những lợi ích về kinh tế và chính trị có phải là sự chuyển đổi từ một nước độc lập sang một nước phụ thuộc hay không. Do đó cần thiết phải đưa ra và thảo luận một vài tư liệu tiếng Xiêm – thứ có thể soi rọi đặc điểm đích thực của mối quan hệ Trung-Xiêm.

Xuyên suốt các tư liệu lịch sử tiếng Xiêm, sự tuyên bố của Trung Quốc về quyền bá chủ đối với Xiêm chưa bao giờ được đề cập một cách nghiêm túc. Tuy nhiên, chúng ta biết được từ nguồn tương tự rằng các sứ giả  được gửi tương đối đều đặn tới Trung Quốc. Những sứ đoàn này, trong quan điểm của Xiêm, nhằm mục đích lấy lòng Trung Quốc và do đó tạo ra các phương tiện phục vụ buôn bán đặc biệt là đối với những món đem lại lợi nhuận.

Mặc dù chúng ta không tìm thấy nhiều bằng chứng tiếng Xiêm, thứ có thể bị phá hủy khi Ayutthaya sụp đổ bởi người Miến Điện vào năm 1767, việc quan tâm tới sự diễn giải của Xiêm trong mối quan hệ của nó với Trung Quốc trong thời kì Sukhothai và Ayutthaya lại cho chúng ta khả năng tái cấu trúc lại quan điểm của Xiêm từ các nhân tố chính trị, kinh tế, văn hóa và ngoại giao diễn ra giữa hai quốc gia trong thời gian đó. Thêm nữa, cả nguồn tư liệu tiếng Trung ghi chép về các sứ giả  Xiêm và biên niên sử tiếng Xiêm sẽ cung cấp đủ thông tin cho chúng ta trong việc khám phá động cơ của Xiêm trong việc phái sứ giả tới Trung Quốc. Đối với thời kì Bangkok nguồn tư liệu tiếng Xiêm về vấn đề này có đầy đủ hơn.

Có đầy đủ bằng chứng để nói rằng vương quốc Sukhothai và Ayutthaya không coi việc gửi các sứ đoàn tới Trung Quốc như là biểu tượng của nhà nước chư hầu. Luận cứ này được củng cố bởi thực tế rằng Trung Quốc chưa bao giờ tấn công Xiêm bằng quân sự. Mặc dù Trung Quốc đã thể hiện sự đe dọa bằng quân sự vào đầu thời Sukhothai khi quân đội Khubilai đang tiến hành chiến dịch tại Miến Điện và Annam, nó không thể hiện chút tham vọng nào trong việc xâm lược Sukhothai. Trong sự vắng mặt của mối nguy cơ về quân sự thực sự từ Trung Quốc, thứ có mặt trong trường hợp của Miến Điện (Burma), Annam, Triều Tiên,  tại sao Xiêm lại tự coi mình như là một nước chư hầu của Trung Quốc? Sứ giả Sukhothai đầu tiên được gửi đến triều Nguyên bởi vua Rama Khamhaeng vào năm 1292 được bố trí chủ yếu để nghe ngóng động thái của Khubilai đối với Sukhothai[21]. Khi nó trở nên rõ ràng hơn rằng Khubilai không có ý định tấn công Khukhothai, Rama Khamhaeng tiếp tục chính sách bành trướng xuống phía nam. Mối quan hệ của Sukhothai với nhà Nguyên Trung Quốc do đó là mối quan hệ ngoại giao. Từ thời gian này về sau, Xiêm không hề có một khoảnh khắc nào phải lo sợ về sự xâm lấn bằng quân sự từ phía Trung Quốc. Một nhân tố giúp Xiêm tránh khỏi sự đe dọa của Trung Quốc là lợi thế về địa lý. Không giống như Miến Điện, Annam và Triều Tiên, Xiêm không có đường biên giới với Trung Quốc. Do đó Trung Quốc không có lý do gì để lo lắng về Xiêm. Bởi thế, sự hiển diện của đe dọa bằng quân đội thứ trong phần lớn trường hợp nhằm ép buộc các quốc gia nhỏ phục tùng nước lớn không có trong trường hợp của Xiêm và không phải là nhân tố trong mối quan hệ Trung-Xiêm.

Một phần chính quan trọng khác của bằng chứng minh họa sự quả quyết của Xiêm trong sự tự trị của mình là thực tế rằng tất cả những sự giao tiếp với Trung Quốc đều đặt dưới sự phán quyết của Bộ trưởng bộ tài chính-ngân khố: Phra Khlang, người kiểm soát tất cả các chi nhánh ngoại thương. Điều này có nghĩa rằng mối quan hệ với Trung Quốc trong cái nhìn của Xiêm là nhằm mục đích thương mại.

Từ lập trường văn hóa, Xiêm – nơi chịu ảnh hưởng nặng bởi tư tưởng Ấn Độ – đã không chia sẻ những tư tưởng cơ bản của Nho giáo Trung Hoa. Kết quả là Xiêm diễn giải mối quan hệ của mình với Trung Quốc khác với quan điểm Nho giáo[22]. Trong khi Trung Quốc coi sứ giả Xiêm như là biểu tượng của thần phục thì ngược lại Xiêm coi đó là sự viếng thăm lịch sự xã giao để đạt được những đặc quyền về kinh tế.

Trong suốt thời kì Bangkok, nguồn tư liệu về sự diễn giải của Xiêm đối với mối quan hệ của nó với Trung Quốc đầy đủ hơn. Người đầu tiên bảo vệ chủ quyền của Xiêm là vua Mongkut hay Rama IV (1851-1868) của vương triều Cagkri. Ông đã đưa ra hai lí do chủ yếu để bác bỏ sự tuyên bố quyền bá chủ của Trung Quốc đối với Xiêm[23]. Trước tiên ông biện luận rằng Xiêm đã duy trì mối quan hệ với Trung Quốc trong nhiều thế kỉ chủ yếu là vì những lợi ích thương mại. Thứ hai, những trở ngại về giao tiếp đã gây ra sự hiểu lầm liên quan đến nội dung của của các bức thông điệp của hoàng gia. Về điểm này vua Mongkut giải thích rằng người Xiêm và người Trung Quốc đều chẳng biết gì về ngôn ngữ của nhau  vì thế phải phụ thuộc vào các thương nhân Trung Quốc những người buôn bán với Xiêm và coi họ – những người chắc chắn đã nhìn nhận mối quan hệ Xiêm – Trung theo quan điểm Khổng giáo như người phiên dịch. Do đó, những người phiên dịch này đã dịch thông điệp của hoàng gia Xiêm bằng cách sử dụng từ Hán như “triều cống” (kung-cống) cho từ “tặng” trong tiếng Xiêm. Thêm nữa, vua Mongkut nghi nghờ rằng những phiên dịch viên người Trung Quốc này cố ý tạo ra ấn tượng rằng sứ đoàn Xiêm tới triều cống Trung Quốc vì thế mà họ được ban các đặc quyền thương mại từ hoàng đế Trung Hoa dựa trên sự cho rằng các sứ đoàn của Xiêm tới Trung Quốc là thể hiện sự phục tùng của Xiêm.

Vua Mongkut đã ngày một quan tâm tới sự tuyên bố quyền bá chủ của Trung Quốc. Tin rằng uy tín và chủ quyền của Xiêm phải được tôn trọng, ông đã có một hành động quyết liệt để xóa bỏ sự hiểu lầm này. Việc chấm dứt các sứ đoàn là cách hiệu quả duy nhất để làm mất uy tín sự tuyên bố của Trung Quốc. Kết quả là không có sứ đoàn triều cống nào tới Trung Quốc trong thời gian ông trị vì[24].

Hoàng tử Damrong Rajanubhab, được biết đến rộng rãi như là một sử gia và chính khách Xiêm, đã ủng hộ sự diễn giải và phản ứng của vua Mongkut một cách mạnh mẽ. Ông đã giải thích sâu hơn rằng mối quan hệ giữa Trung Quốc và Xiêm  luôn luôn thân thiện và hoàn toàn khác mối quan hệ xuất phát từ Miến Điện và Annam. Trung Quốc đã xâm chiếm cả hai nước này và buộc họ phải triều cống theo lịch trình cố định, một thực tế không được áp dụng cho Xiêm[25]. Trung Quốc chưa bao giờ có xung đột vũ trang với Xiêm và không có sự xâm lược, chiếm đóng của Trung Quốc đối với Xiêm. Thêm nữa, không nên quá coi trọng những sự trình bày trong các tư liệu Trung Quốc bởi vì người Trung Quốc có thói quen coi tất cả các sứ giả  nước ngoài là người mang triều cống tới nhằm phô bày sự ưu việt của nước họ. Các sứ giả Xiêm, giống như các sứ giả  đến từ các quốc gia khác bị lúng túng bởi vì họ không biết tiếng Trung Quốc. Do đó họ không thể biết được thực tế rằng họ đã bị người Trung Quốc lợi dụng. Hoàng tử Damrong dẫn ra một ví dụ để củng cố lý luận của mình. Bên lề thất bại trước quân đội Anh-Pháp năm 1860, các quan chức Trung Quốc làm cho người dân của họ tin rằng những người lính nước ngoài này tới để triều cống và họ đang diễu hành về phía Bắc Kinh. Cú lừa này quá đơn giản,  họ tặng cho đội quân Anh-Pháp một lá cờ trên đó có dòng chữ tiếng Trung có nghĩa “đội quân mang đồ triều cống”. Không nhận ra ý nghĩa của lá cờ, đội quân đã diễu hành sau nó hướng về Bắc Kinh. Phương pháp lừa đảo này tất nhiên đã giữ thể diện cho các quan chức Trung Quốc chỉ trong vài ngày nhưng nó đã thể hiện rõ ràng cảm quan của họ về sự ưu việt.

Mặc dù Xiêm nhận ra bản chất của các sứ giả của mình trong cái nhìn truyền thống của người Trung Quốc, phản ứng của Xiêm lại không dứt khoát. Thực tế các quy định của người Trung Quốc yêu cầu triều cống trước khi ban tặng bất cứ đặc quyền thương mại nào đã làm cho Xiêm không có lựa chọn nào khác. Thương mại hưng thịnh với Trung Quốc quan trọng hơn nhiều so với những gì Trung Quốc tuyên bố xuất phát từ những sứ đoàn của Xiêm[26]. Do đó Xiêm tiếp tục gửi các sứ giả tới Trung Quốc. Quyết định được chứng minh như là một sự thiết thực. Lệnh cấm của nhà Minh đối với ngoại thương đã có ảnh hưởng rất nhỏ tới thương mại Trung-Xiêm bởi  Xiêm được coi như là nước triều cống vì thế vẫn có thể đến buôn bán hàng năm. Sự miễn thuế đã giúp đề cao Xiêm như là một trung tâm thương mại nơi có thể mua hàng hóa Trung Quốc một cách dễ dàng[27]. Quyết định của Xiêm trong việc duy trì mối quan hệ triều cống chủ yếu nhằm đạt được lợi ích thương mại phù hợp với thực tế rằng khi thương mại với Trung Quốc không còn quan trọng nữa, số lượng các sứ đoàn từ Xiêm tới Trung Quốc đã giảm xuống. Vào giữa thế kỉ 19, thương mại Xiêm-Phương Tây dần dần thay thế vị trí của thương mại Trung Quốc trước đó. Kết quả là các sứ đoàn của Xiêm tới Trung Quốc giảm mạnh và cuối cùng tạm dừng dưới triều vua Rama IV[28]. Hoàng tử Damrong cho chúng ta biết rằng từ đó về sau Xiêm đã liên tục lờ đi sự nhắc nhở của các quan chức Quảng Đông yêu cầu triều cống[29]. Vua Chulalongkorn hay Rama V (1868-1910) bực mình vì sự lặp đi lặp lại những lời nhắc này nên đã đưa vấn đề ra bàn thảo tại hội đồng nhà nước. Quyết định sau đó được đưa ra với nội dung không tái khởi động các sứ đoàn theo quan niệm cũ[30]. Hội đồng khuyên nhà vua rằng Trung Quốc phải cho phép sứ giả của Xiêm tới Bắc Kinh qua Thiên Tân nếu họ muốn có các sứ đoàn từ Xiêm tiếp theo. Điều này nhằm nâng cao vị trí của Xiêm trong con mắt Trung Quốc lên cao ngang với các quốc gia phương Tây.  Đúng như dự đoán, Trung Quốc từ chối yêu cầu này. Hoàng tử Damrong cho rằng  việc từ “tặng” được dịch như thế nào đã đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra sự hiểu lầm của các sử gia. Theo truyền thống của Xiêm, quà tặng biểu đạt lòng hữu hảo, tình bạn và được trao tự nguyện. Không có số lượng hay thời gian biểu cố định. Ông coi chiếu chỉ của vua Hồng Vũ cố định ngày tiếp đón sứ giả Xiêm ba năm một lần không phải là một sự nhân từ nhằm làm giảm bớt gánh nặng cho Xiêm mà là một cố gắng nhằm đưa Xiêm vào hệ thống triều cống[31]. Tuy nhiên, Xiêm tiếp tục không để ý đến quy định này và tiếp tục gửi sứ giả đến bất cứ khi nào thích hợp[32].  Sự thường xuyên của các sứ đoàn bị giảm đi khi vua trị vị ốm yếu hoặc tình hình trong nước hay quốc tế gây trở ngại. Một ví dụ tiêu biểu thể hiện Xiêm  không quan tâm tới quy định của Trung Quốc là việc gửi sứ giả tới Trung Quốc dưới triều vua Khang Hi năm 1669. Sau khi họ điều tra danh sách các món đồ do sứ giả Xiêm mang đến, các viên chức tại Quảng Đông nói với người Xiêm rằng thiếu một số vật phẩm theo danh mục quy định và họ phải mang đến vào lần sau.  Phát biểu này về sau đã bị hoàng đế bác bỏ[33].

Một sử gia người Xiêm khác là hoàng tử Narit cho rằng các thương nhân Trung Quốc, những người muốn làm cho hoàng đế hài lòng để có được lợi ích cho bản thân bằng việc thay đổi nội dung các lá thư của hoàng gia phải chịu trách nhiệm cho những diễn giải sai lệch này[34]. Một sử gia người Xiêm nổi tiếng khác là hoàng tử Chakrabongse đã bàn về quan hệ Trung-Xiêm như sau:

Các món triều cống được gửi (từ Xiêm) thực ra  là mưu mẹo để qua được các nghi thức của người Trung Quốc và các giới hạn do nhà chức trách Trung Quốc đặt ra tại các cảng. Bằng chứng nằm ở thực tế rằng bất chấp thứ được gọi là quyền bá chủ Trung Hoa kéo dài từ thời Sukhothai tới năm 1854, Trung Quốc chưa bao giờ can thiệp vào các sự kiện đối  nội hay đối ngoại của Xiêm[35].

Tất cả các tư liệu đã đề cập đều diễn tả cái nhìn của người Xiêm thống nhất trong việc bảo vệ quyền độc lập của mình. Lý luận của họ xứng đáng được thảo luận thêm. Nói chung, các học giả Xiêm tập trung lý lẽ vào sự phiên dịch lá thư hoàng gia, sự chân thực của các tư liệu Trung Quốc, mục đích chính của các sứ giả, sự độc lập trong đối nội, đối ngoại của Xiêm và sự diễn giải của bản thân từ “tặng quà”.

Vương quốc Sukhothai gửi sứ giả đầu tiên với lá thư hoàng gia, có lẽ cũng kèm theo cả bản dịch, tới triều Mongol năm 1292 đáp lại lời kêu gọi thiết lập tình hữu nghị của Khubilai[36]. Trên thực tế, trong tư liệu Trung Quốc, nhà nước Xiêm ở vùng phía Nam tại U-thqng hay Lo-hu đã gửi hai đoàn sứ giả tới Trung Quốc vào năm 1289 và năm 1291[37].

Tuy nhiên do vương quốc U-thqng, tại thời điểm cụ thể này, là nước chư hầu trên danh nghĩa của Sukhothai cho nên sứ đoàn của nó không thể được coi như là đại diện của Xiêm trong thời kì này. Cũng không rõ tại sao Khubilai lại tìm kiếm quan hệ hữu nghị với Sukhothai trong khi cùng vào thời gian đó ông ta thể hiện sự hiếu chiến đối với Miến Điện và Champa. Tuy nhiên dù sao cũng cần phải lưu ý rằng Ho Tsu-chih (Hà Dự Chí) được phái tới Sukhothai với tư cách là sứ giả vào năm 1282[38], chỉ một năm trước khi Khubilai thành công trong chiến dịch đánh Miến Điện năm 1283. Trong thời kì này, vua Rama Khamhaeng của Sukhothai là một trong những vương triều có quyền lực và năng lực nhất ở Đông Nam Á lục địa. Sẽ là hợp lý khi cho rằng Khubilai,  người có quân đội vấp phải sự chống trả ngoan cường của người Miến Điện muốn ngăn ngừa vua Rama Khamhaeng giúp đỡ kẻ địch của ông ta. Mặt khác, vua Rama Khamhaeng  đã mở rộng lãnh thổ Xiêm nhờ vào sự suy yếu của người Khơ-me và sự trung lập của Khubilai. Rõ ràng cả Trung Quốc và Sukhothai đều hưởng lợi từ tình bạn này. Do vậy, cũng là lô-gic khi cho rằng lá thư hoàng gia thứ nhất đi cùng với sứ giả Sukhothai tới Trung Quốc có chứa đựng những phát biểu về tình hữu nghị. Xét về hoàn cảnh tại thời điểm đó, sứ đoàn Sukhothai thứ nhất này đã không  lên đường tới Trung Quốc cho tới năm 1292, 10 năm sau khi Hà Dự Chí tới Sukhothai. Sự trì hoãn này nói  lên rằng sứ đoàn không được coi như là biểu tượng của thần phục xét từ quan điểm của người Xiêm. Hiếm khi Xiêm bày tỏ sự phụ thuộc vào Trung Quốc cho dù  việc hoãn phái sứ giả tới 10 năm sẽ có thể chuốc lấy sự trừng phạt của Trung Quốc giống như trường hợp của Miến Điện và Champa. Quyết định phái sứ giả của Sukhothai có thể được giải thích như một cố gắng nhằm “tìm kiếm sự thỏa hiệp với quyền lực nổi trội bên ngoài ở trong khu vực”[39]. Tuy nhiên, việc thực sự hiểu được chức năng thật sự của sứ đoàn đầu tiên của Xiêm là điều không thể nếu như không so sánh với nội dung của các lá thư hoàng gia Xiêm trong các tư liệu Trung Quốc. Bởi vì không có những bản sao tiếng Xiêm tồn tại, chúng tôi buộc phải dựa vào nguồn tư liệu Trung Quốc. Tuy nhiên sự trình bày trong các tư liệu Trung Quốc lại không đem đến những thông tin phù hợp về sứ đoàn. Chúng thường là những cấu trúc truyền thống diễn tả vị trí ưu việt của Trung Quốc và không nói gì về động cơ của sứ đoàn. Câu hỏi là liệu những phát biểu này của người Trung Quốc có nghiêm túc hay không? Wang Gung-Wu chỉ ra rằng  các bản dịch của những bản tấu trình lên hoàng đế khiến người ta tin rằng sứ đoàn đến không phải là để triều cống. Theo Wang Gung-wu thì những bản dịch này “quá kiểu cách và cổ điển trong giọng điệu như thể chúng dựa trên một vài công thức được vẽ ra từ trước bởi “ban phiên dịch”[40]. Luận cứ này khiến lời tuyên bố của Trung Quốc về Xiêm trở thành điều nghi vấn và chứng minh lý lẽ của Xiêm về chuyện những lá thư hoàng gia đã bị bóp méo về nội dung.

Mặc dù sứ đoàn đầu tiên của Xiêm được thúc đẩy bởi các mục đích chính trị, người Xiêm sớm khám phá ra rằng  những món quà họ tặng hoàng đế Trung Quốc được lại quả bằng những sản phẩm Trung Hoa có giá trị hơn. Dần dần, động cơ chính trong việc phái sứ giả tới Trung Quốc thay đổi từ chính trị sang kinh tế. Các sứ giả Xiêm không chỉ tiếp tục duy trì mà còn tăng thêm về cường độ. Theo John K. Fairbank, lợi nhuận tăng lên trong thương mại đã trực tiếp ảnh hưởng tới việc tăng tiến nhanh chóng các sứ đoàn Xiêm[41]. Theo quan điểm của Xiêm, các sứ đoàn đóng vai trò thứ yếu trong mối liên hệ Trung-Xiêm mà có chức năng như là phương tiện vận tải tài tình phục vụ thương mại. Sự diễn giải này thực sự trùng khít với phong tục ngoại giao của khu vực vào thời điểm đó. Ở các quốc gia châu Á có phong tục làm thân với vị vua của quốc gia mà họ muốn buôn bán bằng việc làm ông ta vui lòng với những món quà tặng có giá trị[42]. Áp dụng nguyên tắc tương tự với Trung Quốc, người Xiêm coi các mối quan hệ thương mại đem lại lợi nhuận quan trọng hơn nhiều so với mối quan hệ ngoại giao chính thức[43]. Nói một cách khác, người Xiêm duy trì mối quan hệ ngoại giao với Trung Quốc chỉ vì nó là phương tiện tạo thuận lợi cho thương mại. Thực tế này được chỉ ra rõ ràng trong phát biểu của viên thư lại phục vụ quan nhiếp chính Xiêm vài năm sau sự cai trị của vua Rama IV của vương triều Cagkri.  Lời phát biểu đó như sau:

Tặng quà không đi ra ngoài mong muốn đảm bảo những thuận lợi về thương mại và nó được tiến hành cho mục đích duy nhất đó[44].

Một ấn phẩm bán chính thức tiếng Xiêm khác ở Bangkok cũng coi thương mại là mục đích quan trọng. Nó bảo vệ chủ quyền của Xiêm bằng việc phát biểu rằng:

Burmah và Cochin-China là triều cống, đúng thế! Và cả hai đã cố gắng ném bỏ lòng trung thành của mình nhưng thất bại. Nhưng Xiêm chưa bao giờ va chạm với Trung Quốc và chưa bao giờ có cơ hội để triều cống. Tất cả những gì đã xảy ra đơn giản là như vậy. Trong năm 1350, nhà vua đã chuyển kinh đô về Ayuthia  (ở Meinam) và thuyền Trung Quốc đã đến đây buôn bán. Người Xiêm mong muốn tham gia thương mại và nhà vua sau đó đã gửi một sứ giả tới để thiết lập tình bạn với Trung Quốc. Hoàng đế ưng thuận và mở cảng Quảng Đông nhưng người Trung Quốc đã đánh thuế nặng khiến cho các thương nhân Xiêm bị lỗ. Nhà vua sau đó đã phái một sứ giả khác mang theo lá thư trong đó nói sẽ tặng quà hàng năm cho Trung Quốc để đổi lấy sự đảm bảo về thuế. Yêu cầu này được chấp thuận. Một sứ giả sẽ được phép tới Trung Quốc ba năm một lần và người Xiêm có được những đặc quyền đối với những chiếc thuyền đi cùng ông ta… Hoàng đế đã đáp lại một số lượng lớn  quà tặng  và người Xiêm nhận thấy đây là một món hời và tiếp tục gửi tới các món quà tặng như là một tập tục bất biến nhưng họ làm vậy là để mong muốn đảm bảo những sự thuận lợi cho thương mại và chỉ vì mục đích đó[45].

Những lý luận nói trên là hợp lý trong quan điểm phát triển sau này. Vào giữa thế kỉ 19, các hoạt động thương mại Xiêm-phương Tây dần tăng lên  đến độ người Xiêm không còn hứng khởi với việc phái sứ giả tới Trung Quốc nữa. Tần suất của các sứ đoàn giảm và cuối cùng chấm dứt dưới triều vua Rama IV[46]. Thực tế này củng cố tuyên bố của Xiêm rằng các sứ giả của nó tới Trung Quốc chỉ là nghi thức đổi lấy các thỏa hiệp thương mại.

Sự độc lập của Xiêm trong đối nội và đối ngoại là một bằng chứng về tính độc lập. Trong lịch sử suốt một thời gian dài của mối quan hệ Trung-Xiêm, Trung Quốc chưa bao giờ có sự kiểm soát chính trị đối với Xiêm. Chúng ta phải ghi nhớ rằng tất cả các quốc gia trên trái đất đều đã từng bị coi là chư hầu của Trung Quốc. Một sự tuyên bố không hề phù hợp với thực tế lịch sử. Sự tuyên bố của Trung Quốc đối với Xiêm là mờ ám và không đáng coi là nghiêm túc[47]. Một sử gia khác khẳng định rằng Xiêm chưa bao giờ thừa nhận quyền bá chủ của Trung Quốc và luôn luôn coi sự trao đổi sứ giả và quà tặng giữa hai quốc gia là dựa trên bầu không khí hữu hảo, thân thiện[48].

See Chong-su cho rằng tuyên bố của Trung Quốc là mập mờ và không có giá trị. Ông nói:

Cái gọi là  sứ đoàn “chuyên chở triều cống” (giống như được viết trong các tư liệu Trung Quốc)…, chủ yếu là là sự trao đổi lịch thiệp giữa hai quốc gia hữu nghị. Sự xuất phát của các sứ giả như vậy không hề liên quan tới quyền bá chủ hay chư hầu thể hiện bằng bởi những người mang đồ triều cống[49].

Trên thực tế thậm chí một vài biểu tượng nghi thức mà các hoàng đế Trung Quốc thi thoảng tặng cho vua Xiêm về bản chất chỉ là danh nghĩa hơn là thể hiện ảnh hưởng của Trung Quốc. Ví dụ như sự sắc phong chẳng qua cũng chỉ là sự xác nhận thực tế cai trị của vua Xiêm[50]. Khấu đầu cũng là một ví dụ khác. Xiêm coi khấu đầu  chẳng qua cũng chỉ là ‘nghi thức tốt đẹp” bởi vì bản thân hoàng đế cũng cúi đầu vái lạy trời và tổ tiên của ông ta[51] .

Trung Quốc chưa bao giờ cố gắng can thiệp trực tiếp vào người kế vị của Xiêm.  Mặc dù phần lớn các vua Xiêm ngồi lên ngai vàng bằng vũ lực, nỗ lực của họ trong việc tìm kiếm sự sắc phong của Trung Quốc không thể được diễn giải như là cố gắng đảm bảo quyền lực của họ như G.W. Skinner phát biểu[52].  Điểm yếu nghiêm trọng trong luận văn của Skinner là việc ông quá nhấn mạnh mục đích chính trị của các sứ đoàn Xiêm. Thực tế là Trung Quốc có rất ít hoặc không có ảnh hưởng chính trị thực sự ở Xiêm. Do đó Trung Quốc không thể tăng cường hay làm suy yếu quyền lực của các vua Xiêm.  Nó giống như là một sự xác nhận vị trí hợp pháp của các vua Xiêm, thứ cần thiết cho việc duy trì mối quan hệ thương mại với Trung Quốc mà nhờ chúng các vua Xiêm thu được rất nhiều thuế và lợi nhuận. Như đã từng đề cập người Trung Quốc coi các món quà như đồ triều cống trong khi Xiêm tách biệt chúng khỏi đồ triều cống. Sự diễn giải khác biệt này là do sự hiểu lầm. Xiêm khẳng định rằng mọi thứ sứ giả mang đi cùng tặng cho hoàng đế chỉ là quà chứ không phải là đồ triều cống. Lý luận của Xiêm cũng phù hợp với mô hình của mối quan hệ ngoại giao phương Đông ngoại trừ với Trung Quốc. Phong tục tặng quà là phổ biến trong vùng và đặc biệt có thể thấy trong tất cả các sứ đoàn từ nước này tới nước khác. Chính người Trung Quốc đã “khéo léo chuyển ý tưởng này thành sự ca ngợi chính mình, bằng việc coi tất cả các món “quà tặng” là “đồ triều cống”, do vậy việc ra vẻ ưu việt nhờ  điều đó có lẽ đã có cơ sở mỏng manh nhất”[53].

Từ tất cả những điều nói trên chúng ta có thể kết luận rằng từ quan hệ  “chư hầu” là không thích hợp đối với mối quan hệ Trung-Xiêm. Không có bất kì sự bảo vệ hay giúp đỡ nào từ các hoàng đế Trung Hoa dành cho các vua Xiêm trong việc chống lại kẻ địch bên ngoài hoặc bên trong. Các hoàng đế Trung Hoa về phần mình cũng không đưa ra yêu cầu phụng sự gì, không thu thuế, hiếm khi đưa ra yêu cầu và vô cùng khoan dung bất cứ khi nào các vua Xiêm vi phạm quy định triều cống.

 


[1] Ibid., trang 18 và 179.

[2] La Loubere, Simon de, op. cit., 108.

[3] Ibid.

[4] H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 181.

[5] Records of the Relations…, op. cit., I, 83.

*   Để biết ví dụ về sự đón tiếp sứ giả nước ngoài của người Xiêm mời xem các bức hình minh họa trong H.G.Q. Wales, Siamese State…, loc. Cit.; đồng thời xem thêm trong La Loubere, Simon de, op. cit., I, 40.

** Theo H.G.Q Wales, chiếc đế vàng gồm “ba tầng. Nó phù hợp với phong tục ở đó  ba tầng được coi là thích hợp để đón nhận lá thư từ vị vua ngang hàng với vua Xiêm. Chiếc chỉ có hai tầng được dành cho các ông vua có địa vị thấp hơn”. Xem H.G.Q. Wales, op. cit., 184.

[6] H.G.Q. Wales, Siamese Satate…, op.cit., 181.

[7] Saengsom Kasemsri, M.R., op.cit.

[8]  La Loubere , Simon de, op. cit., 108.

[9] Nicolas Gervaise, The Natural and Political  History of Siam, A.D. 1688 ( H.S. O’Neill dịch từ tiếng Pháp) (Bangkok: n.p., 1928), 127-128.

[10]  Ibid., 128.

[11]  H.G.Q. Wales, Siamese State…, op. cit., 182.

* Xem hình vẽ trang 32.

[12]  La Loubere, Simon de, op. cit., 99.

[13] H. G.Q. Wales, Siamese State…, op. cit., 182.

[14] Ibid., 182-183.

[15]  H.G.Q. Wales, Siamese State…, op. cit., 183.

* Xem hình vẽ trang 35.

** Ba bậc thang này được thêm vào ở thời điểm sứ đoàn của La Loubere tới để tránh những cảnh  thất thố như  đã từng xảy ra với các vị sứ giả Pháp trước đó như Chevalier de Chaumont, người gặp vua Naraj. De Chaumont được yêu cầu  trình lên lá thư  tới vua bằng cách giữ  chiếc đế nhưng trái lại ông ta đã nắm lấy chiếc bình chứ không phải đế buộc nhà vua phải cúi xuống nhấc lấy lá thư.

[16] La Loubere, Simon de, op.cit., 111.

[17]  Damrong Rajanubhab, Prince, Siamese Embassies To Europe, 16, như đã trích dẫn trong H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 184.

[18]  La Loubere, op.cit., 109.

[19]  H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 185.

[20] J.K. Fairbank, “Tributary Trade and China’Relations with the West,” The Far Eastern Quarterly, I, no.2 (Febuary 1942), 129.

[21] Để biết thêm chi tiết mời xem trang 49-50, 126-129.

[22] Để biết thêm chi tiết mời xem trang 80-82.

[23]  Mongkut, King of Thailand, “The Sending of Royal Letters and Siamese Embassies to China in Ancient Times” in Interesting Topics in Siamese History (Bangkok: Thammasat U. Press. 1954(, 73-104 E.

[24] Mongkut, King of Thailand, op. cit., 104 E.

[25]  Damrong Rajanubhab, Prince, The Chronicle of the Second Reign…, op.cit., II, 110-111

[26] Damrong Rajanubhab, Prince, Preface of Collection of the Chronicles (Bangkok: Sygsaphan, 1963), V, 39-41.

[27] Ibid., 41.

[28] Damrong Rajanubhab and Narit, Princes, op.cit., XVI, 216.

[29]  Hoàng tử Damrong nghi ngờ rằng những viên chức Quảng Đông này đã tự ý đưa ra quyết định chứ khải quyết định của hoàng đế.

[30] Damrong Rajanubhab and Narit, Princes, op.cit., XVI, 125.

[31] Collection of the Chronicles ( Prachumphongsavadan) (tiếng Xiêm), V(concerning Sino-Siamese relations since ancient times) (Bangkok: Sygsaphan, 1963), 60, n.1;61, n..1.

[32] Ibid., 92, n.2.

[33] Collection of the Chronicles, op. cit., V, 92-93.

[34] Damrong Rajanubhab and Narit, Princes, op. cit., XVI, 126.

[35] Chula Chakrabongse, Prince, Lords of Life (London: Alvin Redman, 1960), 58.

[36] Nguyên Sử ( The history of the Yuan Dynasty) by Sung Lien, 1310-1381 (60 vols. In 6 cases, 1956 reproduction of the original), ch, 17, 13b.

[37] Nguyên Sử, ch.15, 15a;ch.16, 13a; đồng thời xem Collection of the Chronicles, op.cit., 52

[38] Nguyên Sử, ch. 12, 6b; ch.210 (phần về  Chan-cheng Cổ thành), 7a, 9a; xem thêm Collection of the Chronicles, op.cit., 51. ,

[39] J.F. Cady, Southeast Asia: Its Historical Development (New York: McGraw-Hill Book Co., 1964), 594.

[40] Wang Gung-wu, “The Nanhai Trade: A Study of the Early History of Chinese Trade in the South China Sea”, JRASMB, XXXI, pt. 2(June 1958), 119.

[41] J.K. Fairbank và Teng Ssu-yu, op. cit., 171.

[42] W.P. Groeneveldt, Historical Notes on Indonesia and Malaya (Djakarta: C.U. Bharatara, 1960), 4.

[43] W.F. Vella, Siam under Rama III. 1824-1851 (New York: J.J. Augustin, 1957), 113.

[44] Lá thư của S. Bateman, 10/3/1870, được trích dẫn trong The Siamese Repository, II (April 1870), 298-299,  cũng được trích dẫn trong W.F. Vella, ibid., 113, n.24.

[45]  Như được trích dẫn trong R.S. Gundry, China and Her Neighbors ( London: Chapman and Hall, 1893), 144-145.

[46] W.F. Vella, op.cit., 113.

[47]  W.A.R. Wood, A History of Siam (2nd ed.; Bankok: The Siam Barnakich Press, 1933), 47-48.

[48] H.G.Q. Wales, Siamese State…, op.cit., 15.

[49] See Chong-su, The Foreign Trade of China (New York: Columbia U. Press, 1919), 16.

[50] J.K. Fairbank, Trade and Diplomacy…, op. cit., 29.

[51] W.W. Rockhill, China’ Intercourse with Korea from the Fifteenth Century to 1895 (London: Luzac& Co., 1905), 4.

[52]  G.W. Skinner, Chinese Society in Thailand: An Analytical History (Ithaca: Cornell U. Press, 1957), 12, n. 66.

[53]  R.M. Martin, China: Political, Commercial, and Social. I (London: James Madden, 1847), 265.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s