Từ nhà tù đến nhà ngục Sơn La

nhung-bi-mat-ve-dia-nguc-tran-gian-o-son-la-3

                                                       Khổng Đức Thiêm

1 . QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, MỞ RỘNG

Ngay từ khi Đạo quan binh II được thành lập và đi vào hoạt động, người Pháp đã xây dựng đề lao (prison) Vạn Bích đặt tại khu vực Đạo lỵ thuộc khu vực Tạ Bú. Năm 1885, tỉnh dân sự Vạn Bú ra đời, đề lao của Đạo quan binh trở thành đề lao hàng tỉnh. Theo Nghị định ngày 10/1/1893, các đề lao tại các địa phương chỉ được giam giữ tù nhân phạm trọng tội hoặc những tội có mức độ nguy hiểm tương đương xảy ra tại khu vực đó cho đến ngày bản án có hiệu lực và cả những tù nhân có hình phạt dưới 1 năm, còn lại đều phải chuyển tới nhà tù cấp Kỳ, cấp liên bang, vì vậy đề lao Tạ Bú chỉ được thiết kế để giam giữ độ 200 tù nhân, chưa phân ra nơi giam giữ theo giới tính, vì tù nhân hầu như không có nữ giới. Mãi tới năm 1901, người Pháp mới tiến hành cải cách một phần chế độ đề lao quân sự theo hướng đề lao dân sự cấp tỉnh ở đây.

Sắc lệnh ngày 1/12/1902 ấn định Toà án Tây ở cấp tỉnh như Vạn Bú (sau là Sơn La)  được phép  xét xử cả người bản xứ còn Toà án Nam thì chia làm 2 cấp: Toà đệ nhị cấp đặt ở tỉnh lỵ, do Công sứ Vạn Bú (sau là Sơn La) làm chủ toà, từ 1922 trở đi, có thêm 1 Thẩm phán là Tri châu Sơn La trợ giúp; Toà đệ nhất cấp, còn gọi là Toà sơ thẩm, đặt ở châu lỵ, do Tri châu phụ trách, tuy nhiên hầu như không tồn tại; mãi đến 1923 mới được củng cố.

Trong khoảng 10 năm (1921-1931), Toà đệ nhị cấp xét xử khoảng 180 vụ án, trong đó chủ yếu là các vụ án hình sự nhưng toà đệ nhất cấp chỉ xử khoảng gần 80 vụ án và chỉ một vụ có người đi tù.

Hồi đầu thế kỷ XX, Chiềng Lề vốn là châu lỵ của châu Mường La. Mặc dù so với Vạn Bú, nơi đây không được trời phú cho khung cảnh trên bến dưới thuyền nhưng bù lại, nhờ nằm ở vị trí trung tâm của cao nguyên Sơn La, nên cảnh vật bao quanh Chiềng Lề thật đa dạng và phong phú, với núi non xen kẽ đồng ruộng. Núi thì cao và trùng điệp, nhiều hang động kỳ vĩ. Tiếp theo là những dặng núi đất chạy liền với thung lũng và đồng ruộng, đất đai khá màu mỡ. Con suối Nậm La bắt nguồn từ bản San chảy dọc theo địa hình đến bản Lả Mường theo hướng đông tây- nam bắc. Suối Bó Cá là nguồn nước tốt dùng cho sinh hoạt của cư dân. Ngoài người Thái, đây còn là khu vực có nhiều dân tộc tụ cư như Mường, Mông, Khơ Mú, Tày, Nùng. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều người Kinh và người Hoa đã đến sinh cơ lập nghiệp.

Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn mô tả rằng, từ Mai Sơn qua Khe Mộc, Bái Mộc đến Kẻ Trình là đến châu Sơn La. Lại lội qua suối La, qua chân núi Hình Thần đến Mường Chinh [Chanh], ngàn Sở là đến Châu Thuận[1]. Có lẽ con đường này, thời Pháp thuộc mở mang thành đường 41 (nay là Quốc lộ 6).

Thấy trước được vị trí trọng yếu của châu lỵ Sơn La nên trong các năm 1903-1904 nhiều đề án về việc di chuyển tỉnh lỵ từ Pá Giang – Ít Ong về khu vực Chiềng An – Chiềng Lề được vạch ra và thực hiện từng bước. Đến tháng 10/1907, Sở Kiến trúc thuộc Nha Công chính Bắc Kỳ mới đưa ra thiết kế mặt bằng của tỉnh.

Đầu năm 1908, dưới sự quản đốc của Công sứ Sơn La là Jean Monpéra, nhà tù của tỉnh được xây dựng trên đồi Khau Cả. Mặc dù là ngục thất hàng tỉnh nhưng diện tích tổng thể của nó đã rộng tới 500 m2 với hai buồng giam lớn, 4 buồng nhỏ phụ cận tạo thành một khối nhà chéo hình tam giác, tường xây đá, mái lợp tôn, bục nằm trát xi măng có gắn cùm ở mép ngoài. Phần cuối cùng của khu chéo góc là một gian xà lim hình tam giác cân. Liền với buồng giam là khu vực chứa xác tù nhân. Các thùng xí nổi nằm ở giữa từng buồng giam.

Do nằm ở khu vực rừng núi hiểm trở, việc liên lạc với vùng xuôi hết sức khó khăn, chủ yếu vẫn là đường sông Đà đến Tạ Bú rồi từ đó chuyển tiếp bằng đường bộ vào Sơn La nên nhà tù Sơn La trở thành nơi giam giữ lý tưởng đối với những người yêu nước của thực dân Pháp.

Ngay từ khi nhà tù còn đặt ở Vạn Bú, nhiều nghĩa quân và thủ lĩnh tham gia cuộc khởi nghĩa Yên Thế bị bắt đã bị đưa lên giam cầm ở nơi đây như Trần Văn Bảy (1891) NguyễnVăn Dê, Phạm Văn Hai (1901), Ma Văn Định, Vương Văn La (1906), Nguyễn Công Giản, Nguyễn Hùng Lĩnh (1907), Nguyễn Văn Thiệt (1908). Số tù phạm này về sau tiếp tục bị đưa tới nhà tù Sơn La.

Khi nhà tù Sơn La vừa hoàn thành, từ Hải Dương phát phối 15 người quê ở Trạm Điền lên giam tại đây. Tiếp đó là Tạ Văn Thấu, Tạ Văn Lịch, Hoàng Văn Đức được chuyển từ Bắc Ninh lên; Nguyễn Văn Xám, Nguyễn Văn Lan do Toà án Hải Phòng xử 6 năm khổ sai, đày lên Sơn La.

Bị giam giữ và đày đọa trong nhà tù của bọn thực dân, những người yêu nước vẫn nung nấu ý chí tiêu diệt quân xâm lược. Mùa hè năm 1909, sau một thời gian bí mật tập hợp, móc nối và liên kết giữa các nhóm tù nhân, những người bị thực dân Pháp giam giữ ở đây đã nhất tề nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Cai Khạt, phá ngục, chiếm đồi Khau Cả, trại lính, dinh Chánh sứ, nhà Giám binh và Kho bạc tỉnh Sơn La. Khi bị phản công, những người nổi dậy đã chia làm nhiều toán lui về Mai Sơn, hoạt động ở Mường Chanh, giao chiến tại Xá Mảy (Chiềng Chung).

Về sự kiện này, Quắm tố mương ghi: “Vào năm 1911[2] những người tù do Cai Khạt dẫn đầu nổi dậy cướp phá. Họ đánh giữa trưa ngày chủ nhật chiếm trại lính, dinh Chánh sứ, nhà Giám binh, và nhà Kho bạc tỉnh Sơn La. Ba tháng sau họ bị Tây đánh thua.

Trong dịp này, những người tù ở Lai Châu cũng nổi lên “nhưng bị đánh thua ngay”[3].

Phong trào phá nhà tù Sơn La do Cai Khạt đứng đầu là trận bão tố đầu tiên tích tụ từ lòng uất hận đối với quân xâm lược trên đồi Khau Cả và kể từ khi tỉnh lỵ được dịch chuyển về đây. Tuy bị thực dân Pháp dìm trong bể máu nhưng nó mãi mãi nêu cao tinh thần bất khuất của nhân dân Sơn La.

Vào thời điểm này, Thống sứ Bắc Kỳ trưng tập 15.000 quân chính quy và lính khố xanh của các tỉnh Bắc Giang, Phúc Yên và Thái Nguyên tấn công vào căn cứ Phồn Xương của Đề Thám. Hàng trăm nghĩa quân Yên Thế đã sa vào tay giặc. Tháng 9/1909, một số nghĩa quân như Nông Phúc Dương, Đặng Quang Mỹ, Nguyễn Văn Si, Nguyễn Văn Khang được đưa thẳng vào nhà tù Sơn La.

Trong năm 1910, thực dân Pháp tiếp tục đưa nhiều nghĩa quân bị bắt ở chiến trường Yên Thế lên, gồm Hà Văn Phúc, Nguyễn Văn Lân, Lưu Văn Mậu, Đỗ Văn An, Trần Bá Tư, Nguyễn Văn Thu, Dương Văn Mận, Nguyễn Văn Hữu, Trần Văn Ba, Dương Văn Ngọc (Bếp Ngọc), Nguyễn Văn Lâm, Hà Văn Tý, Phạm Văn Uông, Nguyễn Văn Chỉ, Lương Văn Lộc (con trai Lương Văn Nắm), Lê Văn Kinh (Bang Kinh), Nguyễn Văn Tuế, Nông Văn Thông, Đào Văn Hùng, Nguyễn Văn Trang (Phó Trang), Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Văn Du, Dương Văn Vạn (Đề Vạn), Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Thực, Nguyễn Văn Ngân, Vũ Văn Ngư (Tổng Ngư), Hà Văn Hậu (Đề Hậu), Hoàng Văn Ân (Điển Ân- Thư ký của Đề Thám), Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Văn Tân, Nguyễn Văn Chuột, Nguyễn Văn Mậu, Trần Đức Hoành (Bếp Thủy),  Nguyễn Văn Khán, Nguyễn Văn Thịnh, Dương Đình Uất, Trần Văn Định, Dương Văn Đắc, Đặng Đình Cánh, Nguyễn Tiến Hy, Nguyễn Văn Nhu, Đào Văn Xương, Đào Văn Thịnh, Nguyễn Văn Mua, Phạm Văn Mai, Hoàng Văn Gạch, Nguyễn Văn Thìn, Nguyễn Văn Sói, Giáp Văn Cờ (Cai Cờ), Hoàng Văn Phúc, Lý Văn Hải, Hoàng Văn Hai, Nguyễn Văn Kiên (Tổng Kiên), Nông Văn Hỗ, Phạm Văn Thúy, Nguyễn Xuân Lan, Lê Thông Thúc, Hà Văn Tường, Trịnh Văn Đa, Trịnh Văn Khuê, Trịnh Văn Bích, Trịnh Văn Ni, Nguyễn Văn Mai, Đỗ Văn Thường, Nguyễn Mỹ, Nguyễn Văn Chung, Nguyễn Trọng Tiến, Phùng Văn Thược, Lê Văn Khách, Nguyễn Văn Ba, Đỗ Văn Tuy, Đỗ Văn Truật, Trịnh Văn Đáng,Trịnh Văn Kiến, Nguyễn Văn Biều, Nguyễn Văn Cần.

Đầu năm 1911, nhà tù Sơn La tiếp nhận thêm hai phạm nhân bị phát vãng là Ninh Tài, Tcheng Phúc Ký. Cuối năm đó, Thống sứ Bắc Kỳ cho 15 phạm nhân ở Trạm Điền – Hải Dương được về  quê làm ăn vì đã hết thời hạn phát phối, số còn lại đều bị đưa đi giam giữ tại Côn Đảo.

 Sau khi nâng cấp cơ sở vật chất cho “địa ngục trần gian” tại Côn Đảo, ngày 19/12/1915, Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh liên quan đến những tội phạm bị kết án phát lưu ở Đông Dương với các quy định dưới đây:

– Chế độ phát lưu có hai loại: Phát lưu tập thể relégation collective) và phát lưu cá nhân (relégation individuelle).

– Địa điểm dành cho phát lưu tập thể là Côn Đảo (đối với những người Việt Nam và châu Á có nguồn gốc là người Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Thượng Lào, Quảng Châu Loan) và các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang (đối với những người Việt Nam và châu Á có nguồn gốc là người Nam Kỳ, Khơme, Hạ Lào và Battambang).

– Số người bị phát lưu tập thể sẽ do chính quyền sở tại bố trí công việc để họ lao động. Cơ sở lao động có thể là những cơ sở thuộc chính quyền hoặc của tư nhân sở tại. Nếu là của tư nhân thì phải được sự đồng ý của Toàn quyền Đông Dương (sau khi đã tham khảo ý kiến của Thống đốc Nam Kỳ hoặc Thông sứ Bắc Kỳ và Giám đốc Sở Tư pháp Đông Dương). Số tù phạm này được trả lương, nhưng chính quyền phải giữ phần lớn số lương đó để trừ vào chi phí cấp dưỡng tù nhân, Mức lương và mức trừ các khoản chi phí đó sẽ do Toàn quyền quyết định.

– Người bị kết án phát lưu tập thể có thể làm đơn xin chuyển sang chế độ phát lưu cá nhân. Chính quyền địa phương kết hợp với tòa án sẽ xem xét trên cơ sở thái độ của đương sự trong thời gian còn ở chế độ phát lưu tập thể và xem xét đương sự đó đã có nghề chuyên môn tự kiếm sống không. Toàn bộ hồ sơ phải chuyển cho Giám đốc Sở Tư pháp, Toàn quyền Đông Dương mới quyết định chính thức cho người đó được chuyển sang chế độ phát lưu cá nhân. Trường hợp đơn bị bác bỏ thì 6 tháng sau mới được làm đơn lại.

– Người được hưởng chế độ phát lưu cá nhân có thể được tự do hành nghề của mình để tự kiếm sống hoặc có thể tự do ký giao kèo lao động với các cơ sở lao động của chính quyền hoặc của tư nhân, song vẫn phải ở nơi khác với nơi quê hương bản quán của mình hay khác với nơi mình đã gây án. Ngoài ra, chính quyền sẽ phát cho mỗi người một sổ riêng, trong đó ghi rõ tên gọi, bí danh, nhận dạng, hộ tịch, trạng thái pháp lý, thời hạn và nơi phải đến trình diện theo định kỳ. Trường hợp tái phạm một tội nào đó thì Toàn quyền Đông Dương sẽ ra quyết định hủy bỏ quyền được hưởng chế độ phát lưu cá nhân.

– Người bị kết án phát lưu tập thể cũng như phát lưu cá nhân đều có thể được chính quyền xét và tạm cấp cho một mảnh đất để tự canh tác thêm. Nếu không có vi phạm gì thì người có thể trở thành người sở hữu mảnh đất với hai điều kiện sau: một là, phải là người đang được hưởng chế độ phát lưu cá nhân; hai là, mảnh đất tạm cấp đã được canh tác liên tục 7 năm liền kể từ ngày tạm cấp.

Song song với việc ban hành các văn bản pháp quy, ngày 22/4/1916, Toàn quyền Đông Dương còn ban hành Nghị định cho củng cố, mở rộng và xây dựng thêm một số nhà tù ở các tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Sơn La, Lai Châu và đảo Cái Bàu. Giới thực dân cho rằng, nhà tù Cao Bằng giáp biên giới, tù nhân dễ vượt nguc; nhà tù Thái Nguyên chưa xây dựng xong; nhà tù ở đảo Cái Bàu đang xây dựng thì bỏ dở, còn nhà tù Sơn La và Lai Châu chỉ là nơi  giam giữ đơn sơ, chưa thích hợp với việc giam giữ các tù nhân nguy hiểm. Do đó phải củng cố vững chắc các nhà tù Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng; tiếp tục xây dựng cho thật kiên cố nhà tù đảo Cái Bàu, cần phải tập trung đầu tư cho nhà tù Thái Nguyên giống  như nhà tù ở Côn Đảo.

Ngày 17/5/1916, Toàn quyền Đông Dương đã ban hành Nghị định về chế độ tù phát lưu ở Đông Dương. Nghị định có các nội dung: Địa điểm ấn định cho tù phát lưu, điều kiện yêu cầu và đề đạt, việc xin làm công tại các cơ sở lao động, vấn đề tạm cấp đất đai để canh tác, việc chuyển thành sở hữu, trường hợp tù nhân ở với gia đình, trường hợp tù nhân lấy vợ, trường hợp tù nhân chết. Đây là văn bản triển khai Sắc lệnh 19/12/1915 của Tổng thống Pháp.

Như vậy, sau cuộc khởi nghĩa của Cai Ngạt và có điểm tựa là Sắc lệnh tháng 12/1915 của Tổng thống Pháp, nhà tù Sơn La tiếp tục được gia cố trong ngoài, tăng cường canh giữ và xiết chặt chế độ lao tù. Tuy nhiên, trong mấy năm liên tục, số lượng tù nhân chưa bao giờ lên đến 100 người. Tính đến tháng 6/1919, nhà tù Sơn La có 54 phạm nhân; đến tháng 6/1920, có 67 phạm nhân; đến tháng 6/1921 lên tới 129 người1;  tháng 6/1922 lên 67 người; tháng 6/1923 lên 92 người; tháng 6/1925 có 65 người; tháng 6/1926 có 27 người;  tháng 9/1927 có 57 người; tháng 6/1928 có 46 người.

Cuối năm 1930, nhà tù Sơn La mở rộng ra phía sau với diện tích gấp ba lần diện tích cũ (từ 500 m2 lên 1.500m2) gồm 5 nhà giam chính 4 lô cốt có chòi canh ở bốn góc và một gian dùng làm xưởng xay lúa, nhà kho, bếp, nhà thuốc và bàn giấy. Phía trong tường ngục có đường để lính đi tuần. Trong đợt mở rộng này, một dãy xà lim ngầm nằm sâu dưới mặt đất 3,5m, gồm có 8 xà lim và 1 buồng giam có một lối đi hẹp qua các xà lim được xây dựng thêm. Trong buồng tối, có cùm sắt tập thể gắn chặt vào bục giam từ 3 đến 5 người trên một diện tích hơn 8m2. Mỗi buồng tối có một cửa sắt, có ổ khóa lớn. Buồng xà lim cá nhân rất hẹp (1,68m2) với bệ nằm dài 1m gắn cùm sắt, đầu bệ có một hốc liền với bục, trên để cơm, nước, dưới để bô đựng phân và nước tiểu. Mỗi xà lim cá nhân chỉ có một lỗ thông hơi nhỏ, khi cánh cửa gỗ đóng lại thì nó biến thành một hộp kín, người nằm không thể cựa quậy, không thể phân biệt được giữa ngày và đêm.

Đối diện với dãy hầm ngầm, là một bể lớn chứa chìm sâu dưới đất.  Toàn bộ khu xà lim này có một lối xuống bằng 21 bậc đá nhỏ hẹp. Do cửa sát ngày đêm khoá chặt, cho nên không khí trong xà lim ngầm lúc nào cũng ẩm ướt, hôi hám, về đêm rất lạnh.

Khu nhà bếp được xây ngay trên trại lớn cũ. Lối lên xuống hầm ngầm nằm ngay dưới bếp.

Đầu năm 1940, Thống sứ Bắc Kỳ cho xây thêm một trại lớn, gồm 3 gian sau trại lính khố xanh và dành một trại giam nhỏ cho những người thuộc loại án trí2, gọi là trại tập trung (camp de conceneration politique).

Tháng 7/1941, Thống sứ Bắc Kỳ đã ra lệnh cho Nha Công chính thiết kế và lập kế hoạch xây thêm một nhà giam lớn với diện tích rộng gấp hai lần nhà tù cũ, để có thể giam thêm từ 500 đến 800 tù chính trị. Theo thiết kế, quy mô của nhà giam mới dự định gồm 5 xà lim và một dãy xà lim ngầm kiên cố để giam “những phần tử nguy hiểm”. Địa điểm được chọn để xây dựng nhà giam mới là dưới chân đồi Khau Cả liền với khu nhà tù cũ. Ngục Sơn La trở thành một trong những nhà tù lớn của thực dân Pháp ở Đông Dương.

Nói về tầm quan trọng của lần xây dựng này, trong thư gửi cho Kỹ sư trưởng Giám đốc Nha Công chính Bắc Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ đã viết: “Đây là một nhà tù mới, được sử dụng đồng thời với cái cũ vẫn tồn tại. Cần lưu ý rằng không phải trả tiền nhân công. Công nhân là tù nhân, mọi thứ gạch, vôi sẽ được sản xuất tại chỗ bằng cách tự lực. Những vật liệu khác như cát, gỗ, trong khả năng có thể sẽ lấy ở rừng hoặc ở mỏ địa phương để khỏi phải trả tiền một thứ nào cả. Công việc rất khẩn cấp, nhưng công việc phải thực hiện bằng cách sử dụng triệt để mọi phương tiện sẵn có với mức chi tối thiểu và đặt dưới quyền kiểm soát hành chính của ông Công sứ, ông ấy phải dồn vào đây tất cả phương tiện mà ông ấy có”. Trong một tờ trình của Êbuốcgioa- Giám đốc Nha Công chính Bắc Kỳ, gửi Thống đốc Bắc Kỳ ngày 26/9/1941, đã ước tính: việc cung cấp những vật liệu địa phương và thi công các công trình hoàn toàn do công sức của tù nhân sẽ cần vào khoảng 3 vạn ngày công.

Thực hiện kế hoạch đó, thực dân Pháp đã sử dụng toàn bộ lực lượng tù nhân ở nhà tù Sơn La với những biện pháp tàn bạo nhất vào việc xây dựng nhà giam mới này. Theo dõi và nắm được dã tâm ấy, chi bộ đảng ở nhà tù Sơn La đã lãnh đạo tù nhân tìm mọi biện pháp phá âm mưu đó với các biện pháp chủ yếu là lãn công, làm ẩu, không bảo đảm quy trình kỹ thuật cũng như chất lượng của công trình. Ngay cả khi phát hiện thấy những sai sót trong thiết kế như không có hệ thống thoát nước của toàn bộ công trình những người thi công cũng tìm cách đã bỏ qua. Cuối năm 1941, toàn bộ móng nhà với diện tích 3.900 m2 và hệ thống tường bao quanh đã hoàn thiện phần móng, nhưng do chất lượng không đảm bảo nên đến mùa mưa năm 1942, toàn bộ công trình trên bị sụp đổ. Kể từ đây cho đến khi thực dân Pháp buộc phải rút khỏi Sơn La vào cuối năm 1945, kế hoạch mở rộng nhà tù được đề ra vào năm 1941 không được tái khởi động.

Sau ba lần mở rộng và thay đổi thiết kế, từ những xà lim xây dựng trên mặt đất đến những xà lim, buồng tối nằm sâu dưới lòng đất, từ diện tích  500m2 (năm 1908) đến 3.900 m2 (năm 1941), nhà tù Sơn La trở thành một trong những trung tâm giam giữ khét tiếng ở Bắc Kỳ nhằm đầy ải những chiến sĩ cộng sản và những người yêu nước ở giữa núi rừng Tây Bắc hoang vu. Hoàng Công Khanh (tức Đoàn Xuân Kiểu)- một chiến sĩ cộng sản từng bị giam giữ ở đây, trong Hoa Nhạn lai hồng đã dựng lại quang cảnh ngục thất Sơn La khi đó như sau:

“ Nhà tù Sơn La được xây trên đồi Khau Cả, ở đầu tận cùng nhìn về phía chợ Chiềng Lề, cũng gọi là Bản Giảng vì chợ nằm trong bản này. Nhà tù mang hình thang lệch, ba chiều vuông góc, một chiều vát chéo. Tường bao ngoài cùng cao khoảng 3,5m – 4m, xây đá tảng to, dầy 0,40m, quét màu xám, trên cắm mảnh chai vỡ lởm chờm như lông nhím. Đứng ngoài trông vào, chỉ thấy nóc chòi canh trung tâm. Nhìn chung có cảm giác như một khối đá đặc. Nhà tù chia làm hai khu, một lớn, một nhỏ. Khu trong là khu chính trị phạm gồm các Trại lớn cũ (cũng gọi là Trại 1) Trại 2, Trại 3Căngb (camp de concentration politique), còn Trại lớn mới (cũng gọi là Trại lớn ngoài hoặc Trại 4) ở tách ra, cách khu trong một hành lang, một đầu tiếp giáp với Trại lớn cũ. Các Trại lớn cũ, 2 và 3 giam tù chính trị có án, còn Căng thì dùng để giam tù chính trị đã hết án ở các nơi khác chuyển về. Họ không được trả lại tự do, vì bị cho là nguy hiểm, buộc phải tập trung để tiếp tục ở tù vô thời hạn. Nói một cách khác, đó là cách bỏ tù chung thân không tuyên án.

Trại lớn cũ, Trại 2, 3 và Căng đều quây vào một sân chung bên cạnh Căng, có một gian nhà trống lợp mái, gọi là Nhà gạo, nơi tù nhân làm công việc xay sát hàng ngày, tiếp đó là bếp chuyên để nấu nước uống gọi là Bếp nước. Bếp nấu ăn chính ở phía đối diện xây trên cao, có thang gạch đi lên, sát tường mặt trước Trại lớn cũ. Gạo, thóc, thức ăn, mắm, muối, và xoong nồi, thùng, chảo, để trong một cái kho nhỏ bên cạnh. Bên cạnh kho này là nhà xí chung nằm chen giữa Trại lớn cũ và Trại 3. Dưới nhà bếp, có một cánh cửa sắt thông xuống hầm sâu đào ngay dưới nền nhà Trại lớn cũ. Hầm này dùng để giam tù bị phạt. Cầu thang xuống hầm có 21 bậc gạch, chiều ngang hẹp chỉ đi được hàng một. Hầm ở sâu dưới lòng đất, nên ban ngày cũng tối âm âm. Hầm có 8 xà lim thì 7 xà lim chỉ để nhốt một người ( mỗi xà lim này dài 2 m rộng 1 m) còn xà lim ngoài cùng rộng hơn dùng để nhốt 4 người. Mặt sau hầm có một cửa sắt nhỏ, trong có song sắt, ngoài ốp lưới sắt mau mắt. Cửa sổ này ở sát nóc hầm, lộ ra ngoài chân tường đường rông (ronde). Khi không có tù giam dưới hầm, thì dùng để chứa thóc, hàng ngày tù xuống lấy lên để xay giã.

Bể chứa nước ở ngay trước nhà bếp, xây ngầm dưới nền sân chung, có thang sắt đi xuống lấy nước. Bể  này dành cho kíp nhà bếp và người tù rửa ráy hàng ngày.

Trại 2 nhỏ hơn cả, bắt góc với một đầu Trại lớn cũ. Tiếp theo Trại 2 và Văn phòng nhà tù. Đối diện với Văn phòng là bàn giấy cửa xếp ngục, cách nhau một hành lang rộng 2m. Ngoài số thư ký của nhà nước, xếp ngục lấy thêm một số tù chính trị ra làm sổ sách. Trong năm năm (1940-1945) Ban Đại biểu nhà tù đã lần lượt cử các ông Vũ Đình Huỳnh, Đào Bình Luống, Vương Gia Khương ra làm việc đó. Các ông này có nhiệm vụ theo dõi việc cấp phát cho tù xem có bị ăn bớt hay cắt xén gì không, đồng thời theo dõi thái độ của xếp ngục.

Hành lang ngăn giữa văn phòng và bàn giấy là lối đi từ sân trong ra hành lang lớn. Cửa Trại lớn mới hay Trại ngoài mở ra hành lang này. Một cửa sắt hai cánh bằng chấn song ngăn cách hai hành lang. Lính gác đi tuần ban đêm có thể ở ngoài trông vào sân không cần phải mở khoá. Trên cao, giữa  văn phòng và bàn giấy có một nhà cầu, đó là chòi canh trung tâm. Đứng trên chòi có thể nhìn bao quát được toàn bộ bên trong trại. Trong sân, đối diện Trại lớn cũ, có một kho nhỏ chứa các đồ đạc lặt vặt (bàn ghế hỏng, gỗ bị loại…)

Bên ngoài, nối với Trại lớn mới, dọc theo hành lang lớn ở phía thường phạm, có nhà y tế và hai cái kho, một chứa các công trang (quần áo may sẵn đã  đóng dấu nhà tù, chăn chiếu, màn, nón…) để cấp phát cho tù hàng năm, một nửa chứa các dụng cụ (cuốc xẻng, dao, quang gánh, dành sọt) để tù lĩnh trước khi đi làm. Cạnh hai kho này là cửa vào khu thường phạm. Cũng có lúc giam tù chính trị (thuộc các đảng phái Phục quốc, thân Nhật như bác sĩ Trần Văn Lai, Hộ pháp Phạm Công Tắc) trong một thời gian ngắn.

Hành lang lớn là nơi tù xếp hàng đi làm bên ngoài như vào rừng chặt cây, xe củi, xe nước, lấy tre, đập đá, đục lỗ chôn mìn, nung vôi, đóng gạch, chăn nuôi, trồng trọt, cắt cỏ, quét dọn các công sở, làm rèn, làm mộc … Tù hình sự có khoảng hai ba chục người, chuyên làm công việc vệ sinh bên trong.

Đường rông chạy quanh ba mặt nhà tù sau tường bao, rộng 1,50m, rải đá xanh dầy đầm kỹ. Phối hợp với chòi canh trung tâm, có hai chòi nữa (2 và 3) ở hai góc tường bao phía sau Trại lớn cũ. Giữa tường trong phía trước, có một hõm tam giác nhỏ, cửa gỗ lim dày mở ra trên đường rông, trong có hai bệ nằm xi măng. Đây là xà lim cách ly (cellule isoléc) quen gọi tắt là idôlê, dành cho người tù mắc các bệnh truyền nhiễm như lao, hủi.  Thời gian 1940-1945, ở đó chỉ có hai người bị bệnh lao phổi: Tô Hiệu và Đoàn Xuân Kiều.

Trừ đường rông lát đá, còn nền hành lang lớn, nền sân chung và nền các trại giam đều láng xi măng dày. Phần lớn các sạp nằm trong trại đều bằng gỗ. Riêng  ở Căng, một phần ba Trại lớn cũ, một đầu Trại 2, thì đổ bệ xi măng. Trong các Trại lớn cũ, Trại 2 và 3 mỗi trại có một đoạn gác xép gỗ làm theo chiều ngang nhà, còn ở Trại lớn mới thì làm theo chiều dọc. Trên tất cả các sạp nằm đều có xích đông dài chạy suốt, cũng gọi là giá (étagère), cao ngang ngực để người tù xếp quần áo và đồ dùng riêng. Không có cùm sắt (hoặc trước có nhưng đã tháo dỡ đi) giống như ở Hỏa Lò, hay Côn Đảo, vì ở đây đã có hầm sâu để giam tù bị phạt. Các cửa sổ đều ở sát mái nhà, trong song ngoài lưới sắt, bên trong lúc nào cũng tranh tối tranh sáng. ở ngoài trời nắng bước vào trong trại phải định thần một lúc, hoặc nhắm mắt lại rồi mở ra mới trông rõ dần. Trừ cửa hầm sâu chỉ có song sắt, còn tất cả các cánh cửa khác đều bịt tôn kín, chừa một lỗ nhỏ bằng quyển sách để lính canh, cai tù có thể nhìn vào được mỗi khi đi tuần. Tất cả đều được sơn nhựa đường đen ngòm.

Cuối Trại lớn cũ xây một bệ gạch rỗng sát tường, giữa hai bên sạp nằm, dùng làm nhà vệ sinh hở. Anh em tù không sử dụng, mất vệ sinh và khó coi, mà thay thế bằng một cái thùng gỗ vuông thấp, kèm một thúng tro để ngay dưới gầm sạp. Ai lỡ phải đi ban đêm, thì để luôn ở chỗ mình, sáng sớm tự bê ra đổ vào nhà xí chung ở ngoài sân. Lại có thêm một đôi thùng sắt để chứa nước tiểu ban đêm, ban trật tự trong cắt phiên lần lượt gánh đi đổ và cọ rửa hàng ngày. Bình thường người tù lành dạ thì không sao. Gặp phải khi rối loạn tiêu hoá do ăn uống hoặc do thời tiết thì hết sức phiền toái, có khi thành tai hoạ. Thùng phân và thùng tro chuyển chỗ xoành xoạch, lịch kịch suốt đêm. Có khi mót quá, hai ba người cùng chổng mông vào nhau mà xì xoẹt. Cảnh tình vừa buồn cười vừa thảm đạm.

Cổng chính ra vào nhà tù không lớn lắm nhưng kiên cố, được làm bằng những thanh sắt lực lưỡng hàn liền với nhau, trên có dòng chữ Pháp .Pénitencier Sơn La (Ngục Sơn La) đúc bằng sắt gắn trên cao ở giữa hai đầu hai trụ cột. Có hồi, sau những cuộc vượt ngục của tù chính trị, xếp ngục cho bắt thêm mấy bóng điện to, trông như những con mắt lồi, soi mói, trừng trộ, nhưng không đủ sáng ban đêm, nên vẫn là những con mắt mù[4].

Một con đường đất chạy ngang trước mặt nhà tù, một đầu dẫn sang nhà xếp ngục, đầu kia chạy sang Toà sứ và các công sở, hành chính Sơn La. Sát cạnh trái nhà tù là Trại Giám binh, phía này không có đường rông. Cách sau lưng nhà tù khoảng 200m có một nhà thờ Tin lành nhỏ, linh mục là người Canađa. Cách nhà tù hơn 1 km, trên một ngọn đồi thấp, có trại lính lê dương. Dưới chân dốc trước nhà tù dựng một bulgalou (nhà gỗ, nhà một tầng) có lính canh gác. Mé phải nhà tù, sườn núi dốc đứng, không thể lên xuống được. Bên kia đường, xế trước cổng nhà tù, có một lán nhỏ bằng cái lều chăn vịt. Củi lấy ở rừng về xếp đống ở đây. Hàng ngày kíp nhà bếp cắt bốn người ra đó bổ củi dùng cho bếp nhà tù, cho xếp ngục, và Toà sứ.

Thẳng trước cổng nhà tù là con dốc chính xuống núi, bắt vào đường ra chợ Chiềng Lề, đi Mường La, ngược lại thì đi Lai Châu. Từ chân dốc, có lối sang bản Hẹo và các bản khác của đồng bào Thái. Ngang dốc, có đường xuống vườn rau, và chuồng trại chăn nuôi của nhà tù. Gần vườn rau có khu đóng gạch, nung vôi.

Hàng ngày tù phải leo dốc, đổ dốc nhiều lần để đi làm. Năm này qua năm khác, lúc nào người tù cũng phải hối hả ngược xuôi làm lụng quần quật, dưới sự trông coi của lính khố xanh, đôi khi với mức khoán quá sức của xếp ngục, công sứ. Người tù – tuy vẫn cố giữ sức và khéo léo đối phó để hạn chế sự bóc lột của chúng – nhưng do bị mệt mỏi kéo dài, sức lực vẫn cứ tiêu hao dần, trở thành cái mồi cho vi trùng bệnh tật.

Mặc dù được mở rộng đồng thời với nhiều nhà tù khác trong cả nước, nhưng diện tích giam cầm vẫn không đủ chỗ để giam cầm những chiến sĩ cách mạng.

2 .THỰC THI CHẾ ĐỘ LAO TÙ HÀ KHẮC

Với dã tâm một thời gian không lâu, sốt rét, bệnh tật và công việc khổ sai sẽ tiêu hao chúng một cách êm thấm, thực dân Pháp đã thực hiện ở nhà ngục Sơn La một chế độ tù đày hết sức khắc nghiệt về ăn, ở và công việc khổ sai hàng ngày.

Chế độ ăn uống của tù nhân do Thống sứ Bắc Kỳ quy định đã rất ngặt nghèo, lại còn bị bọn giám ngục tìm cách bớt xén. Bữa ăn mỗi người được một nắm cơm nếp lẫn trấu và sạn với muối trắng, hoạ hoằn mới có bữa canh rau già nấu suông. Ngày tết, ngày lễ, mỗi người được vài miếng thịt lợn luộc chấm với muối, không có bát đũa, phạm nhân phải ăn bốc. Đến nước lã cũng rất hạn chế. Mỗi buổi sáng mỗi người chỉ được phát 1 bơ sữa bò nước lã vừa để uống, vừa để rửa.

Mỗi một năm phạm nhân được phát 1 bộ quần áo bằng vải thô, 1 chiếc chiếu, 1 chăn sợi mỏng không đủ chống chọi với cái lạnh giá của miền rừng núi. Nơi giam cầm thì ngày nóng như thiêu đốt, đêm lạnh đến thấu xương[5].

Hàng ngày khi xương mù còn bao phủ dày đặc, tiếng kèn đã giục giã phạm nhân xếp hàng điểm danh để đi làm. Đi chậm, đi nhanh, hay nói chuyện  đều bị đánh đập. Những người ốm yếu vẫn phải đi làm những công việc như đục lỗ đặt mìn phá đá, chặt và kéo gỗ, đẩy xe chở đá, gỗ, cát, nước, gạo, củi… Những đợt đi chở gỗ ở Mai Sơn, chở gạo ở Tạ Bú, đường xa, đèo cao, dốc đứng, suối sâu phạm nhân phải đi ròng rã 3, 4 ngày đường. Ngoài ra, họ còn phải làm đường, nung gạch, đốt vôi. Công việc nặng nhọc thường xuyên xảy ra tai nạn, sức khoẻ giảm sút nhanh chóng, nhiều người mắc bệnh nhưng thuốc men thiếu thốn, cho nên trong những năm 1930-1936, hàng trăm chính trị phạm đã gửi thân lại khu gốc ổi[6]. Riêng năm 1933, trong 8 tháng, đã có hơn 60 người chết, trong đó có nhiều chiến sĩ ưu tú của Đảng như các ông Sáng, Tuệ, Bòm, Bò, Hiến, Tích …

Trước cảnh sống vô cùng khổ cực đó, các phạm nhân đã đề cao tình thơng yêu đồng đội giúp đỡ lẫn nhau. Đối với những người ốm đau đều được chăm sóc tận tình. Anh em đã dành những khẩu phần ăn tốt hơn để đồng đội bồi dưỡng, thay phiên nhau đấm bóp, lấy tay làm gối, nhường chỗ nằm nơi có không khí, cởi áo làm chăn đắp cho bạn lúc bị sốt. Công việc khổ sai hàng ngày, việc nhẹ dành cho người yếu, việc nặng những còn tương đối khoẻ gánh vác. Nhờ tình thương yêu đùm bọc, đoàn kết đấu tranh, không phân biệt đảng phái, động viên an ủi lẫn nhau, các chính trị phạm đã vượt qua những ngày đầy  gian khổ mà “thần chết” luôn luôn bám sát bên người.

Để thực hiện dã tâm nham hiểm giết dần những người cách mạng, ngoài chế độ tù đầy khắc nghiệt để hành hạ, làm cho thân thể người tù tàn phế, bọn cầm quyền Pháp còn cử lên Sơn La những tên Công sứ khét tiếng hung ác: Công sứ Saint Poulof. Trong thư gửi cho Thống sứ Bắc Kỳ năm 1932, Công sứ Saint Poulof đã nói rằng: “Xin ngài cứ tiếp tục gửi chính trị phạm lên Sơn La. Bọn này nếu ở Hoả Lò, là những hạng hung hăng khó trị, thì rồi đây tới đất Sơn La chỉ trong vòng 6 tháng thôi vi trùng sốt rét sẽ làm cho chúng suy nhược và trở nên hiền hoà- Chúng sẽ tự định đoạt lấy cuộc sống của chúng”. Bên cạnh những tên thực dân cáo già nham hiểm như Saint Poulof cousseau, ở ngục Sơn La còn nhiều tên tay sai gian ác như chánh xếp Gabori, tên lính Xoaxăngken (số 75), tên đội nhất Sedơnong (số 1111) luôn luôn đánh đập tù nhân bất kể lúc nào.

Đoàn tù chính trị đầu tiên bị đầy lên ngục Sơn La vào cuối năm 1930 gồm 24 người. Thành phần của đoàn tù khá phức tạp: Có tù cộng sản, tù Quốc dân đảng và một số tù thường phạm.

Đoàn tù này từ Hoả Lò, lên xe lửa đi Yên Bái, từ Yên Bái đi bộ qua Nghĩa Lộ đến Tú Lệ, Ngọc Chiến, Tạ Bú vào Sơn La. Trên con đường dài điệp trùng đó họ phải vượt qua bao nhiêu đèo cao, dốc đứng vô cùng gian lao vất vả.

Đoàn thứ hai bị đày lên ngục Sơn La vào mùa thu năm 1931, gồm có 40 người. Từ Hoả Lò các chính trị phạm bị dồn lên ô tô bịt kín đưa đến bến Ngọc, Hòa Bình, sau đó đi thuyền lên Suối Rút, cứ 10 người đi một thuyền, 2 người chung 1 xích. Từ Suối Rút, tù nhân phải đi bộ dọc đường 41 đến Sơn La. Ngay khi ở Hỏa Lò, các chính trị phạm đã chuẩn bị sẵn sàng truyền đơn giấu trong người để rải trên đường đi. Mặc dầu đi đường vất vả lại bị bọn lính áp tải đánh đập dã man, mọi người vẫn hát những bài ca cách mạng và hò la. Sau 10 ngày gian nan vất vả, đoàn tù mới tới Sơn La.

Cuối năm 1931, đoàn tù chính trị thứ ba gồm có 50 người bị kết án khổ sai 5 năm đày lên Sơn La.

Đầu năm 1932, nhân cái chết của anh Sáng, lần đầu tiên các chính trị phạm tổ chức lễ truy điệu long trọng, gây tác động mạnh mẽ đến tinh thần của phạm nhân, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh lên một bước, khiến cho binh lính cũng phải bớt đánh đập tù chính trị. Một số phạm nhân cộng sản đã tranh thủ tuyên truyền và tranh thủ được anh em y tá nhà thương để khi có thuốc họ ưu tiên cho người đau ốm.

Tất cả những hình thức tổ chức đơn giảm trên là mầm mống của một tổ chức hoàn chỉnh sau này.

Sau 10 năm được đào tạo tại Pháp, ngày 16/8/1932, Bảo Đại rời nước Pháp về nước. Ngày 10/9/1932, Bảo Đại ra Đạo dụ số 1, tuyên bố chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ của Nam triều, tiến hành một số cải cách về quan trường, giáo dục, hành chính, đề ra mấy biện pháp khoan hồng đối với tù nhân người bản xứ bị giam giữ trong các lao tù, trong đó có nhà tù Sơn La.

Tháng 11/1932, danh sách 133 phạm nhân đang bị giam giữ trên đồi Khau Cả được đưa vào diện khoan hồng tuỳ theo mức độ nguy hiểm và thời gian thi hành án, bao gồm:

– 65 người phóng thích có điều kiện: Quàng Văn An, Ngô Văn Ngụ, Nguyễn Văn Rược, Đào Đình Mẫn, Nguyễn Sĩ Phụng (Đạt), Phạm Ngọc Rủ (Xuyên), Đỗ Ngọc Chấn, Đặng Văn Tu (Thanh), Phạm Thịnh, Trần Văn Quang, Trần Văn Thìn, Nguyễn Như Chấp, Đàm Văn Hoà, Đỗ Đức Hoạt, Phạm Đình Nhu, Tạ Văn Đang, Chu Đình Vọng, Nguyễn Văn Kiêm, Đông Phi, Vũ Năng Sung, Hoàng Văn Pho, Nguyễn Văn Thiết, Nguyễn Khánh Phú, Nguyễn Lạc, Vũ Văn Phong, Nguyễn Văn Thấu, Vũ Huy Huệ, Bùi Văn Tâm, Phạm Văn Minh, Nguyễn Văn Ry, Đặng Văn Lữ, Hoàng Văn Viên, Đỗ Duy Đoá, Nguyễn Văn Thâm, Nguyễn Văn Phiên, Đỗ Gia Phú, Đỗ Văn Chuẩn, Trần Hiển, Lê Duệ (Tuệ), Lê Danh Triều, Bùi Văn Giám, Phạm Văn Bang, Nguyễn ý, Trịnh Ngọc Lâm, Trần Ngọc Đông, Nguyễn Đức Chất, Trần Đức Quý, Nguyễn Văn Nhân, Quàng Văn Nhăng, Lò Văn Ngoi, Bùi Chính Tâm, Phạm Xuân Xá, Nguyễn Khắc Kính, Nguyễn Tam Đa, Vũ Sang (Phiến), Phạm Văn Trung, Lê Văn Mu, Quàng Văn Phăng, Lò Văn Trung, Dương Văn Quảng, Lê Văn Hoan, Lê Văn Hiển, Lò Văn Chiến, Lò Văn Trai.

–  69 người giảm thời hạn tù: Lê Phiên (Tiêu), Vũ Như, Trần Thiên, Phan Trung, Bùi Kiên, Tô Sĩ (Bát Sĩ), Ngô Lang (Cần), Lương Đống, Phương Hữu Hân, Nguyễn Văn Đăm, Nguyễn Văn Bân, Trần Lê Đệ, Lâm Văn Sinh, Dương Xuân Mai, Đặng Văn Huy, Bùi Văn Miễn, Trần Văn Thi, Hoàng Văn Năng, Doãn Chính, Đặng Trí, Phan Văn Tỉnh, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Văn Liễn, Trần Kim Biều, Nguyễn Văn Khiết, Nguyễn Văn Thỏa, Nguyễn Dương, Trần Văn Lai, Trần Rõi (Rỹ), Phạm Hàm, Vũ Nhương (Trát), Nguyễn Xuân Hà, Nguyễn Văn Các, Nguyễn Văn Thao, Nguyễn Đạt Khôi, Trần Văn Lập, Đào Ngọc Hoà, Nguyễn Văn Dinh, Vũ Văn Lành, Trần Ngọc Biếm, Nguyễn Đức Cử, Nguyễn Văn Vạc, Đỗ Văn Đức, Phạm Văn Lợi, Bùi Danh Thắng, Nguyễn Văn Thời, Nguyễn Văn Dương, Nghiêm Đình Mẫn, Trịnh Văn Đức, Nguyễn Văn Lữ, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Văn Kỳ, Phạm Đình Khôi (Lân), Mai Dưỡng (Hoà), Nguyễn Viết Tiệp, Trần Quang Thụy, Nguyễn Văn Quản, Nguyễn Hữu Đỗ, Trương Văn San, Nguyễn Văn Thịnh, Vũ Văn Nhượng, Phạm Ngọc Hoà (Giao), Nguyễn Đình Mai, Ngô Quang Châu, Phạm Ngọc Phổng, Vũ Văn Độ, Nguyễn Đình Ngọc, Nguyễn Văn Vĩ .

Số phạm nhân được ân xá kể trên chiếm gần nửa số người đang bị giam giữ ở nhà tù Sơn La. Tuy nhiên, sự kiện trên chỉ là chiêu bài mỵ dân, vì vào tháng 2/1933, lại có đoàn tù thứ tư gồm 210 người, đông nhất từ trước đến thời điểm này bị đày lên Sơn La. Trong đoàn có các Trung ương Uỷ viên, Xứ uỷ viên, Tỉnh uỷ viên và cán bộ của các cấp uỷ như các ông Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Lan, Đỗ Ngọc Du, Khuất Duy Tiến, Trường Chinh, Lê Duẩn mà bọn thực dân Pháp đã xếp vào “những phần tử nguy hiểm”. Những tù nhân này đã bị dồn lên ô tô bịt kín, chở đến bến Cầu Đất rồi bị dồn tất cả xuống 2 chiếc tàu của hãng Bạch Thái Bưởi, được chia ra làm 4 toán, mỗi toán trên 50 người, cứ 10 người xâu chung một dây lõi luồn qua xích tay (2 người 1 xích). Trước khi rời Hỏa Lò, những người tù cộng sản đã chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, đã lập hai ban trật tự và đối ngoại, để việc tổ chức đi đường được trật tự, tránh để kẻ địch đàn áp. Ông Trường Chinh nhận viết một số tài liệu huấn luyện cho tù nhân chính trị, trong đó có các cuốn như Cộng sản sơ giải, Hai chiến thuật, Phê bình và tự phê bình, Công vận, Nông vận, phân công cho một số người Thái khâu tài liệu vào mép chăn, gấu quần, gấu áo.

Áp tải đoàn tù này là viên quan ba Môghe, 4 viên quan một và 200 lính. Đề phòng tù trốn khi xuống tàu, chúng cho xích chân tù thành từng chuỗi, tuy nhiên khi anh em đấu tranh đòi mở xích chân, tên Môghe đã phải nhượng bộ. Từ Chợ Bờ đến Sơn La, chúng bắt anh em phải đi bộ. Cuộc hành trình đầy gian lao, khổ ải trên chặng đường quanh co, khúc khuỷu, đèo cao dốc đứng, đất đá gồ ghề, sức khoẻ của tù nhân giảm đi nhanh chóng, nhiều anh em không còn đủ sức để chống đỡ. Trước tình hình đó, các thành viên trong ban đối ngoại đã bàn với anh em đấu tranh với Môghe, đòi giải quyết một số yêu sách:

– Đi 2 ngày phải cho nghỉ 1 ngày.

– Mỗi ngày chỉ đi từ 15 đến 20 km, đi đêm và đi sớm, trưa phải được nghỉ lâu hơn.

– Bỏ dây thừng, người ốm được đi tự do không phải xích chân tay.

– Phải có thuốc xoa bóp và thuốc chữa bệnh cho những người ốm.

Thấy tù nhân kiên quyết đấu tranh, lại được một số binh lính giác ngộ ủng hộ, nên Môghe đã buộc phải chấp thuận những yêu sách nói trên.

Trên đường đi và những nơi nghỉ lại như ở thị trấn Suối Rút, Mộc Châu một số bà con đã mang đến cho anh em quà bánh. Sự chăm sóc ấy đã khích lệ thêm nghị lực cho cuộc đấu tranh của tù chính trị.

Sau 13 ngày đi đường, đoàn tù thứ tư đã tới Sơn La. Ngay hôm sau Saint Poulof cùng Giám binh đã đến nơi giam giữ đe doạ: “Ở Hà Nội các anh đấu tranh chống Chính phủ, lên đây, các anh chẳng đấu tranh được với chúng tôi đâu. Vì chỉ vài ngày nữa, các anh sẽ phải đấu tranh với vi trùng sốt rét”.

Để ngăn chặn tù nhân có thể liên lạc với nhau, chúng đã phân tán và cùm chặt họ trong các buồng giam. Những anh em được liệt vào loại tù nguy hiểm nhất càng bị theo dõi, giam cầm chặt chẽ hơn. Khí hậu và chế độ tù đày khắc nghiệt và bệnh tật hiểm nghèo đã cướp đi nhiều cán bộ ưu tú của Đảng, như các ông Trần Văn Lan, Phạm Văn Ngọ.

Tin tù chính trị ở Sơn La bị chết nhiều bay về Hà Nội và nhiều địa phương trong cả nước, tạo nên một làn sóng công phẫn trong quần chúng nhân dân và trong các gia đình tù nhân. Đây cũng là thời điểm phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ Pháp lên rất cao. Chính phủ của Đảng Xã hội cấp tiến lên cầm quyền ở Pháp, đã phải cử một Phái đoàn do Râynô làm trưởng đoàn sang kinh lý Đông Dương. Trong đoàn có bà Ăngđrê Viôlitx là nhà báo tiến bộ. Trong thời gian ở Việt Nam bà đã được cung cấp nhiều tài liệu sống, được tai nghe, mắt thấy những tội ác dã man của đế quốc Pháp. Khi về nước, bà đã viết cuốn Đông Dương kêu cứu, lưu hành cả trong và ngoài nước Pháp, đã gây ra một làn sóng căm phẫn với tội ác dã man của đế quốc Pháp ở Đông Dương. Căn cứ vào tố cáo của bà, Hội quốc tế cứu tế đã liên tiếp gửi thư đòi Chính phủ Pháp phải ân xá tù chính trị ở Đông Dương và các thuộc địa khác.

Trước làn sóng công phẫn, phản đối của nhân dân trong nước và ngoài nước, tháng 10/1933, Toàn quyền Đông Dương Pasquié đã đi kinh lý Sơn La, cùng đi có Thống sứ Bắc Kỳ Pages. Công sứ Saint Poulof và bọn tay sai quan lại địa phương đã chuẩn bị đón Pasquié ngay tại ngục Sơn La.

Biết được tin đó, tù chính trị đã chuẩn bị tổ chức đấu tranh, cử đại diện đưa yêu sách cho Saint Poulof với các vấn đề như sau:

– Phải chuyển tù chính trị về xuôi.

– Phải được ăn gạo tẻ, không ăn gạo nếp.

– Phải được nhận tiền, bưu kiện, quà cáp và thuốc men của gia đình hoặc thân nhân gửi đến.

– Thả những người bị bắt và bị tù oan.

– Không được đánh đập và bắt tù làm việc nặng nhọc.

Anh em còn tố cáo chế độ tù đày dã man, đã làm cho nhiều người chết, những người còn lại trong tù là những người ốm yếu, bệnh tật. Thái độ  kiên quyết của tù nhân đã buộc Saint Poulof phải nhận bản yêu sách và hứa sẽ nghiên cứu để giải quyết. Thắng lợi bước đầu này đã củng cố thêm niềm tin ở mọi người. Một số tù chính trị được đưa bằng thuyền hoặc đi bộ về lại Hỏa Lò (Hà Nội).

Tháng 10/1934, đoàn tù thứ năm gồm 62 người lại được đưa lên ngục thất Sơn La. Tiếp theo đó, vào tháng 5/1935 chúng lại đưa tiếp đoàn tù thứ sáu gồm 50 người đến nhà tù này. Trong đoàn có các ông Nguyễn Lương Bằng, Đặng Việt Châu, Phạm Quang Lịch. Có nhiều người bị đày lên Sơn La lần thứ hai như các ông Trường Chinh, Bùi Vũ Trụ, Hoàng Đình Dong.

Lúc bấy giờ thành phần tù chính trị không thuần nhất. Bên cạnh số đông là tù cộng sản và cảm tình của đảng, còn có tù quốc dân đảng và tù thường phạm. Nhưng do sự tuyên truyền, thuyết phục của những người cộng sản, dần dần anh em tù quốc dân đảng đã thống nhất với những chủ trương do anh em tù cộng sản đề ra. Để lãnh đạo mọi người đoàn kết đấu tranh với chế độ tù đầy dã man, các ông Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh đã bí mật tập hợp những tù nhân cộng sản từ nhà tù Hỏa Lò bị đày lên ngục Sơn La thực hiện chủ trương: Thăm dò và lôi kéo tù quốc dân đảng; cùng nhau đoàn kết để tổ chức đời sống và gác bỏ những thành kiến về đảng phái; lập ra một uỷ ban để chỉ đạo sinh hoạt trong ngục từ giữ trật tự vệ sinh chung trong trại và ngoài trại đến đối phó với gác ngục và cai, lính cũng như giao dịch với nhân dân địa phương, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau khi ốm đau… Một uỷ ban thống nhất tù chính trị gọi là Hội đồng Thống nhất được thành lập gồm có 5 người, 2 chủ tịch, 2 uỷ viên và 1 tổng thư Hội đồng đã thành lập các ban và chỉ định người phụ trách các ban trật tự trong, ban trật tự ngoài, ban nhà bếp, ban hợp tác xã, tổ nhà thuốc. Các ban,  tổ hoạt động theo quyền hạn trách nhiệm do Hội đồng Thống nhất nhà tù quy định và được tự chủ trong hoạt động của mình, nhưng không hoạt động công khai, không ra sách báo như ở Hỏa Lò.

 Trong điều kiện hết sức khó khăn, bị khống chế về mọi mặt, Hội đồng Thống nhất đã đề ra những quy định đối với tù nhân:

Về sinh hoạt trong trại:

  1. Không được cãi nhau to tiếng, phát khùng, văng tục. Ai vi phạm, anh em nhắc nhở, nếu phải đến ban trật tự can thiệp mà không nghe thì phạt 1 ngày quét nhà.

2, Không được lăng nhục nhau, đánh nhau, chửi nhau. Ai vi phạm  thì ban trật tự phạt từ 1 đến 3 ngày quét nhà.

  1. Không được vứt rác (giấy vụn, vỏ hoa quả, lá bánh) hay nhổ xuống nền nhà, lối đi. Ai vi phạm thì phạt từ 1 đến 3 ngày quét nhà hay giặt quần áo cho anh em ốm.
  2. Quá 9 giờ tối không được làm ồn như nói to, đánh đàn… (trừ tập thể diễn kịch). Ai vi phạm quy định, trưởng ban trật tự sẽ cảnh cáo, không sửa chữa thì sẽ phạt 1 ngày quét nhà hoặc phục vụ anh em ốm.
  3. Rửa mặt buổi sáng hay rửa chân buổi tối chỉ được 3 bơ nước, tắm thì tranh thủ khi đi làm, nếu tắm ở nhà thì chỉ được nửa thùng. Nước dùng cho trật tự phát, hay tự đi lấy đều phải thực hiện đúng quy định.
  4. Suất ăn chia cho từng mâm, hoặc cho từng người; trường hợp đi làm về muộn sẽ do nhà bếp chia. Anh em làm bếp có nhiệm vụ làm tốt món ăn và cố gắng thay đổi món ăn cho anh em. Làm bếp được hưởng mức ăn gấp 2 lần anh em khác. Ai vi phạm quy định thì bị phê bình và cử người khác làm thay. Để đỡ khó nhọc cho anh em làm bếp, chủ nhật trật tự cắt phiên anh em làm thay.

Về đi làm ở ngoài

  1. Nếu vi phạm điều 1, điều 2 trong khi đi làm thì bị phạt nặng hơn, do Hội đồng Thống nhất quyết định.

8 . Không được mua rẻ bán đắt, không tranh nhau mua những thứ do đồng bào địa phương bán; phải theo giá bình thường mà mua. Nếu trả cùng giá mà đến người thứ 2 hay thứ 3 đồng bào mới bán thì hàng mua được chia đều cho nhau, nhường cho người ốm.

  1. Không được trêu ghẹo phụ nữ, lợi dụng, xin xỏ hay lấy cắp của đồng bào. Ai vi phạm thì bị cảnh cáo, phạt từ 1 đến 3 ngày quét nhà hoặc phục vụ anh em ốm. Trường hợp nặng hơn do Hội đồng Thống nhất xem xét.
  2. Đi làm phải theo đúng mức sếp ngục giao mà đã được anh em chấp nhận như khiêng nước 7 chuyến (tù thường phạm 9 chuyến), xe gạch v.v… Nếu sốt trong khi làm không bảo đảm được mức, phải nói với trật tự trưởng.

Khai bệnh và xin thuốc

  1. Có bệnh mới được khai và xin thuốc, ốm thật thì tổ y tế can thiệp với xếp ngục cho ở nhà. Bệnh thường như sốt nhẹ, cảm, ho, ghẻ lở thì tổ y tế cho thuốc. Bệnh nặng thì tổ y tế đề nghị y sĩ vào khám và cho thuốc.

Thái độ với sếp ngục, giám  thị, lính coi và thầy thuốc

  1. Lễ độ lịch thiệp, nhưng không qụy luỵ. Không được tâng bốc họ để bị coi thường mình, như gọi sếp ngục hay thầy thuốc là “quan”. Nếu có việc phải trình bày với sếp ngục, giám binh khi đi làm thì nhờ trật tự trưởng hay anh em biết tiếng Pháp nói giúp.

Đây là những điều chủ yếu trong sinh hoạt; còn về phần hợp tác xã sản xuất, có những quy định cụ thể hơn. Những quy định nói trên phù hợp với điều kiện của những người tù bị giam cầm, mọi người có thể đồng tình và chấp nhận được.

Do đã trải qua nhiều nhà tù của đế quốc, nên những người khi bị đày lên Sơn La đã rút được nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức đấu tranh trong nhà tù và trên đường đi. Muốn đấu tranh thắng lợi trong hoàn cảnh bị giam cầm thì phải tìm được lý lẽ, phải đề ra những yêu sách đúng mức, vừa tầm mà bọn thống trị có thể chấp nhận như mùa hè nằm trên nền xi măng dưới mái tôn nóng như thiêu như đốt, nhất là những khi có gió Lào thổi tới, tù nhân chỉ yêu cầu nhà ngục làm trần để giảm sức nóng.

Những yêu cầu bước đầu đã được giải quyết, mọi người tiếp tục đưa những yêu cầu tiếp như cần phải đóng xe bò chở nước để giảm sức của anh em, phải thả ông Nguyễn Lương Bằng và các người khác đang bị giam dưới hầm tối nếu không mọi người sẽ tuyệt thực.

Rút kinh nghiệm các đoàn tù trước lên Sơn La, dưới sự chỉ đạo bí mật của các ông Trường Chinh và Nguyễn Lương Bằng, anh em tù đấu tranh kiên quyết để nắm được nhà bếp, nhà thuốc và sản xuất hàng thủ công vì có nắm được những khâu quan trọng này mới có điều kiện huy động mọi người vào cuộc đấu tranh chống lại chế độ tù đày hà khắc.

Để chuẩn bị về mặt lý luận, ông Trường Chinh đã viết cuốn Chống chủ nghĩa cải lương và mở các lớp học lý luận, góp phần nâng cao trình độ cho tù chính trị. Nhiều lớp huấn luyện ngắn ngày cho những người bị án nhẹ và những lớp văn hoá, học ngoại ngữ cũng được tổ chức. Ngoài chương trình học tập, ban huấn luyện còn nói chuyện về ngày thành lập Đảng, Công xã Pari, ngày Quốc tế Lao động, Cách mạng tháng Mười Nga, Xô viết Nghệ Tĩnh, Công xã Quảng Châu …

Để góp phần cải thiện đời sống và lập quỹ cứu tế phục vụ những lúc ốm đau, Hội đồng Thống nhất đã chủ trương thành lập Tổ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tiếp xúc với binh lính, viên chức và nhân dân phố Chiềng Lề, mọi người nhận thấy đây là một thị trường tiêu thụ những mặt hàng cần thiết trong đời sống hàng ngày như rổ, rá, đũa, chổi, thìa, nồi, xoong; những đồ trang sức như nhẫn, vòng đeo tay, dây chuyền hay đồ trang trí như hoa giấy. Nguyên liệu để sản xuất những mặt hàng này lại dễ kiếm và có những thứ đã tự có. Đồ trang sức được chế tạo từ những chiếc gáo dừa được đồng bào các dân tộc ưa chuộng. Tổ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong tù đã góp phần lớn vào việc cải thiện đời sống cho anh em trong tù nhờ những quy định chặt chẽ đối với người sản xuất như ai tìm đươc nguyên liệu để đan rổ, rá thì được hưởng 10% giá trị sản phẩm bán ra, người sản xuất được hưởng từ 45 đến 50%; người cung cấp gáo dừa đã cắt theo kích thước để làm nhẫn, vòng tay, dây chuyền, thìa múc canh thì được hưởng từ 15 đến 20%, người sản xuất được hưởng từ 50 đến 60%; công may một chiếc quần hoặc áo được hưởng từ 75 đến 80% (may bằng kim khâu tay). Hoa giấy thì trừ giá mua nguyên liệu người sản xuất được hưởng 50%. Người tiêu thụ sản phẩm được hưởng 10%.

Sự ra đời của tổ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngay trong nhà ngục và những quy định của nó chứng tỏ rằng anh em trong tù đã vượt qua một phần sự rằng buộc của chế độ tù đày khắc nghiệt, chăm lo sức khoẻ để chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu mới sắp tới.

Cuộc sống đày ải cũng đã tạo thêm tình thương yêu đồng đội sâu sắc, đùm bọc lẫn nhau của những tù chính trị. Những người ốm được đồng đội chăm sóc chu đáo, thay phiên nhau lấy cơm, nước, giặt quần áo. Ngoài khẩu phần ăn và thuốc do nhà thuốc phát, người ốm còn được tăng thêm khẩu phần ăn, thuốc uống hay bồi dưỡng sau khi ốm được chi bằng số tiền của quỹ phúc lợi chung. Mọi người còn thay phiên nhau đấm bóp cho người bệnh, an ủi động viên lẫn nhau để vượt qua những cơn bệnh hiểm nghèo.

Cuộc sống lao tù giữa vùng rừng núi hoang vu này đã tạo ra một nét sinh hoạt văn hoá độc đáo. Chiều thứ bảy nào cũng có hoà nhạc. Những cây đàn tứ, đàn tranh, đàn nhị, đàn hồ được sắm bằng tiền lao động. Những điệu hát quen thuộc như lưu thủy, hành vân, vọng cổ hoài lang, tứ đại cảnh, khổng minh toạ lầu. Những làn điệu ca trù, chầu văn hay những bài hát mới do ông Nguyễn Lương Bằng sáng tác, được sử dụng rộng rãi trong nhà tù. Mọi người còn viết kịch rồi tổ chức dàn dựng và biểu diễn ngay trong ngục với nội dung phong phú, đầy tính chiến đấu, được nhiều người ưa thích như vở Hai làn sóng ngược, Nghĩa phụ hoàn duyên hoặc được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết Lơ Ximăng của Liên Xô. Nói chung, đề tài thường nhằm vào nội dung chống ngoại xâm trong lịch sử để giáo dục và khêu gợi lòng yêu nước, thương nòi. Tuy những điều kiện để vở diễn trong nhà ngục không đầy đủ, nhưng nhờ tính giáo dục và giá trị tư tưởng và sự mến mộ của người xem nên những đêm biểu diễn đã gặt hái thành công, lôi cuốn cả công chức, lính canh, lính ở các đồn chung quanh cũng đến xem. Đây là một dịp tốt để tuyên truyền, giáo dục, gây ảnh hưởng ngày càng rộng lớn trong quần chúng, binh lính và công chức.

Những sự kiện chính trị xảy ra ở Pháp đã cổ vũ mạnh mẽ và đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ba nước ở Đông Dương đứng trước một tình thế thuận lợi mới. Mùa hè năm 1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương; xuất bản nhiều tờ báo hợp pháp như tờ Tin tức, Đời nay, để tạo ra lợi khí trong cuộc đấu tranh trực diện với bọn thống trị đòi quyền tự do dân chủ, đòi ân xá tù chính trị, góp phần cùng với làn sóng đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và dư luận tiến bộ ở chính quốc đã buộc đế quốc Pháp phải nhân nhượng từng bước. ở Đông Dương, hàng nghìn tù chính trị từ ngục thất Sơn La đã thoát khỏi nhà tù đế quốc. Nhiều cán bộ của Đảng được trả lại tự do. Tháng 7/1936, 35 tù chính trị đã được đưa về Hà Nội. Tháng 11/1937, chúng đưa tiếp đoàn tù chính trị thứ hai gồm 60 người cũng từ Sơn La về Hà Nội.

Các ông Nguyễn Lương Bằng, Phạm Quang Lịch1 và một số tù quốc dân đảng như Trần Văn Quang, Nguyễn Văn Ngọt, Mai Đắc Bân bị kết án khổ sai 20 năm không được trả tự do, tiếp tục bị giam tại ngục Sơn La. Ban cứu tế xã hội đã chia quỹ cứu trợ cho những người được trả tự do, nhưng họ chỉ nhận một phần nhỏ để đi đường, còn dành cho người ở lại.

Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ. ở Đông Dương, đế quốc Pháp quay trở lại bộ mặt đàn áp dã man phong trào cách mạng, ban bố lệnh động viên, bắt người cướp của để cung cấp cho chiến tranh và ngăn chặn mọi sự phản kháng. Tháng 12/1939, đoàn tù chính trị thứ bảy, gồm 30 người bị đày lên Sơn La, trong đó có các ông Trần Huy Liệu, Xuân Thuỷ, Nguyễn Văn Phúc, Trần Đức Thịnh, Trần Đức Sắc.

Trong 9 năm (1930-1939) đế quốc Pháp đã đày 7 đoàn tù chính trị gồm 406 người lên ngục Sơn La. Khoảng 4 năm đầu (1930-1934) trong nội bộ tù nhân có nhiều thành phần phức tạp, chưa tổ chức được chi bộ, đời sống vật chất thiếu thốn, khổ sở, mỗi người một hướng, tinh thần bi quan, bệnh tật làm chết hàng loạt người. Cuối năm 1934 mới bắt đầu tổ chức nhau lại, đời sống được tổ chức tốt hơn, học tập cũng bắt đầu vào nề nếp, bước đầu được cải  thiện mọi mặt trong sinh hoạt nhà tù. Các chiến sĩ cộng sản với ý thức tự giác cách mạng đã bí mật liên hệ với nhau để chỉ đạo mọi hoạt động trong và ngoài nhà tù. Hội đồng Thống nhất và các ban trong nhà tù đã làm việc với tinh thần cách mạng triệt để, với ý chí tiến công liên tục vào kẻ thù, khiến cho cuộc sống của những người tù chính trị trong những tháng năm ở Sơn La không hề uổng phí, dù cho quân thù tìm mọi cách, mọi cớ hành hạ thể xác, tước đoạt quyền lợi nhỏ nhoi, xiết chặt chế độ nhà lao, đẩy những người tù chính trị vào cảnh khổ ải, tăng cường độ lao động khổ sai, bớt xén khẩu phần ăn hàng ngày của họ. Tinh thần và thái độ lạc quan cách mạng của tù chính trị đã làm cho những mưu toan của chúng trong việc xây dựng ngục Sơn La bị hoàn toàn thất bại.

III. BẤT KHUẤT, KIÊN CƯỜNG VÀ GIỮ VỮNG Ý CHÍ CỦA NGƯỜI CHIẾN SĨ CỘNG SẢN

Từ 1940 đến 1945, nhà tù Sơn La có hai chủ ngục: Gabori và Lebon. Có bốn phó ngục: Giovannetti tức “xếp lệch”, Kipriani tức phó “lái lợn”, Sapriani “chiến sĩ bình dân Tây Ban Nha một thời” và cuối cùng là H.Rioux[7].       

Từ Hỏa Lò, để tới được ngục thất Sơn La, trước sau cũng chỉ có đường số 41 (nay là Quốc lộ 6) là con đường duy nhất từ Hà Nội lên Sơn La, ô tô chỉ đi được đến Chợ Bờ – Hoà Bình. Từ nhà tù Hỏa Lò, thực dân Pháp nhốt tù nhân vào những chiếc xe tải bịt mui kín chở tới Chợ Bờ – Hoà Bình và dồn họ xuống đây. Sau đó chúng áp giải tù nhân đi trên quãng đường 220 km trong thời gian 13 ngày đi bộ. Để áp giải tù nhân đến ngục Sơn La an toàn, thực dân Pháp đã bắt tù nhân phải đeo cùm chân, lê theo một đoạn xích dài 50 cm trong suốt 13 ngày đi đường và cùm tay, cứ tay phải tù nhân này được xích với tay trái tù nhân kia thành đôi. Cứ 10 đôi tù nhân chúng lại dùng một chão thừng xâu thành một chuỗi. Với cách áp giải như vậy, trong suốt quãng đường 220 km tới nhà tù Sơn La mọi việc ăn, ngủ, đại tiểu tiện của mỗi tù nhân đều trở nên hết sức bất tiện.

Chặng đường gian khổ ấy cũng được Hoàng Công Khanh dựng lại như sau:

Con đường đi đày chia thành nhiều chặng: Hà Nội – Hoà Bình – Chợ Bờ – Suối Rút – Bản Bông – Mộc Châu – Bản Tsi – Yên Châu – Cò Nòi – Mai Sơn – Hát Lót – Sơn La. Đoàn xe chỉ chở tù từ Hà Nội đến Chợ Bờ. Từ những chặng sau, tù phải cuốc bộ, đi thành hàng hai giữa lính áp giải đi hàng một cặp sát hai bên. Chỉ huy lính là một phó ngục hoặc một sĩ quan Pháp cưỡi ngựa đi trước khá xa, chỉ đến chặng nghỉ mới thoáng thấy mặt. Có đoàn tù ngoài xích, lại thêm một sợi giây chão xuyên dọc qua xích từ đầu đến cuối như xâu cá, khoảng cách mỗi hàng không qúa bốn bước chân. Địch đề phòng tù trốn dọc đường, nên cẩn tắc vô áy náy. ốm yếu bệnh tật mặc, dù có bò lê kéo càng cũng phải cố dìu nhau mà đi. Cũng lạ, trong các Convoyer chính trị từ 1940-1945, không có người nào gục ngã giữa đường. Sự sống còn và niềm hy vọng vào tương lai thúc đẩy người tù nhất quyết không chịu để thân mình làm mồi cho thú rừng, hay mục rũa làm phân bón cho cây cỏ hoang vu.

Tù nhân qua sông Bờ bằng phà làm nhiều chuyến, nghỉ tạm dưới mái quán Chợ Bờ. Từ Suối Rút trở đi, đường quanh co, khúc khuỷu gập ghềnh lên đèo xuống dốc liên miên. Con dốc cao và dài nhất được anh em tù đặt là Đèo voi khóc phải gập người xuống leo, đầu gối chạm bụng, hơi thở lòi ra lỗ tai ù ù như gió thổi, đi suốt đêm mới hết. Khoẻ và to như voi mà còn rơi nước mắt huống chi người! Có đoạn toàn đá tai mèo, cạnh sắc lởm chởm như dao, mài mòn gót, cứa gan bàn chân rớm máu, buốt nhói thấu óc. Suýt soa, rên rỉ nhưng vẫn cứ nghiến răng mà đi. Những bước đi trói buộc nhưng cũng là những bước đi của ý chí không lùi. Mỗi cung đường dài 30 km – 40 km (trừ Chợ Bờ – Suối Rút:12 km) và đều phải đi đêm, sớm từ 10 giờ tối, muộn vào 2 giờ sáng, tinh mơ hôm sau phải tới chỗ nghỉ. Cơm nước do địa phương các nơi  tù nghỉ lại cung cấp theo lệnh của các quan chức sở tại như tri châu, lang đạo, phìa, tạo (người Thái), quản, thống lý (người Mèo). Cơm đựng vào rổ rá, thúng, xảo, lót lá chuối, trên để thịt lợn, hoặc thịt trâu luộc kèm theo một dúm muối. Có khi là khô mục. Ai không mang theo được bát đũa từ Hỏa Lò thì phải dùng tay ăn bốc. Sau bữa chiều, mỗi người được phát một nắm cơm kèm thức ăn dành cho bữa sáng hôm sau. Từ  Mộc Châu trở đi, cơm tẻ thay bằng cơm nếp.

Đêm tối cũng không bịt được tai mắt người dân. Nhiều lần trên chặng đường Chợ Bờ, Suối Rút, đoàn tù đang lầm lũi cất bước, thì từ hai bên mé rừng, bỗng có những nắm cơm kèm theo thịt kho, cá mặn, muối vừng gói lá chuối, ném vào lộp độp. Đó là quà của bà con dân chúng quanh khu vực giúp  giập tí chút gọi là thơm thảo. Ôi! những nắm cơm tình nghĩa, có lòng thương sót lẫn kính phục.

Đặc biệt ở Mộc Châu, có bà Cả Thịnh, một phụ nữ nhân hậu mà không mấy đoàn tù đi đày qua đây không biết. Bà không biết phân biệt cộng sản hay quốc gia, chỉ biết đó là những người yêu nước, có gan đánh Tây, và gọi chung họ là Quốc sự phạm. Cứ mỗi lần có đoàn Quốc sự phạm đến Mộc Châu, bà lại nấu một nồi cháo lớn (thường là cháo hoa, gặp mùa là cháo đỗ xanh hoặc đỗ đen) kèm một bát “ô tô” đường cát, mang đến tận nơi ủng hộ. Giữa mênh mông sương lạnh cao nguyên, trong cơn mệt mỏi rã rời, tay nâng bát cháo nóng hổi thơm phức, nhiều người đã rưng rưng nước mắt. Bát cháo ấm nóng mến thương, đậm đà hạt muối nhân hậu, chan chứa tình người ngày ấy, cho đến nay, cho đến mai sau, vẫn cứ ngon ngọt, ngạt ngào mãi trên môi, người tù mang mãi cái kỷ niệm thắm thiết ấy trong lòng. Hình ảnh một bà mẹ tay cầm muôi cẩn thận múc từng muôi cho khỏi vương vãi phí của, đổ vào bát từng đứa con lạ mà quen, mắt chớp chớp tia vui, miệng giục: – Ăn đi! Ăn đi cho ấm bụng, các con ạ! Sao mà thân thương, ấm áp ngời ngời đến thế.

Từ những chặng sau, đoàn tù được ngủ trên các nhà sàn. Sự mệt mỏi tăng dần từng ngày từng giờ, nên khi đến nơi, mọi người đều lăn ra ngủ, có khi không kịp cởi bỏ những thứ đeo buộc trên mình. Cây gậy chống (một cành cây hay một thân sậy bẻ vội bên đường) vừa rời khỏi tay là mắt đã nhắm lại.

Cứ như thế, trong xích sắt và giây chão, đêm đi, ngày nghỉ, dòng dã, kiền kiệt trên hơn 300 cây số đường rừng. Càng gần đến những chặng cuối, người tù càng kiệt sức, vật vã, quằn quại, đói khát, căng thẳng. Số người ốm tăng dần. Nhưng không ai nghĩ đến trốn chạy, và càng cố tránh không để xảy ra điều gì trái với quy định, để làm mất lòng lính áp giải, và để xếp áp giải có thể vin cớ đàn áp. Tất cả chỉ chăm chăm mong sao mau tới đích, tới nhà tù Sơn La của mình”1.

Chỉ tính riêng từ 1940-1945, đã có trên 7 đoàn convoyer từ Hỏa Lò lên Sơn La. Năm 1940 có hai đoàn; năm 1941 ba đoàn; năm 1942-1943, có những cuộc chuyển đổi nhà tù; năm 1944 một đoàn; năm 1945 một đoàn cuối cùng nữa… Trong hàng chục đoàn ấy, có nhiều đảng viên cộng sản. Qua quá trình đấu tranh ngoài xã hội và ở các nhà giam khác, họ đã đứng vững và lớn lên. Rồi đây những người ấy sẽ là  những thỏi nam châm thu hút chất sắt của cuộc sống, tạo thành một từ trường cách mạng rất mạnh, không chỉ ở trong nhà tù, mà tỏa rộng ra toàn tỉnh Sơn La.

Cá biệt, cuối năm 1943, có một convoyer bị tai nạn rủi ro dọc đường. Ô tô của đoàn từ Hà Nội lên bị đổ ở trên đường Lương Sơn (Hoà Bình). Cái đi đầu nổ lốp, cái sau lao vào đuôi, cái thứ ba húc lật nhào hai cái trước, xe lăn xuống ruộng, vật tù và lính một trận tơi bời.

Những người cộng sản ở nhà tù nhận thức rằng với lực lượng đảng viên đông như vậy, mà không có một tổ chức thống nhất để chỉ đạo cuộc đấu tranh, tất sẽ gặp nhiều khó khăn, và tổn thất không thể lường được. Dù khó khăn đến đâu cũng phải gấp rút thành lập được chi bộ cộng sản – hạt nhân lãnh đạo của nhà tù, mới có thể giành được thắng lợi ngày càng lớn.

Xuất phát từ yêu cầu cấp bách nói trên, vào cuối tháng 12/1939, các đảng viên trong nhà tù bí mật triệu tập hội nghị để thảo luận việc thành lập chi bộ lâm thời, gồm 10 người, và cử ông Nguyễn Lương Bằng làm bí thư chi bộ. Do yêu cầu công tác lãnh đạo ngày càng cao đối với nhà tù, tháng 2/1940, chi bộ lâm thời được chuyển thành chi bộ chính thức. Theo đề nghị của ông Tô Hiệu, chi bộ đã nhất trí cử ông Trần Huy Liệu làm bí thư chi bộ và ông Tô Hiệu làm chi uỷ viên.

Tháng 5/1940, chi uỷ triệu tập đại hội chi bộ để thảo luận, quyết định các chủ trương công tác và bầu ông Tô Hiệu làm bí thư chi bộ. Đại hội đã đề ra 5 công tác lớn:

– Chi bộ lãnh đạo toàn diện hoạt động của nhà tù.

– Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho đảng viên và quần chúng.

– Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, huấn luyện đảng viên về lý luận Mác-Lênin và phương pháp đấu tranh cách mạng trong nhà tù.

– Xây dựng và phát triển các tổ chức quần chúng cách mạng bên trong và bên ngoài nhà tù.

– Tìm mọi cách bắt liên lạc với Xứ uỷ và Trung ương Đảng để xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên đối với chi bộ nhà tù.

Ngoài những đảng viên chính thức sinh hoạt trong chi bộ, còn có tổ chức quần chúng trung kiên – chỗ dựa tin cậy của chi bộ, đồng thời là đối tượng kết nạp đảng viên mới, đảng viên hết sức quan tâm giúp đỡ, bồi dưỡng lập trường lý tưởng, ý chí chiến đấu cho quần chúng, được quần chúng mến phục. Mỗi quần chúng trung kiên đều được chi bộ giao nhiệm vụ cụ thể để thử thách trong quá trình rèn luyện và đấu tranh.

Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, đại hội đại biểu tù nhân thảo luận sôi nổi, thông qua quy chế chung về tổ chức nhà tù, bầu ra các cơ quan tự quản của tù chính trị. Đại hội quyết định thành lập Uỷ ban nhà tù (còn gọi là Uỷ ban Hàng Trại) đặt dưới sự lãnh đạo của chi bộ. Đó là cơ quan cao nhất điều hành hoạt động của tù nhân giữa hai kỳ đại hội, có nhiệm vụ và quyền hạn để tổ chức, thực hiện các nghị quyết của đại hội, chỉ đạo các ban cơ sở, đồng thời làm chức năng đối ngoại. Các ban cơ sở gồm có ban trật tự trong; ban trật tự ngoài; ban kinh tế; ban cứu tế; ban tuyên truyền, ban huấn luyện; phòng y tế; ban khánh tiết; ban văn hoá; ban dân vận; ban binh vận; ban tù vận và tổ hồng thập tự (nằm trong ban cứu tế). Riêng ban binh vận trực thuộc chi uỷ, hoạt động rất bí mật. Từ năm 1942, tập thể tù chính trị Sơn La đã hoàn chỉnh về cơ cấu tổ chức của mình.

Bên cạnh việc tổ chức các cơ quan tự quản của nhà tù, chi uỷ còn bố trí một số đảng viên và quần chúng trung kiên đi làm bồi bếp, lao công cho các quan chức Pháp ở toà sứ, để nắm tình hình, thông báo những tin tức cần thiết cho chi ủy kịp thời xử lý các tình huống cấp bách. Việc bố trí một vài đảng viên làm việc trong văn phòng nhà tù là rất có lợi cho việc sắp xếp các đảng viên đi theo các đoàn tù về Hỏa Lò, Côn Đảo, Hoà Bình, hoặc tiếp tục ở lại nhà ngục Sơn La để lãnh đạo quần chúng đấu tranh.

Việc bắt liên lạc với Trung ương Đảng và các cơ sở Đảng ở bên ngoài nhà tù là một trong những nhiệm vụ quan trọng được chi bộ giao cho ông Tô Hiệu đảm nhiệm. Do tình hình giao thông khó khăn, từ giữa năm 1941 đến đầu năm 1942, việc bắt liên lạc giữa chi bộ với Trung ương Đảng bị gián đoạn, mặc dù chi bộ đã chú ý bố trí cho một số đảng viên mãn hạn tù đi tìm liên lạc như các ông Văn Tiến Dũng, Lê Liêm, nhưng ít có hiệu quả. Cho tới đầu năm 1942, chi bộ mới tiếp nhận được một số văn kiện của Đảng như Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng 5/1941, Điều lệ Việt Minh v.v…Cũng trong thời gian đó, ông Trần Đăng Ninh bị đầy lên Sơn La đã truyền đạt lại cho chi bộ Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tình hình mới, nhiệm vụ mới. Nhờ các nguồn thông tin nói trên, các đảng viên trong chi bộ mới nắm được những chủ trương mới của Đảng trong giai đoạn trước mắt là tập trung lực lượng vào việc đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Chi bộ nhà ngục Sơn La tự xác định là một chi bộ đặc biệt của Xứ uỷ và của Trung ương Đảng. ít lâu sau, Ban Chấp hành Trung ương công nhận chi bộ nhà ngục Sơn La là chi bộ chính thức của Trung ương Đảng. Chi bộ nhà tù Sơn La cũng được coi là chi bộ cộng sản đầu tiên ở địa bàn tỉnh Sơn La.

Để biến Nghị quyết của đại hội (5/1940) thành hiện thực, chi bộ đã triển khai nhiều chủ trương công tác quan trọng, trong đó nổi lên là việc giáo dục, rèn luyện tinh thần cách mạng cho đảng viên và quần chúng; đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù; ổn định và cải thiện đời sống cho tù nhân; học tập để tự nâng cao trình độ chính trị, văn hoá; tăng cường công tác tuyên truyền, báo chí; cố gắng giữ gìn lực lượng để giành thắng lợi từng bước; tiến tới giải thoát toàn bộ chính trị phạm khỏi nhà tù để trở về với đội ngũ, góp phần vào sự nghiệp cách mạng.

Khi chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, Cousseau viên mật thám lành nghề, một thực dân cáo già được điều động về Sơn La thay thế Saint Poulof. Trở thành viên quan cai trị hàng tỉnh nham hiểm, một mặt, Cousseau ra lệnh cho giám ngục, cai ngục, binh lính hành hạ người tù, mặt khác, y lại tỏ ra “nhân đạo” khiển trách bọn thủ hạ, để xoa dịu sự căm phẫn của tù nhân. Mỗi khi có cuộc đấu tranh của tù chính trị, lúc đầu thì tỏ ra nhượng bộ ít nhiều quyền lợi nhỏ nhặt, sau đó quay lại đàn áp khốc liệt hơn.

Đến Sơn La, Cousseau đã nhanh chóng tổ chức mạng lưới chỉ điểm trong hàng ngũ binh lính, công chức để theo dõi, phát hiện và ngăn chặn những hoạt động của tù chính trị; bố trí một hệ thống mật vụ trà trộn trong hàng ngũ những người buôn bán ở phố Chiềng Lề để bí mật theo dõi những hoạt động ở bên ngoài nhà tù. Y ra sức mua chuộc số tù thân Nhật để gây hiềm khích, chia rẽ với tù cộng sản; treo giải thưởng lớn cho kẻ nào bắt được tù vượt ngục. Ngoài ra, Cousseau còn bố trí một bộ phận chuyên kiểm duyệt thư từ, bưu phẩm do thân nhân của người tù gửi tới. Bên cạnh những lời lẽ phỉnh phờ, mị dân, Cousseau còn tìm mọi biện pháp bóc lột  sức lao động của tù nhân; ra lệnh cho bọn quản, đội phải đốc thúc tù nhân làm việc cật lực và tăng thêm giờ lao động hàng ngày. Để đối phó, chi bộ nhà tù đã quyết định phát động cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù đòi bảo đảm những quyền lợi hợp pháp của tù chính trị buộc chính quyền thực dân đã phải thừa nhận. Nhân việc Gabori đánh đập tù nhân một cách dã man, tự ý cấm người tù ra suối tắm giặt, không cho họ tự quản lý bếp ăn, kho thực phẩm, bớt xén trắng trợn khẩu phần của tù nhân, không cho tù nhân nói chuyện với binh lính …. Một cuộc đấu tranh đã nổ ra.

Ngoài ra còn 2 cuộc đấu tranh quyết liệt của các chính trị phạm diễn ra vào tháng 6/1940, tháng 5/1941 kéo dài tới 12 ngày. Trần Huy Liệu – một trong những người lãnh đạo và trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh diễn ra hồi tháng 5/1941. Mặc dầu thất bại, cuộc đấu tranh đã đi đến đỉnh chót của gian khổ và oanh liệt, và chặn đứng lại đà tiến công của địch.

Sau cuộc đấu tranh kể trên, sức khỏe của anh em trong tù bị giảm sút nghiêm trọng, nhiều người bị kiệt sức, lúc đầu có vài người bị chết vì thiếu chất dinh dưỡng và bệnh tật hiểm nghèo.

Trước tình hình ấy, chi bộ đã kịp thời đề ra chủ trương: phấn đấu phục hồi sức khỏe cho mọi người để có thể đủ sức tiếp tục đương đầu với kẻ thù trong thời gian tới.

Thực hiện chủ trương của chi bộ, chi uỷ giao nhiệm vụ cho Ban kinh tế và Ban cứu tế nghiên cứu kế hoạch cụ thể. Tính đến năm 1942, quỹ kinh tế của tù chính trị lên tới 4.000 đồng tiền Đông Dương. Đó là số tiền lớn lúc bấy giờ.

Cùng với Ban kinh tế, Ban cứu tế hoạt động cũng khá sôi nổi. Nhờ có sự đóng góp của tập thể tù chính trị, đầu năm 1943 quỹ cứu tế đã lên tới gần 1.000 đồng tiền Đông Dương. Ban cứu tế đã dùng số tiền đó mua thuốc dự trữ, đường sữa để bồi dưỡng cho người ốm yếu. Ban kinh tế còn tổ chức bán thêm thức ăn cho anh em ngoài tiêu chuẩn ăn hàng ngày để tự bồi dưỡng sức khoẻ.

Trong các năm 1933, 1934, 1935 trung bình mỗi tháng có từ 1 đến 2 người tù chết vì bị đánh đập, bệnh tật. Từ năm 1941 đến 1944 chỉ có 7 người chết, tức là giảm xuống tới 80% con số tử vong. Đó là do kết quả của chủ trương tự cải thiện đời sống trong nhà tù ngày càng phát huy hiệu quả. Việc tăng gia sản xuất, tự cải thiện đã giúp cho chi bộ  tiết kiệm được hàng ngàn đồng và nhiều loại thuốc men để gửi về cơ quan Trung ương Đảng.

3. LAN TỎA ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI PHONG TRÀO CÁCH MẠNG Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ TOÀN KHU VỰC

Tết năm 1942, được coi là một trong những cái tết vui tươi, phấn khởi vừa để kỷ niệm cuộc đấu tranh của anh em, vừa để ăn mừng ngày tết của dân tộc. Chủ trương của chi bộ về cải thiện đời sống vật chất, bồi dưỡng tinh thần đã trở thành hiện thực, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của tù nhân để tự giải phóng khỏi nhà tù vào những năm sau này.

Học tập chính trị và văn hoá là hai yêu cầu cấp bách trước mắt. Để phù hợp với điều kiện sinh hoạt trong nhà tù, các lớp học phải được tổ chức gọn nhẹ. Mỗi tổ từ 10 đến 25 người. Hướng dẫn viên đồng thời cũng là tổ trưởng, gồm những đồng chí có trình độ văn hoá – chính trị khá hơn anh em. Phương pháp huấn luyện thường là các hướng dẫn viên nêu lên một vài câu hỏi cần thiết để các tổ viên chuẩn bị trước, sau đó mới đi vào thảo luận. Kết thúc buổi học, hướng dẫn viên tóm tắt và nhấn mạnh những điểm học viên cần lưu ý đồng thời mở rộng thêm kiến thức về những vấn đề lý luận cơ bản.

Chương trình huấn luyện chính trị trước đây do ông Trường Chinh dự thảo, về sau Ban huấn luyện tiếp tục bổ sung thêm, gồm các chủ đề như:

– Cách mạng tư sản dân quyền

– Lịch sử Cách mạng Tháng Mười Nga.

– Lịch sử ba quốc tế: I, II, III.

– Chủ nghĩa cộng sản sơ giản (A.B.C)

– Điều lệ Đảng.

– Công tác công vận, nông vận, thanh vận, phụ vận, binh vận, tù vận.

– Công tác xây dựng Đảng và những phương pháp hoạt động bí mật của Đảng.

Trước đây, do việc chưa bắt được liên lạc với Xứ uỷ và Trung ương Đảng, những tài liệu huấn luyện còn nhiều hạn chế và thường không có hệ thống. Từ khi chi bộ được Xứ uỷ công nhận, đường dây liên lạc được thông suốt, thì công tác huấn luyện của chi bộ đi vào nề nếp hơn. Qua những tài liệu từ ngoài chuyển vào, chi bộ quán triệt được ý kiến chỉ đạo của Thường vụ Trung ương về những vấn đề cấp bách sau:

– Khẩn trương chuẩn bị về mọi mặt, chủ động đón thời cơ nổi dậy giành chính quyền cách mạng.

– Phát triển và củng cố cơ sở cách mạng ở Tây Bắc, nhất là ở các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, từ đó sẽ phát triển lên các tỉnh ở Tây Bắc.

Những chủ trương nói trên của Thường vụ Trung ương, do đặc phái viên truyền đạt lại như truyền thêm sức mạnh, niềm tin cho chi bộ nhà tù. Các đảng viên trong nhà tù càng hăng hái học tập chính trị, luyện tập quân sự, chăm lo sức khoẻ, góp phần vào sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc.

Để chuẩn bị tham gia cuộc tổng khởi nghĩa sắp tới, chi uỷ đặc biệt  chú ý đến công tác huấn luyện quân sự và chế tạo vũ khí.

Ban quân sự được thành lập, do ông Lê Thanh Nghị đứng đầu, có nhiệm vụ chuẩn bị và hướng dẫn, tổ chức các lớp huấn luyện, sản xuất vũ khí, tích trữ thuốc men, lương thực, thực phẩm, tiền Đông Dương, chờ thời cơ hành động.

Nhằm khắc phục những khó khăn về mặt tài liệu huấn luyện quân sự và huấn luyện viên, Ban quân sự sử dụng những người trước đây đã từng được huấn luyện ở ngoài, có kiến thức về quân sự biên soạn lại những điều phổ cập về quân sự như Điều lệnh bộ binh, nghiên cứu cuốn Chiến thuật du kích. Chương trình huấn luyện quân sự bao gồm tiểu đội và trung đội chiến đấu, hành quân tác chiến, kỹ thuật sử dụng vũ khí thông thường như súng trường, ném lựu đạn, đâm lê … Để có bãi tập, Ban quân sự chỉ thị cho các đội đi lao động trong rừng hẹn nhau tập hợp tại một địa điểm kín đáo, có người canh gác để tập luyện. Muốn học cách sử dụng vũ khí bộ binh, mọi người tìm cách làm quen với một số binh lính người Thái, để nhờ họ chỉ dẫn và nói cho biết một số tính năng và cách sử dụng vũ khí đó. Một số quần chúng trung kiên được sắp xếp sang ở Trại lớn để cùng nhau học lớp quân sự.

Bằng những biện pháp như vậy, trong thời gian không lâu lắm, có đến gần 100 tù chính trị được học tập về những vấn đề cơ bản của lĩnh vực công tác quân sự.

Đi đôi với việc huấn luyện, Ban quân sự còn lo sản xuất vũ khí, trước mắt là chế tạo lựu đạn, súng kíp. Một “công binh xưởng nhỏ” được thiết lập tại một khu rừng rậm, do các ông Tô Quang Đẩu, Nguyễn Văn Trân, Lưu Quyên, Bùi Đình Đống phụ trách. Các ông Hoàng Cương và Nguyễn Bạch Nhất xuất thân từ công nhân cơ khí được giao nhiệm vụ trực tiếp chế tạo vũ khí. Nhiều vấn đề khó khăn đặt ra cần phải giải quyết như tìm kiếm nguyên vật liệu và kỹ thuật chế tạo vũ khí, song các kỹ thuật viên đã phấn đấu đến mức tối đa để hoàn thành nhiệm vụ, chế tạo được một số lựu đạn, thủ pháo và hai khẩu súng kíp.

Một trong những chủ trương quan trọng của chi bộ là phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đảng viên, quần chúng, làm cho mọi người nhận rõ tình hình mới, nhiệm vụ mới của Đảng trong giai đoạn trước mắt là đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập, tự do cho đất nước. Chi uỷ phân công một số người trong Ban huấn luyện nghiên cứu và cụ thể hoá Nghị quyết lần thứ 8 của Trung ương và Điều lệ Việt Minh để làm tài liệu học tập cho đảng viên và quần chúng trung kiên trong và ngoài nhà tù. Một số anh em có khả năng về tiếng nước ngoài, được chi uỷ giao nhiệm vụ đọc báo hàng ngày, theo dõi và tổng hợp tin tức thế giới và trong nước hàng tuần, kịp thời thông báo cho mọi người nắm được những chuyển biến trên thế giới và trong nước.

Để công tác tuyên truyền được sát hợp với từng đối tượng, chi uỷ lập ra Tiểu ban tù vận, Tiểu ban binh vận. Mỗi Tiểu ban có nhiệm vụ, đối tượng và phương pháp tuyên truyền khác nhau.

Nhờ có công tác binh vận, nhiều binh lính Thái dần dần giác ngộ và có cảm tình với tù chính trị. Họ đã giảm bớt rất nhiều hành động đánh đập, mạt sát người tù. Có người lính đã dũng cảm tự nguyện tiếp tế nước cho tù chính trị bị giam dưới hầm tối; có người đến phiên trực gác của mình đã lờ đi cho tù chính trị hội họp, viết báo, đọc sách, tranh luận về thời cuộc. Điều quan trọng nhất là ngày càng có nhiều lính Thái hiểu được những người cộng sản chính là những người yêu nước, thương nòi nhất, chứ không phải là “những tên du thủ, du thực, đầu trộm, đuôi cướp” như kẻ thù thường xuyên tạc. Từ đó, dần dần họ tỏ sự kính nể và thông cảm với tù chính trị.

Ngoài việc tuyên truyền số binh lính và hạ sĩ quan người Thái, chi uỷ còn cử những anh em biết tiếng Pháp như Trần Đình Long, Phi Vân tuyên truyền lính lê dương.

Kết quả của công tác binh vận và tù vận đã tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt động của chi bộ trong những năm 1943-1945.

Trong công tác tuyên truyền, chi bộ nhận thấy cần phải có một tờ báo nội bộ để hướng dẫn các cuộc đấu tranh trong nhà tù đi đúng đường lối, chính sách của Đảng. Đáp ứng yêu cầu bức thiết đó, từ tháng 5/1941 chi bộ đã quyết định ra tờ báo sinh hoạt nội bộ và lấy tên là Suối Reo do ông Trần Huy Liệu phụ trách. Sau một thời gian ngắn, ông Xuân Thủy đảm nhiệm chức vụ đó cho tới số báo cuối cùng.

Ngoài tờ Suối Reo, năm 1944 chi bộ còn cho ra tờ Tự chỉ trích, phát hành đột xuất vào những lúc bùng nổ cuộc đấu tranh bất thường, chống bọn giám ngục và chính quyền địa phương, bảo vệ những lợi ích hợp pháp của tù chính trị, rút kinh nghiệm các cuộc đấu tranh, phân tích những nguyên nhân thành công và không thành công.

Song song với công tác tù vận và binh vận, chi bộ còn đẩy mạnh công tác dân vận, trước mắt là tập trung vào việc tuyên truyền, vận động công nhân, viên chức, thanh niên, học sinh, người Kinh ở thị xã, người Thái ở các bản ngoại ô thị xã.

Công tác vận động người Thái được tiến hành hết sức khéo léo theo phương châm kiên trì chờ đợi, không nóng vội, càng không thể đòi hỏi quá cao. Để công tác tuyên truyền vận động đồng bào Thái ở địa phương có hiệu quả và thiết thực, chi bộ yêu cầu những người làm công tác này nhất thiết phải học tiếng Thái và triển khai công tác phải hết sức linh hoạt, tranh thủ mọi cơ hội để tiếp xúc với nhân dân. Trong khi đi làm như đóng gạch, nung vôi, xây trại lính, đào hầm trú ẩn cho trường tiểu học; khi vào bản xin tro, lá tre, mọi người đã tìm cách bắt chuyện với các đối tượng nói trên, nói rõ tình hình thế giới, trong nước và tình cảnh cực khổ của nhân dân; những chủ trương của Mặt trận Việt Minh trong việc chống Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập, tự do.

Vào thời điểm này, giới công nhân ở thị xã Sơn La có rất ít, chủ yếu là số anh em lái xe khách, công nhân nhà máy điện, nhà máy nước, công nhân làm đường, nhân viên bưu điện… Hầu hết họ là người Kinh lên đây làm việc từ trước khi chiến tranh bùng nổ. Trong khi tiếp xúc, anh em đã cố gắng giúp họ thấy rõ vị trí xã hội của giai cấp công nhân đối với sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc. Trong những năm 1942-1944, chi bộ đã gây được một vài cơ sở quần chúng trong công nhân nhà máy điện, công nhân xe khách, công nhân lục lộ. Họ đã nhận vận chuyển tài liệu, sách báo bí mật từ Hà Nội lên Sơn La cho tù chính trị.

Trong số công chức ở Sơn La phải nói đến các nhân viên y tế được giác ngộ sớm hơn cả. Nhờ có sự hiểu biết ít nhiều về ngành y và dược, ông Nguyễn Lương Bằng có điều kiện làm quen với anh em  y sĩ, y tá. Qua đó, ông đã vận động họ giúp đỡ anh em về thuốc men, chữa bệnh, nhất là đối với những tù chính trị có tuổi và bệnh nặng. Có người còn bí mật giấu được một số thuốc quý để cứu những người tù bị những bệnh hiểm nghèo. Trong số anh chị em đó, có thể kể đến y tá trưởng Cầm Văn Inh.

Chi uỷ đã bí mật bắt được liên lạc với Bế Nhật Huấn, quê ở Cao Bằng khi còn đi học đã tham gia hoạt động trong  Hội học sinh phản đế trong những năm 1936-1939, là đảng viên cộng sản của Đảng bộ ở Cao Bằng. Sau khi tốt nghiệp ngạch thư ký hành chính, ông được điều lên làm Thư  ký ở Toà sứ Sơn La trong những năm 1940-1944. Mặc dù làm việc trong cơ quan hành chính của địch, ông vẫn tiếp tục bí mặt hoạt động cách mạng. Thông qua ông Bình Trung, ông đã liên lạc với chi bộ Đảng trong nhà tù và tuyên truyền vận động, tổ chức trong số công chức người Việt như Phán Dụ, Ký Điền, Chu Văn Thịnh,Giáo Bảo, Giáo Đức, Cầm Văn Minh và cả một số hạ sĩ quan người Tày.

Công lao lớn nhất của ông là khôn khéo, bí mật lấy được 12 chiếc thẻ căn cước, một bản đồ hành chính tỉnh Sơn La để cung cấp cho chính trị phạm sử dụng khi cần thiết. Chính những thẻ căn cước và tấm bản đồ ấy đã tạo điều kiện cho 4 người vượt ngục trót lọt hồi tháng 8/1943.

Tầng lớp học sinh, giáo học là những người nhanh chóng giác ngộ cách mạng. Các thầy giáo như Chu Văn Thịnh, Chu Văn Minh, Cầm Vĩnh Chi và học sinh Lò Văn Giá đã góp phần tích cực vào phong trào ở địa phương.

Có những gia đình tiểu thương hay vợ con binh lính ở phố Chiềng Lề trở thành điểm liên lạc bí mật, đồng thời là cơ sở hậu cần của tù chính trị. Một trong những cơ sở đó là gia đình chị Chắt đã giúp đỡ anh em nhiều việc có ích.

Đối với đồng bào Thái ở các bản ngoại ô thị xã, lâu nay thực dân Pháp thường khoe khoang là chúng đã hoàn toàn chinh phục được dân tộc này những con dân trung thành nhất của nước Đại Pháp …nhưng thực tế, một khi được anh em tù gần gũi, giải thích cho họ thấy sự tàn bạo của đế quốc và bè lũ tay sai, họ đã nhận ra kẻ thù của dân tộc và sẵn sàng tham gia hoạt động cách mạng.

Mỗi khi tiếp xúc với nhân dân địa phương, anh em hết sức tôn trọng phong tục tập quán của họ, không đụng đến cái kim, sợi chỉ của họ, kính già, yêu trẻ. Vào bản, nhiều người còn dạy trẻ con học hát, học chữ quốc ngữ, nhiều khi cho thuốc, chữa bệnh cho người dân. Nhờ đó, anh em cảm hoá được đồng bào, dần dần xoá bỏ được những thành kiến lâu đời giữa người Kinh và người Thái. Nhiều người sau khi hiểu rõ được sự thực đã tỏ ra quý mến anh em tù chính trị và sẵn sàng giúp đỡ họ những việc có ích, không quản hy sinh, gian khổ. Điều đó được thể hiện ở tinh thần giác ngộ và hoạt động cách mạng của Lò Văn Giá, Nguyễn Phúc, Tòng Lanh và nhiều người Thái yêu nước khác.

Vào đầu năm 1943, chi bộ nhà tù đã bí mật gây dựng được hai cơ sở quần chúng cách mạng đầu tiên trong người Thái ở Sơn La.

  1. Tổ Thanh niên Tháí cứu quốc ở Mường La, gồm có Cầm Văn Thịnh, Lò Văn Giá, Lò Văn Phui, Lò Xuân, do Cầm Văn Thịnh phụ trách.
  2. Tổ Thanh niên Thái cứu quốc ở thị xã Sơn La, gồm có Chu Văn Thịnh, Tòng Lanh, Nguyễn Phúc, Quàng Văn Đôn, do Chu Văn Thịnh phụ trách.

Hai tổ thanh niên cứu quốc nói trên có Điều lệ tóm tắt (mang tên là Thanh niên Thái cứu quốc), dựa trên cơ sở bản Điều lệ Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam lúc bấy giờ.

Tổ Thanh niên Thái cứu quốc làm nhiệm vụ tuyên truyền, vận động xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng trong thanh niên Thái.

Theo sự hướng dẫn của chi bộ, Tổ Thanh niên Thái cứu quốc ở Mường La hăng hái vận động quần chúng ở xã Chiềng Xôm đứng dậy đấu tranh đòi giảm thuế, giảm ruộng chức, bớt đóng góp thóc kho… Bằng những hình ảnh cụ thể, ngôn ngữ dân tộc, Tổ Thanh niên Thái cứu quốc Mường La đã làm cho đồng bào thấy rõ nguồn gốc của sự đói nghèo là do sự áp bức, bóc lột thậm tệ của đế quốc và bọn phìa, tạo. Từ đó, đồng bào tích cực tham gia các cuộc hội họp quần chúng, tố cáo sự  hà lạm, tham nhũng của phìa, tạo và các chức dịch khác trong bản, Đòi chúng phải hạn chế những tô, dịch phi lý…Phong trào quần chúng phát triển mạnh ở bản Tông, bản Hụm, bản Phiềng Ngùa. Quần chúng đã dám mạnh dạn nói lên những nỗi uất ức của mình đối với bọn chúng; tỏ thái độ ủng hộ cách mạng.

Tinh thần đấu tranh của nhân dân ngày càng lên cao, nhưng ban lãnh đạo đấu tranh chưa có kinh nghiệm hướng dẫn tổ chức quần chúng, nên không tránh khỏi những sơ hở, lộ bí mật. Do đó, trong suốt cuộc đấu tranh ở bản Tông, Cầm Văn Thịnh và nhiều quần chúng trung kiên như cụ Óc, cố Tõng, Pang Nghiên… bị kẻ địch phát giác và bắt tại chỗ, hoặc theo dõi, kiểm soát rất ngặt. Ít lâu sau, do sự đấu tranh của nhân dân, thấy không có chứng cớ gì rõ rệt, chúng phải trả lại tự do cho những người bị bắt.

Những cuộc đấu tranh đầu tiên của nhân dân Mường La nói trên, tuy không giành được thắng lợi, nhưng là sự tập dượt cần thiết trong quá trình đấu tranh cách mạng, có tác dụng động viên, cổ vũ phong trào cách mạng của nhân dân trong tỉnh trong những năm sau này.

Năm 1943, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển, phong trào cách mạng trong nước phát triển mạnh mẽ, rầm rộ, đòi hỏi cần nhiều cán bộ có kinh nghiệm, có uy tín để chỉ đạo phong trào cách mạng. Do đó việc bố trí đưa một số người ra khỏi nhà tù đế quốc trở về tham gia lãnh đạo phong trào là một trong những yêu cầu cấp thiết của Đảng lúc bấy giờ. Chủ trương vượt ngục của tù chính trị phù hợp với chủ trương chung của Thường vụ Trung ương đề ra.

Trước khi chi bộ tổ chức vượt ngục, vào năm 1941, 2 ông Đàm Văn Lý và Đàm Văn Sáng tự vượt ngục, nhưng không thành. Ba ngày sau khi vượt ngục, ông Đàm Văn Sáng bị mất tích, còn ông Đàm Văn Lý bị bọn phản động địa phương bắn chết, chặt đầu đưa về nộp Công sứ lĩnh thưởng. Để khủng bố tinh thần tù nhân chính trị, Công sứ Cousseau cho bêu đầu ở cổng nhà tù trong 3 ngày để uy hiếp tinh thần họ. Cuộc vượt ngục thất bại là bài học xương máu đối với chi bộ nhà tù Sơn La trong việc tổ chức vượt ngục sau này.

Mặc dù kẻ thù khủng bố gắt gao và gặp nhiều khó khăn, chi bộ vẫn quyết định tổ chức cho một số cán bộ chủ chốt vượt ngục với những tiêu chuẩn sau:

  1. Tinh thần kiên định, mưu trí, sức khoẻ tốt.
  2. Có năng lực và tín nhiệm mà Đảng đang rất cần, nhất là những người xuất thân từ thành phần giai cấp công nhân.
  3. Có ý thức tổ chức kỷ luật cao, thận trọng.

Ngoài các tiêu chuẩn trên, chi uỷ cũng quan tâm đến những người bị giam cầm lâu ngày, cần được sớm ra ngoài hoạt động. Dựa vào tiêu chuẩn nói trên, đợt 1 chi bộ lựa chọn được 12 người dự định sẽ vượt ngục vào mùa hè năm 1943, nhưng kế hoạch đã bị huỷ bỏ. Sau đó chi bộ nhận định rằng nhân tố quyết định thành công của cuộc vượt ngục lần này là phải có người dẫn đường, nên đã xem xét và quyết định chọn Lò Văn Giá, một thanh niên người Thái hoạt động trong tổ chức Thanh niên Cứu quốc. Lò Văn Giá thông minh, dũng cảm, có tinh thần yêu nước, nhiệt tình cách mạng, giỏi cả tiếng Mông và rất thông thạo địa hình vùng Tây Bắc.

Chi bộ thông qua kế hoạch vượt ngục và danh sách gồm Nguyễn Tuấn Đáng (Trần Đăng Ninh); Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu (Lưu Quyên).

Sở dĩ có sự lựa chọn trên là vì ngoài những tiêu chuẩn nói trên, 2 ông Trân và Hiểu biết nói tiếng Thái, có quan hệ chặt chẽ với tổ chức Thanh niên Cứu quốc Mường La, có kinh nghiệm sử dụng sơ đồ, sa bàn, thông thạo đường đi, lối lại.

Sắp đến ngày vượt ngục, ông Nguyễn Lương Bằng đề nghị chi bộ xin vượt ngục dù lúc này sức khoẻ rất yếu, nhưng trước sau vẫn kiên trì đề nghị: “Vô luận thế nào, chi bộ không tổ chức vượt ngục thì thôi, đã tổ chức thì phải để tôi tham gia. Tất cả mọi khó khăn nguy hiểm  mọi người chịu đựng được, tôi cũng có thể chịu đựng được, cùng nữa phải hy sinh giữa đường cũng phải chịu” Chi bộ đã đồng ý với đề nghị của ông.

Theo kế hoạch khi đi làm bên ngoài, đoàn sẽ vượt ngục rồi trốn luôn, anh Lò Văn Giá đợi bên ngoài. Đoàn vượt ngục đến bến Tạ Chan để vượt sông Đà sang tỉnh Yên Bái đi về chiến khu Vần-Hiền Lương (Phú Thọ). Nhưng khi đến được bờ sông Đà thì nước sông dâng to, không thể đợi lâu được nên mọi người quyết định đổi hướng đi theo đường số 41 (Quốc lộ 6), chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm mặc trang phục khác nhau. Ông Nguyễn Lương Bằng và ông Trần Đăng Ninh mặc quần áo người Kinh mang thẻ thuế thân người Kinh; ông Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu và Lò Văn Giá mặc quần áo Thái mang thẻ thuế thân người Thái, mỗi nhóm đi cách nhau 100 m, hết sức bí mật, cảnh giác trong khi tiếp xúc với những người lạ mặt, thống nhất với nhau một câu trả lời với phìa tạo địa phương khi bị xét hỏi: “Chúng tôi từ Phù Yên đi Tạ Khoa đến Mộc Châu để mua hàng của bà Cả Thịnh”. Trong khi nhóm của ông Nguyễn Văn Trân đi trót lọt thì nhóm của ông Nguyễn Lương Bằng bị phìa Yên Châu hỏi thẻ thuế thân và các giấy tờ đi đường khác, may nhờ đủ giấy tờ hợp lệ và trả lời rành rọt mà 2 ông mới thoát khỏi Yên Châu và theo kịp nhóm trước.

Vượt qua Yên Châu, Mộc Châu, đến ngày thứ 5 của cuộc hành trình, đoàn đến đèo Pu Luông. Ngay hôm đó lệnh truy nã 4 tù nhân vượt ngục của thực dân Pháp với giải thưởng rất lớn được tung ra. Nhờ có sự khôn khéo đánh lạc hướng mà đoàn tù đã vượt qua đèo Pu Luông.. Trên đường đi tới Suối Rút, đến Bản Bông đoàn bị tạo Mộc Hạ chặn đường hỏi: “Các anh đi đâu? Giấy tờ hộ thân đâu?”. Mọi người bình tĩnh trả lời, xuất trình thẻ căn cước nên được tiếp tục lên đường.

Nhóm các ông Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu và Lò Văn Giá đến Suối Rút trước, còn nhóm của ông Nguyễn Lương Bằng đến sau. Năm anh em gặp nhau vui mừng khôn tả, quyết định mừng thắng lợi bước đầu bằng bữa cơm liên hoan, rồi tập trung tiền, thuốc men trao cho anh Lò Văn Giá. Đề nghị khi thấy tạm yên ổn, bắt được liên lạc với chi bộ nhà tù Sơn La thì hãy quay lại Mường La. Anh Giá trả lời: “Các anh cứ yên tâm, không phải lo cho tôi. Tôi đã có cách xử lý, chỉ mong các anh đi trót lọt là tôi mừng”.

 Cuộc vượt ngục thành công tốt đẹp là nhờ chi bộ nhà tù Sơn La đã chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, giữ được nguyên tắc bí mật triệt để. Đây là cuộc vượt ngục thành công duy nhất ở nhà tù Sơn La, nó đã cổ vũ cho các tù nhân chính trị ở các nhà tù khác vượt ngục. Riêng với nhà tù Sơn La, cuộc vượt ngục thành công đã làm cho anh em vô cùng phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của chi bộ nhà tù và càng kiên quyết đấu tranh.

Khi Lò Văn Giá quay lại Sơn La, bị thực dân Pháp bắt ngay. Mặc dù bị tra tấn dã man, nhưng anh vẫn một mực không khai. Sau một thời gian bị giam cầm và tra tấn, không tìm được chứng cứ gì để kết án, chúng đã lén lút thủ tiêu anh. Nhân dân Sơn La rất tự hào với tấm gương tận tụy của Lò Văn Giá, người con ưu tú của bản mường đã dũng cảm, mưu trí đóng góp sức mình vào thành công của Đảng[8].

Tháng 11/1943, ông Hoàng Quốc Việt – Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng trực tiếp giao nhiệm vụ cho ông Bình Phương tìm cách bắt liên lạc với chi bộ nhà tù Sơn La, để truyền đạt một số chủ trương quan trọng của Trung ương Đảng.

  1. Quân đội Liên Xô và các nước đồng minh sẽ thắng Đức, Nhật, Pháp ở Đông Dương sẽ đánh nhau, lúc đó thời cơ giành chính quyền sẽ xuất hiện, ta phải chuẩn bị lực lượng đón thời cơ.
  2. Chi bộ nhà tù Sơn La có hai nhiệm vụ: thứ nhất có tổ chức cho một số cán bộ vượt ngục để bổ sung cán bộ cho phong trào; thứ hai là gây dựng cơ sở cách mạng ở vùng Tây Bắc, phát triển du kích ở nhiều nơi.

Nhận được chỉ thị của Trung ương Đảng trong thời điểm này là vô cùng quan trọng với chi bộ nhà tù Sơn La. Từ năm 1943 trở đi chi bộ nhà tù đã được Trung ương Đảng công nhận là chi bộ chính thức, đặc biệt, hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, chi bộ trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở Sơn La.

Bằng việc đàn áp thẳng tay cuộc tuyệt thực được coi là thắng lợi, những tưởng con đường hoạn lộ của Cousseau sẽ thênh thang rộng mở. Nhưng tiếp sau đó không lâu, vấp phải những thế trận đấu tranh biến hoá (lãn công, binh vận, vượt ngục …) của tù chính trị, hắn đã thất bại cay đắng và phải gọi về Hà Nội làm công việc cũ.

Robert Cabon lên thay. Viên Công sứ này đỗ cử nhân luật khoa, đã qua trường đào tạo hành chính công chức thuộc địa tại Pháp. Chính hắn đã đập tan âm mưu nổi loạn của nhóm Phục quốc thân Nhật năm 1941 ở Lạng Sơn, đã làm tan rã một số cơ sở bí mật của cộng sản và đã có lần bắt hụt anh Hoàng Văn Thụ, đã được điều từ Lạng Sơn về Sơn La. Cũng dùng chính sách bao vây, do thám bằng mạng lưới mật thám, chỉ điểm như Cousseau, nhưng khác với Cousseau là không bao giờ chúng vào trong nhà tù, không bao giờ trực tiếp với đại biểu tù chính trị. Tất cả mệnh lệnh đều thông qua xếp ngục hoặc Giám binh, trừ một lần, và cũng là lần cuối cùng, hắn phải ngồi vào bàn đàm phán và thoả thuận với Ban đại biểu tù chính trị ở Toà sứ. Đó là sau ngày Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương (9/3/1945). Trước yêu cầu của tù chính trị đòi phải thả hết tù Sơn La và với danh nghĩa là đồng minh với những người cộng sản chống phát xít Nhật, hắn đã ra những điều kiện khôn ngoan và hợp lý. Đó là chuyện sau này. Còn bây giờ, Robert Cabon dùng cách thuyên chuyển, đảo lộn lung tung. Hắn đưa những người án từ 5-10 năm trở lên về nhà tù Hoà Bình. ở đó, từ 10 năm trở lên phải đi Côn Đảo, còn thì đi nhà tù Chợ Chu, một số nhỏ ở lại tại chỗ. Rồi hắn lại chuyển tù từ Hà Nội và các nơi khác về Sơn La. Cuộc chuyển đổi diễn ra như đèn cù. Dụng ý của Robert Cabon là phá vỡ sự ổn định tổ chức nội bộ của tù, đặt người tù trong tình thế luôn luôn biến động, để họ tiến hành đấu tranh khó có hiệu quả, để sự thống nhất giữa người tù với nhau chệch choạc, lủng củng. Hắn là một viên quan cai trị thực dân đúng cốt cách: kín đáo, thông minh già dặn, mưu lược.

Tuy nhiên, tình thế ngày càng biến chuyển có lợi cho cách mạng. Ngày 12/3/1945 Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta thể hiện rõ sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, kịp thời và sáng tạo của Đảng, tạo ra kim chỉ nam cho mọi hành động trong cao trào kháng Nhặt cứu nước, dẫn tới thắng lợi trực tiếp của Tổng khởi nghĩa tháng Tám.

Tại nhà tù Sơn La, với sự nhạy cảm chính trị của những người tù cộng sản, được soi sáng bằng tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, chi bộ thường xuyên theo dõi chặt chẽ những diễn biến tình hình, kịp thời nhận định để thông báo cho tù nhân.

Chi bộ đã tích cực chuẩn bị mọi mặt về tinh thần, vật chất, củng cố lực lượng, luyên tập quân sự, tích cực phối hợp hành động với các cơ sở cách mạng bên ngoài nhà tù để sẵn sàng đối phó với mọi tình huống xảy ra.

Mặc dù Pháp cố tình bưng bít, nhưng tin Nhật đảo chính Pháp vẫn lọt vào nhà ngục. Trước tình hình đó, chi uỷ đã họp mở rộng với Ban Đại diện nhà ngục để ra kế hoach lãnh đạo tư tưởng và tổ chức chuẩn bị thoát ngục khi có điều kiện thuận lợi.

Qua tiếp xúc, chi bộ nắm được âm mưu của Pháp muốn biến tù chính trị Sơn La thành lực lượng chiến đấu chống Nhật lâu dài. Bằng phương pháp đấu tranh mềm dẻo, hợp lý, hợp tình, phân tích kỹ xu thế phát triển của tình hình và qua thái độ của bọn cai ngục, binh lính chi bộ đã đi đến chủ trương:

  1. Tìm cách hợp tác với Pháp để chống Nhật nhằm tranh thủ cơ hội được tự do, tìm cách nhanh chóng về với Đảng để tham gia phong trào cách mạng.
  2. Yêu cầu Pháp thả toàn bộ tù chính trị.

Thực hiện chủ trương trên, Ban đại diện nhà ngục cử 18 người làm nhiệm vụ “hợp tác” với Pháp. Thực dân Pháp cũng đã lợi dụng những người này làm nhiệm vụ quân báo đi trước điều tra tình hình Nhật. Mọi người đã thống nhất kế hoạch và khéo léo, nhanh chóng thoát khỏi sự kiểm soát của chúng trở về với phong trào cách mạng đang sôi sục trong cả nước.

Trước áp lực đấu tranh của tù chính trị ở Sơn La, trước khí thế cách mạng dâng cao trong cả nước, tại  nhà tù Sơn La, chiều 17/3/1945 Giám ngục Lebon buộc phải thông báo lệnh di chuyển tù nhân. Tuy bên ngoài tuyên bố với Ban đại diện là trả tự do cho tù chính trị, nhưng chúng lại chuyển toàn bộ tù Sơn La về căng Nghĩa Lộ. Ban đại diện nhà ngục đã nhanh chóng dự kiến các phương án để giải phòng tù nhân.

Trên đường đi, khi đến đỉnh đèo Khau Phạ, nghe tin tại căng Nghĩa Lộ các tù nhân chính trị đã phá còng tự giải thoát, Giám ngục Lebon và tên Tây Đoan sợ hãi bỏ chạy để đoàn tù hoàn toàn tự do. Ban đại diện thông báo vẫn tiếp tục duy trì đội ngũ,, đồng thời gặp gỡ, tuyên truyền thuyết phục binh lính, yêu cầu ai theo cách mạng thì mang súng đi cùng, ai không theo thì trao lại súng cho cách mạng và được tự do.

Đến Tú Lệ, Ban đại diện tuyên bố, từ đây tất cả tù nhân đã thoát khỏi ngục tù, thành lập các nhóm tìm mọi cách bắt liên lạc với Xứ ủy và các tổ chức Đảng ở các địa phương để hoạt động. Gần 200 cán bộ của Đảng đã nhanh chóng trở về với Đảng, với nhân dân, tham gia lãnh đạo phong trào, tiến tới tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Chi bộ đảng nhà tù Sơn La đã trở thành nơi ươm những hạt giống đỏ đầu tiên của phong trào cách mạng Sơn La. Từ nhà tù Sơn La, ánh sáng cách mạng đã toả sáng khắp núi rừng Tây Bắc, góp sức rất lớn cho sự thành công của  cách mạng tháng Tám ở Sơn La.

Từ năm 1930 đến 1945, thực dân Pháp đã đày lên Nhà tù Sơn La 14 đoàn tù chính trị với tổng số 1013 lượt tù nhân, trong đó có nhiều người là Trung ương Uỷ viên, Xứ uỷ viên, Thành uỷ viên, nhiều cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng, bởi vậy nhà tù Sơn La đã trở thành trung tâm giam cầm, đày ải những chiến sĩ cộng sản và người Việt Nam yêu nước. Khí hậu, chế độ tù đày khắc nghiệt và bệnh tật hiểm nghèo đã cướp đi sinh mạng của nhiều cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng. Trong giai đoạn 1930-1936 hàng trăm chiến sĩ cộng sản đã bị giết hại và gửi xác tại nghĩa địa Gốc ổi. Với tất cả những âm mưu và dã tâm đó thực dân Pháp tưởng rằng sẽ tiêu hao được tinh thần, lý tưởng, ý chí chiến đấu của những tù cộng sản, dập tắt được phong trào cách mạng của nhân dân, nhưng chúng đã lầm. ý chí kiên cường của những đảng viên cộng sản không chịu chết mòn, chết dần trong gông cùm nhà tù của kẻ thù, họ đấu tranh bảo tồn lực lượng và khí tiết của những người cách mạng.

Trong 1.013 lượt tù nhân bị giam cầm ở nhà tù Sơn La, hiện nay Bảo tàng Sơn La đã sưu tầm và lưu giữ 250 hồ sơ gốc của tù nhân, danh sách 63 liệt sĩ, danh sách 870 tù nhân, danh sách 180 người đã được rèn luyện, thử thách ở nhà tù Sơn La và sau này giữ chức vụ cao của Đảng và Nhà nước, các bộ ngành, đặc biệt, từ sau tháng 3/1945 Nhật đảo chính Pháp, nhà tù Sơn La được giải phóng, đã cung cấp cán bộ lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho cả miền Bắc, Trung, Nam và trên mọi lĩnh vực. Dưới đây là một vài số liệu:

Các liệt sĩ đã hy sinh tại ngục thất Sơn La: Ngô Đình Mẫn, Trần Văn Lan, Võ Cam, Nguyễn Cầu, Trần Tích Chu, Phạm Văn Ngọ (Ngạn), Đỗ Như Mạc, Phạm Văn Nhiêu (Bộ), Bùi Văn Viễn, Ngô Huy Tăng, Nguyễn Chí Hiền, Phạm Quang Lịch, Đàm Văn Sáng, Đàm Văn Lý, Tường, Lại Thế Đạo, Lưu Đình Cư, Trần Trọng Quát, Nguyễn Thúc Khiêm (Tú Khiêm), Ngọ, Sen, Bút, Tuệ, Bòm, Bò, Trung, Nguyễn Văn Quyến, Nguyễn Bá Chăm, Nguyễn Văn Truân, Tô Hiệu, Trương Hồng Kim, Lý Bình, Bùi Văn Di, Nhữ, Vị, Hưng, Kết, Tích, Bôi, Du, Thái, Lộc, Độ, Giám, Thoả, Tơ, Biên, Hiển, Vạt.

Danh sách bước đầu về các chiến sĩ cách mạng, các nhân vật có tên  tuổi, chủ yếu giai đoạn 1940-1945 đã bị giam giữ tại Sơn La:

– Năm 1933: Lê Duẩn, Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Lan, Đỗ Ngọc Du, Khuất Duy Tiến, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) Vũ Thiện Chân, Phạm Văn Ngọ, Bùi Vũ Trụ, Hoàng Đình Dong, Tchang Seng Hong (A Hồng).

– Năm 1934: Nguyễn Lương Bằng, Phạm Quang Lịch, Đặng Việt Châu.

– Thời kỳ 1940-1945: (xếp theo abc): Ái (Lưu Động, Lý Anh, Nguyễn Nhất Bạch, Nguyễn Tam Bạch, Đội Bảo, Nguyễn Công Bông, Mai Can, Nguyễn Trọng Cảnh, Nguyễn Hữu Căn (Phi Vân), Nguyễn Cao (Kháng), Đặng Khánh Côn (Phạm Tuấn Khánh), Công, Trần Quang Cử, Hoàng Cương, Cương, Phạm Văn Cương (Nguyễn Cơ Thạch), Nguyễn Bá Cham, Lã Xuân Choát (Chu Hà), Bùi Đăng Chi, Chí, Nguyễn Văn Dậu, Hoàng Đức Di, Trần Văn Diện (Trần Cư), Đào Duy Dếnh (Đào Phan), Nguyễn Đức Du (Lê Viên), Lê Dung (Lê Hoàng), Văn Tiến Dũng, Nguyễn Trung Dong (Hồng Trang), Vũ Dương, Đắc, Nguyễn Hữu Đan, Nguyễn Tuấn Đáng (Trần Đăng Ninh) Nguyễn Văn Đáng, Lại Thế Đạo, Bùi Như Đáp (Bùi Mộng Vân), Nguyễn Trọng Đạt, Tô Điển (Tô Quang Đẩu), Phan Đình Đống (Mai Chí Thọ), Nguyễn Ngọc Đĩnh (Lê Trung Toản), Bùi Đình Đổng, Nguyễn Gia  Hạc, Nguyễn Hách, Hàm, Nguyễn Thế Hạng, Tô Hiệu, Lưu Đức Hiểu (Lưu Quyên), Nguyễn Mạnh Hoan, Đào Hồ (Triệu Dương), Nguyễn Mạnh Hồng, Trịnh Ngọc Huấn (Lê Liêm), Huấn (Võ Hồng Cương), Nguyễn Văn Huống, Nguyễn Văn Huyên (Nguyễn Thanh Bình), Nguyễn Văn Huyên (Thành), Vũ Đình Huỳnh, Già Kế, Trần Ngọc Kiên (Cai Phác), Đoàn Xuân Kiểu (Hoàng Công Khanh), Trương Hồng Kim, Đặng Văn Kim (Lê Quang Hoà) Nguyễn Tử Kính, Nguyễn Ngọc Kha, Nguyễn Khai, Phan Đình Khải (Lê Đức Thọ), Nguyễn Khang, Khánh A, Khánh B, Nguyễn Thúc Khiêm (Tú Khiêm), Trần Đình Khôi, Chu Đình Khôi (Xương), Vương Gia Khương, Nguyễn Văn Khương (Song Hào), Trần Quý Kiên, Bùi Lâm, Trần Xuân Lê, Trần Huy Liệu, Nguyễn Lợi (Nguyễn Chương), phạm Lợi, Ngô Minh Loan, Trần Đình Long, Nguyễn Văn Luận (Trần Danh Tuyên), Hà Lượng, Đào Đình Luống (Nguyễn Đức Quỳ), Đàm Văn Lý, Vũ Viết Mậu (Nguyễn Văn Từ), Minh, ủng Chi Mùi, Nguyễn Văn Năng, Ngô, Hưng Nguyện, Vũ Duy Nhai, Nguyễn Trọng Nhâm (Xuân Thủy), Nguyễn Nhiễm, Lương Nhu, Đỗ Nhuận, Trần Như, Chu Nhữ, Nguyễn Văn Nhượng, Ninh, Trần Ngọc Nghiêm (Hoàng Minh Chính), Vũ Đức Oong (Vũ Ân), Tạ Ngọc Phách (Trần Độ), Nguyễn Văn Phúc (Phúc Ghẻ), Nguyễn Văn Phúc (Phúc Thổ Thần), Phúc (Mít), Nguyễn Duy Phương (Lê Hiến Mai, Dương Quốc Chính), Sang Siu Pô, Ba Quán, Thành Ngọc Quản, Quang, Trần Trọng Quát,, Nguyễn Bỉnh Quân (Quốc), Nhị Quý, Ngô Ngọc Quỳnh (Ngô Ngọc Du), Trần Quyết (Phạm Ngọc Mậu), Trần Đức Sắc (Văn Tân), Võ Sán, Nguyễn Văn Sình, Bùi Quang Tạo, Nguyễn Duy Tín (Lê Trọng Nghĩa), Nguyễn Ngọc Tỉnh, Trịnh Tam Tỉnh, Nguyễn Văn Tựu A, Nguyễn Trọng Tựu B, Nguyễn Văn Tửu (Nguyễn Thế Tùng), Ngô Tuấn Tùng (Hiệp), Nguyễn Văn Tường, Trần Minh Tước (Xích Điểu), Thái, Nguyễn Văn Thân, Lê Quốc Thân (Thanh), Nguyễn Văn Thao, Phạm Quang Thám (Hoàng Quốc Thịnh), Trần Tâm (Thắng), Hồ Tùng Thi, Lưu Văn Thi (Hoàng Thế Thiện), Nguyễn Văn Thìn (Nguyễn Thế Môn), Trần Đức Thịnh (Nguyễn Văn Trân), Đinh Ngọc Thọ, Trần Khắc Thọ (Hoàng Tùng), Nguyễn Đức Thuận, Vũ Văn  Thuẫn (Nguyễn Hoàng Dương, Nguyễn Văn Thường (Mộ Thanh), Tạ Tiếu (Tạ Xuân Thu), Đặng Trác, Trình (Võ Quang Anh), Trần Vị (Nguyễn Lam), Nguyễn Khắc Xứng (Lê Thanh Nghị).

Danh sách chính trị phạm bị đưa đi Madagascar: Hoàng Đình Dong, Hoàng Công Hoạt, Vũ Văn Địch, Nguyễn Văn Ngọc, Trần Hiệu, Tô Gĩ (Lê Giản), Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam), NguyễnVăn Phòng (Ngọc Minh).

Danh sách chính trị phạm thuộc các đảng phái khác: Nguyễn Văn Ngọt, Hai Ngạt, Trần Thanh Quang, Trần Duy Châu, Nguyễn Văn Nghĩa, Mai Đắc Bân, Đồ Bể, Viển (Việt Nam Quốc dân Đảng), Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Thế Song (Việt Nam Quốc dân Đảng), Già Cương, Đội Ngẩu, Sơn (Đảng Phục quốc), Phạm Công Tắc (Hộ pháp Cao Đài).

Danh sách cơ sở, cảm tình giúp đỡ chính trị phạm: bà Giáo Bảo (phố chợ Chiềng Lề), chị Chắt (bản Giảng), Đội Chính, Phán Dụ, Cai Di, Ký Điển (ngục thất Sơn La), Đức (lái xe Toà Công sứ Sơn La), Giáo Đức, Lò Văn Dọn, Cầm Vĩnh Chi, Lò Văn Giá (Tổ Thanh niên cứu quốc Thái), Đội Hào (Hầu) Bế Nhật Huấn (Thư ký Toà Công sứ Sơn La), Cầm Văn Inh (y tá nhà thương Sơn La), Quàng Thị Khiên, anh Long, anh lính số 1441 và 1037 (lính coi tù), Tòng Lanh, bà lái thuốc lào, Quản Mười (cho Chiềng Lề), Cầm Văn Minh, Pâng Nhiên, ông Óc, anh Pụi (lính coi tù), Cai Piệng (cai coi tù), Lò Văn Phui, Lò Xuân, Tài Tuệ (lái xe Hà Nội- Sơn La), Đội Thát, Đội Thê (Nguyễn Bá Toản), Cầm Văn Thịnh, Chu Văn Thịnh, Quản Thuật, bà Cả Thịnh (Mộc Châu), giáo Phúc, Lò Văn  Son, cô Ngọc (con gái bà lái thuốc lào), Cầm Hiên (Đội chính).

***

Hiện nay, di tích Nhà tù Sơn La đã trải qua 2 lần bị ném bom: lần thứ nhất vào năm 1952, khi thực dân Pháp rút khỏi Sơn La, đã ném bom nhằm xoá đi dấu vết tội ác của chúng; lần 2 vào năm 1965 đế quốc Mỹ đã đánh phá thị xã Sơn La phá huỷ một phần của nhà tù. Năm 1980, Bảo tàng Sơn La tiến hành phục chế lại nhà tù lần thứ nhất; san lấp hố bom, xây lại một số đoạn tường rào bao quanh. Lần phục chế thứ hai vào năm 1994, dựng lại 2 tháp canh, nhà bếp, trại giam lớn, gia cố lại hầm ngầm, xây dựng các bức tường của các phòng giam theo dấu vết của các nền móng cũ. Chủ trương phục chế toàn bộ khu di tích như nguyên trạng nhưng chưa làm được. Hy vọng trong thời gian không xa, ước vọng trên sẽ trở thành hiện thực. Toàn bộ cỗ máy tra tấn, cùm kẹp của thực dân sẽ được trả lại đúng hình hài man dại của chúng của những năm đầu thế kỷ XX để các thế hệ mai sau chiêm bái, noi theo.

Chú thích:

[1]  . Lê Quý Đôn. Kiến văn tiểu lục, Sđd, tr.369.

[2] Nhưng có lẽ là năm1909

[3] . Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên). Tư liệu về lịch sử và xã hội người Thái, Sđd, tr.169-170.

1 . Theo báo cáo hàng năm của Công sứ Sơn La về tình hình chính trị ở địa phương từ 1/7/1920 đến 30/6/1921 thì vào thời điểm đầu năm 1921 có một đoàn xe chở 35 tù phạm đã đến tỉnh gần 3 tháng nay, nâng số lượng người bị giam trong nhà tù giờ phút này là 89 người. Tình trạng sức khoẻ của các tù phạm trong trại giam không có điều gì bất thường, nghĩa là không đến nỗi quá tệ. Thức ăn được chuẩn bị và phối hợp tốt. Điều dở là không thể có nhiều rau hơn. Người ta không thể tìm kiếm được các loại rau tại chỗ. Từ khi thay đổi viên Trưởng quản giám ngục thất, một sự cải thiện tình hình quản lý ngục thất đã được ghi nhận (Hồ sơ 36542-12).

2 . Những cán bộ cách mạng đưa đi tập trung mà không xử án.

[4] Theo báo cáo về kinh tế Sơn La do Công sứ Le Ray ký ngày 1/1/1940 thì mãi đến tháng 6/1939 ngục thất Sơn La mới được cung cấp điện thắp sáng và dùng cho việc bơm nước. Ngoài ra khu nhà giành riêng cho các nhân viên ở đây cũng được xây dựng (Hồ sơ số 74296).

[5] Tù chính trị mặc áo trắng, đeo số tù màu đỏ để phân biệt với tù thường phạm. Nhân dân Sơn La thường gọi tù chính trị là “tù áo trắng”.

[6] . Gốc ổi (khu nghĩa trang ngày nay) là nơi chôn những tù nhân bị chết ở ngục Sơn La.

1 Phạm Quang Lịch sinh năm 1901, quê làng Nam Huân, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, xuất thân trong một gia đình giầu có, có trên  90 mẫu ruộng. Năm 1927-1929, ông tham gia Việt Nam Cách mạng Thanh niên, sau đó trở thành Đảng viên Đông Dương Cộng sản Đảng. Phạm Quang Lịch đã nhiều lần bán ruộng, bán vàng để lấy tiền hoạt động. Năm 1930, trong cuộc đấu tranh đòi vay thóc cứu đói, chi bộ Đảng Nam Huân đã vạch kế hoạch chỉ đạo đấu tranh rất sát sao và đã giành nhiều thắng lợi. Sau cuộc biểu tình Tiền Hải, bị địch bắt, bị kết án 20 năm khổ sai, giam tại Hỏa Lò, Hà Nội. Đêm 25/12/1932, vượt ngục Hỏa Lò, về Thái Bình. Đầu năm 1933, Ban Tỉnh uỷ Lâm thời được thành lập, Phạm Quang Lịch làm Bí thư. Tháng 11/1933, lại bị bắt, bị kết án 20 năm khổ sai và đày lên Sơn La. Do bị đánh đập và tra khảo tàn nhẫn, Phạm Quang Lịch bị ho ra máu và ngày 30/3/1937 mất tại nhà tù Sơn La.

[7]  Hoàng Công Khanh. Hoa Nhạn lai hồng (ký sự), Nxb Văn học, H.1992, tr. 66-87.

1 . Hoàng Công Khanh. Hoa Nhạn lai hồng, Sđd, tr.17-22. 

[8] Ông Lò Văn Giá về sau được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s