Chiến tranh trăm năm giữa Pháp và Anh- bài 5

Một số trận đánh trong cuộc chiến của nhà Lancaster năm 1415 -> 1429

Năm 1389 Charles VI, con trai của Charles V và Richard II-con trai của Hoàng tử đen ký hiệp ước hòa bình kết thúc thời kỳ chiến tranh nhà Caroline. Vào khoảng thời gian này nước Anh cũng lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn, những đợt trưng thu lương thực, gia súc .. liên tục để phục vụ cho nhu cầu của chiên tranh đã làm nổ ra phong trào khởi nghĩa của nông dân, chưa hết ở biên giới phía Bắc người Scotland lại liên tục đánh phá, trong khi đóRichard II lại là một kẻ bất tài. Nhân cơ hội này Henry of Bolingbroke-Bá tước của Lancaster-anh em họ của Recharles II đã tống ông này vào tù rồi ra tay hạ sát và đoạt ngôi vua nước Anh với danh hiệu Henry IV. Con trai ông ta là Henry V đã tiến hành chinh phục nước Pháp vào năm 1415 nên khoảng thời gian từ năm 1415-> 29 được gọi là cuộc chiến của nhà Lancaster

Những sự kiện chính xảy ra ở Anh – Pháp từ năm 1389 -> 1429

Tháng 5 năm 1389 Richard II tuyên bố mình đã đến tuổi trưởng thành và kiểm soát chính phủ Anh một cách cá nhân.
Ngày 18 tháng 6 Hiệp ước ngừng bắn Leulinghen giữa Anh-Pháp được ký kết
Tháng Hai năm 1390 John của Gaunt, công tước của Lancaster, được phong làm công tước của Aquitaine bởi cháu trai của ông-Richard II
19 Tháng 4 Robert II của Scotland chết, được thừa kế bởi Robert III
05 tháng 8 năm 1392 Charles VI đầu thể hiện tình trạng tâm thần phân liệt của mình; tình trạng thiếu năng lực của nhà vua cho phép người chú của ông nắm quyền điều hành và lật đổ Marmouset
Ngày 28 tháng 1 năm 1393 Charles VI thoát chết trong gang tấc khi một ngọn đuốc rơi vào bộ trang phục kiểu Masque của nhà vua.
Ngày 16 tháng 3 năm 1394 Sir John Hawkwood chỉ huy người Anh của Great Company chết ở Italy
Ngày 23 tháng 4 Sir Hugh Calveley chỉ huy người Anh của Great Company qua đời
Ngày 07 tháng 6 Anne của Bohemia, nữ hoàng của Anh và vợ của Richard II qua đời
1396 Philip the Good, công tước thứ ba của Valois ở Burgundy ra đời
Ngày 04 tháng 11 Richard II kết hôn với Isabella, con gái của Charles VI
Ngày 10 tháng 7 năm 1397 Richard II bắt giữ người chú Thomas của Woodstock, công tước của Gloucester, người sau đó chết trong tù tại Calais
Tháng Chín Richard II buộc tội Lord Appellant trước Nghị viện về tội phản quốc
Ngày 16 tháng 9 năm1398 Richard II lưu đày Henry của Bolingbroke-người anh em họ của ông, con trai của John Gaunt-công tước của Lancaster ra nước ngoài
Ngày 03 tháng 2 năm1399 John của Gaunt, công tước của Lancaster qua đời, Richard II
truất quyền thừa kế của Bolingbroke và tịch thu tài sản của ông ta ở vùng Lancaster
Ngày 01 tháng 6 Richard II mở chiến dịch Ireland
Ngày 04 tháng 7 Henry của Bolingbroke, con trai của John của Gaunt, công tước của Lancaster đổ bộ lên nước Anh để đòi lại tài sản của cha mình
Ngày 19 tháng 8 Richard II bị bắt làm tù binh
Ngày 29-Ngày 30 tháng 9 Richard II thoái vị; Henry của Bolingbroke lên ngôi vua Anh như là Henry IV
Tháng Mười Một John IV, công tước xứ Brittany qua đời
năm 1400 Henry IV gửi vợ của Richard II- nữ hoàng, Isabella của Valois, con gái của Charles VI trở lại Pháp
Tháng Hai Richard II bị ám sát
14 Tháng Chín năm 1402 Trận Hill Homildon trong chiến tranh Anh-Scotland.
22 tháng 2 năm 1403 Charles-con trai của vua Charles VI và cũng là Charles VII tương lai của Pháp ra đời
Ngày 27 Tháng Tư năm 1404 Philip the Bold, công tước của Burgundy; John the Fearless làm công tước của xứ Burgundy
21 tháng 3 năm 1405 Marguerite de Flanders, nữ công tước xứ Burgundy qua đời, vùng Hà lan ngày nay được thừa kế bởi con trai của bà – John the Fearless, công tước xứ Burgundy
5 tháng 10 Christine de Pizan viết thư cho Nữ hoàng Isabeau hối thúc bà can thiệp vào cuộc đấu tranh chính trị giữa các công tước xứ Burgundy và Orle’ans
1406 Ngày 22 tháng 3 James, người thừa kế ngai vàng của Scotland, bị bắt trên biển bởi người Anh
04 Tháng 4 Robert III của Scotland qua đời; James I người thừa kế ngai vàng đang nằm trong nhà tù ở Anh, cần một chính phủ nhiếp chính
Ngày 23 tháng 4 năm 1407 Nguyên soái kỳ cựu người Pháp Olivier de Clisson qua đời
Ngày 15 tháng 8 Đội trưởng routier Sir Knolles Robert người Anh qua đời
Ngày 23 tháng 11 Louis, công tước của Orle’ans, anh trai của Charles VI bị ám sát tại Paris
25 tháng 11 John the Fearless, công tước xứ Burgundy, thú nhận rằng ông đã ra lệnh giết người của Orle’ans qua”sự can thiệp của ma quỷ”
Ngày 26 Tháng 11 Bị truy nã bởi Hội đồng hoàng gia, John the Fearless, công tước của Burgundy, bỏ trốn khỏi Paris
Tháng Hai năm 1408 John the Fearless, công tước xứ Burgundy, trở về Paris
Ngày 08 tháng 3 John the Fearless, công tước xứ Burgundy, trình bày bằng văn bản Giải thích về cái chết của Louis, công tước của Orle’ans, trước Charles VI và hội đồng hoàng gia; Giải thích rõ lý do của vụ giết người bằng tố cáo những hành vi bạo quyền của Orle’ans
Tháng Chín Charles, công tước của Orle’ans đưa ra tuyên ngôn của mình để trả lời các cáo buộc nhắm vào người cha của mình được đưa ra bởi John the Fearless-công tước xứ Burgundy
Ngày 09 tháng ba năm 1409 Charles VI chủ trì một buổi lễ chính thức hòa giải ở Chartres, tất cả các hoàng tử của Pháp lấy máu để thề về tình bạn và hứa sẽ gìn giữ hòa bình
Ngày 13 tháng 9 Cái chết của Isabella, cựu nữ hoàng của Richard II
Năm 1410 Tháng Tư Liên minh chống Burgundian của Gien được tạo ra bởi hoàng tử Armagnac
Tháng 11 Hiệp ước Hòa bình Bicetre tạm thời kết thúc nội chiến ở Pháp
Tháng Bảy năm 1411 Charles, công tước của Orle’ans, yêu cầu nhà vua trừng phạt John the Fearless, công tước của Bourgogne, vì cái chết của cha mình
Tháng mười Quân Anh ở vùng Calais tiến quân để hỗ trợ John the Fearless-công tước
xứ Burgundy, để chống lại nhà Armagnacs; người Burgundy đánh tan người Armagnac Paris bị vây hãm
Ngày 30 tháng 11 Henry IV giải tán Hoàng tử Henry và những người ủng hộ ông khỏi chính phủ
Ngày 06 tháng 1 năm 1412 Jan D’Arc được sinh ra trong vùng Domremy
Tháng Năm 18 Hiệp ước Anh-Armagnac được ký kết ở Bourges
Ngày 11 tháng 7 Thomas-công tước của Clarence, đổ bộ xuống đất Pháp với một đội quân Anh, qua đó thực hiện các điều khoản của Hiệp ước Bourges
Tháng Tám Hiệp ước Auxerre được ký kết, tạm thời kết thúc nội chiến Pháp
Ngày 14 tháng 11 Hiệp ước Buzanc giữa Anglo-Armagnac được ký kết, Thomas, công tước của Clarence được trả tiền để rút khỏi Gascony
Tháng một năm 1413 John the Fearless, công tước xứ Burgundy, triệu tập Estates- General ở Paris để bỏ phiếu cho luật thuế mới
20 Tháng Ba Henry IV chết; con trai của ông kế vị với danh hiệu Henry V của Anh quốc
Ngày 27-ngày 28 tháng 4 cuộc nổi dậy Cabochien xảy ra tại Paris
Ngày 26-27 Tháng Năm Charles VI ban hành Cabochienne Ordonnance, các
biện pháp cải cách lớn yêu cầu của những người Cabochien
Tháng bảy Louis, công tước của Guienne, dauphin của Pháp, tiến hành thương lượng hòa bình ở Pontoise trong một nỗ lực nhằm giải quyết cuộc nội chiến ở Pháp
ngày 04 tháng 8 Louis, công tước của Guienne, dauphin của Pháp, lại vào Paris trong
chiến thắng.
23 tháng 8 John the Fearless, công tước xứ Burgundy bỏ trốn Paris sau khi bắt cóc nhà vua không thành công,
Ngày 01 tháng 9 những người củae Armagnac tiến vào Paris
05 tháng 9 Ordonnance Cabochienne bị bãi bỏ
Tháng một năm 1414 John V, công tước xứ Brittany, ký kết một thỏa thuận ngừng bắn mười năm với người Anh
Tháng Hai năm 1415 cuộc đàm phán Anh-Armagnac sụp đổ, làm cho việc bắt đầu lại chiến tranh Trăm năm là điều không thể tránh khỏi; Hòa bình Arras được ký kết giữa
các bên tham gia cuộc nội chiến Pháp
Tháng tám âm mưug nổi loạn của Bá tước Southampton bị Henry V phát hiện
Ngày 11 tháng 8 Henry V căn buồm đến nước Pháp
18 Tháng Tám – 22 tháng 9 Henry V bao vây và chiếm cảng Harfleur
25 tháng 10 trận chiến Agincourt-một trong những trận đánh lớn của chiến tranh Trăm năm, Henry V giành chiến thắng bất ngờ trước những lực lượng vượt trội Pháp
Tháng Mười Hai cái chết của Louis, công tước của Guienne, dauphin của Pháp
1416 Tháng Trận Valmont-Thomas Beaufort, bá tước của Dorset, chiến thắng trong hàng loạt các cuộc giao chiến với lực lượng Pháp trong khi thi hành sứ mệnh tìm kiếm lương lực để tiếp tế cho lực lượng Anh đồn trú ở Harfleur đang bị bao vây.
Tháng Sáu Cái chết của John, công tước của Berry, bác của Charles VI
Ngày 15 tháng 8 Trận sông Seine, chiến thắng hải quân của John-công tước của Bedford, phá vỡ cuộc bao vây của Pháp vào Harfleur; Hiệp ước Canterbury được ký kết giữa Henry V và Hoàng đế Sigismund
1417 ngày 05 tháng 4 Cái chết của John, công tước của Touraine, nhà dauphin của Pháp;
tháng sau, nhà dauphin mới-Charles đã đuổi Hoàng hậu Isabeau khỏi Paris
Ngày 01 tháng 8 chiến dịch (1417-1419), Henry V bắt đầu chiến dịch chinh phục Normandy của mình
Tháng Chín Caen ở Normandy rơi vào tay người Anh
Ngày 8 tháng 11 Nữ hoàng Isabeau thoát khỏi nơi giam giữ tại Tours và gia nhập với John the Fearless, công tước xứ Burgundy, để chống lại phe Armagnac.
Ngày 29 tháng 5 năm 1418 cuộc bạo loạn của những người ủng hộe Burgundy nổ ra ở Paris; Charles Dauphin phải bỏ trốn khỏi Paris
Ngày 29 tháng 6 Dauphin giành chức vụ trung tướng của nước Pháp về phía mình
Ngày 12 tháng 7 Bernard-Công tước Armagnac-người lãnh đạo Armagnac bị giết bởi một đám đông thân Burgundy tại Paris
14 tháng 7 John the Fearless, công tước xứ Burgundy quay trở lại Paris
Ngày 29 tháng 7 cuộc bao vây Rouen-Henry V tiến hành bao vây Rouen-thủ đô của Norman
Tháng Chín John the Fearless, công tước xứ Burgundy, áp đặt Hiệp ước Saint-Maur vào Charles Dauphin.
19 tháng 1 năm 1419 Rouen đầu hàng người Anh; Henry V chính thức bước vào  thị trấn ngày hôm sau, qua đó hoàn thành Chiến dịch Normandy của ông
Tháng bảy Henry V chiếm Pontoise, đưa Paris trong tầm đột kích của người Anh; Charles Dauphin và John the Fearless, công tước của Burgundy, gặp nhau ở Corbeil để thảo luận về việc kết thúc nội chiến Pháp
Ngày 10 tháng 9 Công tước John the Fearless bị giết bởi các sát thủ của Thái tử Charles, trong khi tham gia cuộc họp với Charles để thảo luận về hòa bình tại cầu Montereau; Philip the Good kế thừa cha mình làm công tước của Burgundy
Ngày 19 tháng 12 Philip the Good-công tước xứ Burgundy, phản ứng trước việc cha mình bị giết bởi người của phe Armagnacs đã chính thức liên minh với người Anh
Tháng Một năm 1420 Henry V gửi đại diện đến Troyes để bắt đầu đàm phán hòa bình
với triều đình Pháp
Ngày 03 tháng 3 Trận Fresnay, quân đội Anh đánh bại một đội quân Pháp-Scotland đang cố gắng bao vây Fresnay -le-Vicomte
Ngày 21 tháng 5 Hiệp ước Troyes, chon Henry V làm người thừa kế Charles VI, đã được ký kết
Ngày 2 tháng 6 Henry V kết hôn với Catherine of Valois, con gái của Charles VI
9 tháng bảy-18 Tháng Mười Một cuộc bao vây Melun, Henry V đã chiếm được thị trấn Melun của Pháp
Ngày 01 tháng 12 Henry V vào Paris
Tháng Một năm 1421 Nghị viện của Paris tuyên bố Thái tử Charles không có khả năng
để kế thừa ngôi vua Pháp và bị trục xuất khỏi vương quốc; Thomas Beaufort, công tước của Exeter, trở thành thống đốc quân sự của Anh ở Paris
Tháng Hai Henry V trở về nước Anh với cô dâu mới của mình, Catherine của
Valois
Ngày 22 tháng 3 Trận Bauge-Thomas, công tước của Clarence, em trai và là người thừa kế của Henry V bị giết bởi một đội quân Pháp-Scotland
6 Tháng Mười – 2 Tháng 5 năm 1422 Cuộc vây hãm Meaux, Henry V bao vây thị trấn Meaux; cuộc vây hãm kéo dài qua mùa đông làm suy yếu tinh thần người Anh và sức khỏe của nhà vua của họ.
06 tháng 12 Hoàng tử Henry con trai của vua Henry V và là Henry VI tương lai của Anh chào đời
Ngày 31 tháng 8 năm 1422 Henry V chết; Henry VI kế thừa ngôi vua Anh
Ngày 21 Tháng 10 Charles VI chết để lại tranh chấp thừa kế ngôi vua Pháp cho con trai ông-Charles (sau này lên ngôi là Charles VII) và Henry VI của Anh
Ngày 13 tháng 4 năm1423 ký kết Hiệp ước ba bên Amiens giữa John-công tước của Bedford, Philip the Good-công tước của Bourgogne và John V, công tước xứ Brittany
Ngày 18 tháng 4 Burgundy và Brittany ký một thỏa thuận bí mật duy trì tình đồng minh ngay cả khi một bên hòa giải với nhà dauphin, do đó có hiệu lực phủ nhận Hiệp ước Amiens
Ngày 13 tháng 5 John-công tước của Bedford, kết hôn với Anne, người em gái của Philip the Good-công tước của Burgundy
Ngày 31 tháng 7 Người Anh chiến thắng trận Cravant ở miền đông nước Pháp
1424 Tháng Archibald Douglas, bá tước của Douglas, đổ bộ xuống La Rochelle với một đội quân Scotland lớn được gửi đến để giúp nhà dauphin
Tháng tư chính phủ Anh phóng thích James I-vua của Scotland
Ngày 17 tháng 8 Người Anh chiến thắng trận Verneuil trước liên quân Pháp- Scotland; đây thường được gọi là” trận Agincourt thứ hai”
Tháng 3 năm 1425 Nhà Dauphin bổ nhiệm Arthur de Richemont, anh trai của Công tước John V của Brittany làm Nguyên soái của Pháp
Tháng 12 Ký kết Hiệp ước Pháp-Breton tại Saumur
15 tháng bảy-5tháng 9 năm 1427 cuộc bao vây Montargis John-Bastard của Orle’ans,
phá vỡ cuộc bao vây của người Anh nhắm vào Montargis
Tháng Chín Duke John V của Brittany chối bỏ Hiệp ước Saumur với Pháp và tái khẳng định ủng hộ Hiệp ước Troyes
Ngày 12 tháng 10 năm 1428 Quân đội Anh bao vây thành phố Orle’ans trên sông Loire
Ngày 24 tháng 10 Thomas Montagu, bá tước của Salisbury, nằm trong số người chết và bị thương bởi đạn pháo trong khi tiến hành giám sát cuộc vây hãm Orle’ans
03 Tháng 11 Cái chết của Thomas Montagu, bá tước của Salisbury, chỉ huy của người Anh tại Orle’ans

Trận chiến Agincourt năm 1415

Vào tối ngày 24 tháng Mười năm 1415, vị Vua 28 tuổi Henry V của Anh phải đối mặt với thử thách lớn nhất cuộc đời của ông ta. Quân đội nhỏ bé và kiệt sức của ông và bị mắc kẹt và bị bao vây bởi một đội quân Pháp đầy tự tin, hoàn toàn sung sức và đông gấp ít nhất ba lần. Henry đã cố gắng để tránh chiến đấu nhưng ông biết rằng ngày hôm sau trận chiến là không thể tránh khỏi. Phải chiến đấu trong một trận chiến không mong đợi nhưng sau đó ông đã giành được một chiến thắng quyết định cho người Anh, trận chiến diễn ra trên một cánh đồng gần ngôi làng mà nó có cái tên sau này sẽ rất nổi tiếng là-Agincourt.

Tại Agincourt, Henry V chiến đấu để đòi lại những gì mà ông tin là nó thuộc về quyền thừa kế của ông: Lãnh địa Công quốc Normandy. Nó đã ở trong tay người Anh hơn 200 năm trước khi vua Pháp chiếm lấy nó từ vua John, chư hầu của ông ta. Sự đối đầu căng thẳng giữa vương quốc Anh và Pháp bắt đầu từ năm 1066, khi mà Quận công William xứ Normandy chinh phục nước Anh. Nhưng tước vị Quận công xứ Normandy lại luôn là chư hầu của nước Pháp, nên mặc dù đã trở thành vua nước Anh nhưng Quận công William đã không thể thay đổi được mối quan hệ này. Vào giữa thế kỷ 12 những nhà vua Anh dòng Norman đã bị thay thế bởi một triều đại khác, triều đình Anjou-những người sở hữu những vùng đất rộng lớn ở phía Tây và Tây nam nước Pháp.

Thực sự thì nhà vua mới, Henry II đã cai quản một “ đế quốc “ còn hùng mạnh hơn cả chúa tể của ông ta ( Vua Pháp) nhưng John-người con trai trẻ tuổi và yếu đuối của ông ta không thể chống đỡ được những đòn tấn công kiên quyết trên cả mặt pháp lý lẫn quân sự của Philip II- vua Pháp. Trong năm 1204 vùng Normandy đã rơi trở lại vào tay người Pháp, người Anh chỉ còn giữ được một vài vùng đất ởi phía nam sông Loire. Nhà vua vị thành niên Henry III ( 1215 -70) đã khởi đầu một thời kỳ bất ổn về chính trị ở nước Anh.

Điều này đã dẫn đến Hiệp ước Hòa bình Paris bất lợi năm 1259 mà qua đó Henry III từ bỏ chủ quyền của mình tới vùng Normandy, Anjou và những vùng lãnh thổ khác và đồng ý tỏ sự quy phục tới nhà vua Pháp cho những sở hữu của ông ta ở Aquitany và Gascony. Edward I-con trai ông ta ( 1270 -1307 ) là một nhà cai trị có nhiều quyền lực hơn và ông muốn thay đổi lại cán cân theo chiều hướng có lợi cho nước Anh.

Nhưng ông ta lại quá bận tâm với việc mở rộng sức mạnh của mình ở vùng đảo British ( ý nói cuộc chiến với người Scotland) và ngoài những cuộc chiến của những năn 1294 và 1298, ông ta đã không tiến hành được cố gắng nào để biến yêu cầu về lãnh thổ của ông ta với nước Pháp thành hiện thực.Sau thời đại của ông là một khoảng thời gian lộn xộn mà các vấn đề quốc nội chiếm ưu thế trong nền chính trị của nước Anh. Sự trỗi dậy của đất nước Scotland dưới sự lãnh đạo của Robert the Bruce đã giáng một loạt thất bại thậm chí còn dẫn đến việc truất ngôi và hạ sát vua Edward II trong năm 1327.

Ở khoảng thời gian đó nước Anh có một vài xung đột ngắn ngủi với nước Pháp 1324-5-cuộc chiến Saint Sardos, nhưng nó đã không giải quyết được vấn đề. Edward III mới chỉ 15 tuổi khi ông ta thừa kế ngai vàng. Trong năm sau đó Charles IV chết mà không có người thừa kế. Edward yêu cầu quyền thừa kế ngôi vị thông qua bà mẹ của ông ta-chị gái của Charles, nhưng người Pháp đã không công nhận quyền thừa kế của ông. Họ dựa vào luật Salic, một tập tục cổ xưa rằng ngôi vua không thể được thừa kế từ phía con gái. Cháu của nhà vua Pháp-Philip của Valois đã được chọn lựa và được trao sự ủng hộ cả về mặt chính trị và quân sự vào thời điểm đó-Edward chẳng có thể làm gì để đảo ngược tình hình.Với việc tất cả các triều đại của Pháp đều yêu cầu sự quy phục của những vùng Lãnh thổ của Anh trên đất Pháp. Điều này đã dẫn tới những vấn đề kể từ khi bắt đầu thế kỷ 14 cũng như các cuộc tranh cãi ầm ĩ về mặt pháp lý, và việc quy phục đã được mang ra thương lượng liên tục trong những đợt thừa kế ngắn ngủi ở các năm: 1314, 1316, 1322 và 1328.

Những chứng cứ về sự miễn cưỡng của Edward khi phải thể hiện sự quy phục đã bị làm cho trầm trọng thêm bởi cuộc xung đột Saint Sardos, điều này có nghĩa là ông ta chỉ được đến vùng đất thừa kế của mình ở Lục địa sau khi đã trả 60.000 đồng Bảng tiền bảo hộ phong kiến và phải giao nộp vùng đất Agenais của ông. Nhưng thực sự thì Edward III-con trai ông ta đã làm nghi thức quy phục trước Charles IV của Pháp. Nhà vua Edward III còn thực hiện nghi thức quy phục 2 lần nữa vào năm 1329 và 1331. Những buổi lễ này có giá trị về mặt pháp lý hơn cả cần thiết. Chúng giúp để thiết lập những lý do đúng đắn mà một nhà cai trị có thể dùng để gây chiến ( chính nghĩa ) – và rõ ràng là Philip VI có ý định sử dụng những lý do này để chiếm những đất đai thừa kế của người Anh ở phía nam nước Pháp. Ông ta mưu đồ cho một kế hoạch xâm lược vào vùng Gascony trong năm 1329.

Lý do thực sự của cuộc chiến này là Edward III từ chối giao nộp kẻ phản bội-Bá tước Robert của Artois, nên trong năm 1337 Philip tuyên bố chiếm Gascony để bồi thường, câu trả lời của Edward là tuyên bố đòi ngai vàng của nước Pháp cho chính ông ta.Bài này không đi vào từng chi tiết lịch sử của cuộc xung đột sau đó mà bây giờ được gọi là chiến tranh Trăm năm, vốn kéo dài cho đến thời điểm năm 1415.

Có một số vấn đề cần phải được xem xét, tuy nhiên. Sở hữu về Lãnh thổ của người Anh và người Pháp đã dao động trong liên tục trong vòng tám mươi năm. Các chiến dịch trên bộ của Edward ở những năm 1339 và 1340 đã không thể mang đến một kết cục nào, mặc dù ông ta đã giành được một chiến thắng trên biển ở ngoài khơi Sluys. Chiến thuật của người Anh là chevauchee, nghĩa là đột kích xuyên qua lãnh thổ của Pháp để gây thiệt hại, giành chiến thắng, cướp bóc và làm suy yếu quyền lực của Philip.

Khi lực lượng của Edward bị kẹt tại Crécy trong năm1346 và con trai ông-Hoàng tử đen bị mắc kẹt tại Poitiers gần mười sau đó, cả hai đã cho thấy những tín hiệu của sự thất bại của người Pháp. Năm 1356, vua John và nhiều quý tộc Pháp đã thực sự bị bắt tù binh và trao cho người Anh lợi thế trên cơ về việc đòi những khoản tiền chuộc tiếp theo và thương lượng về lãnh thổ, kết quả là hiệp ước Bretigny trong 1360, trong đó đảm bảo cho tài sản của Edward ở miền tây nước Pháp, và một số nữa ở phía bắc (không bao gồm xứ Normandy).Nhưng trong cùng năm đó một hạm đội Pháp đổ bộ lên bờ biển Anh, cướp phá và đốt cháy vùng Winchelsea. Kiểu đột kích phá hoại bằng hải quân này tiếp tục liên tục diễn ra trong khoảng thời gian của phần còn lại của thế kỷ 14.

Hơn thế nữa, chiến thuật chevauchee của Anh bắt đầu thất bại. Nhà Dauphin, người trở thành Charles V trong năm 1364 được cố vấn bởi vị nguyên soái của ông ta Bertrand du Guesclin từ chối những trận đánh dàn trận mà chú trọng chính sách tiêu thổ. Quân đột kích Anh bị phản phục kích trên khắp các vùng đất Pháp đã bị tàn phá bởi chính quân Pháp khiến cho họ không thể dừng lại và chiến đấu. Trong năm 1370, Sir Richard Knolles và ba năm sau đó là John of Gaunt đã tiến hành những cuộc chinh phục mà chính họ phải nhận lấy những thất bại bẽ bàng. Trong năm 1375 Hiệp ước Bruges đã được ký kết và trong vòng 2 năm sau cả hai vị Edward ( Edward III và Edward Hoàng tử đen ) đều lăn đùng ra chết và chỉ để lại một chú bé vị thành niên thừa kế ngai vàng.

Triều đại của Richard II là một triều đại rất rắc rối, nhưng ông ta đã thể hiện một mong muốn có một nền hòa bình, và nền hòa bình đã được đạt tới vào thập kỷ cuối của thế kỷ 14. Vụ lật đổ và sát hại Richard của Henry của Lancaster năm 1399 đã làm tình huống thay đổi một lần nữa. Những cuộc đột kích của hải quân Pháp vào nước Anh để trả đuac những chiến dịch cướp phá của người Anh trong những năm 1405, 1410 và 1412. Những chiến dịch này chẳng lớn mà cũng chẳng quá thành công. Vào năm 1415 dường như thế hệ lúc đó của người Anh được nhìn nhận như là một thế hệ thất bại.

Ba yếu tố khiến cho cuộc xâm lược của Henry là một cái gì đó lớn hơn một cuộc chơi liều lĩnh. Một yếu tố là sự chiếm ưu thế của vũ khí Anh trên chiến trường. Lực lượng cung thủ Anh-nếu được triển khai đúng cách sẽ tạo lên một lực lượng chiến đấu cực kỳ ghê gớm tại Châu Âu. Thứ hai là với Henry, họ có một vị chỉ huy đầy nhiệt tình và cực kỳ kiên quyết. Thứ ba và cũng là yếu tố quan trọng nhất, Người Pháp đang bị phân rẽ bởi những tranh chấp chính trị cá nhân mà chúng đã trở thành nội chiến, Charles VI đã không còn tỉnh táo, và ông ta không thể nắm quyền lực thì hai nhóm quý tộc vốn được biết như là phe đ.ảng Burgundy và Armagnac đã nắm lấy uy quyền tối cao. Sự bất hòa này đã tạo nên một bất hạnh không thể tránh khỏi nước Pháp trong chiến dịch năm 1415.

Chỉ huy của các bên đối địch

Henry V, vua của nước Anh

Sự nghiệp quân sự của nhà vua trẻ Henry V đã được bắt đầu từ năm 1399, khi mà mới chỉ 12 tuổi ông ta đã được phong làm hiệp sỹ. Thực tế thì ông ta đã được phong hiệp sỹ hai lần. Trong dịp đầu tiên là bởi Richard II, người mang ông ta theo trong chiến dịch Ailen, như là một con tin để người cha bị lưu đầy của ông có những hành vi tốt đẹp. Và sau đó thì ông ta lại được tấn phong hiệp sỹ bởi cha ông ta-Henry Bolingbroke vào trước ngày mà ông ta lên ngôi như là Henry IV, sau khi truất ngôi Richard II trong một vụ đảo chính. Ở tuổi 12 ( được phong hiệp sỹ ) là không bình thường mặc dù vẫn có những trường hợp cá biệt được phong hiệp sỹ ở tuổi còn sớm hơn. Việc được phong hiệp sỹ một cách bất bình thường và cũng làm cho Henry có một khoảng thời gian học việc vô giá trị cho cuộc đời binh nghiệp của ông, mặc dù trong một số trường hợp việc tiếm quyền đã làm cho việc tấn phong Hiệp sỹ lần 2 trở nên cần thiết. Tuy nhiên, bằng việc truất ngôi, bỏ tù và sau đó bí mật ám sát Richard, Henry IV ( cha) đã đi ngược với điều luật Chúa và Con người. Nó có thể làm cho những cuộc nổi loạn chống lại ông trở nên được hợp pháp hóa, và ông ta phải dùng đến quá nửa thời gian của triều đại của mình để giải quyết hậu quả của vụ tiếm quyền của ông ta.

hiến dịch đầu tiên mà Henry V I ( con) tham gia chiến đấu là chiến dịch Scotland năm 1400. Vào lúc này với tước hiệu Hoàng tử xứ Wales, ông ta đã phải đối mặt với một cuộc nổi dậy toàn diện và dữ dội của Owain Glendwr ( người cũng đòi hỏi tước hiệu này). Lúc đầu thì vị Hoàng tử trẻ cũng chỉ là một viên chỉ huy bình thường, và làm việc với những vị “ Marcher” Lords-Chúa tể vùng biên ải-đầy quyền lực, những người trên thực tế nắm quyền điều hành ở những vùng này. Người xứ Wales thường dùng chiến thuật du kích, đột kích bất ngờ và rút lui nhanh về những hang ổ của họ ở những vùng núi cao. Nên chiến dịch năm 1402 là chiến dịch mà quân đội Anh phải sẵn sàng chiến đấu từng đêm với mưa ướt thấm qua da và đói cồn khi phải truy kích những kẻ thù vô hình, đã giáo huấn cho Henry sự thật về chiến tranh. Ông ta cũng nhận được những bài học quân sự từ hai thành viên cuả gia đình Percy. Harry Husper là người thầy giáo đầu tiên của ông và năm 1043 Thomas-Bá tước của Worcester lại tiếp tục nắm vai trò này. Trớ trêu thay vào cuối năm đó Henry đã phải đối mặt với cả hai người thầy của ông trên chiến trường.

Nhà Percy với Bá tước Northumberland cầm đầu, đã giúp Henry IV chiếm lấy ngôi vua. Lúc này gia đình này lại muốn chiếm đầy đủ quyền hành. Nên họ đã tạo một liêm minh với Glendwr, và quân đội nhà Percy đã hành quân và gia nhập với họ vào mùa hè năm 1403. Bằng một cuộc hành quân mau lẹ, vua Henry ( cha ) đã chặn đứng được việc họ rút quân vào rừng. Taih Shrewsbury, trong 21 tháng 7 Henry ( con ) đã chỉ huy cánh quân phía trái, quân phản loạn đã bị đánh bại nặng nề. Hospur đã bị giết chết và quân của ông ta bỏ chạy toán loạn. Nhưng đây không phải là một chiến thắng dễ dàng. Quân đội Hoàng gia đã phải di chuyển ngược lên cao trong làn mưa tên của một số trong những cung thủ giỏi nhất của nước Anh, đặc biệt đáng chú ý là những người đến từ Cheshire. Bản thân Henry con cũng bị thương khi phải đối mặt với những trận mưa tên, nhưng ông ta phải nghiến răng chịu đau cho đến khi hoàn tất chiến thắng. Henry đã chứng minh lòng can đảm và biết rất rõ sức manh đáng sợ nhất của loại vũ khí chiến thuật trong thời gian của ông, loại mà người Pháp sẽ tìm cách bắt chước độ hơn 10 năm sau đó ( Vào thời vua Charles VII của Pháp, ông này cũng cho tuyển những đội cung thủ trường cung-đặc biệt là những cung thủ đến từ Scolland để làm giảm tính độc quyền của loại vũ khí tối thượng của người Anh) .

Henry không phải là người chưa có kinh nghiệm chiến đấu – ông đã có một trận chiến trước đó. Trong thực tế thì ông đã tham gia hai trận chiến trong sự nghiệp quân sự của mình khi mới 20 tuổi; Agincourt thì khác, khả năng nổ ra trận chiến khá là hiếm hoi vào lúc này. Chiến tranh vào thời đó chủ yếu là những cuộc vây hãm các lâu đài và thị trấn. trong một khoảng thời gia rất dài. Tương tự như vậy, cuộc tái chiếm xứ Wales kéo dài thêm năm năm. Năm 1405 một cuộc nổi dậy lớn có liên quan đến Glendwr, nhà Percy và Mortimers bị nghiền nát tại Bramham. Moor-Bá tước Northumberland bị giết. Có cả một lực lượng viễn chinh Pháp đổ bộ xuống Miltford Haven để liên kết với cuộc tấn công của người xứ Wales ở phía Nam, nhưng họ đã phải khởi hành đi về nhà mà không đạt được cái gì. Vì vậy, khi cha ông qua đời vào năm 1413, Henry đã là một chiến binh giàu kinh nghiệm sau khi có những đào tạo về quân sự vào loại khắc nghiệt và thiết thực nhất. Ông đã phải chịu đựng những cuộc hành quân kéo dài trong điều kiện thời tiết kinh khủng. Ông cũng đã phải chịu đựng sự chán ngắt và khó chịu của chiến tranh bao vây. Cũng như nhìn thấy nhiều cuộc giao tranh, ông đã chính thứ chỉ huy rất nhiều chiến binh trong những trận chiến mở ( ông này có một cuộc sống quá khắc khổ thế là lăn đùng ra chết sớm ). Trên tất cả, ông đã được giảng dạy sự cần thiết phải chú ý đến từng chi tiết trong chiến tranh. Sự chuẩn bị của ông cho chiến dịch Agincourt là rất lớn lao và tỉ mỉ, để đảm bảo đủ số người, số vũ khí và đạn dược cần thiết.

Để có thể làm được điều này ông cần những người giúp việc có đủ năng lực và trung thực. Đức Giám mục Henry Beaufort-chú của ông, và cũng là người đã cung cấp hoặc sắp xếp các khoản vay lớn rất cần thiết để tài trợ cho cuộc viễn chinh, và cũng là người giám sát việc tuyển dụng của quân đội. Bá tước Arundel-kế toán của ông, nắm việc tổ chức thanh toán cho các thủy thủ và cung cấp các vật tư cho chuyến đi. Bá tước Dorset, đô đốc của ông nắm việc tập hợp các hạm đội xâm lược. Richard Courtenay, Đức Giám mục của Norwich, tham gia vào ngoại giao và các hoạt động thu thập tình báo (chúng tôi biết được điều này bởi vì sau đó gián điệp của ông ở Paris đã bị bắt và xử tử vì tội phản quốc). Nicholas Merbury-Master of the Ordnance ( không rõ chức danh mô ), cung cấp đạn dược và các thiết bị chiến tranh.Trong chiến dịch, Henry bao quanh ông những thuộc cấp nhiều kinh nghiệm và đáng tin cậy.

Ông mang theo Edward-Bá tước của March-người đã tham gia vào việc lập kế hoạch vốn chỉ được tiết lộ ngay trước khi khởi hành đi Pháp. Phải thừa nhận rằng chính bản thân Edward là một con người nguy hiểm, mặc dù ông ta đã tỏ ra quy thuận nhà vua ( thực tế thì quyền đòi hỏi ngai vàng của ông ta còn cao hơn của Henry ) và nó là một dấu hiệu của sự tự tin của nhà vua rằng ông đã tha thứ và tiếp tục sử dụng vị Bá tước này.

Phần còn lại là Công tước xứ Gloucester và Thomas, Công tước của Clarence-anh em trai của nhà vua, các Bá tước xứ Suffolk, Cambridge và Oxford, Công tước xứ York-chú của nhà vua và rất nhiều cấp dưới chẳng hạn như “ Con ngựa chiến già” Sir Thomas Erpingliani, Sir John Holland và Sir John Cornwall. Một khía cạnh quan trọng trong sự thành công của Henry với cương vị một nhà lãnh đạo là khả năng ông giành được sự tôn trọng từ mọi người, bất kể tuổi tác hay kinh nghiệm của họ – và ngay từ cả kẻ thù của ông ta.Tóm lại, Henry hoàn toàn mang tính chất một chiến binh thời Trung cổ và một vị quân vương điển hình. Ý không phải để nói rằng ông là người hoàn hảo trong mọi việc. Nó chỉ là ông ta đã tự nhận trách nhiệm về mình một cách nghiêm túc về quyền thừa kế ở Pháp, đặc biệt là trong vùng Normandy và ông cảm thấy có trách nhiệm phải thi hành chúng.

Tương tự, về vấn đề vương miện của nước Pháp, ông có trách nhiệm trước gia đình, trước ông nội-Edward III, để đạt được điều này nếu là có thể. Là một con người khôn ngoan tránh xa các tài sản của Nhà thờ và sẵn sàng làm các bổn phận của mình. Ông cũng kiểm soát một cách nghiêm túc hành vi của các binh sĩ của ông trong chiến dịch. Sự kỷ luật mà ông yêu cầu đã mang lại cho ông đầy đủ lợi thế tại Agincourt.

Ngoài ra ông còn cả lòng dũng cảm về thể chất và đạo đức về tinh thần và sự tự tin của ông không bao giờ bị rung động thậm chí trong những hoàn cảnh khó khăn nhất ở trận Agincourt. Trên tất cả, ông ta biết rằng mình là một chiến binh, ông đánh giá cao tầm quan trọng của biển cả và sự cần thiết phải có một hạm đội mạnh (mặc dù Hạm đội này đã không được thành lập cho đến sau trận Agincourt). Ông sẵn sàng chấp nhận tiến hành những chiến dịch không giới hạn sau đó theo đuổi những gì được gọi là “ chiến tranh vây hãm “ ( từ 1417-1422), và cuộc chiến này đã thiết lập vững chắc sự cai trị của ông ở Normandy.

Rouen, thủ phủ của tỉnh này đã bị chiếm sau một cuộc bao vây bảy tháng (tháng 7 năm 1418 đến tháng 1 năm 1419). Cuộc bao vây thành phố Meaux kéo dài và chủ yếu lại diễn ra vào những tháng mùa đông. Sau khi chiếm được thành phố này ông đã chết, có thể là vì kiệt sức vì bệnh lỵ-vốn là loại bệnh phổ biến nhất và đáng sợ nhất đối với những người lính. Ông đã chết hai tháng trước khi Charles VI của Pháp qua đời, điều này có nghĩa là ông không bao giờ được cầm lấy chiếc vương miện của nước Pháp, thứ mà ông ra sức để tìm kiếm. Ông là một nạn nhân của chính sự thành công của mình.

Có một khía cạnh trong tính cách của ông. Một số nhà bình luận người Pháp đã lưu ý rằng ông là một con người khắc nghiệt và kiêu ngạo ngoài tính ngay thẳng và quyết đoán. Những suy nghĩ đơn giản của ông đã làm cho ông trở thành tàn nhẫn hơn. Và sự tàn nhẫn của ông đã làm cho ông ta ngày càng trở nên tàn bạo. Đó là việc ông ta đã cho treo cổ các tù binh sau một cuộc bao vây. Ông đã giám sát một cuộc thảm sát ở thành phố Caen trong năm 1417.

Trong suốt cuộc bao vây dài nhằm vào Rouen ông từ chối cung cấp thực phẩm cho phụ nữ và trẻ em bị trục xuất khỏi thành phố và bị mắc kẹt giữa phòng tuyến của quân vây thành và các bức tường của thành phố. Về mặt kỹ thuật ông hoàn toàn có quyền để làm theo “ luật thời chiến “ vào thời điểm đó, nhưng thực sự thì không cần phải nhẫn tâm với họ như vậy. Những vụ việc này cùng với việc thảm sát của tù binh tại Agincourt. Ông vẫn biện minh được cho những gì ông đã làm, nhưng đó là những hành động khủng khiếp. Tham gia chiến trận từ khi còn nhỏ đã làm ông ta trở nên sắt đá. Ông là một chiến binh máu lạnh và nhẫn tâm và cũng là một vị vua hùng mạnh.

Chỉ huy của người Pháp 

Ngược lại với người Anh, những người đã được lãnh đạo bởi một chỉ huy hàng đầu như chúng ta đã thấy, người Pháp lại đang như gà mắc tóc, Charles VI-vua của họ đã là nạn nhân của căn bệnh tâm thần trong vòng hơn hai mươi năm. Mặc dù không ai nghi ngờ về sự can đảm của ông vào những khoảnh khắc ông tỉnh táo, ông hoàn toàn không thích hợp để làm một vị Tổng chỉ huy. Con trai của ông, Louis Dauphin, lại là một chàng trai mới mười chín tuổi, yếu đuối về thể chất và không có kinh nghiệm chiến trường. Đây là điểm trọng yếu đã dẫn đến một tình trạng gần như nội chiến giữa phe Burgundian và phe Armagnac, đây là cuộc chiến của các phe phái để tranh quyền lực tối cao. Trong tình huống này thì quyền chỉ huy không thể không bị chia rẽ.

Nhà vua (hoặc cố vấn của ông) đã không muốn gọi một trong hai người, John-Công tước xứ Burgundy hoặc Charles-Công tước xứ Orleans để lãnh đạo quân đội. Họ không thể làm việc với nhau: John đã ám sát người cha của Charles trong năm 1413 (và được cho là bị giết để trả thù trong năm 1419) trong khi người Burgundy lại lập lờ về việc chống lại người Anh hoặc liên minh với chính họ. John đã cho phép các chư hầu của mình phục vụ trong quân đội Pháp nhưng bản thân ông ta lại từ chối tham gia và cấm luôn cả con trai của mình.

Vị đại quý tộc tiếp theo là Charles-Công tước xứ Orleans, chỉ ở độ tuổi 24 và có ít kinh nghiệm quân sự, John-Công tước xứ Bourbon, một người mới 33 tuôỉ và cũng đã giành được một chiến thắng trước một đội quân càn quét chevauchce của người Anglo-Gascon tại Soubise năm 1413 và John-Công tước Alençon, người cũng mới chỉ ba mươi tuổi, đã chứng tỏ mình là như là một nhà lãnh đạo quân sự thất bại trong chiến dịch Bourges ba năm trước đó. Họ được yêu cầu phải hợp tác với các sỹ quan quân sự của lực lượng riêng của Hoàng gia đình: các vị Nguyên soái, Thống chế và Chỉ huy của lực lượng xạ thủ bắn nỏ.

Về lý thuyết, đây là một giải pháp tốt. Charles d’Albret đã giữ chức vụ phụ tá Nguyên soái kể từ năm 1402 và là một chiến binh giàu kinh nghiệm và thận trọng. John le Maingre-còn được gọi là Boucicault-một vị Thống chế có một danh tiếng ở trường quốc tế. Trong một cuộc thập tự chinh, ông đã chỉ huy bộ phận hàng đầu trong quân thập tự chinh người Burgundian trong thất bại thảm khốc tại Nicopolis năm 1396. Bị bắt tù binh và được chuộc về từ Sultan Bavezid, ông đã quay trở lại để bảo vệ thành phố Constantinople chống lại cuộc tấn công của Đế quốc Ottoman vào năm 1399. Ông thực sự là một anh hùng trong văn học, “lời nói và hành động ” của ông đã được ghi lại trong một cuốn sách để tưởng nhớ ông như một mô hình của tinh thần Hiệp sỹ. Ông là một huyền thoại trong cuộc đời của chính mình.

Nếu hai vị chiến binh giàu kinh nghiệm này được giao toàn quyền nhiệm vụ chỉ huy chiến dịch thì có thể kết quả của cuộc hành binh chevauchce của vua Henry V đã hoàn toàn khác. Họ (hai vị chỉ huy giàu kinh nghiệm này ) hết sức ủng hộ sự thận trọng: để tránh một trận chiến mở và sử dụng một chiến thuật tiêu thổ “ scorched-earth policy” bỏ đói lực lượng Anh và buộc họ phải đầu hàng. Họ cũng nghĩ đến một chiến thuật kế hoạch mà có thể người Anh sẽ bị đã đánh bại nếu trận chiến này thực sự nổ ta. Như chúng ta sẽ thấy, đây là chắc chắn là những chiến lược đúng đắn và có lẽ cũng là những chiến thuật tốt nhất nên được sử dụng. Nhưng vào ngày của trận chiến các chiến lược và chiến thuật đúng đắn của họ đã bị bác bỏ bởi những vị công tước trẻ kiêu ngạo, những vị Prince of the Blood này luôn coi rằng những vị chiến binh già này chả có tí quyền hành nào cả.

Quân đội của các bên đối địch

Lực lượng Kỵ binh

Các Quân đội của đầu thế kỷ mười lăm thườngdựa vào những kị sỹ: đó là những người mặc những bộ áo giáp hoàn chỉnh và được đào tạo để chiến đấucả trên bộ lẫn trên lưng ngựa. Họ có thể là một hiệp sĩ, nếu họ sở hữu một chỗ đứng cần thiết trong xã hội và đã được trải qua một buổi lễ tấn phong Hiệp sỹ chính thức, nhưng thường thì không được như vậy.Trong khi tất cả những người đàn ông quan trọng đều là hiệp sĩ, thì rất nhiều kị sỹ chỉ đơn giản là hộ sỹ-esquire (thứ hạng thấp hơn và về mặt kỹ thuật là một người đàn ông phù hợp cho chiến đấu theo kiểu hiệp sỹ-nhưng chưa có địa vị xã hội như một hiệp sỹ ) hoặc các thường binh không có mảy may hy vọng về địa vị xã hội. Một kị sỹ về cơ bản là một kỵ binh đã trải qua đào tạo công phu, mặc dù như chúng ta sẽ thấy, hầu hết các trận chiến của thời kỳ này lại là kị sỹ xuống ngựa chiến đấu. Ông ta ( vị hiệp sỹ )thường dẫn đầu một “ lance”, một nhóm các tùy tùng cũng là kị binh, vì vậy ông ta cần phải có đủ tài sản để duy trì chi phí cho những con ngựa.

Có loại kỵ binh được trang bị nhẹ hơn, vốn được biết đến từ thời Eduard III được gọi là ” hobilars “mặc dù họ không đóng một vai trò quan trọng trong chiến dịch Agincourt. Từ một phần ba đến một nửa cung thủ Anh có cưỡi ngựa, mặc dù họ chỉ được nhìn nhận như là bộ binh đi ngựa, để tăng tính cơ động cho chiến lược chevauchce. ( có nhiều loại cung kỵ, loại có thể vừa cưỡi ngựa vừa bắn cung như người Turks, người Magyar-Hungary…, loại phải dừng ngựa rồi mới bắn như cung kị thời Charlesmagne, còn cung thủ Anh phải leo xuống ngựa mới bắn được cung tên, một trong những lý do là-cây cung của họ quá dài, ngựa chỉ là ngựa thồ rẻ tiền, các cung thủ cũng chẳng cần đến những kỹ năng điều khiển ngựa điêu luyện của kị sỹ)

Lực lượng bộ binh

Hình thức phổ biến nhất của người lính bộ binh thường là những tay giáo binh. Vũ khí của anh ta có thể là một cây kích ( halberd), với cái đầu giống như một chiếc rìu chứ không phải là một đầu giáovà anh ta được thiết giáp tùy theo những gì anh ta có, thông thường với một chiếc mũ sắt và một chiếc áo giáp hạng nhẹ kiểu brigandine. Cũng như việc phải đứng vào hàng ngũ ở phía sau trên chiến trường ( thời này Pháp và châu Âu ưu tiên kị binh hơn ), Anh ta cũng còn phải tham gia vào những công việc nặng nhọc trong chiến tranh bao vây vốn thường rất hay xẩy ra trong các chiến dịch thời trung cổ.

Các tay xạ thủ thường được phân ra thành ba loại: cung thủ, xạ thủ bắn nỏ và pháo thủ. Sự thành công của những cây cung của Anh có nghĩa là lực lượng cung thủ trường cung Anh thường xuyên tạo thành hai phần ba quân đội Anh (và ở trận Agincourt hơn bốn phần năm). Tốc độ bắn cao và khả năng phá hủy của họ sẽ được đề cập đến sau đó. “vào lúc này người Pháp cũng sở hữu các cung thủ, nhưng họ thường không sử dụng lực lượng này một cách có hiệu quả. Họ thường dựa nhiều vào các cây nỏ vốn có sức bắn mạnh hơn ( mặc dù đang còn tranh cãi ) nhưng chắc chắn là mất nhiều thời gian hơn để nạp tên. Một tay xạ thủ bắn nỏ thường đi kèm với một tay khiên mang một lá chắn lớn-một tấm khiên pavise, để bảo vệ họ trong thời gian nạp tên. Điều này làm cho lính bắn nỏ hữu ích hơn trong những cuộc vây hãm hơn là trên chiến trường. Lực lượng pháo thủ có mặt ở cả hai phe-nhưng họ cũng chỉ thường xuyên có ích trong công việc bao vây. Đã có hàng loạt các loại và kích cỡ pháo được phát triển trong ba phần tư thế kỷ kể từ ngày chúng xuất hiện lần đầu tiên ở Tây Âu. Chúng có cỡ từ những khẩu súng cầm tay nhỏ tới những khẩu súng lớn có thể dội ồ ạt những trận pháo kích xuống công sự của đối phương. Nhưng tại thời điểm này chưa có lực lượng pháo binh cơ động thích hợp tại thời điểm trận Agincourt.

Áo giáp của kị sỹ

Cho đến giữa thế kỷ thứ mười ba, áo giáp được làm bằng bằng những hàng nhẫn sắt được lồ.ng vào nhau một cách chặt chẽ – nhưng dần dần những miếng thép phiến cũng được thêm vào để tạo cho chúng đủ khả năng bảo vệ chống lại những nhát chém và mũi tên. Vào năm 1415 the suite of plates hoặc áo giáp phiến hoàn chỉnh đã gần như đạt đến trạng thái đỉnh cao của nó. Một kị sỹ thường được bao phủ bởi “cap-a-pied “ từ đầu đến ngón chân trong những lá thép được đánh bóng.

Bên trong chiếc áo giáp thường là một áo chẽn đệm làm bằng da (akheton) đã mòn, để ngăn chặn sự cọ xát của kim loại vào cơ thể vàđể hấp thụ một phần lực bắn của mũi tên. Cho đến năm 1400 nhiều tay kị sỹ mặc một áo giáp bằng chỉ sắt kiểu hauberk ( loại áo dài đến đầu gối ) ra bên ngoài chiếc áo da và sau đó một chiếc áo giáp phiến. Như vậy chắc chắn là sẽ rất nặng, nhưng một vấn đề mới nẩy sinh làmối đe dọa bị kiệt sức do phải mang rất tất cả các lớp áo giáp. Sự phát triển của “áo giáp màu trắng“ hoàn chỉnh(được gọi như vậy bởi vì nó được làm từ nhiều mỗi phiến kim loại rắn được đánh bóng) đã giúp giảm bớt vấn đề này.

Không một kị sỹ nào có thể tự mặc áo giáp mà không sự cần trợ giúp, họ cần thiết ít nhất một là một người giúp việc.Một bộ áo giáp phiến hoàn chỉnh thường không thể quá nặng: nó có trọng lượng vào khoảng60-80lb (28-35kg), trọng lượng của một bộ giáp phiến hoàn chỉnh không vượt quá tải trọng mà một lính bộ binh thời hiện đại phải mang vác.Hơn nữa trọng lượng của áo giáo được phân chia đều xung quanh cơ thể con người, mỗi phiến giáp được gắn vào các khớp nối cho phù hợp với chuyển động của người mặc. Vì vậy, vị hiệp sĩ không cần phải có cần cẩu để nâng ông ta lên trên lưng con ngựa của mình, bộ phim Henn của Oliviercho thấy sai lầm này .

Một kị sỹ có thể trèo lên yên ngựa của mình một cách dễ dàng.Độ nặng của những bộ áo giáp này không làm cho họ mệt lử, trừ khi họ hoàn toàn bị kiệt sức, bị choáng váng hoặc bị thương. Phần nặng nhất và có lẽ cũng khó chịu nhất của một bộ áo giáp phiến có lẽ là mũ sắt và do đó, nó thường xuyên bị cởi ra khi trận chiến đã dường đã như ở xa. Phần thân thường được bảo vệ bởi một tấm giáp phiến ở lưng và ngực với một chiếc bản lề ở bên trái, các cái chốt ở bên phải và chéo qua vai. Phần tay và chân được bảo vệ bằng những phiến giáp hình ống được làm theo kiểu tương tự nhau, khuỷu tay và đầu gối được bảo bởi các miếng giáp “couter “ và “ Poleyn” tương ứng để cho phép chuyển động được dễ dàng. Giữa vùng thắt lưng và phần đùi có treo một chiếc váy được làm bằng đai thép (Lames).

Găng tay sắt có các khớp nối để bảo vệ tay và những chiếc sabaton ( giày bằng sắt ) để bảo vệ chân. Một phát triển gần đó là những tấm giáp phiến tròn nhỏ ở mỗi nách-một chỗ dễ bị tổn thương khi vung cánh tay để làm một cú chém. Một đổi mới, đó là việc thay thế phần giáp gáy bằng chỉ sắt bằng một phiến giáp che cổ rắn và nó được gắn vào chiếc mũ sắt. Chiếc mũ sắt này được gọi là Bascinet, đây cũng là một thuật ngữ rất phổ biến ở thời đó để chỉ chính những kị sỹ (Ví dụ, 8.000 bascinet trong đội tiên phong Pháp ở trận Agincourt).

Nó là một chiếc mũ rất khít với chiếc đầu và thuôn đến một điểm ở phía sau đỉnh đầu. Phần mặt được bảo vệ bởi một tấm giáp che mặt, hoặc phần giáp mặt trông giống như mặt của một con chó nên được gọi là “ dog-faced bascinet “có thể nó có bản lề hoặc đóng mở theo kiểu trượt để có tầm nhìn tốt hơn và tạo thoáng gió. Loại mũ sắt kiểu chiếc thùng kiểu “great helm “ không tạo ra nhiều thoải mái hơn. Nó có xu hướng để sử dụng trong đấu giải chứ không phải dùng trong chiến tranh, nhưng Henry V đã đội nó trong trận Agincourt và hai lớp giáp của nó có đủ khả năng để bảo vệ cuộc sống của ông.

Những người giàu có thì có những chiếc nẹp bằng đồng hoặc bằng đồng mạ vàng để trang trí phù hợp với họ. Những chiếc huy hiệu gia tộc được hiển thị ở trên áo khoác một cách phù hợp được gọi là “Cote d’Armes”. Chúng có thể có ý nghĩa xác định địch ta trong cuộc chiến và có ý nghĩa tượng trưng lớn. Một vài ngày trước khi nổ ra trận Agincourt, Henry V tuyên bố sẽ liên tục mặc “Cote d’Armes”của mình, điều này có ý nghĩa là ông luôn sẵn sàng cho trận chiến. Gia huy trên áo khoác cũng có ý nghĩa để tuyên bố rằng người mặc nó có giá trị một khoản tiền chuộc lớn, đây là một cách để bảo toàn tính mạng bằng giá trị ( tiền ) nếu bị đe dọa bởi cái chết.

Người ta tin rằng “cote d’Armes “ đã bị bỏ vào đầu những năm đầu của thế kỷ 15, và làm cho kiểu “ áo giáptrắng “ vốn được làm toàn bằng thép, nhưng có hai ví dụ dường như đã tạo ra những tranh cãi khác. Ở thời đó những chiếc lá chắn đã lỗi mốt, do đó không có cách nào khác để tự nhận dạng, và có khả năng là tất cả các hiệp sĩ và quý tộc mặc ” Cote d’Armes “ của họ ở Agincourt.Một đặc điểm quan trọng khác là những chiếc đinh thúc ngựa-spurs, vốn được đeo bởi tất cả những Hiệp sỹ, nhưng trong trường hợp các hiệp sĩ thường được mạ vàng để tượng trưng cho đẳng cấp cao hơn của họ, nhưng chúng sẽ được gỡ bỏ khi chiến đấu trên bộ như Henry V đã làm.Vũ khí của Kị sỹLà một kỵ sĩ giỏi, vị Hiệp sỹ thường sử dụng thành thạo cả cây thương và thanh kiếm.

Ngọn thương dài khoảng 12 feet (4m), có một phần gồ lên ở phía cuối-chỗ tay cầm với một cái mũi thương thanh mảnh dài. Trên lưng ngựa nó được giấu vững chắc dưới cánh tay trong khi chân của người kị sỹ đạp vào chiếc bàn đạp nối với yên ngựa, làm cho người và ngựa cùng lao lên để đánh ngã ngựa hoặc đâm xuyên qua giáp của đối phương. Khi chiến đấu trên bộ, nó ( ngọn thương ) được rút ngắn lại còn một nửa để làm cho nó thêm tăng độ linh hoạt. Vũ khí được ưa chuộng là một chiếc rìu-một loại vũ khí độc ác với một chiếc đầu rìu được lắp một chiếc cán dài 4 -> 6 foot bằng kim loại để nó không thể bị chặt đứt. Nó có thể sử dụng để làm dùi cui, đâm hoặc bổ vào đối thủ.Nữ hoàng của vũ khí là thanh kiếm-biểu tượng của tầng lớp hiệp sĩ và quý tộc.

Nó phải được làm từ loại thép tốt ( thép từ Bordeaux được đánh giá rất cao), phổ biến nhất là loại dài 3 feet với thanh chắn bảo vệ tay và chuôi kiếm rất nặng. Một số loại vũ khí chuyên dụng rất mỏng, có mặt cắt kim cương để đâm xuyên giáp, nhưng hầu hết giống như một chiếc dao hai lưỡi có bản được mở rộng gấp đôi, lưỡi kiếm rất sắc có thể cắt được cây thông. Loại kiếm dài hơn, có thể nắm được trong cả hai bàn tay, cũng là loại vũ khí phổ biến (mặc dù chúng vẫn chưa nhiều đến mức khủng khiếp như ở thế kỷ XVI).

Cuối cùng, vũ khí thường mang theo trên hông phải của người kị sỹ là một con dao găm “ ballock” dùng để kết liễu kẻ bị thương. Không thực sự là một loại vũ khí chiến đấu, nó có thể được sử dụng để kết thúc một đối thủ bị thương, hoặc như là một cứu cánh cuối cùng. Nó có thể lách qua một tấm giáp che mặt hoặc những khoảng trống giữa những phiêns giáp để gây thương tích hoặc giết chết một đối thủ đã bị thương.

Không phải tất cả có thể đủ khả năng để trang bị mọi thiết bị đã được mô tả, nhưng một con số đáng kể các kị sỹ được trang bị theo tiêu chuẩn này.

Cung thủ 

Được thiết giáp không phải là mối quan tâm chính của những cung thủ, họ cần sự linh hoạt và tính di động. Do đó, họ thường mặc áo đệm Jerkins hoặc áo giáp nhẹ kiểu brigandines ( có cài những tấm kim loại), nhưng các phần khác của cơ thể thì ít được bọc giáp. Phần đầu của họ thường được bảo vệ bởi một chiếc mũ bascinet không có tấm giáp che mặt, hoặc một chiếc mũ sắt rộng vành kiểu “ pot-helm” thường thấy ở cung thủ hoặc có thể là một camail ( chiếc mũ chùm bằng chỉ sắt ). Một số cung thủ có chân hay tay được thiết giáp nhưng những cung thủ ở trận Agincourt thường để trần đến đầu gối.

Cây cung của các cung thủ là một cái cành cây đu, cây tấn bì hoặc tốt nhất là cây thủy tùng dài sáu foot. Phần lưng của cây cung thường phẳng và phần bụng thì tròn, tạo nên một hình chữ “ D “ thon tới hai đầu, nơi được buộc dây cung. Cây cung thường được để ở dạng chưa được buộc dây và sợi dây thường được để ở trong những túi da nhỏ để cho chúng được khô ráo. Buộc dây và tháo dây cung thường mất một vài giây, cho phép các cung thủ có thể giữ chúng trong mũ để tránh mưa.

Cây cung của người Anh thời đó thường được gọi là trường cung mặc dù không có nhiều mô tả chi tiết về chúng bởi người đương thời. Dường như chiều dài của cây cung thì không là vấn đề nhưng “ lực kéo” của nó và chuyên môn của người sử dụng lại rất là quan trọng. Nó có thể dao động từ 80lb đến 1501b, nhưng để kéo được cây cung có lực kéo 150lb như đã nói yêu cầu một sức mạnh lớn và cả kỹ thuật.

Những đào tạo từ khi còn nhỏ rất quan trọng và người Anh đã có thể thúc đẩy sự phát triển của các kỹ năng này trong vùng đất đai của họ, cho họ vô vàn những cung thủ có kỹ năng vô giá. Mặc dù Edward III đã lo sợ rằng người Pháp có thể sẽ học tập người Anh, nhưng trong thực tế họ ( người Pháp ) không bao giờ cố gắng để làm như vậy. ( Có thể là do chế độ quân chủ Pháp sợ để rằng tầng lớp thấp hơn có một loại vũ khí hiệu quả trong trường hợp họ nổi loạn) Phạm vi bắn của một cây cung thường là 400 yard (365m), nhưng phạm vi giết chết người thì chỉ chưa đến một nửa số đó và thực tế thì không thể giết chết một người ở phạm vi hơn 50 mét.

Nhưng một điều quan trọng cần nhớ là cây cung đã không bị qua mặt về khía cạnh cạnh này cho đến giữa thế kỷ XIX ( đến đầu thế kỷ 19 súng hỏa mai cũng chỉ triệt hạ đối thủ ở khoảng cách dưới 50 m ). Ngoài ra, cũng không cần thiết là phải giết chết đối phương: làm cho ngựa của họ bị thương và hoảng sợ sau đó buộc họ phải rút lui trong nỗi sợ hãi về cái chết là đủ cho chiến thắng. Mỗi cung thủ đeo độ bốn tá mũi tên trên dây lưng hoặc hông của anh ta. Tốc độ bắn có thể đạt đến mười-mười hai mũi tên một phút. Ở cự ly gần, mũi tên có thể xuyên qua những áo giáp tốt nhất và một trận mưa tên có thể đẩy lùi những đối thủ kiên quyết nhất.

Các tay nỏ thường mặc áo giáp dày hơn các tay cung thủ. Như là một loại vũ khí được sử dụng tại các cuộc vây hãm, các tay nỏ thường được dùng cùng với những chiếc lá chắn lớn, có thể đây là một trang bị bảo vệ cần thiết. Minh họa cho thấy có một lính bắn nỏ có giáp hộ thân và giáp chân ngoài chiếc mũ sắt.Hầu như không còn hình minh họa đương đại của năm 1415, tuy nhiên, hầu hết trích dẫn này đều ở thời gian sau đó độ nửa thế kỷ hoặc nhiều hơn. Nhiều hơn nữa đến từ những bản thảo đắt tiền vốn đại diện cho những trận chiến và những thiết bị một cách rất cách điệu, để làm cho tay nỏ được thiết giáp hạng nặng như như là một hiệp sĩ!

Chiếc mũ đội đầu thường là chiếc mũ rộng vành, mặc dù thời này tồn tại một loại mũ bascinet với bản lề nắp ở phía bên phải của khuôn mặt mà nó có thể được bẻ lên khi đã đến tầm bắn để bắt đầu nhắm bắn.Cây nỏ chính là một vũ khí phổ biến trong mọi tầng lớp của xã hội. Nó có hàng loạt kích cỡ từ cây nỏ đi săn hạng nhẹ, thường được bắn từ trên lưng ngựa, tới những cây nỏ dã chiến nặng nề. Những cây nỏ lớn có cánh dài đến khoảng ba feet (1 m) và có một cái báng nỏ có chiều dài tương tự. Cây nỏ thường được tạo thành từ tổng hợp các lớp sắt dát mỏng, xương, gỗ và gân. Nỏ thép được sử dụng trong đầu thế kỷ 15. Các loại tên nỏ “ quarrel và bolt” thường ngắn và nặng hơn mũi tên của cung thường. Một tên nỏ bolt dài từ một foot đến mười tám inch (30-45cm) và được làm bởi da thuộc hoặc gỗ nhẹ. . Khoảng một tá tên nỏ kiểu này thường được cất ở túi tên được đeo ở dây lưng của xạ thủ bắn nỏ.

Một cây nỏ hạng nặng có thể bắn xa hơn một cây cung, nhưng hầu hết chúng có một phạm vi bắn tương tự lên đến 400 yard. Mặc dù nó có thể được bắn theo một quỹ đạo thẳng, nỏ cũng được sử dụng để bắn cầu vồng để xuyên thấu qua mũ sắt và giáp vai. Ở tầm ngắn không có loại giáp nào cản được nó. Điểm yếu của nó là tốc độ bắn rất chậm. Mặc dù mỗi chiếc nỏ có một chiếc bàn đạp để người sử dụng đặt bàn chân của mình để kéo dây nỏ, đây là hành động để đưa dâu nỏ vào vị trí bắn, phầ lớn những cây nỏ cần có thiết bị hỗ trợ căng dây.

Thiết bị này có thể đơn giản như là một cái móc được gắn vào một chiếc dây lưng lớn, sợi dây nỏ sẽ được kéo trở lại vị trí bắn khi người xạ thủ bắn nỏ đứng lên. Hoặc có những thiết bị như cái tời hoặc cái lẫy với một cái cán để có thể quay cho đến khi sợi dây cung được đưa về vị trí bắn bởi một đai ốc “xoay” được chế tạo ở báng của cây nỏ. Nó tạo lợi thế cho việc giữ vũ khí lâu cho đến khi người xạ thủ quyết định bắn vào mục tiêu của mình bằng cách bóp một chiếc cò súng ở dạng đơn giản. Nạp tên là một công việc mất khá nhiều thời gian và sức lực, mặc dù tốc độ bắn chỉ giới hạn trong hai hoặc ba phát một phút.

Pháo thủ

Vai trò của các pháo thủ trong chiến dịch Agincourt phần nhiều là ở cuộc bao vây Harfleur hơn là với trận chiến. Những người này ( pháo thủ )là những người có chuyên môn vànghề nghiệp của họ đã có danh tiếng ở Châu Âu. Công việc chính của họ là việc vận chuyểnvà làm việcđể tạo ra những trận oanh kích hạng nặng và bao vây.bằng súng. Vì vậy họ phải mặc nhữngbộ áo giáp hạng nặng để bảo vệ đầu vàngực. Lúc này cũng có một loại súng tay mới xuất hiện trên chiến trường. Trong vòng một vài năm cùng thời với trận Agincourt, người Hussite Bohem đã cho thấy sự tàn phá khủng khiếp củasự kết hợp giữa pháo binh và súng tay là như thế nào ( người Hussite sẽ được giới thiệu trong phần 3 – phần Cuối thời Trung cổ, thực ra chiến tranh trăm năm từ giai đoạn năm 1400 cũng nên được để ở giai đoạn này nhưng người sưu tầm xin để ở đây cho nó liền mạch ). Các pháo thủ thường mặc những áo giáp hạng nhẹ giống như những xạ thủ bắn nỏ và vác khẩu súng của anh ta-một ống kim loại được gắn vào một cái sào bằng gỗ. Để bắn anh ta mang một mẩu dây thừng có giữ một đốm lửa nhỏ ( mồi lửa), hoặc đá lửa và dí chúng vào lỗ điểm hỏa hoặc như bằng tay hoặc bằng một cái cò súng đơn giản như của những tay nỏ.

Tổ chức quân đội của người Anh

Để huy động lực lượng cho chiến dịch Agincourt, Henry V đã dựa vào hệ thống “ khế ước “, đây là một tài liệu liệt kê tên của các hiệp sĩ và binh sĩ . Khế ước đã thay thế phương pháp huy động quân đội qua nghĩa vụ phong kiến trước đó trong thời trị vì của Edward III. Nghĩa vụ Phong kiến chỉ giới hạn trong 40 ngày trong một năm, nó không tương xứng với một chiến dịch chiến đấu ở Pháp. Vì vậy, để huy động quân đội một cách có hiệu quả, nhà vua thường phải làm việc với các nhà thầu của mình ( mà ngày nay người ta gọi là nhà thầu quân sự ).

Thường thì các chư hầu phong kiến​​của nhà vua là các lãnh chúa, hiệp sĩ và hộ sỹ, nhưng họ phục vụ để nhận được chi trả bằng tiền. Vì vậy, người anh em trai của nhà vua-Humphrey, Công tước xứ Gloucester, đã ký hợp đồng để huy động 200 tay thương (gồm các kị sỹ và các tùy tùng của họ) để tạo thành một đội quân của chính ông ta – đội quân này gồm sáu hiệp sĩ, 193 hộ sỹ và 600 cung thủ đi ngựa. Đến ngày ‘Agincourt, sự khắc nghiệt của chiến dịch đã họ xuy giảm xuống còn 162 tay thương, 406 cung thủ cưỡi ngựa. Một hộ sỹ ở cấp trung bình, chẳng hạn như Thomas Chaucer (con trai của nhà thơ Chaucer) cung cấp 14 tay thương, 62 cung kị và 60 cung bộ ( trong số này ông chỉ đưa được đến chiến trường 9 tay thương và 37 cung thủ ). Ở cấp thấp nhất, Lewis Robbesard-một hộ sỹ, mang theo đoàn tùy tùng nhỏ của mình chỉ gồm ba cung thủ đi bộ.Đoàn tùy tùng, nghĩa là những người luôn đi theo chủ nhân của họ, đây là nền tảng cơ bản để xây dựng một đội quân theo tiếng Anh là “ host” (mộtquân đội thời trung cổ được gọi đúng là như vậy ).

Liên kết giữa các lãnh chúa có nghĩa là có ít người hơn được chỉ huy một cách hiệu quả từ vị chỉ huy phong kiến ​​cấp trên.Quân đội Anh được tổ chức thành đội hình 3 đạo rõ ràng trongcả hành quân và chiến đấu: đó là đạo tiên phong, trung tâm và hậu đội,. Trong trận chiến, binh sỹ chiến đấu dưới ngọn cờ của chúa tể của họ, đến lượt những người này lại chiến đấu theo hiệu lệnh của vị chỉ huy của trận chiến. Trongkiểu tổ chức như thế này thì việc chỉ huy và và kiểm soátlà rất yếu kém. “Không cóhệ thống thống nhất để đưa ra các mệnh lệnh bằng miệng (mặc dù các cung thủ đã được ra lệnh bằng miệng để bắt đầu bắn tên tại Agincourt).

 Các mệnh lệnh để di chuyển được chuyển tới bởi những tiếng la hét củacác sỹ quan và thúc đẩy các hàng quân tiến theo hướng mà họ mong muốn. Điều này có nghĩa rằngsự cơ động của bộ quân trên chiến trườngrất chậmchạp và mang đầy tính thận trọng, trong trường hợp các hàng ngũ bộ binh bị trở nên nhầm lẫn thì Henry V đã làm một vài điều để chứng tỏ khả năng nhận thức tình hình nhạy bén của ông tại Agincourt.

Tổ chức quân đội của người Pháp

Mặc dù họ sử dụng một hệ thống tương tự như lettres de retenue để nâng cao và duy trì quân đội, chế độ quân chủ Pháp đã không tiến xa theo kiểu tổ chức bằng hợp đồng quân sự như người Anh. Người Pháp có xu hướng chiến đấu trong lãnh thổ của mình, và thường thiên về phòng thủ, do đó, không phải là cần phải phát triển loại cơ chế này. Phục vụ phong kiến và arrière ban (nghĩa đen lệnh gọi quân dự bị), một bổn phận chung đối với tất cả các thần dân. Vào đầu thế kỷ 15 nhìn chung thì việc làm nghĩa vụ thường được thay thế bằng một khoản thanh toán tiền mặt, hoặc bằng việc cung cấp cho các đội quân đồn trú tại các thị trấn.

Rõ ràng là Paris đã đưa ra đề nghị cung cấp 6.000 lính bắn nỏ và lính mang khiên cho chiến dịch 1415, mặc dù nó đã bị từ chối bởi các chỉ huy người Pháp – những con số rất lớn những chủ đất phong kiến và chư hầu của họ vốn đã kéo đến Rouen được coi là quá đủ cho trận chiến. Trong thực tế, việc tập hợp một đội quân quá lớn là một vấn đề gây nhức đầu một cách đáng kể về hậu cần cho người Pháp. Những đại úy có kinh nghiệm như Thống chế Boucicault muốn có một đội quân nhỏ thôi nhưng được trang bị tốt và có kỷ luật tốt.

Mặc dù vậy vẫn có nhiều nghìn lính bộ binh được tập hợp từ các địa phương đã kéo đến tập trung tại Ruisseauville – ngay phía bắc của Agincourt, mặc dù họ đã không tham gia tí nào vào trận chiến.Cấu trúc chỉ huy quân đội của người Pháp được cho là tương tự như của người Anh. Trong thực tế, như chúng ta sẽ thấy-nó bị phá vỡ hoàn toàn, mặc dù không phải là do thiếu các kế hoạch chiến đấu mà là do chọn những phương án cực kỳ bất hợp lý.

Chiến dịch Agincourt

Ngay sau khi ông mới lên ngôi, Henry V đã bắt đầu chuẩn bị tiến hành một cuộc xâm lược nhằm vào nước Pháp. Ông đề nghị kết hôn với Katherine- con gái của Charles VI. Các Đại sứ đã được cử đi với nỗ lực để tìm một phương án giải quyết việc người Anh đòi hỏi ngôi vua Pháp mà nó có thể thỏa mãn cả hai bên và trong đầu năm 1415 đã có một Đoàn đại biểu của người tại Paris. Vào cuối tháng sáu năm đó, Đại sứ Pháp đã tới London. Nhưng Henry đã không để cửa nào để đàm phán. Mùa hè năm trước đó, ông đã cố gắng sắp xếp một liên minh quân sự với Công tước Burgundy, liên minh này quy định cụ thể về số lượng quân đội ( của Anh bà Burgundy) và vùng lãnh thổ của Công tước xứ Armagnac như chiến lợi phẩm. Nhưng rồi liên minh này đã trở thành vô nghĩa. Có lẽ lý do chính là không bên nào lại đủ tin đối tác của mình đến mức có thể đặt bút ký vào một thỏa ước.

Trong khi tất cả các hoạt động ngoại giao đang diễn ra, Henry vẫn nhanh chóng và không ngừng chuẩn bị cho chiến tranh trên quy mô lớn. Nicholas Merbury, Master of the Ordnance ( không hiểu chức vụ gì ), đã nhận được chỉ thị phải thu thập các cây cung và mũi tên vào mùa hè 1413. Những khẩu súng mới đã được đúc ở London và Bristol và những thiết bị bao vây khác đã được chế tạo: Cung tên, thang và các thiết bị để phá tường thành. Tàu để vận chuyển quân đội và tất cả các trang bị của hạm đội cũng đang được chế tạo, từ mùa xuân năm 1415 các lệnh trưng dụng nhân sự vốn không phân biệt quốc tịch đã được ban bố để cho chuyến vượt biển.

Khi quyết định tiến hành cuộc xâm lược, Henry đã tập trung được một đội quân gồm khoảng 2.500 kị sỹ và 8.000 cung thủ. Vì thường thì mỗi “ tay thương “ có ngụ ý rằng mỗi kị sỹ sẽ có từ 2-4 cho chính ông ta và người hầu của ông và một nửa số cung thủ đã có ngựa để cưỡi thì số lượng ngựa cho chiến dịch này phải lên đến 10.000 con. Thêm vào đó là khoảng 200 khẩu súng được chế tạo đặc biệt và những bộ phận không tham chiến sẽ làm số ngựa phải tăng thêm ít nhất 1.000 con nữa rồi tất cả những dụng cụ, thiết bị bao vây … điều cốt yếu là phải có một hạm đội thật lớn. Con số 1.500 chiếc tàu thuyền các loại được đưa ra bởi một sử gia là hoàn toàn chấp nhận được, mặc dù mục đích của con số này là chỉ để tạo ấn tượng hơn là để ghi lại con số chính xác.

Nếu đội tàu thực sự chỉ chiếm một phần năm kích thước này-khoảng 300 tàu thuyền, thì nó vẫn lớn hơn gấp mười lần so với lực lượng hải quân thường trực của Henry V trong 1417 và do đó đây là sưu tập tầu bè gây ấn tượng mạnh mẽ.Các cuộc đàm phán đã đổ vỡ, Henrv tập hợp quân đội của mình tại Southampton vào tháng 7. Sau một chậm trễ ngắn ngày dành để đối phó với một cuộc đảo chính được tiến hành bởi các thành viên bất mãn trong triều đình của ông, hạm đội đã căng buồm vào ngày 11 tháng Tám. ChiếcTrinité Royale-kỳ hạm của nhà vua-một con tàu lớn 500 tấn và là con tầu lớn nhất trong hạm đội, đã đánh tín hiệu xuất phát. Henry đã giữ bí mật về đích đến của ông cho đến phút cuối cùng, và hai đêm sau đó các con tàu của ông đã thả neo nghỉ ngơi ở cửa sông của sông Seine. Henry cho tổ chức một hội đồng quân sự trên con tàu kỳ hạm của mình và cho hoãn cuộc đổ bộ tới buổi sáng ngày hôm sau.

Ông ta muốn chọn Harfleur thành một Calais nữa cho người Anh. Nó là một trong những vùng cực kỳ xung yếu của vùng Normandy và nó cho phép ông ta có thể tiến vào vùng trung tâm của công quốc của ông ( các vua Anh vẫn tuyên bố Normandy là thái ấp của họ ). Nhưng chiếm được thành phố là điều không hề dễ dàng. Nó có các bức tường thành vững chắc được bổ xung với 26 tháp canh và quân phòng thủ đã cho xả các cống nước để bao quanh nó bằng hào nước. Ba cổng thành của nó, tất cả đều được bảo vệ bởi các tháp canh xây trên cổng thành, những hệ thống phòng thủ bằng gỗ và đất được xây nhô ra. Hai cổng thành được bảo vệ bằng đường hào nước cho chúng trở thành không thể tấn công, chỉ còn mé cửa phía Tây là còn có thể.

Tại cửa Tây hệ thống tháp canh trên cổng là ấn tượng nhất: những chướng ngại vật lớn gỗ được giằng với nhau bằng những thanh sắt và cao gần bằng chiều cao của bức tường thành. Một sử gia đã khẳng định rằng đó là một “Stone’s throw” để vượt qua. Một con kênh dẫn vào trung tâm của thành phố và đây cũng chính là bến cảng, nhưng nó đã bị chặn bởi một chuỗi xích lớn và những cọc gỗ để ngăn chặn tầu bè đối phương cập cảng. John-Lord của Estuteville, người chỉ huy phòng thủ chỉ có một trăm kị sỹ và binh lính, nhưng ông này vẫn rất tự tin bởi hệ thống phòng thủ mạnh mẽ của thành phố.

Người Anh mất hai ngày để bốc dỡ hành lý, Henry lập doanh trại đối diện với cửa chính của thành phố. Ông công bố một sắc lệnh mà nó đặt ra các tiêu chuẩn về hành vi cho chiến dịch. Cướp bóc, đốt phá và cưỡng-hiếp dân thường là bị cấm và mỗi người Anh tự xác định bản thân bằng một chữ thập mầu đỏ của Thánh St George. Kể từ khi Henry công bố mong muốn khôi phục lại vùng đất của tổ tiên mình ( xứ Normandy ), ông không thể cho phép diễn ra những hành vi phá hoại bình thường của binh sĩ của ông. Việc tìm kiếm lương thảo vốn rất cần thiết sẽ vẫn được cho phép, đặc biệt là thức ăn cho những con ngựa, nhưng bất kỳ sự vị phạm vào quy tắc nào cũng sẽ bị trừng phạt bằng cách treo cổ các thủ phạm. Đó là cách tuân thủ cứng rắn của Henry đối với chính luật pháp do ông đề ra và nó làm cho ông ta được tôn trọng.

Thành phố đã không được củng cố đúng cách cho tới khi nó bị bao vây. Nên vào ngày 18, Công tước của Clarence mang một phần quân đội đi hạ trại ở phía xa hơn, cạnh phía Đông của thành phố. Sau đó ông ta bắt được một đoàn xe tải của Pháp trở súng, thuốc đạn, mũi tên và nỏ đang định tìm đường vào thành phố. Ông cũng suýt bỏ lỡ cơ hội để đánh chặn toán quân tiếp viện của người Pháp dưới sự chỉ huy của Ralph – con trai của Lord Gaucourt, mặc dù De Gaucourt vẫn vào được trong thành phố với 300 binh sỹ và không có gì phải nghi nghờ, số binh lính này cùng với viên chỉ huy can đảm của họ đã góp phần kéo dài thời gian của cuộc bao vây.

Chiếm lợi thế về số lượng, nhưng những thiết bị vây hãm của Henry đã không thể đưa đến một thắng lợi nhanh tróng một cách lạc quan, những điều mà ông ta e ngại đã sảy ra, Các cố gắng để đào hầm và làm sụp phần chân của những bức tường thành đã bị thất bại bởi con hào ngập nước và những thiết bị phá hầm của quân Pháp. Bởi vậy người Anh phải trông cậy nhiều hơn vào việc đưa pháo binh vào vị trí bắn yểm trợ. Lực lượng pháo binh không hoàn toàn là các khẩu pháo dùng thuốc súng, rất nhiều trong đó là những máy ném đá vẫn còn được sử dụng. Những khẩu súng làm bằng sắt với những tiếng nổ khủng khiếp của nó và với khả năng của nó có thể phóng ra những viên đạn nặng tới ¼ tấn, tuy nhiên tác dụng chính của chúng lúc này vẫn chỉ là tạo ra sự sợ hãi.

Rất nhiều những viên đạn bằng đá tròn đã được bắn ra và trúng vào bức tường của thành phố và nhà của của Harfleur và đốt cháy chúng bằng hắc ín. Những khẩu pháo này nằm trên mặt đất bằng phẳng, khiến cho quân phòng thủ có thể nhìn rõ chúng và người của Gaucourt quyết định xông ra phá vây, làm cho công việc của các pháo thủ Anh còn xa mới ở mức dễ dàng. Quân Anh bị thương vong nặng từ cả súng tầm xa lẫn các cây nỏ của quân Pháp và từ cả những đợt đột kích phá vây của quân đồn trú.

Cùng ngày nhà Dauphin nhận được một tín sứ-người đã vượt qua vòng vây ở Harfleur. Mặc dù vậy dường như ngườiáp đã không có nỗ lực thực sự nào để giải vây cho nơi này. Chỉ có một sử gia đề cập đến một cuộc tấn công bằng kỵ binh không thành công, kết quả là không nhiều hơn một cuộc giao tranh và người Pháp bị đẩy ra khỏi nơi này một cách dễ dàng. Mối nguy hiểm thực sự đối với người Anh đã sớm xuất hiện đó là bệnh kiết lỵ. Căn bệnh này đã xuất hiện và lây lan rất nhanh chóng trong quân đội Anh.

Nguyên nhân cuả nó là không khó để tìm thấy: nhiệt độ cao giữa mùa hè, những đống rác rưởi được tạo ra bởi quân bao vây thành phố, nước bẩn và có lẽ tôm, cua, cá ở cửa sông tiêu thụ với số lượng rất lớn bởi quân vây thành. Không ai được chừa ra, thậm chí cả những quý tộc cao cấp nhất, như bá tước của Suffolk và March đã bị bệnh. Thomas Courtenay, Đức-Giám-mục của Norwich, người cũng bị nhiễm bệnh được mô tả như là phải chịu những đợt đi ngoài không dứt vào ngày mùng 10 và năm ngày sau đó ông này đã chết. Đương nhiên là các thường binh cũng bị mắc phải căn bệnh tương tự này.Ngoài ra trong ngày 15, người Pháp đã xông ra đột phá vòng vây và đốt cháy chiếc máy hãm thành đối diện với cửa chính. Sau đó may mắn đã đổi chiều và đứng về phía người Anh.

Vào ngày hôm sau, John Holland dẫn đầu một cuộc tấn công vào pháo đài chính, vốn đã gần như bị phá hủy hoàn toàn bởi những đợt bắn phá và đã chiếm được nó. Sự mất mát này là rất quan trọng đối với lực lượng phòng phủ. Không còn có cách nào để ngăn chặn người Anh mang súng đến gần để bắn phá các bức tường. De Gaucourt xin đề nghị tổ chức các cuộc thương lượng.Vào hôm thứ ba ngày 17 tháng 9, quân Pháp đã đồng ý rằng nếu nhà vua hoặc nhà Dauphin không đem quân tiếp viện đến vào buổi trưa ngày Chủ Nhật sau, họ sẽ đầu hàng.

Điều này là phù hợp với đạo luật của thời chiến và nó làm cho thành phố không phải chịu một đợt công kích. Đây là cơ hội để cướp bóc mà chính xác là những gì rất nhiều người Anh đã mong đợi, nhưng Henry đã đồng ý với các điều khoản mà người Pháp đưa ra. Quân cứu đã không tới và ông ta tiến vào thành phố vào hôm thứ Hai ngày 23. Ông đã giành được thắng lợi ở Harfleur nhưng với cái giá thôi rồi. Cuộc bao vây kéo dài năm tuần. Hơn 2.000 người đã chết vì bệnh lỵ, bao gồm Bá tước Suffolk và những quý tộc tên tuổi khác.

Một số lượng lớn, có lẽ là khoảng 2000 người khác bao gồm Công tước Clarence, đã được gửi về nhà để hồi phục sức khỏe. Sau đó Henn đã bổ nhiệm Bá tước của Dorset làm tư lệnh thành phố với một đơn vị đồn trú có thể đông tới 500 kị sỹ và 1.000 cung thủ, ông chỉ còn lại khoảng 900 kị sỹ và chưa đến 5.000 cung thủ ( mất một nửa lực lượng ), với lực lượng này ông vẫn quyết định tiếp tục chiến dịch.

Trong một bức thư gửi tới Bordeaux ( một căn cứ của Anh ở Vùng Aqutany trên lãnh thổ Pháp ) ông đã dự định tiến hành​một cuộc chevauchée lớn về những thành phố ở phía Nam nước Pháp, nhưng vào lúc này ông đã phải tự mình lựa chọn những mục tiêu vừa phải hơn.Đầu tiên, ông thách thức nhà Dauphin giải quyết những tranh chấp bằng một trận chiến cá nhân.

Nhưng đó không phải là điều mà Louis Dauphin vốn rất ốm yếu có khả năng chấp nhận, nhưng động cơ của Henry là không hoàn toàn có gì để hoài nghi. William Bruges, Guienne Herald và de Gaucourt ( các sỹ quan Pháp đã đầu hàng tại Harfleur ) đã được thả vào ngày 27 và có mang theo tin nhắn. Sau một tuần mà tin nhắn có hiệu lực đã trôi qua mà không có trả lời từ phía nhà Dauphin, Henry lại đổi y. Chống lại tất cả những những ý kiến của Hội đồng thời chiến của mình, ông quyết định phất lá cờ và hành quân đến Calais.Cuộc hành quân tới Calais

Trong hôm thứ Hai ngày 8 tháng 10, lực lượng nhỏ bé của Henry bắt đầu khởi hành từ Hartleur. Họ có khoảng thời gian một tuần để hành quân. Đây là khoảng thời gian đủ để hành quân qua quãng đường dài độ một trăm dặm để đến Calais, nhưng mọi thứ đã không như nhà vua Anh dự định.

Người Pháp có vẻ như gần như thiếu sinh khí và không có hoạt động gì khi Henry tổ chức cuộc bao vây một nơi được miêu tả là “ chiếc chìa khóa “ để tiến vào xứ Normandy. Vấn đề của họ là Charles VI-vốn là một trong những vị vua yếu kém, mặc dù ông này rất muốn chiến đấu nhưng ông lại luôn ở trong tình trạng tâm thần. Triều đình của ông vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự bất hòa giữa các phe phái Armagnac và Burgundy.

Không có gì phải nghi ngơ vị chỉ huy thích hợp nhất cho quân đội Pháp phải nên là John the Fearless- Quận công của xứ Burgundy, nhưng vì những lý do chính trị nên ông ta đã bị tách ra khỏi triều đình Pháp, khỏi Paris và ra khỏi quân đội. Kết quả là, mặc dù ông đã biểu lộ sự sẵn sàng của ông trong việc chỉ huy quân đội Pháp chông lại quân xâm lược, ông ta lại đứng ngoài cuộc.

Trong quá khứ, rất nhiều sử gia Pháp đã đổ lỗi cho John the Fearless về thất bại ở trận Agincourt là bởi sự vắng mặt của ông ta. Ông cũng bị buộc tội là đã ra lệnh cho các chư hầu của mình không được tập trung theo lệnh triệu tập của nhà vua của họ. Thực ra thì không phải như vậy, rất nhiều người trong số họ (chư hầu của John the Fearless ) đã tham gia trận đánh này. Ông ta chỉ đã cấm Philip-con trai ông ra nhập vào quân đội Pháp bất chấp người con trai trẻ của ông nổi giận đến điên khùng vì lo sợ bị coi là kẻ hèn nhát, nhưng dường như đây lại là một sự thận trọng rất thông minh. Chiến tranh, bất kể những bài thơ lãng mạng về nó, thì nó vẫn chứa ẩn đầy những điều hiểm họa, không chỉ từ những hành động của đối phương mà còn từ những thứ rất rủi ro như bệnh dịch.

Người Anh đã học được điều này từ bài học cay đắng ở Hafleur. Đồng thời thì John cũng không muốn ủy thác con trai ông và cũng là người thừa kế của ông vào doanh trại của phe Armagnac ( Ông đã ám sát Công tước xứ d’Orléan-một lãnh tụ của phe Armagnac nên không có gì để đảm bảo rằng họ sẽ không trút sự trả thù lên đầu con trai ông ). Tiền nhân của họ, Công tước xứ Bery không hề lấy làm nhiệt tình trong việc tham chiến với người Anh trong một trận chiến mở. Ông ta ( công tước xứ Bery ) đã từng ở Poitiers cách đó 60 năm và vua John-cha của ông ta đã bị cầm tù. Chính vì như vậy mà ông chắc chắn rằng vua Charles không muốn mạo hiểm để mở một trận đánh tương tự với người Anh. Ông ta đồng ý một cách miễn cưỡng rằng có thể chặn được người Anh, nhưng chỉ với một câu bình luận đầy nhạo báng cay độc “ Bị đánh bại một trận vẫn còn tốt hơn vừa bị đánh bại vừa mất một vị vua”

Vua Charles đã cho dựng lá cờ chiến tranh tại St Denis ngày 10 tháng Chín, gần 1 tháng sau khi quân Anh đổ bộ. Ông đã di chuyển tới Mantes, trong khi Louis- nhà Dauphin thiết lập sở chỉ huy ở Vernon được một tuần, nơi đây thuộc biên giới với Normandy, để canh chừng những di chuyển của người Anh, trong khi Thống chế Boucicaut lúc này có thể đã ở tại Caudebec, khoảng 30 dặm về phía Đông của Harfleur, trong khi vị Nguyên d’Albret canh trừng các lối vượt cửa sông Seine từ Hanfleur.

Không một chỉ huy giàu kinh nghiệm nào của người Pháp lại muốn tác chiến với quân Anh trong một trận chiến mở, chiến thuật của họ là một trong những biện pháp ngăn chặn. Sau khi Henry V bắt đầu hành quân, Boucicault bắt đầu bám sát các lực lượng của ông ta khi họ tiến đến khe cạn Blanchetacque để vượt qua sông Somme. Trong khi đó d’Abret hành quân nhanh chóng về phía Tây bắc từ Rouen với một số lượng lớn của đội tiền quân của Pháp để tổ chức phong tỏa tất cả các lối vượt sông.

Người Anh tiến quân dọc theo tuyến đường ven biển. Sir Gilbert Umtraville và Sir John Cornwall dẫn đầu đạo tiền quân, nhà vua Anh, Công tước xứ Gloucester và John Hlolland ( sau này được phong làm Bá tước của Huntingdon.) chỉ huy đạo quân chính, trong khi Công tước xứ York và Bá tước Oxford phụ trách đạo hậu quân.

Cuộc hành binh diễn ra một cách trôi chảy trong ba ngày đầu tiên, mặc dù những người Pháp đương thời đã tố cáo rằng quân Anh đã cướp phá Fécamp. Tại Arques, trong ngày 11. Lần đầu tiên quân Anh đã gặp phải những kháng cự thực sự. Viên quan tổng trấn ở đây đã từ chối không cho quân Anh chiếm lấy các kho lương thực nhưng ông này đã phải chịu thua ngay sau khi Henry V đe dọa đốt cháy thị trấn. Không rõ người Pháp có theo đuổi chính sách “ tiêu thổ” hay không, nhưng nếu họ có làm thì Henry V phải nhận thức được sự nguy hiểm về tình huống cạn kiệt nguồn lương thực của mình. Lại đã xảy ra một cuộc giao tranh tại Eu vào ngày hôm sau và một lần nữa người Anh lại đã lấy được nguồn cung cấp mà họ cần.

Không vượt qua được sông Somme

Ngày 13, Henry lại tiếp tục cuộc hành quân của ông ta về phía khe cạn Blanchetaafue, để quân đội của ông có thể vượt qua cửa sông Somme. Tuy nhiên, khi còn chỉ một vài dặm trước khi đến vùng cửa thì đội tiên phong đã bắt được một tù binh người xứ Gascon. Người này đã khai cho những kẻ bắt mình rằng Nguyên soái d’Albret đang đóng tại Abbeville với một lực lượng mạnh gồm khoảng 6.000 binh sỹ. Hơn nữa, cạn mà họ mà họ đang hướng tới đã bị phong tỏa bởi các cọc gỗ nhọn và canh chừng bởi quân lính dưới sự chỉ huy của Guichard Dauphin-Lord của Jaligny. Người Anh chắc hẳn đã phải chết lặng người đi khi nghe thấy những tin này.

Họ đã tiêu thụ hết một nửa số đồ dự trữ thực phẩm của mình và vẫn chưa có một phương án rõ ràng nào để vươt qua sông Somme. Hướng duy nhất có thể là chuyển về phía nam và hành quân theo thượng nguồn con sông với hy vọng tìm được một chỗ vượt sông không được bảo vệ hoặc lực lượng phòng thủ quá mỏng. Tinh thần của binh lính trở nên ảm đạm hơn vì dường như cần thiết phải đi xa hơn nữa về phía thượng nguồn của con sông, với một khoảng cách lên đến sáu mươi dặm. Việc chọn hướng hành quân của Henry đã được chứng minh là cẩu thả và bất chấp những lời cảnh báo của các cố vấn của ông. Tại đây, họ ( quân Anh) đã bị mắc vào ( giống như những chú cừu ở trong một khe núi) như những lời họ kể lại: thua thệt so với đối phương về số lượng, ốm yếu và đã cạn đồ cung cấp trong khi lại đang ở trên một vùng đất thù địch.

Đầu tiên là Henry ra lệnh cho lực lượng của mình tiến về phía Pont St Remy và sau đó, việc đi tìm các cầu được bảo vệ và tìm chỗ trú châ n cho quân đội của mình ở Bailleul và các làng mạc xung quanh. Vào ngày 14 sau những những nỗ lực vô vọng tương tự để tìm thấy một khúc vượt sông. Người Anh đã trú đêm ở trong và xung quanh Hangest. Ngày hôm sau họ đến đối diện với Amiens và có thể ngủ qua đêm tại Pont de Metz.

Người Pháp đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng để phá hủy các cây cầu và bảo vệ tất cả điểm vượt sông, điều này cho thấy người Pháp có một kế hoạch được tổ chức tốt và xác định rõ mục tiêu. (Henry đã không cố gắng để tổ chức tấn công vào một thành phố cỡ như Amiens, tất nhiên là do lực lượng của ông quá nhỏ và thiếu vũ khí bao vây.) Hành trình của quân đội Pháp là khó xác định hơn so với người Anh, nhưng như chúng ta có thấy, nó đã được chia thành hai đội quân. Đội quân tiên phong, nằm dưới sự chỉ huy của d’Albret và Boucicault, đã thực hiện tốt vai trò của ọ. Có lẽ là do nhận được tin tức về dự định di chuyển của

Henry, vị Nguyên soái đã mang phần lớn lực lượng của đạo quân này và tiến về phía Abbeville trên sông Somme. Từ một vị trí ở giữa Harfleur và Rouen, có thể phải mất bốn ngày hành quân để chiếm được nơi này, điều này cho thấy ông đã phải cho di chuyển ngay lập tứ từ ít nhất là ngay sau khi Henry khởi hành vào ngày mồng 8.Có lẽ là người Pháp đã tận dụng khoảng thời khi Harfleur thất thủ, trong khi Henry chờ đợi một cách vô vọng rằng nhà Dauphin sẽ chấp nhận yêu cầu của ông về một “ trận chiến giữa 2 cá nhân ” để kết thúc ân oán giữa hai dòng họ.

Người ta không rõ rằng khi nào lực lượng chính của quân Pháp xuất hiện tại Rouen, theo tính toán của các sử gia thì có khoảng 14.000 kị sỹ cũng đã hành quân về phía bắc. Vua Charles đã tới thành phố này vào ngày 12 và tổ chức một Hội nghị lớn. Để tạo một khoảng thời gian để ra quyết định và tổ chức một lực lượng lớn theo cách xử lý của ông, không chắc rằng lực lượng chính của Pháp được gửi tới Amiens vào trước ngày 14 hoặc 15.

Bất kỳ lực lượng Pháp nào được gửi đi trước đó sẽ đụng độ với người Anh lúc này đang di chuyển về phía Nam Amiens; bất kỳ lực lượng Pháp nào được gửi đi sau đó sẽ không thể đến nổi Bapaume, hai mươi dặm về phía bắc của Amiens vào ngày 20 khi các tài liệu ghi lại rằng nó đã ở đó. Sự kiện này có nghĩa là đội quân chính của người Pháp có thể đã đến Amiens vào ngày 17 hoặc 18, bằng cách băng qua con đường quân Anh, vốn đã đi qua để tiến về thành phố Amiens một vài ngày trước đó.Từ Pont de Metz đến Boves, nơi Henry đã trải qua đêm của ngày 16 ở đó, chỉ là một cuộc hành quân ngắn khoảng chín hoặc mười dặm. Không rõ tại sao Henry V lại cho chậm tiến độ hành quân của mình lại vào thời điểm này. Cạn kiệt nguồn lương thực có thể được coi là một lý do, quân Anh vào lúc này đã cạn kiệt những nguồn thực phẩm mà họ đã mang theo từ Harfleur.

Và dường như ngày càng trở nên rõ ràng rằng không có cơ hội nào để vượt qua sông Somme. Một nhân chứng trong quân đội Anh-một Cha tuyên úy, đã dự báo chiến lược của người Pháp một cách phiền muộn: “ Chúng tôi lúc này dự kiến rẵng không có điều gì khác xảy ra, ngoài việc sau khi sử dụng nốt số lương thực và thực phẩm dữ trữ trong tuần của chúng tôi và kẻ thù đầy xảo quyệt sẽ luôn ở phía trước và sẽ thiêu thổ hoàn toàn vùng nông thôn mà chúng tôi sẽ đi qua, và sẽ làm suy yếu chúng tôi bởi nạn đói và sẽ tiêu diệt chúng tôi-vốn lúc này còn lại rất ít người và đang phải đối mặt với nhiều nỗi mệt mỏi và đau yếu do thiếu thức ăn.”Tại Boves, Henry tìm cách thương lượng với quân Pháp đồn trú trong lâu đài. 

Để không đốt cháy thành phố vàvườn nho của họ, ông yêu cầu họ phải giao nộp bánh mì. Kết quả là ông đã nhận được tám giỏ bánh mỳ, mỗi giỏ cần hai người đàn ông để khiêng chúng-theo như một nguồn tin. Số lương thực này là rất cần thiết để duy trì sức khỏe của quân sỹ.

Một thứ gì đó cũng được tìm thấy ở tại vùng Boves vốn rất trù phú này là rượu vang. Hậu quả của sự hào phóng trong việc phân phát chất rượu có cồn này cho người Anh-những người đang có những chiếc dạ dày trống rỗngcó thể sẽ tạo rathảm họa về mặt kỷ luật ( mà đây có thể chính là ý định của người Pháp). Henry đã cấm các thường binh không được uống quá nhiều. Khi được hỏi lý do tại sao họ không được đổ đầy rượu vào những chiếc bụng chống rỗng của họ, ông trả lời rằng họ sẽ bị những chiếc bụng rỗng nhưng đầy rượu sẽ làm cho họ bị mất kiểm soát.Henry cố gắng làm tăng Tinh thần quân sỹ

Giai thoại này nói về một bức thông điệp. Nguồn tài liệu của chúng tôichỉ gợi ý rằng tinh thần của người Anh đã xuống rất thấp vào lúc này. Càng hành quân ngược lên thượng nguồn sông Somme tức là điểm đến-Calais lại càng trở nên xa vời, do không thể làm chủ mặt đất vốn là những đầm lầy nằm giữa họ, thậm chí là không đến được những vị trí của kẻ thù của họ-những người đang canh gác dày đặc ở những điểm vượt sông, chỉ tồn tại bằng câyquả và ở dọc đường đi và không có gì đảm bảo cho tương lai ngoại trừ cái chết hay bị bắt tù binh một cách nhục nhã bởi người Pháp sẽ làm cho nhiều người phải cảm thấy tuyệt vọng.

 Nhưng một điều đáng ngạc nhiên là không có tài liệu nào đề cập đến số binh lính Anh đào ngũ. Điều này có thể bởi vì Henryvẫn còn quản lý được người của mình một cách chặt trẽ, hoặc là họ lo sợ về sự trả thù của nông dân Pháp. Vị vua đã phản ứng với tình huống này bởi sự thấu hiển điển hình của ông ta trong việc nắm bắt tâm lý của binh lính.

Ngày hôm sau ( ngày 17), ông quay lại phía bắc tới Corbic-một thị trấn nằm trên sông Somme. Có lẽ ông đã cố gắng để vượt qua con sông, nhưngdường như sau đó ông lại muốn có một trận chiến để nâng cao tinh thần của người của mình lên. Và ông đã đạt được điều này, khi quân Pháp đồn trúxông ra và có một cuộc giao tranh ngắn gọn. Một nguồn tin sau đó khẳng định rằng tại đây-John Bromley của nhà Bromley, thuộc đạo quân củaStaffordshire, đã thể hiện một hành động cho thấy lòng dũng cảm tuyệt vời. Người bà con của ông ta là Sir Hugh Stafford, Lord của Bourchier-cũng là Hiệp sỹ cầm lá cờ của Guienne.

Trong một cuộc tấn công quyết định của người Pháp, nó (lá cờ của Guienne ) đã bị giằng ra khỏi bàn tay của ông ta (Sir Hugh Stafford). Nhưng JohnBromley đã lao vào hàng ngũ của đối phương và hạ gục tay binh sỹ người Pháp đã chiếm được nó và cướp lại được lá cờ. Trong những thế kỷ sau này hành động của ông ta là đáng nhận huy chương. Gia phả của gia đình của ông khẳng định rằng sau đó ông này được phép thêm vào tấm gia huy của Guienne một con báo vàng trên mặt đất đỏ, cho riêng mình ông ta.

Câu chuyện này vẫn chưa được chứng minh là đã thực sự xảy ra- nó có thể cũng không nhiều hơn là một huyền thoại được gây dựng – nhưng nó là những gì đã xảy ra trong vô số các cuộc giao tranh nhỏ ở thời Trung cổ. Nhưng việc khai thác lòng dũng cảm này thường là đủ để nâng cao tinh thần và lòng cam đảm của binh sỹ Anh về thế thượng phong của họ khi phải chiến đấu đối mặt với kẻ thù.

Có thêm những giải thích về những di chuyển của Henry vào ngày 17 và nó cũng thể hiện kỹ năng của ông với tư cách một nhà chỉ huy. Từ doanh trại của ông tại Boves không có gì để nói rằng ông lại không tiếp tục đi theo bờ trái của Somme. Cuộc tấn công của ôngvào Corbic được tiến hành để thuyết phục người Pháp rằng ông dự định cho quân đội của mình vượt sông. Trong thực tế ông không có ý định làm như vậy ( vượt sông ). Ông đã quyết định cắt ngang qua vòng lặp lớn của con sông ở giữa Corbic và Ham để tìm một lối đi không được bảo vệ. Có lẽ ông biết rằng tiền quân củaPháp đang đóng ở Peronne-điểm xa nhất của vòng lặp này;chúng tôi không thể chắc chắn về điều này.Dường như Henry đã đoán biết được ít nhiều về kế hoạch của người Pháp nên lúc này ông đã ra lệnh cho mỗi cung thủ phải chuẩn bị một cọc gỗ dài sáu foot ( 2 mét) và được vót nhọn ở đầu để làm phương tiện phòng ngự chống lại các đợt tấn công của kỵ binh.

Vượt qua sông Somme

Quân Anh trú qua đêm ở tại vùng Caix-Harbonniéres, nửa đường đến đích của họ. Vào ngày 18 họ tiến đến gần Neste, chỉ cách con sông này một vài dặm.

Vị giáo sĩ trong quân đội cho rằng “ đây là ý của Chúa “ khi mà một thông tin được mang đến chỗ nhà vua rằng có một điểm qua sông phù hợp. Tôi cho rằng Henry đã nhận thức được thực tế và dự địnhvượt qua con sông ở chỗ khe cạn Voyennes và Bethencourt. Người Anh bắt đầu vượt sông vào ngày hôm sau. Vào khoảng 8:00 sáng ngày 19 (khi có tia sáng đầu tiên?), Họ tiến vào một đầm lầy rộng lớn kéo dài hàng dặm nằm bên cạnh sông, vị Giáo sĩ nói rằng ông rất lo lắng khi quân đội Anh ở vào vị trí dễ bị tổn thương này, họ bị mắc kẹt giữa dòng sông Somme và một dòng đổ vào nó, nhưng quân Pháp không xuất hiện. Hai con đường đắp cao hẹp kéo dài về phía bên kia, cả hai con đường này đã bị người Pháp phá vỡ khúc ở giữa. Sông Somme ở đoạn này chỉ rộng một vài trăm thước, nhưng chủ yếu là đầm lầy và chỉ đến đầu gối, sâu đến thắt lưng.

Một phần của lực lượng tiên phong dưới sự chỉ huy của Sir Gilbert Umfrasille và Sir John Cornwall, một vài người cưỡi ngựa và một đám lẫn lộn gồm cả giáo binh và cung bộ đã băng qua những vùng nước nông để chiếm một đầu cầu. Nhưng khoảng không gian trên những con đường đắp cao chỉ đủ cho một kỵ sĩ tại một thời điểm, vì vậy người Anh phải bắt tay vào việc sửa chữa chúng. Rơm rạ, các bó củi và gỗ từ các nguồn khác nhau, trong đó có cả những tấm ghỗ được lấy từ các tòa nhà gần đó, đã được sử dụng để làm một con đường đủ rộng để cho ba con ngựa đi ngang nhau. Lực lượng chính của quân Anh bắt đầu qua sông vào giữa trưa.

Vì Henry sợ rằng kỷ luật có thể bị phá vỡ bởi quân của ông đã quá căng thẳng nên chính ông cũng đứng lên để điều khiển một hàng người và ngựa trên một con đường đắp cao, trong khi hai thuộc cấp tin cậy phụ trách theo dõi một hàng quân khác. Nguy cơ đến từ sức ép phải vượt sông thật nhanh chóng để được an toàn, hoặc sự hoảng loạn do việc lan truyền những tin tức của một vụ tấn công sắp xảy ra của quân Pháp, vì vậy có thể dễ dàng biến cuộc vượt sông thành một đám hỗn loạn.

Trên thực tế người Pháp đã phản ứng với di chuyển của người Anh. Ngay sau khi lực lượng tiền quân đã qua sông, nó đã bị tấn công bởi lính kỵ binh đến từ những ngôi làng ở gần đó. Đây có lẽ là những tiền đồn của lực lượng tiền quân Pháp có căn cứ ở Peronne và ¼ trong số họ đóng quân ở các làng xa xôi hẻo lánh. Rõ ràng là quân Pháp không có sự phối hợp trong việc đánh chặn quân Anh vượt sông.

Sau này các nhà sử gia Pháp đổ lỗi cho người đàn ông của St Quentin không gác đúng những chỗ vượt sông hoặc không phá hủy chúng. Vua Henry đã thành công trong việc cho đội quân nhếch nhác của ông vượt qua sông trước khi người Pháp có thể phản ứng. Toàn bộ quân đội của ông đã vượt qua sông một giờ trước lúc đêm xuống (khoảng 05:00). Ông không cho phép người của mình nghỉ ngơi mà bắt họ tiến lên ngay cả sau khi trời đã tối, họ đã đến được Athies nơi ông cho dựng doanh trại.

Tinh thần của quân Anh chuyển biến tốt hơn, theo ghi chép của vị giáo sỹ tuyên úy: “ Chúng tôi đã có một đêm chễ chịu ở các ấp lân cận, kể từ khi chúng tôi bắt đầu vượt sông, người Pháp đã bị lừa và chúng tôi cảm thấy vui sướng vì đã ước tính rằng sẽ rút ngắn được cuộc hành quân của chúng tôi lại khoảng một tuần. Và chúng tôi hy vọng rằng chắc chắn sẽ gặp lực lượng chính của đối phương, vốn được cho là đang đợi chúng tôi ở đầu của con sông… “

Một lần nữa vị giáo sỹ quân đội Anh lại quá ngây thơ. Nếu thực sự quân đội chính của người Pháp đóng ở đầu của con sông, một hoặc hai ngày hành quân về phía Đông thì con đường tới Calais đã được dọn sạch. Nhưng thật không may, tình huống này lại không phải như vậy. Lực lượng chính của quân Pháp đã ở đâu, người ta thường giả định rằng họ ở đâu đó trong vùng lân cận của Peroone. Athies chỉ nằm cách Peronne có bảy dặm một nửa ngày hành quân. Một số nhà bình luận hiện đại chú ý về thực tế này và về chiến trận sắp xảy ra.

Những thách thức để tổ chức trận chiến đã được gửi bởi Công tước de Bourbon và Công tước Orleans bởi ba vị sứ giả trong ngày 20 dường như xác nhận thực tế này. Nhưng người Pháp đã không thách thức trận chiến trong ngày hôm đó. Thay vào đó họ rút lui về Bapaume, một ngày dài hành quân về phía bắc. Các nhà sử gia hiện đại không thể tìm thấy lời giải thích. Một giải thích khá hiện đại là họ dự kiến Henry sẽ dùng tuyến đường phía bắc đển Calais và hy vọng ngăn chặn ông tại Aubigny-en-Artois, giữa Arras và St Pol. Điều này chắc chắn là chính đáng mặc dù nó không trả lời câu hỏi là tại sao lực lượng chính của quân đội Pháp đông gấp ba-bốn lần so với đối thủ của nó lại bất ngờ trở nên hèn nhát và rút lui.

Hơn nữa, lúc này quân Anh đã bị mắc kẹt và quay lưng của họ về phía con sông họ mà vừa mới vượt qua. Dường như nhiều khả năng là lực lượng ở Peronne chỉ là lực lượng tiên phong của quân Pháp, họ có thể xấp xỉ ngang bằng hoặc ít hơn một chút so với số lượng quân Anh. Dường như họ (lực lượng tiên phong Pháp ) đã đến được Peronne trong ngày 18, sau cuộc đụng độ tại Corbic và sau đó mất liên lạc với kẻ thù, những người đã tiến về phía nam tới Nesle. Vào ngày hôm sau thì đã quá muộn để ngăn chặn cuộc vượt sông.Vậy trong khi đó, đội quân chính của người Pháp đã làm gì? Như chúng ta đã thấy, sớm nhất thì đội quân này không cũng không thể đến được Amiens trước ngày 17 .

Đây là một lực lượng rất lớn. Bao gồm cả những người đi theo doanh trại, nó có thể lên đến 50.000 người. Trong trường hợp này con đường ở bờ sông bị chiếm giữ bởi đội quân tiên phong, nhưng tuy nhiên họ cũng có nhiệm vụ theo dõi đội phương một cách chặt chẽ, như vậy là quá sức. Các con đường thì quanh co uấn khúc và các bên bờ của sông Somme có nhiều đầm lầy, đặc biệt là với những cơn mưa nặng hạt vào tháng Mười.

Một tuyến đường thực tế hơn cho một đội quân lớn, vốn bị vướng víu với những đoàn xe và những đồ cá nhân sẽ là tuyến đường qua Bapaume, ở khoảng một vài ngày ở phía bắc. Hơn nữa, khu vực xung quanh Peronne không thích hợp để điều động một lực lượng lớn với rất nhiều ngựa. Rất ít làng mạc và địa hình nhiều đầm lầy. Mặt khác Bapaume, cung cấp đầy đủ cơ sở vật chất cũng như là một địa điểm tốt để chặn đứng bất kỳ di chuyển nào của quân đội Anh về phía tây-bắc.

Tại thời gian này, Pháp vẫn hy vọng rằng Henry sẽ buộc phải hành quân đến vùng đầu nguồn sông Somme, phía đông của St Quentin. Sau đó có thể họ sẽ cần phải tiến đến Cambrai, thế là lại một lần nữa, Bapaume lại chở thành một vị trí hoàn hảo. Nếu chúng ta chấp nhận rằng đạo quân chính của người Pháp đã di chuyển trực tiếp đến Bapaume, nó làm cho hành động của người Pháp có thể được giải thích một cách dễ dàng. Đội tiền quân Pháp đã không muốn đơn độc một mình họ đương đầu với quân Anh.

Họ đã lên kế hoạch liên tiếp rút lui và nó đã được chứng minh là cần thiết. Một tài liệu đã được phát hiện gần đây (sẽ được thảo luận chi tiết sau) cung cấp cho chúng tôi một kế hoạch về trận chiến, vốn được soạn thảo bởi các chỉ huy của quân Pháp ( 2 vị Nguyên soái và Thống chế ) để đánh bại chiến thuật trường cung của Anh bằng cách đánh tạt sườn. Nhưng một khi người Anh đã qua sông thì lực lượng chính của quân Pháp lại phù hợp để tham chiến. Người Pháp muốn chiến đấu – nhưng trận chiến vẫn chưa thể xảy ra.

Đương nhiên là Henry đã không thể biết về những điều này. Câu trả lời cho lời thách thức là rằng ông dự định hành quân thẳng đến Calais. Từ lúc đó ông luôn mặc áo có gia huy của mình trong mọi lúc, một biểu tượng để thể hiện rằng ông chuẩn bị cho một trận chiến vào bất cứ lúc nào. Quân Anh đã không di chuyển trong ngày 20. Đó là một ngày nghỉ có giá trị sau khi hành quân vất vả và vượt sông Somme một cách vội vàng. Ngoài ra, Henry có thể đã hy vọng về một cuộc tấn công. Quả thực có thể thách thức của người Pháp đã làm cho ông ta chốt tại địa điểm này trong khi lực lượng tiền quân Pháp lại liên tục rút lui. Tình hình đều phù hợp với cả hai bên để nổ ra một trận chiến.

Hành quân đến Agincourt

Xuất phát một lần nữa vào ngày 21, quân Anh đi qua Peronne ở phía bên trái. Kỵ binh Pháp tiến ra để giao tranh, nhưng khi các kị binh Anh được tung ra để chống lại họ, họ đã bỏ chạy vào thị trấn. Ở cách đó chỉ một dặm, vị giáo sỹ tuyên úy ghi lại rằng họ đãđi ngang qua một đội quân rất lớn – một nhắc nhở bi quan về sựchênh lệch số lượng mà họ phải đối mặt. Quân đội Anh đã trú đêm trong khu vực Mametz-Fricourt. 

Quân Pháp bám theo bằngmột tuyến đường song song xa hơn mười dặmvề phía đông bắc. 

Trong ngày 22 quân Anh đi qua tuyến đường thông qua Albert (sau đó được gọi là Ancre) xa tới tận Forceville và Acheux. Người Pháp-luôn đi trước đối thủ của họ, có thể đã đến Coullement. Vào ngày 23 người Anh vượt qua Doullenstới Bonnicres và Frevent, trong khi quân Phápđã đến St Pol. Con sông Rernoise đang nằm trước mặt và Henry dự định để vượt qua nó ở Blangy.

Ông ta đã vượt được con sông này, mặc dù các nguồn khác nhau thì khác biệt ở chỗ ông đã vượt qua con sông này trước hay sau cuộc chiến với lực lượng bảo vệ cây cầu. Trong khi quá trình vượt sông đang diễn ra, các trinh sát của Henry báo cho ông ta biết rằng đối phương đang đóng quân chỉ các đó nửa dặm ở bên phải ông, quân Pháp đã hình thành đội hình chiến đấu.

Nhưng vẫn không có trận chiến nào trong ngày hôm đó. Người Pháp di chuyển về phía Bắc đến Agincourt và Ruisseauville, nơi họ cắm trại qua đêm. Henry theo dõi một cách thận trọng, lo ngại rằng họ có ý định di chuyển xung quanh khu rừng để tới cánh trái của ông ta và tấn công quân của ông ở bên cạnh sườn. Nhưng đó lại không phải là ý định của người Pháp. Phần lớn quân đội Pháp đóng quân tại con đường bộ tới Calais.

Henry đã tiến đến ngôi làng Maisoncelles. Quân đội của ông chen chúc xung quanh vài ngôi nhà ít ỏi của ngôi làng này để tránh những cơn mưa dữ dội phủ kín cả những vườn hoa và vườn cây thông.

Cách đó chỉ chưa đầy một dặm về phía Bắc, quân Pháp đã đốt những ngọn lửa rất lớn và thiết lập các trạm canh gác để ngăn chặn mọi cố gắng của quân Anh để chuồn đi trong đêm.

Theo nhiều ngồn tài liệu của người Anh, từ phía doanh trại thấp thoáng ánh lửa của họ đã phát ra những âm thanh của rất nhiều những con ngựa và những người hầu của quân đội chính của Pháp đang làm nhiệm vụ của mình ( mỗi kị sỹ có ít nhất 2 người hầu để chăm sóc ngựa và mang binh khí dự trữ cho ông ta ), trong khi người Anh lại chơi nhạc để nâng cao tinh thần của họ. Vì vậy, điều này đã thuyết phục nhiều người Anh rằng họ sẽ được gặp thần chết của họ vào ngày hôm sau, họ đã thú nhận về tội lỗi thuyết phục, hôn thánh giá và giàn hòa Chúa ( vì quân Anh là đám văng mạng đốt nhà, giết người, cướp của… nên khi chuẩn bị chết họ muốn xưng tội và được rửa tội-một tập tục của người Kitô giáo )

Trận chiến Agincourt

Đối với trận chiến chính chúng tôi may mắn sở hữu không ít hơn bốn tài liệu nhân chứng cho trận chiến, từng đó là quá nhiều đối với bất kỳ trận đánh nào, nhưng đối với thời trung cổ thì đây là một cố gắng phi thường. Hơn nữa là hai trong số người lại tham chiến ở mỗi bên khác biệt. Về phía doanh trại của quân Anh-người mà chúng ta đã được biết đến-vị giáo sĩ của Henry và trong lúc chiến đấu là Jean le Fevre, Lord của Remy. St. St Remy cũng biết nhiều người trong quân đội Pháp và đã tập hợp thông tin từ bọn họ để viết quấn biên niên sử của ông. Cùng đi theo quân đội Pháp là Enguerrand de Monstrelet và Waurin ( cả hai sử gia này đều được bảo trợ bởi công tước xứ Burgundian).

Có một số nguồn tin quan trọng đóng góp cho ý tưởng của chúng tôi về những gì đã xảy ra. Ở phía Anh trang hai biên niên được trích ra chủ yếu từ quấn “ the Life” của vị giáo sỹ của quân Anh, trong khi về phía người Pháp, Pierre de Fenin và Juvenal des Ursins đã cung cấp những cái nhìn về trận chiến trong một bối cảnh chính trị rộng lớn hơn. Công tước xứ Wellington luôn không coi trọng những nỗ lực để xây dựng lại trận chiến ( bởi các nhà sử gia ) và coi nó như là phù du trong đời thường.

Nhưng với nhiều nhân chứng thứ tự của các sự kiện có thể vẽ một bức tranh khá chính xác.Hơn nữa, những khám phá gần đây của một nhà nghiên cứu trẻ tuổi về một bản thảo rất quan trọng trong British Library đã cho chúng ta một ý tưởng rất đặc sắc nhưng nó thường bị từ chối bởi các sử gia. Đó chính là kế hoạch tác chiến của quân Pháp trong hiến dịch Agincourt-nó phác thảo các triển khai và chiến thuật của người Pháp mà họ hy vọng sẽ đánh bại người Anh. Nhưng nó không phải là chiếc duy nhất – vẫn còn một kế hoạch chiến đấu của Burgundy ( những người Burgundy chiến đấu trong QĐ Pháp, về sau họ lại liên minh với người Anh ) vốn tồn tại hai năm sau đó-

Nhưng nó là một vật khá hiếm và nó cho phép chúng ta tái tạo lại trận chiến theo cách mà chúng ta bao giờ làm. Cho đến bây giờ các sự kiện bên phía người Anh là khá sẵn có, phía người Pháp lại không được như vậy. Tầm quan trọng của nó, những tài liệu mới được khám phá này sẽ được giải thích và in ấn một cách đầy đủ đặc biệt là các sự kiện có liên quan đến thực tế.Kế hoạch tác chiến của người Pháp

Có vẻ rõ ràng rằng kế hoạch này đã được soạn thảo để áp dụngbởi Thống chế Boucicault và Nguyên soái d’Alhret, những người chỉ huy lực lượng tiền quân Pháp. Như chúng ta đã thấy, d’Albret đã cho di chuyển lực lượng của mình từHonfleur đến Abbeville và đã hội binh với lực lượng của Boucicault vào ngày 13-lực lượng này vốn trước đó có tác dụng để quấy rối bước tiến của quân Anh. 

Những chỉ huy khác của người Pháp đã được đề cập bởi các sử gia hiện nay là:Bá tước của Venditme, Lord của Dampierre, Công tước Alençon, Bá tước của Richentont ( đi cùng làLord của Combourg và Bertrand de Montauban-người sát cánh cùng ông tatại cuộc bao vây ở Parthenay) và David Rambures-người chỉ huy các tay nỏ. Trong khi đó Guichard Dauphin-Lord của Jaligny đang tiến hành bảo vệ khe cạn Blanchetacque. Tất cả những người này (ngoại trừ Dampierre) sẽ được đề cập trong kế hoạch chiến đấu. Hai cái tên khác là Bá tước của Eu và Louis de Bosredon cũngđượcbiết là đã tham gia chỉ huy trong chiến dịch này.

 Ngoài Dampierre, tên của cácchỉ huy Clignet de Brabant và Bastard của Bourbon cũng bị bỏ qua. Đây là những nhân vật chính trong tài các tài liệuở thời gian đó và rất đáng ngạc nhiên là họ đã không được đề cập đến. Có lẽ họ đã được bao gồm trong nhóm của “ các lãnh chúa khác, những người không được nêu tên ở nơi này“.

Đội quân tiên phong của Pháp chỉ có khoảng 6.000 quân, ngang bằng về số lượng hoặc ít hơn một chút so với quân Anh. Điều có thể giải thích tại sao họ thường tránh giao chiến với người Anh là trong số họ có nhiều người hầu, những người đi cùng chủ nhân-những kị sỹ để chăm sóc những nhu cầu của họ về ngựa và trang thiết bị, tất nhiên là những người này không thạo chiến trận. Kế hoạch này có thể đã được vạch ra ở một khoảng thời gian nào đó từ 13-20 tháng 10, khi đội quân tiên phong hội quân với đạo quân chính tại Bapaume. Nó ( đạo binh kết hợp này ) có thể được dùng để đối phó với người Anh nếu họ vượt sông Somme tại bất kỳ thời điểm nào khi họ hành quân về phía nam từ Blanchetacque.

Theo lựa chọn này thì không cần phải thảo ra một kế hoạch cho đến ngày 19, khi mà lực lượng Pháp tại Peronne biết được rằng người Anh đã thực sự vượt qua con sông. Như chúng ta đã thấy, bất chấp một lời thách đấu vào ngày 20, nhưng đã không có gì thực sự xảy ra với việc lực lượng tiền quân Pháp vẫn đang nghỉ ngơi một cách an toàn trong lực lượng chính. Một điều rất quan trọng là dường như Henry đã đoán biết được ý định của Pháp là sử dụng kỵ binh để tấn công vào các cung thủ từ ngay khoảng ngày 17 tháng 10 ( vì vậy ông bắt các cung thủ của mình đi tìm kiếm các cọc gỗ rồi vót nhọn ), mặc dù điều này không có nghĩa là kế hoạch đã hoàn thành hoặc là người Anh đã biết về nó nhiều hơn ở mức mơ hồ.

Đáng chú ý là nhiều khía cạnh của kế hoạch dường như đã được đưa vào ứng dụng tại Agincourt, mặc dù sự gia tăng về số lượng của quân đội Pháp đã làm cho nó chở nên không thể thực hiện – và trong thực tế nó đã dẫn đến một thảm họa. Tuy nhiên nó vẫn vốn là một tập hợp các chiến thuật rất khôn ngoan được thiết kế để hóa giải và đánh bại vũ khí tối thượng của người Anh-lực lượng cung thủ trường cung của họ. Bên phía Pháp những người được đánh dấu (+) là những người đã tử trận, những người được đánh dấu (P) bị bắt tù binh.

Chi tiết Kế hoạch của người Pháp

Đây có vẻ là những gì tốt nhất mà Thống chế Boucicault (P) và các Lord đi cùng ông ta, nằm dưới sự chỉ huy của các Công tước Alencon (+) và Richemont (P) và Nguyên soái Lord d’Albretl (+) với sự hướng dẫn của các lãnh chúa đã nói ở trên để điều hành trận đánh.

Đội hình chiến đấu của người Pháp được hình thành bởi đặc trưng về ngôn ngữ ( các vùng miền Bắc và Nam nước Pháp cũng có những ngôn ngữ khá khác nhau chưa kể người Đức, người Burgundy… trong quân đội Pháp ), và tuổi tác, nó đơn giản nhưng hiệu quả trong việc thi hành mệnh lệnh, làm cho chúng ta hiểu được kế hoạch của người Pháp bao gồm những ai, ở đâu và như thế nào. Những sự xắp xếp này có mục đích để áp chế lối triển khai điển hình của người Anh và đánh bại họ bằng mọi sức mạnh của mình.

Những kị sỹ cưỡi ngựa hình thành thêm một đội quân nữa và họ được sử dụng để đánh tan và loại bỏ loại vũ khí đáng sợ nhất của đối phương-các cung thủ trường cung Anh. Việc sử dụng các thị đồng-người hầu là rất sáng tạo, nó cho thấy Boucicault và d’Albret đang cố gắng để sử dụng tối đa lực lượng khá nhỏ của họ bằng cách triển khai cả những người thường không tham gia vào trận chiến. không phải họ vô dụng về mặt quân sự, mà họ không thể có khả năng như những sergeant ( lúc này không biết có ý là gì ) hoặccoustilliers ( những người sử dụng thanh trường kiếm của họ với kỹ năng tương đương các Hiệp sỹ ), họ có thể cưỡi ngựa và sử dụng thanh kiếm có hiệu quả.

Trong khi chiến đấu với các cung thủ vốn được trang bị hạng nhẹ, hoặc tấn công bất ngờ vào phía sau lưng đối phương, họ thiếu áo giáp nhưng điều này có thể được cho là không quan trọng.Những điểm chính trong kế hoạch của quân Pháp:

(1) loại bỏ lực lượng cung thủ trường cung Anh bằng một lực lượng dưới sự chỉ huy của Vị chỉ huy quân bắn nỏ xuất hiện từ phía sau đội hình của người Pháp, đội quân này phải tiến thật nhanh và lao vào cánh phải của đối phương,

(2) đồng thời gây ra những hỗn loạn bởi một cuộc tấn công vào phía sau,

(3) phối hợp giữa cuộc tấn công của kỵ binh với những đợt tiến quân của bộ binh-những kị sỹ đã xuống ngựa chiến đấu ở cánh trung tâm và các thường binh ở bên sườn, những người sẽ đáp trả những loạt tên của trường cung Anh bằng những phát nỏ của riêng mình, tấn công vào quân Anh mà không phải chịu những thương vong nặng nề từ quân cung thủ Anh và qua đó giành chiến thắng trong ngày.

Như chúng ta sẽ thấy, cách sắp xếp quân đội và chiến thuật của người Pháp tại Agincourt là cố gắng chỉ để áp dụng những biện pháp tiếp cận như vậy. trước khi quan sát những bước di chuyển tiếp theo của họ thì ta hãy quay lại và quan sát đội hình của quân Anh tại Agincourt.

Đội hình chiến đấu của quân Anh

Rất đáng ngạc nhiên khi cho rằng có điều gì mới trong đội hình chiến đấu của quân Anh. Trong rất nhiều năm người ta đã chấp nhận rằng Henry cho xen kẽ một dòng các kị sỹ xuống ngựa và xen vào với các cung thủ. Theo Trung tá Alfred Burne-một nhà nghiên cứu trong và sau thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, đây là việc tạo nên đội hình của người Anh ở Crecy và nó cũng là cách lập đội hình của họ trong suốt Chiến tranh Trăm năm.

Đây là cách mà ông ta giải thích ý nghĩa của từ “herce”, được sử dụng bởi nhà sử gia Froissart để mô tả cách triển khai các cung thủ trong trận chiến. Burne nói rằng nó có nghĩa là ” cái bừa”, một dụng cụ được sử dụng trong nông nghiệp với tác dụng để cầy ải mặt đất trước khi gieo. Vì vậy, ông cho rằng cách tạo đội hình “ herce” của các cung thủ có nghĩa là một hình thành hình tam giác, với một cái nêm nhô ra về mặt trước của trận chiến. Ông cũng đã đi xa hơn trong việc chia quân Anh thành ba đạo binh ( đó là đội hình thông thường bao gồm lực lượng tiền quân, lực lượng chính và lực lượng hậu đội ) và xen kẽ giữa ba đạo binh là là các tay cung thủ trường cung.

ung.

Đội hình chiến đấu của quân Anh trong trận Agincourt
Bên trái: Theo dự kiến củaAlfred Burne, các cung thủ đứng xen kẽ trong ba đạo quân chính.
Bên phải: Theo dự kiến của Jim Bradbury, các cung thủ đứng ở hai bên cánh của ba đạo quân chính

Thật không may, kế hoạch này hoàn toàn là sáng tạo của Burne. Cuốn sách “ Cung thủ thời Trung cổ” của Jim Bradbury gần đây đã nghiên cứu cẩn thận các bằng chứng và kết luận rằng các cung thủ không bao giờ đứng xen kẽ trong đội hình trận chiến chính. Trong thực tế, kiểu bố trí này (các cung thủ đứng xen kẽ trong đội hình trận chiến ) sẽ làm suy yếu một cách đáng kể đội hình chiến đấu của người Anh, qua đó các hiệp sĩ bọc thép có cơ hội để tấn công các cung thủ không được thiết giáp-đây là cách mà có thể người Pháp đã mong muốn để đánh tan lực lượng cung thủ một cách nhanh chóng. Thay vào đó, Bradbury cho rằng các cung thủ luôn được triển khai ở các bên cạnh sườn của các kị sỹ, mặc dù họ ( các tay cung ) thường có xu hướng tiến lên phía trước để bắn trực tiếp một cách tập trung vào lực lượng đối phương đang tiến lên.

Cung thủ và cọc nhọn, người Pháp vẫn chưa có chiến thuật hiệu quả để chiến thắng chiêu này của người Anh

Tình huống đã không hề dễ dàng như sự khẳng định của vị Giáo sỹ rằng các cung thủ đã đứng xen kẽ trong đội hình trận chiến của người Anh. Có hai vấn đề ở đây, một là chắc chắn là vị giáo sỹ này đã sai lầm. Ông này đã nấp ở toa hành lý trong suốt cuộc chiến, quãng một ngàn mét ở phía sau đội hình chính. Một phiên bản từ một người đã thực sự tham gia vào trận chiến mô tả các cung thủ được tập hợp ở các bên cánh. Vấn đề thứ hai là vị Giáo sỹ đã sử dụng từ “cuneus”, hoặc xen kẽ để mô tả việc tổ chức đội hình của người Anh và điều này dường như phù hợp với ý tưởng của Burne.

Tuy nhiên thuật ngữ “ Cuneus” không chỉ có nghĩa là cái nêm ( ý nói đứng xen kẽ ) mà còn cs nghĩa là quân lính, đội quân, toán quân … trong ý nghĩa quân sự của nó. Vì vậy, quan điểm này có thể được xem như là một sự hiểu nhầm. Vậy thuật ngữ “ herce “ (Thuật ngữ này không thực sự được sử dụng bởi bất kỳ tác giả để mô tả các cung thủ tại Agincourt.) Bradbury đưa ra một dẫn xuất khác: nó cũng có thể có nghĩa như một chiếc “hàng rào” hoặc thậm chí giống như lông của một con nhím.

Điều này làm cho nó có cảm giác hoàn hảo, kể từ khi những chiếc cọc được vót nhọn của các cung thủ đã được cắm xuống đất và tạo ra một cái gì đó giống như một chiếc hàng rào chướng ngại vật. Tôi muốn đào sâu thêm nữa về khía cạnh này. Nếu chúng ta giữ lại ý nghĩa của từ “harrow-cày bừa” và thực sự nhìn vào dụng cu này, chúng ta có thể thấy rằng nó tạo thành một hệ thống kẻ ô.

Nếu mô hình này được sử dụng để triển khai các cung thủ, mỗi người đứng sau một chiếc cọc nhọn ( dài 2m ) của anh ra, thì nó sẽ hình thành lên một thế trận phòng ngự tuyệt vời. Rất rất nhiều nhà sử học đã giả định rằng các cây gỗ vót nhọn đầu đã được lập lên thành những hàng rào cọc nhọn, nhưng như John Keegan đã chỉ ra trong quấn “ The Face of Battle”, thì đây là một rào cản-chướng ngại vật quá thiếu linh hoạt.

Tốt hơn chúng ta nên hình dung một bàn cờ rộng, có rất nhiều lớp theo chiều sâu, cho phép mỗi tay cung thủ có thể quan sát và bắn qua đầu của những người ở phía trước. Đội hình này không những tạo nên những chướng ngại vật mà kị binh không thể xuyên thủng, mà còn mà còn cho phép các cung thủ di chuyển một cách linh hoạt trong khu vực có cắm cọc gỗ nhọn. Đây là những gì mà vị Giáo sỹ có đề cập tới.

Theo thông tin được tiết lộ bởi một số tù nhân, có một tin đồn luẩn quất xung quanh quân đội Anh rằng chỉ huy của phía đối phương đã phân công nhiệm vụ một cách rõ ràng cho hàng trăm hiệp sĩ thiết giáp thật nặng và cưỡi ngựa, để phá vỡ đội hình và sự kháng cự của các cung thủ của chúng ta khi trận chiến bắt đầu.

Do đó nhà vua đã ra lệnh cho tất cả những tay cung trong quân Anh phải chuẩn bị cho mình mỗi người một chiếc cọc nhọn; có thể là cọc hình vuông hoặc tròn, nhưng phải có độ dài chừng 6 foot, đủ cứng để chịu lực và được gọt nhọn ở cả hai đầu. Và ông đã ra lện rằng bất cứ khi nào trong trận chiến, quân Pháp tiếp cận để phá vỡ hàng ngũ của họ bằng lực lượng chính gồm các kị sỹ, tất cả các cung thủ phải hướng những chiếc cọc nhọn của họ về phía trước mặt theo đội hình một hàng dọc và một số người trong số họ đứng ở phía sau và ở giữa các vị trí của hàng phía trước, đến tận người đứng cuối hàng đứng điều khiển trên mặt đất, trong khi những người khác hướng những chiếc cọc nhọn về phía đối phương ở tầm cao trên eo lưng.

Vì vậy, rằng các kỵ binh trong khi tấn công sẽ lao tới gần và khi nhìn thấy các cọc nhọn thì họ sẽ hoặc là phải hoảng sợ mà rút lui hoặc thiếu thận trọng trong việc bảo đảm an toàn cho cả người và ngựa của chính mình khi tiếp tục lao vào những cọc gỗ nhọn.

Tầm quan trọng về việc nắm được thông tin về ý định của đối phương đã ảnh hưởng vào cách xắp xếp đội hình này. Người Pháp đã không biết một chút gì về kế hoạch của Henry kể từ khi ông vượt sông Somme một cách an toàn, nhưng ông nàylại có thông tin về ​​chiến thuật dự định của họ. 

Theo những gì thu thập được mà người Anh đã chuẩn bị một ưu thế trong phòng ngự, mặc dù có thể là không có vẻ như vậy vào buổi sáng của Ngày củaThánhCrispin trong năm 1415. St Remy nói rằng rất nhiều người có khả năng có đủ thông tin trong quân đội Pháp lại khôngtin rằng lại có thể xảy rabất cứ trận chiến trong ngày hôm đó. Bởi vì rõ ràng là họ đang nắm lợi thế với một số lượng người tham chiến với tỷ lệ 4-1 so với người Anh và không có một cơ hội nào cho Henry để có thể thoát khỏi chỗ này, và có vẻ như một cuộc đàm phán đầu hàng nhục nhã đã được áp đặt vào ông ta.

Các cuộc đàm phán và Quyết định bắt đầu Trận chiến

Các cuộc đàm phán chỉ diễn ra sau khi các lực lượng đối nghịch đã dàn trận xong xuôi cho trận chiến. Một số nguồn tài liệu cho rằng có những liên hệ tiếp xúc đã được tiến hành từ đêm hôm trước, kể từ lúc Henry đã cảm thấy lo lắng và muốn tránh một trận chiến với một tỷ lệ quân số trênh lệch như vậy. St Remy cho rằng người Pháp muốn Henry từ bỏ yêu cầu của mình tới vương miện của nước Pháp, cùng với thành phố cảng Harfleur vốn vừa mới bị chiếm bởi ông ta, trong khi cho phép ông ta vẫn tiếp tục giữ lại vùng Guienne.

Đáp lại, Henry đòi quyền nắm giữ vùng Guienne, 5 thành phố trực thuộc nó, quận hạt Ponthieu và kết hôn với Katherine-con gái của vua Charles, với một món của hồi môn lên tới 300.000 đồng curon, để đổi lại ông cũng chuẩn bị từ bỏ yêu cầu về ngai vàng và thành phố Harfleur. Bởi vì những tuyên truyền và những nỗ lực của Henry kể từ khi ông mới lên ngôi là để hướng vào thực thi yêu cầu của ông về vương miện Pháp, mặc dù của phần còn lại trong những yêu cầu của ông có vẻ như rất táo bạo, nó cũng còn cho thấy một sự xuống thang.

Bất chấp việc các cuộc đàm phán đã được tiến hành một cách nghiêm tục nhưng vẫn còn một số điểm đáng nghi ngờ trong đó. Trong khi St Remy cho thấy rằng rất nhiều người trong doanh trại của quân Pháp nghĩ rằng một cuộc chiến là điều không cần thiết, thì Monstrelet-người đã thực sự ở trong đó lại nói rằng những viên chỉ huy khôn ngoan lại thấy rằng điều này hoàn toàn có khả năng xảy ra.Cả hai bên đã dàn đội hình trận chiến đấu vào khoảng 08:00. Trong thời gian trì hoãn, người Pháp ngồi xung quanh các lá cờ của họ, ăn sáng, cười nói và tha thứ cho nhau về những cãi vã của họ trước đó.

Người Anh cũng tranh thủ cơ hội để ăn bất cứ thứ gì còn sót lại trong khẩu phần ít ỏi có sẵn của họ. Sau hai giờ hoặc nhiều hơn nữa. Người Pháp đã không di chuyển, và tin tưởng một cách đúng đắn rằng Henry phải đẩy lùi được họ để tiến tới được Calais và do đó ông ta sẽ rơi vào tay của họ. Nhà vua Anh yêu có các tư vấn từ các lãnh chúa có kinh nghiệm nhất của ông. Tất cả đồng ý rằng không thể đạt được bất cứ một điều gì bằng cách chờ đợi. Quân Anh đang bị suy yếu do bệnh tật và đói khát và không giống như quân Pháp vốn đang ở trên lãnh thổ thân thiện, người Anh không có cơ hội để đi thu thập lương thảo. Lựa chọn duy nhất là tấn công, chấp bất kỳ mọi rủi ro.

Sau đó, Henry đã ra lệnh cho lực lượng nhỏ bé của mình tiến lên để chống lại một đội quân rất lớn đối đang đối diện với họ.Henry đã cực kỳ quan tâm trong việc giữ các kị sỹ và cung thủ của mình theo đúng đội hình và họ tiến lên một cách từ từ để không bị kiệt sức khi phải di chuyển trên mặt đất lầy lội và ướt sũng. Khi họ đã vào đến tầm bắn nỏ của đối phương, có lẽ là khoảng một furlong (220 yard, 200 mét), người Anh chiếm vị trí của họ.


Bản đồ cho thấy quân Anh tiến lên khoảng 1.000 mét để nghênh chiến với quân Pháp.

Quân Anh triển khai

Henry V và quân Anh trước trận Agincourt

Chúng tôi đã xem xét việc triển khai đội hình của quân Anh ở một số chi tiết. Đứng ở cánh trung tâm là 900 kị sỹ ở xung quanh các lá cờ của nhà vua và các nhà đại quý tộc. Henry cho phất lên lá cờ Trinity của St George, St Edward và gia huy của chính mình. Các Công tước Gloucester, Công tước xứ York, Bá tước của March, Bá tước của Huntingdon, Bá tước của Oxford, Bá tước của Kent và các Lord của Roos và xứ Cornwall (Những hiệp sĩ chỉ huy giàu kinh nghiệm thuộc đạo quân tiên phong ) cũng dương cao những lá cờ của họ cùng với nhiều vị lãnh chúa khác. Nhà vua Anh cưỡi một con ngựa nhỏ màu xám (kích thước của nó đã cho thấy nó không phải là một con ngựa chiến) và cũng không đeo cựa. Điều này cho thấy rằng ông sẽ xuống ngựa và chiến đấu trên bộ cùng với người của mình.

Đầu tiên, ông cưỡi ngựa dọc theo hàng quân để làm một bài diễn văn cổ vũ tinh thần chiến đấu dũng cảm của binh lính; ông nói rằng ông tiến vào Pháp để khôi phục quyền thừa kế hợp pháp của mình và rằng ông đã có một điều mong muốn và đó chính là yêu cầu về ngai vàng nước Pháp và chắc chắn là ông sẽ chiến đấu về điều này và rằng họ nên nhớ họ được sinh ra ở vương quốc Anh, nơi mà lúc này vợ con, cha mẹ của họ đang cư ngụ và do đó họ phải phấn đấu để trở về đó với vinh quang và danh tiếng; rằng các vua của nước Anh-những người tiền nhiệm của ông, đã có được nhiều trận thắng thành công và vang dội trước người Pháp, và rằng vào ngày đó tất cả mọi người cần nỗ lực để bảo vệ cuộc sống của chính mình và danh dự cũng như vương miện của Nhà vua Anh.

Hơn nữa ông ta cũng nhắc lại rằng người Pháp đã khoe khoang rằng họ sẽ chặt đứt ba ngón tay từ bàn tay phải của mỗi cung thủ Anh mà họ bắt làm tù binh để những người này không bao giờ có thể nhắm bắn vào người và ngựa của người Pháp được nữa (St Remy).

Các cung thủ được triển khai trên phần sườn của toán quân trung tâm nhỏ bé. Người ta không rõ có phải rằng là họ cắm những chiếc cọc của họ vào lúc bắt đầu của ngày hôm đs. Quyết định tiến lên, Henry cho di chuyển lực lượng của mình hàng trăm yard về phía trước và quân Anh ở các bên sườn có thể nghỉ ngơi ở khoảng giữa khu rừng Agincourt và Tramecourt.

Ở vị trí mới một số cung thủ thấy họ được che khuất từ phía vùng ngoại vi của rừng và điều này đã tạo ra một sự bảo vệ rất tốt. Đây có thể là nguồn gốc của một tuyên bố rằng Henry đã gửi một đội quân tấn công bên sườn đặc biệt gồm 200 cung thủ đến Tramecourt nhằm mục đích khởi động một cuộc phục kích vào quân Pháp.

Monstrelet nói rằng họ vượt qua một cánh đồng gần ở gần đó, nơi mà toán tiền quân Pháp đóng quân và ở lại đó mà không bị phát hiện cho cho đến khi họ bắt đầu hành động. Nó cho chúng ta biết rất nhiều về tinh thần của thời kỳ mà St Remy mạnh mẽ bác bỏ “ lời cáo buộc tội” này, khi ông nhìn đọc nó và nói rằng “ những người được vinh danh vào ngày hôm đó là những người trong Đại đội của nhà Vua của nước Anh và tôi đảm bảo rằng tài liệu này là không đúng sự thật “ bởi những người Pháp có tham dự trận chiến nhưng không phải ở chính xác chỗ đó.

Có vẻ như khả năng lực lượng này ( 200 cung thủ Ang ) đã cơ động cùng với các kị sỹ Anh-những người đã cho các cung thủ Anh ngồi sau lưng mình.Thế còn người Pháp, những người vẫn chờ đợi người Anh tiến lên một cách thụ động thì chuyện gì đã xảy đến với họ.Quân Pháp triển khai Người Pháp triển khai đội hình chiến đấu theo kiểu truyền thống gồm 3 đạo quân: tiền quân, trung quân và hậu quân. Sự trật hẹp về mặt không gian đã làm cho chắc chắn rằngđạo quân này ở ngay phía sau đạo quân kia, mặc dù điều này có thể cũng là ý định của các chỉ huy Pháp. Những tài liệu đương đại đánh giá số lượng quân người Pháp từ 30.000 đến 150.000 người. Người ta chỉ chắc chắn một điều ra lực lượng này rất lớn. Những sử gia-những người có mặt tại trận chiến nói rằng quân Pháp đông gấp từ 3-6 lần so với quân Anh. Thường thì cũng khá là không chính xác về mặt số lượng nếu lấy theo các tính toán của các nhà văn từ thời trung cổ, nhưng một số lượng 20-30,000 binh lính là điều không có gì là không hợp lý cả.

Có rất nhiều lãnh chúa đã tham dự trận đánh, và mỗi người lại có một đoàn tùy tùng rất đông đảo, nên ước tính của Burne là quân Pháp có khoảng 25.000 cũng là điều hoàn toàn hợp lý.Monstrelet, người đã chiến đấu trong trận chiến, đã cung cấp những tài liệu tiết nhất. Ông nói rằng đạo quân đầu tiên có 8.000 “ bascinets” (có nghĩa là 8 nghìn kị sỹ), 4.000 cung thủ và 1.500 tay nỏ. Đạo quân này được chỉ huy bởi vị Nguyên Soái Pháp-người được tháp tùng bởi các Công tước Orleans và Bourbon, các Bá tước của Eu và Richemont, Thống chế Boucicault, Lord của Dampierre-Đô đốc của Pháp và Guichard Dauphin. David de Rambures-chỉ huy lực lượng bắn nỏ cũng ở trong đội tiên phong, mặc dù theo kế hoạch ban đầu ông được giao chỉ huy lực lượng tấn công bên cánh.

Lực lượng kị binh của ông lúc này được trao cho Bá tước của Vendome-người được giao 1.600 để tấn công vào cánh trái. Bên cánh phải Clignet de Brebant được giao nhiệm vụ với 800 kị sỹ và tất cả các tay giáo. Các chỉ huy khác của Pháp, những người có tầm quan trọng đặc trưng trong trận đánh này là anh em nhà Saveuse, William ( những người mà chúng ta sẽ nghe đến sau này), Hector và Philip, Ferry de Mailly, Aliaume de Gapaines, Allain de Vendonnc, Lanion de Launay và những người khác. Các lực lượng kị binh tấn công bên sườn dường như được triển khai ngang hoặc hơi tiến lên phía trước so với đạo quân đầu tiên.

Đứng đằng sau đạo quân này là đạo quân thứ hai, nó có kích thước tương tự hoặc hơi nhỏ hơn, bao gồm 3-6,000 kị sỹ và “Gros valets” ( những người hầu có vũ trang ) nằm dưới sự chỉ huy của các Công tước của Bar và Alencon, các Bá tước Nevers, de Vaudentont, de Blauniont, de Salines, de Grand-pré và de Roussy. Một số tài liệu có ghi rằng quân bắn nỏ của Pháp cũng được triển khai trong đạo quân thứ 2. Một số nhà sử gia cho rằng họ bị đẩy bừa ra khỏi vị trí thích hợp của họ bởi những người có đẳng cấp xã hội cao hơn-các quý tộc và hiệp sĩ sẵn sàng cho những vinh quang từ những gì họ mong đợi như là một chiến thắng dễ dàng.

Chắc chắn các cung thủ và xạ thủ bắn nỏ người Pháp là những người có một vai trò quan trọng trong kế hoạch ban đầu-chống lại các cung thủ trường cung Anh-có vẻ như đã trở nên đóng một vai trò rất nhỏ hoặc thậm trí không được góp một phần nào vào trận đánh. Nhà viết học người Pháp-Des Ursins khẳng định rằng họ đã không bắn được một mũi tên hoặc một phát nỏ trong toàn bộ trận chiến.

Đạo quân thứ ba được tạo thành từ lực lượng kị binh cưỡi ngựa ( để phân biệt với những kị sỹ xuống ngựa chiến đấu ), được cho là có khoảng 8-10,000 chiến binh hùng mạnh nếu chúng tacó thể dựa vào các con số trước đó. Ngoài ra những người không tham gia chiến đấu phải có số lượng ít nhất là ngang bằng với các chiến binh. Tỷ lệ này thậm chí còn có thể có thể lên đến 2 : 1 (Để tạo một hình ảnh trực quan về sự khác biệt về số lượng giữa hai bên)

Giai đoạn 1: Quân Anh tiến lên và các kị sỹ Pháp tấn công

Sau thời gian chờ đợi, như chúng ta đã thấy, Henry quyết định tiến lên. Các đội quân tiến lên được khoảng 1.000 yard. Người Anh tiến lên từ từ, giữ các khoảng cách rất tốt, với rất nhiều đoạn dừng chân để lấy hơi thở.

Mặt đất rất lầy lội bởi các cơn mưa mùa thu và được trồng cấy bởi lúa mì non, tạo ra những đám bùn trơn trượt ở dưới chân, chúng đặc biệt là tạo sự mệt mỏi cho những người phải mặc giáp trụ. Họ dường như đã di chuyển cách đối phương chỉ trong vòng 250-300 yard, một phạm vi cực kỳ hiệu quả cho mũi tên của các cây trường cung, nơi họ đã chiếm vị trí như đã được mô tả trước đó. Chắc chắn là các cung thủ đã mang theo những cây ghỗ vót nhọn đầu theo họ, như Waurin đã mô tả họ lập một hàng rào phía trước họ và dùng nó để tăng cường phòng thủ cho chính mình

.Khi đã ở vị trí này các cung thủ bắt đầu nã tên vào kẻ thù. Hãy tưởng tượng trong một khoảng thời điểm bạn là một cung thủ trong quân Anh. Bạn đang bị đói khát, lạnh và ẩm ướt và bị tiêu chảy hoặc những bệnh dịch tệ hơn từ những ảnh hưởng của khẩu phần ăn uống của bạn như nước bẩn và các loại củ quả. Bạn sẽ rất muốn được chết trong một trận chiến sắp tới. Đối với những kị sỹ -những người sẽ có tiền để trả tiền chuộc và thường được giam cầm ở những nơi ấm cúng trong tay của người cùng đẳng cấp với họ, có những quan hệ về nơi sinh hoặc quen biết một cách cá nhân ( có thể ý nói các qúy tộc Anh có xuất xứ từ Pháp ).

Là một người lính bộ binh nhỏ bé và bị khinh thường, tất cả mà bạn có thể mong đợi là bị tàn sát bởi những người được thiết giáp rất dày đến mức dường như bất khả xâm phạm, hoặc nếu bị bắt thì bạn sẽ bị chặt ngón tay và không bao giờ bạn có thể quay lại nghề cung thủ một lần nữa. Nhà vua đã vừa nhắc nhở bạn rằng bạn có thể sẽ bị mất đi ba ngón tay của bàn tay phải của bạn. Tuy nhiên sau bài phát biểu nồng nhiệt của ông ta, bạn sẽ được lên dây cót tinh thần vào lúc bạn đang tuyệt vọng nhất. Lúc đầu, dường như không thể tin rằng người Pháp có thể bị đánh bại. Sau đó, nhưng sau khi bạn tiến lên phía trước thì tình huống trở nên rõ ràng rằng họ ( quân Pháp) đã trở nên bất cẩn-thậm chí họ còn chẳng biết được họ đang làm gì!

1. Lính cung thủ cưỡi ngựa của Anh
2. Lính bắn nỏ của Pháp
3. Lính cung thủ của Anh có vác những cọc ghỗ nhọn đầu để chống lại kị binh Pháp

Dường như các cung thủ Anh đã khuấy động để đưa người Pháp vào hành động. Đầu tiên các tay nỏ của họ bắn ra một loạt các phát nỏ một cách vội vã, sau đó phải chạy lùi trở lại vì khiếp sợ các mũi tên của quân Anh. Sau đó là các kị binh ở hai cánh của họ đã tung ra một đòn tấn công trên mặt đất vốn cực kỳ lầy lội. Mọi thứ đã đi chệch hướng ngay từ giây phút ban đầu.

Bắt đầu với: Tổ chức. Lực lượng kỵ binh bao gồm 1.600 và 800 kị sỹ mạnh mẽ ở hai bên sườn trái và phải tương ứng. Nhưng các nguồn tài liệu của Pháp lại than vãn rằng số kị binh này không bao giờ được thu thập. Một nguồn tài liệu ( Berry Herald) khẳng định rằng rất hiệp sĩ từ những toán quân này đã bỏ đi chỗ khác, ra khỏi vị trí của họ sau một thời gian chờ đợi quá dài. Monstrelet nói rằng cánh phải, dẫn đầu bởi William của Saveuse, chỉ tập hợp được có 150 kị sỹ. St Remy, ở phía bên kia, chỉ được giao 300 tay thương và Clignet de Brcbant chỉ có 160 kị sỹ.

Rõ ràng các lực lượng tấn công bọc sườn của quân Pháp đã bị thiếu hụt về số lượng một cách nghiêm túc. Hơn nữa, họ có thể không thực sự được giao nhiệm vụ như là lực lượng tấn công bọc sườn.

Trong kế hoạch ban đầu các lực lượng này đã được lên kế hoạch để tấn công bọc sườn và vào phía sau của quân Anh. Tại Agincourt điều này được chứng minh là không thể, kể từ khi các cánh quân bên sườn của người Anh nghỉ ngơi, ẩn nấp trong cánh rừng. St Remy thực sự nói rằng các cuộc tấn công được thiết kế để tấn công vào khoảng giữa Agincourt và Tramecourt, mặc dù việc này có hàm ý một cuộc tấn công bên sườn có chủ ý là rất khó để nói ra. Chắc chắn là có một cuộc tấn công vào doanh trại quân Anh, như chúng ta sẽ thấy sau này, mặc dù các nguồn tài liệu cũng không rõ ràng rằng liệu cuộc tấn công này được dự định để phối hợp hành động với những cuộc tấn công từ bên cánh.

Trong trường hợp, hai cuộc tấn công này không gây đủ sức ép mãnh liệt. Người ta nghi ngờ liệu Kỵ binh Pháp có thể tăng được tốc độ lên nhiều hơn qua những thửa ruộng mới được cày cấy gần đó với lượng nước mưa thấm xuống đất. St Remy đã thu thập được rằng mặt đất đã trơn trượt như thế nào-có thể ông đã thu thập được từ các ghi chép của cuộc tấn công của William Saseuse. Ông được mô tả như một hiệp sĩ dũng cảm, người khuyến khích người của mình phi ngựa lao thẳng về phía những cọc nhọn của các cung thủ.

Mặt đất rất mềm làm cho những chiếc cọc ghỗ đổ xuống, cho phép lực lượng tấn công có thể rút lui với sự mất mát chỉ với ba kị sỹ. Nhưng rõ ràng không phải tất cả các cọc ghỗ đã đổ xuống hoặc người Pháp đã phá vỡ xuyên qua các cung thủ. Các cọc ghỗ được dựng làm hàng rào phòng thủ đã được mô tả là vô hiệu hóa sức tấn công của một cuộc tấn công cực kỳ nặng nhọc. Thực hiện xong nhiệm vụ của họ, các kỵ binh chuồn đi.

Vậy còn ba người đã bị giết chết thì sao?

Họ đã chia sẻ số phận với vị chỉ huy của họ, William de Saveuse-con ngựa của ông đã lao vào một chiếc cọc nhọn được nắm giữ một cách chắc chắn. Kết quả là ông này đã văng qua đầu con ngựa của mình rồi nằm choáng váng và bất lực ở dưới chân của các cung thủ người Anh-những người mà ông đã được tung ra để tấn công. Việc mất đi viên chỉ huy dũng cảm của họ đã làm xao động trái tim của người Pháp.

Các cung thủ trường cung Anh bắt đầu bắn vào kẻ thù lúc này đang rút lui của họ và làm cho những con ngựa bị phát điên bởi những vết thương từ các mũi tên. Những hành động tương tự cũng đã xảy ra ở phía bên kia của chiến trường.

Những người kị sỹ bị hoảng loạn và những con ngựa không thể kiểm soát nổi của họ lúc này đã chạy đi đâu? Trên một chiến trường mở họ có thể chạy xung quanh hai bên sườn của các lực lượng của chính họ. Một số trong thực tế đã có thể hướng vào các khu rừng ở hai bên của chiến trường. Phần còn lại tự xô đẩy họ một cách dữ dội vào đạo quân đầu tiên của người Pháp lúc này đang.

Một sử gia khác – Richemont Herald, người phục vụ cho Công tước Richeont-một người có tham gia vào trận chiến, đã đổ lỗi cho sự thất bại của toàn bộ trận chiến là do lực lượng kỵ binh bị đánh bại này gây ra. Đó là bởi vì họ đã có một linh cảm về sự hèn nhát của những người ở xứ Lombard và Gascons, ông quả quyết rằng họ đã làm như vậy. Định kiến của sử gia này ​​là không chính đáng, nhưng phân tích của ông là chính xác và được chia sẻ bởi tất cả các nhà văn khác đã từng có mặt, hoặc chỉ nghe báo cáo về trận chiến.

Khi bị đánh bại các kỵ binh lao trở lại, họ xông vào đội hình của quân Pháp và làm cho nó gần như hoàn toàn rơi vào tình trạng xáo trộn. Bức hình của John Keegan về một cuộc hoảng loạn của các chú ngựa của cảnh sát trong đám đông, đã tạo ra một loại hiệu lực gợn sóng ( đominô? ), như những người này lại bị đánh ngã bởi một số người khác. Sự gián đoạn này bị lặp đi lặp lại hàng trăm lần và lại bị phóng đại bởi sự lặp lại của nó. ( quân Pháp quá đông và địa hình lại quá trật hẹp)

Giai đoạn 2: Đội hình chính của quân Pháp tấn công và Cuộc loạn đả ( Melée )

Lúc này thay vì là một lực lượng mạnh mẽ, đầy ghê gớm và hoàn toàn lấn át, đội quân tiên phong của người Pháp lại bị nát nhừ, cực kì dễ bị tổn thương và bị va đập đến choáng váng. Vị giáo sỹ của quân Anh tuyên bố rằng họ đã có thể tổ chức lại đủ để tạo cho chính họ thành ba đội quân mà họ đã tấn công

. Đó là để nói, ba vị trí của người Anh, nơi mà các chỉ huy của ba đạo quân: tiền quân, trung tâm và hậu quân đang đứng. Điều này là hoàn toàn có thể và Keegan dự đoán rằng các cung thủ đang chuyển làn tên vào các hiệp sĩ bọc thép của Pháp đang tiến lên để đối đầu với các kị sỹ của họ.

Giả định rằng quân Anh đứng thành ba bộ phận riêng biệt, mỗi bên cạnh sườn được yểm trợ bởi các cung thủ đã không còn đứng vững được nữa. Có lẽ tốt hơn là hãy lắng nghe người đương thời-những người nói với cho chúng ta biết rằng người Pháp đã rơi hoàn toàn vào tình trạng lộn xộn sau khi bị va đập bởi những kỵ binh bị đánh bại. Mặc dù vậy họ vẫn phải tiến lên.

Danh dự buộc họ phải đọ kiếm với những kị sỹ đối thủ của họ. Trong thực tế, họ mang những cây thương bị cắt ngắn đi khoảng từ 5 -> 6 feet để làm cho họ ít bị va quệt vào nhau hơn và dễ quản lý hơn khi chiến đấu trên bộ. Nhưng họ đã gần kiệt sức. Các mặt đất nơi họ đi qua, không giống như nơi quân Anh đã vượt qua trước đó trong ngày, đó là một bãi lầy.

Nó bị làm cho nghiêm trọng hơn bởi những con ngựa của kị binh của họ vốn được cưỡi bởi các kiếm đồng và những người hầu trong suốt đêm lạnh, nó đã bị khuấy sâu thêm bởi các đợt tấn công và rút lui của kỵ binh, và lúc này thì hàng ngàn người đàn ông trong những bộ thiết giáp nặng nề và tiến trong có lẽ từ 8 -> 10 hàng theo chiều sâu và cày ải nó thành khủng khiếp hơn nữa.

Những cơn mưa tên đã buộc tất cả mọi người phải cúi đầu của mình xuống vì sợ rằng một mũi têm có thể bắn trúng mắt sau khi xuyên qua tấm giáp che mặt trên chiếc mũ sắt của mình. Hơn nữa người Anh lại đứng với mặt trời mùa đông đã xuống thấp phía sau họ – một yếu tố nữa làm người Pháp thêm phần hoang mang và mất phương hướng.

Trong một phạm vi ngắn, không nghi ngờ gì rằng những mũi tên kiểu bodkin của người Anh, vốn được thiết kế để sử dụng trong việc này, đã bắt đầu xuyên qua ngay cả nững tấm áo giáp phiến bảo vệ. Khi người Pháp đến được vị trí của quân Anh, sau ba trăm yard như những người mù, với những cơ chân bị trật khớp vì đi bộ, có thể họ đã không còn sức lực để chiến đấu.

Có lẽ họ đã đẩy người Anh lùi lại một vài yard, nhưng nhiều người Pháp đã hoàn toàn kiệt sức. Và họ đã rất đông đến mức rằng ngay cả khi họ còn có đủ sức mạnh để nâng vũ khí của mình lên thì họ cũng không có khoảng không gian để vung chúng lên và ra đòn đánh.

Tuy nhiên trận chiến vẫn tiếp tục diễn ra ở cường độ cao. Người Anh cũng đã bắt đầu bị thương vong, đáng chú ý nhất là Công tước xứ York. Ông ta có lẽ không phải bị chết ngạt dưới một núi các xác chết như vẫn thường được tuyên bố, mà là những cú đánh đã làm vỡ mũ sắt dẫn đến việc là hộp sọ của ông này bị vỡ.

Số phận tương tự xảy cũng gần như là xảy đến với nhà vua Anh. Tất cả mười tám người được cho là những hộ sỹ đều thề rằng Henry đã ngã gục và thiệt mạng, nhưng ai đó (Có lẽ một trong số họ hoặc có thể là Công tước Alencon) đã đánh trúng ông ta một đòn vào chiếc mũ sắt và trúng ngay vào chiếc vương miện bằng vàng trên đầu và cho các họa tiết trên đó phải chịu nhiều sứt mẻ.

Chắc chắn là Henry đã chiến đấu ở chỗ dày đặc nhất. Ông ta đứng ở bên cạnh bá tước Oxford-lúc này đang bị thương năng và ngăn cản không để ông bị giết bởi người Pháp. Cuộc chiến giữa những kị sỹ dường như là một trận cận chiến. Đáng ngạc nhiên, có lẽ sự can thiệp hiệu quả nhất có ảnh hưởng quyết định đến kết quả của cuộc giao tranh dường như lại được tiến hành bởi các cung thủ được trang bị nhẹ. Tất cả các tài tài liệu đều mô tả rẵng họ đã ném những cây cung của mình đi và tham gia vào cuộc chiến đấu tay đội. Họ được trang bị bằng những thanh kiếm, bao gồm cả gươm lưỡi cong, rìu chiến và những chiếc vồ nặng nề (vốn được sử dụng để đóng những chiếc cọc nhọn xuống đất lúc này lại được dùng để đánh ngã đối phương).

Họ rất nhanh nhẹn và dễ dàng di chuyển trên mặt đất lầy lội, làm cho họ trở nên có một trận đánh dễ dàng với những vị hiệp sỹ đang kiệt sức và đang hết sức kinh ngạc-những người trái ngược với họ-vốn hay xem thường những tay cung thủ vốn được sinh ra ở đẳng cấp thấp nhưng lúc này lại trở thành con mồi dễ dàng cho bọn họ.Vì vậy, dường như điều không thể ra đã xảy ra. Một đội quân Anh nhỏ bé bắt đầu đẩy lùi người Pháp ở phía trước của nó, giết chết, đánh gục xuống và bắt tù binh tất cả những ai đối mặt với họ. Một số quấn biên niên sử nói rằng những đống xác chết cao ngang chiều cao của một người đàn ông.

Trong khi thực tế thì không có gì phải nghi ngờ, có rất nhiều thân thể nằm rải rác xung quanh, một số người đã chết và một số khác thì bất tỉnh, một số nữa chỉ đơn thuần là bị mắc kẹt và trở nên bất động về mặt vật lý, nhưng người ta bắt đầu có cảm giác về một vụ thảm sát.. Lúc này thì đạo quân đầu tiên của Pháp đã bị buộc phải quay trở lại và lẫn lộn vào đạo quân thứ hai. Nhưng điều này dường như cũng không có tác dụng củng cố đội hình của người Pháp. Nó cũng chỉ đơn thuần là tạo ra một kết quả y như lần trước.

Tất cả các kị sỹ của quân Pháp bao gồm cả những người có đẳng cấp cao nhất trong bọn họ đã không còn muốn tiếp tục chiến đấu. Đấy là do sức nóng-một điều rủi ro trong trận chiến. Quá nhiều người Pháp dường như luôn nghĩ một trận cận chiến như là một cuộc cưỡi ngựa đấu thương giữa các quý tộc, mà họ có thể trao chiếc găng tay của mình cho một người khác như một biểu tượng của sự đầu hàng khi một cuộc đấu đã có kết quả rõ ràng để bảo tồn danh dự của cả hai bên. Công tước xứ Alencon ( con của ông ta-John of Alencon, lại tiếp tục tham gia chiến đấu với người Anh và sau đó đã trở thành một chiến hữu thân cận của Jan d’ Arc ) đã bị mất đi cuộc sống của mình theo cách này và không nghi ngờ gì nữa rất nhiều người khác cũng vậy.

Sau trận chiến tay đôi với Henry và thấy mình trở nên cạn kiệt hết sức lực, ông ta (Công tước xứ Alencon ) đã cố gắng để tìm cách hạ vũ khí và đầu hàng. Nhưng sau khi làm như vậy, ông đã bị đánh đập đến chết bởi một binh sỹ người Anh, người đã bị phát điên.Đạo quân thứ ba của người Pháp, hoàn toàn trở nên kinh hoàng vì thất bại của hai đạo quân đầu tiên và thứ hai, đã không thể di chuyển. Thực sự thì một số kị sỹ đã nhảy lên ngựa và bỏ chạy.

Một sốnhững kị sỹ may mắn trong đạo quân đầu tiên và thứ hai cũng đã nhảy lên những con ngựa của họvới sự giúp đỡ của các thuộc hạ và trốn thoát. Nhưng tất cả các chỉ huy chiến trường của người Pháp đã đều hoặc bị giết hoặc bị rơi vào tay người Anh.

Cả hai người lập kế hoạch chiến đấu của quân Pháp, vị Thống chế và viên Nguyên Soái: d’Albret đã bị giết và Boucicault đã bị bắt. Chúng tôi đã thấy rất nhiều những cái tên trong kế hoạch chiến đấu hoặc đã bị giết hoặc bị bắt nếu không thì cũng phải chịu những số phận nghiệt ngã khác. Vớiviệc tất cả các vịchỉ huy của nó đều bị vô hiệu hóa, lực lượng còn lại của quân đội Pháp, mặc dù vẫn còn rất hùng hậu đã trở nên khá là bất lực.

Giai đoạn 3: Thảm sát tù binh

Trận chiến chính diễn ra rất ngắn. Nó có thể chỉ diễn ra trong nửa giờ, mặc dù theo một số tài liệu là từ hai đến ba giờ ( có lẽ bao gồm cả một số những bước tiến quân ban đầu ). Tại đầu buổi chiều ngày hôm đó-một ngày ngắn ngủi của cuối tháng Mười. Người Anh đang đi tìm kiếm để thu thập các tù nhân của họ và tính toán về các khoản tiền chuộc béo bở mà họ sẽ kiếm được cũng như chăm sóc vết thương cho thương binh của họ và hô hấp cho những người không thể thở.

Chiến thắng đã là điều quá rõ ràng, người Pháp đã hoàn toàn bị đánh bại và bỏ chạy. Nhưng một điều gì đó đã xảy ra với Henry và đây chính là nguyên nhân để ông này ra một mệnh lệnh vi phạm đến các điều ước của chiến tranh thời Trung cổ: đó là hạ sát phần lớn những người đã bị bắt làm tù nhân. Trong thực tế, có hai điều xảy ra.


Tranh vẽ sau khi trận Agincourt kết thúc

Đầu tiên là một người tới chỗ Henry và báo cáo rằng doanh trại của ông đã bị tấn công. Chính xác khi nào cuộc tập kích này được thực hiện là điều hoàn toàn không rõ ràng. Câu chuyện thông thường được chấp nhận bởi các nhà sử học là sau trận đánh thì vị lãnh chúa ở địa phương –Isembart d’Agincourt, được trợ giúp bởi Rohinet de Bournonville, Riflart de Clamasse và một số kị sỹ khác, đã dẫn đầu 600 nông dân tình nguyện của họ và phát động một cuộc đột kích vào trong doanh trại của quân Anh.

Chắc chắn một vài đồ quý giá như một chiếc vương miện, một số bạc và một thanh kiếm báu đã bị cướp phá từ doanh trại quân Anh. Sau đó, một điều kiện để chuộc Ralph de Gaucourt là ông này phải tìm lại những đồ quý giá này. Ông ta (Ralph de Gaucourt ) đã thành công trong việc tìm lại một phần những đồ đã bị cướp phá. Câu chuyện này sau đó còn kể rằng d’Agincourt và Bournonville đã bị bỏ tù bởi Công tước xứ Burgundy ( thực chất ông này là đồng minh của người Anh) vì hành động đáng hổ thẹn này của họ, mặc dù họ đã dùng thanh kiếm báu để làm quà tặng cho con trai ông ta. Nhưng tất cả những sự kiện này có thể không nhiều hơn là một sự biện minh để đổ lỗi cho ai đó sau khi bi kịch đã xảy ra.

Hành động thứ hai thúc đẩy vụ thảm sát là cố gắng phản công bởi một phần còn lại củađạo quân thứ ba. Giữa sự hỗn loạn, một số các lãnh chúa như Bá tước của Marle và Fauquembergh và các Lord của Louvroy và Chin, đã cố gắng tập hợp 600 kị sỹ. Với lực lượng này, họ đã tung ra một đòn tấn công bằng kị binh, mà theo Monstrelet, nó kết thúc trong thảm hoạn cũng như tất cả những đợt tấn công khác. Theo vị Giáo sỹ của quân đội Anh thì có vẻ như đây là thời điểm mà Ilenry đã ra lệnh giết chết gần như tất cả các tù nhân. Theo Monstrelet thì như chúng ta đã thấy, nguyên nhân là một cuộc tấn công bột phát vào đám hậu quân. Cả hai hành động trên đều được sử dụng để đổ lỗi cho việc tham dự vào cuộc tàn sát sau đó. Cả hai đều được cho rằng có thể thay đổi kết quả của trận chiến và được ghi nhận một cách không nghi ngờ là những cuộc đột kích đầy sáng tạo.

Mặc dù đã chiến thắng, nhưng người Anh vẫn rất dễ bị tổn thương. Họ không có phương tiện để bảo đảm cho tất cả các tù nhân hoặc chấp nhận sự đầu hàng của tất cả bọn họ. Vẫn còn quá nhiều binh sỹ Pháp được trang bị thiết giáp hạng nặng đủ để áp đảo người Anh nếu họ phục hồi lại được tinh thần. Vì vậy, Henry đã ra lệnh hạ sát các tù nhân. Chỉ những tù nhân nổi bật nhất mới được giữ lại tính mạng, như các Công tước d’Orleans vàBourbon.

Nhưng như chúng ta đã thấy, những người vốn sinh ra đã cao quý cũng không được đảm bảo, như thời điểm này. Các hiệp sĩ và kị sỵ coi đều coi đó là một hành động đê tiện và mất phẩm giá của họ khi phải tham gia vào việc giết chết những người không thể tự vệ, vì vậy nhiệm vụ này được thực hiện bởi 200 tay cung thủ dưới sự chỉ huy của một viên hộ sỹ. Ngay cả khi so sánh với tình trạng lộn xộn, đẫm máu của trận chiến nó vẫn là một cảnh nghiệt ngã hơn nhiều. Người Pháp đã bị giết như thế nào? St Remy, người chứng kiến ​​vụ thảm sát, mô tả họ như là bị chặt ra từng mảnh, đầu và mặt. Thực tế đó là nơi duy nhất mà một hiệp sĩ với đầy đủ giáp trụ thực sự dễ bị tổn thương.

Chỉ khi họ loại bỏ mũ sắt hoặc tấm giáp che mặt của một người đàn ông, thì người này mới có thể bị giết chết một cách dễ dàng. Những người kháng cự lại có thể sẽ bị đâm qua khe mắt trong chiếc mũ bascinet của họ. Kiểu giết người máu lạnh đầy kinh hoàng như vậy thường không được lưu lại trong sách sử đương thời, nên người ta không chắc chắn rằng nó đã được thực hiện như thế nào, dù rằng đây cũng là một vấn đề đáng được đề cập, nhưng còn việc ai là những người đã bị hạ sát.

Những người đàn ông bị giết chết đều là những quý tộc và quý ông, không phải là những người sinh ra ở đẳng cấp thấp và phải chết ở trên chiến trường ( quân địch không bắt tù binh những thường binh vì không có tiền chuộc). Người đã viết các tài liệu này cũng là người có nguồn gốc từ tầng lớp thượng lưu, và thực tế tàn bạo này đã gây mâu thuẫn với hình ảnh của một cuộc chiến lịch lãm đầy chất mã thượng mà họ thường theo đuổi, mà họ thường mô tả. Nhưng, như chúng ta đã thấy, họ đã không đổ lỗi cho Henry vì đã ra cái mệnh lệnh tuy cần thiết nhưng quá tàn bạo này, mà đổ lỗi cho những chỉ huy người Anh đã mang đến cho ông ta những thông tin sai lệch về tình hình chiến cuộc.

Tham khảo : Kế hoạch của người Pháp

Cho đến nay các mô tả về cuộc tấn công vào đạo hậu quân ở Agincourt được định giá bề mặt từ các sử gia đương đại: đó là một cuộc tấn công bột phát bởi một lãnh chúa địa phương tham lam. Nhưng nó cũng rất phù hợp với kế hoạch ban đầu của người Pháp. Họ ( các chỉ huy chiến trường của Pháp ) đã dự kiến ​​một cuộc tấn công sâu rộng khoảng trên bên trái ở phía sau quân Anh, kết hợp với các đợt tấn công bằng kỵ binh vào cánh phải của nó. Chúng tôi không được biết khi nào cuộc tấn công vào doanh trại của quân Anh đã nổ ra.

Một số tài liệu cho rằng nó xảy ra vào giai đoạn đầu của trận chiến, những người khác lại liên kết nó với các cuộc tấn công từ một phần của lực lượng kị binh của đạo binh thứ ba. Nếu nó được lên kế hoạch trùng hợp với cuộc tấn công trực diện, thì sau đó nó đã sao chép chiến thuật của người Pháp một cách đầy đủ. Sau tất cả, ai là người xứng đáng hơn vị lãnh chúa ở địa phương trong việc chỉ huy một cuộc tấn công như vậy-những người rất tỏ tường cách để đi xuyên qua khu rừng? Nên nhớ rằng vào buổi tối trước đó, Henry đã được báo động bởi những ý tưởng bởi chỉ những cú tấn công bọc sườn từ đàng sau bìa của những khu rừng, không ở cạnh bên này thì cũng ở cạnh bên kia.

Nếu giải thích này được chấp nhận và nó là một đề xuất của Chris Philpotts-một học giả trẻ tuổi người đã tìm thấy bản thảo có chứa các kế hoạch chiến đấu, sau đó chúng ta phải tín nhiệm những tài liệu của người Pháp tại Agincourt với nhiều ý nghĩa hơn nữa so với trước đây đã từng được hiểu. Ít nhất là nó cũng đúng một phần. Những người đương thời hoàn toàn đúng trong việc đổ lỗi cho sự bất cẩn đến mức vượt quá cả sự tự tin của người Pháp. Vẫn những người đàn ông này, những người đã vạch ra kế hoạch chiến đấu-mà kế hoạch này hoàn toàn có thể đánh bại người Anh lại tự chứng minh là nó vô hiệu lực khi đi vào thực thi. Lỗi lầm một lần nữa nằm ở việc thiếu một nhà lãnh đạo duy nhất trong doanh trại của quân Pháp.

Mặc dù các viên Thống chế và Nguyên soái là những sỹ quan giàu kinh nghiệm và quan trọng của nhà vua, họ vẫn không quản chế nổi các Hoàng thân cùng huyết thống với Hoàng gia. Họ chỉ có quyền điều hành một đơn vị nhỏ của riêng mình và phải tuân theo những người đồng hành ( các vị Hoàng thân ), có thể họ đã có kế hoạch chu đáo. Nhưng một khi phải nhập vào với một lực lượng lớn hơn và những cạnh tranh và sự kiêu ngạo cộng với sự ích kỷ của các quý tộc Pháp có đẳng cấp cao hơn, họ đã không có cơ hội. D’Albret và Boucicault được trong xếp trong đội hình tiên phong cùng với tất cả các quý tộc, những người có tham vọng tìm kiếm một vinh quang về mặt quân sự mà họ phải chia sẻ. Trong khi đó kỷ luật lỏng lẻo đã cho phép người của họ đi lang thang ra khỏi các vị trí đóng quân và dẫn đến sự thiếu hụt quan trọng về lực lượng ở kỵ binh hai cánh; Hơn nữa, mọi người đều có thể nhìn thấy rằng chiến trường là quá chật hẹp cho một số lượng người quá lớn, nhưng liệu họ ( hai vị Nguyên soái và Thống chế ) có thể tái triển khai những lực lượng thừa này ở những nơi khác nào đó.

Lại một lần nữa vấn đề là việc là̀m cho quân đội bị cản trở đến mức họ khó có thể cơ động được. Nhưng khi quân đội tiến lên để chống lại kẻ thù của nhà vua trên một mặt đất đã được lựa chọn bởi các chỉ huy Pháp. Không thể rút lui khỏi một vị trí như vậy. Kết quả của sự kết hợp của chiến thuật và tâm lý thiếu linh hoạt, người Anh đã giành chiến thắng trong ngày hôm đó. Và họ đã thắng bằng cách cho thấy những đức tính hoàn toàn trái ngược với những tương ứng của người Pháp: khả năng gan góc và lì lợm cùng với việc chủ động đối mặt với nguy hiểm, cùng với những thiên bẩm về tài chỉ huy của nhà lãnh đạo.

Sau khi dấu vết cuối cùng của bất kỳ mối đe dọa nào của người Pháp đã kết thúc, lúc này Henry đã làm chủ chiến trường cùng với tất cả các nguồn thực phẩm và trang thiết bị mà đối phương bỏ lại, ông ra lệnh rút lui một lần nữa và hạ trại tại Maisoncelle. Ngày hôm sau ông lại tiếp tục cho hành quân tới Calais

Hậu quả của trận chiến

Henry đã không làm và cũng không đủ lực để khai thác ngay lập tức chiến thắng của ông. Ông đã cùng quân đội vốn đã kiệt sức và rách rưới của mình, cùng với những tù binh hoành tráng của nó, hành quân rất chậm chạp trong ba ngày để tới Calais. Tại đây ông mất hai tuần để sắp xếp công việc và chờ một cơn gió thuận lợi để về Anh. Ông đã xuống tầu tại Dover vào ngày 16 tháng 11 và một tuần sau được chào đón tại London với một cuộc đón tiếp xa hoa. Một bài hát chiến thắng lặp đi lặp lại điệp khúc: “ Deo gratias Anglia redde pro victoria “-ý của Chúa là Henry và Anh phải giành chiến thắng.

Tại sao Henry lại không hành quân thẳng đến Paris để thực thi tuyên bố của mình? lý do rất đơn giản, lúc đó cũng đã vào cuối mùa chiến dịch và quân đội của ông cũng đã bị đánh đập cho tơi tả và cạn kiệt hết lương thực. Đúng là người Pháp đã bị thất bại một cách thảm hại, nhưng các thành phố của Pháp không thể bị thất thủ chỉ trước vài ngàn người vốn không có các thiết bị bao vây. Trong thực tế, phải mất thêm 5 năm để đưa Charles VI đến Hiệp ước Troyes, và Henry được phép kết hôn với Katherine-con gái của Charles VI, người được công nhận là người thừa kế ngôi vua của Pháp.

Các vùng lãnh thổ không phải giành được từ chiến thắng trong những trận chiến mở, mà là từ những cuộc vây hãm lâu dài, chẳng hạn như những thành phố Caen và Rouen. Gạt Agincourt sang một bên, kết quả chính của chiến dịch 1415 là việc chiếm được Harfleur và biến nó thành căn cứ mà từ đó có thể tấn công vào xứ Normandy, đây là nền tảng cần thiết cho một chiến lược chinh phục trong dài hạn. Thành phố này ( Harfleur ) đã bị tái bao vây bởi quân Pháp trong năm sau đó, nhưng rồi phần lớn quân đội của họ ( quân Pháp) đã bị đẩy lui sau một chiến thắng của hải quân Anh ở dưới các bức tường của thành phố.

Chưa hết, Agincourt là một cú đánh trầm trọng vào nhuệ khí của người Pháp cũng như khả năng giáng trả của Charles VI. Đầu tiên là mọi người đều cho rằng công lý đang ở phía người Anh. Một sử gia đổ lỗi thất bại cho sự trả thù của thần thánh. Vì trận chiến nổ ra vào ngày của Thánh Saints Crispin và Crispinus, vốn có liên hệ mật thiết với thành phố Soissons ( thuộc phe Burgundy ), thành phố này vốn bị phe Armargnac triệt hạ một năm trước đó. Những thiệt hại về người là rất lớn, khoảng 600 người thuộc tầng lớp quý tộc và hiệp sỹ đã bị giết tại Agincourt. 5 vị Công tước, 12 Bá tước và hàng loạt những chỉ huy về mặt quân sự và chính trị bị bỏ tù. Một sử gia người Pháp-Francoise Autrand, đã tính toán rằng 1/3 trong tổng số 1.400 những ủng hộ viên hùng mạnh về mặt chính trị của nhà vau Pháp Charles VI đã bị xóa sổ sau thảm họa Agincourt.

Họ đến từ những tỉnh miền Bắc nơi mà nhà vua tuyển dụng quân đội và những công chức trong chính phủ của ông ta. Nó đã chặt đứt cấu trúc quân sự của Hoàng gia và làm tan vỡ hệ thống tổ chức các nguồn lực kinh tế của nó ( HG Pháp) và là suy giảm một cách nghiêm trọng năng lực của Hoàng gia Pháp trong việc kháng cự lại tham vọng của người Anh. Chính vì những khía cạnh này mà nó làm cho Henry đạt được những chiến thắng dễ dàng hơn sau đó ( lưu ý là dễ dàng hơn chứ không phải là dễ dàng ).

Hậu quả của trận Agincourt là cũng phải đến năm 1422 thì Henry V mới chiếm được một phần khá lớn lãnh thổ Pháp, nhưng phải nhờ chiến thuật bao vây là chính chứ không phải là những chiến thắng vang dộiĐiều trớ trêu là vị vua trẻ tuổi ( Henry V) lại chết trước ông bố vợ già cả của mình ( Charles VI ) những 7 tuần lễ. Ông ta-Henry, không bao giờ được nắm quyền cai trị cả hai vương quốc, và cái quyền này lại rơi vào tay người con trai sơ sinh của ông. Chiến tranh Trăm năm đến đây vẫn chưa kết thúc ( vì phe Armargnac đã tuyên bố chối bỏ quyền thừa kế của vua Henry VI-con trai của Henry V mà suy tôn Charles VII con trai của Charles VI lên làm vua nước Pháp), nhưng Henry V đã lại bắt đầu một thời kỳ mà người Anh chiếm ưu thế trước người Pháp và thời kỳ này kéo dài khoảng một thế hệ.

Một số trận chiến giữa Anh và Pháp sau trận Agincourt

Bao vây thành phố Rouen

Cuộc bao vây Rouenđược tiến hành bởi người Anh từ năm 1418-1419 trong cuộc Chiến tranh Trăm năm.Vào năm 1418 thành phố Rouen có khoảng 70.000 dân và nó là một trong những thành phố lớn nhất ở nước Pháp thời đó.

Việc chiếm giữ thành phố làđể có được chiếc chìa khóa rất quan trọng để xâm chiếmCông quốc Normandy-đỉnh điểm của cuộc chiến tranh trăm năm ( Công quốc Normandy thuộc lãnh thổ của Pháp nhưng lại là quê hương của Quận công William-người sau này trở thành vua nước Anh, nên con cháu của ông ta không ngừng tranh chấp với nước Pháp để đòi lại vùng đất này ).

Kể từsau cuộc tái chinh phục Công quốc Normandy trong năm 1204 ( Sau khi vua Anh-Risa Sư tử tâm chết trận, người em trai là Hoàng tử John lên nối ngôi-ông này là người bất tài và nhu nhược nên không được lòng các quý tộc người Normandy. Vua Pháp là Philip IV nhân cơ hội này kéo quân vào tái thu phục Công quốc Normandy-một vùng đất của Pháp phải cắt cho người Norman vào cuối thế kỷ thứ 10 ), thành phố được bảo vệ bởi tòa lâu đài Rouen, tòa lâu đài này được xây dựng bởi nhà vua Pháp-Philippe Auguste trong năm 1204->1210 đây cũng là trụ sở về hành chính và chính trị của vùng Normandy.

Vào năm 1415, năm mà vua Henry V của Anh đã xâm chiếm thành phố Harfleur ở cửa sông Seine, thành phố Rouen đã được tăng cường phòng thủ một cách đáng kể. Khi người Anh xuất ở Rouen, các bức tường ở hai bên sườn của thành phố đã được củng cố với những chiếc tháp canh được đặt những khẩu súng và một lực lượng cung thủ được chỉ huy bởi Alain Blanchard và bản thân ông này lại nằm dưới sự chỉ huy của Guy Le Bouteiller-một viên Đại úy được lựa chọn bởi thành phố Rouen và cũng là một người ủng hộ phe Burgundy trong cuộc nội chiến giữa hai phe Armagnacs và Burgundy, ông này cũng còn là cựu đội trưởng của thị trấn Dieppe.

Sự xuống dốc của vương quốc Pháp, đặc biệt là ảnh hưởng của nó ở vùng Normandy, tiếp theo những sắc thuế mới càng làm tăng thêm lòng hận thùvới phe Armagnac ( phe phái đang nắm quyền kiểm soát chính ở triều đình Pháp lúc đó ).

Vì quân Anh không có đủ lực lượng về nguồn nhân lực nên họ đã không thể tiến hành các cuộc tổng tấn công vào thành phố. Ngoài ra, vua Henry V củaAnh-người đã chiến thắng quân Pháp trong trận Agincourt vào năm 1415, đã quyết định khiến cho thành phố phải thất thủ bởi nạn đói.

Một cách cực kỳ khéo léo, người Anh đã bao vây xung quanh con đường thủy vào thành phố bằng tàu chiến của họ và cắt đứt nốt những con đường trên đất liềnnhững như phong tỏa tất cả các nguồn cung cấp thực phẩm từ sông Seine.

Vì có nạn đói nên những người nghèo, người tị nạn ( khoảng 12.000 người) bị trục xuất khỏi thành phố vào mùa đông. Thật không may cho họ, họ không thểrời khỏi các chiến hào, họ đã bị cấm không được rời đi bởi người Anh.

Quân đồn trú đã tổ chức những cuộc đột phá vòng vây rất dũng cảm nhưng đầy tuyệt vọng, trong một cuộc xuất kích những cây cầu của thành phố đã đổ sụp dưới chân của các binh sỹ đồn trú, các dầm cầu đã bị cưa bỏ. Theo quấn biên niên sử của Thánh Denis vốn được viết bởi các thầy tu đã phải chịu đựng những ngược đãi từ phe Burgundy, đã đưa ra một số thông tin rằng có những tin đồn về sự phá hoại ngầm và phản bội của viên quan trấn thủ Guy Le Bouteiller.

Triều đình Pháp lúc này đang càng lúc càng hỗn loạn vì vua Charles VI của Pháp ngày càng trở nên điên rồ và phe đ.ảng Armagnac ngày càng can thiệp thọc sâu vào công việc của triều đình, nên không thể tiến hành bất kỳ sự trợ giúp nào cho Rouen.

Không có những trận chiến đổ máu, chỉ phải đối mặt với nghịch cảnh như nạn đói và bệnh dịch, dân số của Rouen ngày càng xuy giảm đến tận cùng,họ (cư dân của Rouen ) phải chọn phương án giải quyết bằng cách gửi viên quan tổng trấn Guy Le Bouteiller cùng với sáu thị dân khác làm đại diện và tiến hành thương lượng với người Anh.

Sau tám ngày đàm phán, phái đoàn của Rouen không thể chấp nhận bất kỳ điều kiện nào của người Anh. Sau đó có vẻ như người dân Rouen đã quyết tâm phá hủy thành phố của họ và từ bỏ nó bằng cách thử tiến hành một cuộc phá vây tuyệt vọng.

Được thông báo về nguy cơ không thu giữ được bất cứ một cái gì ngoài những đống tro tàn sau một cuộc bao vây kéo dài đến nửa năm, vua Henry V của Anh đã phải đưa ra những điều kiện thuận lợi để thành phố Rouen đầu hàng và người dân của Rouen đã phải trao chiếc chìa khóa của thành phốcho vị chủ nhân mới của nó vào ngày 19 tháng 1 năm 1419.

Henry V của Anh đã thành lập nơi cư trú chính thức như thủ đô của mình ở Pháp tại lâu đài Rouen và lâu đài Vincennes. Ông này cũng được bắt chước bởi vua Henry VI của Anh năm 1422, tiếp theo là Edward IV-người được sinh ra tại Rouen trong năm 1442 (vua của nước Anh và Vua danh nghĩa củanước Pháp).

Thành phố Rouen đã không trở trở về tay của vua Pháp cho tới tận năm 1449 ( sau 30 năm nằm trong tay người Anh ) khi Charles VII xuất hiện trước khi thành phố cùng với viên chỉ huy pháo binh hiện đại- Jean Bureau, các khẩu pháo này được đúc bằng tiền tài trợ hoặc cho vay từ Jacques Cueur ( một thương gia người Pháp ).

Khi nhận được thông tin rằng nhà vua Pháp vẫn cho phép Rouen được duy trì các đặc quyền của mình, cư dân của thành phố đã nổi dậy chống lại người Anh. Tuy nhiênRouen vẫn phải chờ đợi khá lâu mới có một nền hòa bình thực sự và những điều kiện thuận lợi cho thương mại.

Trận BaugéTrận Baugé là một trận chiến nổ ra giữa quân đội Anh và Liên quân Pháp-Scotland ( theo hiệp ước Đồng minh Auld Alliance-và vào lúc tưởng như nước Pháp đang nguy kịch đến nơi thì có một đội quân người Scotland đổ bộ lên lãnh thổ Pháp để giúp họ chiến đấu chống lại quân Anh) vào ngày 21 tháng 3 năm 1421 tại Baugé phía đông của vùng Angers thuộc nước Pháp.

Đây là một thất bại lớn đối với quân Anh trong Chiến tranh Trăm năm. Quân đội Anh được chỉ huy bởi Thomas Lancaster, Công tước đầu tiên của Clarence-người anh em trai của nhà vua Anh, Henry V, trong khiLiên quân Pháp-Scotland được chỉ huy bởi John Stewart, Bá tước thứ 2 của Buchan, và Gilbert de Lafayette-quan Nguyên soái của nước Pháp. 

Lực lượng quân đội Anh có khoảng 10.000 người trong khi đó lực lượng Pháp-Scotland chỉ có khoảng 6.000.Trận chiến chínhTrong khi vua Henry đang ở lại Anh để tập trung một lực lượng lính nghĩa vụ mới trong 1421, Thomas Lancaster, Công tước của Clarence-người anh em trai của ông đã dẫn đầu một đội quân khoảng dưới 15.000 người tiến về phía sông Loire. Họ thiết lập một cuộc bao vây nhằm vào lâu đài Bauge trongkhi một đội quân người Scotland khoảng 6.000 người dưới sự chỉ huy của Bá tước Buchan đang tìm cách để chặn đứng họ vào trước ngày Thứ SáuTốt lành ( em ko đi đạo nên cũng nỏ biết nó Tốt lành chỗ mô he he ).

Một thỏa thuận ngừng bắn đã đạt được và nó kéo dài cho đến ngày Thứ hai, để các chiến binh của cả hai phe có thể tham gia lễ hội Tôn giáo Phục Sinh. Người Anh ngừng cuộc bao vây và rút lui đến Beaufort ở gần đó, trong khi người Scotland lại cắm trại ở Le Lude. Tuy nhiên, vào đầu buổi chiều thứ bảytrinh sát của quân Scotland báo cáo rằng người Anh đã bội ước, phá vỡ thỏa thuận ngừng bắn và tiến lên để tiến công vàoquân Scotland với hy vọng sẽ làm cho họ bị bất ngờ.

 Người Scotland vội vã tập hợp quân đội và tổ chức một trận chiến ngay tại một cây cầu mà vị Công tước của Clarence-chỉ huy của quân Anh với lá cờ của ông được giương cao, đang tìm cách vượt qua. Một nhóm tách rời gồm khoảng một vài trăm người thuộc quyền chỉ huy của Sir Robert Stewart của Ralston ( phe Scotland ), được tăng cường bằng đoàn tùy tùng của Hugh Kennedy, đã chiếm giữ cây cầu và chặn đứng nó trong một khoảng thời gian đủ lâu để cho vị Bá tước của Buchan có đủ thời gian tập phần còn lại của quân đội của mình, từ đó họ rút lui vào chiến đấu ở trongmột thị trấn nơi mà các cung thủ Anh sẽ không còn chiến đấu một cách hiệu quả.

Lúc này hai bên lao vào một trận cận chiến cực kỳ dữ dội kéo dài cho đến khi đêm xuống. Trong cận chiến Sir John Carmichael của Douglasdale đã làm gẫy ngọn thương của ông khi đánh ngã ngựa Công tước của Clarence, kể từ ngày đó trên gia huy của Carmichael có hiển thị một bàn tay bọc thép giữ ở trên cao một ngọn thương bị gãy để kỷ niệm chiến thắng này. Khi đứng được dậy trên mặt đất, vị Công tước này đã bị giết chết bởi Sir Alexander Buchanan, hoặc Sir John Swinton. 

Những chỉ huy khác của quân Anhcũng tử trận trong ngày hôm đó bao gồm Lord Roos, Sir John Grey-Bá tước của Tankerville và Gilbert de Umfraville, mà cái chết của họ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự tuyệt tự của dòng nam của gia đình lừng lẫy này-họ vốn nổi tiếngkể từ cuộc chiến tranh độc lập của người Scotland ( hơn 100 năm trước đó ). Bá tước Somerset và anh trai của ông đã bị bắt tù binh bởi Laurence Vernon ( ông này sau đó được tấn phong hiệp sĩ vì chiến công của mình), Bá tước Huntingdon bị bắt tù binh bởi Sir John Sibbald và Lord Fitz Walter bị bắt bởi Henry Cunningham.

Hậu quả

Khi nghe tin về chiến thắng Scotland, Đức Giáo Hoàng Martin V đã nhắc đi nhắc lại một câu nhận xét ở thời trung cổ rằng ” người Scotland nổi tiếng như là một loại thuốc giải độc cho người Anh.” Mùa hè năm 1421 nhà Dauphin đã tiến hành một loạt các chiến dịch ở phía bắc của sông Loire và tái chiếm nhiều vùng lãnh thổ.

Để tỏ lòng biết ơn người Scotland ông đã phong Archibald Douglas-Bá tước 4st của Douglas hàm Trung tướng của quân đội Pháp và tặng cho ông danh hiệu Công tước xứ Touraine. Sir John Stewart của Darnley nhận được các vùng đất ở Aubigny-sur-Nere và Concressault. Bá tước của Buchan được phong làm Nguyên soái của Pháp.

Năm 1422 nhà Dauphin đã thành lập đội “một trăm vệ sĩ của nhà vua” hay còn được gọi là ” Một trăm cây thương của nước Pháp”, để bổ sung cho 24 cung thủ của đội Ecossaise Garde ( vệ binh người Ecot ). Đội một trăm cây thương cuối cùng đã trở thành một đại đội hiến binh Pháp ở Fontenoy trong năm 1745. John Carmichael được bầu làm giám mục của Orléans trong năm 1426 và là một trong 6 vị giám mục tham dự lễ đăng quang của nhà Dauphin để thành vua Charles VII tại Rheims trong năm 1429. Hugh Kennedy, được biết đến ở Pháp với cái tên Canede, và ông đã được cấp một chiếc gia huy của giới quý tộc với biểu tượng Fleur de lys của Pháp.

Trận Cravant

Trận Cravant ở bên sông Yonne là một trong một loạt các trận chiến của thời kỳ Chiến tranh Trăm năm. Nó diễn ra vào ngày 31 tháng bảy năm 1423, kết thúc bằng một chiến thắng của quân đội Anh và Burgundy-đồng minh của họ trước quân đội Pháp.

Sau Hiệp ước Troyes năm 1420 nước Anh chiếm đóng tất cả các vùng đất ở phía bắc của sông Loire. Năm 1422, bất chấp cái chết đột ngột của nhà vua Anh-Henry V, sự thù địch giữa hai vương quốc Anh và Pháp vẫn tiếp tục leo thang. Trận chiến này là một trong những sự kiện mở đầu, nối lại chiến sự giữa Anh và Pháp sau cái chết của Henry V.

Tanneguy du Châtel, truy kích theo các Bá tước Salisbury và Suffolk của Anh, và ông này ( Tanneguy) đã ra lệnh cho quân Pháp dừng chân nghỉ ở bên cạnh Cravant, nơi mà Charles VII ( vua của Pháp nhưng chưa được đăng quang ) coi là một trong những chìa khóa đối với người Burgundy mà bastard của Baume ( thằng con hoang-một biệt hiệu phổ biến thời đó ) đã chiếm giữ gần đó.

Tanneguy khá là ngạc nhiên khi thấy nơi này bị chiếm đóng bởi Claude de Chastellux và rõ ràng rằng nó đã bị khóa chặt bởi các Lord của Boligneu, Usselot của Digoine, Presles của Chandio và khoảng 400 binh sỹ.

Do dó nhà vua Pháp đã ra lệnh cho John Stuart-Nguyên soái của Scotland, người vừa nhận được 3.000 viện binh tăng cường từ Baume và Duchatel, cùng với Thống chế Sévérac vượt sông Loire để gia nhập với họ.

Vì vậy mà Cravant ( đang nằm trong tay người Burgundy ) đã bị bao vây bởi một đội quân Pháp lên đến khoảng 15.000 người. Trong vòng năm tuần lễ người Burgundy đã chiến đấu kiên cường một đáng ngưỡng mộ, bất chấp việc thiếu lương thực buộc họ phải mổ thịt cả những con ngựa của họ, và cuối cùng Chastellux-Lord của Presles đã tìm ra một cách để báo tới nữ công tước Dowager về tình hình nguy cập của họ.

Nữ Công tước đã ra lệnh cho John Toulongeon-Nguyên soái của Burgundy tập hợp binh lính và họ đã sẵn sàng vào ngày 18 và 20 tháng Bảy năm 1423. Họ đã hội binh với các công tước Montbard và Avallon ở trung tâm quận hạt Châtillon Chaumont. 

Tám ngày sau đó họ cũng lại gặp một lực lượng quân đội Anh rất lớn gồm khoảng 6000 người nằm dưới sự chỉ huy của các Bá tước Salisbury và Suffolk tại Auxerre. Họ ( người Anh và Burgundy) đã được đồng ý rằng cả hai sẽ hộ binh với nhau và hành quân theo một đội hình hàng dọc duy nhất vào ngày 29 dưới sự giám sát của tướng lĩnh của cả hai bên, mà đội tiên phong bao gồm một số lượng tương đương binh sỹ Burgundy và Anh, trước khi đến chiến trường tất cả mọi người đều xuống ngựa, bầy ngựa ở lại cách xa một dặm và một nửa số chúng quay trở lại với những chiếc cọc được vót nhọn cả hai đầu đủ để cung cấp cho tất cả mọi người và mệnh lệnh được đưa ra là không bắt tù binh trong chiến đấu. Mệnh lệnh tiến công sẽ được báo hiệu bởi tiếng kèn và những người không tuân thủ theo những yêu cầu của mệnh lệnh sẽ phải chịu những hình phạt nặng nề nhất.

Ngày 30, liên quân Anh và Burgundy rời khỏi Vincelles và hành quân tấn công kẻ thù-quân Pháp lúc này đang ở trong một đội hình chiến đấu trên đỉnh núi nhìn ra sông Yonne, một vị trí dường như bất khả xâm phạm. Trong ba giờ lực lượng hai bên đối diện nhau, nhưng không có một nỗ lực nào được tiến hành để vượt qua dòng sông để tấn công đối phương.

Cuối cùng Salisbury đã quyết định phát động cuộc tấn công ​​và quân đội của ông bắt đầu vượt qua con sông Yonne ở đoạn rộng khỏang 50 mét và sâu ngang thắt lưng, dưới sự yểm trợ của những trận mưa tên từ các cung thủ trường cung Anh. Trong khi đó, một lực lượng Anh dưới sự chỉ huy của Willoughby và Baron de Eresby đã đánh bạt người Scotland đi rồi vượt qua một cây cầu hẹp và chia cắt đội quân của nhà Dauphin ra làm đôi.Lúc này hàng ngũ quân Pháp trở nên rối loạn và bắt đầu rút lui, người Scotland từ chối bỏ chạy và hàng trăm người đã bị đốn gục.

Hơn 3.000 người trong số họ đã bị giết ở đầu cầu hoặc dọc theo bờ sông và hơn 2.000 người đã bị bắt tù binh bao gồm cả Bá tước của Buchan và Comte de Vendôme-chỉ huy lực lượng của nhà Dauphin. Quân của nhà Dauphin rút lui đến Loire, để lại phía sau nhiều tù binh hơn 6.000 người bị giết chết, đổi lại phía liên quân Anh-Burgundy có khoảng 1.600 tổn thất.

Trận Verneuil

Trận Verneuil (đôi khi còn được gọi là ‘Vernuil’) là một trận chiến trong chiến tranh Trăm năm, nó xảy ra vào ngày 17 tháng 8 năm 1424 ở gần Verneuil, vùng Normandy và là một thắng lợi đáng kể cho người Anh.Thời gian đen tốiNhững năm đầu của thập kỷ 1420 là một thời gian đặc biệt ảm đạm, trong lịch sử nước Pháp. Vương quốc này không thể phục hồi nổi từ thảm họa tại Agincourt ( sau thảm họa của trận Pointiers nước Pháp có nhà vua Charles V khôn ngoan và Nguyên soáidu Guesclin nên nước Pháp nhanh chóng phục hồi, sau trận Agincourt vua Pháp vẫn bị điên và người Pháp tiếp tục thất bại ) và hầu hết các tỉnh phía Bắc đã nằm trong tay người Anh sau các cuộc chinh phục của Henry V nhằm vào vùng Normandy.

Các cuộc nội chiến giữa hai phe phái Armagnac và Burgundy không cho thấy có dấu hiệu kết thúc. Lúc này Charles Dauphin được công nhận ở các tỉnh phía nam của đất nước như là vua Charles VII, sau cái chết của cha ông-Charles VI trong 1422, nhưng ông ta vẫn chưa được đăng quang ( sau này Charles VII được đăng quang bởi Jan d’Arc-một cô gái chăn cừu ).

Cái chết của Henry V trong cùng một năm với Charles VI chỉ làm người Anh tạm dừng cuộc chiến trong một khoảng thời gian ngắn ngủi rồi các nỗ lực chiến tranh được tiếp tục một cách hiệu quả dưới sự điều hành của John-Công tước xứ Bedford, người làm nhiếp chính cho vị vua sơ sinh-Henry VI. Nước Pháp đang rất cần những người lính và nó đã phải gửi lời thỉnh cầu đến Scotland-đồng minh cũ của nó để xin được cung cấp những viện trợ quân sự cần thiết.

Quân đội của Scotland

Lớp đầu tiên của đội ngũ quân Scotland đến Pháp vào mùa thu 1419, một số lượng 6000 binh sỹ dưới sự chỉ huy của John Stewart, Bá tước 2rd của Buchan. Những người này được bổ sung qua thời gian với những lính tình nguyện người Scotland vượt biển đến sau đó, đã nhanh chóng trở thành một phần của nỗ lực chiến tranh của người Pháp, và vào mùa hè năm 1420 quân đội của người Scotland được coi là một lực lượng riêng biệt trong Quân đội hoàng gia Pháp. Họ đã chứng minh giá trị của họ vào năm sau, khi đóng phần lớn vai trò trong chiến thắng của Pháp tại trận Baugé, đây là lần đầu tiên người Anh phải nhận một thất bại cực kỳ nghiêm trọng ( em trai nhà vua Anh tử trận và hàng loạt quý tộc Anh bị bắt tù binh ). Tâm trạng lạc quan này của người Pháp đã bị sụp đổ một cách tệ hại vào năm 1423, khi nhiều binh sỹ người Scotland của Buchan đã tử trận trong trận chiến Cravant.

Buchan quay trở lại

Vào đầu năm 1424 Buchan đã trở lại mang theo ông một đội quân gồm hơn 6.500 binh sỹ người Scotland. Ông được đi kèm cùng với Archibald Douglas, Bá tước 4th của Douglas-ông này được cho là nhà quý tộc mạnh nhất ở Scotland. Vào ngày 24 tháng 4 năm 1424 quân đội Scotland hải ngoại bao gồm 2.500 kị sỹ và 4000 cung thủ đã tiến vào tổng hành dinh của nhà Dauphin ở Bourges để giúp nâng cao tinh thần cho Charles VII.

Hành quân đến Verneuil

Trong tháng tám quân đội Scotland đã sẵn sàng để hành quân tới giải vây cho tòa lâu đài Ivry ở gần Le Mans, vốn lúc này đang bị vây hãm bởi Công tước xứ Bedford. Douglas (Mới được tấn phong làm Công tước của Touraine) và Buchan rời Tours vào ngày 04 tháng tám để liên kết với các chỉ huy Pháp-Công tước Alençon và các Nam tước của Narbonne và Aumale.

Nhưng trước khi quân đội Scotland có thể đến nơi thì lâu đài Ivry đã đầu hàng người Anh. Chúng ta không thể biết chắc chắn về những gì đã xảy ra trong cuộc hội nghị quân sự được tổ chức bởi các chỉ huy đồng minh. Người Scotland và một số các sĩ quan Pháp trẻ tuổi đã rất sẵn sàng cho một trận chiến với quân Anh, nhưng vị Nam tước Narbonne và giới quý tộc cao cấp lại chưa quên về trận Agincourt nên họ rất miễn cưỡng trong việc chấp nhận những rủi ro.

Sau đó như một sự thỏa hiệp, họ đã nhất trí triển khai tấn công vào các đồn lũy của người Anh ở trên vùng biên giới với xứ Normandy, bắt đầu từ Verneuil ở phía tây. Thị trấn bị chiếm giữ bởi một thủ thuật rất đơn giản: một nhóm quân Scotland, dẫn theo một số đồng bào của họ đóng giả làm tù binh và đóng giả làm quân Anh rồi tuyên bố rằng Bedford đã đánh bại liên quân Pháp-Scotland trong một trận chiến, sau đó cổng thành đã được mở ra.

Bedford xuất hiện

Ngày 15 tháng 8 Bedford nhận được tin Verneuil đã thất thủ vào tay người Pháp và ông nay quyết tâm hành quân nhanh như ông có thể. Ông tới gần thị trấn chỉ hai ngày sau khi người Scotland đã thuyết phục được đồng minh người Pháp của họ đóng quân ở lại, dường như Douglas đã quên béng những bài học từ trận Homildon Hill ( một trận đánh trong một loạt các trận chiến ở vùng biên giới Anh-Scotland, quân Anh đã dùng chiến thuật tốc thắng để đánh bại quân Scotland ). Người ta cho là ông này đã nhận được một tin nhắn từ Bedford rằng ông hãy đến và uống rượi cùng ông kia và sau đó cùng cầu nguyện cho một cuộc họp vào đầu ngày, Douglas trả lời rằng vì không tìm thấy vị công tước ở Anh nên ông này đã đến Pháp để tìm kiếm ông kia.

Sau đó liên quân được triển khai ở khoảng một dặm về phía bắc của Verneuil trên một đồng bằng mở chắn ngang con đường dẫn ra khỏi khu rừng Piseux. Nam tước Narbonne và binh đoàn người Pháp chiếm vị trí ở bên trái của con đường, họ được hỗ trợ ở một bên cánh bởi kỵ binh Pháp, trong khi Douglas và Buchan đóng ở phía bên phải và được hỗ trợ bởi ở một bên sườn tương tự bởi kỵ binh người Lombard được tuyển chọn từ miền bắc Italy.

Aumale đã được phong làm tổng thể, nhưng quân đội Pháp lúc này lại trở nên không đồng nhất bất chấp tất cả các nỗ lực phối hợp chỉ huy chung. Lực lượng của Bedford tiến ra từ khu rừng và ông cũng cho bố trí người của mình thành hai thê đội để phù hợp với cách bố trí của đối phương với cách bố thông thường của người Anh là các kị sỹ được bố trí ở trung tâm và các cung thủ thì ở các bên cánh.

Ông cũng đã để lại một lực luợng dự bị mạnh mẽ gồm khoảng 2000 cung thủ ở phía sau để bảo vệ đoàn hành lý. Bedford đích thân chỉ huy thê đội đối mặt với quân Pháp còn Thomas Montague-Bá tước Salisbury chỉ huy thê đội đối mặt với quân Scotland.

Một ngày đẫm máu

Vào khoảng 4 giờ chiều, như thểcó những tín hiệu được sắp xếp trước, quân đội của hai bên cùng tiến lên một lúc. Khi Bedford cho quân của mìnhtiến đến phạm vi sát thương của cung tên, ông đã ra lệnh dừng lại và các cung thủ bắt đầu cố gắng để đóng những chiếc cọc của họ vào mặt đất, đây là một thiết bị đơn giản nhưng lại rất hiệu quả trong việc đánh bẫy các kỵ binh.

Mặt đất lúc này đã trở nên khô cứng bởi mặt trời mùa hè và các cọc nhọn chỉ có thể được đóng xuống đất một cách cực kỳ khó khăn. Nhìn thấy cơ hội, người Pháp đã bắt đầu triển khai ngay lập tức một cuộc tấn công mà không chờ đợi sự phối hợp từ thê đội của người Scotland. Những cung thủ ở cực bên phải của Bedford đã bị mất cân bằng, điều này cho phép kỵ binh Pháp vượt qua hàng ngũ của họ, để lại mối nguy hiểm ở bên cánh cho chính đạo quân của mình.

Cơ hội của người Pháp đã bị mất đi khi các kỵ binh đã không quay vòng trở lại. Họ ( kị binh Pháp ) tiếp tục phi ngựa về phía đoàn hành lý ở phía bắc ( mà quên béng mất nhiệm vụ của họ là yểm trợ cho đạo bộ binh Pháp), trong khi những kị sỹ trong thê đội của Bedford đã lấy lại được tinh thần và bắt đầu mở một cuộc tấn công vào lực lượng bộ binh Pháp đang ở trước mặt họ. Không thể chịu được cuộc tấn công quá mãnh liệt của quân Anh, thê đội của Nam tước Narbonne đã bị vỡ trận vàbỏ chạy quay trở lại Verneuil, nơi mà rất nhiều người bao gồm cả Aumale-viên tổng chỉ huy đã bị chết đuối trong một con hào.

Sau khi đánh bại thê đội người Pháp, Bedford cho ngừng cuộc truy kích và quay trở lại chiến trường, nơi mà Salisbury đang chiến đấu một cách dữ dộivới người Scotland-lúc này họ chỉ còn lại một mình. Các kỵ binh Lombard lo lắng rằng các kị binh Pháp-đối táccủa họ sẽ chiếm sạch tất cả chiến lợi phẩm, liền phi ngựa vòng qua bên cánh trái của người Anh để tấn công vào đoàn hành lý. Vào thời gian họ đến nơi thì toán kị binh Pháp đã bị đẩy lùi bởi 2.000 cung thủ dự bị của Bedford và đám kị binh người Lombard cũng nhanh chóng phải tháo chạy. Lúc này lực lượng dự bị của Anh vốn đang say máu liền lao vào trận chiến chính và tấn công vào bên cánh phải vốn không được hỗ trợ của người Scotland. Trận Verneuil đi vào giai đoạn kết thúccủa nó khi các kị sỹ Anh dưới sự chỉ huy của Bedford quay trở về từ phía Nam để tấn công Scotland từ phía sau. Lúc này gần như hoàn toàn bị vây kín,quân Scotland đã phải tử chiến đến người cuối cùng.

Một cái giá phải trả quá cao

Verneuil là một trong những trận chiến đẫm máu nhất trong Chiến tranh Trăm năm, nó được mô tả như là một chiến thắng Agincourt thứ hai của người Anh. Tổng cộng có khoảng 6000 binh sỹ Liên quân Pháp-Scotland đã thiệt mạng, trong đó có khoảng 4000 người Scotland. Người Anh mất khoảng 1600người, đây là một con số cao bất thường đối với họ, lớn hơn nhiều so với thiệt hại của họ tại Agincourt, nó cũng cho thấy sự tàn bạo của trận chiến. Bá tước Douglas đã tham gia chiến đấu lần cuối cùng cho phe yếu thế, cùng tử trận với ông có Bá tước của Buchan. Quân đội Scotland hải ngoại đã gần như bị xóa sổ, nhưng nó vẫn chưa sẵn sàng để ra khỏi lịch sử. Rất buồn phiền vì thảm họa tại Verneuil, Charles tiếp tục tôn vinh những người sống sót, một trong số đó là John Carmichael của Douglasdale-vị giáo sĩ của Bá tước Douglas đã tử trận, được tấn phong làm Giám Mục Orléans.

 

 
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s