Trung Hoa Dân Quốc và Việt Nam 1940 -1945

unnamed

Lính Trung Hoa Dân Quốc năm 1942

Trích dịch chương 4 cuốn Việt Nam 1945 của David Marr

Nguyễn Tuấn Anh

Trong số các nước Đồng minh chống lại phe Trục, Trung Hoa có nhiều lý do nhất để chú ý đến các diễn biến ở Đông Dương trước tháng 3 năm 1945. Sau khi rời thủ đô về Trùng Khánh vào năm 1938, các lực lượng Trung Hoa chống lại quân Nhật ngày càng phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ các nước phương Tây qua Đông Dương, Miến Điện và Ấn Độ. Nhật cắt đứt liên kết hậu cần qua Đông Dương vào năm 1940, sau đó chiếm đóng Miến Điện vào đầu năm 1942, chỉ còn hoạt động không vận khó khăn của Mỹ từ Ấn Độ đến Côn Minh, cộng với thỉnh thoảng có đoàn xe tải từ Liên Xô đến Sinkiang. Do đó, khả năng Nhật tấn công ngược theo dòng sông Hồng về phía Côn Minh phải được xem xét nghiêm túc, mặc dù người ta tiếp tục đánh giá rằng mối đe dọa nguy hiểm hơn đối với sự tồn vong của Quốc dân đảng là các đơn vị Lục quân Đế quốc Nhật ở phía đông Trùng Khánh.

Trong khi đó, sự sẵn sàng hợp tác của chính quyền thực dân Pháp với Nhật từ năm 1940 đã gây khó chịu đáng kể ở Trung Hoa, chính quyền ở Trùng Khánh đã cố tình chọn không tuyên chiến với Vichy hoặc chính quyền Đông Dương của Toàn quyền Jean Decoux. Đáp lại, Decoux tránh tiếp xúc với chính quyền Uông Tinh Vệ do Nhật bảo hộ ở Nam Kinh, cố gắng hạn chế sự đàn áp của Nhật đối với Hoa kiều ở thuộc địa, và cố thuyết phục Trùng Khánh rằng duy trì quyền lực của Pháp ở Đông Dương là một hình thức phản kháng Tokyo.16. Người dùng logic Gô loa này là Claude de Boisanger, lãnh đạo cơ quan ngoại giao của Decoux, người đã liên lạc thông qua đại diện của Vichy ở Trùng Khánh cho đến khi người này rời đi vào tháng 7 năm 1943. Sau đó ông ta tự mình vượt qua biên vào tháng 10 để đảm bảo với chính phủ Trung Hoa về mong muốn của Hà Nội thiết lập mối quan hệ thân thiện và tìm kiếm sự hỗ trợ thiết thực trong việc giúp một sứ giả đi qua Trung Hoa tới gặp chính phủ Pháp Tự do ở Algiers.17 Có lẽ vì những lời khẩn cầu này, Tưởng Giới Thạch đã không tuyên chiến với Vichy khi ông chuyển sang nâng cấp quan hệ với Alger vào cuối năm 1943.18

Những quan hệ ngoại giao chằng chịt như vậy phản ánh thực tế cơ bản ở khu vực biên giới Trung Hoa – Đông Dương trong hầu hết thời gian của cuộc chiến. Điều này tạo thuận tiện cho tất cả các bên tham gia chính: Trung Hoa, Nhật và Pháp tránh được sự kích động thù địch. Nhiều lần, các tướng lĩnh Trung Hoa đã cân nhắc, nhưng cuối cùng bác bỏ kế hoạch mở một cuộc tấn công vào Đông Dương.19 Một chiến dịch lớn và nguy hiểm kiểu đó chỉ hợp lý khi có sự phối hợp của các cuộc đổ bộ của Mỹ lên đảo Hải Nam hoặc bờ biển Đông Dương, điều này không được đề cập cho đến khi Mỹ chiếm lại Philippines. Tương tự, các chiến lược gia Nhật không bao giờ thấy Côn Minh là một mục tiêu đủ thuyết phục để mạo hiểm tấn công qua địa hình hiểm trở ở phía nam Vân Nam, nơi mỗi dặm đường chiếm được sẽ mang đến những vấn đề hậu cần mới. Năm 1944, Lục quân Đế quốc đã sử dụng đường Hà Nội-Nam Ninh để hỗ trợ quân đội tấn công phía tây Quảng Tây, nhưng phần còn lại của biên giới không hề bị ảnh hưởng. Trong khi đó, người Pháp hiểu rằng bất kỳ cuộc đối đầu Hoa-Nhật công khai nào ở Đông Dương hoặc vùng phụ cận sẽ gây nguy hiểm cho sự tồn vong của họ. Theo tinh thần của hiệp định Pháp-Nhật, họ đã xây dựng các pháo đài phòng thủ dọc biên giới, sử dụng lao động bản địa với tổng số bốn mươi triệu giờ công.20

Để bám sát các hoạt động chuyển quân lớn của Nhật và các diễn biến khác, tình báo Trung Hoa đã dựa vào các báo cáo vô tuyến bí mật từ các điệp viên Hoa kiều dưới trướng của Tướng Tai Li, giám đốc an ninh của Tưởng Giới Thạch, được bổ sung các điệp vụ trinh sát không ảnh của Không quân Mỹ ở bắc Đông Dương.21 Các cuộc thâm nhập sâu trên bộ bị loại trừ vì sợ làm dấy lên phản công của quân Nhật. Trong mọi trường hợp, điều đó tỏ ra không cần thiết, vì hàng trăm thương nhân xuyên biên giới đã giúp duy trì thông tin hợp lý cho tất cả các bên. Thương mại qua biên giới Trung Hoa-Đông Dương chỉ bị giới hạn bởi nhu cầu ngoại giao cần tuyên bố đó là ”hàng lậu” và Mỹ có xu hướng đánh bom các cây cầu và cơ sở đường sắt trong khu vực. Do sự cần thiết phải tăng-bo giữa các đầu mối đường sắt, các mặt hàng rời như than, gạo, quặng thiếc và bông thô, vốn chiếm ưu thế trong giao thông trước chiến tranh, đã nhường chỗ cho các mặt hàng có giá trị cao hơn nhiều trên một đơn vị trọng lượng. Vì vậy, Trung Hoa xuất khẩu thiếc thỏi, thủy ngân, wolfram và antimon, trong khi Đông Dương xuất khẩu muối, thuốc phiện, thuốc lá và vải. Muối được mua ở bờ biển Bắc Bộ với giá 20 đồng/ kg đôi khi được bán với giá gấp năm mươi lần ở bên kia biên giới Vân Nam,22 do đó muối được gọi là ‘vàng trắng’.23 Một sĩ quan Quân đội Ấn Độ điều tra lại vùng biên cương vào năm 1943 đã tìm thấy bằng chứng phong phú về hoạt động buôn bán như vậy – ví dụ, quan sát thấy 80 con la đến từ Đông Dương chất đầy các bộ phận đầu máy xe lửa để giúp giữ cho tuyến đường sắt Vân Nam thuộc sở hữu của Pháp hoạt động ở phía nam Côn Minh. Tại đồn biên phòng Lào Cai, một tuyến phà hoạt động thường xuyên, với lính Nhật cấp thẻ cho các thương nhân qua lại.24 Một trong những lãnh đạo quân sự của tỉnh Quảng Tây điều hành một tổ chức thương mại xuyên biên giới lớn ở Nam Ninh.25 Mặc dù chúng ta biết rất ít chi tiết về các giao dịch xuyên biên giới của Trung Hoa, nhưng các cơ quan mật vụ Anh đã để lại một hồ sơ tiết lộ về các hoạt động liên kết buôn bán của họ, có trụ sở chính tại Côn Minh. Ý tưởng ban đầu vào tháng 10 năm 1942 là mua cao su từ Đông Dương bằng các đại lý được tuyển dụng ở Trung Hoa. Ngay sau đó, kế hoạch mở rộng sang việc chuyển các nguyên liệu chiến lược khan hiếm như quinin, agar, catechu, benzoin và lụa từ các khu vực bị Nhật chiếm đóng khác qua Đông Dương hoặc Thái Lan đến Côn Minh, sau đó đến Anh. Khi tất cả các kế hoạch này được phát hiện là thiếu các đầu mối địa phương đáng tin cậy, người Anh tập trung vào việc sử dụng kim cương từ Nam Phi, thuốc sulfa, đồng hồ Thụy Sĩ và giấy cuốn thuốc lá để giao dịch trên thị trường chợ đen ở miền nam Trung Hoa. Vào giữa năm 1944, tổ chức chính của Anh, có mật danh là ‘Remorse’, đã trở thành một phần của tập đoàn lớn chủ yếu bao gồm các ngân hàng Trung Hoa, các công ty vận tải và đại diện của các cơ quan hành chính cấp tỉnh, với 6,7% tổng lợi nhuận được chuyển cho tổ chức của Tướng Tai Li như một khoản bảo hiểm chống lại sự cản trở hải quan hoặc bị cướp nhưng được ngụy trang như các cuộc phục kích của du kích. ‘’Remorse” đã làm dịch vụ ngân hàng chợ đen cho ba mươi ba khách hàng phương Tây, bao gồm các tổ chức quân sự, cơ quan đại diện ngoại giao, Hội Chữ thập đỏ, Tổ chức cứu thương Những người bạn, ICI Ltd., Reuters, và bảy công ty thương mại khác. Tuy nhiên, vào tháng 4/1945, “Remorse” đã trợ giúp tài chính cho lính thuộc địa Pháp chạy trốn khỏi sự truy bắt của Nhật, sau đó cung cấp cho họ thực phẩm, quần áo, thuốc men, chăn và chỗ ở tại Vân Nam và Quảng tây cho đến khi người Mỹ đồng ý chịu trách nhiệm lo cho họ.26

Nam Trung Hoa vào đầu những năm 1940 là bối cảnh của một cuộc tranh giành quyền lực phức tạp giữa các nhà lãnh đạo Quốc dân Đảng Trung Hoa, cùng với cuộc kháng chiến chống Nhật. Tưởng Giới Thạch lợi dụng mối quan hệ Hoa-Mỹ và địa vị mới của mình với tư cách là lãnh đạo của một trong bốn cường quốc Đồng minh để làm suy yếu vị thế của các đối thủ lâu đời trong nước và các lãnh chúa cấp tỉnh. Điều này đặc biệt rõ ràng ở Vân Nam, nơi Tướng Long Vân (Lung Yun), người đã nắm quyền kiểm soát tỉnh vào năm 1927, đã chứng kiến quyền tự chủ của mình trước chiến tranh bị xói mòn bởi những yêu cầu dai dẳng của chính phủ Trùng Khánh đối với đàn ông, tiền bạc và vật liệu và thiết bị quân sự. Quân Ủy Trung ương đã thành lập “Cục Quản lý Giao thông Tây Nam”, do Tai Li đứng đầu, để đáp ứng các lợi ích địa phương. Ngay cả việc kiểm soát hoạt động buôn bán thuốc phiện qua biên giới của Lung Yiun cũng bị đe dọa vào tháng 5 năm 1942, khi các đặc vụ của Tai Li giành chiến thắng trong một trận chiến dữ dội với con trai của Lung Yun về ba xe tải chở thuốc phiện thô.27 Lung Yun đã phản ứng với những thách thức như vậy của trung ương bằng cách rút bớt một lượng lớn từ số hàng hóa Mỹ cho vay được chuyển qua dãy Himalaya đến Côn Minh.28 Ông ta cũng nhắm mắt làm ngơ trước các hoạt động chống Tưởng của hàng ngàn trí thức Trung Hoa chạy về Côn Minh khi Nhật chiếm đóng tất cả các thành phố ở phía đông. Tuy nhiên, Lung Yun không thể ngăn cản Tưởng tăng thêm quân chính phủ trung ương ở Vân Nam, cho đến tháng 3 năm 1943, họ đông hơn quân địa phương với tỷ lệ 4 trên 1.29

Một số vấn đề khác là bao vây Tướng Trương Phát Khuê, tư lệnh Chiến khu 4 ở Quảng Tây và tây Quảng Đông. Là người đứng đầu Đội quân Sườn Thép (Ironsides) nổi tiếng trong chiến thắng Bắc phạt của Quốc dân đảng năm 1927, Chang được nhiều người ngưỡng mộ trên khắp Trung Hoa. Tuy nhiên, thực tế việc sau đó Chang đóng vai trò chính trong một số nỗ lực nhằm hạ bệ Tưởng Giới Thạch đã khiến Thống chế lo lắng hạn chế quyền lực của Trương. Sau khi chiến tranh với Nhật bùng nổ vào tháng 7 năm 1937, Trương đã nhận trách nhiệm bảo vệ Thượng Hải, tại đây trong hơn ba tháng, quân đội của ông đã thể hiện một ý chí chiến đấu không ngừng, gây ấn tượng sâu sắc cho đồng hương cũng như dư luận thế giới.30 Năm 1939, Chang được trao quyền chỉ huy Chiến khu 4, nhưng chính vì danh tiếng là một trong những nhà chiến thuật quân sự hàng đầu của Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch đã giữ lại các nguồn lực quan trọng và cương quyết yêu cầu các thuộc cấp chủ chốt phải báo cáo trực tiếp cho Trùng Khánh. Tỉnh Quảng Tây được hưởng lợi từ hoạt động sản xuất và thương mại thời chiến cho đến khi cuộc tấn công Ichigo của Nhật vào giữa năm 1944, gây ra cái chết của hơn một trăm nghìn người, những ngôi nhà bị đốt phá nhiều không đếm xuể, gia súc bị tàn sát, các nhà máy bị phá hủy và thông tin liên lạc bị cắt đứt hoàn toàn.

Liên hệ Hoa – Việt

Trong khi hầu hết giới tinh hoa Hoa Nam chủ yếu coi Đông Dương trong bối cảnh các mối quan tâm cấp bách của riêng họ, mà không hề biết về lịch sử phân chia lãnh thổ và các vấn đề bản sắc. Đối với tất cả những người theo chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa, việc triều Thanh không thể giúp vương quốc Việt Nam thoát khỏi sự đô hộ của Pháp trong thế kỷ XIX là nguyên nhân khiến họ bối rối, ngượng ngùng. Nhiều người biết đến những phát biểu của những người nổi tiếng đầu thế kỷ XX như Liang Ch’i-ch’ao, Sun Yat-sen, và Hu Han-min, những người đã nhiệt thành ủng hộ những nỗ lực của những người yêu nước Việt Nam. Họ thậm chí có thể đã nghe nói về Phan Bội Châu, một nhà tổ chức Việt Nam chống Pháp không mệt mỏi cho đến khi bị bắt ở Thượng Hải năm 1925.32 Vào giữa những năm 1920, các nhà lãnh đạo Quốc dân đảng ở Quảng Châu gặp một thế hệ mới các nhà hoạt động Việt Nam chống thực dân, họ đến Quảng Châu vì nền chính trị sôi động, có cơ hội được đào tạo quân sự tại Học viện Hoàng Phố, và họ hy vọng sự hỗ trợ của nước ngoài trong việc giải phóng đất nước họ. Sau sự sụp đổ một cách bạo lực của mặt trận thống nhất giữa Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 1927, sự quan tâm của Trung Hoa đối với “vấn đề thuộc địa” không còn nữa và các nhà hoạt động Việt Nam buộc phải phân tán. Một số chỉ huy Trung Quốc đã tuyển dụng những người Việt Nam có trình độ học vấn vào các đơn vị quân đội của họ, có lẽ một phần vì cảm giác tội lỗi vì đã không giúp đỡ một cách quả quyết hơn, nhưng cũng bởi vì những người nước ngoài như vậy không có mối liên hệ họ hàng địa phương tác động đến lòng trung thành.

Trong suốt những năm 1930 và đầu những năm 1940, hàng trăm người Việt Nam theo chủ nghĩa chống thực dân tiếp tục hướng đến nền chính trị rối ren, đầy biến động của Trung Hoa. Vì hầu hết đều bị Mật thám Đông Dương truy nã, nên họ luôn có nguy cơ bị một số quan chức Trung Hoa giao nộp cho lãnh sự quán Pháp để đổi lấy đặc lợi.33 Khi những khác biệt về chính trị và cá nhân giữa các Việt kiều phát triển, cũng không có gì lạ khi một nhóm này tố cáo nhóm khác với cảnh sát hoặc cơ quan an ninh Trung Hoa. Việc bị bỏ tù một người bị cáo buộc là cộng sản hoặc đặc vụ Nhật hay Pháp đã trở thành thông lệ. Trong những trường hợp như vậy, điều cần thiết là có thể nói chuyện được với một người bảo trợ có quyền lực hoặc có uy tín của Trung Hoa để họ sẵn sàng đảm bảo cho sự vô tội của một người và sắp xếp để thả người.

Một số Việt kiều đóng vai trò trung gian chính giữa quan chức Trung Hoa và các nhà hoạt động Việt Nam ít thông thạo hơn. Quan trọng nhất cho đến ít nhất là năm 1940 là Hồ Học Lãm, một người từng theo Phan Bội Châu nhiều năm, tốt nghiệp Học viện Quân sự Bảo Định (Paoting) gần Bắc Kinh, và từ năm 1927, là một thành viên của Bộ Tổng tham mưu quân đội Trung Quốc, với cấp bậc Thiếu tá. Hồ Học Lãm được cả những người theo chủ nghĩa cộng sản và không cộng sản Việt Nam kính trọng, một thành tích hiếm có trong những năm 1930. Ông đã nhiều lần cố gắng tập hợp những người chống thực dân thuộc đủ mọi đảng phái. Ông tiến gần nhất đến thành công vào năm 1935-36, khi các nhà lãnh đạo hải ngoại từ Quảng Châu, Côn Minh và Thái Lan đến thủ đô Nam Kinh của Trung Hoa Dân Quốc để thành Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Việt Minh). Sau cuộc họp này, các quan chức chính phủ Trung Hoa đã tiếp đón phái đoàn Việt Minh, cho phép Hội Việt Minh hoạt động và xuất bản một tạp chí tiếng Trung.34 Tuy nhiên, những tranh chấp giữa các thành viên đã khiến Hội không thể hoạt động như dự kiến và tạp chí đã đình bản sau khi phát hành ba hoặc bốn số.35 Không nản lòng, Hồ Học Lãm tiếp tục đảm bảo công ăn việc làm cho Việt kiều, bảo lãnh cá nhân cho các tù nhân người Việt bị cảnh sát Trung Hoa bắt giam, đồng thời sử dụng nhà của ông làm nơi ở miễn phí và hội họp. Sau khi Chiến tranh Hoa-Nhật bùng nổ năm 1937, Hồ Học Lãm và vợ di tản đến Vũ Hán, sau đó là Quý Châu, và cuối cùng là quảng Tây, nơi ông được đảm bảo việc làm tại trụ sở Chiến khu 4 của Trương Phát Khuê.36 Chính tại đây, Hồ Học Lãm đã bị Hồ Chí Minh bám theo, Hồ Chí Minh đã sớm được hưởng lợi từ các mối quan hệ rộng rãi của người quen cũ.

Một người Việt Nam có mối quan hệ tốt khác là Vũ Hồng Khanh, lãnh đạo của Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDĐ) ở Vân Nam.37 Chạy trốn khỏi cuộc đàn áp của thực dân Pháp năm 1930, Vũ Hồng Khanh đăng ký học tại một học viện quân sự Vân Nam, và sau khi được đưa vào Quân đoàn 20 Trung Hoa, ông nhanh chóng thăng lên cấp bậc thiếu tướng. Năm 1941, ông được bổ nhiệm làm giám đốc một trường chuyên đào tạo các thanh niên Việt Nam, Thái Lan và Miến Điện cho các hoạt động xuyên biên giới trong tương lai. Trong nhiệm kỳ của ông, hơn một trăm người Việt Nam đã tham gia chương trình này.38 VNQDĐ ở Vân Nam cũng được hưởng lợi khi có thể tuyển mộ người từ ba đến bốn nghìn công nhân Việt Nam, chủ tiệm và người giúp việc nhà rải rác dọc theo tuyến đường sắt do Pháp làm chủ, mặc dù từ năm 1940 trở đi, nó gặp phải sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của ICP.39

Mặc dù tổ chức của Vũ Hồng Khanh được liệt kê là một chi nhánh của

Quốc dân Đảng, điều này đã không bảo vệ ông ta khỏi bị cảnh sát của Long Vân bắt ba lần. Mỗi lần như thế, các đồng chí của ông phải liên lạc với các quan chức trung ương của Quốc dân đảng để họ bảo lãnh thả ông ra. Trong một số trường hợp, các thành viên các cấp của VNQDĐ không được may mắn như vậy, họ bị trục xuất và giao trả cho chính quyền Pháp, hoặc, trong ít nhất một trường hợp, phải đối mặt với một đội xử bắn của Trung Hoa. Vấn đề là người Pháp liên tục  khẳng định rằng VNQDĐ tham gia vào các vụ mưu sát, cướp của, tống tiền và sản xuất chất nổ. Một số cáo buộc là đúng, một số phát sinh từ hành vi của các băng nhóm không liên quan đến VNQDĐ, và một số do người Pháp ngụy tạo hoàn toàn. Dù sự thật ra sao, các đảng viên VNQDĐ đều tin rằng Long Vân hành động theo sự dụ dỗ tiền bạc của Pháp hơn là bằng chứng của cảnh sát.40 Sau năm 1940, năng lực của Pháp trong việc can thiệp vào các hoạt động ở Vân Nam đã giảm sút nghiêm trọng, nhưng việc Trùng Khánh ngày càng thâm nhập vào lãnh thổ của Long Vân khiến ông ta chắc chắn sẽ tiếp tục quấy rối Vũ Hồng Khanh. Để đối phó, VNQDĐ có thể đã tìm kiếm sự bảo trợ của mạng lưới an ninh mạnh mẽ của Tai Li để giải quyết vấn đề trước mắt, nhưng nó sẽ tạo ra những vấn đề khác.

Điều kiện ở Quảng Tây lại khác, tại đây Tướng Trương Phát Khuê dường như đã tự hào về việc tài trợ cho các cuộc họp của những người chống thực dân Việt Nam đến từ khắp nơi. Như đã đề cập trong chương 3, các cuộc gặp gỡ tại Tịnh Tây (Chinghsi) năm 1941 đã thành lập Việt Nam Dân tộc Giải phóng Đồng Minh, tổ chức này tồn tại trong một thời gian ngắn. Đến đầu năm 1942, Chiến khu 4 đã tuyển 702 thanh niên Việt Nam vào 5 chương trình đào tạo khác nhau. 41. Một số nhà hoạt động lớn tuổi đã hội tụ về Liễu Châu (Liuchou), bao gồm Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần (trước đó được chính quyền tỉnh Quảng Đông bảo trợ) và Trương Bội Công. Vào tháng 6, một phái đoàn gồm mười người của Việt Nam Quốc dân Đảng đã đến từ Côn Minh. Không giống như tại cuộc họp Tịnh Tây năm 1941, không có thành viên ICP nào có mặt trong các cuộc thảo luận mở rộng này.42 Được sự công nhận chính thức của Trung Hoa, với trợ cấp hàng tháng 100.000 đô la Trung Hoa (khoảng 1.200 đô la Mỹ trên thị trường tự do), người ta hy vọng có vũ khí cho sinh viên tốt nghiệp các chương trình đào tạo và các hoạt động phối hợp trên toàn bộ biên giới Trung Hoa-Đông Dương. Có thời điểm, Vũ Hồng Khanh cử một cộng sự đến Trùng Khánh đề nghị Quân sự Ủy viên Hội ra lệnh đình chỉ sự can thiệp của Chiến khu 4, điều này khiến ông ta không được lòng các nhân viên của Chiến khu 4 trong suốt thời gian còn lại của cuộc chiến.43 Khi biết rõ người Trung Hoa muốn Trương Bội Công làm chủ tịch tổ chức mới, Nguyễn Hải Thần đã tức giận rời khỏi Liễu Châu.44 Một người tham gia đã kiên trì phản đối rằng Trung Hoa chỉ sử dụng các nhà cách mạng Việt Nam cho mục đích riêng của họ, đã bị bắt và gán cho là thân Nhật và nhận một bài học nghiêm khắc từ Trương Phát Khuê.45

Dù có vấn đề gì đi nữa, Tướng Trương Phát Khuê vẫn quyết tâm chính thức hoàn thành việc thành lập một tổ chức hoàn chỉnh vào ngày 1 tháng 10 năm 1942 có tên gọi Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội, với điều lệ, chương trình làm việc và các viên chức.46 Người đứng đầu bộ phận chính trị của Chiến Khu 4, Trung tướng Liang Hua-sheng, được bổ nhiệm làm “giám đốc.”47 Trương Bội Công nhận trách nhiệm thành lập Thường trực Hội quán tại Liễu Châu, trong khi các thành viên ban chấp hành khác phân tán đến Côn Minh, Tịnh Tây và Đông Hưng, trên Vịnh Bắc Bộ ngay bên kia biên giới từ Móng Cái. Tuy nhiên, trong vòng sáu tháng, Trương Bội Công đã bị tước chức, Nguyễn Hải Thần bị buộc tội biển thủ quỹ liên đoàn, và Vũ Hồng Khanh phải đối mặt với những thách thức ngày càng tăng của ICP đối với vị trí của mình trong Việt kiều ở Côn Minh.48 Cuối năm 1943, chán nản với tất cả những lời nói xấu sau lưng và dấu hiệu của sự kém cỏi, Tướng Trương quyết định quay trở lại công thức Tịnh Tây năm 1941 và mời ICP tham gia. Về mặt chính thức, điều này có thể được cho phép, theo tinh thần của mặt trận thống nhất Quốc dân Đảng-ĐCSTQ lần thứ hai và sự hợp tác Hoa-Xô chống lại chủ nghĩa phát xít, nhưng Trương hiểu rõ là các đối thủ của anh ta ở Trùng Khánh sẽ cố gắng sử dụng bằng chứng hợp tác với những người cộng sản Việt Nam để chống lại ông ta.

Khi đưa ra quyết định của mình, chắc chắn Trương Phát khuê đã bị tác động bởi những báo cáo thuận lợi từ phụ tá của ông, Tướng Hsiao Wen, tiếp theo là những cuộc thảo luận sâu rộng của ông với Hồ Chí Minh, người đang bị giam giữ. Trương đặc biệt lưu ý về nghị lực, kiến thức về các vấn đề thế giới và khả năng ngoại ngữ của Hồ. Ông ấy hẳn cũng rất ấn tượng trước việc Tướng Feng Yii-hsiang, Phó Chủ tịch Li Tsung-jen và con trai của Tôn Trung Sơn, Sun K’o, đều đã can thiệp trước đó để đề nghị thả ông Hồ. Vì một số lý do, các quan chức lãnh sự Mỹ cũng quan tâm đến trường hợp của Hồ.49 Đây không phải là chính trị gia của một phe phái nhỏ. Từ các nguồn tin từ Trùng Khánh, Trương biết rằng Hồ là thành viên của Quốc tế Cộng sản cũ, nhưng mãi đến tháng 9 năm 1944, ông mới nhận được báo cáo xác nhận rằng Hồ chính là Nguyễn Ái Quốc nổi tiếng.50 Trong khi đó, vào mùa đông năm 1943-44, các cơ quan tình báo Trung Hoa đã kiểm tra khả năng của Hồ trong việc thu thập thông tin đáng tin cậy từ các nguồn của Việt Minh bên trong Đông Dương,51 trong khi đài phát thanh của chính phủ để ông làm công việc phát thanh tuyên truyền nhằm vào thuộc địa.52 Vào tháng 3 năm 1944, một hội nghị thống nhất của Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Việt Cách) được triệu tập tại Liễu Châu, với hầu hết các gương mặt cũ, cộng với Hồ Chí Minh, Lê Tùng Sơn và Phạm Văn Đồng đại diện cho ICP dưới nhiều bí danh khác nhau. Việc cãi vã không hề giảm, nhưng có thể Tướng Trương và Tướng Hsiao Wen đã đoán trước được kết quả đó, họ chỉ đơn giản lợi dụng cuộc gặp như một công cụ để hợp thức hóa các thỏa thuận song phương tiếp theo với ICP và Việt Minh. Điều này được gợi ý bởi sự hỗ trợ ngầm mà Hsiao Wen cung cấp cho ICP nhằm giành quyền kiểm soát chi nhánh Côn Minh của Việt Cách khỏi tay Quốc dân Đảng, cũng như sự quan tâm kỹ lưỡng dành cho kế hoạch hoạt động chi tiết tại Việt Nam của Hồ Chí Minh, mặc dù về mặt kỹ thuật, ông vẫn chỉ là người thay thế trong ủy ban điều hành mới gồm 11 thành viên của Việt Cách.53

Trong khi các thành viên chống cộng sản của Việt Cách ngày càng lo ngại về ảnh hưởng ngày càng tăng của Hồ Chí Minh ở Liễu Châu, họ thậm chí còn lớn tiếng hơn trong việc thúc giục Tướng Trương không cho phép ông ta vượt biên về Việt Nam. Tuy nhiên, vào tháng 8, với cuộc tấn công Ichigo của Nhật đang không ngừng tiến tới Liễu Châu, Tướng Trương quyết định cho phép Hồ về nước, cấp cho ông giấy phép đi lại, giấy chứng nhận được bổ nhiệm trong Việt Cách, thư giới thiệu cá nhân, bản đồ quân sự, tài liệu tuyên truyền, thuốc và 76.000 Trung Hoa tệ. Ông cũng chỉ định mười tám người Việt Nam đã được đào tạo trong ba năm tham gia các hoạt động của Hồ Chí Minh. Đồng ý rằng Hồ C.M. có thể cử người theo học các lớp đào tạo ngắn hạn ở Tunghsing. Nếu người Pháp hoặc người Nhật tấn công trả đũa Việt Minh, Tướng Trương cho phép các đơn vị du kích của Hồ C.M. được tìm kiếm nơi lánh nạn ở Quảng Tây.54 Đến trấn Long Châu, sát biên giới Đông Dương, Hồ C.M. thuyết phục người đứng đầu Hiệp hội nông dân địa phương liên kết với ĐCSTQ lo giúp quần áo dân sự để thay quân phục Quân đội Trung Hoa Dân quốc mà ông và mười tám cộng sự đang mặc.55 Tất cả về đến Cao Bằng vào cuối tháng Tám.

Tháng 11 năm 1944, Việt Minh tuyên bố trên báo kiên quyết bảo vệ mối liên hệ của họ với chính phủ Tưởng Giới Thạch và nhắc lại mong muốn lực lượng Trung Hoa vào Việt Nam để chống lại quân Nhật và Pháp.56 Sau khi thừa nhận rằng “liên minh Việt Minh – Trùng Khánh” vẫn chưa đạt được nhiều thành tựu, rằng một số sĩ quan Trung Hoa chắc chắn có ý định thu lợi cá nhân từ bất kỳ cuộc tiến quân nào vào Việt Nam, và rằng Trung Hoa vẫn duy trì quan hệ với kẻ thù Pháp, những người biên tập và tác giả của bài báo lần lượt giải quyết từng khó khăn. Trích dẫn nhiều tuyên bố chính thức của Trung Hoa phủ nhận bất kỳ tham vọng lãnh thổ nào ở Việt Nam, sau đó họ lập luận thẳng thắn hơn rằng các nhà lãnh đạo ở Trùng Khánh vô ích khi “nuôi hy vọng giấc mơ đế quốc khi chính họ còn chưa thoát khỏi ách đế quốc”. Theo các nhà phân tích Việt Minh này, cuộc tấn công của Nhật hiện đang tiến hành ở Tàu chỉ có thể thực hiện được, bởi vì các lực lượng Quốc Dân Đảng và Cộng sản Tàu tiếp tục tấn công lẫn nhau. Ngoài việc giải quyết các tranh chấp nội bộ nghiêm trọng như vậy, Tàu cần hỗ trợ các cuộc nổi dậy ở những nơi khác ở châu Á, đặc biệt là Triều Tiên và Việt Nam, nếu họ mong muốn đánh bại Nhật. Cho Tàu đi tàu bay giấy (Picking up rhetorical steam), một nhà văn Việt Minh ca ngợi Tàu là “lò lửa cách mạng Viễn Đông” và dường như tán thành việc Tàu tự coi họ là “anh cả” trong cuộc đấu tranh chống đế quốc ở châu Á. Một nhà văn khác nhấn mạnh rằng ‘‘Tàu đang dân chủ hóa” ngày nay về cơ bản khác với Tàu đã gây ra rất nhiều tội ác ở Việt Nam trong thời đại phong kiến. Tuy nhiên, Việt Minh cần được tổ chức trước khi quân của Đồng minh đổ bộ, để tránh hoàn toàn phụ thuộc, điều này được nhấn mạnh nhiều lần – với Nam Tư được coi là hình mẫu.

Chính trị Đông Dương và Trung Hoa thời chiến

Từ năm 1943 trở đi, người Trung Hoa đã có thể dự kiến về sự thất bại cuối cùng của phe Trục và những phác thảo của châu Á thời hậu chiến. Trong khi các quan chức chính phủ suy tính một cách hợp lý rằng việc đầu tiên là quay trở lại các tỉnh ven biển, giải quyết bằng cách nào đó sự chia rẽ giữa Quốc dân đảng và ĐCSTQ và bắt đầu tái thiết nền kinh tế, họ không bỏ qua các câu hỏi về chính sách đối ngoại, bao gồm quan hệ tương lai với các vùng lãnh thổ tiếp giáp với Trung Hoa. Ngay từ năm 1942, Sun K’o, với tư cách là chủ tịch Nhân dân Lập pháp (ND: Nhân dân lập pháp là cơ quan lập pháp đơn viện của Trung Hoa Dân Quốc), đã thúc giục Đồng minh tuyên bố một “Hiến chương Thái Bình Dương”để bổ sung cho Hiến chương Đại Tây Dương năm 1941 do Tổng thống Roosevelt và Thủ tướng Churchill ban hành, theo đó Ấn Độ, Việt Nam, Hàn Quốc và Philippines được hứa hẹn độc lập sau chiến tranh.57 Trong suốt năm 1943, rõ ràng là hầu hết các nhà lãnh đạo chính trị và trí thức Trung Quốc tin rằng người Pháp nên bị tước bỏ chủ quyền đối với Đông Dương, nhưng vẫn chưa có sự nhất trí nào về thể chế nào hay nước nào sẽ thay thế họ. Một tờ báo có ảnh hưởng ở Côn Minh, sau khi bác bỏ dứt khoát việc tiếp tục cai trị của Pháp hoặc ‘nhập vào’ Trung Hoa, đã lập luận ủng hộ một nước cộng hòa Việt Nam độc lập ”hợp tác mật thiết với các nước cộng hòa khác, đặc biệt là Trung Hoa.”58 Ngược lại, một cuốn sách xuất bản tại Côn Minh cùng năm đó đã thúc giục người Đông Dương “thức tỉnh khỏi những lỗi lầm trong quá khứ của tổ tiên mà sự ích kỷ và tham lam đã khiến họ rời bỏ mẫu quốc – Trung Hoa.”59 Những người khác muốn bỏ qua vấn đề độc lập hay phụ thuộc để quan tâm đến việc nêu ra những lợi ích cụ thể cần phải tìm kiếm — ví dụ, quy chế tự do cho cảng Hải Phòng, dịch vụ đường sắt hiệu quả hơn từ bờ biển đến Côn Minh, và ít hạn chế hơn đối với thương mại Trung Hoa bên trong Đông Dương.60 Tại Hội nghị Cairo vào tháng 11 năm 1943, khi Tổng thống Roosevelt tỏ ra sẵn sàng giao Đông Dương cho Tưởng Giới Thạch, Thống chế tỏ ra không quan tâm đến việc sáp nhập lãnh thổ vào Trung Quốc, thay vào đó đề nghị nỗ lực chung với Mỹ để giành độc lập, đó có lẽ là câu trả lời mà Roosevelt muốn nghe trong mọi trường hợp.61

Khi cuộc tấn công của Nhật tiến về phía nam và phía tây vào giữa năm 1944, các kế hoạch của Trung Hoa thời hậu chiến đã phải gác lại vì lợi ích sống sót trước mắt. Khi Tưởng Giới Thạch từ chối điều các sư đoàn thiện chiến hơn của mình đến tiếp viện, hoặc thậm chí từ chối cho cung cấp thiết bị (Lend-Lease equipment) và đạn dược cho các đơn vị cấp tỉnh ở tiền tuyến, Lung Yun và Trương Phát Khuê tức giận rút một số đơn vị của họ lên vùng đồi núi, sẵn sàng nhìn người Nhật nghiền nát các lực lượng chính phủ trung ương trong các thung lũng. Thay vì chiến đấu, các đơn vị trung ương bỏ chạy về phía tây, làm mất uy tín lãnh đạo của Tưởng, nhưng điều này không hoàn toàn kích động một nhóm các nhà lãnh đạo quân sự và dân sự nổi tiếng miền nam Trung Hoa thực hiện âm mưu buộc Tưởng từ chức. Vào tháng 12 năm 1944, các cuộc tấn công của Nhật vào cả Vân Nam và Szechwan dường như sắp xảy ra, nhưng Quân đội Đế quốc Nhật đã tiến nhanh hơn các tuyến tiếp tế của nó, và khả năng Mỹ đổ bộ lên bờ biển Hoa Nam vào đầu năm 1945 khiến quân Nhật phải đề phòng .62

Trong bối cảnh rối ren này, một số đơn vị quân Trung Hoa bị quân Nhật vượt qua đã tự tổ chức thành các khu du kích và sống nhờ vào dân chúng địa phương. Nỗ lực tham vọng nhất được dẫn đầu bởi Nguyên soái Li Chi-shen, một thành viên của nhóm lãnh chúa Quảng Tây trước đây, người đã thành lập một khu tự trị ở phần đông-trung tâm của Quảng Tây, gần biên giới với Quảng Đông. Khu tự trị này được thiết kế để hoạt động như một thỏi nam châm thu hút những người chống đối Tưởng Giới Thạch.63 Một tâm điểm khác cho các sáng kiến kiểu này là khu vực biên giới Trung Hoa-Đông Dương ở phía tây và tây nam Nam Ninh. Chính trong bối cảnh đó, Tướng Trương Phát Khuê đã trả tự do cho Hồ C.M. vào tháng 8 năm 1944 và khuyến khích ông xây dựng một khu du kích Việt Nam liên kết với các nhóm người Hoa ở vùng biên giới. Nguồn gốc cộng sản của Hồ Chí Minh ít được Trương quan tâm trong thời kỳ công khai xa lánh với Trùng Khánh; thực sự, nó có một khía cạnh tích cực, giúp đảm bảo rằng bất cứ đơn vị nào của Việt Nam đươc thành lập sẽ không thể qua mặt Trương kết đồng minh với Tưởng Giới Thạch.

Tuy nhiên, đồng thời, Trùng Khánh cũng theo đuổi nỗ lực của riêng mình để phát triển các căn cứ du kích sau phòng tuyến của Nhật, thường dựa vào các chi nhánh của Quốc dân đảng tại địa phương hoặc các thành viên trong mạng lưới an ninh của Tai Li. Vào giữa năm 1944, Việt Nam Quốc dân Đảng nhận được điện đài từ Trùng Khánh với chỉ thị lập ba trạm liên lạc bên trong Việt Nam. Những trạm này sẽ được điều phối bởi Nghiêm Kế Tổ từ một trụ sở hoạt động tại Đông Hưng. Nếu thành công, điều này sẽ tạo điều kiện cho Quốc dân Đảng phá vỡ sự cô lập ngày càng tăng ở Vân Nam và nâng cao năng lực tuyển mộ thành viên ở Bắc Kỳ. Chính vì những lý do này, vào tháng 8, Tướng Hsiao Wen đã ra lệnh bắt Nghiêm Kế Tổ ở Đông Hưng, liên tục phớt lờ lệnh thả ông ta của các quan chức Trung ương Quốc dân đảng, và cuối cùng trục xuất ông ta về Trùng Khánh vào tháng 12. Sự đối xử độc đoán này đối với Tổ, chỉ có thể hiểu được trong bối cảnh sự cạnh tranh gay gắt trong nội bộ Trung Hoa vào cuối năm 1944, đã làm mất tinh thần nghiêm trọng của Quốc dân Đảng [Việt Nam], đúng vào thời điểm khi những cơ hội mới đang mở ra cho tất cả những người Việt Nam chống thực dân.64

Vào cuối năm 1944, chính quyền trung ương Trung Hoa đã gia tăng áp lực đối với các cuộc điều động của [chính phủ] Pháp Tự do liên quan đến Đông Dương. Ngay từ tháng 5 năm 1941, Tưởng Giới Thạch đã cho phép thành lập một văn phòng [chính phủ] Pháp Tự do nhỏ ở Trùng Khánh, nhưng chỉ coi như là một “phong trào chính trị” liên hệ với Ủy ban Trung ương Quốc dân đảng, không phải Bộ Ngoại giao, cơ quan tiếp tục giao dịch với Vichy cho đến giữa năm 1943.65 Sau đó, các nhà chức trách Trung Hoa cho phép một số đại diện của [chính phủ] Pháp tự do đến Đông Dương qua Côn Minh và rời đi cũng theo đường này. Năm 1943, Tướng Tai Li đạt được thỏa thuận với đại diện của Pháp Tự do là Tư lệnh Hải quân Robert Meynier, về việc mở rộng việc vận chuyển hàng hóa chiến lược giữa Trung Hoa và Đông Dương. Điều này đã thúc đẩy sự bất đồng chính kiến trong các lực lượng Pháp liên kết với Vichy ở thuộc địa, và tang cường tổ chức các nhóm địa phương Đông Dương hỗ trợ các hoạt động quân sự của Đồng minh.66 Khi biết rõ rằng Phái bộ Quân sự Pháp (FMM) tại Trùng Khánh thù địch với Meynier vì có quan hệ với Tướng Henri Giraud hơn là Tướng de Gaulle, Tai Li đã khiến cuộc sống của những người Gaullist rất khó khăn. Một trạm FMM tại Hà Khẩu (Hok’ou), bên kia biên giới đối diện với Lào Cai, đã bị quân Trung Quốc bao vây và những người ở đây đã được người Mỹ từ một trạm khí tượng gần đó giải cứu.67 Đầu năm 1944, Tai Li ra lệnh cho FMM ở Trùng Khánh cắt các liên lạc vô tuyến với Đông Dương.68 Tuy nhiên, một khi người ta hiểu rằng Tướng de Gaulle đã thắng trong cuộc tranh giành quyền lực ở Alger, và đặc biệt là sau khi Đồng minh công nhận chính phủ lâm thời của de Gaulle ở Paris vào tháng 10, thì Trùng Khánh đã thay đổi thái độ, nếu trước đó còn lạnh nhạt, đối với FMM và nhân viên đại sứ quán Pháp.

Chính phủ Trùng Khánh hiểu rằng Tướng de Gaulle cũng như Đô đốc Decoux không muốn thấy các lực lượng Trung Hoa tiến vào Đông Dương, và biết rằng de Gaulle đã thúc giục Washington và London không ủng hộ bất kỳ nỗ lực nào như vậy. Có thể nghi ngờ là de Gaulle thích giữ nguyên trạng Pháp-Nhật hơn bất kỳ sự phá vỡ địa vị nào của Pháp tại thuộc địa trong thời chiến. Tuy nhiên, vào cuối năm 1944, do còn phải đối mặt với các mối đe dọa của Nhật đối với sự tồn vong của chính mình, chính phủ Trung Hoa đã không bỏ nhiều thời gian nghĩ đến những vấn đề như vậy.

Sau khi Nhật tiếp quản ngày 9 tháng 3, tình báo Trung Hoa trước tiên tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy Quân đội Đế quốc Nhật có kế hoạch sử dụng Đông Dương làm bàn đạp cho các cuộc tấn công thọc sườn vào Vân Nam. Vào ngày 13 tháng 3, Đại sứ Pháp tại Trùng Khánh bày tỏ với Bộ trưởng Ngoại giao T. V. Soong rằng chính phủ của ông đã sẵn sàng thảo luận về tương lai mối quan hệ kinh tế Trung Hoa-Đông Dương, một sự thay đổi thái độ có ý nghĩa nhỏ trong ngắn hạn nhưng được cho là đáng được hưởng ứng tích cực hai ngày sau đó.69 Trong khi đó, quân Nhật giới hạn hành động đuổi bắt các đơn vị lính thuộc địa Pháp còn sót lại về phía biên giới, nhưng nói chung không truy đuổi theo họ vào Trung Hoa. Tại một số nơi các sĩ quan Pháp cố gắng tạo ra các căn cứ kháng chiến nhỏ gần biên giới, do đó thu hút sự tấn công của Nhật. Chính quyền Trung Hoa đã yêu cầu FMM ra lệnh cho họ ngừng chiến và rút lui.70 Các quan chức địa phương của Trung Hoa hầu như không khoan dung với lực lượng thực dân kiệt quệ và mất tinh thần, trong nhiều trường hợp, họ bị tước vũ khí và canh giữ.

Vào cuối tháng 5, Tưởng Giới Thạch, với tư cách là tổng tư lệnh của Mặt trận Trung Hoa, chính thức khẳng định quyền hạn của mình đối với các đơn vị quân đội Đông Dương chạy trốn sang Trung Hoa, cũng như bất kỳ đội quân nào tiếp tục chiến đấu với quân Nhật ở Đông Dương. Điều này mang ý nghĩa ngoại giao nhiều hơn là quân sự, vì cả Tưởng và Tổng tham mưu trưởng người Mỹ của ông ta, Tướng Albert Wedemeyer, đều không có ý định tái vũ trang các đơn vị thuộc địa để tham chiến, và cả hai đều biết rằng mọi cuộc kháng chiến của Pháp ở trong Đông Dương đã chấm dứt.71 Trong thời gian này, Trùng Khánh nỗ lực chiếm lại những vùng đất rộng lớn ở Hoa Nam khi quân Nhật rút lui. Nam Ninh được giải phóng ngày 26/5; Liễu Châu ngày 10/6, và đến ngày 20 tháng 7, một phân đội Trung Hoa đã tiến vào Đông Dương để chiếm Móng Cái.72 Tổng hành dinh của Tướng Wedemeyer đưa ra những đề xuất đầy tham vọng về việc quân đội Trung Hoa từ Vân Nam và Quảng Tây tiến quân vào Hà Nội, nhưng Tướng Ho Ying-ch’in, Tổng tham mưu trưởng, lại thích một thế trận phòng thủ, kết hợp với các đội do thám tiến vào Bắc Kỳ.73 Vào giữa tháng 7, khi Đại sứ Pháp nhấn mạnh với Bộ Ngoại giao Trung Hoa về sự cần thiết để quân đội Pháp phối hợp bất kỳ đơn vị nào của Trung Hoa tiến vào Đông Dương, ông rõ ràng không nhận được sự đáp ứng thích đáng, khiến Paris đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự cho cuộc gặp của Tướng de Gaulle với Tổng thống Truman vào tháng Tám.74 Tuy nhiên, gần như cùng thời điểm tại Potsdam xa xôi, các tướng lĩnh Mỹ và Anh đã đồng ý rằng Mặt trận Trung Quốc có trách nhiệm về phía nam tới tận phía vĩ tuyến 16 ở Đông Dương, và không đề cập đến sự tham gia của Pháp.

Trong khi đó, quan hệ giữa Tướng Hsiao Wen và Việt Minh trở nên xấu đi khi Việt Minh lợi dụng điều kiện hỗn loạn ở Việt Nam để mở rộng quyền lực của mình tại hàng trăm thôn, bản vùng cao. Trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 7, Hsiao Wen đã viết thư cho Hồ Chí Minh và gửi thông điệp qua các bên thứ ba chỉ trích Việt Minh là cộng sản, không hợp tác với quân Trung Hoa đang tiến vào [Đông Dương] và liên kết với người Mỹ. Các thành viên của Việt Cách trực thuộc các đơn vị Trung Quốc đã gửi thư đến các nhóm Việt Minh cụ thể yêu cầu họ phải tuân theo chỉ thị hoặc bị tiêu diệt.75 Tuy nhiên, ngoại trừ khu vực biên giới phía đông bắc Hải Phòng, quân đội Trung Hoa vẫn chưa có mặt tại Đông Dương vài tuần sau khi Nhật đầu hàng, để lại địa bàn rộng mở cho Việt Minh trong 5 tháng. Nếu các thành viên chống cộng sản của Việt Cách như Trương Bội Công và Vũ Hồng Khanh nhận ra cơ hội đang bị mất, họ đã không mạo hiểm tách khỏi các nhà tài trợ Trung Hoa và điều động các thành viên về Việt Nam.76 Một trường hợp ngoại lệ là “Trung sỹ To,” trước đây thuộc Quân đội Pháp, dưới danh nghĩa Việt Cách đã dẫn bốn mươi người có vũ trang vượt biên giới đến Gia Hòa, sâu trong tỉnh Lạng Sơn.77

Thái độ của Trung Quốc đối với những người chống thực dân Việt Nam thường kết hợp bởi sự ngưỡng mộ chân thành đối với lòng nhiệt thành yêu nước của họ, những giả định họ như dân tộc thiểu số, như ”em trai” cần phải chấp nhận sự hướng dẫn, và những ý định thực dụng sử dụng họ làm trợ thủ trong các hoạt động ở Bắc Kỳ. Những Việt kiều tinh tế đã học cách chơi theo các sắc thái này để nhận được sự trợ giúp. Tuy nhiên, chỉ có ICP dành sự quan tâm ngang bằng hoặc nhiều hơn cho việc xây dựng một mạng lưới tự trị ở Việt Nam và đã chọn đúng thời điểm mạo hiểm chọc giận Trung Hoa bằng cách tiến hành các hoạt động độc lập.

Không nên cường điệu hóa tầm quan trọng của việc điều động quân Trung Hoa dọc biên giới Đông Dương. Theo quan điểm của các nhà lãnh đạo Trùng Khánh, phát triển về phía đông và đông bắc quan trọng hơn rất nhiều. Người ta nghi ngờ rằng liệu Tưởng Giới Thạch có cảm thấy cần phải nghĩ về Đông Dương nhiều hơn một hay hai lần một tháng hay không. Tuy nhiên, đối với các nhà lãnh đạo ở Vân Nam và Quảng Tây bức tranh hoàn toàn khác. Họ cần được cung cấp thông tin phù hợp về các hoạt động của Nhật ở phía nam, thu được một số lợi ích từ thương mại xuyên biên giới, và có lẽ để xây dựng các kế hoạch tham vọng hơn cho thời bình. Thiếu nguồn lực đủ để đe dọa quân Nhật, họ thỏa mãn với việc tuyển mộ vài trăm Việt kiều và huấn luyện vài chục người trong số đó, thường là nhằm tới mục tiêu mở rộng nhanh chóng khi hoàn cảnh cho phép. Mặc dù chiến tranh kết thúc trước khi mối quan hệ Hoa-Việt này có thể được đưa vào bất kỳ thử thách chiến đấu nào, nhưng kinh nghiệm của cả hai nhóm từ năm 1941 đến tháng 7 năm 1945 sẽ giúp định hình diễn biến các sự kiện ở Việt Nam trong thời kỳ ngay sau chiến tranh.

Viết tắt: ICP= Đảng Cộng sản Đông Dương

Ghi chú

  1. La Feber, ‘Roosevelt, Churchill, and Indochina,’ 1294. Thorne, ‘Indochina,’ 87.
  2. Charbonneau and Maigre, Les Parias, 44. Ngay cả Việt Minh cũng miễn cưỡng thừa nhận Trùng Khánh cần duy trì liên lạc với Decoux vì ‘vấn đề Hoa kiều’. Xem Cứu Quốc, 11-1944, 17.
  3. Claude de Boisanger, On pouvait éviter la guerre d’Indochine: Souvenirs,

1941-1945 (Paris, 1977), 70-75. Cùng lúc đó, Tướng Eugéne Mordant, chỉ huy các lực lượng vũ trang thuộc địa ở Đông Dương, cử đại diện của mình đến Quảng Tây, người đã gặp một trong những cấp dưới của Tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh Chiến khu Bốn. King C. Chen, Vietnam and China, 1938-1954 (Princeton, 1969), 73.

  1. Philippe Devillers, Histoire du Vietnam de 1940 G 1952 (Paris, 1952), 117.
  2. Chen, Vietnam and China, 71-73.
  3. Gabriel Sabattier, Le Destin de l’Indochine: Souvenirs et documents, 1941—

1951 (Paris, 1952), 76-78. Tướng Sabattier khá chỉ trích chương trình xây dựng theo lệnh của Tướng Mordant này.

  1. Tai Li khởi xướng mạng lưới Đông Dương của mình vào năm 1939, bắt đầu từ Hà Nội. Ngay sau đó nó mở rộng đến Sài Gòn, Hải Phòng, Móng Cái, Lạng Sơn và Huế. Liang Hsiung, “Tai Li Chuan” [Tiểu sử của Tai Li] (Đài Bắc [?], 19812), 212.
  2. USNA, OSS collection, U.S. consul, Kunming, to U.S. Embassy, Chungking, 22 Mar. 1943; also OSS, New Delhi, memo D-30, 14 May 1945. Ước tính có khoảng ba tấn muối được đưa vào Trung Quốc qua Lào Cai mỗi ngày.
  3. René Bauchar [René Charbonneau], Rafales sur l’Indochine (Paris, 1946), 4. USNA, OSS collection, American Embassy, Chungking, report 1095, 21 Apr. 1943.
  4. USNA, OSS collection, OSS report A-43919, 5 Oct. 1944.
  5. Cruickshank, SOE, 210-20.
  6. Liang, ‘Tai Li Chuan,” 247.
  7. Barbara W. Tuchman, Stilwell and the American Experience in China, 1911-45 (New York, 1971), 316, 362, 364. Patti, Why Viet Nam? 487.
  8. Lloyd E. Eastman, Seeds of Destruction: Nationalist China in War and Revolution, 1937-1949 (Stanford, 1984), 13-28
  9. Biographical Dictionary of Republican China, ed. Howard L. Boorman (New York, 1968), 1:56-59. Tuchman, Stilwell, 169-70.
  10. Diana Lary, The Kwangsi Clique in Chinese Politics, 1925-1937 (London, 1974), 206.
  11. David G. Marr, Vietnamese Anticolonialism, 1885-1925 (Berkeley and Los Angeles, 1971), 109-15, 125-28, 148, 215-21, 225-26, 238-39, 257-58.
  12. Điều này đã xảy ra với các nhà hoạt động phi cộng sản cũng như cộng sản. Xem, ví dụ, Hoàng Nam Hùng, Năm Mươi Năm Cách Mạng Hải Ngoại (Sài Gòn, 1960), 148-49, và Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đăng: Lịch Sử Đầu Tranh Cần Đại, 1927-1954 (Sài Gòn, 1964), 173-74.
  13. Một nguồn tin chỉ ra rằng Tướng Lư Hán (Lu Han), một người thân và là thuộc hạ của Lung Yun, đã hỗ trợ Việt Nam Độc lập ĐôngMinh Hội để có được sự công nhận của Ủy ban Trung ương Quốc dân đảng. U.S. Department of State, ‘’Political Alignments of Vietnamese Nationalists,’’ Office of Intelligence Research report No. 3708, 1 Oct. 1949, 26.
  14. Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, 182-83. Hoàng Văn Hoan, Giọt Nước trong Biển Cả: Hồi Ký Cách Mạng, 102-8. Calvin E. Mehlert, ‘“Miscellaneous Comments on the Vietnamese Nationalist Movement 1925-1946” (unpublished paper, Berkeley, 1969), 26. Chiang Yung-ching, Hu Chi Ming tsai Chung Kuo [Ho Chi Minh in China] (Taipei, 1972), 120.
  15. Hoàng Văn Hoan, Giọt Nước, 88, 92-94, 109-13. Hoàng Văn Hoan cùng quê ở Nghệ An với Hồ Học Lãm, người cũng là chú ruột của Hồ Tùng Mậu, một trong những người theo Hồ Chí Minh sớm nhất. Theo Chiang Yung-ching, Hu Chi Ming tsai Chung Kuo, 108, con gái của Hồ Học Lãm, Hồ Diệc Lan, là thành viên của ICP. Những ràng buộc cá nhân như vậy giúp giải thích lý do tại sao Hồ Học Lãm, không bao giờ có thiện cảm với chủ nghĩa Mác-Lênin, thường giúp đỡ các đảng viên ICP cũng như những người theo chủ nghĩa dân tộc.

37- Vũ Hồng Khanh cùng quê tỉnh Vĩnh Yên với Nguyễn Thái Học, người nổi tiếng nhất trong số các thủ lĩnh Việt Nam Quốc dân Đảng bị Pháp chém năm 1930.

  1. Mehlert, ‘Miscellaneous Comments,’ 24. Là một viên chức Bộ Ngoại giao ở Sài Gòn năm 1968, Mehlert đã có thể phỏng vấn cả Vũ Hồng Khanh và người cộng sự thân cận của ông Nghiêm Kế Tổ.
  2. Chen, Vietnam and China, 37-40.
  3. Hòang Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, 165-66, 170-71, 175-76, 183.
  4. Chen, Vietnam and China, 51. Chiang Yung-ching, Hu Chi Ming tsai Chung Kuo, 152-53. Những người ghi danh bao gồm ba mươi sáu phụ nữ.
  5. Rất có thể Hồ Chí Minh đã hy vọng tham gia vào những cuộc thảo luận này trước khi ông bị bắt ở biên giới Trung Quốc vào tháng 8 năm 1942.
  6. Mehlert, ‘Miscellaneous Comments,’ 30-31, nói rằng Nghiêm Kế Tổ đã nhận được sự khuyến khích trước của Tướng Ho Ying-ch’in, Tổng tham mưu trưởng ở Trùng Khánh, để vạch ra một kế hoạch thống nhất tất cả các nhà cách mạng Việt Nam trừ những người cộng sản.
  7. Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, 193. Tuy nhiên, Nguyễn Hải Thần vẫn được chỉ định làm ủy viên thường vụ.
  8. Chen, Việt Nam và Trung Quốc, 61-62. Chiang Yung-ching, Hu Chi Ming tsai Chung Kuo, 155-56, cho rằng người này là Hoàng Lương, ông ta đã bị ICP xúi giục.
  9. Ít nhất đến năm 1945, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội cũng tự hào có một lá cờ, màu đỏ với các sọc trắng và xanh ở góc trên bên trái. AOM, INF, GF 67.
  10. Tháng 5 năm 1943, Tướng Liang được thay thế bởi Tướng Hou Chih-ming (Hầu Chí Minh), người dường như trung thành với chính quyền Trung ương Quốc dân đảng hơn là Trương Phát Khuê. Tuy nhiên, đến tháng 1 năm 1944, Tướng Trương đã gạt được Tướng Hou sang một bên để ủng hộ Tướng Hsiao Wen. Chen, Việt Nam và Trung Quốc, 67.
  11. Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, 193-94. Chen, Vietnam and China, 63-64.
  12. Chen, Vietnam and China, 56-60. Chiang Yung-Ching, Hu Chi Ming tsai Chung Kuo, 174-50. Huang Cheng, Hu Chih-ming yti Chung Kuo (Beijing, 1987), 95.
  13. Chen, Vietnam and China, 83. Với sự quan tâm cấp cao dành cho Hồ Chí Minh, tôi nghĩ rằng một loạt các nhà lãnh đạo không cộng sản của Trung Quốc hẳn đã biết hoặc đoán danh tính của Hồ là Nguyễn Ái Quốc, nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên không tiết lộ danh tính ông ta.
  14. Patti, Why Viet Nam? 55.
  15. USNA, DOS special files RGs59, box 7, d. 2, report of 7 Nov. 1944.
  16. Chen, Vietnam and China, 68-70, 74-76. Chiang Yung-ching, Hu Chi Ming tsai Chung Kuo, 164-69. Cả hai tác giả đều coi Hsiao Wen là một “người ủng hộ cộng sản.” Chen cho rằng Hsiao Wen đã giúp đỡ Hồ Chí Minh với mục tiêu phát triển cộng sản ở Đông Dương. Tuy nhiên, không có nguồn nào của CSVN chấp nhận cách hiểu này. Thật vậy, hầu hết mọi người đều coi Hsiao Wen là một kẻ thao túng nguy hiểm chuyên thúc đẩy quyền kiểm soát Đông Dương của Trung Hoa. Trên những bằng chứng hiện có, tôi thấy ông ta là một kẻ cơ hội mong muốn trở thành thủ hiến thời hậu chiến ở Hà Nội, không nhất thiết phải phục vụ lợi ích của chính quyền trung ương Trung Quốc. Tuy nhiên, có khả năng là một số thành viên cấp thấp hơn của Chiến khu 4 đã hỗ trợ ICP với tư cách là cảm tình viên cộng sản hoặc thành viên bí mật của ĐCSTQ.
  17. Huang Cheng, 105.
  18. Cứu Quốc, 11-1944, đặc san 26-trang ‘Về vấn đề Hải Ngoại.’ Mặc dù rõ ràng được in trên một tờ báo có chất lượng thương mại ở đâu đó tại Đồng bằng sông Hồng, ấn bản Cứu Quốc này dường như dựa một phần vào tài liệu nhận được từ trụ sở của Hồ Chí Minh gần biên giới Trung Hoa. (ND theo Hồi ký Xuân Thủy Đặc san Về vấn đề Hải Ngoại có 21 trang?)
  19. Chung Yang Jih Bao (Chungking), ngày 23 tháng 3 năm 1942, dịch trong FRUS: China, 1942 (Washington, D.C., 1957), 730. Không có Hiến chường nào như vậy được đưa ra.
  20. Yunnan Je Bao, ngày 16 tháng 12/1943, như được trích dẫn trong AOM, INF, c. 209, d. 1576. Theo New York Times, ngày 7 tháng 1/1943, Ta Kung Bao (Chungking) chế nhạo đề xuất rằng Trung Quốc có thể chấp nhận Đông Dương để đổi lấy việc nhượng Mãn Châu cho Liên Xô.
  21. Trích dẫn trong USNA, bộ sưu tập OSS, Đại sứ quán Mỹ, Trùng Khánh, báo cáo số. 2945, ngày 9 tháng 9 năm 1944. Rất tiếc, tên sách không được đề cập.
  22. USNA, DOS Hồ sơ đặc biệt RGsg, lô 54-D-190, hộp 10, d. 7, Tổng lãnh sự Mỹ, Côn Minh, ngày 16 tháng 6 năm 1944.
  23. William Roger Louis, Imperialism at Bay, 1941-1945: The United States and the Decolonization of the British Empire (Oxford, 1977), 279-85. Lloyd C. Gardner, Approaching Vietnam: From World War II through Dienbienphu (New York, 1988), 39. Hai tháng trước, Bộ trưởng Ngoại giao T. V. Soong đã tuyên bố công khai rằng không giống như Formosa [Đài Loan], Đông Dương không thuộc lãnh thổ của Trung Hoa. New York Time, ngày 15/9/1943.
  24. Eastman, Seeds of Destruction, 28-34. Tuchman, Stilwell, 1-2, 457-58,
  25. Eastman, Seeds of Destruction, 29-30. Tuchman, Stilwell, 475.
  26. Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, 197-98. Ngược lại, Chen, Vietnam and China, 76-77, quy kết Nghiêm Kế Tổ bị bắt và buộc tội ở Côn Minh vì Việt Nam Quốc dân Đảng đã thương lượng một thỏa thuận làm việc với cơ quan mật vụ Anh. Mặc dù đây có thể là lý do của Hsiao Wen, nhưng Hoàng Văn Đào đã đúng khi tập trung vào sáng kiến Đông Hưng và các liên kết trực tiếp của nó với Trùng Khánh.
  27. Institut Charles-de-Gaulle, Le Général de Gaulle et l’Indochine, 1940-1946

(Paris, 1982) (cited below as DGI), 39—40.

  1. ‘Tai Li Chuan’, 213. Không rõ đây là thỏa thuận tương tự thỏa thuận do Thuyền trưởng Hải quân Hoa Kỳ Milton Miles hỗ trợ (thảo luận bên dưới) hay là một kế hoạch riêng biệt của Tai Li.
  2. Charbonneau và Maigre, Les Parias, 38 tuổi. Vụ giết một sĩ quan tình báo Pháp tại Móng Cái vào tháng 7 năm 1943 cũng có thể là do các điệp viên của Tai Li làm. DGL, 55.
  3. Patti, Why Viet Nam? 36.
  4. AOM, INF, c. 209, d. 1572.
  5. Charbonneau and Maigre, Les Parias, 190, 200, 336.
  6. Patti, Why Viet Nam? 106. Sabattier, Le Destin de l’Indochine, 225-27, 455-62.
  7. FRUS: The Conference of Berlin, vol. 2 (Washington, D.C., 1960), map facing p. 346. AOM, INF, c. 136, d. 1236.
  8. Stein Tonnesson, The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a World at War (London, 1991), 307-9.
  9. AOM, INF, c. 209, d. 1572, messages of 17 and 19 July 1945.
  10. Major Allison K. Thomas, ‘‘The Vietminh Party or League” (report to OSS, 16 Sept. 1945), in lại trong U.S. Congress, Senate Committee on Foreign Relations, Causes, Origins and Lessons of the Vietnam War (Washington, D.C., 1973), 268-70.
  11. Theo Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, 189-98, từ cuối năm 1944, các nhà lãnh đạo Việt Nam Quốc dân Đảng tại Côn Minh đã giao trách nhiệm hoạt động ở Đông Dương cho Đại Việt Quốc Dân Đảng (Đại Việt), tổ chức có quan điểm thân Nhật. Nếu điều này là đúng, một cuộc di chuyển vào Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1945 sẽ khiến [vị thế] của Việt Nam Quốc dân Đảng bị tổn hại trong mắt Đồng minh và làm tổn hại đến Đại Việt trong mắt người Nhật.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s