Sử ký – Luật thư: Nấc đo xác định âm nhạc của văn minh Trung Hoa thời xưa

162238491_f8e9a2b9f3_c

Tích Dã dịch

Sử ký (史記) – Luật thư (律書)

[Hán (漢) – Tư Mã Thiên (司馬遷) soạn
Lưu Tống (劉宋) – Bùi Nhân (裴駰) tập giải]
Đường (唐) – Tư Mã Trinh (司馬貞) sách ẩn, Trương Thủ Tiết (張守節) chính nghĩa ]

Bậc đế vương làm việc dựng nghiệp, đo khuôn lường phép, đều dựa vào Lục luật (六律). [1] Lục luật (六律) là gốc rễ của muôn việc. [2] Là làm nên binh khí lại càng phải coi trọng. [3] Cho nên nói “Nhìn thế trận của quân địch mà biết được lành hay dữ, [4] nghe tiếng hò reo của quân địch mà biết được thắng hay thua.” [5] Đây là cách nghe nhìn không đổi của bậc đế vương xưa nay vậy.

[1] Sách ẩn (索隱): Xét luật (律) có mười hai nấc; sáu nấc Dương gọi là luật (律), lần lượt là Hoàng chung (黃鍾), Thái thấu (太蔟), Cô tiển (姑洗), Nhuy tân (蕤賔), Di tắc (夷則), Vô dịch (無射); sáu nấc Âm gọi là lữ (呂), lần lượt là Đại lữ (大呂), Giáp chung (夾鍾), Trung lữ (中呂), Lâm chung (林鍾), Nam lữ (南呂), Ứng chung (應鍾) vậy. Sao lại gọi là luật? Theo sách Thích danh (釋名) chép “Luật (律) là là bày kể, là bày kể các nấc khí Dương vậy.” Luật lịch chí (律曆志) chép “Lữ (呂) là trình bày, trình bày khí Dương vậy.” Xét: Luật xưa dùng ống tre để làm nấc đo, lại dùng ống ngọc, cuối thời Hán (漢) thì dùng ống đồng. Lữ (呂) cũng gọi là nhàn (閒), cho nên có các tên gọi Lục luật (六律)-Lục nhàn (六閒). Nấc nhàn đầu là Đại lữ (大呂), nấc nhàn thứ hai là Giáp chung (夾鍾) vậy. Người thời Hán (漢) là Kinh Phòng (京房) biết số nấc Ngũ âm (五音)-Lục luật (六律), hiểu sự biến chuyển của luật có mười hai nấc mà chia ra đến sáu mươi nấc, giống Bát quái (八卦) biến chuyển thành sáu mươi tư quẻ vậy. Ví như trên nấc Trung lữ (中呂) đến nấc Chấp thủy (執始), dưới nấc Chấp thủy (執始) đến nấc Khứ diệt (去滅), trên dưới cách nhau, cuối ở nấc Nam sự (南事) thì trọn sáu mươi nấc vậy.

[2] Sách ẩn: Luật lịch chí (律曆志) chép “Xét lịch đặt luật, làm nên các đồ dùng thì phải dựa vào cái khuôn tròn thước vuông, cân nặng nhấc nhẹ, căng dây làm chuẩn, sờ mó kín kẽ, suy tính sâu xa, không gì không dựa vào lục luật.” Lục luật là gốc rễ của muôn việc.

[3] Sách ẩn: Xét Dịch (易) chép “Xuất quân phải dựa vào luật.” Là nói với binh giới thì càng coi trọng dựa vào lục luật vậy. Chính nghĩa (正義): Khí giới mang trong người thì gọi là khí (器), cầm ngoài người thì gọi là giới (械). Giới (械) là cung, tên, dáo, mâu, qua, kích. Lưu Bá Trang (劉伯莊) nói “Nghe tiếng xét luật, nghe nhạc biết chuyện, Sư Khoáng (師曠) nghe hát mà biết quân Tấn (晉)-Sở (楚) mạnh hay yếu, cho nên nói nhà binh càng phải coi trọng vào nó.”

[4] Sách ẩn: Mỗi khi đánh trận, trên trận địch đều có sắc khí, khí mạnh thì tiếng mạnh, tiếng mạnh thì quân địch mạnh. Luật là cái mà để xét sắc khí, cho nên biết được lành hay dữ. Chính nghĩa: Mỗi khi hai quân đối địch, trên đó đều có khí mây và quầng sáng. Thiên quan thư (天官書) chép “Quầng sáng đều nhau thì sức ngang nhau, quầng sáng dày-dài-to thì có thắng, quầng sáng mỏng-ngắn-nhỏ thì không thắng.” Cho nên xem khí mây thì biết được thắng hay thua, mạnh hay yếu.

[5] Sách ẩn: Châu lễ (周禮) chép “Thái sư (太師) nghe tiếng quân reo thuộc nấc luật nào để xét lành hay dữ.” Cho nên Tả truyện (左傳) chép Sư Khoáng (師曠) biết tiếng không vang khỏe của khúc nhạc phương nam. Đại khái giống như thế.

Vũ Vương (武王) đánh vua Trụ (紂) nghe tiếng xem luật, [6] từ mạnh xuân (孟春) cho đến quý đông (季冬) là lúc sát khí cùng nhau, [7] mà theo luật của âm (音) thì hợp với âm Cung (宮). [8] Cùng nấc luật thì theo nhau, là tính tự nhiên của muôn vật, có gì đáng lạ đâu?

[6] Sách ẩn: Việc này đáng có chép từ sách nào đó. Nay thì không rõ.

[7] Chính nghĩa: Người làm vua mà bạo ngược nghiêm ngặt thì ứng với khí lạnh. Khí lạnh sinh ở phương bắc, là khí giết chóc vậy. Vào lúc Vũ Vương (武王) đánh vua Trụ (紂), xét luật thì từ mùa xuân đến mùa đông, khí giết chóc cùng nhau, luật của âm nhạc cũng ứng với chuyện ấy. Cho nên Hồng phạm (洪範)-Cữu trưng (咎徵) chép “Nghiêm ngặt thường lạnh.”

[8] Chính nghĩa: Binh thư (兵書) chép “Khi có đánh trận thì quan Thái sư (太師) xét luật, tiếng quân reo hợp âm Thương (商) thì đánh thắng, việc quân suôn sẻ; hợp âm Giốc (角) thì việc quân có nhiều lo lắng, lòng quân dao động; hợp âm Cung (宮) thì việc quân yên ổn, quân tướng cùng lòng; hợp âm Chủy (徵) thì tướng vội vàng nóng nảy, quân lính vất vả; hợp âm Vũ (羽) vì quân yếu, ít có oai.”

Binh khí là thứ mà thánh nhân dùng để trừ cường bạo, dẹp đời loạn, phá hiểm trở, cứu nguy nan. Từ loài muông thú uống máu hay đội sừng khi bị xâm phạm thì phải đánh lại, huống chi là người mang tính khí tốt-xấu-vui-giận? Vui thì sinh lòng yêu thích, giận thì thêm ý thù ghét, là cái lẽ thường của tính khí vậy. Ngày xưa Hoàng Đế (黃帝) có trận Trác Lộc (涿鹿) để trừ cái họa của vua lửa, [9] vua Chuyên Húc (顓頊) có trận đánh Cộng Công (共工) để dẹp cái hại của vua nước, [10] vua Thành Thang (成湯) có trận đánh Nam Sào (南巢) để trừ mối loạn của nhà Hạ (夏). [11] Hết hưng lại phế, kẻ thắng làm vua, vốn là do thuận ở mệnh trời vậy. Từ đó về sau, những kẻ sĩ lừng lẫy thay nhau nổi lên, vua Tấn (晉) dùng Cữu Phạm (咎犯) [12] mà vua Tề (齊) dùng Vương tử (王子), [13] vua Ngô (吳) dùng Tôn Vũ (孫武), nêu rõ quân luật, thưởng phạt đúng phép, rút cuộc xưng bá chư hầu, kiêm tính đất đai; dẫu không bằng lời cáo thệ của thời Tam đại (三代) nhưng thân quý vua trọng, nổi danh trong đời, không đáng gọi là vinh sao? Há như bọn nhà Nho quèn mù mờ ở đại giác, [14] không hiểu nặng nhẹ, chỉ nói về đức hóa, không biết dùng binh, lớn thì đến mức mang nhục thất thủ, [15] nhỏ thì bị xâm phạm suy yếu, rút cuộc đến nỗi không thay đổi được thế cuộc sao! Cho nên giáo huấn không nên bỏ ở nhà, hình phạt không nên giảm ở nước, đánh dẹp không nên ngừng ở thiên hạ, dùng các thứ ấy có chừng mực, làm các việc ấy có nặng nhẹ vậy.

[9] Tập giải (集解): Văn Dĩnh (文穎) nói “Con cháu của vua Thần Nông (神農) bạo ngược, Hoàng Đế (黃帝) đánh diệt đi, cho nên nói là dẹp vua lửa.”

[10] Tập giải: Văn Dĩnh nói “Cộng Công (共工) là quan chủ về sông nước. Vua Thiếu Hạo (少昊) suy kém, làm việc trái ngược, cho nên vua Chuyên Húc (顓頊) đánh dẹp đi. Vốn là quan chủ về sông nước, nhân đó thuộc hành Thủy (水).”

[11] Chính nghĩa: Nam Sào (南巢) là huyện Sào (巢) thuộc Lư châu (廬州) ngày nay vậy. Hoài Nam Tử (淮南子) chép “Vua Thang (湯) đánh vua Kiệt (桀), đày vua Kiệt đến ở núi Lịch Sơn (歷山), nhân đó cùng với Mạt Hỉ (末喜) cưỡi thuyền trên sông chạy đến ở ngọn núi ở ấp Nam Sào mà chết ở đấy.” Xét tên là núi Sào, ở nước của Sào Bá (巢伯). Nói ấp Nam Sào (南巢) là ở phía nam của Trung Quốc (中國) vậy.

[12] Chính nghĩa: Bấy giờ có Hồ Yển (狐偃), Cữu Quý (咎季). Lại gọi là Tư Thần (胥臣).

[13] Sách ẩn: Từ Quảng (徐廣) nói “Vương tử (王子) là Thành Phụ (成父).

[14] Sách ẩn: Đại giác (大較) là đại pháp (大法). Thuần Vu Khôn (淳于髠) nói “Xe không có cái móc càng thì không phanh lại được.”

[15] Sách ẩn: Từ Quảng nói “Ví như Tống Tương Công (宋襄公) vậy.”

Hạ Kiệt (夏桀)-Ân Trụ (殷紂) tay bắt được lang sói, chân chạy ngang bốn con ngựa, cái dũng không phải nhỏ; lại còn trăm trận trăm thắng, chư hầu sợ phục, cái quyền không phải nhẹ. Tần Nhị Thế (秦二世) đóng quân ở đất không dùng được, [16] dùng binh nhiều lần ở biên thùy, cái sức không phải yếu, lại nữa gây oán với rợ Hung Nô (匈奴), chuốc họa với người Việt (越), cái thế không phải ít. Kịp khi thế cùng uy hết thì kẻ ở ngõ xóm nổi lên chống lại, cái họa sinh ra vì dùng binh không biết nghỉ và lòng tham muốn chẳng biết đủ vậy.

[16] Sách ẩn: Là nói thường dùng binh ở ngoài nơi hẻo lánh. Chính nghĩa: Là nói đem ba mươi vạn quân phòng giữ ở cửa ải phía bắc và phát năm mươi vạn quân giữ ở đất Ngũ Lĩnh (五嶺). Nói dùng binh nhiều lần ở biên thùy là đóng quân ở đất không dùng được.

Cao Tổ (高祖) đã có thiên hạ, người ở ngoài ba phía biên thùy đều làm phản, vua của nước lớn dẫu xưng là phiên phụ nhưng không dốc hết lòng thần phục. Gặp lúc Cao Tổ e ngại việc dùng binh, cũng do mưu của bọn Tiêu (蕭)-Trương (張) nữa, cho nên đóng binh tạm dừng nghỉ, lỏng lẻo không phòng giữ mấy.

Trải đến thời Hiếu Văn (孝文) lên ngôi vua, Tướng quân (將軍) là bọn Trần Vũ (陳武) bàn rằng:

– “Người các nước Nam Việt (南越)-Triều Tiên (朝鮮) [17] từ thời nhà Tần (秦) nội thuộc làm bề tôi, sau lại đem binh ngăn chặn, ngọ nguậy dòm ngó. [18] Vào thời Cao Tổ thiên hạ mới định, người dân tạm yên, chưa thể dùng binh đến đánh dẹp. Nay bệ hạ tỏ lòng nhân huệ vỗ về trăm họ, ban bố ân trạch khắp nước, nên cùng quân dân vui làm, đáng dẹp bọn phản nghịch để thống nhất bờ cõi.”

Hiếu Văn nói:

– “Trẫm tự dùng quan lại mặc áo mũ, không nghĩ đến chuyện ấy. Gặp lúc loạn họ Lữ, công thần-tông thất cùng không cho vì trẫm là kẻ thấp kém, cho nên được ngồi nhầm ngôi vị, thường run run rẩy rẩy, sợ việc chẳng nên. Vả lại binh khí là đồ dữ, dẫu có đánh được thì cũng tổn hại, trăm họ sao tránh được phải lao dịch xa xôi? Lại nữa tiên đế biết không nên làm cho dân vất vả, cho nên không làm chuyện ấy. Trẫm há lại tự làm? Nay rợ Hung Nô (匈奴) vào xâm lấn, quan quân đánh dẹp không có công gì, cha con người dân ở biên thùy khổ vì việc binh ngày càng nhiều. Trẫm thường vì vậy mà đau lòng thương xót, không ngày nào không nghĩ đến chuyện ấy. Nay chưa thể cất binh khí thì hãy tạm giữ vững biên giới mà dò xét, kết hòa thông sứ, làm dịu phương bắc, đấy là lập công nhiều vậy. Tạm không bàn chuyện dùng binh nữa.”

Do đó trăm họ không có việc lao dịch trong ngoài, được nghỉ ngơi ở vườn ruộng, thiên hạ giàu có, giá thóc đến hơn chục tiền, gà gáy chó sủa, khói lửa muôn dặm, có thể gọi là thời yên vui vậy!

[17] Chính nghĩa: Thành Bình Nhưỡng (平壤) của nước Cao Ly (高驪) vốn là thành Vương Hiểm (王險) của quận Lạc Lãng (樂浪) thời Hán (漢), tức đất của nước Triều Tiên (朝鮮) xưa, lúc ấy vua nước Triều Tiên là Mãn (滿) giữ thành ấy.

[18] Sách ẩn: Nhuyễn (蠕) đọc là nhuyễn (軟). Ngọ nguậy là nói hình dáng dẫn thân muốn đánh lấy vậy.

Thái sử công (太史公) nói:

– “Vào thời Văn Đế (文帝), đúng lúc thiên hạ mới rũ khỏi cơn nước lửa, [19] người dân vui nghiệp, trị dân dựa vào ý muốn của họ mới không nhiễu loạn, cho nên trăm họ bèn yên. Bấy giờ có người già sáu-bảy mươi tuổi cũng chưa từng đến phố chợ, ngao du dạo chơi như đứa trẻ con. Đấy là điều mà Khổng Tử (孔子) khen có đức của quân tử chăng!” [20]

[19] Sách ẩn: Là nói thời loạn nhà Tần (秦) đến lúc Hán (漢)-Sở (楚) dấy binh, người dân như rơi vào nồi nước lửa, tức kinh Thư (書) chép “Người dân hãm vào bùn than” vậy.

[20] Sách ẩn: Luận ngữ (論語) chép “Người thiện trị nước được một trăm năm thì cũng có thể làm cho nước ấy bỏ việc đánh giết.”

Thư (書) chép về Thất chính (七正), Nhị thập bát xá (二十八舍), [21] Luật lịch (律曆), là cái mà trời dùng để thông khí của Ngũ hành (五行)-Bát chính (八正), [22] là cái mà trời dùng để làm thành muôn vật. Xá (舍) là chỗ mà Mặt Trời-Mặt Trăng đến nghỉ. Xá (舍) xả hơi vậy.

[21] Sách ẩn: Thất chính (七正) là Mặt Trời, Mặt Trăng, Ngũ tinh (五星). Thất chính dùng để tính thời buổi. Lại theo Khổng An Quốc (孔安國) nói “Thất chính (七正) là Mặt Trời-Mặt Trăng-Ngũ tinh (五星) đều có cách tính riêng. Nhị thập bát xá (二十八舍) là chỗ mà Nhị thập bát tú (二十八宿) đến nghỉ. Xá (舍) là dừng. Tú (宿) là đến nghỉ. Ý nói Mặt Trời-Mặt Trăng-Ngũ tinh di chuyển, có lúc nghỉ ở chỗ của Nhị thập bát thứ (二十八次).

[22] Sách ẩn: Bát chính (八政) là khí của Bát tiết (八節) để ứng với gió của tám phương.

Gió Bất châu (不周) ở phía tây bắc, chủ về sát sinh. Đông Bích (東壁) ở phía đông gió Bất châu, chủ về sinh ra khí mà chuyển về phía đông, đến ở Doanh Thất (營室). [23] Doanh Thất (營室) là nơi chủ về thai nghén khí Dương (陽) mà sinh ra nó. Về phía đông đến ở Nguy (危). Nguy (危) là cái ổ vậy, ý nói là cái ổ của khí Dương, cho nên gọi là Nguy (危). Ứng với tháng mười, ứng với luật là nấc Ứng chung (應鐘). [24] Ứng chung (應鐘) là đối ứng của khí Dương. Ứng với Nhị thập tử (十二子) là Hợi (亥). Hợi (亥) là bao trùm, ý nói là khí Dương ẩn giấu ở dưới, cho nên nói là che trùm. [25]

[23] Sách ẩn: Là chòm Định Tinh (定星). Ở giữa chòm Định Tinh thì có thể dựng nhà, cho nên gọi là Doanh Thất (營室). Chòm sao này có hình ngôi nhà, cho nên Thiên quan thư (天官書) chép là chủ về đền miếu. Đây nói “Chủ về thai nghén khí Dương mà sinh ra nó” là thuyết khác. Chính nghĩa: Thiên quan thư chép “Chòm Doanh Thất (營室) là Thanh miếu (清廟), còn gọi là Ly cung (離宮)-Các đạo (閣道).” Là chòm sao chủ về cung thất.

[24] Chính nghĩa: Ứng (應), đọc là ất chứng (乙證) phiên. Bạch hổ thông (白虎通) chép “Ứng là đối ứng, ý nói muôn vật ứng với khí Dương mà vận động ẩn giấu xuống dưới.” Đầu thời Hán (漢) dựa vào luật lệ của nhà Tần (秦) là lấy tháng mười làm đầu năm, cho nên luật mở đầu từ nấc Ứng chung (應鍾).

[25] Sách ẩn: Xét chương Luật lịch chí (律曆志) chép “Vùi lấp ở tháng Hợi (亥).” Chính nghĩa: Mạnh Khang (孟康) nói “Vùi lấp là ẩn giấu. Khí Âm lẫn khí Dương ẩn giấu, giúp muôn vật trồng cấy.”

Gió Quảng mộ (廣莫) ở phía bắc. Quảng mộ (廣莫) là nói khí Dương ở dưới, khí Âm suy yếu, khí Dương rộng lớn, cho nên gọi là Quảng mộ. Phía đông đến Hư (虛). Hư (虛) là lúc đầy lúc trống, ý nói khí Dương vào mùa đông thì ẩn giấu ở Hư (虛). Vào ngày đông chí (冬至) thì khí Âm ẩn xuống dưới, khí Dương xông lên trên, cho nên gọi là hư (虛). Phía đông đến ở Tu Nữ (須女), [26] ý nói là muôn vật biến động ở đây, hai khí Âm-Dương chưa rời nhau, còn cuốn lấy nhau, cho nên gọi là Tu Nữ (須女). Ứng với tháng mười một, ứng với luật là nấc Hoàng chung (黃鐘). [27] Hoàng chung (黃鐘) là khí Dương theo suối vàng mà chuyển lên. Ứng với Thập nhị tử (十二子) là Tý (子). Tý (子) là sinh sôi , ý nói là muôn vật sinh sôi ở dưới. Ứng với Thập mẫu (十母) là Nhâm (壬)-Quý (癸). Nhâm (壬) là thai nghén, ý nói là khí Dương thai nghén muôn vật ở dưới. Quý (癸) là nói về đo lường, ý là muôn vật có hình dáng cơ thể đo lường được rồi, cho nên gọi là Quý. Phía đông đến Khiên Ngưu (牽牛). Khiên Ngưu (牽牛) là nói khí Dương dẫn dắt muôn vật đi ra. Ngưu (牛) là xông ra, ý nói đất tuy đóng băng nhưng muôn vật có thể xông ra mà nảy nở. Ngưu (牛) là cày cấy trồng trọt muôn vật vậy. Phía đông đến ở Kiến Tinh (建星). Kiến Tinh (建星) là tạo dựng sự sống vậy. Ứng với tháng mười hai, ứng với luật là nấc Đại lữ (大呂). Đại lữ (大呂) ứng với Thập nhị tử là Sửu (丑). Sửu (丑) là buộc lại, ý nói khí Dương ở trên chưa xuống, muôn vật bị níu buộc chưa dám mọc ra.

[26] Sách ẩn: Tên của Vụ Nữ (婺女).

[27] Chính nghĩa: Bạch hổ thông chép “Khí trung hòa của suối vàng, ý nói là khí Dương ở dưới suối vàng nuôi dưỡng muôn vật vậy.”

Gió Điều (條) ở phía đông bắc, chủ sinh ra muôn vật. Điều (條) là nói sửa chữa muôn vật mà sinh ra nó, cho nên gọi là gió Điều (條). Phía nam đến ở Cơ (箕). Cơ (箕) là nói gốc rễ của muôn vật, cho nên gọi là Cơ (箕). Ứng với tháng giêng, ứng với luật là nấc Thái thấu (泰簇). [28] Thái thấu (泰簇) là nói muôn vật cùng sinh ra, cho nên gọi là Thái thấu (泰簇). Ứng với Thập nhị tử là Dần (寅). Dần (寅) là nói muôn vật mới sinh ra vừa ngọ nguậy, cho nêm gọi là Dần (寅). Phía nam đến ở Vĩ (尾), ý nói muôn vật mới sinh như cái đuôi. Phía nam đến ở Tâm (心), ý nói muôn vật mới sinh như nụ hoa. Phía nam đến ở Phòng (房). Phòng (房) là nói cái cửa của muôn vật, đến cửa thì đi ra vậy.

[28] Chính nghĩa: Thấu (蔟), đọc là thiên đậu (千豆) phiên. Bạch hổ thông chép “Thái (泰) là lớn. Thấu (簇) là nhích lên. Ý nói muôn vật bắt đầu mới nhích lên mặt đất mà mọc ra vậy.

Gió Minh thứ (明庶) ở phía đông. Minh thứ (明庶) là nêu rõ muôn vật đã sinh ra hết thảy. Ứng với tháng hai, ứng với luật là nấc Giáp chung (夾鐘). [29] Giáp chung (夾鐘) là nói hai khí Âm-Dương kẹp với nhau. Ứng với Thập nhị tử là Mão (卯). Mão (卯), ý nói là tươi tốt, nói là muôn vật tươi tốt vậy. Ứng với Thập mẫu là Giáp (甲)-Ất (乙). Giáp (甲) là nói muôn vật xẻ màng vỏ mà chui ra. Ất (乙) là nói muôn vật sinh ra ào ào. Phía nam đến ở Đê (氐). Đê (氐) là nói muôn vật đều đến. Phía nam đến ở Cang (亢). Cang (亢) là nói muôn vật đã cao lên. Phía nam đến ở Giác (角). Giác (角) là nói muôn vật đều có cành nhánh như cái sừng. Ứng với tháng ba, ứng với luật là nấc Cô tiển (姑洗). [30] Cô tiển (姑洗) là nói muôn vật mới sinh ra được tưới rửa. Ứng với Thập nhị tử là Thìn (辰), ý nói muôn vật vươn dậy. [31]

[29] Chính nghĩa: Bạch hổ thông chép “Giáp (夾) là màng vỏ. Ý nói là muôn vật chui ra khỏi màng vỏ, chia ra giống nòi.”

[30] Chính nghĩa: Cô (姑), đọc là cô (沽). Tiển (洗), đọc là tiên điển (先典) phiên. Bạch hổ thông chép “Cô (沽) là cũ. Tiển (洗) là mới. Ý nói muôn vật bỏ cũ nảy mới, chẳng gì không tươi sáng.”

[31] Sách ẩn: Luật lịch chí (律曆志) chép “Vươn dậy ở Thìn (辰).”

Gió Thanh minh (清明) ở góc đông nam, chủ về thổi đẩy muôn vật mà chuyển về phía tây đến ở Chẩn (軫). Chẩn (軫) là nói muôn vật càng lớn mà rậm rạp. Phía tây đến ở Dực (翼). Dực (翼) là nói muôn vật đều có lông cánh. Ứng với tháng tư, ứng với luật là nấc Trọng lữ (仲呂). [32] Trọng lữ (仲呂) là nói muôn vật chuyển hết mà đi về phía tây. Ứng với Thập nhị tử là Tỵ (巳). Tỵ (巳) là nói khí Dương đã hết. Phía tây đến ở Thất Tinh (七星). Thất Tinh (七星) là số Dương thành ở số bảy, cho nên gọi là Thất Tinh (七星). Phía tây đến ở Trương (張). Trương (張), ý nói vạn vật đều căng to. Phía tây đến ở Chú (注). [33] Chú (注) là nói muôn vật bắt đầu héo úa, khí Dương rót xuống dưới, cho nên gọi là Chú (注). Ứng với tháng năm, ứng với luật là nấc Nhuy tân (蕤賔). [34] Nhuy tân (蕤賔) là nói khí Âm nhỏ bé, cho nên gọi là Nhuy (蕤), khí Dương ốm yếu không làm việc được, cho nên gọi là tân (賔) 。

[32] Chính nghĩa: Bạch hổ thông chép “Nói là khí Dương sắp lên cao nhất thì càng lớn.”

[33] Sách ẩn: Chú (注), đọc là đinh cứu (丁救) phiên. Chú (注) là cái mỏ chim. Thiên quan thư chép “Chòm Liễu (柳) xếp thành hình cái mỏ chim.” Vậy thì Chú (注) là chòm Liễu (柳) vậy.

[34] Chính nghĩa: Nhuy (蕤), đọc là nhân giai (仁佳) phiên. Bạch hổ thông chép “Nhuy (蕤) là xuống dưới. Tân (賔) là tôn kính. Ý nói khí Dương lên đến tột cùng, khí Âm mới hạ mình tôn kính theo.”

Gió Cảnh (景) ở phương nam. Cảnh (景) là nói khí Dương đến lúc hết, cho nên gọi là gió Cảnh (景). Ứng với Thập nhị tử là Ngọ (午). Ngọ (午) là hai khí Âm-Dương ngang nhau, cho nên gọi là Ngọ (午). [35] Ứng với Thập mẫu là Bính (丙)-Đinh (丁). Bính (丙) là nói khí Dương sáng rõ, cho nên gọi là Bính (丙). Đinh (丁) là nói muôn vật đang lúc đinh tráng, cho nên gọi là Đinh (丁). Phía tây đến ở Hồ (弧). Hồ (弧) là nói muôn vật sang lúc rũ héo, sắp đến lúc chết. Phía tây đến ở Lang (狼). Lang (狼) là nói muôn vật có thể đo đếm được. Xét đoán muôn vật, cho nên gọi là Lang (狼).

[35] Sách ẩn: Luật lịch chí (律曆志) chép “Phân bố ở Ngọ (午).”

Gió Lương (涼) ở góc tây nam, chủ về đất. Đất là chủ đoạt lấy khí của muôn vật. Ứng với tháng sáu, ứng với luật là nấc Lâm chung (林鍾). [36] Lâm chung (林鐘) là nói vẻ run rẩy của muôn vật khi đến lúc chết. Ứng với Thập nhị tử là Mùi (未). Mùi (未) là nói muôn vật đã chín tới, có vị ngon. [37] Phía bắc đến ở Phạt (罰). Phạt (罰) là nói khí muôn vật đã bị đoạt lấy và có thể chặt đi. Phía bắc đến ở Sâm (參). [38] Sâm (參) là nói muôn vật có thể ăn được, cho nên gọi là Sâm (參). Ứng với tháng bảy, ứng với luật là nấc Di tắc (夷則). [39] Di tắc (夷則) là nói khí Âm (陰) [40] phá hại muôn vật. Ứng với Thập nhị tử là Thân (申). Thân (申) là nói khí Âm làm chủ, gây hại muôn vật, [41] cho nên gọi là Thân (申). Phía bắc đến ở Trọc (濁). [42] Trọc (濁) là húc, ý nói muôn vật đều húc vào khí Âm mà chết, cho nên gọi là Trọc (濁). Phía bắc đến ở Lưu (留). [43] Lưu (留) là nói khí Dương còn giữ ở lại, cho nên gọi là Lưu (留). Ứng với tháng tám, ứng với luật là nấc Nam lữ (南呂). [44] Nam lữ (南呂) là nói khí Dương chuyển đi ẩn giấu. Ứng với Thập nhị tử là Dậu (酉). Dậu (酉) là muôn vật đã già, [45] cho nên gọi là Dậu (酉).

[36] Chính nghĩa: Bạch hổ thông chép “Lâm (林) là nhiều. Ý nói muôn vật chín tới, giống nòi nhiều.”

[37] Sách ẩn: Luật lịch chí chép “Che lấp ở Mùi (未).”

[38] Chính nghĩa: Sâm (參), đọc là sở lâm (所林) phiên.

[39] Chính nghĩa: Bạch hổ thông chép “Di (夷) là tổn hại. Tắc (則) là hình pháp. Ý nói muôn vật bắt đầu tổn hại, bị hình pháp.”

[40] Tập giải: Từ Quảng nói “Còn chép là khí Dương (陽).”

[41] Sách ẩn: Luật lịch chí chép “Vững chắc ở Thân (申).”

[42] Sách ẩn: Xét sách Nhĩ nhã (爾雅) chép “Trọc (濁) là nói chòm Tất (畢).”

[43] Sách ẩn: Lưu (留) là chòm Mão (昴). Mao truyện (毛傳) cũng cho rằng Lưu (留) là chòm Mão (昴).

[44] Chính nghĩa: Bạch hổ thông chép “Nam (南) là làm việc. Ý nói khí Dương còn làm việc, giúp cho cây tể mạch (薺麥) mọc lên.”

[45] Sách ẩn: Luật lịch chí chép “Chín tới ở Dậu (酉).”

Gió Xương hạp (閶闔) ở phương tây. Xương (閶) là dẫn đường, Hạp (闔) là ẩn giấu, ý nói khí Dương dẫn đường cho muôn vật đến ẩn giấu ở suối vàng. Ứng với Thập mẫu là Canh (庚)-Tân (辛). Canh (庚) là khí Âm thay đổi cho muôn vật, cho nên gọi là Canh (庚). Tân (辛) là nói muôn vật được có cuộc sống mới, cho nên gọi là Tân (辛). Phía bắc đến ở Vị (胃). Vị (胃) là nói khí Dương đến lúc ẩn giấu, đều gói bọc lại. Phía bắc đến ở Lâu (婁). Lâu (婁) là gọi muôn vật mà cho nó vào trong. Phía bắc đến ở Khuê (奎). [46] Khuê (奎) là giết chóc muôn vật, gói bọc mà cất giấu đi. Ứng với tháng chín, ứng với luật là nấc Vô dịch (無射). [47] Vô dịch (無射) là khí Âm đang thịnh mà làm chủ muôn vật, khí Dương không còn gì nữa, cho nên gọi là Vô dịch (無射). Ứng với Thập nhị tử là Tuất (戌). Tuất (戌) là nói muôn vật đã diệt hết, cho nên gọi là Tuất (戌). [48]

[46] Sách ẩn: Xét chương Thiên quan thư (天官書) chép “Chòm Khuê (奎) chủ về ao rãnh, chòm Lâu (婁) chủ về tụ họp. Chòm Vị (胃) là kho trời.” Nay thuyết này đều khác, cùng Lục luật (六律)-Thập mẫu (十母) lại không giống với Hán thư (漢書).

[47] Chính nghĩa: Đọc là diệc (亦). Bạch hổ thông chép “Dịch (射) là cuối cùng. Ý nói muôn vật theo khí Dương đã đến cuối cùng, lại phải theo khí Âm mà đi, không có ngừng nghỉ.” Thuyết này nói Lục lữ (六呂)-Thập can (十干)-Thập nhị chi (十二支) không giống với Hán thư (漢書).

[48] Sách ẩn: Luật lịch chí chép “Xong vào ở Tuất (戌).”

Số của luật:

– Chín (9) lần chín (9) là tám mươi mốt (81), lấy làm âm Cung (宮).

– Chia ba (3) bỏ một (1) là năm mươi tư (54), lấy làm âm Chủy (徵).

– Chia ba (3) thêm một (1) là bảy mươi hai (72), lấy làm âm Thương (商).

– Chia ba (3) bỏ một (1) là bốn mươi tám (48), lấy làm âm Vũ (羽).

– Chia ba (3) thêm một (1) là sáu mươi tư (64), lấy làm âm Giốc (角).

Độ dài của nấc Hoàng chung (黃鐘) là tám tấc một phần bảy (8 tấc 1/7 phân), ứng với âm Cung (宮). [49]

[49] Sách ẩn: Độ dài của nấc Hoàng chung (黃鍾) là tám tấc một phần mười phân (8 tấc + 1/10 phân), ứng với âm Cung (宮). Xét lời văn trên chép “Số của luật là chín lần chín là tám mươi mốt (9 x 9 = 81), lấy làm âm Cung (宮)”, cho nên nói độ dài (của nấc Hoàng chung) là tám tấc một phần mười phân (8 tấc + 1/10 phân), ứng với âm Cung (宮). Lại có thuyết nói nấc Hoàng chung (黃鍾) dài chín tấc (9 tấc), chín phân là một tấc (9 phân = 1 tấc). Bọn Lưu Hâm (劉歆)-Trịnh Huyền (鄭玄) đều cho là dài chín tấc (9 tấc) và mười phân là một tấc (10 phân = 1 tấc), là không theo thuyết ấy. Nói rằng âm Cung (宮) ứng với nấc Hoàng chung (黃鍾) là nấc đầu của luật, âm Cung (宮) là nấc đầu của Ngũ âm (五音). Tháng mười một ứng với nấc Hoàng chung (黃鍾) là âm Cung (宮) thì âm nhạc được ngay thẳng. Nhiều bản cũ chép “dài phần bảy (/7)” là lầm vậy.

Nấc Đại lữ (大呂) dài bảy tấc năm phân một phần ba (7 tấc 5+1/3 phân). [50]

[50] Sách ẩn: Nói tháng mười một lấy nấc Hoàng chung (黃鍾) ứng với âm Cung (宮). Ngũ hành theo nhau, Thổ (土) sinh ra Kim (金), cho nên nấc Đại lữ (大呂) ứng với âm Thương (商), Đại lữ (大呂) nghĩa là để giúp khí Dương tạo hóa muôn vật.

Nấc Thái thấu (太蔟) dài bảy tấc hai phần bảy phân (7 tấc 2/7 phân), ứng với âm Giốc (角).

Nấc Giáp chung (夾鐘) dài sáu tấc một phân một phần ba (6 tấc + 1 phân + 1/3 phân ).

Nấc Cô tiển (姑洗) dài sáu tấc bốn phần bảy phân (6 tấc 4/7 phân), ứng với âm Vũ (羽). [51]

[51] Sách ẩn: Cũng vì hành Kim (金) sinh ra hành Thủy (水) nên như vậy.

Nấc Trọng lữ (仲呂) dài năm tấc chín phân hai phần ba (5 tấc 9+2/3 phân), ứng với âm Chủy (徵).

Nấc Nhuy tân (蕤賔) dài năm tấc sáu phân một phần ba (5 tấc 6+1/3 phân).

Nấc Lâm chung (林鐘) dài năm tấc bốn phần bảy phân (5 tấc 4/7 phân), ứng với âm Giốc (角). [52]

[52] Sách ẩn: Thủy (水) sinh ra Mộc (木), cho nên là âm Giốc (角). Không ứng với nấc Nhuy tân (蕤賔) là vì khí Âm nổi lên, khí Dương không chủ muôn vật, cho nên bỏ nấc ấy.

Nấc Di tắc (夷則) dài năm tấc bốn phân hai phần ba (5 tấc 4+2/3 phân), ứng với âm Thương (商).

Nấc Nam lữ (南呂) dài bốn tấc tám phần bảy phân (4 tấc 8/7 phân), ứng với âm Chủy (徵).

Nấc Vô dịch (無射) dài bốn tấc bốn phân hai phần ba (4 tấc 4+2/3 phân).

Nấc Ứng chung (應鐘) dài bốn tấc hai phân hai phần ba (4 tấc 2+2/3 phân), ứng với âm Vũ (羽).

Phép tính luật của âm nhạc: [53]

[53] Sách ẩn: Đây là phép tính số của các nấc luật của âm nhạc. Chính nghĩa: Phân (分), đọc là phù vấn (扶問) phiên.

– Tý (子) là một phân (1). [54]

[54] Sách ẩn: Từ đây trở xuống là mười một thần trong Thập nhị thần (十二辰), đều nhân ba lên, là số nhân lên của nấc Hoàng chung (黃鍾).

– Sửu (丑) là hai phần ba (2/3). [55]

[55] Sách ẩn: Xét tháng Tý (子) nấc Hoàng chung (黃鍾) dài chín tấc, tháng Sửu (丑) nấc Lâm chung (林鍾) dài gần sáu tấc. Lấy chín chia sáu là bằng gần một phần ba, cho nên nói Sửu (丑) là hai phần ba phân. Tức là từ số nấc Hoàng chung (黃鍾) chia ba bỏ một thì sinh xuống ra số của nấc Lâm chung (林鍾).

– Dần (寅) là tám phần chín (8/9). [56]

[56] Sách ẩn: Thập nhị luật (十二律) lấy nấc Hoàng chung (黃鍾) làm chủ. Nấc Hoàng chung (黃鍾) dài chín tấc, nấc Thái thấu (太蔟) dài tám tấc. Dần (寅) dài tám phần chín phân, tức là lấy số nấc Lâm chung (林鍾) chia ba thêm một thì sinh lên ra nấc Thái thấu (太蔟). Chính nghĩa: Mạnh Khang (孟康) nói “Khí gốc bắt đầu sinh ra ở Tý (子). Vào lúc chưa phân chia thì Trời-Đất-Người hỗn độn làm một thể, cho nên số của Tý (子) là một.” Hán thư Luật lịch chí (漢書律曆志) chép “Khí gốc Thái Cực (太極) gộp ba làm một, di chuyển ở Thập nhị thần (十二辰), bắt đầu ở Tý (子), nhân ba đến ở Sửu (丑) được ba; lại nhân ba đến ở Dần (寅) được chín; lại nhân ba đến ở Mão (卯) được bảy mươi hai; lại nhân ba đến ở Thìn (辰) được tám mươi mốt; lại nhân ba đến ở Tỵ (巳) được hai trăm bốn mươi ba; lại nhân ba đến ở Ngọ (午) được bảy trăm hai mươi chín; lại nhân ba đến ở Mùi (未) được hai nghìn một trăm tám mươi bảy; lại nhân ba d đến ở Thân (申) được sáu nghìn năm sáu mươi mốt; lại nhân ba đến ở Dậu (酉) được một vạn chín nghìn sáu trăm tám mươi ba; lại nhân ba đến ở Tuất (戌) được năm vạn chín nghìn bốn mươi chín; lại nhân ba đến ở Hợi (亥) được mười bảy vạn bảy nghìn một trăm bốn mươi bảy. Đấy là Âm-Dương hòa hợp, khí mọc ra ở Tý (子), rồi sinh ra muôn vật vậy.” Nhưng đây chép Sửu (丑) là hai phần ba, Dần (寅) là tám phần chín, đều là số thừa của một phân thì Hán thư (漢書) không chép.

Mão (卯) là mười sáu phần hai mươi bảy (16/27). [57]

[57] Sách ẩn: Đây là lấy số của Sửu (丑) nhân ba lên là số của Dần (寅), số của Dần nhân ba lên là số của Mão (卯), được hai mươi bảy. Nấc Nam lữ (南呂) ứng với Mão (卯), dài gần năm tấc một phần ba phân, lấy hai mươi bảy chia ba thì được chín, tức là số gốc của nấc Hoàng chung (黃鍾). Lại lấy mười sáu chia ba thì được năm, dư một phần ba, tức là số của nấc Nam lữ (南呂), cho nên nói Mão (卯) là mười sáu phần hai mươi bảy, cũng là số của nấc Thái thấu (太) chia ba bỏ một thì sinh xuống ra số của nấc Nam lữ (南呂). Tám trong Thập nhị thần (十二辰) dưới đây đều đúng như thế. Nhưng nói Sửu (丑) là hai phần ba và Dần (寅) là tám phần chín thì đều là số dư của một phân.

Thìn (辰) là sáu mươi tư phần tám mươi mốt (64/81).

Tỵ (巳) là một trăm hai mươi tám phần hai trăm bốn mươi ba (128/243).

Ngọ (午) là năm trăm mười hai phần bảy trăm hai mươi chín (512/729).

Mùi (未) là một nghìn hai mươi tư phần hai nghìn một trăm tám mươi bảy (1024/2187).

Thân (申) là bốn nghìn chín mươi sáu phần sáu nghìn năm trăm sáu mươi mốt (4096/6561).

Dậu (酉) là tám nghìn một trăm chín mươi hai phần một vạn chín nghìn sáu trăm tám mươi ba (8192/19683).

Tuất (戌) là ba vạn hai nghìn bảy trăm sáu mươi tám phần năm vạn chín nghìn bốn mươi chín (32768/59049).

Hợi (亥) là sáu vạn năm nghìn năm trăm ba mươi sáu phần mười bảy vạn bảy nghìn một trăm bốn mươi bảy (65536/177147).

Phép tính luật từ nấc Hoàng chung (黃鐘) là:

– Từ nấc Dương sinh xuống nấc Âm [58] thì nhân hai (2) số phân tử, nhân ba (3) số phân mẫu. [59]

[58] Sách ẩn: Thái Ung (蔡邕) nói “Nấc Dương sinh ra nấc Âm là sinh xuống, nấc Âm sinh ra nấc Dương là sinh lên. Từ Tý (子)-Ngọ (午) về phía đông là sinh lên, về phía tây là sinh xuống.” Lại nữa Luật lịch chí (律曆志) chép “Âm-Dương sinh ra nhau, mở đầu là nấc Hoàng chung (黃鍾), nấc Hoàng chung sinh ra nấc Thái thấu (太蔟), cứ thế chuyển về phía trái một vòng được tám và tám nấc làm đôi.” Từ Tý (子) đến Mùi (未) là tám nấc, sinh xuống ra nấc Lâm chung (林鍾). Lại từ Mùi (未) đến Dần (寅) cũng được tám nấc, sinh lên ra nấc Thái thấu (太蔟). Do đó lên xuống sinh ra nhau đều lấy đó làm chuẩn.

[59] Sách ẩn: Là nói nấc Hoàng chung (黃鍾) sinh xuống ra nấc Lâm chung (林鍾), nấc Hoàng chung (黃鍾) dài chín tấc (9 tấc), nhân hai phân tử là hai nhân chín bằng mười tám (2×9= 18), nhân ba phân mẫu là lấy ba làm phân mẫu, chia gọn lại (phân tử chia cho phân mẫu) bằng sáu (18/3 = 6), là độ dài của nấc Lâm chung (林鍾).

– Từ nấc Âm sinh lên nấc Dương thì nhân bốn (4) số phân tử, nhân ba (3) số phân mẫu. [60]

[60] Sách ẩn: Nhân bốn phân tử là nói nấc Lâm chung (林鍾) sinh lên nấc Thái thấu (太蔟), độ dài của nấc Lâm chung (林鍾) là sáu tấc (6 tấc), lấy bốn nhân sáu thì được hai mươi tư (4 x 6 = 24), lấy chia ba rút gọn được tám (24 / 3 = 8), là độ dài của nấc Thái thấu (太蔟).

– Lớn nhất là số chín (9), âm Thương (商) là số tám (8), âm Vũ (羽) là số bảy (7), âm Giốc (角) là số sáu (6), âm Cung (宮) là số năm (5), âm Chủy (徵) là số chín (9). [61]

[61] Sách ẩn: Số của Ngũ thanh (五聲) cũng là sinh lên thì chia ba thêm một, sinh xuống thì chia ba bỏ một. Âm Cung (宮) sinh xuống ra âm Chủy (徵), âm Chủy (徵) thêm một sinh lên ra âm Thương (商), âm Thương (商) sinh xuống ra âm Vũ (羽), âm Vũ (羽) thêm một sinh lên ra âm Giốc (角). Nhưng lời này có vẻ sai, chưa rảnh xét kỹ được.

– Lấy số một làm gốc thì lấy số chín và số ba làm phân mẫu. [62]

[62] Sách ẩn: Hán thư luật lịch lịch chí.(漢書律曆志) chép “Khí buổi đầu là Thái Cực (太極) gồm cả ba [Trời-Đất-Người] làm một, rồi vận hành ở Thập nhị thần (十二辰), bắt đầu di chuyển ở Tý (子), nhân ba lên ở Sửu (丑) thì được ba (3), lại nhân ba lên ở Dần (寅) thì được chín (9).” Đây là nói do đó mà được số chín và số ba vậy. Vi Chiêu (韋昭) nói “Đặt số một (1) làm gốc mà sinh ra số chín (9), là vì nhân ba (3) lên vậy.” Nhạc Sản (樂產) nói “Khí sinh ra ở Tý (子) là một (1), đến Sửu (丑) là ba (3), đấy là từ số một đến số ba vậy. Lại từ Sửu (丑) đến Dần (寅) là chín (9), đều lấy nhân ba lên, đây là số chín và số ba vậy. Lại nhân ba lên ở Mão (卯) là hai mươi bảy (27), nhân ba lên ở Thìn (辰) là tám mươi mốt (81), lại nhân ba lên ở Tỵ (巳) là hai trăm bốn mươi ba (243), lại nhân ba lên ở Ngọ (午) là bảy trăm hai mươi chín (729), lại nhân ba lên ở Mùi (未) là hai nghìn sáu trăm tám mươi bảy (2687), lại nhân ba lên ở Thân (申) là sáu nghìn năm trăm sáu mươi ba (6563), lại nhân ba lên ở Dậu (酉) là một vạn chín nghìn sáu trăm tám mươi ba (19683), lại nhân ba lên ở Tuất (戌) là năm vạn chín nghìn bốn mươi chín (59049), lại nhân ba lên ở Hợi (亥) là mười bảy vạn bảy nghìn một trăm bốn mươi bảy (177147), gọi là số nhân lên. Đấy là Âm-Dương hòa hợp, khí nảy lên ở Tý (子), sinh ra muôn vật. Mà Sửu (丑) được phần ba (/3), Dần (寅) được phần chín (/9), là số dư của một phần (1/) vậy.”

– Phân tử bằng phân mẫu, là được dài một tấc (1 tấc), [63] cả thảy được chín tấc (9 tấc), gọi là âm Cung (宮) của nấc Hoàng chung (黃鐘). Cho nên nói âm (音) bắt đầu ở âm Cung (宮), cuối cùng ở âm Giốc (角), [64] số (數) bắt đầu ở số một (1), cuối cùng ở số mười (10), lớn lên ở số ba (3), khí (氣) bắt đầu từ ngày đông chí (冬至), cứ thế xoay vòng lại sinh ra.

[63] Sách ẩn: Phân tử bằng phân mẫu là bằng một (1). Phân tử là nói từ Tý (子) là số một (1) nhân ba lên ở Sửu (丑) là ba (3), đến ở Hợi (亥) là mười bảy vạn bảy nghìn một trăm bốn mươi bảy (177147) là số phân tử. Bằng phân mẫu là nói số phân mẫu là một vạn chín nghìn sáu trăm tám mươi ba (19683) chia cho số phân tử thì bằng chín (9), là độ dài của nấc Hoàng chung (黃鍾). Nói “bằng một” là nói phép tính đặt ra phân mẫu vậy. Dưới từ “được” là từ “dài một tấc” đều từ diễn giải thêm. Vi Chiêu (韋昭) nói là được một phần chín tấc (1/9 tấc). Họ Diêu [Diêu thị (姚氏) ] nói được một (1) là số con (phân tử) của nấc Hoàng chung (黃鍾).

[64] Sách ẩn: Là như lời trên nói âm Cung (宮) sinh xuống ra âm Chủy (徵), âm Chủy (徵) sinh lên ra âm Thương (商), âm Thương (商) sinh xuống ra âm Vũ (羽), âm Vũ sinh lên ra âm Giốc (角), đến đây là cuối cùng vậy.

Thần (神) sinh ra ở chỗ không có hình, [65] muôn vật có hình (形) sinh ra ở chỗ có hình, [66] sau khi muôn vật có hình rồi thì mới có số (數), có hình rồi mới có thanh (聲). [67] Cho nên nói thần (神) sinh ra khí (氣), khí sinh ra muôn vật có hình. Muôn vật có hình là có dáng vẻ có thể chia ra các giống loài. Muôn vật chưa có hình thì chưa thể chia ra các giống loài, muôn vật có hình giống nhau thì cùng giống loài. Muôn vật có giống loài thì có thể phân biệt, muôn vật có giống loài thì có thể nhận biết được. Thánh nhân (聖人) biết được các giống loài ở trong trời đất, cho nên khi phân biệt được muôn vật đã có hình thì nhận biết được muôn vật từ lúc chưa có hình, [68] nhân đó biết được các vật nhỏ bé như khí (氣), hiểu được các vật sâu xa như thanh (聲). [69] Do đó thánh nhân (聖人) dựa vào thần (神) mà nhận biết được muôn vật. [70] Muôn vật dẫu có nguồn gốc sâu xa nhưng tất có quy luật, xét kỹ quy luật sâu xa ấy thì sẽ thấy rõ vậy. [71] Nếu không có tấm lòng của thánh nhân để nêu rõ tính thông suốt thì ai có thể nhận biết được cái thần của trời đất mà hiểu rõ được nguồn gốc của muôn vật có hình đây? Thần (神) là chủ làm ra muôn vật nhưng không thể biết rõ được sự đến hay đi của nó. [72] Cho nên thánh nhân (聖人) kính sợ mà muốn nhận biết được nó. Chỉ khi muốn nhận biết được thì mới nhận hiểu biết được thần. [73] Người đã muốn nhận biết được thì chẳng gì quý bằng. [74]

[65] Chính nghĩa: Chỗ không có hình là khí Thái Dịch (太易), vào lúc trời đất chưa thành hình. Ý nói thần (神) vốn ở giữa của cõi Thái Hư (太虛) mà không có hình vậy.

[66] Chính nghĩa: Khi trời đất đã phân chia, Nhị Nghi (二儀) đã thành chất, lúc ấy hình của muôn vật được tạo thành ở giữa cõi trời đất, thần (神) cũng ở trong ấy.

[67] Chính nghĩa: Số (數) là nói số của trời. Thanh (聲) là nói các âm Cung (宮), âm Thương (商), âm Giốc (角), âm Chủy (徵), âm Vũ (羽). Ý nói số của trời đã thành thì mới làm nên Ngũ thanh (五聲).

[68] Chính nghĩa: Đã có là nói lúc muôn vật đã có hình chất, chưa có là nói lúc trời đất chưa có hình.

[69] Chính nghĩa: Khí (氣) là nói khí của cõi Thái Dịch (太易), thanh (聲) là nói thanh của Ngũ thanh (五聲).

[70] Chính nghĩa: Nói là thánh nhân (聖人) dựa vào việc thần (神) tạo ra hình thể của muôn vật mới lần theo dấu vết đó mà biết được khí của cõi Thái Dịch (太易), cho nên nói dựa vào thần (神) mà nhận biết được muôn vật. Như trên nói phân biệt được muôn vật đã có hình thì nhận biết được muôn vật từ lúc chưa có hình vậy.

[71] Chính nghĩa: Ý nói muôn vật dù có tính chất sâu xa, nhưng phải nên xét kỹ cái tính chất ấy, rồi mới hiểu rõ được cái quy luật sâu xa, mới thấy được hình thể của nó, phân biệt được thanh âm của nó, cho nên nói là thấy rõ.

[72] Chính nghĩa: Nói là muôn vật nhận lấy khí sâu xa, không thể nhìn thấy. Thần đến hay đi thế nào cũng không biết được.

[73] Chính nghĩa: Ý nói thánh nhân sợ quy luật sâu xa khó biết, cho nên thường muốn nhận biết được nó. Chỉ khi muốn nhận biết thì mới nhận biết được nó vậy.

[74] Chính nghĩa: Ý nói người bình thường muốn hiểu biết được quy luật sâu xa ấy thì cũng chẳng gì quý báu hơn.

Thái sử công (太史公) nói:

– “Người xưa xem sao Tuyền Cơ (旋璣)-Ngọc Hành (玉衡) để xét Thất Chính (七政) có chuyển động đúng đường hay không, là nói Nhị thập bát tú (二十八宿), [75] Thập mẫu (十母), [76] Thập nhị tử (十二子), [77] Chung luật (鐘律) đã được gán ghép từ thời xa xưa. Đặt luật (律), tính lịch (歷), làm nhật độ (日度), có thể dựa vào nó mà đo đếm. Làm phù tiết (符節), trổ đạo đức (道德), là đều theo nó vậy.”

[75] Chính nghĩa: Tú (宿), đọc là tức tụ (息袖) phiên, lại đọc là túc (肅). Là nói phương đông có các chòm sao Giác (角), Cang (亢), Đê (氐), Phòng (房), Tâm (心), Vĩ (尾), Cơ (箕); phương nam có các chòm sao Tỉnh (井), Quỷ (鬼), Liễu (柳), Tinh (星), Trương (張), Dực (翼), Chẩn (軫); phương tây có các chòm sao Khuê (奎), Lâu (婁), Vị (胃), Mão (昴), Tất (畢), Chủy (觜), Sâm (參); phương bắc có các chòm sao Đấu (斗), Ngưu (牛), Nữ (女), Hư (虛), Nguy (危), Thất (室), Bích (壁); cả thảy là hai mươi tám chòm sao có một trăm hai mươi tám ngôi sao.

[76] Chính nghĩa: Thập can (十干) là Giáp (甲), Ất (乙), Bính (丙), Đinh (丁), Mậu (戊), Kỷ (己), Canh (庚), Tân (辛), Nhâm (壬), Quý (癸).

[77] Chính nghĩa: Thập nhị chi (十二支) là Tý (子), Sửu (丑), Dần (寅), Mão (卯), Thìn (辰), Tỵ (巳), Ngọ (午), Mùi (未), Thân (申), Dậu (酉), Tuất (戌), Hợi (亥).

Sách ẩn: Thuật tán rằng:

Xưa vua Hiên Hậu (軒后),
Lệnh cho Linh Luân (伶綸),
Nghe tiếng trầm bổng,
Cân bằng dày mỏng,
Xem xét khí hậu,
Ngắm trông trăng sao,
Sắp đặt quân dung,
Điều chỉnh nhạc cụ,
Xét nhỏ biết to,
Đo đếm như thần,
Tấm lòng thấu tỏ,
Nuôi dưỡng muôn dân.

Ảnh: 12 ống tre xác định luật [lấy ống tre thứ 1 dài 81 phân làm gốc rồi lần lượt chia theo tỷ lệ “chia ba bỏ một ” (2/3) và “chia ba thêm một” (4/3) thì được độ dài của 11 ống tre còn lại]

 

One thought on “Sử ký – Luật thư: Nấc đo xác định âm nhạc của văn minh Trung Hoa thời xưa

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s