Vị trí thật sự của Giai Cấp Công Nhân trong nền Văn Minh Công Nghiệp

Nguyễn Ngọc Lanh

 I . Marx sáng tạo cái thước rất tổng hợp để đo trình độ xã hội

Con người – sau nhiều triệu năm sống hoang dã (kiếm sống bằng khai thác những gì sẵn có trong thiên nhiên) bước vào kỷ nguyên văn minh mới được 8 hay 10 ngàn năm. Từ hái lượm, săn bắt chuyển sang trồng trọt, chăn nuôi.

Sớm nhìn ra tầm quan trọng của cái nền kinh tế ở mọi xã hội, Marx đã đưa ra khái niệm “phương thức sản xuất” (dưới đây viết tắt là PTSX), từ đó dẫn đến khái niệm rộng hơn: Các hình thái kinh tế-xã hội (trong đó có chế độ chính trị). Kể từ khi đó (cách nay đã 150 năm), đây là cái thước tổng quát nhất để đo trình độ và xếp hạng các xã hội đã có. Và Marx cũng dùng nó dự đoán những xã hội tương lai.

– Một cách vắn tắt, phương thức sản xuất (PTSX) gồm 2 yếu tố:

     1- Lực lượng sản xuất là cách con người tác động vào thiên nhiên để tạo ra sản phẩm; nó đo trình độ khoa học, kỹ thuật của một xã hội.

     2- Quan hệ sản xuất là cách phân phối sản phẩm giữa người với người; nó đo sự tiến bộ về chế độ chính trị của xã hội đó.

– Lực lượng sản xuất cứ lớn lên nhờ sự tích lũy tri thức (không nhờ đấu tranh giai cấp) và khi lớn đủ mức, nó phá vỡ quan hệ sản xuất cũ (chật chội) để kiến tạo quan hệ sản xuất mới (rộng rãi hơn) – tạo ra sự phân phối công bằng hơn.

Sự sắp xếp của Mác khá ổn khi ông nghiên cứu lịch sử các xã hội châu Âu, nhưng ông lúng túng khi xếp loai “phương thức sản xuất châu Á”. Té ra, cái mà chúng ta vẫn gọi là chế độ phong kiến (ở Tàu, Ai Cập, Nga, Iraq, Việt…) lại bị Mác coi là “lạc hậu hơn cả chế độ nô lệ ở châu Âu” (xem dưới).

II . Mác xếp loại những cái đã có, để… dự đoán cái sẽ có

1- Cái đã có, gồm:

     – Phương thức sản xuất (PTSX) cộng sản nguyên thủy. Dài hàng triệu năm. Đó là… chẳng sản xuất gì hết, mà khai thác những gì sẵn có trong thiên nhiên. Con người sống hoang dã (hái lượm, săn bắt). Sau đó, bước chập chững vào kỷ nguyên văn minh.

     – PTSX châu Á: Xuất hiện từ 5-10 ngàn năm trước, nhưng phát triển rất chậm, do vậy tới tận thế kỷ 19, 20 mà vẫn chưa thể chuyển nổi sang một phương thức mới. Mác tỏ ra lúng túng khi xếp PTSX này thấp hơn PTSX nô lệ ở châu Âu. Nhưng, quả thật, xã hội nông nghiệp châu Á trì trệ tới mức năm 1861, dân Nga vẫn sống dưới chế độ nông nô; còn Việt Nam, đến 1945 nông dân vẫn chiếm 95% dân số. Nói cụ thể, xã hội phát triển chậm rì rì như loài sên, nhưng từ khi Marx sinh ra, các nước nông nghiệp lạc hậu tiến vèo vèo lên CNXH, “bỏ qua” các phương thức sản xuất mà hầu hết các quốc gia không có cách nào tránh né, tốn hàng trăm thế hệ, kiếp người. Đã có một bài phản ánh tình trạng này. Nhan đề: Tiến lên CNXH từ PTSX châu Á (!).

     – PTSX nô lệ. Chủ nô sở hữu tuyệt đối mọi của cải, tài nguyên, trong đó quan trọng nhất là đất đai và nô lệ. Còn giới nô lệ không sở hữu bất cứ gì, kể cả mạng sống của mình. Ngoài hai giai cấp đối kháng nói trên, xã hội vẫn có những người dân “tự do” chiếm tỷ lệ đa số.

     – PTSX phong kiến. Nô lệ được chủ nô giao cho quyền “sử dụng đất” do vậy trở thành nông dân tá điền (nông nô), được chủ động làm việc trên mảnh đất được giao và phải nộp sản phẩm theo mức “khoán”. Chủ nô trở thành phong kiến (vua, hoàng tộc, quan lại). Theo Mác, đó là thành quả đấu tranh của nô lệ với giai cấp chủ nô.

     – PTSX tư bản. Đặc trưng được Marx nêu ra: Đây là xã hội sản xuất hàng hóa và bóc lột giá trị thặng dư do công nhân làm ra. Còn giới tư bản thì nhấn mạnh “quyền tư hữu” và dùng luật pháp để bảo vệ nó. Mác cho rằng công nhân là “nhân tố mới”, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, xứng đáng lãnh đạo cách mạng giải phóng bản thân mình và giải phóng toàn xã hội.

2- Cái sẽ phải có, Marx dự đoán gồm:

     – PTSX XHCN. Theo Marx, đây là xã hội do công nhân làm chủ, chế độ rất công bằng: Cống hiến bao nhiêu, hưởng thụ ngần ấy.

     – PTSX CSCN. Bình đẳng tuyệt đối. Không còn giai cấp, Nhà Nước tự tiêu vong. Công bằng tuyệt đối: Làm hết năng lực, hưởng đủ nhu cầu.

Động lực tạo ra hai PTSX tiến bộ (nói trên) là bạo lực cách mạng. Bởi lẽ, không đời thuở nào giai cấp tư sản tự nguyện từ bỏ quyền tư hữu của chúng, mà phải tước đoạt.

III. Khái niệm trình độ văn minh: Một thứ thước mới, để đo trình độ xã hội

Sau thời kỳ hoang dã, loài người sống bằng lao động nông nghiệp. Do vậy, các châu thổ phì nhiêu ở châu Á là điều kiện để xuất hiện rất sớm nhiều nền văn minh mới. Tên gọi “văn minh nông nghiệp” là rất phù hợp. Mỗi nền văn minh này có những nét đặc trưng riêng, đã được mô tả khá đầy đủ.

Khái niệm “nền văn minh” do vậy không mới.

Cái mới, cái cách mạng, là khái niệm “làn sóng văn minh” do Alvin Toffler đề xuất (năm 1980) trong tác phẩm Làn sóng thứ ba 1980 (đã được NXB Thông Tin – Lý Luận dịch ra tiếng Việt; có thể đọc miễn phí trên mạng).

Đây là khái niệm rất tổng hợp, đồng thời nêu được sự chuyển động. Nó tổng quát, bao trùm cả khái niệm phương thức sản xuất của Mác. Đã có sự so sánh, giống như Vật Lý hiện đại của Einstein không phủ định Vật Lý cổ điển của Newton, mà bao trùm lên nó, sau khi sửa chữa và bổ sung nó.

Ví dụ, Mác đã phân tích kỹ ba chế độ xã hội: Nô lệ, Phong kiến và “châu Á”. Phân tích rất cần, nhưng tổng hợp càng cần. Alvin Toffler đã gộp cả 3 xã hội nói trên vào nền văn minh nông nghiệp, với những đặc điểm chung cho cả baBạn đọc quan tâm có thể tìm đọc những bài thích hợp (cùng tác giả).

Ở đây, xin nhấn mạnh rằng, chính cái thước đo càng bao quát, càng tổng hợp, sẽ sắp xếp càng chính xác, càng khoa học và dễ hiểu những cái loài người đã trải qua và dự báo càng chính xác xu thế thời đại. Vậy thì, cái mà loài người đã (và đang) trải qua là văn minh Nông Nghiệp, văn minh Công Nghiệp. Cái mà loài người đang và sẽ tiến tới là văn minh Hậu Công Nghiệp (văn minh Trí Tuệ).

– Làn sóng văn minh nông nghiệp bắt đầu xô vào xã hội cách nay 9-10 ngàn năm, mạnh dần, rồi tới lúc bị thay thế. Gọi là “làn sóng” vì nó tác động lên xã hội loài người bằng những “đợt”, nghĩa là không đều. Tới thiên niên kỷ XXI mà vẫn có những bộ lạc sống bằng hái lượm.

– Đến thế kỷ 17-18, làn sóng văn minh công nghiệp bắt đầu xuất hiện và lan rộng. Giữa thế kỷ XX làn sóng này vẫn rất mạnh nhưng đã dần dần nhường chỗ cho làn sóng thứ ba. Ví dụ, tới năm 1956, khi thống kê cho thấy ở Hoa Kỳ số lượng người lao động mặc áo cổ trắng đã vượt số lượng người mặc áo cổ xanh. Lịch sử văn minh nhân loại sẽ coi đó là thời điểm mở đầu của làn sóng thứ ba: Văn minh trí tuệ.

Đó là nói diễn biến chung. Thực tế, đến nay vẫn có những dân tộc trong đó nông dân chiếm 2/3, sức kéo vẫn là cơ bắp (người và trâu bò). Nước CHXHCN VN của chúng ta là một ví dụ.

IV . Xã hội tiến hóa bằng tích lũy tri thức

Khi nói về nhiệm vụ của cách mạng là lật đổ giai cấp cầm quyền, ta dễ nghĩ đến đấu tranh giai cấp. Nhưng khi biết rằng các nền văn minh sẽ thay thế nhau, ta phải nghĩ tới vai trò tri thức. Alvin Toffler trong tác phẩm Thăng trầm quyền lực đã ít nhiều đề cập: Tích lũy tri thức là động lực lớn nhất, mạnh nhất để xã hội tiến bước đúng hướng và vững chắc. 

– Đọc tác phẩm này, ta thấy thuở xa xưa, quyền lực dựa vào sức mạnh bạo lực. Chế độ nô lệ, phong kiến, phát xít, xô-viết, độc đảng… là những ví dụ.

– Tiếp đó, quyền lực dựa vào tiền – tức là “vốn”. Xin nhớ rằng, đồng tiền chân chính gói ghém trong nó một hàm lượng lao động chân chính.

Lúc này, dân chủ đã lan rộng; các nước tư bản khôn ngoan (đủ tri thức) đã kịp thời trao trả độc lập cho thuộc địa, để thay bằng đầu tư vào đó, kiếm lợi nhuận.

– Đến nay, quyền lực đang chuyển sang tri thức. Dân tộc nào làm chủ tri thức sẽ có quyền lực trong toàn cầu hóa và bang giao quốc tế. Cai trị bằng bưng bít thông tin (ngu dân) trước sau đều không bền.

Nhà XB Chính Trị QG đã ấn hành cuốn Quyền lực tri thức trong tư tưởng chính trị của Alvin Toffler (2013) của chính các tác giả Việt nam. Kính mời tìm đọc.

Một ví dụ về vai trò tri thức trong tiến hóa xã hội. Những người Marxist cho rằng: Xã hội nô lệ tiến lên xã hội phong kiến là nhờ nô lệ đấu tranh (chống sự áp bức của chủ nô). Chả phải. Trong Lịch Sử, chẳng có cuộc khởi nghĩa nào của nô lệ thực hiện được cái mục tiêu tưởng tượng đó. Mà sự thật là, một số chủ nô (đồng thời là các nhà quản lý tài ba) thấy rằng cưỡng bức cách mấy thì năng suất của nô lệ cũng chỉ đạt tới hạn. Họ bèn giao cho nô lệ “quyền sử dụng đất” và “khoán” sản lượng. Nô lệ đầu tư bằng suy nghĩ (hơn là nỗ lực cơ bắp), khiến năng suất tăng vùn vụt ngay. Thế là chế độ nô lệ diễn biến hòa bình sang chế độ phong kiến. Chủ nô thành vua quan, nông nô thành nông dân…

V . Vị trí nông dân trong nền văn minh nông nghiệp

Đến nay, đã quá rõ. Đông đảo nhất, nhưng nông dân chẳng qua là những người lao động thủ công trên đất đai (kể cả chặt tre đan rổ, hoặc trồng bông dệt vải). Họ chỉ là lao động phổ thông của một xã hội trình độ thấp. Họ phải dành phần lớn thời gian và công sức cho kiếm sống. Để tăng thu nhập, họ có thể trau dồi kỹ năng và rút ra kinh nghiệm trong lao động. Khi bị áp bức, họ có thể đấu tranh, kể cả đổ máu. Nếu khởi nghĩa thành công, lãnh tụ lại lên làm vua (như Thạch Sanh, Nguyễn Huệ). Tóm lại, nông dân vun đắp xã hội nông nghiệp, nhưng không bao giờ tự họ có thể thoát khỏi xã hội đó. Việc ra khỏi văn minh nông nghiệp để bước lên văn minh công nghiệp, không phải là sứ mệnh của họ.

Thích hợp với nền văn minh nông nghiệp chỉ có thể là chế độ nô lệ và vua quan. Một (trong những) tiêu chuẩn để phân biệt 2 chế độ này là quan hệ sở hữu đất đai. Toàn bộ đất đai thuộc quyền sở hữu của chủ nô (gồm 3 quyền nhánh). Khi chủ nô giao “quyền sử dụng đất” cho nô lệ, xã hội chuyển sang chế độ vua quan. Khái niệm “giao quyền sử dụng đất” và “thu hồi đất” xuất hiện trong Luật.

VI . “Sứ mệnh” thật sự của giai cấp công nhân trong nền văn minh công nghiệp

Những gì nói trên giúp ta hiểu vai trò thật sự của giai cấp công nhân trong thời đại công nghiệp hóa toàn cầu và ở nhiều nước bước đầu xuất hiện văn minh hậu công nghiệp. Hiểu như vậy, ta dễ hiểu hướng phát triển đúng của thời đại và bác bỏ hướng sai. Đi chậm chưa nguy hiểm bằng lạc đường.

Mác nói: giai cấp công nhân là “yếu tố mới” trong chế độ tư bản. Đúng tuyệt đối. Nhưng chỉ “mới” nếu so với thời phong kiến. Giai cấp này sẽ rất “cũ” khi văn minh công nghiệp đã đạt trình độ cao. Khi sản xuất được tự động hóa mạnh mẽ, giai cấp công nhân “cổ điển” sẽ teo lại; nhân công thừa sẽ chuyển sang làm dịch vụ để kiếm sống.

Mác còn nói: họ đại diện cho sức sản xuất tiên tiến; do vậy đây là giai cấp cách mạng – sẽ tự giải phóng mình và giải phóng toàn xã hội. Sự thật, công nhân chỉ là lực lượng lao động phổ thông, đông đảo nhất của xã hội công nghiệp (có lúc chiếm 60% lao động ở Mỹ). Công nhân có thể tăng cường độ lao động hoặc nâng cao tay nghề để tăng thu nhập; còn chế tạo máy móc và tự động hóa máy móc… là việc khác hẳn.

Không nên quàng lên cổ giai cấp công nhân cái “sứ mệnh” kiến tạo nền văn minh tri thức. Làm sao họ kham nổi?

Cũng không nên vu vạ cho công nhân vai trò lãnh đạo. Oan cho họ. Ai dám nói, thảm trạng xã hội nước ta hiện nay là do “sự lãnh đạo” (kém cỏi) của giai cấp công nhân Việt Nam? Họ đang là nạn nhân, đâu có làm gì nên tội? Lãnh đạo quái gì, khi chính họ đang bị “bọn” tư bản bóc lột và bị “chúng” coi khinh như mẻ?

Thời nay, đã xuất hiện khái niệm “công nhân tri thức”. Ví dụ, một bác sĩ phụ trách cái máy chụp cắt lớp, hoặc một kỹ sư viết phần mềm để điều khiển cái máy cắt gọt kim loại… Họ vẫn chỉ là những lao động phổ thông của một nền văn minh mới: Văn minh trí tuệ.

Đề tài này cũng rất thú vị. Nhưng không thích hợp để bàn ở đây.


11 thoughts on “Vị trí thật sự của Giai Cấp Công Nhân trong nền Văn Minh Công Nghiệp

  1. Trung Quốc 5000 năm trước ở vào thời Ngũ Đế Tam Vương (五帝三王) bắt đầu bước từ thời công xã nguyên thủy (thời Tam Hoàng 三皇) sang thời quân chủ phong kiến kéo dài đến hết thời nhà Thanh (清), đã hình thành 4 giai cấp trong xã hội, hoặc gọi là Tứ dân (四民):

    – Sĩ (士): là giai cấp quý tộc gồm vua quan, binh lính, là những người làm việc trong bộ máy công quyền thống trị từ trung ương đến địa phương.

    – Nông (農): là giai cấp nông dân, bao gồm ngư (漁) là dân làm nghề đánh cá, tiều (樵) là dân làm nghề hái củi, canh (耕) là dân làm nghề trồng trọt ngũ cốc hoa màu, mục (牧) là dân làm nghề chăn nuôi gia súc gia cầm, liệp (獵) là làm nghề săn bắt thú hoang. Họ là lực lượng sản suất chủ yếu làm ra của cải trong xã hội, dựa vào sức lao động và tư liệu sản xuất có sẵn trong tự nhiên như đất ruộng, cây cỏ, muông thú.

    – Công (工): là giai cấp công nhân, bao gồm các thợ chuyên ngành thủ công hoặc kỹ thuật như thợ gốm, thợ rèn, thợ may, thợ mộc, thầy thuốc, ca sỹ, thầy bói… gọi chung là phương kỹ (方技). Họ là lực lượng sản xuất ra các sản phẩm vật chất tinh xảo hàm lượng kỹ thuật cao có ý nghĩa vật chất và tinh thần, sức khỏe.

    – Thương (商): là nhà buôn bán. Họ là thu mua sản vật của nông dân và công nhân để bán đi giữa nơi này và nơi kia, từ chỗ thừa sang chỗ thiếu.

    __________

    Tóm lại giai cấp nông dân và công nhân từ xưa đã là giai cấp đông đảo nhất và bị bóc lột nặng nề nhất. Giai cấp sĩ (vua quan, binh lính)) và thương (nhà buôn) là giai cấp nhỏ nhưng nắm giữ cán cân quyền lực phân phối tài sản của xã hội.

    Thời nay, các nước Tư bản hay Cộng sản cũng không khác mấy thời xưa, chỉ thay đổi phương thức sản xuất mà thôi.

    • Hán thư (漢書) – Thực hóa chí (食貨志)

      [Hán (漢) – Ban Cố (班固 soạn)]

      洪範八政,一曰食,二曰貨。食謂農殖嘉穀可食之物,貨謂布帛可衣,及金刀龜貝,所以分財布利通有無者也。二者,生民之本,興自神農之世。「斲木為耜,煣木為耒,耒鱸之利以教天下」,而食足;「日中為市,致天下之民,聚天下之貨,交易而退,各得其所」,而貨通。食足貨通,然後國實民富,而教化成。黃帝以下「通其變,使民不倦」。堯命四子以「敬授民時」,舜命后稷以「黎民祖飢」,是為政首。禹平洪水,定九州,制土田,各因所生遠近,賦入貢棐,楙遷有無,萬國作乂。殷周之盛,詩書所述,要在安民,富而教之。故易稱「天地之大德曰生,聖人之大寶曰位;何以守位曰仁,何以聚人曰財。」財者,帝王所以聚人守位,養成群生,奉順天德,治國安民之本也。故曰:「不患寡而患不均,不患貧而患不安;蓋均亡貧,和亡寡,安亡傾。」是以聖王域民,築城郭以居之,制廬井以均之,開市肆以通之,設庠序以教之;士農工商,四民有業。學以居位曰士,闢土殖穀曰農,作巧成器曰工,通財鬻貨曰商。聖王量能授事,四民陳力受職,故朝亡廢官,邑亡敖民,地亡曠土。

      Hồng phạm (洪範) [một chương của sách Thượng thư (尚書) của Nho gia] nói đến tám phương pháp thống trị thiên hạ, trong đó một là [sản xuất] lương thực [thực (食)], hai là [sản xuất] đồ dùng [hóa (貨)]. Lương thực là trồng trọt ngũ cốc các đồ có thể ăn được. Hàng hóa là làm ra áo quần có thể mặc được và các loại đồ dùng tiền của, là cái mà để lưu thông phân bố từ chỗ có đến chỗ không có vậy. Hai cái ấy [lương thực và hàng hóa] là cái gốc của cuộc sống người dân, đã có từ thời ông Thần Nông (神農) “chặt gỗ làm cày, đẽo gỗ làm cuốc, dùng cái lợi của cày cuốc để dạy cho thiên hạ” là làm cho lương thực đầy đủ, “giữa ngày họp chợ, cho người dân trong thiên hạ đem hàng hóa đến đấy, mua bán xong thì ra về, đều đâu ra đó” là làm cho hàng hóa lưu thông. Một khi lương thực đầy đủ và hàng hóa lưu thông thì nước mạnh dân giàu, giáo hóa mới thành công. Từ thời Hoàng Đế (黃帝) về sau cũng có thay đổi nhưng khônglàm cho người dân chán nản. Vua Nghiêu (堯) lệnh cho bốn ông quan [đến ở bốn phương tính lịch pháp] phân định mùa màng giúp dân, vua Thuấn (舜) sai Hậu Tắc (后稷) trông coi việc trồng trọt để người dân ngăn ngừa mất mùa đói kém, đấy đều là những việc hàng đầu. Sau đó vua Vũ (禹) trị nạn nước lụt, định ra chín châu, đặt ra phép tắc phân chia ruộng đất, người dân đều dựa vào chỗ xa hay gần mà mình sản xuất ra thứ gì mà nạp cống thứ đó, lưu thông hàng hóa từ chỗ có đến chỗ không, do đó muôn nước yên ổn. Sang thời thịnh trị của nhà Thương (商)-Châu (周) được thi thư ghi lại, cốt yếu là ở việc làm sao cho người dân được yên ổn sản xuất, khi đã giàu có thì mới giáo hóa được. Cho nên kinh Dịch (易) chép “Cái đức lớn của trời đất là sự sống, cái quý lớn của thánh nhân là ngôi vị. Làm gì để ngữ ngôi vị, là tỏ lòng nhân ái vậy. Làm gì để thu hút người dân theo mình, là phân chia tiền của vậy. Phân chia tiền của là việc mà đế vương dùng để thu hút người dân theo mình và giữ ngôi vị, dùng để nuôi dưỡng muôn dân, dùng để vâng theo mệnh trời, là cái gốc của việc trị quốc an dân vậy. Cho nên [Khổng Tử (孔子)] nói “Không sợ tiền của túng thiếu mà chỉ sợ phân chia tiền của không cân bằng. Không sợ dân nghèo khó mà chỉ sợ dân không được yên ổn. Là vì khi phân chia tiền của được cân bằng thì người dân không còn nghèo khó, xã hội hài hòa thì người dân sẽ không còn túng thiếu, xã hội yên ổn thì người dân sẽ không còn vất vả.” Cho nên thánh nhân trị dân thì đắp thành quách để cho dân ở, làm ra kho tàng để cất chứa cấp phát, mở chợ búa để lưu thông hàng hóa, mở ra nhà trường để dạy lễ nghĩa. Làm cho bốn lớp dân là sĩ (士), nông (農), công (工), thương (商) đều theo đúng chức phận. Học đạo làm quan gọi là sĩ (士), cày ruộng trồng lúa gọi là nông (農), làm ra hàng hóa gọi là công (工), mua bán hàng hóa gọi là thương (商). Một khi thánh vương tùy theo tài sức của từng lớp dân mà dùng làm việc thì bốn lớp dân gắng theo chức phận, lúc đó trong triều không có quan lại hủ bại, ngoài ấp không có người dân lười biếng, ruộng đất không bị bỏ hoang.

      _________________

      Thánh nhân đời xưa đã nói thiên hạ vi công (天下為公): sự công bằng trong thiên hạ. Ấy là sự hài hòa của bốn lớp dân là sĩ, nông, công, thương mà thôi. Sự hài hòa mất đi thì lấy đâu công bằng?

  2. “Công” thuở xa lắc rất khác với khái niệm “công” thời nay.
    “Sĩ” thời xa lắc cũng khác với “trí thức” ngày nay.
    Vị nào đủ hứng để so sánh (sự giống nhau và khác nhau) xin cứ bàn với nhau.
    Tốt nhất là viết bài riêng, để bàn…

    Còn ở đây, vẫn đề là: Marx cho rằng giai cấp công nhân (trong xã hội công nghiệp – mà chế độ chính trị là Tư Bản) có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng xóa bỏ chế độ này.
    Câu hỏi thảo luận là… Marx nói vậy có đúng không.
    Mong được nghe ý kiến.

    • – Công (工): là thợ, người làm ra hàng hóa có hàm lượng chất xám tay nghề cao. Ra đời từ thời văn minh nông nghiệp, phân hóa từ nông dân để trở thành một giai cấp mới trong xã hội, ví dụ thợ chuyên ngành sản xuất đồ gốm sứ, môc, rèn đúc… Thời nay công (工) có thể hiểu là bao gồm cả các thợ thủ công (công nhân phổ thông) và thầy (kỹ sư, thạc sĩ, bác sĩ…) là những công nhân hoặc nhân viên làm thuê cho công ty, nhà máy, xí nghiệp, tập đoàn kinh tế. Họ là là lực lượng sản xuất ra hàng hóa chính của xã hội công nghiệp hiện nay. Họ được chủ công ty, doanh nghiệp thuê và trả lương.

      – Nông (農): họ sở hữu ruộng đất và trồng trọt làm ra các sản phẩm nông nghiệp. Họ là đối tượng xua nay vẫn bị bóc lột nặng nề nhất. Giá trị sản phẩm của họ luôn bị chèn ép luôn thấp hơn nhiều giá trị sản phẩm công nghiệp. Họ là nguồn lực để trở thành công nhân làm thuê, vì ruộng đất càng thu hẹp, đời sống khó khăn.

      – Sĩ (士): họ là cán bộ đảng viên, quan chức làm việc trong bộ máy công quyền, ở tầm vĩ mô thì ở các quốc gia thường có cha truyền con nối hoặc các phe cánh chính trị nối tiếp nhau, ví như thời xưa gọi là tập ấm. Ví dụ ở Trung Quốc hiện nay giới lãnh đạo hoặc chủ doanh nghiệp đều là con em hoặc là phe cánh của thế hệ thứ hai của Đảng Cộng sản. Ở các nước Tư bản như Anh-Mỹ thì là con em phe cánh của giai cấp tư sản cũ (họ là chủ của các xí nghiệp, tập đoàn kinh tế, ngân hàng,truyền thông).

      – Thương (商): họ là chủ các xí nghiệp tập đoàn kinh tế, truyền thông. Thương (商) cấu kết với sĩ (士), trở thành cặp bài trùng nắm giữ cán cân quyền lực và kinh tế hiện nay ở xã hội hiện nay (kể cả Tư bản và Xã hội chủ nghĩa).

      ________

      Vân Độ hỏi rằng:

      – “Còn ở đây, vẫn đề là: Marx cho rằng giai cấp công nhân (trong xã hội công nghiệp – mà chế độ chính trị là Tư Bản) có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng xóa bỏ chế độ này. Câu hỏi thảo luận là… Marx nói vậy có đúng không?”

      Tích Dã đáp nói:

      – “Marx nói sai. Thực tế đã chứng minh ở nước Liên Xô cũ và các nước Xã hội chủ nghĩa hiện nay (Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Cuba, Lào). Từ thời văn minh Nông nghiệp xa xưa cho đến văn minh Công nghiệp phát triển ở các nước Âu Mỹ vừa mới đây (thế kỷ 18 đến nay) thì giai cấp công nhân cũng chỉ chiếm một phần nhỏ, họ chủ yếu làm việc trong nhà máy và xí nghiệp. Dù ở các nước Tư bản hay Xã hội chủ nghĩa vừa rồi thì giai cấp công nhân vẫn là đối tượng bị bóc lột. Và đối tượng bóc lột vẫn là sĩ-thương. Bóc lột ít hay nhiều đều tùy thuộc vào chính sách thống trị ở tầm vĩ mô là bộ máy công quyền đều do sĩ-thương thao túng. Các nước Tư bản thì sĩ-thương thao túng. Các nước Chủ nghĩa Xã hội (Liên Xô cũ) thì bị sĩ (Đảng Cộng sản) thao túng. Khi mâu thuẫn xã hội gay gắt thì có nổi dậy của nông dân và công nhân đòi quyền lợi, ở hoàn cảnh cụ thể mà ra đời Liên Xô và các nước Chủ nghĩa.Xã hội (Việt Nam, Trung Quốc…) vì giai cấp tư sản ở các nước ấy còn yếu. Hiện nay, giai cấp tư sản lớn mạnh ở quy mô toàn cầu, họ là sĩ-thương (Các đảng phái chính trị, chủ tập đoàn kinh tế, xí nghiệp lớn của các nước có cấu kết chặt chẽ với nhau), họ thành lập nên liên minh kinh tế G7, G8, rồi chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc độc quyền của Đảng Cộng sản nữa thì giai cấp công nhân khó mà làm nên Cách mạng tháng Mười như Liên Xô nữa. Hiện nay thủ thuật thống trị thiên hạ của giai cấp sĩ-thương ở các quốc gia đã trải qua nhiều biến cố kinh nghiệm, trở nên lọc lõi cáo già hơn nhiều.

  3. Tích Dã nói “Sĩ và Thương là giai cấp bóc lột Công và Nông” (dù chế độ phong kiến hay tư bản) là sai. Chính Tích Dã về hùa với Marx.
    Chuyện dài.
    Nhắc lại: Tôi mong Tích Dã tự viết bài nói quan điểm của mình để cùng thảo luận.

    • Từ thời ông Hoàng Đế (黃帝) về sau khai sinh ra giai cấp công (工) và thương (商) và sĩ (士), đặt ra quân đội, xây dựng thành quách, sáng tạo chữ viết, đặt ra quan lại để vơ vét phú thuế và lập ra nhà nước mà bóc lột kẻ yếu thế, tập trung tiền của và quyền lực vào một nhóm giai cấp nhỏ là sĩ (士) và thương (商), từ đó mới có đấu tranh giai cấp này kia, mới có chiến tranh giành giật.

      Từ thời ông Thần Nông (神農) về trước, phong tục còn chất phác, chính trị còn dùng lối buộc dây thắt nút, người dân ngày cày ruộng để làm ăn, đêm thoải mái nghỉ ngơi, không có lòng làm hại lẫn nhau. Đấy gọi là công xã nguyên thủy, của cải làm ra đều tự cung tự cấp thì không có giai cấp này nọ, mà chỉ có nông dân ở các công xã hoặc bộ lạc. Cho nên nghề nông còn gọi là nghề gốc [bản nghiệp (本業)].

      Lại nói từ thời ông Hoàng Đế về sau, lập ra sĩ (士), công (工), thương (商) để phân phối của cải cho kẻ mạnh mà bóc lột kẻ yếu. Cho nên công-thương còn gọi là nghề ngọn [mạt nghiệp (末業)]. Hoàng Đế tập trung quân đội đánh Xi Vưu (蚩尤) ở cánh đồng Trác Lộc (涿鹿), máu chảy thành sông, xương trắng đầy nội. Sau đó nhà Hạ (夏)-Thương (商)-Châu (周) nối lên cũng tranh giành cướp đoạt lẫn nhau, trải đến ngày nay đã 5.000 năm mà các nước cũng vậy mà thôi.

      Hiện nay, 1% dân số là sĩ (士) và thương (商) trên thế giới nắm giữ 99% cán cân quyền lực và công nghệ. Các chủ xí nghiệp, tập đoàn, công ty về kinh tế, năng lượng, nhà đất, truyền thông, công nghệ, đó là thương (商) như lớn thì có các tập đoàn Mai Crô Xốp, A Ma Zôn, Pê Tê Bóc của Mỹ hay tập đoàn A Ly Ba Ba của Trung Quốc, nhỏ thì tập đoàn Vin Grúp, Mường Thanh, Việt Theo của Việt Nam. Các đảng phái chính trị các nước với hệ thống quan lại công quyền, đó là sĩ (士) như Đảng Dân chủ-Cộng hòa ở Mỹ, Đảng Trung Cộng ở Trung Hoa…

      Sử ký (史記) – Hóa thực liệt truyện (貨殖列傳) [Hán (漢) – Tư Mã Thiên (司馬遷) soạn] chép “Thiên hạ hí hửng đều vì lợi mà lại, thiên hạ nháo nhào đều vì lợi mà đi” (天下熙熙,皆為利來;天下壤壤,皆為利往). Đấy là nói thiên hạ từ thời biết kỹ xảo công nghệ sản xuất làm ra của cải dư thừa đến nay vậy. Đương nhiên, trừ các bộ lạc còn sót ở rừng rậm vẫn giữ truyền thống cổ xưa.

  4. “Giai cấp” là khái niệm do Marx đặt ra. Và bắt các giai cấp phải đấu tranh với nhau, tiêu diệt nhau, để đi đến chỗ “xóa bỏ giai cấp”.

    – Bài (nhan đề) Cụ Phan Châu Trinh đi trước thời mình sống” cho thấy cụ Phan coi Trí – Nông – Công – Thương là bốn NGHỀ. Chúng đều cần cho xã hội (xã hội phải có bách nghệ mới đủ). Chúng được phân công phục vụ xã hội. Do vậy chúng phải hợp tác với nhau trong nghĩa vụ phục vụ xã hội.
    – Marx chỉ muốn 4 nghề cơ bản này… phải “đấu” nhau.
    – Tích Dã cứ nói Marx sai, nhưng lại coi Trí và Thương bóc lột Công Nông. Vậy thì Công phải lãnh đạo xã hội làm cách mạng…
    Bài này, tác giả coi giai cấp Công Nhân chỉ là lao động phổ thông trong nền văn minh công nghiệp thôi.
    Xem lại định nghĩa Trí và Thương đi. Nếu định nghĩa đây là hai giai cấp bóc lột thì nên viết bài khác (chủ đề khác) để thảo luận dưới quan điểm khác.

    • Giai cấp hay tầng lớp, đẳng cấp thì các xã hội xưa nay đều có, không phải Mác nghĩ ra. Ví dụ xã hội Ấn Độ cổ có năm giai cấp là Brahmin (tu sĩ, nhà tri thức), Kshastriya (chiến binh), Vaishyas (nhà buôn), Shudras (thợ thuyền, nông dân), Dalit (tạp nham). Trung Hoa cổ có tứ dân. La Mã cổ có quý tộc, nô lệ và bình dân. Dù là Ấn Độ cổ, Trung Hoa cổ hay La Mã cổ thì đều có một hoặc hai giai cấp chiếm số ít nhưng được hưởng đặc quyền đặc lợi nhiều hơn các giai cấp còn lại nhưng chiếm số đông. Đó là nguyên nhân sâu xa cho mọi bất ổn, xưa nay đều như vậy. Vì thế các thời đều có đấu tranh không ngừng giữa các giai cấp hoặc tự nội bộ giai cấp đó tranh đấu lẫn nhau. Giai cấp đặc quyền ấy xưa nay thì có thừa kỹ xảo để thống trị các giai cấp khác vậy.

      Các vị thánh nhân thời xưa như Khổng Tử (孔子) không muốn bất ổn mới đề ra Tam cương (三綱) – Ngũ thường (五常) để xã hội yên ổn. Hoặc như Lão Trang (老莊) chủ trương về thời đại dùng lối thắt nút như lúc đầu mới ổn định được.

      Các Mác chủ trương giai cấp công nhân lật độ giai cấp tư sản, thế mà có kẻ học theo làm Cách mạng tháng Mười ở Nga, Cách mạng văn hóa ở Trung Hoa. Rút cuộc là gì? Là tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, bình cũ rượu mới mà thôi.

  5. Đừng Lầm! Giai cấp được CS coi là sáng tạo của Mác. Nó có định nghĩa riêng trong nhưng sách chuyên đề hoặc từ điển chuyên ngành.

    Trong nghĩa chặt chẽ, không được lẫn lộn với đẳng cấp (là từ ngữ có từ lâu). Lẫn lộn như vậy, không thể thảo luận được.
    Có thể so sánh: Trí thức, học giả, thức giả (và nhiều từ ngữ khác) có thể dùng lẫn lộn mà chưa gây rắc rối, hiểu lầm. Nhưng mà trong những trường hợp cần chặt chẽ thì TRÍ THỨC có định nghĩa riêng. Từ “trí thức” xuất hiện lần đầu ở Pháp, năm 1906. Chả lẽ tôi lại “xổ” ra một tràng tiếng Pháp để khoe kiến thức?
    Xin bớt trích dẫn chữ Tàu để làm phương tiện thuyết phục. Chả lẽ một bạn nào đó lại trích dẫn tiếng Hungary ra để làm luận cứ cãi nhau?

    Để khỏi lạc đề, lan man, và để khỏi dùng diễn đàn khoe nhưng kiến thức không liên quan, thì nên hiểu mục đích của tác giả bài này là Chứng minh rằng giai cấp công nhận KHÔNG phải là lực lượng lãnh đạo (như quan điểm của Mác và các ĐCS).
    Bạn đọc có đồng ý như vậy hay không (và dựa trên lập luận nào): Đó là câu hỏi để chúng ta KHÔNG lạc đề.

    • Chủ nghĩa Marx cũng chỉ là quan điểm của Marx và các Đảng cộng sản về các chế độ chính trị xã hội xưa nay và mai.

      Tôi thì đang dùng quan điểm truyền thống Nho Lão của Trung Hoa để phân tích chủ nghĩa Marx là sai lầm.

      Trước thời Marx rất lâu thì ở Trung Hoa vĩ đại đã có Nho gia chú trọng sự ổn định xã hội với tam cương và ngũ thường. Lão Trang chủ trương thuận theo tự nhiên, trở về thời đại thắt nút, vô vi nhi trị. Thành quả của Nho Lão thật vĩ đại, cho nên Khổng Tử và Lão Tử hơn 2000 năm nay vẫn được thiên hạ xem là thánh nhân, là người thầy của muôn đời.

      Marx chỉ ra cơ cấu của các xã hội từ phong kiến đến tư bản hiện nay. Cái này thì ai cũng biết, như tôi đây không cần học chủ nghĩa Marx mà chỉ học kinh sử Trung Hoa và nền giáo dục 12 năm phổ thông thôi cũng thừa biết:

      – Xã hội ngày nay do giai cấp Tư bản (tức Sĩ và Thương theo cách gọi của kinh sử Trung Hoa) lãnh đạo, bóc lột Công và Nông. Ở tầm vĩ mô quốc tế hiện nay là các nước G7, G8, Trung Quốc cấu kết bóc lột các nước kém phát triển thế giới thứ ba. Ở tầm vĩ mô từng quốc gia thì có các Đảng phái chính trị cấu kết với các công ty tập đoàn kinh tế nắm giữ tài nguyên, điện lực, dầu khí, năng lượng, bất động sản.

      – Giai cấp công nhân không phải là lực lượng lãnh đạo cách mạng trong tương lai phá bỏ chế độ tư bản. Giai cấp tư bản đang nắm quyền trên thế giới, đang tìm mọi cách để giữ quyền lực, và cấu kết chặt chẽ với nhau ở tầm vĩ mô là Liên hợp quốc và các liên minh kinh tế quân sự như G7, G8 hay NATO. Giai cấp công nhân từng lãnh đạo thành công ở cách mạng tháng 10 ở Nga vào thế kỷ 20 lập nên liên minh các nước xô viết Nga nhưng sau đó tan rã vì nhiều lý do, nhưng cốt yếu vẫn là sự phát triển cầm quyền của giai cấp Tư bản đương đại. Việt Nam và Trung Quốc cũng đang Tư bản hóa mạnh mẽ.

      – Lão Trang đã nói rằng xã hội cực trị là thuận theo tự nhiên, ở thời đại thắt nút đã trải qua. Từ thời Ngũ Đế Tam Vương phong kiến Tần Hán Đường Tống về sau thì đã loạn rồi, dù từng có Nghiêu Thuấn Thang Võ hiền minh đấy thì cũng chỉ là nhất thời, sau đó cũng là loạn cả thôi.

  6. Chuyện Khổng Mạnh Lão Trang vận dụng vào thời nay rất khiên cưỡng.
    Cứ tưởng dùng chúng để phản bác Mác?
    Một khi đã nói “Công, Nông” bị “Sỹ Thương bóc lột” thì đó chính là nhai lại Mác.
    Phản bác cái nỗi gì?
    Hãy viết riêng bài của mình. Chứng minh Marx sai, dưới quan điểm Khổng Mạnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s