Nhớ chị Vũ Giáng Hương

1

Chị Vũ Giáng Hương (1930 – 2011)

Vũ Ngọc Phương

       Cha tôi – Nhà văn Vũ Ngọc Phan, Mẹ tôi – Nhà thơ Lê Hằng Phương, hai Thân sinh được tất cả 10 người con. Chị gái đầu lòng là Vũ Bội Trinh, khi mới hơn một tuổi bị sốt cao, lúc đó Cha tôi có giành dụm được ít tiền viết báo nên thuê hẳn ông Đốc tờ (Bác sỹ) Tây đến chữa. Ông Tây nhúng cả người chị Bội Trinh vào nước chậu nước lạnh cho giảm sốt, vì thế chị bị viêm phổi cấp rồi mất mấy ngày sau. Chị Vũ Giáng Hương sinh sau đó trở thành Chị Cả. Ngày 15/10/2019, tại trụ sở 51 phố Trần Hưng Đạo, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt nam có kỷ niệm nhân 90 năm ngày sinh Chị Vũ Giáng Hương có nhiều ý kiến thắc mắc về hiện tượng tất cả các Họa sỹ khóa đầu tiên của Trường Mỹ Thuật Yết Kiêu, Hà nội sau gọi là Khóa Tô Ngọc Vân đều sinh năm 1930.

      Tôi phát biểu:

       “ Sau chiến dịch Bên giới 1950, Đảng ta có đưa khoảng hơn 10 thanh niên là con trí thức, văn nghệ sỹ trong Đoàn Văn hóa Kháng chiến Liên khu IV được bộ đội đưa lên Việt Bắc, khi đi chỉ có danh sách tên, không có khai sinh gì, sau gần hai tháng đi bộ luồn rừng từ Thanh Hóa qua Hòa Bình, Tây Bắc để về Việt Bắc thì cơ quan ở ATK (An toàn khu) Việt Bắc lấy  năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ghi cho tất cả 10 thanh niên này. Vì thế cả 10 người chia ra đi học các ngành nghề khác nhau ở Việt Bắc cùng sinh ngày 3/2/1930”.

       Đó là một giai thoại hay của thời Giữ Nước Hồ Chí Minh.

    “Gia đình Danh nhân Văn hóa Vũ Ngọc Phan có tất cả 10 người con, ba người con là: Vũ Bội Trinh, con gái đầu và Vũ Ái Châu, con gái thứ 9 mất khi còn nhỏ. Một người con trai thứ sáu là Vũ Hồng Côn mất năm 16 tuổi trong kháng chiến chống Pháp ở Thọ Xuân, Thanh Hóa, vì căn bệnh đau ruột thừa mà không có điều kiện chữa. Sau này, Nhà thơ Lê Hằng Phương có viết bài thơ “ Hồng Côn con yêu của mẹ” rất nổi tiếng về nỗi đau xé lòng của người mẹ mất con. Bẩy người con còn lại của hai ông bà đã có những đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp phát triển dân tộc, trọn đời, họ đều giữ được gia phong thanh liêm, chính trực của truyền thống gia đình. Gần như ở Việt Nam và thế giới đều biết đến các người con của Ông Bà Vũ Ngọc Phan – Lê Hằng Phương”

 

       Nhiều bài nghiên cứu khoa học và tự điển viết về Nhà văn Vũ Ngọc Phan như sau:

    “ Xuất thân trong gia đình có truyền thống Nho giáo lâu đời, thủa nhỏ Vũ Ngọc Phan học chữ.Hán rồi chuyển sang học chữ Pháp. Năm 1929 ông đỗ Tú tài toàn phần và được Toàn quyền Pháp bổ làm quan nhưng ông không nhận mà chọn nghề viết văn, làm báo, dậy học để nuôi một đại gia đình gần 20 người gồm mẹ già, vợ con, cháu, 3 người em và ông sống trong cảnh bần hàn. Học rộng biết nhiều, là một Trí thức yêu nước, ông sớm tham gia hoạt động xã hội. Trong các tác phẩm Văn học và triết học của ông, năm 1930 ông là dịch giả đầu tiên dịch bộ Tư Bản của Karl Mark ra tiếng Việt và công tác với Phan Bôi – Hoàng Hữu Nam, năm 1935 ông viết 2 tập sách “Những trận đánh Pháp” . Ông bị Mật thám Pháp bắt và quản thúc một thời gian tại Hà Nội. Nhà văn Vũ ngọc Phan và Nhà thơ Hằng Phương đều tham gia Cách mạng từ thời kỳ tiền Khởi nghĩa trong Mặt trận Dân chủ Đông dương và Hội truyền bá Quốc Ngữ 1936 – 1939 cùng với các ông Phan Thanh,Võ Nguyên Giáp, …. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là Chủ Tịch Uỷ Ban Văn hoá Bắc bộ, viết Báo Tiền Phong (tiền thân Báo Nhân Dân) từ trước Tổng khởi nghĩa 1945. Bà Lê Hằng Phương là một trong năm người sáng lập Hội Phụ nữ cứu quốc tiền thân Hội Phụ nữ Việt Nam ngày nay. Sau khi Cách Mạng tháng Tám – 1945 thành công, ông là Chủ tịch Uỷ Ban vận động Văn hoá kháng chiến toàn quốc và giữ nhiều cương vị trong Ngành Văn hoá, Văn nghệ Cách mạng. Ông quan tâm hướng dẫn thế hệ sau giúp nhiều người sau này thành đạt là những Nhà Văn hoá lớn đương thời.”.

 Văn học sử viết về Mẹ tôi – Nhà thơ Lê Hằng Phương như sau:

“Thời trẻ, Bà Lê Hằng Phương nổi tiếng là một phụ nữ đẹp, làm thơ và đảm đang tề gia nội trợ, nay những di ảnh còn cho thấy Bà Lê Hằng Phương là một phụ nữ tuyệt sắc xưa nay hiếm. Sau này trong một lần gặp lại Ông Bà Vũ Ngọc Phan – Lê Hằng Phương, Nhà Cách mạng Tổng Bí thư Lê Duẩn còn nhắc lại:“Chị Hằng Phương ngày xưa đẹp và nấu ăn ngon có tiếng”.Ông Lê Duẩn, Lê văn Lương (Nguyễn Công Miều – Em ruột nhà văn Nguyễn Công Hoan) sau Cách mạng tháng 8/1945 đã có thời gian ở tại nhà Vũ Ngọc Phan – Lê Hằng Phương.

 Nhà Bà có bốn chị em gái đều rất đẹp và một người em trai út. Bà có người chị là Lê Hằng Phấn, hai người em gái là Lê Hằng Huân, Lê Hằng Trang, người em út Lê Hoan. Bà Lê Hằng Phấn lấy chồng là Hoàng văn Chí một trí thức nổi tiếng thời Pháp thuộc, theo Kháng chiến 9 năm rồi định cư ở Pháp, sau sang Mỹ. Bà Lê Hằng Huân lấy chồng là Lưỡng Quốc Tướng quân Nguyễn Sơn (Tên khai sinh là Vũ Nguyên Bác, khi sang hoạt động Cách mạng ở Trung Quốc, học Trường quân sự Hoàng Phố cùng Lưu Thiếu Kỳ, ông được Hồ Chí Minh đặt tên là Lý Anh Tự. Ông còn có tên là Hồng Thủy khi tham gia Vạn lý Trường Chinh cùng các ông Diệp Kiếm Anh, Bành Chân, Bành Đức Hoài, Chu Đức, Tập Trọng Huân,…). Ngày nay tại Bát Bảo Sơn, Bắc Kinh – Trung Quốc, ông được thờ là một trong những Vị Khai Quốc Công Thần xây dựng Nước Trung Hoa mới. Người em gái Lê Hằng Trang mất 1951 trong một tai nạn đuối nước ở sông Nông Giang, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Lê Hoan sau là Dược sỹ cao cấp làm ở Hà Nội.Bà tiếp thu truyền thống yêu nước của gia đình, dòng họ. Năm 1929, 1930, hai người em là Phan Thanh và Phan Bội (Hoàng Hữu Nam) ra Hà Nội có ở nhà ông bà Vũ Ngọc Phan – Lê Hằng Phương ở Thái Hà. Tại đây, Nhà văn Vũ Ngọc Phan là người Việt Nam đầu tiên dịch từ Pháp văn ra Quốc ngữ bộ Tư Bản luận của Karl Mar. Thời kỳ 1929 – 1943, Bà viết nhiều thơ đăng trên các báo lúc bấy giờ như Đàn Bà, Tri Tân, Ngày Nay, Hà Nội Tân Văn, Trung Bắc Tân Văn, Phụ Nữ Tân văn, Trung Lập,… Năm 1943, Bà cùng các Nữ thi sỹ Vân Đài, Mộng Tuyết, Anh Thơ làm tập thơ Hương Xuân do Nhà xuất bản Nguyễn Du ấn hành. Bà là một trong những Nhà thơ Quốc ngữ đầu tiên trong lịch sử Văn học Việt Nam.

2

Nhà thơ Hằng Phương (Lê Hằng Phương) thuyết trình tại Hội truyền bá Quốc Ngữ – Đấu xảo Hà Nội (nay là Cung văn hóa Hữu Nghị Hà Nội). Hàng ghế ngang bên dưới từ trái sang phải là các ông Nguyễn văn Tố, … Phan Thanh, Võ Nguyên Giáp. Ảnh chụp ngày 25/5/1938.

 Nhà đông con, lại thêm các em, các cháu, Bà vừa lo việc nhà vừa làm thêm việc thêu giầy và bán hàng từ Thanh Hóa ra Hà Nội. Bà tham gia Mặt trận Dân chủ Đông dương thời kỳ 1936 – 1939, Hội Truyền bá Quốc Ngữ cùng các ông Nguyễn văn Tố, Phan Thanh, Võ Nguyên Giáp,…Tháng 8 năm 1937, Đảng Cộng sản Đông dương có Nghị quyết về công tác phụ nữ. Bà Lê Hằng Phương cùng người em họ Lê thị Xuyến và một số người khác thành lập Hội Phụ Nữ Dân chủ, Bà Lê thị Xuyến được bầu làm Chủ tịch – Hội sau này là tiền thân của Hội Liên hiệp Phụ Nữ Việt Nam ngày nay. Sau cách mạng 1945, miền Bắc chìm trong nạn đói khủng khiếp, Bà Lê Hằng Phương đã kêu gọi nhiều Nhân sỹ lập Hội Từ thiện cứu đói được nhiều người. Việc làm của Bà được báo chí thời kỳ này ghi nhận.

 

Toàn quốc kháng chiến năm 1946, Bà cùng gia đình đi tản cư vào Làng Quần Tín, xã Thọ Ngọc, Huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Ngoài công tác văn hóa cách mạng, Bà cùng các con và hai cháu Phan Vịnh, Phan Diễn làm ruộng cầy cấy, làm giấy Dó, làm tương,.. để sinh nhai. Sự cần mẫn lao động, kiên trì viết và nghiên cứu Văn học, Văn hóa của Bà là động lực, là nguồn sống chính duy trì cho sự nghiệp lớn Văn học sử của Nhà văn Vũ Ngọc Phan. Nếp sống văn hóa thanh bạch của Ông Bà Vũ Ngọc Phan – Lê Hằng Phương đã kế thừa, duy trì truyền thống Gia đình tốt đẹp của Dân tộc Việt Nam làm cơ sở để con, cháu khi trưởng thành là những người có phẩm chất Văn hóa cống hiến cho Xã hội.

 Từ năm 1946 đến khi từ trần, Bà tham gia nhiều công tác khác nhau, từ  công tác Văn học Sử khi làm tại Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa ở Việt Bắc do ông Trường Chinh làm Trưởng Ban, xây dựng Viện Văn học, dậy Hán – Nôm cùng các Danh nho Cao Xuân Huy, Phạm Thiều, Hoa Bằng,… năm 1967 tại Thôn Mã Cháy, xã Trung Hòa, Huyện Hiệp Hòa, tỉnh Hà Bắc (Nay là tỉnh Bắc Giang), về công tác về Văn vần tại Hội Nhà văn Việt Nam. Bà còn tham gia  giảm tô, cải cách ruộng đất ở Hà Nam Ninh, cải tạo Tư sản ở Hải Phòng.

 Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Bà đi vào tuyến lửa khu 4 đến cầu Hiền Lương rồi vào đến một số binh trạm đường Trường Sơn,… Thời kỳ này vừa viết bút ký, thơ, văn học dân gian, văn học sử,… trong các bút ký của Bà có bài viết đầu tiên về các cô gái Ngã Ba Đồng Lộc đăng trang 3 báo Nhân Dân được Hồ Chủ Tịch đọc, ghi bút tích lên bài viết hiện vẫn còn lưu trữ tại Bảo Tàng Hồ Chí Minh. Các bài thơ, tập thơ đã xuất bản của Bà được in trên các báo đương thời 1929 – 1943, các sách Hương Xuân 1943,  Mùa Gặt năm 1961, Hương Đất Nước năm 1974, Lòng Quê năm 1996,…Nhiều bài thơ, bút ký vẫn còn tản mát trong các báo và các bài phát thanh địch vận của Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam chưa tổng hợp được đầy đủ.

 

Là người làm việc miệt mài, kiên trì, chân thành và giản dị, lại thêm cá tính ít nói, ghét khoa trương. Ngay tại các công việc xã hội, Bà rất ít khi cho phép ghi tên nên sự phát hiện chỉ biết được qua những người viết và đọc về Bà, nên sự nghiệp và cuộc đời của Nhà thơ Lê Hằng Phương còn nhiều sự kiện chưa được biết đến. Dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, Bà luôn chăm lo, coi sóc, giành hết tình thương cho gia đình được êm ấm. Các con, cháu của ông bà Vũ Ngọc Phan – Lê Hằng Phương đều thành đạt, thanh liêm chính trực, có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành Độc lập – Tự do – Hạnh phúc của Dân tộc. Sự hy sinh năm 1979 của Liệt sỹ Vũ Hoài Tuân, trợ lý Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã làm cho Bà suy sụp sức khỏe, ốm nặng rồi từ trần ngày 02/02/1983 để lại niềm thương tiếc vô hạn trong nước và quốc tế.

 Nhận định về Bà, Nhà thơ Xuân Diệu đã viết trong bài “ Vĩnh biệt Chị Hằng Phương” đăng trên báo Văn Nghệ số 8 ngày 19/2/ 1983: “ Thơ Hằng Phương có rất nhiều bài hướng về thắng lợi, tươi vui, nhìn chung là trong sáng. Khi nói xa cách, biệt ly, mất mát vẫn là trong sáng, không chút bi lụy. Nhưng thơ ấy cảm động lòng người vì nó chân thực, nghĩa là vẫn bao hàm đau đớn xót xa,… Chị Hằng Phương! Chị lưu lại cho chúng tôi những vần thơ nhân hậu, mang một tấm lòng tốt bụng, một tấm lòng luôn luôn yếu mến con người, một trái tim yếu mến không bao giờ tắt”.

 

      Chị Vũ Giáng Hương đã sinh ra, lớn lên trong một gia đình Trí thức truyền thống hơn 300 năm ở Hà Nội. Ngày nay, cả bên họ Nội Nhà văn Vũ Ngọc Phan và họ Ngoại Nhà thơ Lê Hằng Phương có gần 20 người là Danh nhân Đất nước nhiều thời đại được đặt tên phố tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Bắc Ninh,…

      Cha tôi kể thời ấy gia cảnh rất khó khăn, chỉ đủ ăn, cả đại gia đình hơn 20 người vừa con, cháu, em ruột Cha Mẹ tôi chỉ trông vào tiền viết báo, viết sách và một ít bài thơ đăng báo của Cha Mẹ tôi. Chị Giáng Hương không được đi học ở nhà trông các em và phụ giúp Mẹ việc nhà, việc thêu giầy mũi phượng cho nhà Khánh Ký ở phố Hàng Gai. Hàng tối, sau khi đã xong hết việc nhà, Cha tôi ngừng viết từ gác xép ở nhà Thái Hà Ấp xuống dậy Chị Giáng Hương học. Học xong thì cũng đã gần nửa đêm. Chị rất thông minh, chăm học, hỏi nên nói, viết thành thạo tiếng Pháp, tiếng Anh. Cha tôi tích cóp được hơn 2,000 quyển sách báo lúc bấy giờ xếp đầy trên giá gác xép nhà ở Thái Hà Ấp, chị Giáng Hương thường lấy đọc sau khi việc nhà đã xong và cho các em ngủ. Sau này, để có trí thức uyên bác, thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh của Chị Vũ Giáng Hương là do Cha tôi dậy và chị tự học hỏi mà thành.

    Toàn quốc kháng chiến năm 1946, cả nhà đi tản cư vào Thanh Hóa cùng Đoàn Văn hóa kháng chiến liên khu 4. Cả nhà ở nhờ gian nhà tranh của chị Cò Chắt, thôn Quần Tín, xã Thọ Ngọc, huyện Thọ Xuân. Họa sỹ Sỹ Ngọc thấy chị Vũ Giáng Hương thông minh, khéo tay, … đã dậy chị Giáng Hương học vẽ. Lần đầu có được thầy giáo bên ngoài dậy học, dậy vẽ, Chị Giáng Hương rất say mê mỹ thuật.

     Cuối năm 1948, khi chị Giáng Hương tròn 19 tuổi, một ngày đầu Thu, Đại đoàn (nay là Sư đoàn) 308 hành quân qua Quần Tín, nghỉ lại để củng cố quân số. Trong đội quân y có người Y Sỹ trẻ Lê Cao Đài thường cỡi ngựa qua xem tranh của các họa sỹ Trần Đình Thọ, Tô Ngọc Vân, Trần văn Cẩn, … Anh Lê Cao Đài rất chăm chú xem lớp dậy vẽ của Họa sỹ Sỹ Ngọc rồi mang lòng yêu cô học trò Vũ Giáng Hương. Đại đoàn 308 trú quân gần một tháng rồi hành quân theo đường Hòa Bình China xuyên qua dốc Cun, dốc Quy hậu,… để về Việt Bắc. Sau chiến dịch Biên giới 1950, chị Giáng Hương được biết anh Lê Cao Đài được học trường Quân y ở cây số 7 đường Tân Trào, Tuyên Quang. Chị thưa với Cha Mẹ để xin đi cùng một Đoàn kháng chiến và bộ đội từ Thanh Hóa lên Việt Bắc để tìm gặp anh Lê Cao Đài.

      Lúc đó Pháp đã tăng quân để cô lập Liên khu 4 định tiêu diệt và bắt sống toàn bộ lãnh đạo kháng chiến và Đoàn Văn Hóa kháng chiến liên Khu 4, tình thế rất cấp bách nên Cha Mẹ tôi cũng đồng ý để chị Vũ Giáng Hương đi cùng đoàn Cán bộ. Bị quân Pháp chặn và phục khích chia cắt nhiều đoạn đường, Đoàn Cán bộ có chị Vũ Giáng Hương theo phải đi vòng xuống tây nam Hòa Bình, Sơn La, Yên Bái,.. gần một năm được nhân dân và cơ sở cách mạng nuôi và che chở mới đến được Tuyên Quang. Về gần Tuyên Quang, chị Giáng Hương bị suy kiệt sức khỏe, ốm nặng phải mổ cấp cứu. Dân công đã võng Chị Giáng Hương đi gần nửa ngày mới tới trạm Quân y. Như một duyên số định trước, người mổ cấp cứu cho Chị Giáng Hương lại chính là Bác sỹ Lê Cao Đài. Sau khi bình phục, anh Lê Cao Đài báo cáo đơn vị xin cưới chị Vũ Giáng Hương. Lễ cưới được tổ chức vào chiều tối một ngày cuối Đông trong một lán lợp lá giồi dưới gốc cây đa đại thụ trên đường vào ATK (An Toàn Khu Việt Bắc), chị Giáng Hương mặc bộ quần áo nâu, anh Lê Cao Đài mặc quân phục xanh lá, ngoài là áo trấn thủ. Sau cưới mấy ngày, anh Lê Cao Đài cùng đội quân y lên đường ra mặt trận tham gia cứu thương ở chiến dịch vùng núi Hoà Bình Đông – Xuân 1951 – 1952, Tây Bắc Thu – Đông 1952, … rồi anh Lê Cao Đài bặt tin luôn. Cuối năm 1951, Cha Mẹ và ba người con nhỏ Vũ Phi Hồng, Vũ Triệu Mân, Vũ Ngọc Phương lên đến Việt Bắc sau gần 3 tháng được cán bộ giao liên đưa theo đường bộ. Chị Giáng Hương về gặp được Cha Mẹ và các em gần một ngày rồi Chị trở lại Đoàn Mỹ thuật rồi được đi học chỉnh huấn 1953 để đi thực tế tham gia giảm tô, cải cách ruộng đất đến năm 1956.

    Năm 1954, Chính Phủ ta về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, anh Lê Cao Đài cùng đoàn quân về Hà Nội cũng không gặp được Chị Vũ Giáng Hương. Sau đấy hơn một năm, biết tin anh Lê Cao Đài đã về Hà Nội, chị Giáng Hương xin nghỉ được hơn một tuần từ nơi cải cách Hà Nam Ninh tìm về với anh Đài.

    Sau ngày giải phóng, Hà nội chỉ vẻn vẹn trong mấy đường phố cũ do Tây xây dựng, ra ngoài đê sông Hồng hay đến khu Văn Miếu Quốc tử Giám toàn ruộng hoang hóa, cỏ tranh, cỏ lau bạt ngàn. Ngay khu hồ Bẩy Mẫu sau là Công viên Thống Nhất bây giờ trải dài những ao, hồ, đầm nước và ruộng hoang, xa tận cuối tầm nhìn mới thấy mờ xanh làng Kim Liên, Trung Tự. Giữa hai hồ Bẩy Mẫu, Ba Mẫu bấy giờ chỉ có một doi đất rộng chừng hơn 8m trải đá răm và đường xe điện Cửa Nam đến cửa bệnh viện Bạch mai là hết đường tầu điện.

     Anh chị Lê Cao Đài, Vũ Giáng Hương về ở nhờ gian phòng 12m2 cuối nhà cụ Lê văn Lệ, thân sinh anh ở 105 Phan Than Giản ( sau đổi là Nguyễn Hữu Huân). Phòng Anh Chị ở cuối khuôn viên nhà. Sát cửa phòng là một khe hẻm rộng chừng 1,6m với bệ bếp nấu củi với khoảng sân bé chừng 1,5m2 liền nhà xí đổi thùng. Cái một máy nước duy nhất ấy chẩy ri rỉ, phải hứng nước cả ngày mới được mấy xô nước 20 lít, cả nhà thay nhau tắm ở khoảng sân choen hoẻn này.

      Hàng ngày Anh Đài đạp xe đi làm ở Bệnh viện quân y 108 cuối phố Trần Hưng Đạo, chị Hương làm giáo viên dậy Lụa và Đồ họa trường Mỹ thuật phố Yết Kiêu. Hai Cụ ông bà Lê văn Lệ sau khi mất giao lại cho người con – anh Lê Mậu Bách cùng gia đình sinh sống vẫn là nhà một tầng, khung sắt cũ rỉ đen, mái lợp tôn. Anh Bách gầy xương, lưng còng, răng sớm rụng hết, điềm đạm, lịch lãm của Người Trí thức thời Tây. Trước Giải phóng 1954 làm nhân viên Hải quan của Pháp ở Hải Phòng thuộc diện công chức lưu dung nên dù trình độ phẩm chất tốt cũng không được tin cậy nên khi nghỉ làm thì bán căn nhà nhỏ ở Hải Phòng rồi về Hà Nội.

   Thời ấy vừa kết thúc 9 năm kháng chiến chống Pháp, Nhà nước ta phải xây dựng lại đời sống kinh tế từ bãi tro tàn chiến tranh. Năm 1956 được Liên Xô viện trợ xây Bệnh viện Việt – Xô chỉ giành riêng cho cán bộ trung cao cấp. Thuốc cũng rất hiếm, đến tận những năm cuối thập kỷ 70/ Thế kỷ XX, khi khám bệnh, ốm chưa tới mức nằm điều trị thì thuốc bổ duy nhất Cha tôi được cấp là viên Polivitamin có vỏ tròn, vàng bằng độ hạt lạc và độ 20 viên Vitamin B1. Một tháng cũng chỉ phát thuốc bổ một lần, mỗi lần có thuốc, Cha tôi lại từ Việt – Xô rẽ thăm cháu Vũ Trường Khanh là con trai cả của tôi bấy giờ mới hơn 1 tuổi ở nhờ 9m2 trong gian chái bếp lợp ngói vôi sỉ than ở 12A Nguyễn Cao, Hà nội.

            Năm 1958 – 1960, cả miền Bắc thực hiện cải tạo Tư bản công thương nghiệp tư bản, tư doanh. Hai người chú rể là bác sỹ Hoàng Tích Trí, Hoàng Tích Mịnh ( Hai anh em ruột lấy hai chị em ruột Cha tôi là Vũ Vân Nghiễn, Vũ Thanh Tâm. Chú Hoàng Tích Trí mất vì nhồi máu cơ tim 21/11/1958)

có nhà biệt thự lớn ở 23 Lý Thái Tổ, Hà Nội liền kề tường trường tiểu học Nguyễn Du 25 Lý Thái Tổ, Hà Nội. Chính sách cải tạo tư bản, tư doanh quy định tất cả các nhà có diện tích sàn trên 150m2 đều thuộc diện cải tạo. Các diện tích nhà trên 150m2 đều bị Quốc hữu hóa. Biệt thự 23 Lý Thái Tổ thuộc loại lớn của Hà nội bấy giờ, trước do Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện thiết kế xây trên thửa đất rộng hơn 700m2, mặt chính hướng Tây. Theo chính sách cải tạo lúc đó sẽ công hữu gần hết tầng 2 chia cho một bà Thứ trưởng Bộ Y tế. Để tránh éo le, chú Hoàng Tích Mịnh đã mời Cha Mẹ tôi về 23 Lý Thái Tổ. Lúc ấy Cha Mẹ tôi đang ở một phòng tầng 2 phía sau nhà 24 Lê Đại Hành của Viện Văn học.

       Cha Mẹ tôi đến xem thấy tầng 2 nhà 23 Lý Thái Tổ có hai phòng liền nhau gồm một phòng tiệc lớn khoảng 60m2 thông bằng cửa lớn giữa hai phòng là phòng khách khoảng 40m2. Cả hai phòng lát gỗ parke bóng lộn, mặt ngoài có hành lang rộng chừng 2,5m để gia nhân xếp bưng đồ ăn. Hướng Nam nhìn ra là một ban công rộng 1,6m dài suốt cả 2 phòng nhìn sang trường Nguyễn Du, bên dưới có đường đi lát sỏi rộng khoảng 8m đi thẳng từ cổng vào sân vườn phía sau.Cha Mẹ tôi chọn phòng khách nhỏ có riêng lối cầu thang đi từ gara oto tầng trệt lên. Cha Mẹ tôi cùng ba con là Vũ Phi Hồng, Vũ Triệu Mân, Vũ Ngọc Phương. Hồi Cha Mẹ tôi mới dọn về 23 Lý Thái Tổ, Chị Hương, anh Đài vẫn còn ở bên 103 Phan Thanh Giản cách 23 Lý Thái Tổ chừng hơn 300m. Hàng tuần tối vào thứ bẩy chị Giáng Hương đạp xe Zino mầu đỏ sẫm sang dựng dưới Gara lên thăm Cha Mẹ thì tôi  rửa vội bát rồi giắt xe của Chị ra đường tập đi. Chỉ mấy buổi tối tôi đã đập xe vững. Vì gầy nhỏ, tôi ngồi bệt xuống khung xe, đạp phóng quanh đường phố Lý Thái Tổ, Hàng Vôi, Hàng Tre, Lò Sũ,…Đường tối vắng ngắt, thoảng chỉ có một vài người đi bộ. Vỉa hè không lát chỉ có đất nện, một quãng phố dài cả nửa cây số chỉ có ba cái bóng đèn đường được chụp bằng sắt tráng men treo giữa đường tỏa sáng mờ, vàng vọt. Lần nào đạp xe về đến cổng nhà 23 Lý Thái Tổ cũng thấy chị Giáng Hương đứng đợi trên vỉa hè để lấy lại xe đạp.   

        Đầu năm1961, vì diện tích nhà 23 Lý Thái Tổ vẫn còn trống hai phòng gia nhân ở tầng 1 cạnh gara oto, chú Mịnh bảo anh Lê Cao Đài chị Vũ Giáng Hương về cho ở nhờ trong phòng nhỏ khoảng 18m2 tầng trệt nhà 23 Lý thái Tổ sát tường trường Phổ thông cấp 1 Nguyễn Du. Căn phòng anh chị ở trong cùng nhà 105 Phan Thanh Giản được bà vợ anh Lê Mậu Bách cho hai mẹ con bà Tính làm nghề chữa quần áo thuê đến tận những năm 1990 mới đòi được.

        Phòng nhỏ 23 Lý Thái Tổ cho anh Đài, Chị Hương ở lại chia ngăn làm đôi, ngoài có cửa gỗ lưới sắt rất bí, ngày hè nóng anh chị mang chiếu ra ngủ tối ở gara oto. Phòng nhỏ liền kề, chú Mịnh cho hai người bên quê Đông Ngạc ở là ông Tham (Không biết tên, thời Tây làm Tham biện) và anh Hán, một người trẻ, tính rất sởi lởi là nhân viên Viện Vệ sinh dịch tế cuối đường phố Tăng Bạt Hổ, Hà nội. Trẻ con phố hay gọi trêu: ” Hán cao cổ mười ba tuổi rưỡi”, nghe thấy anh Hán quần đùi áo may ô chạy ra đường đuổi trẻ con tán loạn.

       Thời toàn quốc kháng chiến năm 1946, cả nhà chú Trí, chú Minh đi kháng chiến. Sau khi Pháp tạm chiếm Hà nội, nhà 23 Lý Thái Tổ được Mật thám Pháp sử dụng vừa ở, vừa làm việc nên trên sân gác thượng Pháp xây thêm một phòng tra tấn rộng khoảng 6m2. Khi Cha Mẹ tôi về ở nhờ tầng 2, bọn trẻ con cả mấy nhà hay chạy chơi lên gác thượng, trong phòng mái vẫn còn một tấm bê tong xây ngang, kề bên là một bảng ổ điện lớn dùng tra tấn Việt Minh bị Pháp bắt được. Trên tường trát vữa vẫn đọng nguyên những vệt máu nâu đen không thể cọ rửa, sàn nhà bằng gạch Bát Tràng bị giầy đinh Tây dẫm nát đã mất hết men, sâu lõm xuống. Những người dân phố gần nhà 23 Lý Thái Tổ kể lại hồi thuộc Pháp là nơi giam tù để tra tấn, hỏi cung. Thời ấy dân thường nghe tiếng người la hét ở nhà 23.

        Mấy người anh lớn và chị Vũ Phi Hồng tôi cũng không có nhà riêng toàn ở tập thể. Đến khi cưới vợ, lấy chồng, sau Lễ cưới lại được Chị Hương, anh Đài nhường phòng lên trải chiếu hành lang tầng 2 bên phòng Cha Mẹ tôi để ở chừng một tuần. Tất cả các Anh, Chị cưới về ở đấy rồi sau đều gặp toàn chuyện không may, không chồng chết thì con cũng bị dị tật, gia đình  tan cả.

       Sau khi Chú Hoàng Tích Mịnh mất năm 2001, bên nhà các con của Chú Trí, Chú Mịnh bán toàn bộ tòa biệt thự số 23 Lý Thái Tổ, Hà Nội cho một doanh nhân làm Nhà hàng Đại Thống – một trong những nhà hàng lớn, khách ăn tập nập. Nhưng chỉ được vài năm thì suy sụp, không thể cứu vãn được nên lại bán tiếp mấy lần qua các chủ mới vẫn không thể kinh doanh vì thế một Ngân hàng Thương mại đã đứng ra mua lại rồi mua thêm cả mấy nhà phía 17, 19 Lý Thái Tổ để gộp thành một thửa đất rộng lớn trên đường Lý Thái Tổ, Hà Nội để xây dựng một trung tâm Thương mại gần kề Trung tâm Hồ Hoàn Kiếm. Khi phá hết nhà, trong vườn nhà 23 Lý Thái Tổ còn lại cây Roi cổ thụ quả đỏ nhưng rất chua sát cửa sổ phòng Giáo sư Hoàng Thủy Long cũ. Mấy người thợ xây lấy dao chặt mãi không được, đêm hôm đó, khi thợ xây dựng vừa nghỉ thì cây Roi tự nhiên bốc cháy dữ dội như một bó đuốc lớn, giữa ngọn lửa hiện hình một người con gái đứng tay ôm cái chiếu. Tất cả mấy chục thợ xây hốt hoảng la hét bỏ chạy ra đường, dân phố thấy động kéo đông đứng xem đều thấy rõ như vậy. Từ đó, nhà 23 Lý Thái Tổ, Hà Nội không thể bán, cung không thể xây dựng được. Gần 20 năm sau, trên bãi đất hoang này là nơi dịch vụ rửa xe. Khi gặp anh H.T. L nguyên là con trai thứ của Cố Bộ Trưởng Hoàng Tích Trí đã kể lại cho tôi nghe sự việc trên. Ngày nay, nếu ngồi một quán nước trà đá trên đoạn đường Lý Thái Tổ này cũng sẽ nghe kể lại câu chuyên trên như một truyền kỳ hoang đường.

         Ngày chưa có chiến tranh Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc, chị Giáng Hương thường dựng giá vẽ đặt khung tranh ở gian Gara trống không bên cạnh phòng chị. Nhiều lúc Chị bảo tôi đứng làm mẫu cho Chị vẽ. Tôi ngày ấy độ hơn 10 tuổi, hay chạy nhẩy không đứng yên lâu được. Chị Giáng Hương lại càu nhàu:“ Bảo mày đứng yên một lúc cũng không được”.

        Tôi thích vẽ nhưng không chịu để ai dậy, hay lấy trộm bút vẽ, mầu vẽ của chị Giáng Hương. Giấy vẽ thường là giấy năm hào hai có kẻ của Cha Mẹ đã dùng một mặt. Khi ở nhà, chị Hương làm đồ họa, khắc gỗ ván để in tranh, tôi chờ khi Chị Giáng Hương đi vắng lẻn vào trong phòng cậy tủ lấy ván gỗ Mực hay gỗ Mỡ của chị ra chẻ một ít rồi dùng dao bài nhỏ, mài sắc như dao cạo gọt tượng gỗ Tôn Ngộ Không, Quan Vân Trường, Trương Phi,… và các nhân vật truyện cổ tích Grim. Mỗi lần như vậy, chị Giáng Hương lên gác 2 mách Cha tôi là tôi bị Cha lấy thước vụt mấy cái vào đít. Người hiền, điềm đạm nhưng dữ đòn lắm, không đánh thôi, đánh là quắn đít.

        Sau bị đánh đít nhiều, tôi không trộm gỗ của Chị Hương nữa, khi nghỉ học tôi theo phố Lò Sũ qua bên đường Trần Nhật Duật rồi ra ngoài đê đến lân la trên bãi gỗ Xưởng Gỗ 42 trong Khu Tập thể Bờ Sông chọn nhặt những mảnh gỗ củi là gỗ Mỡ, gỗ Mực, gỗ Dổi về tự khắc lấy đồ chơi như Quan Công, Tôn Ngộ Không, … các nhân vật trong truyện Chiếc chìa khóa Vàng như Buratino, con Cáo,…

      Mẹ tôi thấy tôi chọn được gỗ tốt bảo:

“ Con lấy tem mua củi ra chọn cho Mẹ những thanh củi gỗ tốt về để đóng cho Cha cái tủ sách. Nhà nhiều sách để mãi trong hòm gỗ đầu gường hỏng mất”.

       Thế là tôi được Mẹ giao hẳn một việc, lấy làm kiêu hãnh, sáng học ở trường về ăn cơm trưa rửa bát xong là tôi ra Xưởng Gỗ 42. Có ngày chọn được nhiều thanh củi gỗ tốt như gỗ Dổi, gỗ Chò Chỉ, Lim,… tôi gom xếp thành đống nhỏ lấy giây thừng bó lại rồi về gọi Mẹ. Những lần nhặt được nhiều gỗ tốt thì chia làm hai bó Mẹ Con chia vác về dựng góc gara nhà 23. Chị Hương thấy thế cũng nhặt thêm các ván gỗ thừa ở Trường Mỹ Thuật buộc xe đạp đèo về, mấy ván gỗ này sau được ghép làm mấy đợt ngang của tủ sách.Gỗ củi tích cóp được nhiều gỗ tốt phải trừ vào phiếu mua củi hàng tháng nên thiếu củi đun, tôi lại đu lên cây khế cuối vườn nhà 23 trèo tường sang trường Nguyễn Du nhặt cành, lá cây Bàng khô rơi trên sân trường mang về. Nhiều lần bị ông Vi gầy cao ngẳng làm bảo vệ trường Nguyễn Du đuổi đánh vì lấy mất đun nấu nhà ông. 

        Sau hơn một năm bới tìm những thanh củi gỗ tốt, giữa năm 1961, Mẹ tôi gọi được hai bác Phó Mộc đến đóng cho Cha một cái tủ sách hai cánh ô kính nhỏ. Tôi còn nhớ khi hai bác Phó Mộc cưa xẻ rồi bào gỗ làm tủ, Mẹ tôi hay ngồi nói chuyện ở nhà quê còn hút thuốc lào với họ. Làm độ hơn một tuần thì xong cái tủ, đánh vecni mang lên kê áp tường góc bên phải phòng tầng 2 nhà 23 Lý Thái Tổ, tủ xếp được gần 700 cuốn sách, bản thảo. Cha tôi quý sách, năm nào sang Hè nắng khô nóng đều trải báo xuống hiên ban công rồi dỡ sách ra hong khỏi mốc, tôi cũng hay được Cha cho làm phụ, đọc hết cả tủ sách, đọc lại mấy lần, lâu ngày nhớ đến từng mảnh giấy Cha viết khi đọc kẹp trong từng quyển sách. Chuyển nhà đi đâu, Cha Mẹ tôi cũng đem theo tủ sách này. Năm 1955, ở Ban nghiên cứu Văn Sử Địa 18 Hàn Thuyên, Mẹ tôi được bán phân phối một xe đạp Thống nhất. Mẹ tôi tập đi xe đạp nhưng mãi không đi được, đến cuối năm 1959, chú Lê Phong Sừ (Sau bút danh là Phong Lê, Giáo sư Viện trưởng Viện nghiên cứu Văn học 1988 – 1995) cứ sau bữa cơm tối lại giữ sau xe để Mẹ tôi tập đi, độ gần một tuần Mẹ tự đạp xe vòng quanh Hàn Thuyên, Trần Hưng Đạo, Phan Huy Chú. Tích cóp mãi tiền xuất bản lần đầu năm 1959 bộ sách Tục Ngữ Ca dao Việt Nam, Truyện cổ tích Việt Nam đến năm 1962  Cha tôi mua được cái xe đạp Mecerduyara sáng trắng, xe rất nhẹ. Mỗi lần cần đi, Cha tôi lại khiêng xe từ tầng 2 xuống sân ra cổng, đi về Người lại khiêng lên để góc hành lang tầng 2. Thành ra cái tủ sách và hai cái xe đạp là tài sản lớn nhất mà Cha Mẹ tôi có được. Đến năm 1974, Cha Mẹ tôi được Nhà nước cấp cho một căn hộ số phòng 21 diện tích 24m2, tầng 3, nhà lắp ghép E1 Văn chương, Hà nội. Hai Thân tính khẳng khái không nhận cho không mà đề nghị trả tiền nên bán cái xe đạp Meccer Duyra đi trả được 600 đVN. Sau năm 1981 khi Cha Mẹ tôi được điều chỉnh tiêu chuẩn nhà lại được cấp căn hộ 32m2 số 203/G2 tầng 2 Khu Trung Tự, Hà Nội.

 

     Anh Đài, Chị Hương không có con. Anh Đài lại là người thành đạt hơn cả trong gia đình truyền thống cổ nên hai cụ thân sinh thường nhắc về chuyện con cái. Anh nói rằng: “ Tại con đi chiến trận nên lỗi là tại con”. Anh Chị cũng rất mong con nhỏ không được, nên nhận một con bé Lê vi Lộc là con gái một người anh ruột làm con nuôi. Vì sinh vào năm 1957 có Đoàn đại biểu xô viết tối cao Liên Xô do chủ tịch Vôrôxilốp dẫn đầu đi thăm Inđônêxia trước rồi mới đến Việt Nam (tháng 5/1957) nên ở nhà người anh anh Lê Cao Đài gọi cháu là Con Lốp. Năm 1965, trong các đoàn quân ra trận vào chiến trường B (miền Nam), anh Lê Cao Đài cùng một đoàn quân y đi bộ theo đường 559 Trường Sơn vào B3 Tây Nguyên. Cùng đi trong Đoàn quân y có một bác sỹ tên là Lê Cao Đại, dọc đường trúng bom B52 hy sinh, đầu năm 1966 báo tử ra là Lê Cao Đài. Ở nhà, chị Vũ Phi Hồng cũng bặt tin chồng là anh Võ Tề đi B khi con bé Võ Hồng Hà mới sinh vừa một tháng. Mãi hơn 12 năm sau ông Sáu Trang bí thư Đông Nam bộ ra Bắc tìm gặp Cha tôi mới cho biết anh Võ Tề hy sinh ở Phước Long sau khi vào Nam được hơn một năm. Ngoài Bắc hai mẹ con chị Vũ Phi Hồng cứ chờ mãi,…

      Cũng năm 1965, trường Cao đẳng Mỹ Thuật Yết Kiêu (sau này là trường Đại học Mỹ thuật ở 42 Yết Kiêu, Hà nội) sơ tán lên Hiệp Hòa, Hà Bắc ( Hai tỉnh gộp lại là Bắc Ninh, Bắc Giang). Năm 1966 tôi về ở cùng nhà với hai mẹ con chị Vũ Giáng Hương để đi học cấp 3 Hiệp Hòa. Đấy là một làng từ Ngã tư Vát chạy dài men theo những ruộng trũng, đầm ao đến gần chân núi Hia. Tôi ở trong một gian nhà lợp lá gồi dựng sát đầu chái nhà là nơi ông chủ nhà để cho chị Hương và con bé Lê vi Lộc ở. Ngày ấy chị Vũ Giáng Hương gầy đen khẳng khiu cân chỉ được 42Kg. Đến cuối năm, tôi được sơ tuyển khám phi công rồi về tuyến khám cuối cùng ở Quân y viên 108 Hà Nội. Mẹ con chị Vũ Giáng Hương ở lại nơi cái làng dầy lũy tre gai gần ven sông Cầu ấy nhiều năm sau. Đến cuối năm 1970, chị Vũ Giáng Hương tự nguyện đi phục vụ chiến trường miền Nam theo đường 559 Trường Sơn. Thời kỳ này đã để lại trong sự nghiệp đời chị Giáng Hương nhiều ký họa về các binh trạm, về bộ đội, thanh niên xung phong chiến đấu, bảo vệ, xây dựng thông tuyến đường huyết mạch cho chống Mỹ, giải phóng miền Nam. Trên đường ra mặt trận, chị Vũ Giáng Hương cũng dò hỏi các binh trạm trên đường để có thể tìm dấu tích mộ anh Lê Cao Đài nhưng bặt tin.

      Ngày 29/7/1970, Quân ủy Trung ương quyết định đổi tên Bộ Tư lệnh 559 thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh và Quân ủy Trung ương. Đến tháng 7 năm 1971, chị Vũ Giáng Hương vào đến Bộ Tư lệnh khu vực 471 đã vẽ ký họa một đoan tuyến đường kín chạy ban ngày ở Long Đại. Sau khi trở lại ra Bắc, tranh ký họa của chị Vũ Giáng Hương được lựa chọn trong một triển lãm Mỹ thuật về Chống Mỹ cứu Nước tại Hà Nội. Cuộc đời nhiều gian truân từ nhỏ đến khi trưởng thành lập nghiệp cùng với di truyền, nếp sống gia đình Nhà văn Vũ Ngọc Phan – Lê Hằng Phương đã hình thành trong chị Vũ Giáng Hương một Nhân cách giản dị, cương trực, không quản ngại gian khó, thương yêu anh em, đồng chí, độ lượng nhưng nghiêm khắc kỷ luật lao động có lúc hơi nghiệt,…

       Tại miền Nam năm 1965, chiến tranh Việt Nam đã cực ác liệt. Mỹ đã đưa vào gần nửa triệu quân, lực lượng đánh thuê Hàn quốc, Úc, New Zealand, Thái Lan, Philipines gồm 20,500 quân cùng 520,000 quân Việt nam Cộng hòaViệt Nam mở liên tiếp các cuộc “ Tìm Diệt” quân Giải phóng và Trung ương Cục. Trong khi đó toàn thể lực lượng của ta chỉ có 247 nghìn người nên các Bệnh viện dã chiến cấp Quân khu trong đó có Viện Quân y 211 do anh Lê Cao Đài chỉ huy thường xuyên phải chuyển địa điểm, thay đổi phiên hiệu tránh biệt kích, thám báo. Nhưng dù chuyển tới đâu, Viện Quân y 211 vẫn nằm trong vùng trọng điểm của chiến dịch rải thuốc khai quang của quân đội Mỹ. Sau này đọc nhật ký chiến trường, thấy anh Lê Cao Đài viết:“Đêm nào cũng có năm đến sáu đồng đội của tôi ra đi… Ngày ấy do không hiểu chất độc da cam gây ra suy giảm miễn dịch nên tôi cứ nghĩ các đồng chí ấy ra đi vì ăn uống kham khổ nên suy kiệt. Tôi đã lầm”.

       Sau hơn tám năm chiến đấu trong chiến trường B3 Tây Nguyên, ngày 22/ 5/1973, bác sĩ Lê Cao Đài được lệnh ra Bắc. Lúc này ta đã buộc Mỹ ký Hiệp định Paris chấm dứt ném bom miền Bắc nên đoàn quân y anh Lê Cao Đài chỉ huy vừa đi đường bộ vừa được chở bằng xe oto ra Bắc. Đến ngày 27/6, anh Lê Cao Đài về đến nhà 23 Lý Thái Tổ trước sự bất ngờ kinh ngạc của tất cả gia đình. Nhưng khi anh về đến nhà lại đau xé lòng vì đứa con gái nuôi Lê vi Lộc vừa ngã từ gác sân nhà 23 Lý Thái Tổ xuống đất khi căng dây phơi chiếu, dây đứt mất đà,…Nhiều năm sau, anh Đài chị Hương nhận nuôi bé Vũ Phương Nga con gái anh Vũ Huyền Giao và chị Toàn vừa ly hôn.

        Sau khi ra Bắc kiểm tra sức khỏe, anh Lê Cao Đài biết mình đã nhiễm chất dioxin với nồng độ 215 PPT, cao gấp 100 lần người bình thường, hệ quả của 8 năm ở chiến trường B. Năm 1980 anh Lê Cao Đài được phong hàm Phó Giáo sư, năm 1984 được phong hàm Giáo sư. Anh là một trong những Nhà khoa học Việt Nam đầu tiên tìm ra chất độc Dioxin của Mỹ. Đại tá, Giáo sư Y khoa Lê Cao Đài thường xuyên đến các vùng bị ô nhiễm chất dioxin ở Biên Hòa, Đà Nẵng, Quảng Trị, Pleiku, Kon Tum. Trong cuốn sách “My father, my son” dịch tiếng Việt với tựa đề “Cha con tôi”, James G. Zumwalt cựu Đô đốc Elmo Zumwalt, Jr., Tư lệnh Hải quân Mỹ, người đã từng trực tiếp chỉ huy rải chất độc dioxin xuống Việt Nam trong chiến tranh đã viết: “Giáo sư Lê Cao Đài đã nhiều lần đến Mỹ để thuyết trình về chất độc da cam và nỗi đau mà hàng triệu người Việt Nam đang phải gánh chịu. Là Giám đốc Quỹ Hỗ trợ nạn nhân da cam, Giáo sư Lê Cao Đài cũng là người đầu tiên nêu vấn đề khởi kiện các công ty sản xuất chất dioxin đã rải xuống miền Nam Việt Nam”.

    Ngày 15/4/2002, Giáo sư, Bác sĩ Lê Cao Đài trút hơi thở cuối cùng vì chính chất độc Dioxin. Trên Tạp chí Times nhà báo Elaine viết: “Một nhà khoa học lớn của Việt Nam đã ra đi, một nhà khoa học lớn nhất cho đến nay về chất độc da cam và những di hại của nó”… Trước đấy, ngày 10/4/2002, anh Đài đột nhiên sốt rồi mê ngay phải đưa cấp cứu vào Viện 108. Khi chẩn đoán anh bị viêm Tụy cấp, bệnh viện 108 đã dùng tất cả những loại thuốc tốt nhất chạy chữa.

      Ngày 12/4/2002 anh Đài tỉnh lại, tôi vào thăm, anh bảo: “ Xoa bàn tay cho anh, đau tê quá”. Khi mở bàn tay anh ra thấy tất cả chỉ bàn tay đen như mực,… Hồi nhỏ ở nhà Cha Mẹ tôi hay bảo đến nhà bác Lang Vòng ( Lương y Trương Hán Thầm là chỗ thân quen 3 đời với Chi họ Vũ Cha tôi) ở 11 Hàng Thiếc lấy thuốc cảm hay thuốc chữa trẻ bị ốm. Thấy tôi chú trọng Đông Nam y dược, bác Lang Vòng hay chỉ bảo cách xem mạch, xem thần khí, nhất là xem chỉ tay khi ốm.Bác Thầm dậy: “ Người ta ốm bệnh gì hay khỏe thế nào cứ xem thần khí của mắt và chỉ tay là biết có chữa được không”.

      Thấy chỉ tay anh Đài đen như mực, mắt đã mờ đục, về nhà tôi bảo chị Vũ Phi Hồng: “ Anh Đài bệnh nặng không qua được”. Chị Vũ Phi Hồng (chị ruột trên tôi một người anh) kể lại cho chị Hương, chị Hương lập tức hét tôi: “ Mày thế nào mà rủa anh Đài chết,…”. Sau khi anh Đài mất, lễ tang chưa thể cử hành vì chưa biết an táng ở đâu, chị Giáng Hương gọi hỏi tôi: ” Trước anh Đài có mua đất nghĩa trang quê Bắc Ninh, nay người ta đòi thêm tiền mà chị không có thì làm thế nào? “. Tôi nói: ” Việc mua đất ở quê rồi khi mất đưa về an táng bị dân quê chặn lại nhiều lắm. Anh chị đều là hàm Thứ trưởng, có tiêu chuẩn. Chị hỏi Ủy Ban thành phố Hà Nội để chọn đất cho anh, luôn cả chị bên cạnh”. Vì thế anh Đài rồi chị Hương đều an táng cạnh nhau ở Nghĩa trang Thanh Tước, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.

      Hơn 9 năm sau, lúc 17g 15 phút ngày 2/11/2011, cháu Võ Hồng Hà con gái chị Vũ Phi Hồng nhà liền kề nhà chị Vũ Giáng Hương, điện cho tôi: “ Cậu ơi, bác Hương bị ngã trong buồng tắm mê ngay, đã đưa vào cấp cứu A9 Bạch Mai”. Đó là một buổi chiều nắng oi bức trước gió Bắc về, tôi tức tốc vào Bệnh viện ở lại đấy đến 24g20 đêm khi chị Vũ Giáng Hương qua đời.

      Tiểu sử và sự nghiệp của Bà Giáo sư Mỹ thuật Quốc gia Vũ Giáng Hương được các nhà nghiên cứu viết: “Giáo sư Mỹ thuật Quốc gia Vũ Giáng Hương (1930 – 2011), Chủ Tịch Ủy Ban quốc gia Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Bà là Trưởng nữ con Danh nhân Văn hóa Nhà văn Vũ Ngọc Phan và Nhà thơ Lê Hằng Phương.Từ nhỏ phải trông các em gồm cả 20 người cháu, làm việc nhà. Cha Bà đã dậy Bà học, sau này tất cả các kiến thức của Bà đều là tự học, tự rèn luyện trở thành một Nhà Trí thức học vấn sâu sắc cả về chính trị, văn hóa, xã hội. Bà vừa được Cha Mẹ dậy, vừa tự học thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh. Từ khi tuổi trẻ cho đến cuối đời, Bà đã tham gia vào hai cuộc Kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, cũng như tham gia trực tiếp vào  những biến đổi sâu sắc của xã hội Việt Nam như giảm tô, cải cách ruộng đất, hợp tác xã, cải tạo công thương và thời kỳ Đổi Mới 1986. Bà Vũ Giáng Hương được xã hội công nhận là một Nhà Trí thức chân chính, giản dị, liêm chính thể hiện qua nhiều chức vụ công tác trong Ngành Văn hóa, Văn nghệ. Bà được trong nước và nước ngoài quý trọng. Đã hai lần Đảng – Nhà nước Việt Nam đề cử Bà vào Ban chấp hành Trung ương Đảng và Quốc Hội, song Bà xin từ chối để chuyên tâm cho công việc Văn hóa, Nghệ thuật. Sự nghiệp của Bà đã để lại nhiều tác phẩm Mỹ thuật có giá trị tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.” Trích từ Từ điển, sách nghiên cứu và bài viết “ Gia phong Danh nhân Văn hóa Vũ Ngọc Phan” của tác giả Vũ thị Thành.

 

       Lịch sử tác gia Việt Nam viết: Bà từng giảng dạy, giữ cương vị lãnh đạo trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội trong khoảng thời gian từ 1962-1988. Trong 10 năm liền, từ năm 1989-1999 bà là Phó Tổng thư ký rồi Tổng Thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam. Sau đó, từ năm 1999-2004 bà giữ cương vị Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam. Từ tháng 4/2004 đến tháng 9/2010, bà được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam.

Bà đã có nhiều công lao đóng góp cho nền mỹ thuật Việt Nam và sự nghiệp phát triển văn học nghệ thuật nước nhà, đồng thời bà còn có nhiều công lao đóng góp cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo đội ngũ mỹ thuật Việt Nam.

Bà Vũ Giáng Hương được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý:

Nhà giáo Ưu tú, Phó giáo sư Đại học Mỹ thuật Hà Nội.

Huân chương Độc lập hạng nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, Huân chương Lao động hạng nhất và nhiều bằng khen và huy chương khác.

Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001.

Nữ Họa sĩ Vũ Giáng Hương vừa miệt mài học tập vừa đi thực tế để tìm ra một lối riêng trong hội họa. Đó là chất thơ của đời sống thường ngày, một thứ thẩm mỹ mà chỉ những tâm hồn tinh tế, tao nhã mới đủ sức gợi lên bằng sắc màu ẩn hiện. Bà đã dành tình cảm nâng niu những xúc động thăng hoa cho các em bé, các bà mẹ, những nữ dân quân, thanh niên xung phong. Đó là những đường nét hối hả nhưng không ồn ào, dịu dàng nhưng vô cùng sâu đậm.

 Nhà nghiên cứu, phê bình Mỹ thuật Việt nam Phan Cẩm Thượng nhận xét: “Nếu triển lãm chung thì tranh của bà không có gì nổi bật, rất đạm bạc với các đề tài rất thanh bình nhưng có sự tinh tế và xem dần sẽ thấm lâu”.

      Nhà xuất bản Thế giới ấn hành tháng 8/2011 đã phát hành sách Tình yêu và nghệ thuật nói về những ký ức không thể phai nhòa của Chị trong làng hội họa Việt Nam. Giới Mỹ thuật Việt Nam truyền kỳ chị Vũ Giáng Hương là một trong những số ít những “bóng hồng” nổi tiếng trong giới họa sĩ. Với sự thanh liêm, chính trực nên các Văn nghệ sỹ Việt Nam suy tôn Vũ Giáng Hương là Chị C, là Người đàn bà đẹp của Hội họa Việt Nam. Sau khi Chị qua đời, ngày 2/11/2011 – 15/11/2012, để tưởng niệm một năm ngày mất Họa sỹ Vũ Giáng Hương, Hội Mỹ thuật Việt Nam đã triển lãm hội họa Ký ức thời gian  qua các bức họa của chị tại Nhà triển lãm 16 Ngô Quyền, Hà Nội”.

          Ngày sinh thời, chị Hương hay hỏi tôi về việc nên hay không nên trong công tác vì từ những năm đầu thập kỷ 80/ Thế kỷ XX, tôi được Đảng – Nhà nước chọn đào tạo tham gia công tác Đặc biệt thời kỳ trước và sau Đổi Mới. Tôi nguyên tắc không nói nhưng anh Vũ Tuyên Hoàng –Giáo sư Viện sỹ Nông nghiệp đương là Trung ương Ủy viên nên được bác Sáu Thọ (Lê Đức Thọ) và Chú Tố Hữu quý đến chơi nhà anh Vũ Tuyên Hoàng kể về tôi nên chị Hương biết.

         Năm 1990, bác Đỗ Mười có nói là kỳ tới Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ 7 dự kiến đưa chị Hương vào Trung ương nhưng Chị Hương xin không tham gia vì “ Không làm được việc Chính trị”. Đến năm Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cũng có dự kiến để Chị Vũ Giáng Hương tham gia Quốc hội nhưng chị cũng xin rút. Ở căn nhà trong ngõ sâu gần Ngã Tư Sở, trên tầng áp mái chị làm một phòng vẽ để miệt mài làm những khi ở nhà. Chị bảo tôi: “ Phòng này nắng quá cậu xem thế nào”. Tôi tách mấy cành gốc tre ở Triệu Việt Vương mang về trồng góc cổng nhà chị, mấy năm sau thành một bụi tre lớn, cành tre vươn cao che mát căn phòng vẽ của chị.

       Sau khi chị Hương mất, mấy năm giỗ đầu, giỗ thứ tôi không về dự được. Ngày Rằm tháng Bẩy năm 2015, thấy Các Cụ Gia tiên về nói: “ Con làm Lễ nhanh để Các Cụ còn xuống Ngục đón Chị Hương”. Tới hơn 14g cùng ngày thấy Chị Vũ Giáng Hương đi cùng các Cụ Gia Tiên về qua nhà một lát rồi tất cả biến thành luồng ánh sáng trắng lòa bay vụt lên cao. Cụ Tổ Vũ Cẩn bảo: “ Chị Hương được siêu thoát lên Cõi Trung thế, về ở nhà thằng Hoàng ( Vũ Tuyên Hoàng), giờ thằng Hoàng được cho tu luyện còn lâu mới về”… Tôi lờ mờ không biết là mình thức hay ngủ. Đến ngày giỗ đoạn tang chị Hương tròn ba năm, tôi về dự, khi cắm 3 nén hương vừa thắp vào bát hương trước ảnh Chị Vũ Giáng Hương, giây lát lửa tự đâu cháy bùng lên cả bát hương trước sự chứng kiến của cả nhà mấy chục người.

        Ngay đến việc Họa sỹ Trần Khánh Chương Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt nam nói năm ngoái (2019) cũng như một điềm báo: “ Để làm lễ trước kỷ niệm 90 năm ngày sinh Cô Vũ Giáng Hương vào 15/10 năm nay (2019) không lại không kịp”. Cuối năm 2019, họa sỹ Trần Khánh Chương đi kiểm tra sức khỏe phát hiện ung thư rồi qua đời ngày 24/4/2020.

     Cha tôi khi sinh thời hay nhắc lời cổ nhân: “ Cái quan định luận” nghĩa là “ Đậy nắp quan tài lời bàn về Người mới định”. Huyền thoại cuối cùng đã đóng lại một cái kết có Hậu cho một đời người cần lao của Nữ Họa sỹ Vũ Giáng Hương.

 Hà nội, ngày 05 tháng 06 năm 2020. 


 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s