Chiến tranh Ogaden – nội chiến lớn nhất của phe XHCN

Long Vũ / ncls group

Năm 1969 được coi là năm mở đầu xung đột trong khối XHCN với cuộc chiến ở biên giới Trung – Xô. Năm 1979 được coi là năm hỗn loạn của phe XHCN với hàng loạt xung đột: Việt Nam – Campuchia, Việt Nam- Trung Quốc, Uganda – Tanzania, nổi dậy Maoist ở Afghanistan,…. Tuy nhiên, cuộc chiến lớn và đẫm máu nhất là vào năm 1977-1978, giữa Ethiopia và Somali.

Nguyên nhân của cuộc chiến này sâu xa bắt nguồn từ lịch sử hào hùng của Somali. Trước khi thực dân xâm chiếm, lãnh thổ của người Somali được gọi là Đại Somali, vùng đất rộng lớn chiếm toàn bộ vùng Sừng châu Phi ngày nay thuộc lãnh thổ 4 nước Somali, Ethiopia, Kenya và Djibouti.

Somali bị xâm chiếm cuối thế kỷ 19, lãnh thổ bị chia sẻ giữa Anh (thường được gọi là Somaliland thuộc Anh), Ý (Somali thuộc Ý) và Pháp (Somali thuộc Pháp, ngày nay là Djibouti) trong khi láng giềng Ethiopia giữ được độc lập.

Trong thế chiến 2, quân Ý đã xâm chiếm cả Ethiopia và Somaliland thuộc Anh, kiểm soát toàn bộ vùng Sừng châu Phi vào năm 1940. Nhưng chỉ 1 năm sau, quân Đồng Minh thuộc các lực lượng Anh, Pháp, Bỉ, Ethiopia, Nam Phi, Ấn Độ,…đã mở cuộc phản công lớn từ Kenya chiếm lại những vùng này, đặt dấu kết thúc sớm cho mặt trận Đông Phi vào năm 1941 với thảm bại của quân Phát xít Ý.

Nhưng các vấn đề bắt đầu xuất hiện từ đây. Người Anh sau khi chiếm được các vùng này, có sự sắp đặt lại các đường biên giới, và cơ bản là bất lợi cho người Somali. Vùng Ogaden bị cắt cho Ethiopia như một hành động ”đền ơn” cho Ethiopia đã đứng về phe Đồng Minh. Trong khi đó, phía Nam Somali bị cắt cho Kenya thuộc Anh, chỉ ít ngày trước khi Somali tuyên bố độc lập. Cùng lúc đó tại Djibouti, người dân bỏ phiếu chọn duy trì ở lại Pháp thay vì gia nhập Cộng hòa Somali.

Ở các vùng đất bị cắt, sắc tộc Somali vẫn chiếm đa số. Các chính quyền sau đó ở Kenya và Ethiopia dù có hành động đàn áp sắc dân Somali, nhưng dân Somali đã phản kháng và chống lại bằng nổi dậy vũ trang.

Về chế độ, Somali sau khi độc lập trở thành nước Xã hội chủ nghĩa, ban đầu thân Liên Xô. Còn Ethiopia, duy trì nền quân chủ đến năm 1974, thì bị đảo chính quân sự lật đổ và thiết lập nhà nước Xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt từ năm 1987, Mengistu Haile Mariam thiết lập một nhà nước Cộng sản hoàn toàn ở Ethiopia, trở thành nhà nước Cộng sản đầu tiên nhưng cũng là cuối cùng ở Châu Phi thế kỷ 20, kết thúc vào năm 1991. Trong khi Kenya là chính quyền thân phương Tây.

Nhìn vào ngày nay, người ta khó có thể ngờ Somali từng phát triển rực rỡ, từng được gọi là ”Thụy Sĩ của châu Phi”, còn thủ đô Mogadidu là ”viên ngọc trắng Ấn Độ Dương”. Somali trải qua ”thập kỉ huy hoàng” vào những năm 60, với sự bùng nổ kinh tế trở thành nước phát triển nhất Đông Phi, nhưng vẫn duy trì nền dân chủ tự do hơn các nước khác trong phe XHCN. Dù cuộc đảo chính của tướng Siad Barre năm 1969 thiết lập nền độc tài quân sự, nó chỉ giảm bớt sự tự do của Somali, nhưng không làm suy yếu nền kinh tế, ngược lại còn đưa quân đội Somali trở nên hùng mạnh vào thời điểm đó.

Người Somali vẫn luôn kỳ vọng về một nhà nước thống nhất giữa các vùng đất nói tiếng Somali, bao gồm vùng Ogaden của Ethiopia và miền Bắc Kenya.

Xung đột cả về sắc tộc, tôn giáo lẫn chính trị đã khiến Somali tấn công Kenya năm 1963, với mục đích tối thượng là thống nhất Bắc Kenya. Cuộc chiến kéo dài 4 năm, dù Somali được Liên Xô giúp đỡ, Kenya cũng được sự hỗ trợ của Anh. Cuối cùng, Somali thất bại, và sắc dân Somali ở Bắc Kenya vẫn tiến hành nổi dậy đến tận ngày nay

Tuy nhiên, việc Somali tấn công cả người anh em Xã hội chủ nghĩa Ethiopia vào năm 1977, thì thực sự ít người ngờ tới.

Ethiopia Xã hội chủ nghĩa vừa thành lập đã tiến hành tập thể hóa nông nghiệp vội vã. Hậu quả là kế hoạch 5 năm đầu tiên chưa kết thúc, nạn đói đã lan tràn đất nước khiến hàng trăm nghìn người chết (tuy nhiên nạn đói lớn nhất là năm 1983-1985, khiến 1,2 triệu người chết). Trong nạn đói năm 1974, chính phủ Ethiopia đã chuyển lương thực từ phía Đông đất nước về phía Bắc, làm người dân phía Đông, trong đó có rất nhiều sắc tộc Somali tức giận. Họ quyết định nổi dậy vũ trang, thành lập Mặt trận giải phóng Tây Somali (Western Somali Liberation Front – WSLF). Tây Somali thực ra chính là tên gọi chính thức của vùng Ogaden, thuộc phía Đông Ethiopia.

Xung đột giữa Ethiopia và Somali ngày càng căng thẳng. Không những chia rẽ 2 nước, nó còn chia rẽ cả khối XHCN.

Liên Xô thời điểm đó vô cùng bối rối. Cả Somali và Ethiopia đều là đồng minh của Liên Xô, đều nhận viện trợ vũ khí của Liên Xô. Tuy nhiên, khi chiến tranh nổ ra, Liên Xô đã chọn đứng về phe ”Cộng sản hơn” – Ethiopia.

Các nước Đông Âu khác, chịu ảnh hưởng từ anh cả Liên Xô, đều phải ủng hộ Ethiopia. Duy chỉ có Romania là ủng hộ Somali, và cũng là nước châu Âu duy nhất viện trợ vũ khí cho Somali.

Ở châu Á, Trung Quốc vì chia rẽ với Liên Xô, lập tức ủng hộ Somali, dù trước đó quan hệ không quá thân thiết với nước này. Còn Bắc Triều Tiên, bán vũ khí cho cả 2 quốc gia này, nhưng trong trận chiến lại ủng hộ Ethiopia nhiều hơn. Nói thêm chút, Bắc Triều Tiên trước nay có một mỏ tiền, đó là bán vũ khí cho các nước Sừng châu Phi. Lý do là các nước Sừng châu Phi bị LHQ cấm vận vũ khí, các nước khác không thể bán. Duy chỉ có Triều Tiên là không sợ luật quốc tế, vẫn bán cho các nước này.

Nước Cộng sản ở Tây Á là Nam Yemen ủng hộ Ethiopia, gửi quân đến tham chiến. Các nước còn lại như Việt Nam, Mông Cổ, Campuchia…thì không rõ

Cuba theo Liên Xô, ủng hộ Ethiopia, và thậm chí còn vượt mặt Liên Xô, gửi cả pháo binh, không quân, xe tăng đến Ethiopia.

Cuối cùng, Ai Cập, dù không còn là nước XHCN, đóng vai trò trong cuộc chiến là viện trợ vũ khí cho Somali. Nguyên nhân là vì căng thẳng giữa Ethiopia và Ai Cập liên quân đến vấn đề thượng nguồn Sông Nile.

Vì những điều trên mà tháng 11 năm 1977, Somali cắt đứt toàn bộ quan hệ ngoại giao với Liên Xô và các nước cộng sản khác, ngoại trừ Trung Quốc và Romania.

Trở lại cuộc chiến, quân Somali bắt đầu tiến vào Ogaden tháng 7 năm 1979. Trước đó 60% vùng này đã bị quân của Mặt trận giải phóng Tây Somali chiếm giữ. Tuy nhiên trong chiến dịch quan trọng đánh chiếm thành phố lớn thứ 2 của Ethiopia là Dire Dawa, quân Somali và WSLF đã không thành công.

Để giúp Ethiopia, Liên Xô gửi đến đây 1.500 cố vấn, nhưng kèm theo một lượng khổng lồ khí tài hiện đại, trong đó quan trọng nhất là trực thăng Mi-24 lần đầu tiên tham chiến, trở thành vũ khí lợi hại nhất của cuộc chiến. Lô vũ khí viện trợ này là sự viện trợ lớn thứ 2 của Liên Xô, lớn hơn toàn bộ viện trợ trong chiến tranh Việt Nam và chỉ sau đợt viện trợ khổng lồ cho Syria năm 1973. Lực lượng đặc nhiệm cùng hải quân Liên Xô cũng được gửi tới, dưới sự chỉ huy của tướng Vasily Petrov

Trong khi đó, Cuba gửi đến Ethiopia 15.000 binh sĩ, có cả bộ binh, pháo binh, xe tăng, không quân, cố vấn,,, và đây mới là viện trợ quan trọng nhất cho Ethiopia trong cuộc chiến. Chỉ huy quân Cuba là tướng Arnaldo Ochoa.

Ngoài lề: tướng Arnaldo Ochoa nổi tiếng sau này do bị Fidel Castro xử tử vì tội buôn ma túy, tuy nhiên vụ án còn rất nhiều bí ẩn, đặc biệt là sự chia rẽ giữa hai anh em nhà Castro, do Arnaldo Ochoa nổi tiếng là bạn thân từ bé của Raul Castro, và cáo buộc buôn ma túy của Ochoa rất mơ hồ. Trước đó, Fidel Castro luôn tự tin: Cuba không có ma túy.

2000 quân Nam Yemen cũng đến giúp Ethiopia. Đông Đức và Bắc Triều Tiên cũng bị cho là gửi dân quân đến.

Sự có mặt của quân Cuba giúp Ethiopia trụ vững được tới tháng 1. Liên quân Cuba-Ethiopia bị vây ở 2 thành phố chiến lược Jijiga và Harar. Cuộc bao vây không mang lại kết quả, khiến quân Somali bị ”kiệt sức”, theo lời chỉ huy quân Somali.

Đến tháng 2, quân Cuba Ethiopia với trực thăng hiện đại tiến hành phản công. Quân Somali không thể phong thủ và nhanh chóng rút lui. Tổng thống Siad Barre lệnh cho quân Somali triệt thoái về Somalia vào ngày 9 tháng 3 năm 1978. Tuy nhiên, cuộc rút quân nhanh gọn đến khó ngờ, đơn vị cuối cùng của Somali rời khỏi Ethiopia vào ngày 15 tháng 3 năm 1978. Lúc đó người ta mới biết, Siad Barre đã đoán được không thể thắng quân Cuba nên đã ra lệnh rút bớt quân từ trước, đồng thời rút hết vũ khí hạng nặng. Nhờ vậy thiệt hại của quân Somali không đáng kể.

Cuộc chiến kết thúc với thất bại của Somali, họ vẫn phải bỏ dở giấc mơ về một Đại Somali thống nhất.

Đặc điểm của chiến tranh Ogaden là ít trận đánh lớn, chủ yếu là đánh nhỏ. Quân Somali có 6.453 người thiệt mạng,

2.409 người bị thương. Nhưng họ thiệt hại nặng về khí tài: 28 máy bay (1/2 không lực), 72 xe tăng, 30 xe bọc thép (3/8 thiết giáp) bị mất.

Ethiopia có 6.133 người thiệt mạng, 10.563 người bị thương. 23 máy bay, 139 xe tăng, 108 xe bọc thép chở quân bị phá hủy.

33 cố vấn Liên Xô, 400 lính Cuba và 100 lính Yemen cũng thiệt mạng.

Nhưng trận chiến gây thương vong lớn cho dân thường. Mặc dù dân thường chết do súng đạn rất ít, đại đa số dân thường Ogaden chết do nạn đói, và do các chiến dịch trả thù sau đó của quân đội Ethiopia. Ước tính khoảng 500.000 nghìn dân thường Ogaden đã chết sau chiến tranh, có cả sắc tộc Somali lẫn người Ethiopia.

Hậu quả lâu dài của cuộc chiến ảnh hưởng đến cả 2 quốc gia.

Ở Ethiopia, nạn đói năm 1974 chưa kịp giải quyết, cộng thêm chiến tranh và thanh lọc sắc tộc, đã trở nên trầm trọng hơn. Đến năm 1983-1985, nạn đói khủng khiếp nhất xảy ra khiến 1,2 triệu người chết, 7 triệu người phải đi tị nạn, trở thành cuộc khủng hoảng nhân đạo lớn nhất ở châu Phi cho đến khi chiến tranh Congo lần 2 bùng nổ.

Quan trọng hơn, nó làm xã hội Ethiopia thêm chia rẽ sâu sắc. Người dân ngày càng chống đối chế độ Xã hội chủ nghĩa. Năm 1987, Mengistu Haile Mariam thành lập Cộng hòa dân chủ nhân dân Ethiopia, thiết lập nhà nước Cộng sản, sự chống đối biến thành nổi dậy vũ trang, diễn ra nội chiến trong cả nước, vùng Eritrea đòi độc lập. Kết quả là dù quân đội Cuba vẫn đóng ở Ethiopia, chính quyền cộng sản của Mengistu vẫn sụp đổ vào năm 1991, chỉ tồn tại 4 năm.

Eritrea độc lập, Ethiopia trở thành nước không giáp biển. Mengistu phải lưu vong sang Zimbabwe. Tượng Lenin duy nhất của châu Phi ở thủ đô Addis Ababa bị giật đổ.

Từ đó đến nay, Ethiopia hòa bình, nhưng nạn đói vẫn tiềm tàng. Bên cạnh đó, nền hòa bình cũng trở nên mong manh do cuộc xung đột ở Sudan bùng phát, 1 triệu người tị nạn Sudan tràn vào Ethiopia.

Còn Somali thì kém may mắn. Sau khi kết thúc chiến tranh Ogaden nước này lâm vào khủng hoảng kinh tế. Năm 1991, cùng với sự sụp đổ của khối XHCN, chính quyền của Siad Barre cũng bị sụp đổ theo. Xung đột về chức Tổng thống khiến Somali rơi vào nội chiến đẫm máu khiến 300.000 người thiệt mạng, khiến LHQ phải triển khai lính gìn giữ hòa bình ở đây.

Tuy nhiên, quân đội của tướng Mohamed Farrah Aidid đã tấn công lính Liên Hợp Quốc. Đến năm 1993, sau một trận chiến nổi tiếng ở thủ đô Mogadishu, quân của Aidid đã đánh bại quân đội Mỹ, buộc tổng thống Clinton phải rút quân khỏi Somali. Chiến dịch thất bại bị gọi là ”Diều hâu gãy cánh”, là thất bại tủi hổ nhất của quân đội Mỹ sau chiến tranh Việt Nam.

Sự thất bại của Liên Hợp quốc ở Somali gây nên thảm họa nhân đạo. Các phe phái ở Somali tiếp tục đánh nhau trong tình trạng vô chính phủ.

Hiện nay, Somali nổi tiếng nhất là về 2 nạn: Nạn đói và nạn cướp biển. LHQ công bố Somali là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của nạn đói kinh niên, Quốc gia đứng sau, chính là láng giềng Ethiopia.

Quá khứ hào hùng của người Somali đã ở lại phía sau!


Tham khảo

-The Ogaden War: An Analysis of its Causes and its Impact on Regional Peace on the Horn of Africa (Joseph K. Nkaisserry)

-Evil Days: Thirty Years of War and Famine in Ethiopia

(Alexander De Waal)

-Somalia: The Forgotten Story (Al-jazeera)

-The A to Z of Civil Wars in Africa (Guy Arnold)

-Wikipedia

Advertisements

One thought on “Chiến tranh Ogaden – nội chiến lớn nhất của phe XHCN

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s