Giới thiệu Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của Trần Đoàn

tu vi dau so.jpg

Vũ Tài Lục

Dẫn

Khổng Tử làm quan ở nước Lỗ khiến cho Lỗ trở nên cường thịnh. Tề quốc sợ Lỗ mạnh sẽ xâm lăng, Tề mới dùng kế ly gián vua Lỗ với đám quần thần tài giỏi bằng cách tuyển 80 mỹ nữ cho ăn mặc lụa gấm, học tập ca vũ, đem biếu vua Lỗ. Quả nhiên, Lỗ công mê đắm nữ sắc ba bốn ngày không ra triều đình nghe chính sự. Khổng tử từ chức bỏ đi sang nước Vệ. Vệ che không dùng. Sang nước Tần, vừa vượt qua Khuông thành, vì diện mạo Khổng Tử giống hệt tên Dương Hồ, một kẻ cướp khét  tiếng  trong  vùng,  quan  quân  và  dân  chúng  vừa  trong  thấy  là  hè  nhau  đuổi  đánh,  thầy  trò Khổng Tử bị một phen thất điên bát đảo. Bỏ Tần qua Tống quốc. Có quan Tư Mã vốn vẫn ghét đạo lý Khổng Khâu, rình lúc thầy Khổng giảng lễ dưới gốc cây cổ thụ, cho người chặt cây đổ để ám hại, may sao Khổng Tử thoát chết nhưng lại phải rời nước Tống đến Trịnh quốc. Thầy đi trước, trò tới sau. Tại nước Trịnh, Khổng Tử đứng chờ nơi cửa Đông. Các trò tìm thầy, hỏi thăm người Trịnh nói  :  /  Cửa  Đông  có  một  người,  trán  cao  giống  vua  Nghiêu,  cổ  giống  cổ  ông  Cao  Dao,  lưng giống lưng ông Tử Sản, nhưng dáng dấp lơ láo như con chó  mất chủ ( táng gia chi cẩu) /.

Học trò theo chỉ dẫn tìm đến nơi quả đúng là Khổng Khâu, thuật lại lời người Trịnh cho thầy nghe.

Khổng Tử cười mà rằng :

– Hắn nói thể mạo của ta giống các bậc cao hiền thời xưa chẳng có gì đúng, nhưng hắn tả dáng dấp ta như con chó mất chủ thì thất không sai chút nào.Khổng Phu Tử đời sau được tôn làm vạn thế sư biểu, nhưng lúc sinh thời, ông luôn luôn sống trong cảnh táng gia chi cẩu.Tại sao thế?

Khổng Phu Tử giải thích :

Đạo chi tương hành dã dư ? Mệnh dã Đạo chi tương phế dã dư ? Mệnh dã Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử.

Nghĩa là:

Đạo được chuộng do mệnh vậy

Đạo bị vứt bỏ cũng do mệnh vậy

Không biết thiên mệnh thì lấy điều gì chứng tỏ đức quân tử ?Bôn tẩu trải bao nhiêu vinh nhục, mãi tới ngoài năm mươi tuổi đành trở về quê cha đất tổ sao định thi thư và giảng học. Ông bảo học trò :

/ Thầy năm mươi tuổi mới biết thế nào là Thiên mệnh ( Ngô ngũ thập nhi tri thiên mệnh)/.

Câu nói này đã làm cho đạo Khổng vượt xa các đạo khác vì tính chất nhân văn tuyệt đối của nó. Khổng Khâu không muốn mọi người tôn sùng mình như một vị thánh, ông trước sau chỉ là một con người trong nhân gian cùng chịu  an bài của vận mệnh. Cái hay của Khổng đạo là ở chỗ bất dục dị ư nhân vậy.

Vào thời kỳ còn trai trẻ cường tráng, ý khí hùng mạnh anh phát, xem việc thiên hạ như ở trong tay mình muốn là được. Nếu có ai nói về hai chữ thiên mệnh,  người tuổi trẻ sẽ cười ngất mà cho là hão huyền. Khi tuổi về chiều, từng nếm nhiều cay đắng, lăn lóc đường đời, ý khí tiêu mòn, sức vóc suy yếu. Dù công thành danh toại hay công không thành danh không toại, bấy giờ chẳng ai khỏi không thở dài mà tự nhủ : “Cuộc đời là số mệnh ! /

Có lưu lạc mới biết mùi trần thế

Còn trần ai không tỏ mặt công hầu

Ngất ngưởng thay con tạo khéo cơ cầu

Muốn đại thụ hãy dìm cho lúng túng

Thân hệ bang gia chung hữu dụng

Thiên sinh hào kiệt bất ưng hư

Hãy bền lòng chớ chút oán vưu

Thời chi hĩ ngư Long biến hoá

Thôi đã biết cùng thông là mệnh cả

Cũng đừng đem hình dịch cầu chi

Hơn nhau cũng một chữ thì.

( Thơ Cao Bá Quát)

Đó là thảm kịch của nhân gian nhưng chính thảm kịch đó đưa nhân  loại thăng hoa. Huyền thoại Hy Lạp kể :

Vua xứ Lydie là Croisos rất giàu, cai trị một quốc gia rất mạnh, vàng bạc châu báu trên thế  giới  đều  vào  tay  nhà  vua,  triều  thần  nhiều  người  tài  giỏi.  Nhà  hiền  triết  Solon  vào  yết  kiến Croisos, nhà  vua cho trần thiết huy hoàng để đón tiếp. Bước vào lâu đài, Solon chẳng mảy may lưu tâm đến sự tráng lệ. Vua Croisos bực lắm mới  hỏi :

/Theo ngài, trên đời này ai là người sung sướng nhất ? /

Y vua muốn Solon sẽ nói Croisos là người sung sướng nhất. Nhưng  nhà hiền triết lại kể số mệnh vua Tellos đã bị kẻ thù đâm trúng ngực chết giữa lúc Tellos và tổ quốc của ông sống trong tuyệt đỉnh vinh quang. Rồi Solon kết luận :

 ” Hàng ngàn ngày trong suốt cuộc đời người không ngày nào tuyệt đối giống ngày nào. Số mệnh trộn lẫn sướng với khổ, may với rủi cho nên không ai có thể tự cho mình hoặc bảo người khác là sướng hay khổ trước  khi sinh mạng hoàn tất “.

Croisos nghe Solon nói, lòng không mấy  vui. Để được yên chí hơn, Croisos hôm sau đến đền thờ Apollon mà xin  thần thánh dạy bảo cách sống sung sướng mãn đời. Thần thánh dạy  :

/ Hỡi Croisos, con sẽ là người sung sướng mãi mãi /.

Yên lòng với lời thánh nói, Croisos tự nhủ :

 / Ta không bao giờ  tính sai chuyện gì, ta đâu phải là thằng điên hay chỉ biết mơ mộng  hão, ta nhìn người cũng như nhìn ta một cách sáng suốt, ta đánh trận thắng luôn luôn, ta cai trị khéo tuyệt bực. Thần thánh cũng  bảo hạnh phúc của ta không bao giờ mất /.

Nhưng  Croisos  lạc  quan  chẳng  được  bao  lâu  thì  vận  đen  nối  đuôi  nhau  ập  tới,  thua  trận Perse, thủ đô Sardes bị vây hãm vợ con vua Croisos bị bắt đi, lâu đài cung điện bị thiêu rụi. Croisos nhớ lại lời của Solon, khóc lớn mà gọi tên nhà hiền triết ba lần.

Ta có thể không tin tướng mệnh học là môn học mang ý định tìm biết trước vận mệnh, tuy nhiên. Không phải vì thế mà ta không bị những sự việc thuộc về vận mạng quấy nhiễu khiến ta bại hoặc bất giải. Huyền bí nhưng lại trong thấy rõ mồn một ( mustérieux mais objectif) .Vậy có thể khẳng định rằng vấn đề vận mạng học là nghi vấn nhưng vấn đề vận mạng thì hẳn hoi là sự thật không hồ nghi gì nữa. Thế gian chỉ khả dĩ dùng sự thật để phủ định lý luận chứ không thể đem lý luận để phủ  định sự thật. Khoa học phát đạt đã đánh cho lung lay đến tận gốc cái quan niệm Thần của tôn giáo. Còn quan niệm vận mệnh từ trước tới giờ chưa hề bị sự tấn bộ của trí tuệ làm nó phải biến hoá. Quan niệm vận mạng đã dùng sự thật của nó cho người trí tuệ cũng như cho kẻ vô trí thừa nhận lẽ thịnh suy cát hung ở đời. Lẽ ấy khoa học nguyên tử năng, khoa học không gian chưa chứng minh giải thích được.Giáo lý tôn giáo chứng minh giải thích vận mạng bằng sự an bài do bàn tay Thượng Đế,bằng quan hệ tiền kiếp tức là tuyệt đối tuỳ thuộc vào thần quyền thì lại càng không thể chấp nhận vì nó chẳng khác gì bọn phù thuỷ đem ma quỷ lợi dụng vấn đề vận mạng. Thiên mệnh, chữ thiên đây không có nghĩa là một ông mang hình dung thiện ác đem hoạ đem phúc cho ai, thiên đây chỉ một hoàn cảnh bẩm thụ lúc vật được tạo thành, không hề có một ý bất công nào hết. Vận mạng con người phải hiểu theo quan niệm / Thiên bất tư phúc địa bất tư tải /, trời không che riêng ai, đất không chở riêng ai.Người xưa đi tìm biết vận mạng trong cái nguyên lý vũ trụ biến động bất cư gọi là dịch lý. Hoàn cảnh tự nhiên chịu theo qui định của định luật dịch đó, con người cũng thế. Thế nào là biến động bất cư ? Như kinh Dịch viết :

/ Càn đạo biến hoá, các chính tính mệnh… Ví đạo dã lũ thiên, biến hoá bất cư, chu lưu lục hư, thượng hạ vô thường, cương nhu tương dịch bất khả vi điển yếu duy biến sở thích /.

Nghĩa là:

/ Đạo trời biến hoá, mọi vật theo biến hoá đó mà xoay đổi tính mệnh … Đạo chuyển rời luôn, biến hoá chứ không ở một chỗ, chan hoà khắp chốn, trên dưới vô thường, cương nhu dịch vị, không cái gì nhất định, chỉ có biến hoá mới thật là đạo trời /.

Do  lý  trên  nên  mệnh  phải  đi  đôi với vận, nếu chỉ nói mệnh không thôi nghe như là nhất thành bất biến.

Giáo sư  Tiền Mục giảng :

 / Mệnh là tính cách của người. Vận là sự tao ngộ giữa người với hoàn cảnh. Tính cách thì định trước nhưng tao ngộ thì tuỳ thời thế mà biến /.

Thế cục vĩnh viễn biến động, vận mệnh con người cũng biến động không lúc nào ngừng. Sự tao ngộ làm cho cuộc sống chu chuyển vạn lối.

Tục ngữ Trung Quốc có câu :

 / Tam thập niên tiền thuỷ lưu đông, tam thập niên hậu thủy lưu tây ( ba mươi năm trước nước chảy về phía Đông, ba mươi năm sau  nước chảy về phía Tây) “

để tả cái biến của sự vật cuộc đời biển dâu, dâu biển. Thế vận thịnh suy trị loạn, đời người hung cát theo nhau.Bên cạnh cái lý thịnh suy hung cát còn có quy luật bĩ cực thái lai và biện chứng vật cực tắc phản đem đến cho cõi nhân sinh ý nghĩa và giá trị để đời sống khỏi tẻ nhạt vô vị. Bởi có bĩ cực thái lai nên gặp bĩ chẳng đáng ta phải lo cứ tiếp tục phấn đấu, gặp thái chẳng đáng cho ta mừng đến độ quên phấn đấu. Đằng sau thái là bĩ, đằng sau bĩ là thái. Thái bĩ là hai mặt trước sau của mệnh vận.Bĩ cực tắc thái. Thái cực tắc bĩ. Đấy là chân tướng của mệnh vận. Hoạ phúc theo vận mệnh học được tính theo cái lý nhân quả, chứ không thể nói theo ông On Như Hầu, Nguyễn Gia Thiều trong mấy câu thơ cung oán :

Quyền hoạ phúc trời tranh mất cả

Chút tiện nghi chẳng giả phần ai

Cái quay búng sẵn trên trời

Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.

Có nhân tất là có quả. Có quả tất phải có nhân. Reo gió gặt bão. Ra ân được phúc. Xét ở hiện tại khả dĩ thấy được phần nào quá khứ và suy ra phần nào tương lai. Đó là nhân quả thông thường.  Ngoài  nhân  quả  thông  thường  còn  có  nhân  quả  trên  một  tầng  cao  hơn  gọi  là  nhân  quả thuộc triết lý hệ của số mệnh, nhân quả cách xa nhau và ảnh hưởng gián tiếp. Lão Tử nói :

/ Hoạ hề phúc sở ý, phúc hề hoạ sở phục /.

Phúc chứa chất mềm hoạ, trong hoạ tiềm ẩn phúc. Phúc hay hoạ không đến một cách vô cớ.Nó đến theo luật nhân quả như sách Tả Truyện viết : / Hoạ phúc vô môn duy nhân sở chiêu / (Hoạ phúc do người gọi tới). Con người ta ai chẳng mong được phúc vậy thì làm sao lại có chuyện chiêu hoạ ? Lão Tử trả lời : / Hoạ mạc đại ư bất tri túc, mạc đại ư dục đắc / nghĩa là hoạ ở chỗ không biết thế nào là đủ, lòng dục, lửa dục cứ lớn mãi. Đó là thường lý. Thường thức và học thức không giống nhau, học lý và thường lý cũng có nhiều chênh lệch.Thường thức, thường lý tìm thấy ở thường tình thường sự, nhưng học thức và học lý chỉ tìm thấy qua học thuật chuyên môn. Thường thức thường lý mang tác dụng chỉ đạo nhân sinh. Tri thức về vận mệnh có nhiều người lấy thường lý của nhân sự để giải thích bằng thuyết tự ngã (do mình) cho sức người là trung tâm. Cực điểm của thuyết này là siêu nhân (super – homme). Tây phương có khá nhiều thuyết siêu nhân sau khi chủ nghĩa nhân văn đã thắng thần quyền tăng lữ. Mệnh vận học Đông phương không cho sức người là trung tâm, không đem tự ngã để giải thích. Mệnh lý là một học vấn chuyên môn nghiên cứu về vận mệnh con người căn cứ vào thời gian sinh ra đời và hình dáng (tướng) để phán đoán. Trong phán đoán này, sức người với tự ngã chỉ đóng góp một phần nhỏ.

Gánh cực đem đổ lên non

Cong lưng mà chạy cực còn theo sau.

Sức  người  và  tự  ngã  nếu  không  có  sự  trợ  giúp  của  may  mắn  tất  sẽ giảm hẳn thành quả. Ngay các nhà khoa học thông thái Tây phương trên cửa miệng vẫn thường thốt ra câu : / Pauvres gens, ils n’ont vraiment pas de chance /. Đã có nhiều khoa học gia đặt vấn đề may rủi có thể nhìn thấy hay không ? Họ đều công nhận may rủi ở ngoài sức người và tự ngã, họ đưa ra môn học / calcul de probabilité / (toán lượng định).Mệnh vận học Đông phương cũng thế, nó hẳn hoi là một con toán, có khác chăng chỉ là khác vì nó đặt bài toán đó trên một luật tắc cao hơn. Không thể bảo mệnh vận học là huyền bí. Danh từ này chỉ có thể gọi các thuật phù thuỷ ếm bùa, đồng rí, tabou, hội kín tôn giáo. Điều đáng tiếc là môn mệnh vận học tự nó có những khuyết điểm :

a)   Dễ học nhưng rất khó tinh tường

b)   Chỉ biết nó vậy nhưng không mấy người chịu đi tìm hiểu tại sao nó vậy ?

c)   Các giang hồ thuật sĩ vì lý do này hay lý do khác thường dùng thần quyền để làm áp lực đối với những thắc mắc về mệnh vận.Thường lý căn cứ trên thường tình, thường sự để đem ra lời giải thích về mệnh vận nếu nói có lý thì nghe, đương nhiên là xuôi tai.

Nhưng mệnh lý chẳng những nó luôn luôn không giống thường lý mà còn luôn luôn sung đột với thường lý nữa. Nếu muốn nói cho suôi thì phải đem cả một hệ thống học vấn chuyên môn ra giảng. Điểm căn bản cho sự xung đột giữa mệnh lý và thường lý là thường lý dựa trên sự thật hiện hữu để suy đoán vị lai mà mệnh lý thì dựa trên mệnh cách vô hình để phán đoán những biến hoá đã qua và sắp tới. Tỉ dụ thường lý bảo anh A thân thể cường tráng khoẻ mạnh thì chắc hẳn anh sống lâu. Mệnh lý sau khi xem xét ngày tháng năm sinh hoặc hình dáng nói ngược hẳn lại thường lý rằng anh A sẽ chết trong vòng vài ba năm nữa.

Tỉ dụ : thường lý bảo / hữu chí cánh thành/. Mệnh lý nói khác / mưu sự tại nhân thành sự tại thiên/. Theo mệnh lý giải thích thì đời con người ta từ quan hệ cha mẹ anh em, vợ con, bè bạn cho đến sống lâu, chết yểu, sự nghiệp thành bại, gặp hoạ gặp phúc đã được định đoạt bởi số vận tới 7 phần 10, chỉ còn lại 3 phần cho hữu chí giả.Người xưa dạy rằng : / Nhân sinh bất như ý sự thường bát cửu/. ( Trong đời những điều bất như ý có tám chín). Nói thế tức là thừa nhận biến chuyển của đời sống đi ra ngoài nhân lực và tự ngã quá bán phần quyết định.

Tuy nhiên, giảng mệnh lý xin chớ quá hoả để nói dựng đứng : từ miếng ăn miếng uống đều do tiền định ( nhất ẩm nhất trác giai do tiền định). Mệnh lý không chi phối từng chi tiết của người đời đâu, nói khác đi, mệnh lý chi phối những gì liên quan đến đại sự thôi. Nó vẫn còn để cho con người tự chủ, tận nhân sự khả bổ cứu mệnh vận. Số nghèo thật đấy nhưng nếu chăm chỉ không trở nên giàu vẫn có thể tránh được cảnh bần tiện nhục nhã. Mệnh lý tuy xây dựng trên luật tự nhiên mà vẫn có chỗ cho luật nhân sự. Toàn bộ mệnh vận học Đông phương đều có chung một gốc là khoa âm dương ngũ hành được hệ thống hoá qua bộ kinh Dịch từ hơn ba ngàn năm trước đây. Mệnh vận học phân ra nhiều thuật :

– Sơn

– Y

– Mệnh

– Bốc

– Tướng

Sơn là phép tu tiên gồm ba bộ môn tu luyện : huyền điển – dưỡng sinh – tu mật.

Y là chữa bệnh gồm ba phương pháp : phương tễ (bốc thuốc)   – châm cứu – linh trị (chữa bệnh bằng ý niệm). Mệnh là tính số toán có khao Tử Bình (số bát tự) – Tinh Tôn – tử  vi đẩu số.

Bốc là bói toán dựa vào tinh linh để hỏi vũ trụ thiên nhiên có bốn lối : bốc dịch, lục nhâm, kỳ môn, thái ất.

Tướng là xem hình thế, có ba loại : xem vân tay, diên mạo, nhân dáng – xem nhà cửa (dương cơ)  – xem âm phần (tức địa lý phong thuỷ) – xem tướng trời tức khoá thiên văn. Thiên văn, Thái At thần kinh ở trên tầng cao tính vận nước. Thiên Văn đã thất truyền. Thái At nay vẫn còn sách lưu truyền nhưng có lẽ vì sách có nhiều chỗ in sai nên đọc rất khó hiểu. Phong thuỷ, dương cơ tính mệnh vận cho cả một dòng họ, vài ba đời con cháu.

Y đối với các khoa phương tễ, châm cứu, linh trị thì đứng riêng ra một ngành, chuyển vào mệnh vận học chỉ còn lại phép bắt mạch thái tố bây giờ cũng gần như thất truyền.

Sơn tức tu tiên học đạo trước sau vẫn biệt lập, tuy nhiên lại rất quan tâm đến mệnh vận học vì phải hiểu sâu xa lẽ cùng thông bĩ thái nên mới tìm vào tiên  đạo cho nên những người đắc đạo đa số tìm tòi đóng góp đắc lực cho khoa mệnh vận học. Tỉ dụ : Dương quân Tùng, bậc đại sư của khoa địa lý phong thủy, Hi Di Trần Đoàn v.v… ít nhiều đều mang tiên cốt như hình dáng một bậc cao sĩ được tả trong Tam Quốc Chí diễn nghĩa :

Một đêm gió lạnh lùng

Muôn dặm mây đỏ ối

Bời bời hoa tuyết bay

Nước non hình sắc đổi

Ngảnh mặt trong lên trời

Tưởng là rồng ngọc chổi

Vây mai tua tủa bay

Một lát khắp bốn cõi

Cưỡi lừa qua cầu con

Than vì mai gầy cỗi

Phổ biến nhất là các khoa tướng nhân diện, Tử, Bình, Tử Vi, bốc  dịch, lục nhâm, kỷ môn độn giáp vì các khoa trên tính trực tiếp mệnh vận mỗi người đang sống mỗi việc đang làm không xa xôi diệu vợi như phong thuỷ địa lý hay thái ất. Cần phải phân biệt bốc dịch, lục nhâm, kỳ môn nói chung là bói chỉ dùng để vấn sự nghĩa là hỏi một việc đang tiến hành xem diễn biến tốt xấu của nó ra sao. Còn Tử Vi, Tử Bình dùng vận mệnh suốt đời người. Có điểm rất đáng chú ý là :

Người Trung Quốc và mấy nước chịu ảnh hưởng văn hoá Hán Tộc như Nhật Bản, Đại Hàn đều xem số Tử Bình như 1 không dùng Tử Vi.Duy tại Việt Nam khoa Tử Vi lại phổ biến phát triển mạnh, người Việt hầu như không biết đến số Tử Bình là gì cả. Nguyên nhân nào không ai rõ. Người thuộc phái hệ Tử Vi cho rằng Tử Vi là một khoa toán số dành cho bậc vua chúa, nên giai cấp thống trị không cho phổ biến trong dân gian. Bởi những biến động chính trị khiến một số con vua cháu chúa chạy nạn sang nước ta chịu ơn ai đó mà truyền lại, hoặc phải dùng khoa này kiếm tiền, hoặc do liên hệ hôn phối không dấu nữa.Giả thiết trên đúng hay sai vì không có sử liệu rõ ràng không thể phê phán hàm hồ.Chỉ biết khoa Tử Vi khi bị thu hẹp tại một địa phương đã phải chịu một thiệt thòi là không có những sách bàn thêm, xiển dương và khai triển như khoa Tử Bình.

Tỉ dụ nếu ta muốn nghiên cứu về khoa Tử Bình, ta có thể tìm thấy nhiều sách cần thiết cho việc nghiên cứu đó như :

– Trích Thiên Tuỷ của Lưu Bá On

– Uyên Hải Tử Bình của Từ Tử Bình

– Mệnh Lý Chính Tôn của Trương Thần Phong

– Tử Bình Chân Thuyên của Thầm Hiếu Đam

– Mệnh Lý Thám Nguyên của Viên Thụ San

– Tạo Hoá nguyên Thược tức bộ Lan Giang Võng của Vô Danh, v.v… cùng với hàng trăm bài phú của nhiều tác giả khác. Ay là chưa kể những người nổi danh hiện tại như Uc Đạt Nhân, Từ  Lac Ngô, Vương Hy Văn v.v…

Còn khoa Tử Vi nhìn quanh đi quẩn lại chỉ có một cuốn Tử Vi đẩu số toàn thư của thuỷ tổ khoa này là ông Hi Di Trần Đoàn trước tác. Mặc dầu các bậc trí giả người Việt đã làm nhiều câu phú nôm bổ túc để thành toàn cho Tử Vi đẩu số, nhưng gốc gác vẫn là những nguyên tắc của Tử Vi đẩu số toàn thư. Nói thế không có ý khẳng định cuốn Tử Vi đẩu số toàn thư là loại tuyệt đỉnh vì ngay trong sách này còn có nhiều chỗ tối nghĩa, tam sao thất bản, trước sau thiếu hệ thống hoàn bị. Tuy nhiên, Tử Vi đẩu số toàn thư dù sao cũng không thể thiếu được trong tủ sách của người nghiên cứu khoa này.

Tử vi đẩu số qua truyền thuyết dân gian

Tử vi là gì ?

Tử vi nghĩa là hoa tường vi màu đỏ thẫm (tử : màu đỏ tía – vi : tường vi hoa). Từ cổ đại giống người thuộc phía Bắc song Hoàng Hà dùng hoa màu đỏ để chiêm bốc. Hình ảnh việc chiêm bốc ấy giống hệt như chuyện Quỷ Cốc trước khi cho Tôn Tẩn Bàng Quyên xuống núi vào đời tranh đấu bảo mỗi người ngắt một cành hoa tường vi đưa lên thầy. Xem hoa phân âm dương Quỷ Cốc tiên sinh đã đoán biết trước vận mạng Tôn Tẫn bị bao nhiêu năm điêu linh cùng cực đến nỗi phải giả điên, ăn cả cứt heo mới thoát khỏi tay tên phản bạn lừa thầy Bàng Quyên. Trải qua nhiều đời, Tử vi chiêm bốc chuyển thành toán mệnh phương pháp. Phương pháp này đặt Tử Vi làm tên một ngôi sao đi tiếp với 13 sao nữa là :

Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm , Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.

Rồi chia đời người ra làm mười hai cung là các cung :

Mệnh, huynh đệ, phụ mẫu, tử tức, quan lộc, thiên di, tật ách, tài bạch, nô bộc, điền trạch, phúc, đức.

Mười bốn chính tinh tuân theo một cách tính có sẳn căn cứ vào giờ, ngày tháng, năm sinh mà an vào mỗi cung. Sao nào ở cung nào sẽ tiên đoán việc gì đó sẽ xảy ra cho đời người.

Tỉ dụ (đơn giản)    : Cung phu thê (vợ chồng), được hai sao Thái Âm , Thái dương thì người đàn ông hay đàn bà sẽ có một hôn nhân tốt. Trái lại, nếu thấy có sao Liêm trinh ở cung phu thê thì sẽ bị người khác phái lừa dối. Tỉ dụ (đơn giản) : cung tài bạch có sao Vũ Khúc tất tiền bạc rồi rào, nếu cung này gặp sao hung, hẳn nhiên sẽ vất vả nghèo khổ.

Tỉ dụ (đơn giản) : trên trần thế biết bao nhiêu bách triệu phú  ông mà vẫn sống trong cảnh u sầu. Tại vì có hung tinh nằm ở cung Phúc Đức. Mười bốn vị chinh tinh thực ra chỉ là những ký hiệu cho một bài toán. Nhưng đối với dân gian để cho dễ nhớ, cũng như để răn đời, họ liền ghép những ký hiệu ấy vào các nhân vật sử mà thành câu chuyện truyền thuyết sau đây :

Đời  Phong  Thần,  vương  triều  nhà  An  có  ông  vua  cực  tàn  ác  là  vua  Trụ.  Một  hôm,  Trụ Vương đi săn gặp mưa lớn, để trú mưa liền vào miếu Cửu Thiên Huyền Nữ. Trụ Vương vốn thô bạo và hiếu sắc thấy pho tượng Cửu Thiên Huyền Nữ đẹp quá mê ngay, hạ lệnh cho quân sĩ các tượng đó về xung vào đám tì thiếp của nhà vua. Mọi người tuy kính nể nữ thần nhưng họ còn sợ sự tàn ác của vua Trụ gấp bội, nên nhất loạt vâng lệnh mang Cửu Thiên Huyền Nữ về cung. Cửu Thiên huyền Nữ giận lắm mới hoá phép biến một con hồ ly trong rừng thành người đàn bà tuyệt sắc rồi sai đến mê hoặc Trụ Vương mà làm cho nhà An phải diệt. Người đàn bà tuyệt sắc ấy tên Đắc Kỷ, vương phi sủng ái của vua Trụ.

Quả nhiên, Trụ Vương say mê Đắc Kỷ bỏ phế việc triều đình, gây sáo trộn trật tự.Cùng lúc đó, trên trời đang thiếu nhiều thần linh, Ngọc Hoàng Thượng Đế rất mừng thấy Cửu Thiên Huyền Nữ quyết tâm diệt An. Ngài nghĩ một khi nước loạn tất sẽ có nhiều anh hùng, trung thần chết vì quốc nạn. Ngài phái Thái Bạch Kim Tinh lập tức ra Nam Thiên Môn cầm sổ chờ sẳn, trong cơn binh lửa đón những người chết về.

Ơ phía Tây giang sơn nhà An có chư hầu quốc giòng họ Chu giầu có thịnh vượng, văn hoá cao. Sợ nhà Chu một ngày kia sẽ lấn áp mình nên Trụ Vương ý định ra tay trước mới mượn cớ mời vị lãnh đạo Chu quốc là Văn Vương tới họp. Chu Văn Vương tinh thông bát quái Dịch Lý của Phục Hi trí tuệ bậc nhất thời bấy giờ. Trụ Vương nghĩ cứ bắt Văn Vương giết đi thì mọi sự sẽ đây vào đấy. Khi Văn Vương đến nơi, vua Trụ cho bắt nhốt ngay chờ ngày hành quyết, kết tội Văn Vương phản nghịch.

Con lớn Văn Vương là Bá Âp, đẹp tuấn tú, hiên ngang, đàn bà con gái trong thấy Bá Âp một lần là thương nhớ khó quên. Bá Âp rất có hiếu, nghe tin cha bị hại lòng sốn sang như lửa đốt, ngày đêm phóng ngựa đến gặp vua Trụ để minh oan cho cha mà không hề biết hậu ý của vua Trụ. Trụ Vương hứa ba ngày sau sẽ nói chuyện và lưu Bá Âp ở trong cung. Đêm  khuya,  Bá  Ap  ngồi  gảy  đàn,  tiếng  đàn  như  nước  chảy  trên  đá,  buồn  như  chim  đỗ quyên hót nhiều đến rớm máu mắt chan hoà khắp cung điện khiến Đắc Kỷ tỉnh giấc lắng nghe rồi lần theo tiếng đàn mà tới buồng Bá Âp. Nàng chỉ mặc trên người tấm áo lụa mỏng. Nhìn qua song cửa, Đắc Kỷ trong thấy dưới ngọn bạch lạp, một chàng trai khôi vĩ, cao sang tuyệt bực đang chăm chú với phím đàn. Con hồ ly tay sai của Cửu Thiên Huyền Nữ, nó vốn tính cực dâm đãng nên chẳng  chút  ngần  ngại  mở  cửa  vào  phòng Bá  Ap  dùng  cử  chỉ  lả  lơi  quyến  rũ.  Nào  ngờ  Bá  Ap chẳng những bất động tâm, chàng còn lớn tiếng mắng Đắc Kỷ là đồ đĩ thoả. Đắc Kỷ bực bội vì không được thoả mãn cũng chửi lại Bá Âp làm náo loạn cung đình, vệ binh kéo đến bắt giữ Bá Âp. Đắc Kỷ già mồm khóc lóc nói với vua Trụ rằng mình bị Bá Âp làm xấu, nghe tiếng đàn nàng đứng ngoài song cửa bỗng Bá Âp xấn tới ôm nàng kéo vào buồng. Trụ Vương cả giận, cơn ghen bừng bừng không cần hỏi han cơ sự thực hư thế nào nữa, hét quân mang Bá Âp ra chém rồi băm thây ra viên thịt Bá Âp nướng chả đem đến cho Văn Vương ăn.

Văn Vương trong ngục thất là người giỏi toán số đã biết rõ hết mọi chuyện xảy ra. Buổi sáng khi quân canh mang chả nướng vào, Văn Vương ung dung ngồi ăn hết dĩa  chả. Trụ Vương thấy vậy cười ha hả nói : / Thằng đó đúng đồ hư danh,  ăn thịt con mà cũng không biết thì có gì đáng sợ, không hiểu tại sao thiên hạ phục hắn về cái tài thần toán chiêm bốc /. Nói rồi Trụ Vương sai thả Văn Vương ra khỏi ngục.Trên đường về Chu quốc, nỗi mừng thoát nạn không sao lấp được cái buồn cha ăn thịt con cho nên vẻ mặt bi thảm khôn tả. Đến nhà, Văn Vương tìm khu vườn cây xanh tốt, tự móc họng để nhả những miếng chả ra. Lạ thay, thịt Bá Âp đã biến thành một động vật lông trắng muốt, đôi tai dài, mắt đỏ màu hồng ngọc chạy nhảy tung tăng trong hiền hậu dễ thương, đấy là con thỏ đầu tiên của thế giới. Nó cúi đầu chào Văn Vương rồi chạy vào đám cỏ xanh mất dạng. Thái Bạch Kim Tinh đưa tay đón bắt con thỏ đưa về trời. Giữa lúc ấy thì trên một ngôi sao, hoa tường vi nở đỏ bát ngát. Ngôi sao này là chủ tinh của một chòm sao. Do đề nghị của Thái Bạch Kim Tinh, Ngọc Hoàng Thượng Đế liền bổ nhiệm Bá Âp về cai quản sao Tử Vi bởi lẽ Bá Âp hội đủ ba tính chất : thiên lương, tôn quí và cao quí.

Văn  Vương  thề  quyết  trả  thù  cho  con,  ngày  đêm  nỗ  lực  xây  dựng  xứ  sở,  làm  việc  quá nhiều Văn Vương kiệt lực chết, việc diệt nhà An giao vào tay Vũ Vương, em của Bá Ấp.Vũ Vương nối nghiệp cha, ngày ngày huấn luyện binh mã, chăm lo nông nghiệp, quốc lực tăng trưởng, nhờ vị quân sư là Khương Thượng, Vũ Vương đánh bại Trụ Vương tiêu diệt An triều. Khương Thượng hiệu Tử Nha tục xưng Lã Vọng là người cao minh trí tuệ, lúc chưa đắc chí ngồi câu cá nơi song Vị, nghèo khổ cùng cực bị mụ vợ già chửi  mắng suốt ngày. Mãi đến chín mươi tuổi mới gặp Văn Vương mời về làm quân sư. Văn Vương chết,  Khương Thượng giúp Vũ Vương phạt Trụ.Bình xong thiên hạ, Vũ Vương phong cho Khương Thượng cai quản đất Tề. Lúc chết, Thái Bạch Kim Tinh mời về trời giao cho cai quản sao Thiên Cơ, bởi thế sao Thiên Cơ trong Tử Vi đau số tượng trưng cho trí tuệ, quyền biến cơ mưu.

Trụ Vương tuy là bạo quân nhưng chung quanh ông có nhiều trung thần, đáng kể nhất là Tỉ Can từng khuyên vua Trụ dứt bỏ con yêu tinh Đắc Kỷ. Trụ Vương bực  bội mắng Tỉ Can bất trung. Để tỏ lòng ngay thẳng, Tỉ Can nói với Trụ Vương : /Nếu bệ hạ không tin lời, thần xin đem tấm lòng son sắt dâng lên bệ hạ/. Nói xong cầm dao tự đâm vào ngực moi tim đưa cho Trụ Vương.Tỉ Can chết, Thái Bạch Kim Tinh thương lắm tới đón về trời giao cho cai quản tinh cầu sáng rực, cực quang minh chính đại là sao Thái  Dương.

Khương Thượng, Bá Âp, Tỉ Can đã xong, còn Văn Vương, Vũ vương ra sao ? Vũ Vương lên ngôi thi hành thiên chính, sống rất thọ. Khi chết, Thái Bạch Kim Tinh nhận công nghiệp vũ dũng đánh dẹp bạo quân rất xứng đáng với sao Vũ Khúc nên dâng sớ xin Ngọc Hoàng đặt Vũ Vương nơi ấy. Vũ Vương chẳng những là người dũng cảm lại giỏi về kinh tế khiến cho đời sống dân gian sung túc. Do vậy Vũ Khúc còn là sao chú về tiền bạc giàu có trong Tử Vi đẩu số.

Thảo phạt Trụ Vương là Vũ Vương, nhưng nếu không có những công lao bước trước của Văn Vương thì đại sự cũng chẳng thành. Hầu hết các nhân vật tài giỏi giúp Vũ Vương đều do Văn Vương để lại. Thái Bạch Kim Tinh nhận thấy Văn Vương xứng đáng là một vị thần giỏi dung hoà xếp đặt, tính tình ôn thuận nên cho về cai quản ngôi sao Thiên Đồng.

Bên cạnh vua Trụ có tên đại gian thần là Phí Trọng dùng nịnh nót và gian kế đã giết chết nhiều trung thần của An triều để thoả mãn nắm đại quyền quốc  gia. Khi An triều diệt vong, Phí Trọng bị Khương Thượng bắt đem chém đầu. Ngày hành hình trên trời thiếu thần trị nhậm sao Liêm Trinh, Thái Bạch Kim Tinh liền dùng Phí Trọng làm vị thần của mọi sự tà ác. Trong Tử Vi đẩu số, Liêm Trinh chủ về những sự việc lắt léo không ngay thẳng, tàn nhẫn.

Trụ Vương có một vị chính thức nguyên phối hoàng hậu họ Khương là người đàn bà hiền thuc tài năng. Từ ngày Đắc Kỷ xuất hiện, bà Khương hậu bị vua Trụ bỏ rơi, do sự xúi bẩy của Đắc Kỷ, Trụ Vương giết luôn bà Khương hậu. Thái Bạch Kim Tinh đón vong hồn Khương hậu cho cai quản một tinh cầu đầy vật sản phì nhiêu là sao Thiên Phủ.Trong Tử Vi đẩu số, sao Thiên Phủ mang tính chất tài năng và từ bi.

Ân triều có ông quan trung nghĩa tên Hoàng Phi Hổ có người vợ họ Giả, nhan sắc diễm lệ,nức tiếng xa gần. Lệ triều đình hàng năm cứ đến ngày Tết nguyên đán, các quan phải cùng đi với phu nhân vào bái yết quốc vương. Giả phu nhân theo chồng vào cung. Đắc Kỷ thấy Giả phu nhân nói chuyện duyên dáng lại đẹp nên đố kỵ, bảo vua Trụ mời bà ở lại dự dạ yến để lập kế hại. Rượu say, Trụ Vương chẳng giữ lễ vua tôi gì nữa, chạy lại ôm lấy Giả phu nhân mà ép nài chuyện bậy bạ. Vốn là người đàn bà trọng tiết tháo, không chịu được nhục nhã, bà bỏ chạy cùng đường phải lao mình từ trên lầu cao xuống đất tự tử. linh hồn Giả phu nhân bay lên trời, Thái Bạch Kim Tinh đặt bà làm nữ thần của sự thanh khiết, cho đến trú ngụ nơi sao Thái Âm m. Từ khi bà về tới thì tinh cầu này trở nên gọn ghẽ, sáng sủa và rất sạch.Thái Âm tinh trong khoa Tử Vi tượng trưng cho thanh khiết, sáng đẹp và ưa sạch sẽ.

Đắc Kỷ, nữ yêu chủ chốt của nhiều biến cố, số phận ra sao ? Xuất thân là con hồ ly hầu hạ Cửu Thiên Huyền Nữ qua danh nghĩa ái nữ của một đại thần nên lọt vào cung đình, dùng tửu sắc mê hoặc Trụ Vương. Đắc Kỷ gây nhiều tai hoạ, bị Khương Tử Nha xử tử hình. Thái Bạch Kim Tinh cho bắt vong hồn Đắc Kỷ về phong làm thần dục vọng, ác liệt, hoang đàng để cai quản sao Tham Lang. Tinh cầu này đầy chó sói hung dữ không thần nào trị nổi chúng. Nhưng lúc Đắc Kỷ tới nơi thì chúng  reo mừng. Ơ Tử Vi đẩu số, sao Tham Lang mang tính chất điếm đàng tửu sắc, ưa vung phí ăn chơi,tượng trưng người đàn bà phá hoại chồng con, vô tài, bất đức.

Khương Tử Nha ngoài bảy mươi tuổi mới lấy người con gái lỡ thì năm ấy cũng đã hơn năm mươi tuổi tên Mã Thiên Kim. Kể từ ngày chung sống gia cảnh cực thanh bần, nhiều bữa không có cơm ăn. Mã Thiên Kim là người đàn bà thô tục, lăng loàn, vụng về chỉ vì nhờ chút tiền duyên nên lấy  được  Khương  Thượng.  Sau  mười  mấy  năm,  nghèo  quá  chịu  không  nổi,  Mã  Thiên  Kim  bỏ Khương Thượng. Lã Vọng bấm tay tính số biết lúc con vợ lăng loàn thô tục ra đi chính là lúc vận bĩ của ông cũng hết và Khương Thượng một sớm một chiều trở thành quân sư của Văn Vương. Nghe tin, Mã Thiên Kim vừa tiếc vừa hối hận, thắt cổ tử ải. Lã Vọng nghĩ tình cũ nghĩa xưa, cho người làm tang ma tống táng, hồn phách Mã Thiên Kim được Thái Bạch Kim Tinh dùng làm nữ thần coi các việc thị phi, nỏ mồm quai mỏ cấp cho nhà ở nơi sao Cự Môn.

Trong  đám  trung  thần  bên  cạnh  Trụ  Vương  còn  có  Văn  Thái  Sư  làm  tể  tướng  và  đại nguyên suý của An triều. Quân nhà An bị Chu quân đánh thua, Văn Thái Sư   chết tại trận tiền. Vong hồn lên trời được Thái Bạch Kim Tinh cho cai quản sao Thiên Tướng. Bất luận ai, theo lý ra phải sau khi chết mới được làm thần, chỉ duy Lý nguyên suý đại tướng của nhà Chu là Thái Bạch Kim Tinh theo lệnh Ngọc Hoàng, xuống mời về làm thần ngay lúc ông còn sống. Nơi trị nhậm của Lý nguyên suý là Thiên Lương tinh. Hoàng Phi Hổ uất ức vụ vua Trụ làm nhục vợ mình gây ra cái chết oan uổng cho Giả phu nhân nên nổi lên đem binh mã đánh lại Trụ vương về rồi đầu hàng Vũ Vương. Ông đánh trận rất hăng thu được nhiều thắng lớn. Cuối cùng Hoàng Phi Hổ Chết thảm trong trận Thằng Trì. Thái Bạch Kim Tinh đón vong hồn Phi Hổ về cai quản sao Thất Sát và phong làm thần chiến tranh chuyên coi việc sát phạt.

Sau chót là Trụ Vương vì mê Đắc Kỷ, hãm hại trung thần bị Vũ  Vương khởi binh phạt tội.Vũ Vương tấn công vào tận cung điện Trụ Vương. Hết đường chạy, Trụ Vương leo lên lầu cao nổi lửa đốt hết và chết trong đám cháy.Trụ Vương chết rồi, Thái Bạch Kim Tinh cho mang vong hồn về sao Phá Quân, phong làm thần phá hoại.Trong Tử Vi, Phá Quân tượng trưng tính hung bạo, ngang ngược.

Tổng kết lại, ta có thể nhận định như sau :

– Sao Tử Vi là Bá Âp, thần của khí chất tôn quí.

– Sao Thiên Cơ là Khương Thượng, thần của trí tuệ, tinh thần.

– Sao Thái Dương là Tỉ Can, thần của quang minh, bác ái.

– Sao Vũ Khúc là Vũ Vương, thần của vũ dũng đại phú.

– Sao Thiên Đồng là Văn Vương, thần của dung hoà, ôn thuận.

– Sao Liêm Trinh là Phỉ Trọng, thần của tàn ác, lươn lẹo.

– Sao Thiên Phủ là Khương hoàng hậu, thần của tài năng, từ bi.

– Sao Thái Âm là Giá phu nhân, thần của tinh khiết, trinh thảo và sạch sẽ.

– Sao Tham Lang là Đắc Kỷ, thần của dục vọng, vật chất.

– Sao Cự Môn là Mã Thiên Kim, thần của thị phi, nghi hoặc.

– Sao Thiên Tướng là Văn Thái Sư, thần của từ ái, trung trinh.

– Sao Thiên Lương là Lý Thiên Vương, thần cảu quản trị, tổ chức, xếp đặt.

– Sao Thất Sát là Hoàng Phi Hổ, thần của uy nghiêm, quyết liệt.

– Sao Phá Quân là Trụ Vương, thần của phá hoại, tiêu hao.

Câu chuyện truyền thuyết trên đây không biết có tự bao giờ ? Trước hay sau Trần Đoàn ? Có thể đưa ra hai giả thuyết :

a)   Nó có trước Trần Đoàn vì lẽ không thấy nói đến những sao khác như Văn Xương, Văn Khúc, Khôi Việt, Không Kiếp v.v… chứng tỏ Tử Vi đẩu số trước thời Trần Đoàn còn thô sơ, đơn giản.

b)   Những chính tinh của Tử Vi đẩu số mang tên Thiên Cơ, Cự Môn, Tham Lang, Liêm Trinh đã xuất hiện trong sách phong thuỷ của Dương Quân Tùng mà Dương Quân Tùng sinh thời là lúc thịnh Đường trong khi Trần Đoàn là người của cuối Đường sắp sang Tống.Sách Hám Long Kinh của Dương Quân Tùng có một đoạn nói về cửu tinh huyệt như sau :

Tham Lang tác huyệt thị nhũ đầu

Cự Môn tác huyệt oa trung cầu

Vũ Khúc tác huyệt thoa kiềm mịch

Lộc Liêm sơ sỉ lê tí đầu

Văn khúc huyệt lai bình lý tác

Cao sứ diệc thị trưởng tâm lạc

Phá Quân tác huyệt thị qua mâu v.v… chứng tỏ những tên Thiên Cơ, tham Lang, Cự Môn đã có trước Trần  Đoàn. Ngoài ra, xin nêu thêm vào điểm đáng chú ý khác như : khoa phong thuỷ chỉ có cửu tinh là: Tham Lang – Cự Môn – Lộc Tôn – Văn Khúc – Liêm Trinh – Vũ Khúc – Phá Quân – Tả Phú – Hữu Bật. Không thấy nhắc  đến huyệt thuộc Tử Vi tinh, Thái Âm , Thái Dương tinh.

Định cách ngũ hành : Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ cho mỗi sao giữa khoa phong thuỷ với khoa Tử Vi cũng khác nhau. Tỉ dụ Phá Quân ở Tử Vi là thuỷ nhưng ở khoa xem đất cát, Phá Quân lại là kim chứng tỏ mỗi khoa chỉ dùng những tên Cự Môn, Thiên Cơ hay Tham Lang như những ký hiệu còn phân định thuộc hành gì thì mỗi khoa dùng theo cách riêng của từng khoa chứ không có một sự bắt buộc chung nào cả. Còn vấn đề những tên ấy do ai đặt ra trước nhất thì không thấy sách nào nói tới.

Trần Đoàn và sách Tử Vi đẩu số toàn thư

Cụ Nguyễn Công Trứ có làm một bài ca trù vịnh Trần Đoàn như sau :

Sườn non bầu rượu túi thơ

Thảnh thơi ngồi gẫm cuộc cờ Trường An

Vạc Hậu Chu vừa khi mới đổi

Trần Hi Di lên ẩn núi Hoa Sơn

Mấy mươi năm trong cuộc bùn than

Lửa văn võ chưa rặc lò đan táo

Há vật lão ấu

Nặng trên vai hai chúa thái bình

Liếc trong chừng Tống nhật đã khai minh

Mây thúc qui hẳn từ rầy trong leo lẻo

Trần Kiều mộng lý giang sơn tiểu

Văn quán xuân thảm nhật nguyệt trường

Rượu  một bầu, thơ một túi, cờ một cuộc, cầm một xoang

Khi đắc ý gật trên lừa cười ra rả

Ngoài cung kiếm mặc ai xa mã

Luy trần bất đáo thử giang san

Trời riêng cho một cuộc nhàn.

Trong chính sử không thấy nói đến Trần Đoàn, tên ông chỉ được ghi trong dã sử, truyền kỳ và chính thức trong các sác về tướng pháp và lý số, thành thử đời sau không thể có một tiểu sử liên tục và rõ ràng về ông. Căn  cứ  vào  bài  Ca  trù  của  Nguyễn  Công  Trứ  để  lấy thứ  tự  đồng  thời  cộng  với  một  số truyền kỳ, ta có thể hình dung một cách đại khái thân thế Trần Đoàn như sau :

Từ  nhà  Đường  chuyển  sang  nhà  Tống  trải  qua  giai  đoạn lịch  sử  quá  độ  trung  ương  tập quyền biến ra địa phương hùng cứ rồi chuyển thành đời Ngũ Đại đã rồi nhà Tống mới thống nhất. Trần Đoàn lớn lên giữa lúc nhiễu nhương binh lửa, giết chóc loạn lạc, ông lên núi tu ẩn để tránh hoạ. Khi đã nắm được lẽ huyền vi của âm dương, ông thường đi đây đi đó tìm anh hùng và chân chúa. Có một lần gặp người đàn bà gánh kĩu kịt trên vai hai  đứa trẻ mỗi thúng ở đầu đòn gánh một đứa. Ông mới hỏi : / Hà vật lão ẩu ? Này bà kia gánh chi vậy ? / Người đàn bà mở nắp thúng cho Trần Đoàn coi rồi thở dài nói : / Tôi dẫn hai con tôi đi chạy loạn đây/.

Vừa nhác trong thấy hai đứa nhỏ, Trần Đoàn đã kêu lên : / Một vai bà gánh những hai vị thiên tử sao ?/Lòng ông vui mừng khôn xiết vì thiên hạ sắp hưởng đời thái bình nên mới có hai vị chân chúa anh hùng xuất thế. Trần Đoàn liền lấy trong bọc ra mười lạng đưa biếu người đàn bà không quen biết rồi lên lưng lừa đi thẳng.

Hậu Chu là gì ?

Là Chu Thế Tôn người đi bước đầu trong công cuộc thống nhất nhưng  chưa được năm năm đã mất.Phải  đợi  đến  lúc  có  vụ  binh  biến  Trần  Kiều  do  hai  anh  em  ông  Triệu  Khuông  Dận  và Triệu Khuông Nghĩa (hai đứa trẻ Trần Đoàn gặp trước đây nay lớn lên) cầm đầu đánh dẹp nốt các phương chấn bấy giờ đại nghiệp thống nhất mới hoàn thành.Khi nghe tin Triệu Khuông Dận là Tống Thái Tổ thì Trần Đoàn đang ngồi trên lưng lừa ngửa mặt cười ra rả nói :

/Thiên hạ thái bình rồi/.

Về sau, Tống Thái Tôn tức Triệu Khuông Nghĩa có cho người vời Trần Đoàn ra làm quan nhưng ông từ chối, bỏ vào núi đi mất không ai biết ở đâu.

Gốc thông hỏi chú học trò

Rằng thầy hái thuốc lò mò đi xa

Chỉ trong dãy núi đây mà

Mây che mù mịt biết là nơi nao.

(Tản Đà dịch thơ Giả Đào bài Tầm ấn giả bất ngộ)

Gốc gác khoa Tử Vi có tự bao giờ ?

Không ai rõ. Chỉ biết đời nhà Gia Tĩnh thuộc Minh triều có lưu truyền cuốn Tử Vi đẩu số toàn thư do tiến sĩ La Hồng Tiên biên soạn. Lời tưa ở đầu nói Tử Vi đẩu số toàn thư là của tác giả Hi Di Trần Đoàn.

Bài tựa viết như sau :

/ Thường nghe nói cái lý của số mệnh rất huyền vi ít ai biết cho tường tận để mà thuận thụ coi công danh phú quí trên đời đều có mệnh.Tôi vì muốn biết nên đã tới tận núi Hoa Sơn chỗ ông Hi Di Trần Đoàn đắc đạo để chiêm bái nơi thờ tự của bậc đại hiền. Lúc ra về thì thấy một vị cao niên thái độ ung dung chân thực đưa ho tôi cuống sách mà bảo :

/ Đây là Tử Vi đẩu số tập của Hi Di tiên sinh/.

Mang về mở ra xem, ban đầu các sao nghĩa lý thật ảo diệu nhưng càng đọc càng thấy lời bàn luận sác đáng, đem ra đoán thử thấy lời đoán rất thần nghiệm, càng học càng thấy hay lạ. Bất giác phải kêu lên :

/ Tạo hoá chí huyền chí hư mà soi sáng được đến thế này, nếu con tâm bậc đại hiền không nhập vào với tạo hoá thì làm sao biết nổi. Tinh tú ở xa muôn triệu dặm mà tính hết vào trong một bàn tay, nếu bậc đại hiền không phải là người hung tàng tinh đẩu (trong ngực có tinh đẩu) thì làm sao tinh nổi. Ngôi trời ở trên, ngôi đất ở dưới, loài người đứng giữa. Hi Di tiên sinh đã tìm được lẽ con người thiên hợp và lẽ trời nhàn hợp qua sự biến hoá của các vì tinh đầu để tính ra số mệnh hay dở của từng người, nếu không có cái học quán thiên nhân thì ai làm nổi. Hi Di tiên sinh xứng đáng là một cao nhân, một thần nhân vậy.Bởi thế tôi muốn đem lời dạy của Hi Di tiên sinh phổ  biến cho khắp thiên hạ trong cõi thế gian thấp kém này được hiểu cuộc đời là có mệnh số /.

Cuốn Tử Vi đẩu số toàn thư của Hi Di Trần Đoàn do La Hồng Tiên biên soạn chia ra làm 4 tập :

Tập một và tập ba nói về tính chất và ảnh hưởng các sao, các cung vào vận, vào mệnh con người qua các chương :

Thái vi phú – Hình tính phú – Tinh viên luận – Đẩu số chuẩn thắng – Tục hình tính phú – Phát vi luận – Đẩu số cốt tuy chú giải – Nữ mệnh cốt tuỷ phú chú giải – Tăng bổ thái vi chú giải – Bổ di cốt tuỷ phú chú giải – Định phú quí bần tiện đặng quyết – Chư tinh vấn đáp luận – Định phú quí bần tiện thập thập đẳng luận – Thập nhị cung chư tinh đắc địa quyết – Thập nhị cung chư tinh thất hãm quyết – Chư tinh đắc địa phú quý luận – Chư tinh thất hãm bần tiện luận – Định phú cực – Định quí cục – Định bần tiện cục – Định tạp cục – Đàm tinh yếu luận– Luận nhân mệnh nhập cách – Luận cách tinh số cao hạ – Luận nhân tính cách hà như – Luận Nam nữ mệnh đồng dị – Luận tiểu nhi mệnh – Định tiểu nhi sinh thời quyết – Luận nhân sinh thời an mệnh cát hung – Luận tiểu nhi khắc phụ mẫu – Luận mệnh tiền bần hậu phú – Luận đại hạn thập niên hoạ phúc hà như – Luận nhi hạn thái tuế cát hung – Luận hành hạn phàn nam bắc đẩu – Luận lưu niên thái tuế cát hung tinh sát – Luận kình đá diệt tinh – Luận thất sát trùng phùng – Luận đại tiểu hạn tinh thần quá thập nhị cung ngộ thập nhị chỉ sở kị quyết – Luận lập mệnh hành hạn cung ca – Luận chư tinh đồng vị viên các tư sở nghi phân biệt phú quí bần tiện yểu thọ.

Tập hai dạy cách lấy số an các sao.

Tập bốn là những lá số của các danh nhân, thường nhân với lời phê.


Trích sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Hi Di Trần Đoàn 

Vũ Tài Lục dịch và chú giải

Nguồn bài đăng

One thought on “Giới thiệu Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của Trần Đoàn

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s