Bộ máy quản lí hành chính dưới chế độ xưa tại tỉnh Mường Hòa Bình

quan lang xu muong

Ảnh của Hương Ký, chụp năm 1926: “Ông Chánh Quang Lang xứ Mường và phu nhân”

Khổng Đức Thiêm

 

  1. THỜI PHONG KIẾN

Người Mường Hòa Bình quan niệm rằng họ là những con thứ, cháu thứ của Hùng Vương thứ 18, được chia phong cho các họ Đinh, Quách, Bạch, Hà, Xa, Cao. Khi 6 họ này được làm Quan Lang đã đem người nhà, trai gái đi mở mang ruộng vườn, chiêu dân lập ấp. Càng ngày con cháu sinh ra một nhiều mới lập ra các Quê, Bủng, Lũng, Làng. Khi ấy họ Nhà Lang cha truyền con nối đều xưng là Quan Lang, con gái gọi là Mỵ Nương – trên đối với vua là tình cha con, dưới đối với quê làng là nghĩa thầy tớ mến yêu đầy thân thiết. Nhà vua đã ban dạy cho các Quan Lang phép làm tên nỏ độc để săn trừ ác thú, phép đánh bả và đan chài lưới bắt cá, làm xe lấy nước cấy ruộng. Trong Hòa Bình Quan Lang sử lược ca âm, Quách Trù cũng cho rằng, Lang từ khởi tổ ngàn xưa/Cuối Văn Lang quốc bây giờ đã xa/Mọi ngành con cháu phong ra/Họ chia Đinh, Quách, Bạch, Hà, Xa, Cao/Trải xem rừng rậm đồi cao/Dỗ đưa đày tớ tìm vào khai hoang/Phá đường núi, mở rộng nương/Chiêu dân lập ấp rộng đường vào ra/Sau ngày con cháu nhiều ra/Đặt tên châu tổng cùng là xã thôn/Dòng Lang thêm nức tiếng đồn/ Các danh quý tộc vẫn còn tiếng sang/Giai thời truyền gọi Quan Lang/Gái thời truyền gọi Mỵ Nường là tên/Kim chi ngọc diệp nối truyền/Mường trong phục ý, vua trên thuận tình/Tấm thân đổi mấy vương đình/Trăm năm vững giữ chút tình cha con/Sẵn lòng nom tới dân thôn/Ngàn thu vẹn đạo tôi con tớ thầy/Tình càng rộng, nghĩa càng dày/Càng sâu bể ái, càng đầy nguồn ân/Nhớ ngày triều bái quân thân/Phong Châu đường xá xa gần quản bao/Hiến phương vật, cúng sơn hào/Đã trăm thức lạ lại nhiều vẻ hay/ Chế bánh chưng, chế bánh dầy/Vuông kia tượng đất, tròn nay tượng giời/ Gọi là một chút xa khơi/Giãi lòng ong kiến dâng nơi vương triều/Lại ơn vương giáo ban chiêu/Dạy nghề tên thuốc bắn beo mọi loài/Dạy cho đan lưới, đan chài/Cùng phương bả cá lợi người ngư dân/Cùng xe máy nước cũng thần/Để cho cày cấy lợi dân mọi bề…

Tìm hiểu về Tỉnh Mường Hòa Bình, Pierre Grossin đồng tình với những quan niệm trên khi ông ta cho rằng, từ buổi Chi Quyên Chạp và Chi Quyên Chò cầu xin Lang Đá Cần lên làm Lang các xứ Mường và làm vua vùng xuôi, dân chúng cư xử chân thành đối với Lang. Lang coi dân làng như con. Cho nên, dân làng luôn luôn giữ kỷ niệm về những việc làm tốt do viên Quan Lang đầu tiên đã mang lại cho họ. Nếu có Quan Lang nào đó độc ác thì dân làng buộc phải tìm người khác thay thế để mà cai trị họ và che chở cho họ. Nhưng việc đó chẳng bao giờ mang lại hạnh phúc và sự trồng trọt sẽ bị hươu nai tàn phá hết.

Lang Đá Cần là người đầu tiên dạy dân. Ông sống vào thời Hùng Vương (vua nước An Nam). Các Thổ Lang xứ Mường lần lượt thay nhau đến lạy mừng ông và dâng cho ông các loại lâm sản. Mỗi người phải ở cạnh ông trong sáu tháng và chỉ được người khác thay thế, sau khi mãn hạn đó[1].

Có nhiều học giả đã thông qua trường ca sử thi Đẻ đất đẻ nước, thông qua chế độ Nhà Lang và các cư dân trong truyền thuyết, để xem xét xã hội Mường được phản ảnh qua đó, rồi đi đến kết luận: chế độ xã hội trong truyền thuyết không phải là chế độ thị tộc. Cũng không phải là chế độ thị tộc đang độ tan rã của nó mà là một loại hình thái xã hội nô lệ sơ kỳ, cũng tức là hình thái nô lệ gia trưởng. Hay nói cách khác, có thể tạm gọi là “đẳng cấp”: thành viên của lớp này không thể nhập vào lớp kia, và điều đó gần như là tuyệt đối. Các Lang họp thành tầng lớp trên: lớp thống trị, còn lớp dưới, thì gồm những người bình dân, mà tiếng Mường là mọl (người) hay jân (dân). Tuy nhiên, trong thời kỳ Bắc thuộc, sự phân tầng này chưa rõ ràng như ở thời kỳ trung đại Việt Nam, khi có sự ảnh hưởng, tác động của bộ máy nhà nước của người Việt lên chế độ xã hội – chính trị của người mường.

Sau khi phân hóa thành hai dân tộc (Kinh và Mường), người Kinh và người Mường vẫn biết họ cùng chung một nguồn gốc viễn cổ xa xăm, tổ tiên của họ là người Lạc Việt; người Lạc Việt mà thủ lĩnh là các Hùng Vương đã dìu dắt nhân dân xây dựng nền đất nước Việt Nam cổ đại.

Từ những phân tích kể trên, những điều được Quách Trù ghi nhận trong Hòa Bình Quan Lang sử lược ca âm càng tỏ rõ tính thuyết phục: Cuối Hùng đến Thục nối phong/An Dương hội đẵn cây đồng các nơi/Bởi chưng Mường Ống, Mường Ai/Dựng nên đồng tự cung đài nguy nga/Chiếu vời các cửa Lang Gia/Hội đi săn bắn gọi là thú vui/Được muông tượng vượng các loài/Thưởng ban da thịt cho người lương dân/Còn như tuế chính nguyệt tuần/Cho theo Tam Đại mấy [với] Tần ngày xưa/Trung Hoàng theo Hạ từ xưa/Kiến Dân thủ chính bây giờ vẫn đương/Vĩnh Đồng Kiến Sửu theo Thương/Cao Phong Kiến Tý theo giềng mối Chu/Thạch Bi Kiến Hợi bây giờ/Đó theo Tần Chính từ xưa đến rầy/Tuy rằng thế đại đổi thay/ Những câu Tứ Kiến đến nay vẫn còn/Vậy nên có chuyện tục ngôn/Mảng vui Nhà gác, quen ngon Cơm đồ/Lợn thui, Nước vác đủ trò/Ngày lui tháng tới ấm no việc thường/Châu Kỳ, châu Lạc, châu Lương/Ba châu ấy một họ Mường dân Lang/Mai, Đà châu hạt hai phương/Chia làm họ Thổ dân Lang hai loài/Chỉ phương Lang phận đã rồi/Mỗi người mỗi chức giữ ngôi Phiên thần/Mười hai năm hoặc một lần/Hay là chín tháng hội tuần phó Kinh/Vật phương theo lệ dâng trình/Thay phiên triều thị tới thành Cổ Loa/Sau này nội thuộc Trung Hoa/Góm cho quân Khách thật là tham hung/Đã hiếp vợ, lại giết chồng/Núi xương cao ngất, máu sông đỏ đầy/Dòng Lang tưởng sạch những ngày/Ai ngờ giời ép đến nay hẵng còn/Di hài còn chút con con/Thần đưa lên đỉnh núi non hộ cầu/Họ Đinh nhờ có Thần Hầu/Quách nhờ Tiên Khuyển, Bạch Ngưu Linh thần/Mớm nuôi khôn lớn lên dần/Mong đêm bĩ cực gặp tuần thái lai/Đó là muôn sự tại giời/Nam Giao lại có nhiều người trung hưng/Như bà Vương nữ họ Trưng/Thật là một đấng nữ xưng phi thường/Cùng ông Bố Cái Đại Vương/Trăm năm ghi chữ lưu phương còn truyền/Lại ông Ngô tính Vương Quyền/Ngàn thu tạc để tiếng khen còn dài/Nếu không có đất có giời/Thì Mường nhân hẳn ra người Bắc nhân.

Hồi ấy, nếu ở xã hội miền núi có tầng lớp Quan Lang thì xã hội đồng bằng cũng có tầng lớp Quan Lang. Theo Việt điện u linh, ông cha Phùng Hưng đời đời làm Tù Trưởng châu Đường Lâm gọi là Quan Lang. Phùng Hưng là người Kinh. Ông cha Phùng Hưng làm Quan Lang, có nghĩa là cho đến thế kỷ VIII, trong xã hội người Kinh ở Đường Lâm (Sơn Tây – giáp ranh Hòa Bình) vẫn còn chế độ Quan Lang. Thế kỷ VIII, sự phân hóa giữa người Việt ở miền núi và người Việt ở miền đồng bằng nếu còn thì chỉ còn ở những vùng tiếp giáp với miền rừng núi. Đến thế kỷ X, sau khi dân tộc Việt Nam giành được độc lập và đến thế kỷ XI, khi thành Thăng Long xuất hiện thì sự phân chia ra dân tộc Mường và dân tộc Kinh đã thành một sự việc hiển nhiên của lịch sử.

Điểm lại trong lịch sử, thủ lĩnh các phong trào nổi dậy chống Bắc thuộc từ đầu thế kỷ I đến thế kỷ X ở trong vùng, hầu hết đều thuộc các gia tộc người Mường hoặc khu vực có nhiều người Mường sinh sống (Hai Bà Trưng, Phùng Hưng, Ngô Quyền). Chính vì vậy, vị trí và vai trò của người Mường, nhất là hàng ngũ các Lang Đạo được xã hội vô cùng trọng vọng. Đến thời Đinh Tiên Hoàng, vai trò của các Lang Đạo ngày một lớn. Sang thời Lê Đại Hành, vào năm Thiên Thụy thứ 2 (996), Lang Đạo Mường Động (Vĩnh Đồng – Kim Bôi) còn được triều đình gia ân Một đời làm vua, muôn đời làm chúa (Nhất thế vi vương, vạn đại vi Man phương Tù Trưởng) như Quách Trù ghi lại: Tục truyền khắp thể phương dân/Rằng khi ấy khách phong thần tăng kim/Tăm kình dấu thỏ chưa êm/ Loạn Mười hai sứ quấy chìm bốn phương/Họ Đinh có đức Tiên Hoàng/ Bông lau ra sức quét tan bụi Hồ/Dòng Lang trong thuở bấy giờ/Cơ đồ trước nhỏ sau to lên dần/Đua tài hiệu lực tòng quân/Theo vua khai quốc giữ dân rường nhà/ Kinh triều đóng ở thành Hoa/Đội ơn Quốc chỉ ban ra rành rành/Phong cho đều giữ phận mình/Khỏi lo giặc Khách cướp tranh sau này/Phép triều ai dám đổi thay/Dân Lang, Mường, Thổ từ nay an hòa/ Đại Hành dựng nghiệp Lê gia/Cho dòng Lang vẫn theo lề lối xưa/Cứ y triều cống tuân thừa/Vật phương dâng hiến Hoa Lư vương thành/Sắc phong vương lệnh triều đình/Các Lang, Tù Trưởng đã dành có nơi/Lang Vĩnh Đồng đó là ai/Đó là chính thực giống nòi họ Đinh/Về sau Lang có quyền hành/Vì ân chiếu chỉ Lê đình ban cho/Một đời chính ngự làm vua/ Muôn đời quyền chủ Trưởng Tù Man phương (Hòa Bình Quan Lang lược sử ca âm).

Có lẽ, Pierre Grossin được các Quan Lang kể lại những câu chuyện tương tự câu nên cũng ghi được những sự kiện của quá khứ quá xa xôi này trong Tỉnh Mường Hòa Bình một cách khá mạch lạc như sau:

Dưới thời An Dương Vũ Vương [Vua nay truyền lệnh cho người Mường định mốc thời gian một năm. Ở Mường Vang (làng Túc Trang) coi tháng giêng âm lịch là tháng khởi đầu của một năm; ở Mường Động (làng Vĩnh Đồng) thì là tháng chạp âm lịch; ở Mường Thàng (làng Cao Phong) là tháng mười một âm lịch; ở Mường Bi (làng Phong Phú) là tháng mười âm lịch] các Lang họp nhau trong động Hoa Lư (làng Trường Yên, tỉnh Ninh Bình) đã đưa Đinh Tiên Hoàng lên ngôi vua (năm 968). Trong nghiệp vương bá, Đinh Tiên Hoàng được các Thổ Lang giúp đỡ. Vua dấy nghiệp ở Hoa Lư. Lúc lên ngôi, vua xuống chiếu rằng các Quan Lang được cha truyền con nối như trước kia, các Lang phải nộp thuế ba tháng một lần và thay nhau vào chầu mỗi người ba tháng.

Dưới thời Lê Đại Hành, cũng như dưới các triều vua khác, các Lang được nộp thuế cho vua bằng hình thức cống vật. Vua cũng ban tước hiệu cho Quan Lang như các triều đại phong kiến trước: con trưởng của Lang được gọi là Lang Trưởng hay Lang Cun, cai quản cả bản làng; con thứ gọi là Thổ Ty, Thổ Đạo hay Phụ Đạo.

Lang ở Mường Động (làng Vĩnh Đồng) là người hoàng tộc, được ban tước hiệu Phó Vương một đời và làm vua xứ Mường mười đời.

Trong dân Mường có gia đình họ Đinh. Họ này nối dõi triều Đinh Tiên Hoàng, cho nên con cháu đều làm Tù trưởng vùng núi hay làm Lang xứ Mường (Khi vương quốc An Nam bị người Tầu đô hộ, giặc Tầu tràn lên xứ Mường, giết đàn ông, cướp phụ nữ. Hầu hết Quan Lang bị giết, những người khác chạy trốn vào rừng, vào núi. Một đứa bé nhà họ Đinh được một con khỉ cứu sống, một đứa bé nhà họ Quách được một con chó cứu, một đứa khác cũng thuộc họ này được một con trâu trắng cứu. Để tỏ lòng ân nghĩa, các Lang nhà họ Đinh không ăn thịt khỉ, các lang nhà họ Quách không ăn thịt chó, cũng chẳng ăn thịt trâu trắng)[2].

Từ các chính sách đối với người Mường của hai triều Đinh – Lê, ngoài việc dựng Quốc đô ở Thăng Long để tạo lập giữa khu vực người Kinh một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Đại Việt, nhà Lý còn chú trọng đúc rút kinh nghiệm thành bại của các tiền triều; tăng cường thêm một bước trong việc xây dựng mối quan hệ với cộng đồng các dân tộc thiểu số ở phía Tây, phía Bắc và Đông Bắc Đại Việt – nơi giữ vị trí trọng yếu trong các cuộc chiến tranh vệ quốc. Tại các địa bàn trên, đội ngũ Quan Lang và Thổ Ty có thế lực rất lớn trong đời sống vật chất và tinh thần đối với các bộ tộc của họ.

Khi ấy, khu vực Tây Bắc cũng có nhiều tộc người cư trú, tuy nhiên ở một khía cạnh nào đó, các Tù Trưởng ở đây chưa đủ lớn để cuốn hút sự quan tâm của triều đình trung ương và mặt khác, quốc gia láng giềng của Đại Việt chưa đủ mạnh để trở thành mối đe dọa xâm lăng đối với Đại Việt. Nhiều bộ lạc ở phía Tây Bắc còn tỏ rõ thần phục của mình bằng cách thường xuyên triều cống, nộp lễ vật hoặc cầu cứu các vua nhà Lý ra tay can thiệp. Mối lo đối với láng giềng không trở thành thường trực.

Củng cố chế độ trung ương tập quyền cách tốt nhất là nắm chắc các khu vực cư dân. Chính vì lẽ đó mà nhà Lý chia khu vực đồng bằng thành 5 cấp (lộ, phủ, huyện, hương, giáp) còn miền núi thành 4 cấp (đạo, châu, trại, động).

Dưới triều Lý Nhân Tông (1066 – 1128), Lang Đạo các mường lớn ở động Ma Sa (Đà Bắc) có ý chống lại triều đình, do đó vào năm Quý Hợi, niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 8 [1083] nhà vua phải thân cầm quân đánh dẹp. Sự bất tuân phục chính quyền Trung ương vẫn âm ỷ trong nhiều năm, cho nên đến năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hội Trường Đoan Khánh thứ 10 [1119] nhà vua lại phải xuống chiếu sai đóng thuyền chiến, sửa đồ binh giáp, luyện tập quân lính, duyệt các binh tào. Táng 11-1119 vua họp các quân nhân cả nước thề ở Long Trì,xuống chiếu rằng: “Trẫm nối nghiệp của một tổ hai tông, thống trị nhân dân, coi dân chúng trong bốn biển đều như con cả, cho nên cõi xa cũng mến lòng nhân mà quy phụ, phương khác cũng một đức nghĩa mà lại chầu. Vả xét dân đinh động Ma Sa sinh ở đất của ta mà động trường Ma Sa đời đời làm phiên thần của ta, thế mà nay kẻ tù trưởng ngu hèn ấy lại phụ ước của ông cha, quên việc cống hiến hằng năm, thiếu lệ thường của điển cũ. Trẫm vẫn nghĩ mãi, việc không đừng được, nay trẫm định tự làm tướng đi đánh. Hỡi các tướng súy sáu quân các ngươi, đều phải hết lòng, tuân theo mệnh lệnh của trẫm”. Bèn ban khí giới cho tướng sĩ. Vua ngự thuyền Cảnh Hưng, từ bến Thiên Thu tiến đi, cờ xí rợp trời, gươm giáo rẽ sương, quân sĩ đánh trống reo hò, khí thế hăng hái gấp trăm. Ngày hôm ấy, rồng vàng hiện bay theo thuyền ngự. Thuyền đậu ở thác Long Thủy[3], Thành Khánh hầu dâng rùa mắt có sáu con ngươi, trên lưng có chữ “Vương”. Sóng lại nổi lên. Vua tự làm tướng đánh động Ma Sa, phá tan quân giặc, bắt được động trưởng là bọn Ngụy Bàng vài trăm người, lấy được vàng lụa trâu dê không kể xiết. Sai tì tướng vào các động dọc biên giới chiêu dụ những người trốn tránh bảo về yên nghiệp.

Tháng 12, ngày mồng 1, vua từ động Ma Sa về, dâng tù Ngụy Bàng ở thái miếu. Khao tướng sĩ, ban cho tiền lụa theo thứ bậc khác nhau[4]. Những Lang Đạo ở động Ma Sa có công như Lang Đạo Quách Minh ở Hướng Nghĩa được phong làm Quận công. Các Lang Đạo ở Vĩnh Đồng, Cao Phong được dự vào các chức Chỉ huy sứ, Phòng ngự sứ, khi chết được truy phong Vĩnh Đồng Đại Vương, Cao PhongĐại Vương.

Năm 1164, các Lang Đạo ở động Lạc thuộc châu Mang Quán (Lạc Sơn) nổi lên, triều đình phải sai Tô Hiến Thành đánh dẹp. Đặc biệt, sau khi Lý Cao Tông (1173 – 1210) trị vì được hơn 10 năm, các Lang Đạo sách Tư Mông, sách Trinh, sách Ô Mễ (Kỳ Sơn) lại nổi lên, nhà vua phải sai Thái phó vương Nhân Từ cầm binh trấn áp. Nhân Từ lấy người trong châu là Phạm Phẩm đóng ở ải Ông Trọng, Phạm Đỗ đóng ở Hương Bái, Đoàn Tùng đóng ở Khả Lão. Nhân Từ cho đánh thẳng vào 2 sách Đăng Bái, Vạn Mễ nhưng bị đánh úp ở La Biều, chạy đến An Cối chết trận, quân triều đình thua. Mùa xuân năm sau, Kiến ninh vương Long Ích đem quân đánh các Lang Đạo ở sách Linh để trả thù. Khi đến thôn Đỗ Gia, Long Ích chiêu dụ được các Quan Lang Đinh Vũ, Đinh Sáng ra hàng.

Khác với nhà Lý, ngay sau khi thiết lập vương triều chưa được bao lâu, nhà Trần đã phải dồn công sức, binh tráng để tiến hành 3 cuộc kháng chiến chống lại giặc Nguyên – Mông. Những giải pháp về kinh tế – xã hội, do đó phải tới tận cuối thế kỷ XIII mới được thực thi. Chính sách đoàn kết dân tộc đã mở rộng hơn, không chỉ tập trung vào các Tù Trưởng ở miền biên viễn phía Bắc hay Đông Bắc mà đã lan tới khu vực Tây Bắc rộng lớn và xa xôi. Triều đình đã thường xuyên cử quý tộc, quan lại có năng lực hoặc có danh tiếng, am hiểu phong tục tập quán các dân tộc thiểu số để lên trấn trị, phù dụ dân chung. Nhiều ông vua nhà Trần không chỉ thường xuyên đem quân binh tiến đến tận đạo Đà Giang (Đà Bắc), còn tiến xa hơn vùng Long Môn – Long Thủy để khẳng định sức mạnh của chính quyền trung ương cũng như cương giới của quốc gia Đại Việt đang trên đường hưng thịnh. Chiến tranh và các cuộc binh đao giữa chính quyền trung ương với các bộ tộc ở trong khu vực hầu như đã giảm thiểu. Các cuốn cổ sử xác nhận điều này:

– Năm 1280 (Thiệu Bảo, năm thứ 2, mùa đông, tháng 10), Trịnh Giác Mật[5] [có thể hiểu là Chiềng của Quan Lang Giác Mật] ở đạo Đà Giang bắt tuân phục. vua sai Chiêu văn vương Trần Nhật Duật coi đạo Đà Giang, ngầm đem quân thuộc hạ đến. Các sử cũ như Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại rằng, khi tới trại, nhiều người dàn vây mấy chục lớp và đều cầm đao thương chĩa vào phía trong. Nhật Duật đi thẳng vào, trèo lên trại. Mật mời ông ngồi. Nhật Duật thạo biết tiếng nói và am hiểu phong tục của nhiều nước, cùng ăn bốc, uống bằng mũi với Mật. Người dân thích lắm. Khi Nhật Duật trở về, Mật đem gia thuộc đến doanh trại đầu hàng. Mọi người đều vui lòng kính phục vì không mất một mũi tên mà bình được Đà Giang. Đến khi về Kinh sư, [Nhật Duật] đem Mật và vợ con vào chầu, vua rất khen ngợi. Sau đó, vua cho Mật về nhà, giữ con ở lại Kinh đô, Nhật Duật mến nuôi hết lòng, xin triều đình ban tước Thượng phẩm và cho vào trông ao cá, sau cũng cho về nhà[6].

– Năm 1329 (Khai Thái, năm thứ 6, mùa đông), Ngưu Hống bất tuân phục triều đình, Thượng hoàng đi tuần thú đạo Đà Giang, đích thân đi đánh Ngưu Hống, sai Thiêm tri Nguyễn Trung Ngạn đi theo để biên soạn thực lục.

– Năm 1337 (Khai Hựu, năm thứ 9, mùa thu, tháng 9), triều đình cử Hưng Hiếu vương tiến quân vào trại Trịnh Kỳ [Chiềng Kỳ], giết được tù trưởng Xa Phần ở Đà Giang. Gia đồng là Phạm Ngải lập được chiến công, được cấp 5 phần suất ruộng.

– Năm 1399 (Kiến Tân, năm thứ 2, mùa thu, tháng 8), Nguyễn Nhữ Cái ở Đà Giang làm giấy bạc giả, chiêu dụ được hơn 1 vạn người nổi dậy ở vùng sông Đà, thế lực rất mạnh. Mãi đến tháng chạp năm ấy (1-1440), Hồ Quý Ly mới sai Nguyễn Bằng Cử đem quân đi đánh, mới dẹp yên.

Hồ Quý Ly cướp ngôi vua lập nên nhà Hồ trong bối cảnh nền kinh tế của đất nước lâm vào tình trạng suy tàn, lòng người ly tán. Ở phía nam, Chiêm Thành luôn luôn đe dọa còn ở phía bắc, nhà Minh đang xúc tiến một cuộc xâm lược Đại Việt, liên tiếp đòi hỏi cung cấp lương thực cho quân Minh đang đóng gần biên giới; đòi người bị thiếu, tăng nhân, đàn bà xoa bóp. Khi ý đồ xâm lược trở thành cấp thiết, nhà Minh lại sai Nguyễn Toán, Từ Cá, Nguyễn Tông Đạo, Ngô Tín sang sứ và thăm hỏi thân thuộc, dặn mật rằng, nếu có quân phương Bắc sang thì dựng cờ vàng, ghi là thân thuộc của viên nội quan họ tên là mỗ, tất sẽ không bị giết hại[7].

Chiếm được Đại Việt, tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 5 (7-1407) Minh Thái Tông ra Sắc dụ cho lập Ty Chỉ huy sứ Giao Chỉ, đổi tên hầu hết các phủ, huyện châu – trong đó có việc chuyển trấn Gia Hưng xuống thành châu Gia Hưng lĩnh ba huyện Lung (Thanh Xuyên), Mông và Tứ Mang (Đà Bắc), xếp đặt bộ máy cai trị tuyển chọn từ người địa phương.

Tại huyện Tứ Mang cựu Thổ quan Xa Miên được giao làm Tri huyện. Theo Minh Thực lục (Thái Tông, Q.179, tr.2a), vào ngày 20 tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 16 (27-3-1418), con trai của Xa Miên là Xa Tam (tức Xa Khả Sâm hoặc Xa Khả Tham trong sử Việt), sau khi giết chết Âu Dương Trí kẻ được nhà Minh cử đến làm Tri huyện Tứ Mang thay Xa Miên, đã dựng cờ khởi nghĩa khiến Tổng binh Lý Bân phải sai Đô đốc Phương Chính đem nhiều binh tướng đi đánh dẹp. Nghĩa quân đã đẩy lùi được nhiều đợt tấn công của giặc Minh, giết chết Đô Chỉ huy sứ Trần Nhữ Thạch, Thiên hộ Chu Đa Bồ nhưng chẳng may Xa Đạo – em trai của Xa Tam rơi vào tay địch, bị sát hại.

Diễn biến của cuộc khởi nghĩa được Minh Thực lục ghi nhận như sau:

“Trước đây viên cựu Thổ quan Tri huyện Tứ Mang, châu Gia Hưng là Xa Miên, có con Xa Tam làm phản, giết bọn Tri huyện được triều đình cử đến là Âu Dương Trí. Quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân sai Đô đốc Đồng tri Phương Chính mang binh thảo phạt. Giặc cậy đông cự địch, các viên Thổ quan Đô chỉ huy Trần Nhữ Thạch, Thiên hộ Chu Đa Bồ tử trận. Quan quân ra sức đánh bại giặc, bắt người em là Xa Đạo giết chết. Bọn Xa Tam trốn, nhưng núi rừng hiểm trở khí độc mới phát; quan quân lục soát không bắt được, bèn mang quân trở về và sai người chiêu dụ. Bân báo lên và xin thưởng tuất bọn Nhữ Thạch để khuyến khích quan sĩ. Được chấp nhận”[8].

Cùng với các cuộc khởi nghĩa Thổ Hoàng (Hương Khê – Hà Tĩnh, Lam Sơn (Thanh Hóa) và Áo Đỏ (Gia Hưng, Tuyên Hóa), cuộc khởi nghĩa do Xa Tam lãnh đạo đã gây cho quân xâm lược Minh nhiều đòn chí mạng. Trong Sắc dụ gửi Tống binh Lý Bân đề ngày 10-5 năm Vĩnh Lạc thứ 18 (6-1420), Minh Thái Tông phải kêu lên:

“Bọn phản loạn Phan Liêu, Lê Lợi, Xa Tam, Nông Văn Lịch đến nay vẫn chưa bắt được, không biết việc binh đến khi nào mới hết, dân đến lúc nào mới được yên; nên ngày đêm hết lòng trù hoạch phương lược, sớm diệt bọn giặc này, để khỏi phụ sự ủy nhiệm của trẫm”2.

Khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo bước vào giai đoạn toàn thắng thì tại Tứ Mang (Mường Xang), vào khoảng tháng 6-1427, Thổ Tù Xa Khả Sâm (Xa Tam) đã đem lực lượng vũ trang của châu mường đến quy phụ. Lê Lợi đã trao cho Thổ Tù Mường Xang chức Nhập nội tư không Đồng binh chương sự tri Đà Giang trấn thượng bạn, cho túi Kim ngư, tước Trụ quốc Quan phục hầu, ban quốc tính họ Lê. Các con của ông như Xa Lộc được làm Kim ngô vệ Thượng tướng quân, tước Đại tri tự; Xa Khát, Xa Bàn, Xa Điển đều được làm Ngọc vệ Đại tướng quân, tước Ninh tự.

Để bày tỏ lòng trung thành, Xa Khả Sâm (Xa Tam) đã dâng lên Lê Lợi 3 con voi cùng vòng vàng, vòng bạc, chiêng đồng. Lê Lợi cũng ban thưởng cho ông 20 tấm lụa, 10 con ngựa.

Mục tiêu đánh đổ ách thống trị của nhà Minh, giành lại độc lập và chủ quyền cho đất nước mà cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đề ra, đến cuối năm 1427 đã hoàn thành. Thủ lĩnh Lê Lợi trở thành Thái Tổ của nhà Lê, ngay từ đầu đã hướng tới mục tiêu là dùng hình luật để cai trị và bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ quốc gia.

Một trong những biện pháp quan trọng mà nhà Lê sử dụng trong buổi đầu là sắp xếp lại các đơn vị hành chính kể cả khu vực miền núi, sử dụng tầng lớp trên của các dân tộc, bổ nhiệm họ các chức như Đoàn Luyện, Thủ Ngự, Thổ Tù người Thái là Xa Khả Tham (tức Xa Tam, Xa Khả Sâm) được phong là Nhập nội Tư không và các con ông được phong làm Đại tướng quân được ban quốc tính. Nhiều Thổ Tù khác có công trong kháng chiến hay chịu quy thuận, được phong những chức tước cao như Tư không, Bình chương sự, Thượng tướng quân, Đại tướng quân. Năm 1428, khi Lê Lợi chia nước làm 5 đạo và tổ chức lại bộ máy thống trị ở các châu, có đặt thêm các chức Tri châu, Đại Tri châu dành riêng cho các Thổ Tù vùng biên viễn. Chính sách này tiếp tục được sử dụng trong các đời vua Lê về sau và tới thờiThánh Tông, nhiều Thổ Tù và Quan Lang được phong đến tước Quận công.

Với bộ Luật Hồng Đức, vấn đề chính sách đối với các dân tộc thiểu số đã được xác định rõ ràng hơn. Qua những quy định của Luật Hồng Đức, nhà nước trung ương đã chú ý tới đặc điểm về phong tục tập quán, có cách ứng xử phù hợp. Điều 40 Luật Hồng Đức quy định: “Những người miền thượng du (vùng miền núi – dân tộc) cùng phạm tội với nhau thì theo phong tục xử ấy mà định tội. Những người thượng du phạm tội với người trung châu thì theo luật mà định tội”. “Các quan tướng súy tại các phiên trấn đến những châu huyện ở trấn mình, sách nhiễu tiền tài của dân thì bị biếm ba bậc, phải bồi thường gấp đôi số tiền trả lại cho dân. Khi chiêu dụ dẹp yên dân Man Liêu mà tự tiện phá nhà cửa, lấy súc vật, tài sản của dân thì bị tội biếm hay bị đồ” (Điều 163). “Các quan quản giám các dân Man Liêu (tức các dân tộc thiểu số) tự ý giữ trông coi những vụ kiện trong hạt, riêng sai người nhà đem trát đi bắt người hoặc là ức hiếp người mà giam cầm, thì xử phạt 60 trượng và biếm 2 tư” (Điều 164).

Luật Hồng Đức cũng có những quy định cụ thể nhằm ngăn ngừa sự liên kết giữa quan hệ người Kinh và các Thổ Tù thiểu số, nhằm hạn chế sự gia tăng quyền lực của các thủ lĩnh ở khu vực này. Điều 51 ghi: “Các quan Ty mà cùng với những người Tù Trưởng ở nơi biên trấn kết làm thông gia, thì phải tội đồ hay lưu và phải ly dị. Nếu lấy trước rồi thì xử đoán khác”. So với thời Lý – Trần, nhà Lê đã với tay sâu hơn trong việc quản lý, chi phối khu vực này và quy định rõ trong Luật Hồng Đức: “Những người không phải ngành chính mà tranh bừa quyền Phụ Đạo, Thủ lĩnh thì xử 70 trượng, biếm ba tư. Dòng chính Phụ Đạo Thủ lĩnh, nếu không tâu xin mà tự tiện giữ quyền thì xử giảm một bậc” (Điều 340).

Nhiều quy định trong hình luật của nhà Lê ít nhiều có xem xét và giảm nhẹ hình phạt đối với người thuộc dân tộc thiểu số: “Người Man Liêu cướp bóc của nhau, giết nhau thì xử nhẹ hơn tội cướp, giết người một bậc; nếu hòa giải với nhau thì cũng cho” (Điều 451). Hay như quy định: “Đi thu thuế của dân Man Liêu mà không đến trình người Quản giám thì xử biếm 1 tư” (Điều 595). “Ngục giám đi bắt người Man Liêu bị kiện, mà không trình quan Quản giám người Man Liêu, thì xử biếm 1 tư, trong trường hợp ấy, kẻ phạm tội có đánh chửi Ngục giám cũng không được xét. Nếu viên Quản giám nói dối là dân Man Liêu chống cự, không sai bắt kẻ bị kiện thì cách chức Quản giám” (Điều 703)[9].

Dưới triều Lê, đặc biệt từ thời Lê Thánh Tông, vai trò quyền lực của nhà nước trung ương đối với các địa phương rất to lớn. Bản đồ Đại Việt được hoàn thành thời Lê Thánh Tông đánh dấu bước tiến to lớn trong quản lý của nhà nước trung ương. Cả nước được chia thành 13 xứ thừa tuyên có 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6.851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguyên, 30 trường. Các vùng xa như Thanh -Nghệ, Thuận Hóa, Yên Bang, Tuyên Quang, Hưng Hóa đều đặt Ty và Thủ ngự. Nhà nước trực tiếp quản lý các địa phương thông qua hệ thống quan lại[10].

Sử cũ còn ghi lại sự kiện, vua Lê đã từng “hạ lệnh rằng hễ thấy người áo đỏ Mường Mộc chở mắm muối về thi không được ngăn cấm”. Nhiều Tù Trưởng dân tộc thiểu số có công trong kháng chiến chống Minh được trọng thưởng. Một số Tù trưởng được ban đặc ân3.

Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi, dựng nên nhà Mạc nhưng vẫn duy trì chế độ hành chính và tổ chức quan lại như cựu triều để thu phục nhân tâm. Một số cựu thần nhà Lê chạy lên đất Mường và đã nhận được sự ủng hộ của đội ngũ Quan Lang và dân chúng trong vùng.

Khi nhà Lê trung hưng, đội ngũ Quan Lang có công trong sự nghiệp diệt Mạc đã được triều đình ân sủng, ban cho nhiều chức tước để ghi công – điển hình như dòng Lang Đạo họ Đinh ở Mường Động – Vĩnh Đồng được triều đình cắt đất phong thực.

Bùi Huy Vọng trong Làng Mường ở Hòa Bình đã chắt lọc tư liệu từ bài viết Bí mật bên trong thánh địa của Nhà Lang Mường Động của Giám đốc Bảo tàng tỉnh Hòa Bình, Nguyễn Thị Thi cung cấp cho chúng ta biết, từ thời xa xưa, người khai lập ra dòng họ Đinh (Mường Động) vốn là Đinh Như Lệnh, làm Thổ Tù xã Vĩnh Đồng, sinh được hai con trai: trưởng nam là Đinh Quý Khiêm, thứ nam là Đinh Văn Hương. Đinh Quý Khiêm kế tục là Thổ Tù, gặp lúc triều Lê dựng nước, ông có công phò vua trợ nước được ban Phụ quốc Tướng quân Khiêm nghĩa hầu vẫn được làm quan coi sóc xứ Sơn Tây, các dân miền núi đều hết lòng trung nghĩa. Đến khi thiên hạ thanh bình thì được phép ra đi thì cầm quân, quay về thị trị dân, lúc có loạn thì đánh giặc, lúc thái bình thì làm nông. Từ đó về sau cũng như vậy. Đinh Quý Khiêm sinh được một con trai là Đinh Như Luật, kế nghiệp là Thổ Tù cai quản dân địa phương, nhân dân được trông dựa, đều no đủ, bình an. Đinh Như Luật lấy vợ sinh được một con trai là Đinh Nhân Phúc.

Đinh Nhân Phúc sinh được con trai là Đinh Văn Thịnh và con gái là Đinh Thị Đỏ. Đinh Văn Thịnh kế nghiệp làm Thổ Tù, khi chết không có con thừa tự. Người con gái là Đinh Thị Đỏ lấy chồng là Phụ Đạo ở thôn Tý, xã Vĩnh Đồng sinh được Đinh Văn Thiệu.

Đinh Văn Thiệu vốn thông minh được nhân dân yêu mến, vẫn được kế nghiệp họ ngoại (Đinh Nhân Phúc) làm Thổ Tù cai quản dân địa phương, lấy vợ là Hoàng Thị Mỗ sinh được Đinh Văn Khương, Đinh Văn Khương không may chết sớm.

Người thiếp của Đinh Văn Thiệu là Bùi Thị Thời người thôn Dầm sinh được một người con trai là Đinh Văn Cương, con thì nhỏ, vợ thì đơn độc không thể giữ được nghiệp nhà, bị người Phụ Đạo thôn Đồi xã Vĩnh Đồng tên là An Phú Bá (tức Hoàng Văn An), là kẻ cường hào khinh kẻ cô quả, mưu đồ cướp đoạt và ức hiếp nhân dân, cưỡng ép lấy vợ của Thổ Tù và nuốt cả cơ nghiệp. Bùi Thị Thời sợ hãi mang con là Đinh Văn Cương trốn vào thôn Khang xã Phù Liêm, huyện Lạc Thổ, xứ Thanh Hóa Ngoại (sau là Ninh Bình) ăn nhờ và nuôi con. Đến lúc thành thân, may gặp lúc trung hưng của triều vua Lê chúa Trịnh được ban chức Trịnh nguyên soái, dẫn quân theo đường nhỏ bí mật về Sơn Tây. Đinh Văn Cương chiêu mộ lương, binh tòng quân theo việc nghĩa được sắc phongPhá Lỗ tướng quân Triều Đồng hầu, may nhờ hồng phúc của Thánh vương, trong khi đánh giặc, lại phụng mệnh lưu giữ chốn biên cương phía Bắc được hơn 7 năm thì xin lui về, được sắc ban cai quản dân binh của các xã Hạ Bì, Nật Sơn, Mỗ Sơn, Trí Thủy, Nhuận Trạch.

Đinh Văn Cương lấy 6 vợ vừa thê, vừa thiếp. Chính thất là Bạch Thị Thừa sinh được Đinh Công Kỷ (1582 – 1647) và Đinh Công Kế là đời thứ 8 dòng họ Đinh, các người vợ và thiếp khác sinh được cả thảy 7 nam, 10 nữ. Đinh Công Kỷ kế nghiệp làm Thổ Tù, cai quản dân địa phương được tập phong Đề đốc Uy lộc hầu, đời đời làm phiên thần… Như vậy, sau khi Phù Lê diệt Mạc, trong cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến trong nước cuối thế kỷ XVI, dòng họ Đinh được vua Lê chúa Trịnh phong tước cho cai quản Mường Động.

Diễn tả lịch sử xứ Mường suốt thời Lý – Trần – Hồ – Lê, tác giả Hòa Bình Quan Lang sử lược ca âm cho biết, Chỉ vì khác chốn triều Kinh/Đến nay Lý cải Long thành làm đô/Trần thì ngôi Lý Chiêu cho/Thánh Tôn ng giá tuần du sông Đà/Suốt từ Mường, Thổ dân quê/Bao nhiêu Lang chức đều ra bái chào/Cũng y chức cựu ban chiêu/Mà trong cống lệ vẫn theo Lý triều/Trống đồng khi ấy đúc nhiều/Chiểu theo Lang Trưởng ban chiêu mọi nhà/Cho hay mua bán thêm ra/Để làm bảo vật trong nhà của riêng/Gian tình Hồ thị ghé nghiêng/Quý Lý nhòm cướp ngôi thiêng họ Trần/Giả điều giáng chiếu gia ân/Khắp đòi các chức Mường dân Lang, Tù/Bắt rằng mang đến Tây Đô/Chiểu danh điểm diện chẳng cho thiếu người/Phương vật bắt cống các mùi/Gà, trâu, lợn gạo cùng loài sẻ bay/Nhẩm lòng tính đốt ngón tay/Chẳng cho thiếu trích mảy may gọi là/Chính thu thuế nặng thêm ra/ Mường dân những khổ có ca oán rằng/Vua ma quỷ quái quá chừng/Đàn bà cũng bắt lên dâng bệ vàng/Bấy giờ có một Quan Lang/Không giai dậy gái cải trang tới triều/Rõ như tục ngữ mọi điều/Truyện rằng Ít Lọt chàng Liêu xưa mà/Đến vua Thái Tổ nhà Lê/Lam Sơn khởi nghĩa quyết bề bình Ngô/Bao nhiêu Mường, Thổ, Lang, Tù/Tòng quân hiệu lực thưởng cho cũng nhiều/Giáng ân phong tước cho đều/Lại thêm long trọng hơn triều Lý xưa/ Tuy rằng ruộng bắt ra tô/Nhưng ba năm rộng trưng cho một kỳ/Chia tiền chính hậu làm ba/Phó cho Lang Đạo cứ mà chính thâu/Còn như tạp dịch dân châu/Trước cho quyền định rồi sau tâu cùng/Cũng cho Phò mã, Quận công/Cũng như triều trước theo cùng Lý xưa/Còn như lệ cống bấy giờ/Tha cho không phải như xưa thêm phiền/Lại cho thái mễ lương điền/Đình môn ngưu dốc gọi đền tấc công/Đặt thêm binh ngạch quan phòng/Yên thời việc ruộng, động dùng việc binh/Sau này Mạc thị hưng tranh/Đặng Dung tiếm hiệu triều đình xưng danh/Chiểu cho Lang Đạo các Mường/Phiên thần cứ giữ chức thường triều ban/Lại cho các xứ dân gian/Trên vui chức cũ, dưới yên nghiệp nhà/Hoặc thời theo phục Lê gia/Hoặc thời cũng có đạo bề Mạc quan/Như là Lang Bạch Nễ Sơn/Cẩm y Thị vệ làm quan Mạc triều/Dân gianđược lúc ba đào/Nửa theo Mạc thị, nửa theo Lê triều/Lê thời có Trịnh tiếm theo/Các Lang, Tù Trưởng bái triều như xưa/Chiếu cho Trịnh phủ trao thừa/ Cùng y điểm lệ như xưa Lê triều/Đặt ra dinh đạo quan triều/Không cho trực tấu phải theo lệnh đàng.

Pierre Grossin cũng ghi lại một số nét lớn thời Lý – Trần – Hồ – Lê – Mạc cho rằng, dưới thời Lý Thánh Tôn, các Thổ Lang nhận mệnh vua, đã thành lập các đội quân để giúp vua đánh đuổi người Chiêm, đã xây dựng thành lũy ở những nơi hiểm yếu để đương đầu với những cuộc tiến công bất ngờ.

Khi hết chiến tranh, rất nhiều Quan Lang được ban thưởng các tước hiệu Công, Hầu, Bá, Tử, Nam, Chỉ huy sứ, Kinh lược sứ, Phòng ngự sử, Phò mã, Quận công. Để thể hiện lòng thần phục, các Thổ Lang phải thay phiênnhau vào chầu vua mỗi người chín tháng.

Vua Trần Thánh Tôn đã mở một cuộc du ngự trên thuyền rồng. Nhà vua tới sông Bờ (tức sông Đà). Các Thổ Lang đều ra nghênh tiếp. Họ cũng được ban ân như thời trước và được giữ đặc quyền.

Vua Thánh Tôn sai đúc rất nhiều trống đồng để phân phát cho các Thổ Lang. Sự sở hữu cái trống đó chứng tỏ rằng chủ nó là Thổ Lang. Ngày nay các kỷ vật quý giá ấy vẫn còn được các Lang lớn giữ gìn cẩn thận. Sự tồn tại của những trống đó chứng tỏ việc vua ban là có thật.

Dưới thời Hồ Quý Ly, người đã tiếm ngôi nhà Trần, tất cả các Thổ Lang, Thổ Ty, Phụ Đạo đều được lệnh về kinh, mang theo cống vật gồm trâu, bò, lợn, gạo, thú rừng. Con gái Mường thuộc các gia đình quyền quý cũng bị triệu về chầu vua. Sau khi có yêu sách này, người Mường đã làm những câu thơ châm biếm như:

“Vua ma quỷ quái

Bắt cả con gái về chầu”.

Dưới thời nhà Hồ, có tên tướng Tầu tên là Hoàng Phúc làm loạn.

Thời Lê Lợi đánh nhau với quân Tầu (nhà Minh) cũng có sự giúp đỡ của các Quan Lang, và Lê Lợi đã đánh đuổi được chúng. Ông lên ngôi vua, hiệu là Lê Thái Tổ.

Khi lên ngôi, Lê Thái Tổ ban thưởng cho các Thổ Lang và Phụ Đạo Mường đã cộng tác với mình. Những tước hiệu ban thưởng cao hơn tước hiệu thời Lý.

Ruộng nương vẫn phải nộp thuế nhưng chỉ phải nộp ba năm một lần. Chữ tiền trung dùng để chỉ thuế năm sau đã đóng từ trước, còn chữ chính trung là thuế đóng hàng năm. Các Thổ Lang, Thổ Ty có trách nhiệmthu thuế rồi nộp thẳng cho vua. Các tước hiệu như Phò mã, Quận công cũng được vua ban như thời Lý. Các Lang được miễn vào chầu, vua.

Dưới thời Lê Thái Tổ, binh lính chỉ cầm súng khi có chiến tranh, còn ở thời bình thì họ là nông dân.

Thời Mạc Đăng Dung có sắc chỉ ban tước hiệu và đặc quyền cho các Lang. Có một Quan Lang người xóm Rộc, làng Nật Sơn, tên là Bạch Công Oai, theo hầu nhà Mạc, do đó được ban chức Cẩm y Thị vệ.

Dưới thời Lê – Trịnh (đã lật đổ nhà Mạc) các Thổ Lang, Thổ Ty và Phụ Đạo có về kinh để tỏ lòng thần phục, nhưng chỉ về khi nào nhận được mệnh vua. Còn những sự việc khác thì chẳng có gì thay đổi. Chẳng hạn, về luật lệ thì vẫn như thời Lê, riêng việc liên hệ trực tiếp với nhà vua thì được bãi miễn. Mọi sự liên hệ đều phải qua viên Châu Dương Quan”[11].

Tháng 9-1723, dưới triều Bảo Thái, phủ liêu được lệnh chiếu theo núi sông, đồng bằng và thung lũng ở các xứ mà vạch chia địa giới, cắt chỗ nọ sáp nhập vào chỗ kia, dứt khoát định rõ bờ cõi. Từ kết quả thực địa, phủ liêu đã đưa 7 sách Lãng Xương, Quan Đức, Phương Mao, Hoằng Nhuệ, Võ Song, Mông Hóa, Thái Hòa và xã Thư Pháp thuộc huyện Thanh Xuyên trấn Hưng Hóa sáp nhập vào huyện Hạ Hoa trấn Sơn Tây (về sau 7 sách này hợp thành tổng Hoằng Nhuệ, chuyển sang huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây, rồi tổng này với tổng Cao Phong, Tu Vũ cùng huyện hợp với một số tổng của Tùng Thiên được chuyển vào phủ Vạn Yên, huyện Đức Yên để lập tỉnh Mường Chơ Bờ – sau lại đổi thành châu Kỳ Sơn).

Tháng 6-1724, cũng dưới triều Bảo Thái, phủ liêu vâng lệnh truyền cho các trấn Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Yên Quảng và Cao Bằng: phàm nơi nào khuyết viên quan Quản mục lính Thổ và người Thổ thì cho phép Phiên thần và Phụ Đạo bảo cử lấy người xứng đáng để làm Quản mục và chia làm 2 môn Lưu thủ và Trấn thủ để điều tra, làm tờ khải tấu lên xin lệnh thi hành.

Vào cuối thế kỷ XVIII, tại khu vực Mộc Châu, theo Lê Quý Đôn, Phụ đạo là Xa Văn Phấn, tiên tổ là Xa Khả Tham làm quan đại tư mã hồi đầu quốc triều, vì có công được thế tập. Sau khi Xa Văn Phấn mất, các chi tranh nhau, năm Bính Thân (1776), viên Lưu thủ Lý Trần Thản, giữ chức Hiệp đốc mới chia làm 3 châu: đem Chính Trình và Đàn Tổng, Hạ Tổng đặt làm Mộc Châu cho Xa Văn Mang cai quản; đem Hàm Bằng đặt làm châu Mã Nam cho Xa Văn Ôn cai quản; đem động Trình Sàng đặt làm châu Đà Bắc cho Xa Văn Khoa cai quản. Cả ba đều làm Phụ Đạo, quản suất dân trong châu. Ba châu này ruộng đất màu mỡ rộng rãi, thổ sản có vỏ cây đay. Tại Mai Châu, Phụ Đạo là Hà Công Ứng, con là Hà Công Bình kế tập. Trong châu có 3 động, ruộng đất màu mỡ, nhân dân đông đúc, ruộng có thể cấy được cả vụ chiêm và vụ mùa[12].

Nguyễn Văn Siêu trong Phương Đình dư địa chí, cho biết thêm Châu Mai xưa gọi là Mường Mai, sử nhà Trần chép: Phạm Ngũ Lão đánh Ai Lao ở Mang Châu, tức nơi đây. Đà Bắc vốn là đất Mộc Châu, năm 36 niên hiệu Cảnh Hưng, tách đặt ra.

Đây là thời điểm cuộc khởi nghĩa do Lê Duy Mật lãnh đạo, kéo dài tới 32 năm (1738 – 1770) vừa kết thúc, gây rất nhiều ảnh hưởng trong vùng người Mường và có lẽ chỉ được Hòa Bình Quan Lang sử lược ca âm ghi nhận một cách chính thức: Cảnh Hưng là hiệu Lê hoàng/Có ông Duy Mật vốn hàng họ Lê/Ra tay trừ Trịnh một bề/Xưng binh đóng ở dân quê các Mường/Bấy giờ các chức Quan Lang/Nhiều theo Hoàng tộc quyết đàng lập công/Chỉ huy vâng mệnh triều phong/ Ngọc Lâu có chức Quân Công Thổ Tù/Hoặc theo Trịnh phủ bấy giờ/Cứ truy năm tước trao cho chức liền/Này như Phòng ngự Sứ quân/Cũng là chính hiệu lưỡng ban chính tòng/Trung Hoàng Phòng ngự sứ phong/Còn Hầu tôn lãnh về trong Châu Đà/Lại làng Mãn Đức đâu xa/Liên Trung tước Bá hàm là Quận công/Còn nhiều quan chức gia phong/Không đem chép hết vào trong sử này.

Cùng thời điểm đó là cuộc khởi nghĩa do Hoàng Công Chất lãnh đạo (1739 – 10769).Theo ghi chép của dòng họ Hà Công ở Mai Châu, lần đầu khi Hoàng Công Chất đến Mai Châu, phụ đạo là Hà Công Ứng cùng các Tạo Châu trong vùng theo lệnh triều đình đem quân đánh Hoàng Công Chất, nhưng đều thua. Lần thứ hai, khi đem quân chống lại Hoàng Công Chất không nổi, Hà Công Ứng phải chạy đến Mường Thăng nương nhờ người Mường. Theo Lê Quý Đôn, tuy Phụ Đạo Hà Công Ứng bị thua nhưng vẫn được triều đình cho giữ chức Phụ Đạo thế tập. Chính sử nhà Nguyễn cho biết: Lưu thủ Sơn Tây là Hoàng Phùng Cơ còn đề nghị ban cho Hà Công Ứng tước Mai ngạn hầu để phủ dụ và lôi kéo các Phụ Đạo, Tù Trưởng trong vùng.

Nhà Tây Sơn tồn tại trong lịch sử với thời gian không dài nhưng hình như có một số chính sách không chiếm được tình cảm của người Mường và cũng không đụng chạm được vào bộ máy quản lý hành chính trong khu vực. Sau khi diệt được Tây Sơn, lập ra nhà Nguyễn, cùng với việc lập ra trấn Bắc Thành, giao cho Nguyễn Văn Thành cương vị “Phó vương”, Gia Long còn cho rằng, đời Lê cũ các trấn đều đặt phủ, huyện nhưng sang thời Tây Sơn không đặt phủ, chỉ đặt văn thì phân chi, võ thì phân suất, chia làm việc huyện. Nay đất Bắc Hà đã định, cần đặt lại phủ, huyện và quan chức. Ở những khu vực vùng núi Yên Quảng, Thái Nguyên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng và Thanh Nghệ thì cho đặt Thổ quan để quản lĩnh. Trấn Hưng Hóa vẫn gồm 3 phủ là Quy Hóa, Gia Hưng, Yên Tây với 4 huyện và 16 châu – trong đó có châu Đà Bắc và Mai Châu do Trấn thủ Nguyễn Văn Kiên, Hiệp trấn Lê Nguyên và Tham trấn Nguyễn Thế Trung cai quản. Trấn Thanh Hóa Ngoại tức tức Ninh Bình sau này, với 2 phủ là Trường Yên, Thiên Quan và 6 huyện – trong đó có Lạc Thổ (sau đổi là Lạc Yên, Lạc Sơn) và một số vùng thuộc các huyện Yên Hóa, Phụng Hóa (sau hợp thành huyện Yên Thủy) do Tôn Thất Chương kiêm lĩnh Đốc trấn. Trấn Sơn Tây với 5 phủ là Quốc Oai, Tam Đới, Quảng Oai, Lâm Thao, Đoan Hùng và 24 huyện – trong đó có các huyện Mỹ Lương, Minh Nghĩa (sau đổilà Tùng Thiện), Bất Bạt có nhiều phần đất lập nên châu Kỳ Sơn, Châu Lương Sơn do Trấn thủ Trương Phúc Phượng, Hiệp trấn Nguyễn Văn Quang, Tham hiệp Dương Công Tòng cai quản.

Ngoài ra, Gia Long còn sai tuyên bố lời dụ báo cho những điều họa phúc khiến cho Thổ Tù ở Tuyên Quang, Hưng Hóa và Thái Nguyên kế nhau kéo đến hành tại triều kiến; lại cho xây dựng các đội Thổ binh, lấy các Thổ Mục chia cho cai quản. Cuối năm 1802, triều đình ban chức tước cho các Thổ Tù, Phiên Thần là Đinh Công Vượng, Đinh Công Vinh làm Tuyên úy sứ; Đinh Công Kiên làm Chiêu thảo sứ, Cầm Nhân Nguyện làm Phòng ngự Đồng tri.

Nằm trong tính toán về sự nhất thể hóa kể trên là quyết định bãi bỏ lệ Thổ Ty thế tập ở Hưng Hóa và một số nơi thuộc Thanh Hóa Ngoại (Ninh Bình), Sơn Tây tháng 7-1829 Minh Mệnh ban hành chính sách Lưu quan thay thế Thổ Ty.

Đại Nam thực lục, Chính biên (Đệ nhị kỷ, Q.LX) cho biết quá trình ra đời của chính sách đó như sau: “Thành thần tâu rằng: Lai Châu và châu Đà Bắc ở Hưng Hóa, châu Phổ Yên ở Thái Nguyên, châu Hàm Yên ở Tuyên Quang, các Thổ Tri châu, Tri huyện, Huyện thừa, Lại mục hãy còn khuyết xin cho bổ thí sai. Thổ Ty ở các châu Lục Yên, Thu Châu, Đại Man, Vị Xuyên, Bảo Lạc thuộc Tuyên Quang đều già yếu; xin cho người thế tập cai quản.

Vua dụ rằng: – Đặt quan phân chức, nên có chương trình nhất định mà coi dân như một mớ tỏ được ý nghĩa vương giả không để ai ra ngoài. Các trấn Tuyên – Hưng ở hạt thành, nên đặt Thổ Tri châu, Tri huyện không những ở bốn châu ấy mà thôi, sao lại chỉ xin cho bốn châu ấy mà nơi khác không nói đến? Và những nơi ấy có Thổ Tri châu, Tri huyện, Lại mục và tạm thời cải bổ, chưa từng ấn định cho hạt ấy bao nhiêu chức quan, so lại cho là thiếu được? Đến như việc xin cho tập quản thì lại hóa ra tạm bợ quá. Vì bọn ấy tuy là dân biên thùy, nhưng cũng đều là con của triều đình, há lại cứ noi theo thói tệ, không bàn đến kẻ hay người dở, cứ cho nhận làm của riêng anh em, con cháu thiện tiện nối nhau, lỡ có người không tốt, được thể làm càn thì có thêm lụy cho dân ta không? Thậm chí Nông Văn Vân ở Bảo Lạc đã cho làm Thí sai Thổ Tri châu, có chức hàm rồi, mà lại xin thế tập, chả hóa ra phức tạp quá dư! Nay cứ các châu huyện thuộc các trấn Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Yên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hưng Hóa trong thành hạt, theo công việc ít nhiều, dân số đông thưa, nên đặt Thổ Tri châu, Tri huyện, Huyện thừa, Lại mục thì nghĩ định rõ ràng; không cứ Thổ Ty, Hào Mục, cứ trong hạt ai là thanh liêm, tài năng cần cán vốn được dân tin phục thì chọn cử tâu lên không được theo trước xưng là tập quán.

Thành thân bản xin: Đinh từ 5.000 người, ruộng từ 500 mẫu trở lên, thì châu đặt 1 Thổ Tri châu, huyện đặt 1 thổ Tri huyện cùng thổ Lại mục đều 1 người; đinh từ 100 người, ruộng từ 100 mẫu trở lên, thì châu đặt 1 Thổ Tri châu, huyện đặt 1 Thổ Huyện thừa; đinh điền không đủ 100, thì chỉ đặt 1 Thổ Lại mục. Vua y cho” (Đại Nam thực lục, Chính biên, tập 2, Sđd, tr. 862).

Nhằm tập trung quyền lực về nhà nước trung ương, từ thực tiễn không thành công của hai mô hình Bắc Thành và Gia Định thành suốt mấy chục năm, tháng 11-1831 [Minh Mệnh năm thứ 12], triều đình cho giải thể đơn vị hành chính cấp Bắc Thành, lập ra đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Tháng 9-1836, đặt Lưu quan tại các châu Phù Hoa, Thủy Vĩ, Quỳnh Nhai, Ninh Biên, Mai Sơn, Mộc Châu, Luân Châu, Lai Châu; cho phép các lỵ sở đều tùy tiện dựng nên. Mỗi châu đều đặt 4 thông lại, 20 lính lệ, mỗi năm cấp cho 20 quan tiền công, còn như các châu Sơn La, Chiêu Tấn, Tuần Giáo, Văn Bàn, Đà Bắc, Thuận Châu, Mai Châu, Yên Châu khi nào đặt Lưu quan người Kinh thì cứ chiều theo lệ ấy thi hành.

Theo Phạm Thận Duật (Toàn tập, tr. 132) thì: “Sự khác nhau giữa Thổ quan và Lưu quan là ở chỗ: Thổ quan là dùng người địa phương ở đó; còn Lưu quan là dùng quan lại của triều đình bổ dụng theo kiểu luân chuyển.

Đời Trần Trùng Quang, năm thứ 2, Canh Dần [1410], người Minh là Hoàng Phúc xin cấp đất đai cho Thổ quan tùy theo phẩm trật của họ, để họ chiêu tập dân đến canh tác thu tô, thay cho việc cấp bổng lộc cho lưu quan.

Năm Kỷ Hợi [1419], Tri phủ Nghệ An là Phan Liêu làm phản, vì làm quan Trung Quốc cậy thế nhà Minh mà cướp bạc vàng, liền đem quân đến giết Lưu quan, [Sách] chú rằng: chức Lưu quan mà nhà Minh đặt thì do Bộ Lại tuyển lựa bằng thi cử, và thuyên chuyển. Còn Thổ quan thì dùng người Thổ hào ở địa phương. Các nhân viên nha lại cũng dùng người địa phương (xem Quốc sử).

Thế thì sự phân biệt giữa Lưu quan và Thổ quan ở nước ta có lẽ bắt đầu từ thời Vĩnh Lạc [1403 – 1413] nhà Minh đã có.

Từ năm Minh Mệnh 14 [1833], viên Thổ Tri huyện là Đinh Công Tiền; năm 15 [1834] viên Thổ Tri châu Bảo Lạc thuộc Tuyên quang là Nùng Văn Vân làm loạn. Sau đó, 19 châu huyện dưới đây lần lượt cài đặt Lưu Quan chứ không dùng Thổ quan nữa: Thanh Sơn, Thanh Thủy, Yên Lập, Ninh Biên, Tuần Giáo, Lai, Phù Yên, Mộc, Đà Bắc, Mai, Mai Sơn, Yên, Văn Chấn, Trấn Yên, Văn Bàn, Thủy Vĩ, Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai.

Có lẽ triều đình muốn để họ kiềm chế lẫn nhau và cũng muốn “biến nơi lạc hậu thành văn minh”, không nỡ coi họ là dân chưa thuần giáo mãi. Vả lại, miền biên viễn lam chướng độc hại, trước nay các Lưu quan đưa lên bị ốm chết đến quá nửa. Năm Tự Đức thứ 8 [1855], các châu Phù Yên, Mai Sơn lại đặt Thổ quan. Triều đình lại cũng không nỡ đày ải các sĩ phu vô tội tới những nơi thập tử nhất sinh như thế”.

Thực ra, như đã dẫn ở trên, việc đặt chế độ Lưu quan trở lại diễn ra sớm hơn những điều Phạm Thân Duật dẫn ra tới 4 năm và không phải do sự kiện nổi dậy của Đinh Công Tiến, Nùng Văn Vân là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc thực thi chủ trương này.

Phải thấy rằng, trong hoài niệm của người Mường, người Thái cũng như một số dân tộc khác ở Tây Bắc và Việt Bắc, trong suốt 400 năm tồn tại, nhà Lê đã để lại những tình cảm tốt đẹp, nhất là trong hàng ngũ Phụ Đạo, Tù Trưởng, Phìa Tạo, Lang Đạo. Nhà Tây Sơn rồi đến nhà Nguyễn, do sự kiểm soát chặt chẽ, thuế khóa ngày một nặng nề nên dù vẫn ưu đãi tầng lớp quý tộc nhưng không cản ngăn được sự chống đối phản kháng của nhân dân. Năm 1808, Thổ Tù Quách Tất Thúc nổi dậy ở Sơn Âm (Phụng Hóa) phối hợp với lực lượng của Đặng Trần Siêu ở Mỹ Lương chống lại nhà Nguyễn trong suốt 11 năm trời, cuối cùng nhà Nguyễn vẫn phải chấp nhận để các con trai của Quách Tất Thúc là Quách Tất Công, Quách Tất Tại được làm Phòng ngự Thiêm sự theo quân thứ của Lê Văn Duyệt, được trông coi 4 xã Sơn Âm, Châu Lại, Trường Môn, Bằng Lương và đồn bảo Chi Nê.

Tháng 12-1826, Thổ Tù châu Đà Bắc là Xa Văn Nhị tập hợp lực lượng, bắt giữ người công sai, định giữ châu để nổi dậy. Khi đó, Xa Văn Nhị tôn một người trong tôn thất nhà Lê là Lê Duy Khương làm Minh chủ, phong Mai Đình Khuê làm Thượng đạo Thống lĩnh, mở rộng địa bàn hoạt động đến các huyện Hoa Khê, Tam Nông trấn Sơn Tây. Triều đình cho quan Trấn thành quản lĩnh binh lính, phát hịch kêu gọi Thổ Mục, Thổ Binh các châu đến đánh bắt. Quan hạt Ninh Bình thấy vùng thượng du tiếp giáp với địa bàn hoạt động của Xa Văn Nhị – Lê Duy Khương lấy làm lo ngại, báo cho Án sát trấn Thanh Hoa là Tôn Thất Dịch rồi đem binh và voi đi kinh lược địa hạt; truyền hịch sai Thổ Ty, Thổ Mục các châu huyện đóng chặn vùng Thạch Bi thuộc huyện Lạc thổ, phái 200 biền binh theo Quản phủ Thiên Quan đóng giữ bảo Lãng Phong, Trấn thủ Hưng Hóa là Phan Bá Phụng tấn công vào sào huyệt của Lê Duy Khương ở Hoa Khê, Tam Nông.

Tháng 4-1827, Xa Văn Nhị trốn vào rừng núi. Hiệp trấn Hưng Hóa bị cách là Trần Văn Thông cùng với văn võ của thành phái đi, đem quân dò xét, bắt được cả hai cha con Xa Văn Nhị, Mai Đình Khuê cùng nhiều thủ lĩnh khác giải về Bắc thành.

Đầu năm 1833, Quách Tất Công, Quách Tất Tại từ Sơn Âm đã cùng Quách Phúc Thành (Trung Hoàng), Cao Viết Biện (An Chí), Quách Đình Chi (Mỹ Lương) đã đưa Lê Duy Lương – hậu duệ của nhà Lê, làm Minh chủ, phát động cuộc khởi nghĩa Sơn Âm lần thứ 2. Ngay lập tức nghĩa quân nhận được sự ủng hộ của các Lang Đạo Thạch Bi như Đinh Thế Sang, Đinh Công Trinh, Đinh Công Tiến kiểm soát một vùng rộng lớn thuộc các huyện Lạc Thổ, Phụng Hóa, An Hóa, Đà Bắc, Mai Châu, Mộc Châu. Năm 1836, Lê Duy Lương bị bắt, họ lại tiếp tục suy tôn Lê Duy Hiển và duy trì phong trào Phù Lê diệt Nguyễn đến tận năm 1838.

Để trả thủ các Lang Đạo và các làng xã đã hết lòng ủng hộ cuộc nổi dậy, Minh Mệnh cho xóa tên các vùng Sơn Âm, Thạch Bi và đuổi dân chúng phiêu bạt. Đến nỗi vào năm 1839 khi đi tìm hiểu về dân tình trong hạt, Hộ phủ Hưng Hóa Nguy Khắc Tuần đã phải thỉnh ân: “Một dải Phù Hoa, Đà Bắc, Mộc Châu, Yên Châu, thuộc hạt, 2 bờ tả, hữu sông Đà, nguyên có nhiều Thổ dân (tức người Mường) Thạch Bi tỉnh Ninh Bình ở tản, từ trước đến nay không biên vào sổ, xin kiểm số người, ít thì cho thuộc vào sở tại, nhiều thì lập thành xã thôn khác, biên vào sổ bắt đầu thu thuế, cho có thống trị”.

Vua bảo rằng: “Nay nên chuyển sức các viên Tri châu, phàm Thổ dân ở Thạch Bi đến ngụ ở bờ sông, thuộc phận châu nào, số nhân khẩu từ 19 người trở xuống, sáp nhập vào thổ dân sở tại, từ 20 người trở lên, cho biệt lập thành xã thôn, để dần dần đổi thói người Thổ theo thói người Kinh, rồi chọn đặt Lý trưởng, lệ thuộc vào viên Tri châu quản trị, bắt đầu thu thuế từ năm nay. Quan tỉnh ấy tìm xét ra số đinh cộng trên 360 người, tâu xin theo dụ làm việc”. Vua y cho.

Để hiểu rõ hơn về thời điểm khốc liệt trong lịch sử tranh đấu của người Mường hồi đầu thời Nguyễn, xin đọc thêm Pierre Grossin:

“Khi nhà Tây Sơn lên ngôi thì các Thổ Lang, Thổ Ty và Phụ Đạo phải đích thân vào lạy mừng nhà vua. Các tước hiệu và thưởng vật như thời Lê cũng được ban cho họ. Có điều là các Thổ Lang và Phụ Đạo phải đóng quân ở những nơi hiểm yếu để đương đầu với quân nhà Nguyễn. Rất nhiều Thổ Lang đã theo về nhà Nguyễn.

Dưới thời Thế tổ Cao hoàng đế, các Thổ Lang, Thổ Ty và Phụ Đạo ở khắp nước đã vào lạy mừng nhà vua, vua ban thưởng cho họ các tước hiệu và đặc ân như thời Lê.

Năm thứ 14 triều Minh Mạng, Tả quân [Lê Văn] Duyệt đã xúi giục các Thổ Lang nổi loạn. Thổ Lang làng Sơn Âm, làng Yên Lương (tổng Chiêm Hóa, châu Lạc Thủy) là Quách Tất Công đã xúi giục tất cả những người cùng phe cánh là các Thổ Lang ở Lạc Sơn, Quảng Tô và ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn lập các đội quân nổi loạn, dưới sự chỉ huy của Quách Tất Công để chống lại Chính phủ Nam triều, tái lập nhà Lê cho một người con cháu của nhà hậu Lê là Lê Duy Lương đang ẩn náu ở vùng Lạc Sơn. Triều đình liền cử Hà Duy Phiên làm Chánh khâm sai và Tạ Quang Cự làm Phó khâm sai. Họ chỉ huy quân lính, đóng trị ở Mường Sùa (làng Định Cư) và đã bắt được Quách Tất Công và viên Thổ Lang của Mường Bi.

Lê Duy Lương, Lê Duy Hiển và tay chân đều về quy thuận. Những người đứng đầu quân phiến loạn thì bị giải về kinh. Sau vụ khởi loạn này, nhà vua đã tước bỏ mọi đặc ân, đặc quyền của các Thổ Lang và Phụ Đạo, song dân chúng vẫn theo họ như trước đây. Dân chúng còn che chở và giấu các con Quan Lang vào rừng.

Năm thứ 18 triều Minh Mạng, châu Lạc Sơn gồm 24 làng, nhưng những xóm của các làng lớn lại bị chia nhỏ ra, do đó châu này gồm 50 làng. Tất cả dân chúng làng Sơn Âm đều bị đuổi đi. Về sau, viên Tuần phủ Ninh Bình là Tôn Thất Tịnh làm sớ tâu vua, xin cho dân làng Sơn Âm trước kia được trở về làng cũ. Nhưng Chính phủ Nam triều từ chối. Tôn Thất Tịnh bèn dùng mưu. Sau khi dặn dân chúng mượn họ tên vùng xuôi, ông ta lập tờ tấu dâng vua xin cho họ được tạm thời dùng đất đai làng Sơn Âm, lấy cớ rằng làng họ dân đông, ruộng ít, không đủ sống. Lời thỉnh cầu được chấp thuận, do vậy mà dân làng Sơn Âm trước kia lại được trở về làng cũ. Để ghi nhớ việc làm này, dân Sơn Âm và Chiêm Hóa xin với Tôn Thất Tịnh cho được mang họ ông và lập ông làm thần hoàng của làng họ. Sự kiện này ngày nay vẫn còn.

Khi Tự Đức lên ngôi, có tờ chiếu phục hồi các đặc ân, đặc quyền cũ cho các Thổ Lang. Họ còn được ban thưởng các chức Lãnh binh, Hiệp quản, Phó cơ, Suất đội”[13].

Ngoài việc cho khôi phục lại chế độ Thổ Ty, vào năm Tự Đức thứ 6 (1853) vì vua này còn cho cắt 3 xã Cao Phong, Thạch Yên và Quỳnh Lâm từ huyện Thanh Thủy tỉnh Hưng Hóa lập thành tổng Cao Phong cho thuộc về huyện Bất Bạt. Theo Phạm Thận Duật, Thổ binh ở tổng Cao Phong huyện Thanh Thủy rất thiện xạ, từ đời Lê về sau, hễ có việc ở biên giới, nhiều người đắc dụng. Nay tổng ấy đã chia về huyện Bất Bạt thuộc Sơn Tây. Quách Trù trong Hòa Bình Quan Lang sử lược ca âm cho biết, Gia Long dựng nghiệp bản triều/ Bao nhiêu Lang Đạo đều theo phục hàng/Lại cho nguyên giữ chức quan/ Theo Lê triều mấy Tây Sơn điển tiền/Tính từ Minh Mạng sơ niên/đồng thời diệt chủng chúa Chiêm bấy giờ/Cấm không cho gọi Thổ Tù/Thổ Ty cải hiệu trao cho chức liền/Đến sau mười tám năm truyền/Hậu Lê có kẻ nổi lên hành cường/Đầu trò tên gọi Duy Lương/Âm mưu dụ các dân Mường Thổ Ty/Đồng tình phản đối vi phi/Cử binh cũng đã có khi công thành/Cũng nhiều mối dự mưu danh/Bỗng đâu có Chỉ triều đình giáng ban/Họ Hà tên gọi Duy Phiên/Đại thần vâng lệnh triều ban tiễu trừ/Đảng gian chém hết đầu trò/Dòng Lang lây cũng phải lo chu toàn/Phạm đồ nặng nhất Lạc Sơn/chia năm mươi xã dân gian những ngày/Giả Lang nên kén đến rầy/Vì chưng chuyn nể hóa gây nên người/Còn đương truy nã tơi bời/Đưa Lang đi dấu mọi nơi lâm tuyền/Sau này Tự Đức niên gian/Mông ân đại xá tiền khiên đến rầy/Dòng Lang nhờ được sau này/Cứ y nghiệp cựu đến nay còn truyền/Cải cho Thổ Mục là tên/Lãnh binh, Hiệp quản chức ban triều thần/Phó cơ, Suất đội lên dần/Quyền cho quản suất Mường dân đi về/Như quan Phó Lãnh Thạch Bi/Vĩnh Đồng khi ấy chức thì Phó cơ/Còn câu binh ngạch bấy giờ/Thất đinh thủ nhất vẫn nhờ đến nay/Phòng khi động sau này/Cho theo Lê cũ từ ngày Tiền Lê/Dù ai tình nguyện cũng tùy/Chiểu trong thân thuế cũng y nửa tiền.

Căn cứ vào các tài liệu thành văn (Chúc thư của họ Xa ở động Đà Lý lập năm 1471, Gia phả họ Quách ở Kim Bôi viết hồi thế kỷ XVIII, Lai lịch dòng họ Hà Công, Chia bản chia mường, Lê mường ở Mai Châu được viết từ cuối thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII) ta có thể dựng lại phác đồ về bộ máy quản lý hành chính ở các khu vực hợp nên tỉnh Hòa Bình từ đầu thời Lê đến đầu thời Nguyễn như sau:

xu muong 1.png

  1. THỜI PHÁP THUỘC

Tháng 3-1883 thực dân Pháp tiến hành cuộc xâm lược Bắc Kỳ lần thứ 2. Kể từ mùa xuân năm 1884, chúng lần lượt làm chủ các tỉnh Ninh Bình, Sơn Tây, Hưng Hóa, bắt đầu tính toán đến việc thực thi nền thống trị lâu dài lên các vùng đất mới chiếm. Sự kiện tạm thời chấp nhận quyền tự quyết về mặt quân sự cho vùng Mường theo Quyết định của Tổng Thú sứ Trung Bắc Kỳ Paul Bert ngày 24-5-1886 đã mở đường cho đề nghị của Kinh lược sứ Bắc Kỳ Nguyễn Trọng Hợp ngày 22-6-1886 về việc thành lập tỉnh Mường nhờ đó trở thành hiện thực tại vùng tam giác điểm Ninh Bình, Sơn Tây, Hưng Hóa và đây chính là đột phá khẩu mở ra quá trình chia sẻ tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây thành các mảnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên kéo dài suốt mấy chục năm về sau.

Ngày 29-11-1886, Moulier được cử là Phó Công sứ phụ trách tỉnh Mường, giúp việc có Laure – Chỉ huy Đại đội lính Mường danh dự. Đến tháng 5-1887, 4 Trung đoàn lính Mường được thành lập – trong đó 2 Trung đoàn đóng ở Mỹ Đức do viên Chánh Lãnh binh người Mường chỉ huy. Mặc dù tỉnh Mường đã ra đời nhưng các viên Tuần phủ đứng đầu tỉnh Ninh Bình, Sơn Tây và viên Quản đạo Mỹ Đức không muốn bàn giao lãnh thổ và cũng như quyền hạn cai quản, đòi đổi các phủ Vạn An, Lạc Sơn, Lương Sơn và Chợ Bờ thành các đạo, theo đó mỗi đạo có 1 Quản đạo, 2 – 3 Phó Quản đạo còn tỉnh Mường có Đè đốc, Án sát cai quản. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên thừa nhận thực tế này:

“Năm Đồng Khánh thứ 3 [1888] chuẩn y bản tâu: Kinh lược sứ Bắc Kỳ dâng sớ xin đặt ở tỉnh Phương Lâm một Ngũ châu Đề đốc, một Án sát sứ; ở vùng Thổ dân [tức vùng người Mường] Sơn Tây đặt một Quản đạo, hai Phó Quản đạo; ở vùng Thổ dân [tức vùng người Mường] Ninh Bình đặt một Quản đạo, ba Phó Quản đạo; ở vùng Thổ dân [tức vùng người Mường] Mỹ Đức đặt một Quản đạo, một Phó Quản đạo”[14].

Tình trạng này trong thực tế chỉ tồn tại ít tháng và kết thúc vào giữa năm 1888 khi người Pháp xác lập xong hệ thống đồn binh ở Thạch Bi, Hoài An, Mai Châu, Suối Rút, Yên Lãng, Tu Vũ, Tu Lý. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên cho biết thêm:

“Năm Đồng Khánh thứ 3 [1888]. Kinh lược sứ Bắc Kỳ dâng sớ trình xin đổi đạo Mỹ Đức thành phủ Mỹ Đức… còn 3 tổng Bái Thượng, Văn La, Quảng Bi thuộc huyện Chương Mỹ hợp với 7 tổng Lương Xá, Chúc Sơn, Mỹ Lương, Cao Bộ, Dã Cát, Phương Hanh, An Kiện thuộc huyện Mỹ Lương sáp nhập vào huyện Chương Đức đổi tên thành huyện Chương Mỹ cũng thuộc sự cai quản của phủ mới tất cả đều thuộc tỉnh Hà Nội”[15].

Còn Đại Nam thực lục, chính biên, Đệ lục Kỷ – Q.IX. Thực lục về Cảnh tông hoàng đế cho biết thêm: “Tháng 3 [Mậu Tý, Đồng Khánh 3 – tức tháng 4-1888] đặt tỉnh Phương Lâm ở Bắc Kỳ. Nguyên Nghị định của viên Toàn quyền Paul Bert các Man, Thổ đặt làm một tỉnh. Đến nay đặt Công sứ ở xã Phương Lâm huyện Bất Bạt; trích đem các hạt thuộc tỉnh Sơn Tây, đạo Mỹ Đức, tỉnh Ninh Bình phân những dân thuộc Man, Thổ do quan Công sứ quản trị, gọi là tỉnh Phương Lâm, đặt Ngũ châu Đề đốc 1 viên, Án sát 1 viên, thống trị Man, Thổ 3 tỉnh, đạo; Quản đạo 3 viên (mỗi tỉnh, đạo đều 1 viên), Phó Quản đạo 6 viên (mỗi tỉnh, đạo đều 2 viên) chia trị Nam, Thổ 3 tỉnh, đạo, Cộng 11 viên, Nha Kinh lược đem việc ấy làm Tập tấu lên. Vua chuẩn y”[16].

Vào khoảng cuối năm 1888, bộ máy cai trị từ tỉnh xuống đến châu, mường của tỉnh Hòa Bình đi dần vào ổn định nhằm phục vụ ngày một tốt hơn công việc áp bức về chính trị, khai thác bóc lột về kinh tế.

Đứng đầu tỉnh là Tòa Công sứ (Résidence) đặt ở Tỉnh lỵ do viên Công sứ (Administrateur – Résidence) điều khiển, nắm cả quyền hành pháp lẫn tư pháp. Trong danh sách các quan trị nhậm lúc đầu là các Phó Công sứ (Vice Résidence) như Moulier, J. Morel, Rougery. Đến tận tháng 3-1891, Tòa Công sứ của tỉnh mới chính thức có Công sứ là De Goy (3-1891 đến 5-1891),Genella (5-1891 đến hết 1899), Ferrand – Công sứ, Bonnet – Phó Công sứ (1900 – 1901), Lévy – Công sứ, Bonnet – Phó Công sứ (1902), Wulfingh – Công sứ, Poirier – Phó Công sứ (1903 – ? đến 1905 Nicolle thay Poirier làm Phó Công sứ), Richard – Công sứ (1910 – 1911), Fitz – Patrick (1912 – ?), M. Collet – Công sứ, Passano – Phó Công sứ (1924 – 1925), Henry Pleury – Công sứ (1926 – 1927), Leon J. Tustes (1928 – 1929)… Trong khoảng thời gian từ tháng 9-1891 đến tháng 1-1894, ngoài Công sứ, Phó Công sứ còn có sự hiện diện của Phái viên Chính phủ Vacle; từ tháng 1-1894, ông Guichard thay thế chức vụ này cho tới tháng 12-1899 chế độ Phái viên bị bãi bỏ. Ngoài ra, còn có một số viên chức người Pháp làm đại diện cho Tòa Công sứ Hòa Bình tại các Trung tâm hành chính đặt ở Chi Nê (Lạc Thủy – 1896), Hòa An (Lạc Sơn – 1899), vụ Bản (Lạc Sơn – 1925). Một số công việc như Thư ký, các Tùy phái thuộc các lĩnh vực văn thư, chạy giấy tờ, phiên dịch tiếng dân tộc, kế toán… được tuyển lựa người địa phương.

Nhà cầm quyền Pháp tổ chức bộ máy hành chính bản địa ở Hòa Bình có phần phức tạp và lúng túng, lúc đầu thiên về quân sự nhiều hơn như cấp tỉnh có Ngũ châu Đề đốc, Át sát; dưới tỉnh có các đạo với Quản đạo và Phó Quản đạo. Từ cuối năm 1888, bộ máy hành chính cấp tỉnh mới mô phỏng như vùng người Kinh chuyển chức Ngũ châu Đề đốc thành Tuần phủ và giao cho Đinh Tộ nắm giữ để cùng Án sát Đinh Công Nhung cai quản, giúp người Pháp đối phó với sự chống đối của Đốc Tam ở Mường Đúp, Tri châu Yên Thủy là Quách Bằng ở Mường Văn, Hiệp Đính và Hiệp Đăng – con trai của Hoàng Công Bôi ở Kỳ Sơn, Đinh Công Uy ở Mộc Hóa. Trước sự phản kháng mạnh mẽ của các Quan Lang, tháng 2-1890 nhà cầm quyền Pháp muốn sáp nhập tỉnh Mường vào tỉnh Vạn Bú, tách vùng Mỹ Đức về Sơn Tây nhưng vấp phải sự phản đối quyết liệt của Phó Công sứ J. Morel và Án sát Đinh Công Nhung.

Tháng 8-1890, Tuần phủ Đinh Tộ từ chức, người Pháp bèn đưa Đinh Văn Vinh, người Mường lai Kinh, quê ở Ba Vì – Sơn Tây, cựu Tuần phủ Hưng Hóa lên thay. Một thời gian sau, Đinh Công Nhung – người đã từng giữ chức Phó Quản đạo giữ chức Tuần phủ.

Tháng 4-1891, chính quyền Pháp đưa ra một đề án mới nhằm hoàn thiện bộ máy quản lý hành chính của tỉnh Hòa Bình. Theo đề án này, đứng đầu tỉnh có thể là Tuần phủ hoặc Chánh Quan Lang nhưng vấp phải sự phản ứng vì các Quan Lang cho rằng Chánh Quan Lang không phù hợp với địa vị thực tế của họ. Danh hiệu này chỉ phù hợp với các Quan Lang có thế lực. “Ngoài ra, trong tình hình thực tế về tổ chức của tỉnh, người ta tự hỏi rằng: chẳng biết chức vụ đó có thật cần thiết không, nếu như các Tri châu vẫn ở các châu nguyên quán của họ. Ở tỉnh Sơn La (sửa lại là Vạn Bú – nhưng tỉnh Vạn Bú mãi tháng 10-1895 mới thành lập và đến tháng 8-1904 tỉnh Vạn Bú mới đổi thành tỉnh Sơn La) không còn chức này. Vả chăng việc cũng qua rồi. Ông Đinh Công Nhung đã [đang] làm Tuần phủ tỉnh Mường”[17].

Ngày 23-6-1892, Toàn quyền Đông Dương De Lanessan ban hành Nghị định về tổ chức lại bộ máy hành chính của tỉnh Hòa Bình để bảo lưu được tính chất của người Mường, theo đó tại tỉnh lỵ sẽ có một Chánh Quan Lang, đại diện người Mường toàn tỉnh đặt dưới sự chỉ đạo của viên Công sứ Pháp cùng với một Quan Lang phụ tá, một viên Đề đốc nắm lực lượng cảnh sát. Viên Quan Lang đại diện được chỉ định bởi một Hội đồng tỉnh Mường gồm 12 người, trong đó có 6 người còn lại do các Quan Lang bầu ra, mỗi người cai quản một châu trong tỉnh, 6 người còn lại do Phái viên Chính phủ lựa chọn và đề cử. Các ủy viên Hội đồng tỉnh Mường không có lương bổng mà chỉ có tước vị.

Việc đề cử viên Quan Lang đại diện, viên Quan Lang phụ tá và viên Đề đốc do Thống sứ Bắc Kỳ xét duyệt. Hội đồng tỉnh Mường đặt dưới sự chủ trì của Phái viên Chính phủ đặc biệt chăm lo mọi công việc về chính trị, tư pháp trong tỉnh. Việc thu thuế sau vụ gặt do các Quan Lang đảm nhiệm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phái viên Chính phủ, thay vào việc thu thuế thân và thuế điền thổ. Lỵ sở hành chính của tỉnh và Hội đồng tỉnh Mường vẫn đặt ở Chợ Bờ.

Đại Nam thực lục, Chính biên, Đệ lục kỷ Phụ biên ghi nhận sự kiện này như sau: “Đổi đặt quan lại tỉnh Phương Lâm (Quan Lang Chánh, Phó và Đề đốc mỗi chức một người, đổi hai huyện Lạc Thủy, Cơ Thủy [có lẽ là Lạc Sơn thì đúng hơn], phủ Lương Sơn thuộc tỉnh làm châu. Lại đặt hội viên [Hội đồng tỉnh Mường], chọn Quan Lang trong hạt bổ vào. Ấn triện của Tuần phủ, Án sát và phủ huyện trước đó do Nha Kinh lược [thu lại] nạp về [Kinh] là theo lời bàn của Toàn quyền Đại thần De Lanessan”.

Như vậy, sự thay đổi về bộ máy quản lý hành chính nếu có trong khu vực người Mường chỉ diễn ra ở cấp tỉnh và cấp châu và diễn ra trong thời gian không dài, đó là điều đương nhiên. Nó đương nhiên vì trong vùng người Mường khi đã có đơn vị hành chính cấp tỉnh cũng như cấp châu của riêng họ, cho nên phải có bộ máy quản lý riêng biệt. Bước đột phá này nằm ở khía cạnh khác và ngoài ý muốn. Ở cấp làng xã thì hầu như không có biến động gì lớn, ngoại trừ việc xuất hiện thêm tổng, xã và vì thế có thêm tầng lớp Tổng, Lý. Nói như Pierre Grossin thì Quan Lang đặt ra luật lệ và quyền lực của ông ta là tuyệt đối. Cũng chẳng cần có bộ luật nào cả. Cứ phỏng theo tục lệ, Quan Lang xét xử theo ý mình các vụ tranh giành đã được trình lên ông ta. Việc bắt giam chẳng cần có trát. Một Quan Lang bị đem ra xét xử do một Hội đồng Quan Lang tiến hành. Các làng Mường vẫn bảo lưu cách tổ chức như sau:

1- Viên Quan Lang là người đứng đầu, một ông chủ có uy quyền tuyệt đối.

2- Một hoặc hai Ậu Gia, phụ tá của Quan Lang, nhận lệnh của Quan Lang và bắt người dân phải thi hành lệnh đó.

3- Một Cai Nhất trông coi gia đình Quan Lang và tiếp đón khách khứa.

4- Một Cai Nhì nấu cơm cho khách.

5- Dân chúng trong làng.

Trong cung cách làm việc thì Quan Lang và Ậu Gia chẳng bao giờ lo toan đến công việc của làng bản. Việc này do Cai Nhất và Cai Nhì đảm đương.

Việc coi sóc bản làng được giao cho một Cai Điếm.

Về nguyên tắc thì ít nhất nhà cầm quyền Pháp, qua mối quan hệ với các làng, cũng chỉ biết đến các Lý trưởng và Phó lý.

Trong các làng Mường, Lý trưởng và Phó lý được trọng vọng hơn Cai Nhất, Cai Nhì, nhưng họ lại thấp hơn Quan Lang và Ậu Gia là những kẻ chỉ huy họ và “có thể đánh đập họ”.

Nếu một Quan Lang làm tròn chức trách của người đứng đầu làng bản thì ông ta được mọi người quý trọng hơn các Quan Lang trong vùng. Nhưng nếu người đứng đầu làng bản lại là thường dân thì hắn còn đứng dưới Quan Lang.

Cho nên quyền lực của các Quan Lang là tuyệt đối. Rất khó mà xác định được mối quan hệ của các Quan Lang đối với các quan chức người Kinh và quan chức của nhà nước bảo hộ.

Như chúng ta đã thấy, về nguyên tắc thì các Tổng Lý chẳng có vai vế gì, nếu như họ không phải là Quan Lang. Ở châu Lạc Sơn có một Quan Lang có thế lực, nắm giữ tại nhà riêng tất cả các con dấu hành chính của các viên Lý trưởng.

Về vấn đề ruộng đất dưới thời Pháp thuộc trong vùng người Mường tỉnh Hòa Bình cũng không thấy xuất hiện những vấn đề căng thẳng và nhức nhối, đại để như sau:

1- Ruộng đất riêng của dân chúng gọi là tư điền. Quan Lang không được chiếm đoạt, không được đem bán, không được lấy tài sản của họ để mà gán cho gia đình khác.

2- Phần đất đai khai phá được hoặc đất được phân phong của người đứng đầu một làng bản (gọi là Lang điền) có giá trị hay không tùy thuộc ở số đất trồng trọt nhiều hay ít; phần đất này có thể bị tước trong trường hợp Quan Lang bị truất quyền, có thể bị bán đứt hay nhượng lại. Ví dụ năm 1893, ruộng đất được phân phong (ruộng lẽ, ruộng cả) của Đinh Công Ước về tay Đinh Công Xuân (lên thay và được cử làm Quan Lang). Những ruộng khác, gọi là ruộng thi, do Ước chiếm giữ, coi như tài sản công thì được đem chia cho các kỳ mục. Năm 1913, làng Thạch Yên thay đổi Quan Lang, ruộng nương gắn liền với chức vụ của Thổ Lang cũ được trao cho Thổ Lang mới.

3- Ruộng công chia cho các kỳ mục, cho dân thuê mà hoa lợi thu được dành cho việc thờ cúng, thì nay ruộng công đó giao cho binh lính đang tại ngũ. Những tài sản này cũng bao gồm cả đất chưa khai phá, các khoảnh rừng ở gần làng.

4- Những đất đai chưa khai phá, không dùng đến như bãi cỏ, thì có thể nhường lại cho người khác. Trong một biên bản năm 1905 chỉ thấy có một Quan Lang đòi lại đất đai đó, làm như tài sản của mình, còn phần lớn các Quan Lang coi đó là của công.

5- Các rừng thì ai muốn làm gì cũng được, chẳng thuộc quyền sở hữu của ai cả.

Vậy thì không có luật nào nói về toàn bộ quyền sở hữu của Quan Lang trên tất cả đất đai trong làng bản. Theo tục lệ thì quyền sở hữu này là không có. Chính chúng ta [người Pháp] đã gây ra sự nhầm lẫn này[18].

Theo Trần Từ (Nguyễn Từ Chi), ở Mường Động cũ, một mường đã tan rã đến mức cao từ trước 1945, quyền lực của Chiềng cũng như của chi nhánh Lang nắm Chiềng, không còn được các Lang ngoài Chiềng chấp nhận nữa. Vài làng thuộc loại đó vẫn do Lang Đạo quản, dù cho các Lang ấy không còn phụ thuộc vào Lang Cun nắm Chiềng. Còn ở đại đa số làng thì cả Lang Đạo cũng không còn và Ruộng Lang tất nhiên cũng vậy: ruộng nước ở đây đều là ruộng công hay ruộng dân, mà mỗi khẩu phần như ta đã biết thuộc quyền sử dụng của một hộ bình dân, hộ họ Bùi. Không có Lang Đạo cầm đầu nữa, mỗi làng trong số ấy được đặt dưới quyền quản lý của một Ậu Đạo cũng họ Bùi như người thuộc các họ khác trong làng. Ậu Đạo cũng chỉ được hưởng một phần ruộng công hay ruộng dân như mọi chủ hộ khác cùng làng mà thôi nhưng có trội hơn về diện tích và năng suất[19].

Kể từ khi có Hội đồng tỉnh Mường, lần lượt Đinh Công Xiển, Quách Vị, Đinh Công Thịnh, Đinh Công Nhung, Đinh Công Xuân giữ chức ChánhQuan Lang; Đinh Tộ và Quách Cao giữ chức Đề đốc. Năm 1930, Hội đồng tỉnh Mường giải thể, nhiều quan lại người Kinh được đưa vào chức vụ Tuần phủ tỉnh Hòa Bình. Vai trò của hàng ngũ Quan Lang ngày càng suy yếu ở địa phương. Viết về giai đoạn này, tác giả Hòa Bình Quan Lang sử lược ca âm cho biết, Có Tòa Thủ hiến [tức Tòa Công sứ] quan cư/Quyền coi cai trị công tư dân Mường/Nhất quan Tuần phủ chính Lang/Chức quan Án sát chủ trương đứng đầu/Dưới thời Chánh, Phó Tri châu/Đó là chức trị trước sau dân Mường/Còn như các chức Thổ Lang/Lại cho khai phục chức thường trị dân.

Tại Đà Bắc và Mai Châu, địa bàn cư trú chủ yếu của người Thái, các Tri châu đều hoạt động dưới sự điều khiển và giám sát của Tòa Công sứ: Giúp việc cho Tri châu là một Châu úy cùng một Thừa phái quán xuyến việc trông coi và giữ gìn an ninh trên sông Đà. Cấp dưới châu là mường, bản. Đứng đầu một mường là Phìa Lý, giúp việc có một Phìa Phó và các Đại kỳ mục, Tiểu kỳ mục. Ở những vùng xa lỵ sở của mường thì cứ 10 bản bầu ra một Tạo và một số kỳ mục giúp việc. Đứng đầu mỗi bản là một Quan bản.

Hình hài của bộ máy quản lý hành chính theo cấu trúc tổ chức xã cổ truyền chỉ còn phảng phất một cách mờ nhạt, hư ảo. Khi cái mô hình Xứ Mường tự trị, Xứ Thái tự trị được cố tạo ra, nó lóe lên như chớp ảnh rồi lụi tàn, tan rã hoàn toàn. Đó là một hiện thực của lịch sử trên đất Hòa Bình.


 

Chú thích:

[1].Pierre Grossin: Tỉnh Mường Hòa Bình, Sđd, tr. 29.

[2].Pierre Grossin: Tỉnh Mường Hòa Bình, Sđd, tr. 29-30. Ở đây tác giả chuyển dịch Nhất thế vi vương, vạn đại vi Man phương Tù Trưởng có phần sai lạc vì ý đoạnnày là họ Đinh [tuy chỉ] một đời được làm vua [cha con Đinh Bộ Lĩnh] nhưng muôn đời sẽ là Lang Đạo trong vùng.

[3].Thác Long Thủy tức Thác Bờ.

[4].Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Thời đại, 2013, tr. 211-212.

[5].Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chép là Trịnh Giống Mật.

[6].Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Sđd, tr. 67; Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 1, Sđd, tr. 489.

[7].Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Sđd, tr. 321.

[8], 2.Hồ Bạch Thảo (dịch và hiệu đính). Minh Thực lục. Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam thế kỷ XIV – XVII, tập 2, Nxb. Hà Nội, tr. 51, 52, 81.

[9].Quốc triều hình luật (Luật hình nhà Lê), Viện Sử học và Nxb Pháp lý ấn hành, Hà Nội, 1991, tr. 47.

[10], 3.Phan Hữu Dật – Lâm Bá Nam: Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong kiến Việt Nam (X – XIX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 43-46.

[11].Pierre Grossin: Tỉnh Mường Hòa Bình, Sđd, tr. 30-32.

[12].Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục, Nxb. Văn hóa thông tin, 2007, tr. 358-359.

[13].Pierre Grossin: Tỉnh Mường Hòa Bình, Sđd, tr. 32-34.

[14].Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên (KĐĐNHĐSLTB), tập 2, Nxb. Giáo dục, 2004, tr. 18.

[15].Quốc sử quán triều Nguyễn; KĐĐNHĐSLTB,Sđd, tr. 22.

[16].Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập chín, Nxb. Giáo dục, 2006, tr. 407.

[17].Pierre Grossin: Tỉnh Mường Hòa Bình, Sđd, tr. 55.

[18].Pierre Grossin: Tỉnh Mường Hòa Bình, Sđd, tr. 81-82.

[19].Trần Từ: Người Mường ở Hòa Bình, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, 1996, tr. 50.

Advertisements

One thought on “Bộ máy quản lí hành chính dưới chế độ xưa tại tỉnh Mường Hòa Bình

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s