Vua Louis 14 của Nước Pháp

Phạm Văn Tuấn

Louis_XIV

Vào ban đêm trước ngày lễ Thánh Bartholomew trong tháng 8 năm 1572, hoàng hậu Catherine de Medici theo đạo Cơ Đốc (Catholic) đã ra lệnh phục kích các nhà lãnh đạo Tin Lành (Protestant) người Pháp nhân dịp những người này tới thành phố Paris dự một lễ cưới. Trong nhiều giờ đêm hôm đó, các người bị theo dõi kể trên đã bị đánh thức dậy, bị đâm chết, xác của họ bị ném qua cửa sổ. Chẳng bao lâu, tất cả các người Tin Lành đều bị tàn sát, nhưng cảnh chém giết này chưa chấm dứt bởi vì còn có nhiều toán người theo đạo Cơ Đốc đi lang thang trong thành phố Paris, đã lợi dụng sự tàn sát được cho phép này để đâm chém các kẻ thù mà họ gặp đang đi lại trên đường phố, dù là người theo đạo Tin Lành hay không. Sáng ngày hôm sau, dòng sông Seine ngập đầy xác người và tại nhiều nơi có các giá treo cổ các nạn nhân. Sự kiện lịch sử này được gọi là Cuộc Tàn Sát vào ngày Thánh Bartholomew (the Massacre of St. Bartholomew’s Day). 

Sự việc tàn nhẫn và đáng tiếc kể trên không phải là một biến cố đơn lẻ mà đã khởi đầu một thế kỷ gồm các tàn sát tôn giáo, trong khoảng các năm từ 1560 tới 1660, trong đó các người khác tôn giáo đã giết hại lẫn nhau trên nhiều phần đất của châu Âu. Đồng thời với các bạo loạn tôn giáo còn xẩy ra các cuộc chiến tranh kéo dài, các khó khăn kinh tế, tất cả đã ảnh hưởng tới nền văn minh của châu Âu.

1/ Các hoàn cảnh kinh tế, tôn giáo và chính trị.

Gần một thế kỷ trước năm 1560, phần lớn châu Âu đã an hưởng một hoàn cảnh phát triển kinh tế đều đặn và sự tìm ra Tân Thế Giới có vẻ như hứa hẹn một nền thịnh vượng sắp đến. Thế nhưng, miền tây của châu Âu bắt đầu chịu cảnh lạm phát, chẳng hạn như giá lúa mạch tại miền Flanders lên cao gấp ba từ năm 1550 tới 1600, giá thực phẩm tại Paris lên gấp bốn trong khi vật giá tại nước Anh cũng tăng 100 phần trăm. Vài nhà sử học đã gọi sự tăng giá này là “cuộc cách mạng giá cả”.

Có hai lý do có thể cắt nghĩa sự lạm phát này. Thứ nhất là vấn đề dân số. Vào khoảng năm 1450 châu Âu có 50 triệu dân, đã tăng lên thành 90 triệu vào khoảng năm 1600, trong khi đó nguồn cung cấp thực phẩm của châu Âu không đổi thay bởi vì đã không có các cải tiến kỹ thuật nông nghiệp, giá tiền thực phẩm leo thang theo mức cầu. Lý do thứ hai là sự đổ về châu Âu số lượng bạc từ miền châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha. Vào khoảng năm 1560, một kỹ thuật khai mỏ bạc mới đã được sử dụng tại xứ Mexico và xứ Bolivia, khiến cho số lượng bạc chuyên chở về Tây Ban Nha quá nhiều. Trong 5 năm từ 1556 tới 1560, gần 10 triệu ducats bạc đã về xứ Tây Ban Nha qua cửa ngõ Seville, rồi số lượng này tăng gấp hai từ năm 1576 tới năm 1580 và gấp bốn từ 1591 tới năm 1595. Lượng bạc này đã được các nhà vua Tây Ban Nha trả nợ các nước ngoài và chi phí cho quân đội đồn trú tại hải ngoại trong khi đó các nhà buôn dùng bạc để nhập cảng các hàng hóa. Các thỏi bạc của Tây Ban Nha đã lưu hành trong khắp châu Âu, có nơi bạc được đúc thành các đồng tiền kim loại. Số lượng bạc quá lớn lưu hành đã làm cho giá hàng hóa leo thang khiến cho một du khách người Pháp đã phải ghi rằng tại xứ Tây Ban Nha vào năm 1603 “mọi thứ đều đắt lên ngoại trừ bạc”.

Trong hoàn cảnh kinh tế bất ổn này, các nhà buôn và các chủ đất được hưởng lợi nhất. Các nhà buôn đã tăng giá hàng tùy ý còn các chủ đất được lợi nhờ sản phẩm, hoặc do tăng giá tiền thuê đất trong khi giới lao động có lương bổng không theo kịp giá hàng, giá thực phẩm. Ngoài thảm họa như chiến tranh, nạn mất mùa còn khiến cho đám dân nghèo thêm khốn khổ. Nạn lạm phát đã làm giảm giá trị của đồng tiền, các chính quyền vì vậy đã phải tăng thuế đồng thời các cuộc chiến tranh càng trở nên tốn kém hơn. Việc tăng thuế đã làm dân chúng phẫn nộ, đặc biệt là giới dân nghèo. Dân chúng vào thời kỳ này phải chịu đựng nạn lạm phát, nạn vật giá gia tăng, nạn nạp thuế và nạn cướp bóc hôi của do nhiều loại binh lính tràn tới. Trong hoàn cảnh khó khăn này, các xung đột tôn giáo đã làm cho chiến tranh khó tránh khỏi bởi vì các người Cơ Đốc và Tin Lành đã coi lẫn nhau là thuộc hạ của quỷ Satan, không đáng sống trên thế gian, đáng bị tiêu diệt, đồng thời các chính quyền lại mong muốn sự thống nhất tôn giáo. Tại châu Âu vào thời kỳ này, các người quân phiệt theo đạo Calvin và theo dòng tu Dòng Tên (militant Calvinists and Jesuits) đều muốn lật đổ chính quyền khiến cho đã có các cuộc nội chiến địa phương rồi các thế lực nước ngoài muốn giúp đỡ các xứ đồng minh tôn giáo, làm cho thời kỳ từ năm 1560 tới năm 1660 là một trong các giai đoạn nhiều biến động nhất trong lịch sử của châu Âu.

2/ Nửa thế kỷ chiến tranh tôn giáo.

Vào đầu thập niên 1540, Hoàng Đế Charles V của Đế Quốc Thần Thánh La Mã (the Catholic Holy Roman Emperor) muốn thống nhất tôn giáo Cơ Đốc (Catholic unity) trên miền đất Đức, nên đã phát động cuộc tấn công các ông hoàng Đức nào đã duy trì đạo Lutheran trong lãnh thổ của mình. Do gây chiến cả với nước Pháp, Hoàng Đế Charles V đã không chiến thắng trong nước, các cuộc chiến tranh tôn giáo vẫn diễn ra tới khi cuộc dàn xếp được kết thúc bằng Thỏa Hiệp Hòa Bình Tôn Giáo tại Augsburg vào năm 1555 (the Religious Peace of Augsburg), với nguyên tắc “tôn giáo theo nhà cai trị” (cuius regio, eius religio = as the ruler, so the religion). Như vậy trong vương quốc của ông hoàng nào theo đạo Lutheran thì đạo giáo này (Lutheranism) là tôn giáo chính thức, đồng thời cùng nguyên tắc được áp dụng cho các vương quốc theo đạo Cơ Đốc. Thỏa Hiệp Hòa Bình Tôn Giáo Augsburg đã là một cột mốc theo đó các nhà cai trị Cơ Đốc lần đầu tiên công nhận tính hợp pháp của những người Tin Lành nhưng đồng thời sự bao dung tôn giáo chưa được tôn trọng. Các cuộc chiến tranh vì tôn giáo diễn ra tại châu Âu sau năm 1560 đã tàn ác hơn, một phần cũng vì các kẻ ngoan cố thuộc cả hai phe Calvinists và Jesuits đều trở nên cuồng tín hơn, một phần bởi vì các căm phẫn chính trị và kinh tế.

Do thành phố Geneva nằm tại biên giới của nước Pháp, do ông Calvin là một người gốc Pháp nên cũng muốn cải đạo miền đất tổ tiên, do các người Calvinists không muốn chiếm đất của người theo đạo Lutheran gốc Đức, nên các thảm cảnh chiến tranh đã diễn ra trên đất Pháp.

Từ khi ông Calvin nắm được quyền lực tại Geneva vào năm 1541 tới khi bùng nổ cuộc chiến tranh tôn giáo vào năm 1562, các nhà truyền giáo Calvinists đã hoạt động tích cực trên đất Pháp, đã cải đạo được nhiều phụ nữ quý tộc Pháp rồi các bà mệnh phụ này đã ảnh hưởng tới các ông chồng, là các ông hoàng đang duy trì các đạo quân tư lập. Một nhân vật điển hình nhất theo đạo mới là bà Jeanne d’Albret, hoàng hậu của vương quốc Navarre thuộc dãy núi Pyrenée và bà này đã điều khiển ông chồng là nhà quý tộc người Pháp Antoine de Bourbon và người em rể của bà là hoàng tử De Condé. Khi cuộc nội chiến xẩy ra vào năm 1562, hoàng tử De Condé chỉ huy đảng Huguenot của nước Pháp, rồi kế tiếp là Henry de Navarre, người con trai của bà Jeanne kể trên. Ngoài các nhà quý tộc cải theo đạo Tin Lành Calvin, còn có nhiều thành phần dân chúng, họ được gọi chung là sắc dân Huguenots, với lực lượng mạnh nhất tại miền nam của nước Pháp là nơi bất phục tùng nền cai trị của những người miền bắc thuộc thành phố Paris. Vào năm 1562, các người theo đạo Calvin chiếm từ 10 tới 20 phần trăm dân số, tức là vào khoảng 16 triệu dân, với số tín đồ đang gia tăng.

Vào thời kỳ này, cả người Cơ Đốc lẫn người Tin Lành đều cho rằng nước Pháp chỉ nên có một nhà vua, một niềm tin và một luật pháp, nên cuộc nội chiến khó lòng tránh khỏi. Năm 1562, hoàng tử De Condé thuộc phe Tin Lành Huguenot và hầu tước De Guise cực thiên Cơ Đốc (ultra-Catholic) đã tranh giành quyền kiểm soát chính quyền, đưa tới công việc võ trang chống đối. Thành phần tu sĩ thuộc cả hai phe đã xúi giục các đám dân phá phách các cộng đồng đối nghịch, cướp bóc các nhà thờ rồi sau một thời gian, phe Huguenot nhận thấy rằng họ không đủ đông, không đủ mạnh để chiến thắng đồng thời cũng không thể bị đánh bại, vì vậy sau các lần hoãn chiến từng đợt, cuộc nội chiến vì tôn giáo còn tiếp tục tới năm 1572, gây ra nhiều tổn thất nhân mạng và tài sản cho cả hai phe. Chính trong giai đoạn tạm hòa hoãn này, hoàng hậu Catherine de Medici đã âm mưu với phe hầu tước De Guise để giết sạch các nhà lãnh tụ Huguenots khi họ trở về thành phố Paris để tham dự đám cưới của hoàng tử Henry de Navarre.

Vào sáng sớm ngày 24 tháng 8 năm 1572, tức là ngày lễ Thánh Bartholomew, đa số các nhân vật Huguenots đã bị giết chết trên giường và từ 2,000 tới 3,000 người Tin Lành khác đã bị tàn sát trên đường phố Paris, bị ném xác xuống dòng sông Seine bởi các nhóm cuồng tín theo đạo Cơ Đốc. Khi tin tức của cuộc tàn sát tại Paris lan tới các tỉnh, đã có hàng chục ngàn người Huguenots khác bị đâm chém trong các cuộc khát máu trên toàn nước Pháp.
Sau cuộc tàn sát nhân ngày lễ Thánh Bartholomew, cuộc nội chiến vì tôn giáo tại nước Pháp vẫn tiếp tục do vua Henry III (trị vì 1574-1589) là người bất thường, đã xúi giục đám người Huguenots chống đa số người Cơ Đốc thuộc gia đình De Guise, do các người dân nổi lên chống các bất công về tiền thuế. Cuộc nội chiến này cuối cùng đã chấm dứt khi ông hoàng tinh khôn Henry de Navarre lên ngai vàng của nước Pháp và trở thành vua Henry IV (trị vì 1589-1610), khởi đầu triều đại Bourbon và dòng họ Bourbon này đã cai trị nước Pháp cho tới năm 1792.

Năm 1593, vua Henry IV từ bỏ đạo Tin Lành để làm hòa dịu với đa số người Cơ Đốc (Catholic) rồi tới năm 1598, nhà vua ban ra Sắc Lệnh Nantes (the Edict of Nantes) giới hạn nền tự do tôn giáo của các người Huguenots. Từ nay, đạo Cơ Đốc (Catholicism) được coi là tôn giáo chính thức của quốc gia trong khi các nhà quý tộc Huguenots được phép thực hành các nghi lễ Tin Lành một cách riêng tư trong các lâu đài của họ, các người Huguenots bình dân được thờ phượng tại các nơi đặc biệt bên ngoài thành phố Paris và bên ngoài địa phận của các giám mục và tổng giám mục cai quản, còn các đảng phái Huguenots có quyền võ trang khi có nhu cầu tự vệ. Như vậy Sắc Lệnh Nantes tuy không chủ trương tự do tuyệt đối về tôn giáo nhưng đã có chiều hướng bao dung (toleration). Sau khi nền hòa bình về tôn giáo được thiết lập, nước Pháp đã sớm phục hồi sau nhiều thập niên bị tàn phá và sau đó, vua Henry IV đã bị một người cuồng tín Cơ Đốc đâm chết vào năm 1610.

Vào đầu thế kỷ 17, cả hai nước Tây Ban Nha và Pháp cùng phát triển lãnh thổ theo cùng một cách thức. Hoàng gia Castilian chiếm được miền đất Aragon ở phương bắc, miền đất Granada ở phía nam trong khi vương quốc Pháp sát nhập các lãnh thổ như Languedoc, Dauphiné, Provence, Burgundy và Brittany. Những miền đất này muốn duy trì truyền thống độc lập địa phương nhưng chính quyền trung ương đã cai trị chặt chẽ hơn và đã thành công nhờ vào uy tín lớn lao của nhà vua và nhờ xứ sở Pháp có nhiều tài nguyên.

Vào các thời kỳ thanh bình, phần lớn dân chúng Pháp kính trọng nhà vua. Sau khi ban hành Sắc Lệnh Nantes, vua Henry IV là người vui tính, đã cố gắng mang lại nền thịnh vượng cho dân chúng sau hơn 4 thập niên nội chiến. Nhờ các tài nguyên phong phú, nước Pháp đã sớm thích nghi với các hoàn cảnh mới và đã xuất cảng được nông phẩm. Bộ trưởng tài chính của vua Henry IV là hầu tước De Sully đã cung cấp tài chính để làm các đường lộ, xây cầu, đào kênh, đồng thời đã cho phân phát nhiều tài liệu giảng dạy các kỹ thuật nông nghiệp. Ngoài ra vua Henry IV còn ra lệnh xây dựng các nhà máy thuộc hoàng gia để sản xuất các mặt hàng xa xỉ như thủy tinh, thảm dệt, đồng thời tại nhiều nơi trên đất nước Pháp, các kỹ nghệ dệt lụa, vải, len đã được khuyến khích. Dưới sự bảo trợ của nhà vua này, nhà thám hiểm Champlain đã qua Tân Thế Giới và nhận một phần đất Canada thuộc về chủ quyền của nước Pháp. Như vậy triều đại của vua Henry IV được kể như rất có công trong lịch sử của nước Pháp.

Nhân vật kế tiếp vua Henry IV cai trị nước Pháp là Hồng Y Richelieu (1585-1642) và nhờ vị hồng y này mà nước Pháp vẫn tiến bộ về phía trước. Hồng y Richelieu không phải là vua, mà là thủ tướng trong thời kỳ làm vua của người con trai bất tài của vua Henry IV là vua Louis 13. Từ năm 1624 tới khi qua đời vào năm 1642, hồng y Richelieu đã cai trị nước Pháp theo ý muốn của mình và muốn củng cố vương quyền trung ương và bành trướng các ảnh hưởng của nước Pháp qua khắp châu Âu.

Hồng y Richelieu tên thực là Armand Jean du Plessis, sinh tại Paris, đã dùng tên Richelieu là tên của miền đất của gia đình. Vào năm 1607, ông là giám mục Cơ Đốc tại Lucon, gần La Rochelle thuộc phía tây của nước Pháp. Tới năm 1614, ông được bầu làm đại biểu của khối tu sĩ trong Hội Đồng Lập Hiến Estates-General của nước Pháp rồi hai năm sau trở nên nhân viên của ủy ban cố vấn hoàng gia. Ông Richelieu được Giáo Hoàng Gregory XV phong hồng y vào năm 1622 rồi hai năm sau, ông trở thành thủ tướng, tức là người đứng đầu ủy ban cố vấn cho nhà vua. Hồng y Richelieu là người hiểu rõ chính trị, có tài thực hiện các chính sách của nhà vua. Khi các người Huguenots theo đạo Tin Lành nổi loạn chống lại các giới hạn do Sắc Lệnh Nantes, hồng y Richelieu đã đánh dẹp họ bằng bàn tay sắt. Vào năm 1627, hồng y Richelieu chỉ huy cuộc vây hãm thành La Rochelle là nơi các người theo đạo Tin Lành sinh sống tự trị rồi sau 14 tháng chiến đấu, thành La Rochelle phải đầu hàng vào tháng 10 năm 1628. Hồng y Richelieu đã bổ túc Sắc Lệnh kể trên vào năm 1629 bằng cách tước đoạt tất cả các quyền lợi chính trị và quân sự dành cho sắc dân Tin Lành.

Do các chiến dịch chống người Huguenots gây ra nhiều tốn kém, hồng y Richelieu đã làm tăng thêm lợi tức cho nhà vua bằng cách hủy bỏ quyền bán tự trị của các miền Burgundy, Dauphiné và Provence để cho chính quyền trung ương có thể đánh thuế trực tiếp các miền đất này. Về sau, để cho việc thu thuế được thêm hữu hiệu, hồng y Richelieu đã thiết lập ra một hệ thống chính quyền địa phương mới, cai trị do các nhân viên của hoàng gia, được gọi là các quản đốc (intendants). Nhờ các phương pháp tương tự, hồng y Richelieu đã khiến cho chính quyền tập trung nhiều hơn vào trung ương, giúp cho nước Pháp trở thành một lực lượng đứng đầu của châu Âu đồng thời lợi tức của hoàng gia cũng tăng gấp hai. Hồng y Richelieu là người sáng lập Hàn Lâm Viện Pháp, Trường Đại Học Sorbonne chuyên về thần học, đã góp công vào việc thiết lập Hải Quân Pháp và bành trướng các hải cảng, xây dựng các miền đất thuộc địa tại châu Phi, xứ Canada và miền Tây Ấn. Mặt khác, các chính sách tham vọng chống đối triều đình Habsburg, vào thời đại đó bao gồm các nước Áo, Tiệp Khắc, Đức, Thụy Sĩ và một phần nước Ý, và các xung đột với nước Tây Ban Nha, tất cả vấn đề này đã làm cho nước Pháp phải chi phí rất nhiều trong cuộc Chiến Tranh 30 Năm (1618-1648).

Cách tập trung quyền lực vào trung ương đã gây nên nhiều cuộc nổi loạn Fronde trong các năm từ 1648 tới 1653. Vào thời gian này, vua Louis 14 đã thay thế vua Louis 13. Vì vua Louis 14 mới lên 4 tuổi, cai trị nước Pháp là do hoàng hậu Anne, bà mẹ của nhà vua và người tình lén lút (paramour) của hoàng hậu là Hồng Y Mazarin. Vì cả hai nhân vật này đều là người ngoại quốc, hoàng hậu Anne thuộc triều đình Habsburg của nước Áo còn hồng y Mazarin gốc là người Ý, nên rất nhiều nhân vật trong triều đình Pháp, nhất là các nhà quý tộc có uy quyền, đã không ưa họ.

Hồng y Mazarin có tên thực là Giulio Mazarini, sinh ra tại miền Abruzzi thuộc nước Ý, đã làm đại úy trong đạo quân của giáo hoàng vào đầu cuộc Chiến Tranh 30 Năm rồi phục vụ trong công tác ngoại giao của giáo hoàng tại nước Pháp vào năm 1630. Năm 1639, ông Mazarin được cấp quốc tịch Pháp rồi trở nên hồng y vào năm 1641 dù cho ông chưa từng được thụ phong linh mục. Hồng y Mazarin đã kế tiếp hồng y Richelieu làm thủ tướng cho vua Louis 13 vào năm 1642, cai trị nước Pháp từ năm 1643 khi vua Louis 13 qua đời. Ông là cố vấn chính cho hoàng hậu Anne, đã duy trì các chính sách của hồng y Richelieu.

Ngoài ra, các phí tổn cao vì chiến tranh, các vụ mất mùa liên tiếp đã làm cho nền kinh tế của nước Pháp thêm suy kém, với các cuộc nổi loạn Fronde trong nhiều năm (1648-1653) chống lại sự nhiếp chính của hồng y và hoàng hậu. Tuy nhiên, nhờ các thành quả trước kia của vua Henry IV và của hồng y Richelieu, nước Pháp không bị suy sụp đồng thời các nhà quý tộc cũng như dân chúng đều tuyên bố rằng họ không chống lại nhà vua trẻ là Louis 14 mà chỉ chống đối sự tham nhũng và điều hành kém của hồng y Mazarin. Vì thế khi vua Louis 14 chính thức nắm quyền hành vào năm 1651 thì các chống đối đã dịu đi. Kể từ nay, vua Louis 14 kiểm soát chặt chẽ các nhân vật quý tộc và các tỉnh, bằng chế độ quân chủ tuyệt đối, hữu hiệu nhất trong lịch sử của nước Pháp.

3/ Thời đại quân chủ tuyệt đối.

Thời kỳ từ khi vua Louis 14 lên ngai vàng vào năm 1651 tới cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789 được gọi là thời đại quân chủ tuyệt đối (the age of absolutism). Kể từ năm 1500 trở về sau, tại nước Anh và trên lục địa của châu Âu, đã có khuynh hướng muốn cho quốc gia trở nên hùng mạnh hơn. Các quân vương của thế kỷ 16 đã nhận ra rằng đạo Tin Lành đòi hỏi chủ quyền tách ra khỏi tầm kiểm soát của giáo hoàng và của giới quý tộc. Sau các biến động vì cuộc Chiến Tranh 30 Năm, các nhà cai trị nhận thức rằng chỉ có sự hòa hợp xã hội và chính trị khi có một chính quyền trung ương tập trung và hùng mạnh, khi dân chúng chấp nhận bổn phận của họ là phải vâng lời các nhà cai trị theo thiên mệnh. Vì vậy, vua Louis 14 đã tìm cách nắm quyền lực và muốn điều khiển nước Pháp trở nên một cường quốc thịnh vượng của châu Âu. Vua Louis 14 đã nhớ lại một đêm thuộc năm 1651 khi một số kẻ cướp tràn vào trong lâu đài nhân cuộc nổi loạn Fronde, sự việc này không chỉ là một đe dọa đối với bản thân của nhà vua mà còn đối với sự an lạc của đất nước mà nhà vua đã nhận được thiên mệnh phải cai trị.

Để nắm quyền hành tuyệt đối, các quân vương của châu Âu đã kiểm soát quân đội, điều hành hệ thống luật pháp, thu vào và phân phối lợi tức thuế vụ. Những công tác này đòi hỏi một hệ thống hành chánh hữu hiệu và như vậy phải cải tổ các định chế của chế độ quân chủ. Nhà thờ, giới quý tộc, các miền đất bán tự trị, các cơ chế đại diện dân chúng, chẳng hạn như Quốc Hội Anh và Quốc Hội Lập Hiến Estates-General của nước Pháp, tất cả đều là các trở ngại cho chính quyền quân chủ tập trung và hùng mạnh. Trong thế kỷ 18 đạo Cơ Đốc La Mã (Roman Catholicism) là tôn giáo chính thức tại các quốc gia của châu Âu như các nước Pháp, Tây Ban Nha và Áo, vì vậy các nhà vua đều tìm cách “quốc hữu hóa” nhà thờ và giới tu sĩ. Vua Charles III cai trị nước Tây Ban Nha từ năm 1759 tới năm 1788, dù cho là một tín đồ Cơ Đốc thuần thành, đã thành công trong một thỏa ước với giáo hoàng về quyền quốc gia bổ nhiệm các tu sĩ và quyền bác bỏ các đạo luật của giáo hoàng. Đối với giới quý tộc Pháp, vua Louis 14 đã tước bỏ quyền hành chính trị của họ và tăng thêm uy tín xã hội cho họ. Tại nước Nga dưới triều đại của Nữ Hoàng Catherine II, giới quý tộc bị tước đi quyền chính trị và hành chánh còn tại nước Áo vào cuối thế kỷ 18, Hoàng Đế Joseph II đã không cho giới quý tộc được miễn đóng thuế và cố tình xóa bỏ lằn ngăn cách giữa giới quý tộc và giới bình dân. Sự đấu tranh giành quyền lực giữa nhà vua và giới quý tộc đã thể hiện bằng các tranh chấp giữa các quyền lợi địa phương và các quyền lực trung ương. Các nhà quý tộc bị tước đoạt dần quyền cai trị tại các tỉnh, họ mất dần quyền cảnh sát và quyền thu thuế.

Trong khi nhà vua Pháp thi hành chế độ quân chủ tuyệt đối để tập trung quyền lực và thống nhất đất nước, thì cũng có các nhà lý thuyết bênh vực chủ trương này. Luật sư người Pháp Jean Bodin (1530-1596) là người chứng kiến vụ tàn sát nhân ngày Thánh Bartholomew tại Paris vào năm 1572, đã đề nghị một kế hoạch chính trị để giải quyết các rối loạn bằng bộ sách có nhan đề “Sáu Cuốn Sách của Nước Cộng Hòa” (Six Books of the Commonwealth, 1576) qua đó, ông cho rằng do các nhu cầu của nhiều gia đình mà quốc gia được dựng nên, vì thế người dân không được chống đối quốc gia bởi vì công việc duy trì trật tự được coi là quan trọng nhất. Ông Bodin cho rằng quốc gia có quyền lực cao nhất, tuyệt đối nhất và vĩnh cửu nhất để ban bố luật lệ cho các công dân mà không cần biết người dân có chấp nhận hay không. Bảo vệ vương quyền còn có giám mục Jean Bossuet. Qua tác phẩm “Chính Trị rút ra từ chính các Lời Nói trong Thánh Kinh” (Politics Drawn from the Very Words of Scripture, 1708), viết vào thời gian trị vì của vua Louis 14, ông Bossuet đã lý luận rằng “mọi sức mạnh và mọi sự hoàn hảo đều tập trung vào Thượng Đế” cũng như vào “cá nhân của nhà vua”. Như vậy nhà vua không phải trả lời ai cả ngoài Thượng Đế và nhà vua ở trên mọi người dân cũng như Thượng Đế ở trên nhà vua. Như vậy tác phẩm của giám mục Jean Bossuet là lời xác nhận rõ ràng và thái cực nhất của lý thuyết thiên mệnh của quân vương trong khi đó vào thế kỷ 18, các người dân thường còn tin tưởng một cách dị đoan rằng nhà vua do bàn tay linh thiêng có thể chữa khỏi bệnh tật bằng cách sờ tay vào người bệnh.

Vua Louis 14 và các nhà vua kế tiếp đã sử dụng thứ quyền lực được coi như từ Thượng Đế và dùng các kiểu cách của kịch trường để làm tăng thêm vẻ oai nghiêm của vị trí quân vương. Vua Louis 14 đã cho xây dựng Cung Điện Versailles nằm bên ngoài thành phố Paris rồi di chuyển triều đình qua đó. Dinh thự này được coi như một rạp hát tại đó nhà vua đã làm mê hoặc giới quý tộc, bắt họ phải phục tùng trong các nghi thức của nền quân chủ tuyệt đối. Cung điện huy hoàng này có mặt tiền dài khoảng nửa cây số, bên trong có trang hoàng các thảm dệt rất đẹp và các bức tranh mô tả các chiến thắng quân sự lẫy lừng của nước Pháp, bên ngoài là các khu vườn rực rỡ với 140 vòi phun nước được thiết kế rất công phu với các bức tượng tuyệt tác. Tại nơi này, các nhà quý tộc đã phải vâng theo mọi ý muốn của nhà vua trong các lễ nghi cung đình.

Mặt khác, vua Louis 14 là người rất chăm chỉ và biết trách nhiệm đối với sự an lạc của người dân. Nhà vua đã từng nói: “Ta là Đất Nước” (L’état, c’est moi) và coi nhu cầu tập trung quyền lực vào quân vương là để duy trì sự ổn định lãnh thổ. Trong khi tước bớt các quyền lợi của giới quý tộc, nhà vua đã dùng các người thuộc giới trung lưu có tài và có kinh nghiệm vào nhiều công việc quản trị, bổ nhiệm họ làm các quản đốc (intendants) chịu trách nhiệm về hành chánh, thuế vụ và các công tác khác. Việc thu thuế được coi là quan trọng nhất để nuôi dưỡng một đạo quân lớn khi nước Pháp đang có tham vọng bành trướng. Như vậy chế độ quân chủ tuyệt đối là một cơ chế làm tăng thêm quyền lực của nhà vua trong các chinh phục.

Vua Louis 14 cũng tìm cách thống nhất tôn giáo. Các người theo đạo Quietism chủ trương ẩn tu và theo đạo Jansenism tin tưởng định mệnh, đều bị hành hạ để bỏ đạo, hoặc bị nhốt tù hay phải ra đi biệt xứ. Sắc dân Huguenots theo đạo Tin Lành bị tước bỏ quyền lợi, bị đàn áp, nhà thờ và trường học của họ bị phá hủy, giới tu sĩ phải đi sống lưu vong. Hàng ngàn người tị nạn tôn giáo đã chạy sang các nước Anh, Hòa Lan, qua các miền theo đạo Tin Lành của nước Đức hay di cư sang Tân Thế Giới mặc dù họ là những người có nghề nghiệp chuyên môn góp công vào sự thịnh vượng của đất nước.

4/ Cuộc đời và sự nghiệp của Vua Louis 14.

Vua Louis 14 đã là vua của nước Pháp trong 72 năm, đây là vương triều lâu dài nhất trong lịch sử của châu Âu. Nhà vua còn được gọi là “Đại Vương Louis” (Grand Monarch), “Vua Louis Vĩ Đại” (Louis the Great) hay “Vua Mặt Trời” (le Roi-Soleil) khi người ta muốn diễn tả quyền hành chính trị cao nhất của một vương quyền. Dưới triều đại của vua Louis 14, nước Pháp đứng đầu châu Âu và thế giới về văn chương, nghệ thuật, chiến tranh và quản trị xứ sở.
Vua Louis 14 sinh năm 1638 tại St-Germain-en-Laye, đã nối nghiệp cha là vua Louis 13 khi mới lên 4 tuổi, khi đó quyền nhiếp chính thuộc về bà mẹ của nhà vua là hoàng hậu Anne gốc người Áo và hồng y Mazarin, người cha đỡ đầu khi rửa tội, nhận chức thủ tướng.

Vào năm 1648, cuộc Chiến Tranh 30 Năm đã kết thúc nhưng trong nước Pháp vẫn diễn ra từ năm 1649 tới năm 1653 một số cuộc nội chiến được gọi là “les Frondes”. Vào thời gian này, các giới quý tộc và các tỉnh đã tạo nên các liên minh quân sự để chống lại hoàng hậu Anne và hồng y Mazarin. Đã có lần vua Louis 14 bị bắt buộc phải tiếp đón trong cung điện vài đại biểu của những người nổi loạn chống chính quyền, đã chứng kiến người cô là con gái hầu tước Orléans ra lệnh hướng súng đại bác vào đạo quân hoàng gia, nhiều lần nhà vua cùng mẹ phải lén lút trốn ra khỏi lâu đài. Các cuộc nội chiến, với nhiều vùng có cả quân đội Tây Ban Nha giúp đỡ, đã khiến cho nền kinh tế của nước Pháp suy sụp.

Vào thời còn trẻ, vua Louis 14 đã là một thanh niên bảnh trai và oai nghiêm, được nhiều người chú ý do hình ảnh cưỡi con ngựa chiến trong các buổi đại lễ, với chiếc mũ gắn lông chim cầm ở tay và cúi chào khán giả một cách duyên dáng. Trước khi lên ngai vàng và kết hôn với công chúa Tây Ban Nha, vua Louis 14 đã có nhiều mối tình như với người đẹp Marie Mancini là cháu gái của hồng y Mazarin. Nhưng mặc dù bản chất vương giả, lãng mạn, vua Louis 14 lại là một con người cứng rắn bởi vì đã học tập đầy đủ nghệ thuật làm vua, các vi phạm quyền lực hoàng gia đã làm cho nhà vua quyết định phải cai trị xứ sở thật sự, không mềm yếu như vua cha, không ỷ lại vào vị thủ tướng trong mọi quyết định.

Khi hồng y Mazarin qua đời vào năm 1661, vua Louis 14 vào tuổi 23, tuyên bố rằng nhà vua cũng là thủ tướng, đã tống giam suốt đời vị bộ trưởng tài chánh nhiều quyền thế là ông Nicholas Fouquet, một người giàu có hơn nhà vua, đã liên kết thông gia với một nửa giới quý tộc và đã có một số hạm đội tư ngoài biển Brittany và chính ông Fouquet muốn thay thế hồng y Mazarin.

Như vậy rõ ràng rằng nền quân chủ của vua Louis 14 khác trước, nhà vua nắm quyền lực một cách tuyệt đối. Kể từ khi trực tiếp điều khiển nước Pháp, tài sản của nhà vua gia tăng. Vua Louis 14 đã không để một ai chống lại mình bởi vì “Ta là Đất Nước” (L’Etat, c’est Moi), nhà vua tượng trưng cho quyền lực tuyệt đối. Vua Louis 14 cũng là một người rất chăm chỉ, thường làm việc 8 giờ một ngày, say mê công việc hơn ham chơi, đúng là một nhà vua chuyên nghiệp. Nhà vua đã từng viết rằng “Công việc làm vua thì vĩ đại, cao thượng và thú vị” (the business of being a king is great, noble and delicious). Nhà vua biết dùng các cố vấn khôn ngoan, trong số này nhân vật chính là bộ trưởng Jean Baptiste Colbert, một nhân vật đã tổ chức lại nền tài chính, làm thăng tiến nền kinh tế và kỹ nghệ của nước Pháp.

Sau khi xây dựng Cung Điện Versailles rất nguy nga trên một vùng đất sình lầy, vua Louis 14 đã dọn triều đình về nơi này vào năm 1682 với ba mục đích, thứ nhất, đây là nơi cư ngụ chính thức của nhà vua, thứ hai là địa điểm của một chính quyền trung ương và thứ ba, là chính trường của các thế lực tranh giành quyền lợi và cầu xin các đặc ân. Tòa lâu đài này đã chứa 5,000 nhà quý tộc, còn 5,000 người khác sinh sống tại các miền chung quanh. Cung Điện Versailles có một chủ đích chính trị khác, đó là khiến cho giới quý tộc hoàn toàn phụ thuộc vào nhà vua. Các vương hầu đã phải dời bỏ các miền đất sở hữu, giao tài sản cho các con hay các người quản lý trông nom còn chính mình phải thường trực sinh sống trong cung điện hoàng gia, phải trả giá rất đắt vì các lễ nghi và giao tế cung đình và Cung Điện

Versailles chắc chắn là nơi rất vui vẻ, hấp dẫn nhất. Trong các sinh hoạt vương giả này, chỉ một câu nói của nhà vua như “Ta không thấy mặt ông ta ở triều đình” có thể khiến cho một nhà quý tộc danh giá nhất bị chìm vào bóng tối. Các nhà quý tộc cũng như con cháu của họ đều mong muốn được theo bước chân của nhà vua, được tham dự vào các buổi tiếp tân đặc biệt, bởi vì nhân dịp các nghi thức này, nhà vua có thể ban cho họ các ân huệ hay cho họ hưởng một số đặc quyền. Thế nhưng theo nguyên tắc, các nhà quý tộc không được phép làm các công tác hành chánh, vua Louis 14 ưa thích dùng các nhân viên có nguồn gốc gia đình tầm thường nhưng giàu kinh nghiệm hơn.

Vào năm 1660, vua Louis 14 đã cưới công chúa Maria Theresa của nước Tây Ban Nha nhưng nhà vua vẫn duy trì nhiều người tình khác. Sở dĩ có sự việc này vì bản chất sinh lực của nhà vua, vì quan niệm của thời đại khiến cho các người đẹp dù độc thân hay đã có chồng, cho rằng chiều chuộng theo tính thất thường hay tình dục của nhà vua là một bổn phận. Trong số các tình nhân này có bà Louise de la Vallière qua đời trong khung cảnh được tôn sùng, bà De Montespan là người bị tố cáo đã đầu độc các địch thủ, và người tình quan trọng nhất của nhà vua là bà De Maintenon. Vua Louis 14 đã bí mật kết hôn với bà này khi hoàng hậu Maria Theresa qua đời vào năm 1683. Do ảnh hưởng của bà De Maintenon mà vua Louis 14 đã hủy bỏ Sắc Lệnh Nantes, hành hạ các người Tin Lành Huguenots, bắt họ phải bỏ đạo gốc khiến cho vào khoảng 200 ngàn người dân này đã phải bỏ xứ ra đi, kể cả các thương gia và các thợ thủ công tài giỏi.

Bản chất của vua Louis 14 là một người sành nghệ thuật, nhà vua đã giúp đỡ các văn sĩ, các nghệ sĩ, chính hai nhà viết kịch lừng danh của nước Pháp là Racine và Corneille đã được hưởng nhiều ân sủng của nhà vua. Nhờ sự quan tâm của vua Louis 14 mà văn chương, nghệ thuật của nước Pháp vào thời gian này đã phát triển rực rỡ và các sử gia thường mô tả thời đại này là “Thế Kỷ của Vua Louis 14”. Do vua Louis 14 ưa thích vẻ huy hoàng, tráng lệ và do nhà vua là nhân vật toàn năng, uy quyền tuyệt đối, nên các sinh hoạt trong Cung Điện Versailles dần dần dẫn tới cảnh xa hoa thái quá, đôi khi dẫn tới sự nhạt nhẽo, nhàm chán, hoặc cảnh tù túng và áp chế. Do bị cách ly với công việc điều hành các lãnh địa, các nhà quý tộc trở thành một giai cấp lệ thuộc, ăn bám vào cung đình, và trong sinh hoạt vương giả bề ngoài này, bà De Maintenon đã có lần phải than van với người em rằng bà ta muốn chết, không thể chịu đựng nổi cảnh buồn tẻ.

Trong hai chục năm cuối của triều đại huy hoàng này, các bất hạnh đã tới. Nền kinh tế của nước Pháp suy kém dần, giảm nhanh sau khi ông bộ trưởng tài chính Colbert qua đời vào năm 1682. Trong triều đại này, do mong muốn làm tăng thêm vương quyền và vinh quang quân sự, vua Louis 14 đã làm phát triển một đạo quân chuyên nghiệp gồm 100 ngàn lính vào thời bình và 400 ngàn lính trong thời chiến và đã phát động bốn cuộc chiến tranh chính với chủ đích giành quyền bá chủ tại châu Âu, vào thời gian mà tôn giáo vẫn là một yếu tố quốc tế làm tàn phá châu Âu, ngoài ra còn có các vấn đề quan trọng khác như dòng họ cai trị, nền mậu dịch và sự cân bằng các thế lực. Trong ba cuộc chiến đầu tiên diễn ra từ năm 1667 tới năm 1697, vua Louis 14 muốn chiếm lại các vùng đất trước kia đã từng thuộc quyền cai trị của người Pháp. Vào năm 1681 khi châu Âu còn sống trong hòa bình, nhà vua phái quân đội bất ngờ đánh chiếm thành phố Strasbourg khi đó thuộc về hoàng đế Habsburg của nước Áo. Dần dần các lực lượng của châu Âu quyết định phải kiềm chế bớt quân lực Pháp. Nước Thụy Điển vào thời kỳ này là một thế lực đáng kể, cùng với các ông hoàng Đức, đã chống lại nước Pháp trong khi nước Hòa Lan đang chuẩn bị phục thù. Vào năm 1688, hầu tước William of Orange là một kẻ thù của vua Louis 14, đã lên làm vua nước Anh và tham gia vào các thế lực thù nghịch chống Pháp.

Qua năm 1689 bắt đầu cuộc Chiến Tranh của Liên Minh Augsburg (the War of the League of Augsburg) với các trận chiến diễn ra phần lớn trên miền đất Hòa Lan, liên minh này gồm các nước Anh, Hòa Lan, Áo, Thụy Điển, các miền đất Đức, với mục đích kiềm chế sự bành trướng của nước Pháp. Vua Louis 14 đã cho rằng hầu tước William do đang mắc bận chiến đấu với vua James tại nước Anh nên sẽ không thể bận tâm về các tranh chấp trên lục địa của châu Âu, vì vậy nhà vua vào tháng 9 năm 1688 đã cho quân chiếm đóng miền đất bên trái của dòng sông Rhine, chiếm tỉnh Cologne, đốt tỉnh Heidelberg và tàn phá vùng Palatinate để tạo thành một vùng đệm ngăn cách dân Pháp và dân Đức, hành động tàn bạo của binh lính Pháp đã khiến cho người Đức căm thù người Pháp.

Sau 8 năm chinh chiến, quân Pháp đã đánh thắng các đội quân Hòa Lan, Tây Ban Nha, Savoy, Anh và của nhiều hoàng tử Đức nhưng tới năm 1694, vua Louis 14 gặp nhiều khó khăn do các vụ mất mùa, quân đội Pháp không thể chiến thắng trên các mặt trận, vì vậy một hiệp ước được ký kết tại Ryswick trong xứ Hòa Lan vào năm 1697 và đây là một nền hòa bình kiệt sức. Thất bại lớn lao nhất của nước Pháp là khi hạm đội Pháp đã từng chuyên chở binh lính Pháp qua Ái Nhĩ Lan để giúp đỡ vua James II, đã bị hải quân Anh đánh tan tại La Hougue, đồng thời vua Louis 14 phải trả lại nhiều miền đất khiến cho các tướng lãnh Pháp tức giận dù rằng nước Pháp còn giữ được vùng Strasbourg.

Vào năm 1701, vua Louis 14 vướng mắc vào cuộc Chiến Tranh Kế Nghiệp Vua của xứ Tây Ban Nha (the War of the Spanish Succession). Vua Tây Ban Nha là người anh em đồng hao (cột chèo) với vua Louis 14, sắp qua đời mà không có con trai, người kế nghiệp được chọn lựa là một trong hai người cháu gốc Áo hay gốc Pháp. Vua Louis 14 đã cố công tìm một giải pháp có lợi cho người cháu của mình là Hầu Tước Anjou.

Theo đề nghị của vua William nước Anh, kế nghiệp đế quốc Tây Ban Nha sẽ là hoàng tử Joseph Ferdinand lên 6 tuổi và đề nghị này đã được cả vua Louis 14 và vua Leopold I của nước Áo đồng ý, nhưng không may, vị hoàng tử này chết sớm vào năm 1699, sự kiện này đã làm gia tăng hiểm họa chiến tranh. Trong khi cả hai vua Louis 14 và vua Leopold I tìm cách chia đế quốc Tây Ban Nha Habsburg vào thời kỳ này bao gồm nước Tây Ban Nha và các thuộc địa, xứ Hòa Lan, các xứ Naples, Sicily và vài miền đất Ý khác thì các nhà ngoại giao của vua Louis 14 đã vận động được vua Charles của Tây Ban Nha đang đau bệnh, ký một di chúc dành quyền kế nghiệp cho người cháu là Philip of Anjou. Đề nghị này được đa số người Tây Ban Nha ưa thích bởi vì họ muốn sống dưới quyền lực bảo vệ của vua nước Pháp, trong khi đó vua Louis 14 tìm cách kiểm soát trực tiếp nước Ý.

Các thế lực Anh, Áo và Đức vì vậy đã coi vua Louis 14 xâm chiếm đế quốc Tây Ban Nha, họ đoàn kết lại để cân bằng lực lượng. Khi cuộc Chiến Tranh Kế Nghiệp Vua Tây Ban Nha bắt đầu thì vua William của nước Anh qua đời vào năm 1702, quyền chỉ huy liên quân Augsburg về tay hai nhà chiến thuật rất tài giỏi là tướng John Churchill người Anh, còn được gọi là Bá Tước Marlborough và hoàng tử Eugene of Savoy, người Áo. Dưới sự chỉ huy của hai viên tướng này, các trận đánh đã diễn ra trên phần đất Đức và xứ Hòa Lan. Tại Blenheim, tướng Marlborough cùng với các đạo quân Anh, Áo và Hòa Lan đã đánh tan quân đội Pháp năm 1704, bao vây thành Vienna. Vào năm 1706, quân Pháp lại thua trận tại Ramillies, bị đẩy lui tại Brussels và Antwerp, rồi sau đó thất bại tại Oudenarde vào năm 1708 và năm sau là cuộc thất trận đẫm máu tại Malplaquet, gần thành Lille. Trong trận đánh này, 80,000 quân Pháp chống 110,000 quân địch và dù cho liên quân được coi là thắng trận nhưng số tổn hại là 24,000 binh lính, gấp hai quân Pháp. Cuộc chiến tranh đã kéo dài tới năm 1713 sau này, với các chiến thắng của tướng Marlborough và hoàng tử Eugene của miền Savoy. Quân đội các nước ngoài đã tiến gần tới kinh đô Paris khiến cho nhà vua Pháp phải cầu hòa. Mùa đông năm 1709 là thời kỳ thiếu ăn, nhà vua và triều đình đã phải ăn bánh mì đen, các đĩa vàng và bạc của nhà vua phải bán đi để trả nợ chi phí chiến tranh, loạn lạc nổi lên trên khắp nước Pháp.

Trong tình thế nguy ngập tại nước Pháp này thì tại nước Anh, Nữ Hoàng Anne không tin tưởng vào chiến thắng của Bá Tước Malborough, đồng thời đảng Torries lên nắm quyền, họ muốn củng cố các tài sản nằm bên ngoài nước Anh kể cả Gibraltar là hòn đảo mới chiếm được của Tây Ban Nha. Vì vậy hai nước Anh và Pháp đã đình chiến trong khi đó vua Leopold I của nước Áo qua đời (1711), nối ngôi là đại công tước Charles, người không muốn duy trì đế quốc Tây Ban Nha – Áo như trước kia. Qua năm 1712, thống chế Villars của nước Pháp đã thắng lớn tại Denain, quân Hòa Lan và quân Áo phải rút lui khỏi đất Pháp. Theo Hòa Ước Utretch năm 1713, Hầu Tước Anjou được công nhận là vua của nước Tây Ban Nha, nước Áo chiếm được xứ Hòa Lan và nước Ý nhưng nước Pháp bị mất hai miền Nice và Savoy, phải phá hủy các pháo đài Dunkirk, rặng núi Pyrenées trở thành bức thành ngăn cách giữa hai nước Tây Ban Nha và Pháp, và nền quân chủ tuyệt đối trước kia vinh quang chiến thắng thì nay bị đánh bại bởi nước Anh theo thể chế Nghị Viện và có hạm đội hùng hậu.

Vào đầu thời gian trị vì của vua Louis 14, giới nông dân tương đối giàu có và hài lòng vì nền kinh tế phát triển thì tới khi nhà vua qua đời vào năm 1715, ngân quỹ của triều đình Pháp bị phá sản, người dân bị đói khổ và chống lại nhà vua do các loại thuế áp đặt. Đối với người dân, một chế độ chuyên chế đồng nghĩa với nhiều cách kiểm soát và theo dõi dân chúng, bao gồm cả các công việc kiểm duyệt sách báo, ngăn cản các nhà tư tưởng tự do và hành hạ các kẻ chống đối.

Vua Louis là một nhân vật khó cho người khác nhận xét. Nhà vua không đặc biệt thông minh, không được giáo dục đặc sắc nhưng đã có một thứ tài năng riêng, biết thưởng thức nghệ thuật cao, biết ăn mặc rất lịch sự và có tài quyến rũ phụ nữ, ưa thích được tán dương và biết cư xử rất khéo léo với mọi người, nam cũng như nữ. Vua Louis 14 đã thiết lập nên “chế độ cũ” (ancient régime) nhờ vậy nước Pháp an hưởng một thời gian dài với trật tự và hòa bình trong xứ nhưng nhà vua chưa tôn trọng nền tự do cá nhân (human liberty), đã đàn áp các người Tin Lành khiến cho hàng ngàn thương gia và thợ thủ công tài giỏi đã phải bỏ xứ ra đi. Nhà vua tuy khuyến khích công nghệ nhưng chưa giúp cho nền thương mại của nước Pháp phát triển.

Nhà triết học kiêm nhà văn lừng danh Voltaire cho rằng Vua Louis 14 có công trong việc khiến cho chính quyền của nước Pháp trật tự và trong sáng, nhờ vậy đã có nhiều thành quả lớn lao sau này, nhưng nếu nhà vua không quá tự kiêu, biết hòa giải và không để cho nước Pháp bị bao vây vì các thế lực thù nghịch bên ngoài và không xây dựng Cung Điện Versailles tốn kém, không theo đuổi các cuộc chiến tranh kéo dài khiến cho ngân quỹ quốc gia trống rỗng, thì nước Pháp còn trật tự hơn, huy hoàng hơn. Dù sao, Vua Louis 14 vẫn được coi là một nhân vật trung tâm chính trị của một thời đại lịch sử rất rực rỡ về văn chương và nghệ thuật.

Phạm Văn Tuấn

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s