Ký ức chiến tranh (Hồi ức của những binh sĩ Xôviết từng tham gia cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại)- Phần 12

2

Arkhipenko, Fyodor Fyodorovich. Anh hùng Liên Xô, một trong những phi công Át Xôviết hạ được nhiều địch nhất. Trong Thế chiến thứ hai, ông đã bay 467 phi vụ, không chiến 92 trận và bắn hạ 44 máy bay địch. Tham gia chiến đấu từ tháng Sáu năm 1941 cho tới tháng Năm 1945. Cùng sát cánh chiến đấu với các phi công Át huyền thọai của Xôviết A.I.Pokryshkin, I.N.Kozhedub và N.D.Gulayev .  

Ông bắt đầu bị máy bay ám ảnh từ khi nào?

 Khỏang năm lên sáu, khi ấy tôi nhìn thấy hai phi công, mình mặc bộ áo bay liền quần và đi ủng lông, ngay sau khi họ phải hạ cánh khẩn cấp ở gần làng tôi tại Byelorussia. Được thông tin và dẫn dắt bởi Komsomol – Đòan Thanh niên Cộng sản – tôi tốt nghiệp trường hàng không thanh niên mùa hè năm 1938 và tiếp theo là trường dạy lái quân sự mùa thu năm 1939. Cả hai trường này đều nằm tại Bobruisk, Byelorussia. Được cấp chứng nhận là phi công chiến đấu và thăng lon thượng úy, tôi nhận nhiệm vụ tại một sân bay gần Kovel, vùng Tây Bắc Ukraina.

Sân bay của ông lọt thỏm trong vùng biên giới. Vậy đơn vị không quân của ông có chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh không? Chiến tranh bùng nổ ngày 22 tháng Sáu có diễn ra một cách bất ngờ không?

Vào tháng Tư và tháng Năm, các máy bay trinh sát Đức đã chụp ảnh sân bay chúng tôi từ độ cao 6 đến 7 ngàn mét. Căn cứ chúng tôi đang thi công một dải đường băng bê tông để phục vụ công tác chuẩn bị cho chiến tranh. Tới khỏang ngày 10 tháng Sáu, chúng tôi bố trí các máy bay của mình rải rộng ra trong chu vi sân bay và cẩn thận ngụy trang chúng bằng cành lá. Không may thay, chúng tôi không có pháo phòng không. Việc thông tin liên lạc rất kém, và trong ngày 22 tháng Sáu, bản thân căn cứ này đã hòan tòan bị cô lập.

 Xin hãy kể lại ngày tham chiến đầu tiên của ông

Chúng tôi tham chiến cùng với bộ đội biên phòng từ 4h25 sáng ngày 22 tháng Sáu. Hôm đó là Chủ nhật. Hầu hết các phi công và kỹ thuật viên đang ở cùng gia đình của mình. Hôm ấy tôi đang lãnh trách nhiệm trực nhật. Thời tiết rất tốt, bầu trời trong xanh không chê vào đâu được.  Vừa chui ra khỏi hầm trú ẩn, tôi chợt trông thấy khỏang 60 máy bay ném bom Đức đang tới gần. Rất nhiều máy bay của ta bị trúng đạn và bốc cháy. Đứng trong đài chỉ huy, tôi nhào xuống sàn nhà cứ mỗi lần có tiếng nổ để tránh bị trúng mảnh bom. Từ một chiếc ném bom Đức bay thấp, tôi nhận thấy có một thành viên tổ lái có mái tóc dài uốn xoăn dưới chiếc mũ trùm đầu. Lúc đó tôi nghĩ đấy là một cô gái. Về sau tôi mới hiểu đó là một kiểu tóc Phương tay chưa được du nhập vào Liên Xô.  Trong suốt thời gian cho tới trước giữa trưa, sân bay chúng tôi đã phải chịu tới bốn đợt ném bom của quân Đức. 

Tới giữa buổi sáng thì vị quyền sư đòan trưởng xuất hiện. Đó là Anh hùng Liên Xô, đại tá Lakeyev. Trong suốt đợt ném bom thứ ba của bọn Đức, ông nắm chặt cái micro và hét to mệnh lệnh cho một trung đòan tiêm kích ở Zhitomir bay tới cứu chúng tôi. Ở bên cạnh ông, tôi đã tìm cách chế ngự được nỗi sợ hãi của bản thân.

Ông có thực hiện phi vụ trong ngày chiến tranh nổ ra không?

Vâng, tôi có. Cùng với ba chiếc tiêm kính từ Trung đòan Không quân Zhitomir, tôi bay dọc chiều dài biên giới từ Brest thuộc Byelorussia cho tới phía Tây Lvov ở Ukraina. Tất cả các thị trấn và làng mạc dọc biên giới với Ba Lan đều bốc cháy rừng rực. Thật kinh khủng. Trông như một dòng Volga rực lửa. Tại phía Tây Vladimir-Volynski, chúng tôi gặp phải một hỏa điểm phòng không dày đặc của địch. Khắp nơi chằng chịt những quả cầu khói đen. Ban đầu tôi không nhận ra đó là gì. Khi trở về sân bay, đồng đội cho tôi hay đó là đạn phòng không nổ. Từ đó về sau, tôi rất cẩn thận tìm cách tránh những cuộc chạm trán tương tự như vậy.

Sân bay của ông bị thiệt hại bao nhiêu máy bay? 

Tới cuối ngày thứ ba, chúng tôi đã mất khỏang 170 máy bay. Chỉ còn lại 8 chiếc. Có rất nhiều phi công không còn máy bay. Sân bay đã gần như bị bao vây. Cả 8 chiếc còn bay được đều bay về Rovno. Những phi công không có máy bay đi xe tải tới Zhitomir, tại đấy các chỉ huy cao cấp tổ chức một điểm tập kết các phi công và máy bay còn sống sót từ khu vực biên giới.

Ông có chứng kiến thiệt hại trong chiến tranh của ta không? 

Có. Việc lực lượng Xôviết bị bao vây quanh Kiev là giai đọan bi kịch nhất trong suốt cuộc chiến tranh. Phía Xôviết mất khỏang một triệu rưởi binh lính trong trận ấy. Vòng vây có hai vành đai, thóat ra khỏi đó gần như là không thể. Trung đòan tôi cũng bị bao vây và không có xăng bay. Máy bay và xe tăng địch tiến tới nghiền nát mọi thứ trên sân bay chúng tôi. Các đường băng lỗ chỗ những hố bom đạn, và chỉ vài chiếc máy bay của ta tìm cách bay thóat được an tòan. Một kỹ sư quấn lá cờ trung đòan quanh mình và đưa được nó đi thóat. Điều này cứu cho trung đòan khỏi bị giải thể. Mọi chuyện là một thảm họa thực sự! Tôi may mắn có mặt tại phía an tòan của sân bay và những người lính bộ rút lui đã đưa tôi theo cùng một chiếc xe tải sắp khởi hành. Lại một lần nữa, có quá nhiều phi công không còn máy bay. Chúng tôi đã quá giang xe tới Poltava và rồi tới được Kharkov. 

Ông đã bay trên 450 phi vụ chiến đấu. Phi vụ đầu tiên là tại Ukraina ngày 22 tháng Sáu năm 1941, và phi vụ cuối cùng là gần Berlin vào mùa xuân năm 1945. Vậy phi vụ nào là đáng nhớ nhất? Ông có thường gặp phải tình huống khẩn cấp không?

Tôi vẫn nhớ một cách rõ ràng sống động nhất từng phi vụ của mình tới mức có thể vẽ lại các bức tranh về chúng. Tình huống khẩn cấp xảy ra rất nhiều và thường xuyên. Một lần trong phi vụ đi chặn ba chiếc ném bom Heinkel-111 tại một sân bay gần Kiev, máy bay của tôi đột nhiên bị trục trặc động cơ và phát cháy. Chẳng bao lâu sau khi tôi hạ cánh khẩn cấp, đạn dược trong máy bay phát nổ bắn ra tung tóe khắp nơi. Trong lúc vội vã tìm chỗ ẩn nấp, chắc tôi đã phá kỷ lục thế giới về chạy nước rút. Nỗi sợ hãi vẫn còn trong mỗi đường gân thớ thịt của tôi cho tới tận ngày nay. Nói chung, tôi đã bị tới ba lần động cơ bốc cháy khi đang bay. Trong một phi vụ hộ tống các máy bay ném bom Sukhoi-2 ban ngày, máy bay của tôi tự nhiên rơi mất mấy mảnh. Động cơ bị chết, cánh quạt dừng lại. Kiểm tra máy bay sau khi hạ cánh khẩn cấp, tôi nhận ra rằng bộ hộp số đã rơi mất. Khi tôi sờ tới cái cánh quạt, nó rời ra và rơi xuống mặt đất.

3

Một số lần hạ cánh khẩn cấp của tôi diễn ra trên vùng đất do địch kiểm sóat. Ngày 15 tháng Mười 1942, tôi và chỉ huy của mình hồi đó là Nikolai Savin – một anh chàng người Maskva đẹp trai và dũng cảm, kẻ khi chọc gái có thể dễ dàng bay trên một cây chổi  – cất cánh từ một sân bay gần Oboyan nằm kề Belgorod trong một phi vụ yểm trợ một tuyến sơ tán đường sắt của quân đội Xôviết. Chúng tôi phát hiện một đòan công voa của bọn Đức và tấn công nó. Trong phi vụ kế tiếp cùng ngày, máy bay của Nikolai trúng đạn và bốc cháy. Nikolai nhanh chóng hạ cánh và vẫy tôi từ dưới đất xin giải cứu. Tôi thử tìm cách đáp xuống, nhưng bộ bánh đáp đã gẫy gục sau 150 mét chạy hạ cánh. Chúng tôi chạy tới khu rừng gần nhất và lê bước suốt 10 ngày về phía đông trước khi tới được khu vực do quân đội Xôviết kiểm sóat. Nhớ lại lời khuyên của các đồng đội đã từng thóat được khỏi vòng vây dày đặc quanh Kiev, chúng tôi đổi quân phục của mình cho dân địa phương lấy quần áo thường dân, thậm chí là cả đến đồ lót tại một làng nhỏ trên đường đi. Bọn lính Đức kiểm tra chúng tôi ba lần. Một lần, chúng ngồi trên xe ngựa, chất vấn bằng tiếng Nga về gốc gác và nơi đến của chúng tôi. Chúng tôi bảo hắn rằng mình là dân làng địa phương trở về nhà sau nhiều tuần đi đào đất tại một khu công sự phòng thủ Xôviết gần Sumy. Xem xét mớ giẻ rách trên người chúng tôi, hắn ta xua chúng tôi bằng chỉ một từ: “Đi đi”. Nikolai máy móc trả lời: “Rõ!” và thực hiện một cú quay người theo đúng kiểu quân nhân. Tôi lập tức nghẹn thở đi vì sợ. Về sau, tôi bảo anh ấy rằng đáng ra nên lấy cành tầm ma quất cho anh một trận mới đúng. Anh ta mau chóng thừa nhận sự xuẩn ngốc của mình. Bên bờ một con sông nhỏ do địch kiểm sóat chia đôi giới tuyến, chúng tôi phải nằm dưới một đợt pháo kích của Hồng quân và rút chạy về vùng do địch kiểm sóat. Mãi tới tận ngày 30 tháng Mười chúng tôi mới về được trung đòan của mình. Hôm đó cũng là ngày tôi tròn 20 tuổi. Chiều hôm ấy trời rất trong xanh, ấm áp và bình yên. Tôi sẽ không bao giờ quên được điều đó.

4

FYODOR ARKHIPENKO VÀ NIKOLAI SAVIN, 1942.

Trong một phi vụ bảo vệ bầu trời gần Kirovograd ban ngày, tôi đối đầu với hai chiếc ném bom Junkers-88. Sau khi bắn hạ một chiếc, tôi thực hiện cú tăng tốc đuổi theo chiếc còn lại. Khi chỉ còn cách dưới bụng nó khỏang ba mét, tôi phát hiện ra rằng mình đã hết đạn. Tôi qu‎yết định sẽ lấy cánh quạt của mình chặt đứt đuôi chiếc máy bay ném bom. Khi chỉ còn cách mục tiêu 2 mét, tổ lái Đức bắt đầu thả bom. Tôi tránh được không bị trúng bom chỉ trong gang tấc và bắn sang bên như một chiếc nút sâm banh. “Hãy sử dụng súng máy và pháo của mình, nhưng chớ có bao giờ thử tìm cách húc máy bay”, tôi tự rút kinh nghiệm. Tôi sẽ suốt đời ghi nhớ cái giây phút súyt mất mạng đó.

Đã bao giờ ông phải nhảy khỏi máy bay chưa? 

Không bao giờ. Thật ra, tôi chưa bao giờ thử nhảy dù. Người ta muốn đuổi tôi khỏi trường học lái vì đã từ chối không chịu nhảy dù. Ông hiệu trưởng quở trách tôi rất dữ, nhưng tôi vẫn trả lời ông rằng tôi sẽ không bao giờ chịu áp dụng kiến thức l‎ý‎ thuyết về nhảy dù của mình vào mục thực hành. Rốt cục ông ta cũng để tôi yên. May thay, tôi không bao giờ bị bắn rơi và tôi không khi nào, không khi nào phải nhảy dù.

Phi công tiêm kích thường được mô tả là những người hay săn tìm cái chết. Công việc của họ là tham gia không chiến. Theo ông để làm một phi công tiêm kích giỏi thì phải cần những gì?

Theo tôi, anh phải có khiếu bẩm sinh làm một phi công. Trên mặt đất, tôi chỉ là một anh chàng nhí nhố bình thường. Trên bầu trời, tôi là một tay đầy tự chủ. Những quyết định hợp l‎ý và khôn khéo đã cứu mạng tôi không biết bao nhiêu lần. Anh phải có một người biên đội trưởng không bao giờ bị kích động. Những người dễ bị kích động thường là thất bại. Đồng thời anh cũng phải được huấn luyện đầy đủ. Vì gấp rút, các phi công tiêm kích Xôviết được huấn luyện rất kém trong thời gian chiến tranh. Các phi công mới rất chật vật khi tìm cách cất cánh hạ cánh. Trong không chiến, họ bị bắn hạ dễ dàng như lũ gà gô. Tôi là một phi đội trưởng và tôi chỉ chọn những ai có nhiều kinh nghiệm bay để bay cùng với mình trong các phi vụ chiến đấu. Với những người thiếu kinh nghiệm, tôi trình bày cho họ những kiểu bay và kỹ thuật bay mặc cho những phản đối từ các chỉ huy cao cấp. Kết quả là tôi không bị mất một phi công nào trong phi đội của mình.

Theo kinh nghiệm của tôi, trong một phi vụ chiến đấu, một cặp thiếu ăn ‎phối hợp gần như sẽ dẫn tới cái chết cho cả hai. Tôi luôn tìm cách tránh cách chọn người bay cùng ngẫu nhiên. Việc ganh đua cũng đóng vai trò rất quan trọng. Một hôm Gulayev chọn người phi công bay cùng vốn mang tiếng là hay do dự khi chiến đấu. Khi đối đầu với máy bay ném bom Đức, anh ấy bảo phi công số hai tấn công chiếc bay gần hơn trong biên đội. Số hai khai hỏa từ khỏang cách 200 mét.

Gulayev ra lệnh cho anh ta tới gần hơn và nhấn mạnh bằng cách bắn một lọat đạn cảnh cáo ngay sát anh chàng nhút nhát nọ. Tay kia hiểu ra, bay gần thêm và bắn hạ chiếc ném bom. Nỗi sợ trong chiến đấu của anh ta vĩnh viễn biến mất. 

5

FYODOR ARKHIPENKO  VÀ NIKOLAI GULAYEV, 1944.

Bắn hạ một máy bay địch là một câu chuyện thành công rất hiếm gặp. Thường thì là anh sẽ bắn vào khỏang trống mà không trúng chút nào vào cái mục tiêu của mình. Quay lại căn cứ, anh sẽ báo cáo là chẳng bắn trúng gì và thầm đáp lời tay sĩ quan thẩm vấn mình “Thì anh cứ thử tự bắn mà xem!”.

Các phi công có gặp điềm báo không?

Phi công là những người vô cùng mê tín. Lấy ví dụ, đứng chụp ảnh trước khi bay là một điềm rất xấu. Có lần một phóng viên tới, tay cầm máy ảnh. Sư đòan trưởng bảo chúng tôi rằng ngày hôm đó sẽ không có phi vụ nào và chúng tôi cho phép tay nhà báo chụp ảnh chúng tôi. Mấy phút sau, sư đòan trưởng ra lệnh cho trung đòan tôi gửi một biên đội đi thực hiện nhiệm vụ trinh sát. Tất cả các phi công đều thẳng thừng từ chối. Sư đòan trưởng chấp nhận và ông ta ra lệnh cho trung đòan trưởng chúng tôi bay đi thực hiện nhiệm vụ yêu cầu.

Trong trận Stalingrad ông đóng vai trò gì?  

Tại đấy, khi cuộc phản công lịch sử của quân đội Xôviết đang tới gần, mọi người đều cảm thấy tầm quan trọng của việc làm chủ bầu trời. Một đêm nọ, trung đòan trưởng của tôi tóm tắt cho tôi và các phi đội trưởng khác về lực lượng quân Đức, Ý, Rumani và Hungary tập trung xung quanh và cho chúng tôi biết về kế họach của quân đội Xôviết tổ chức cuộc tấn công tổng lực sau vài giờ nữa. Trong những giờ trước bình minh ngày hôm sau, anh ta đưa chúng tôi tới sân bay và yêu cầu chúng tôi bay đi kiểm tra xem một đơn vị lớn của lục quân Xôviết đã bị mất liên lạc vô tuyến với Bộ chỉ huy Phương diện quân đã tới được địa điểm đã định sẵn chưa. Cánh đồng ngập dầy dưới lớp tuyết mới rơi và phủ đầy sương mù dày đặc. Tầm nhìn ngang không vượt quá 300 mét, các lớp mây trôi ở cao độ dưới 30 mét. Tôi chọn ra một người bay kèm, chúng tôi nhẹ nhàng cất cánh và mau chóng bay tới được khu vực mục tiêu nằm bên hữu ngạn sông Đông. Chúng tôi trông thấy những xe ngựa và binh lính hành quân bộ phía dưới. Trở về căn cứ, chúng tôi thông báo với trung đòan trưởng rằng lực lượng kia đã tiến quân và vượt qua sông Đông. Một giờ sau, báo cáo của chúng tôi tới được Bộ Chỉ huy Tối cao tại Maskva. Trong những năm 50, khi tôi ở trong Học viện Không quân ở thủ đô, tôi được biết rằng Josif Stalin khi ấy đã dựa trên báo cáo về việc chọc thủng phòng tuyến địch nhờ cuộc hành quân của Lữ đòan xe tăng 26 và đưa ra quyết định chiếm thị trấn Kalach trên sông Đông, và lữ đòan đó đã khép kín vành đai lịch sử bao vây tất cả các lực lượng Quốc xã xung quanh Stalingrad. Khỏang 300 ngàn quân Đức đã bị bao vây.

Ông cũng tham gia trận Kursk, và khi đó căn cứ không quân của ông nằm rất gần khu vực diễn ra trận đấu tăng nổi tiếng gần Prokhorovka. Ông có chứng kiến trận đấu tăng đó không?

 Tôi đã bắn hạ 12 máy bay địch ở gần Prokhorovka. Tôi cũng bị thương và được thăng lon đại úy tại đấy. Trận đánh tại khu vực này rất dữ dội. Rất nhiều phi vụ được thực hiện ở độ cao thấp, nếu không muốn nói là bay là là sát mặt đất.

6

FYODOR ARKHIPENKO bên chiếc tiêm kích AIRCOBRA của mình. 1944.

Một hôm, chúng tôi hạ cánh, đổ thêm xăng và bay lên thì trông thấy nhiều xe tăng Đức tiến ngay sát sân bay chúng tôi. Chỉ huy chúng tôi ra lệnh tiếp tục bay mà không rút lui về sân bay dự phòng.

Phía trên chiến trường của trận đấu tăng, bất cứ thời điểm nào cũng có ít nhất 200 máy bay Đức. Các phi công Xôviết giao chiến với chúng trên mọi độ cao. Trung đòan Không quân 508 chúng tôi thực hiện nhiệm vụ tại độ cao dưới 2000 mét. Các trung đòan khác, hầu hết trang bị máy bay Lavochkin-5 (La-5), tuần tra trên độ cao khỏang giữ 2000 tới 5000 mét. Về phía quân Đức, cũng vậy, ta có thể quan sát thấy rất nhiều kiểu máy bay. Khói và bụi từ những trận đánh dưới mặt đất bốc cao lên không trung tới hàng trăm mét và thường gây khó thở cho các phi công.

Trong trận Kursk, Không quân Xôviết đã chiến thắng và thống trị không có đối thủ trên bầu trời trên khắp mặt trận Xô-Đức. Chiến đấu đã trở nên dễ dàng hơn nhiều đối với phe Xôviết.

Ông có tham gia trận đánh đặc biệt ác liệt nào trong thời kỳ sau trận Kursk hay không?

Tôi còn nhớ những trận đánh ác liệt ở gần Iasi tại Rumani. Trong 8 ngày chiến đấu tại phía Bắc thành phố đó, hai bên mất tổng cộng khỏang 1200 máy bay. Các cánh đồng trông như những đống sắt vụn khổng lồ. Có lần, tôi và năm phi công Xôviết khác đã phải không chiến chỉ vài giây sau khi cất cánh trong suốt một ngày liên tục phải cất cánh, đụng độ ngắn ngủi nhưng ác liệt và hạ cánh. Tôi chạm trán với một chiếc Messerschmitt-109 (Bf-109 – LTD) và bắn hạ nó. Nó đâm xuống mặt đất chỉ cách Trạm chỉ huy Lữ đòan tôi có 150 mét. 

Một bài hát vui phổ biến thời đó mô tả phi công như những kẻ chỉ biết có máy bay và không quan tâm gì tới các cô gái. Thực tế thì như thế nào?

7

Các phi công của Phi đội 1 và 2 thuộc Trung đòan Không quân Cận vệ 129. RUMANIA, 1944.

Thật ra, chúng tôi không được gặp gì khác ngòai các sân bay và thực hiện các phi vụ từ bình minh cho tới tận chiều tối suốt bảy ngày trong tuần. Tôi phải bay tới 4 phi vụ mỗi ngày. Sau khi mặt trời lặn, chúng tôi đi tới nhà ăn và rồi là về lều ngủ của mình. Thú vị thay, người vợ tương lai Lidya của tôi khi ấy ở cách sân bay dã chiến của tôi không xa, tại Rossosh gần thành phố Voroshilovgrad, và nàng thường trông thấy chiếc tiêm kích của tôi bay là là một mình mỗi khi tôi bay đi thực hiện phi vụ oanh kích các đòan công voa quân Đức trên tuyến đường chạy qua ngôi làng Gvozdovka của nàng. Chúng tôi đã gặp mặt nhau sau khi chiến tranh kết thúc.

Trong chiến tranh, tôi không có người thân nào để khuyến khích động viên. Họ sống trong vùng bị bọn Quốc xã kiểm sóat và tôi không nhận được tin tức gì của họ. Nhiều năm sau, tôi mới biết rằng bọn Quốc xã đã giết hại người bà yêu qu‎ý ‎ của tôi bằng cách ngâm bà vào dầu lửa và thiêu sống bà. Mọi người kể rằng bà đã liên lạc với các chiến sĩ du kích địa phương. Anh trai tôi cũng đã ngã xuống gần Prokhorovka khi đang dẫn đầu một tiểu đòan bộ binh. Chúng tôi nhận được giấy báo tử chính thức xác nhận anh đã hy sinh trong chiến đấu sau khi chiến tranh kết thúc. Các đồng chí của tôi thường nhận được thư từ từ gia đình mình. Tôi thì không bao giờ. Tôi yêu cầu cha mẹ họ viết thư cho tôi. Một vài đồng chí khác thì viết thư qua lại bằng cách chọn những địa chỉ in trong các tờ báo. 

Ông còn nhớ có trường hợp nào khiến ông cười vui không? 

Thật ra cũng có khá ít. Gần Yampol, một phụ nữ địa phương khi đang đãi tôi và đồng đội món trứng bắc đã than phiền rằng bọn lính Đức đã cướp mất con bò cái của bà. Tôi lập tức trao cho bà tất cả số tiền tôi có trong người, khỏang 700 rúp. Khỏang 40 phút sau, bà quay lại với một chú bò mới tậu bên mình. Câu chuyện này lan ra khắp lữ đòan. Trên bầu trời, bọn họ trêu tôi bằng cách gọi vào bộ đàm như sau: “Số Mười, Số Mười”, — đó là tên hiệu của tôi — “có một đàn bò phía dưới, trong đó có một con là của cậu”. Lần nào như vậy tôi cũng đỏ cả mặt lên và đáp lại bằng những từ ngữ không hay gì. Kể từ năm 1943 đó, con bò cái của tôi chắc hẳn đã sản sinh ra vô số con cháu. Anh có thể sẽ trông thấy chúng đang gặm cỏ đâu đó gần Yampol.

Ông ở đâu trong Ngày Chiến Thắng?

Tại Lipetsk, trong một khóa học chỉ huy không quân mà tôi đã được chuyển tới từ tháng Tư năm 1945. Ban đầu thật khó tin rằng chiến tranh đã thật sự kết thúc. Tới tháng Sáu, tin tức đã tới được khóa học tại Lipetsk cho biết rằng tôi đã được phong tặng Anh hiệu Anh hùng Liên Xô.


 Dịch từ Anh sang Việt: Lý‎ Thế Dân

One thought on “Ký ức chiến tranh (Hồi ức của những binh sĩ Xôviết từng tham gia cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại)- Phần 12

  1. Pingback: Ký ức chiến tranh (Hồi ức của những binh sĩ Xôviết từng tham gia cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại)- Phần 1 | Nghiên Cứu Lịch Sử

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s