Bàn về “Vu” và “Vu thuật” trong dân gian thời Lưỡng Hán

vu co.jpg

Mã Tân

Hoàng Phương Mai dịch

1. Sự hưng thịnh của hiện tượng “vu chúc” 巫 祝 thời Lưỡng Hán.

“Vu” là những người thời xưa chuyên hành nghề cầu đảo, bói toán, chiêm tinh và dùng dược liệu để cầu phúc trừ tai, chữa trị bệnh tật cho con người. Trên thực tế, họ chính là cầu nối liên hệ giữa con người với thế giới thần linh. Sách Thuyết văn giải thích “Vu là người đàn bà có thể liên hệ với thế giới vô hình bằng lối múa giáng thần”. Trong thiên Ẩn Công tứ niên sách Công Dương truyện, Hà Hưu giải thích càng rõ ràng hơn: “Vu là người chuyên làm nghề cầu đảo quỷ thần để trị bệnh cầu phúc”. Thời Thương – Chu, vu có địa vị chính trị, xã hội rất cao. Họ chuyên giữ các hoạt động bói toán, chiêm tinh, cúng bái vốn có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội đương thời; họ là thế lực duy nhất làm môi giới cho giới thống trị với thần linh trên trời. ở họ có sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà: “đàn ông gọi là hịch, đàn bà gọi là vu” (Theo thiên Sở ngữ hạsách Quốc ngữ). Về chức phận cũng khác nhau: hịch “cai quản việc tế vọng tự, vọng diên, thụ hiệu, đứng bên vẫy cỏ mao(1), mùa đông xua đuổi ôn dịch, không hướng nào là không tính đủ(2); mùa xuân cầu an, trừ bệnh tật, điếu vua thì dự khấn trước vong linh”; vu “cai quản việc trai giới tắm gội trong lễ cầu phúc trừ tai hàng năm(3), hạn hán thì múa cầu mưa, điếu vương hậu thì dự khấn trước linh cữu, phàm bang có đại tai thì vừa ca vừa khóc mà khấn cầu” (theo Tư vu thiên Xuân quan sách Chu Lễ). Đến thời Xuân thu Chiến quốc, cùng với sự gia tăng chuyên chế quân chủ và sự ra đời của thể chế tập quyền trung ương, giới quân chủ phong kiến mới đã ra sức thâu tóm cả quyền lực thế tục lẫn thần quyền bao gồm các thứ quyền lực giữa con người với trời đất, giữa con người với thần linh, thậm chí với cả ma quỷ. Trong khi đó, vu hịch ngày càng phải dựa dẫm vào nền chính trị tập quyền quân chủ và trở thành vật phụ thuộc vào giới quân chủ.

Thời Tây Hán, một số ít vu hịch được chọn tham dự vào các hoạt động tế lễ của Nhà nước, nhằm giúp vua tế lễ trời đất quỷ thần. Phần Phong thiện thư trong sách Sử ký có ghi: “Thiên hạ đã định… Trường An đặt các chức quan coi việc tế tự và nữ vu. Vu nước Lương cúng tế trời, đất, thiên xã, thiên thủy, phòng trung và đường thượng(4); vu nước Tấn cúng tế Ngũ đế, Đông quân, Vân trung quân, Tư mệnh, vũ xã, vu từ, tộc nhân, tiên xuy(5); vu nước Tần cúng tế xã chủ, vu bảo, tộc luy(6); vu nước Kinh cúng tế đường hạ, vu tiên, Tư mệnh, thí cháo(7); vu cửu thiên cúng tế cửu thiên(8). Tất cả đều cúng tế trong cung theo mùa tiết”. Bên cạnh đó, sách này còn ghi chép rằng: một số nơi còn chỉ định một vài vu thay vua tế tự, chẳng hạn: “Vu sông Hoàng Hà cúng tế thần sông ở Lâm Tấn, vu Nam Sơn cúng tế Tần Trung ở Nam Sơn. Tần Trung chính là Nhị Thế Hoàng đế. Đều theo mùa vụ”. Sau khi Vũ Đế diệt Nam Việt, bèn hạ lệnh: “Vu nước Việt coi việc cúng tế ở nước Việt, chỉ cần lập đài chứ không cần lập đàn, cũng tế tự thiên thần, thượng đế và bách quỷ, dùng lối bói gà.”

Về sau, cách sử dụng vu và vu thuật của giới thống trị thời Hán có phần thay đổi. Thời Hán Vũ đế chính là một cái mốc quan trọng. Hồi này, do học thuyết Nho gia chiếm thế độc tôn cho nên vu và vu thuật dần dần bị đẩy lùi khỏi vũ đài chính trị. Đến thời Đông Hán, mọi điển lễ tế tự của quốc gia đều được quy định bởi lễ chế Nho gia, điều đó làm thay đổi tình trạng dùng vu tế lễ trời đất quỷ thần của thời Tây Hán trước đó. Các dịp đại tế như tế giao, tế xã, tế tông miếu… đều do quan Thái thường chủ trì, “mỗi dịp tế tự, trước tiên phải tấu lễ nghi đó” (Theo Bách quan chí ). Còn việc tế lễ ở các nơi thì do “Thái thú, huyện lệnh hoặc người đứng đầu làm chủ tế, vật tế dùng dê, lợn” (Theo Tế tự chí hạ ). Như vậy, về cơ bản, vu đã bị đẩy ra khỏi các hoạt động tế lễ mang tính nhà nước, và từ đó họ trở thành một giai tầng xã hội mang tính dân gian thuần túy.

Thời Lưỡng Hán, vu và vu thuật vẫn có một thị trường rộng lớn, bất luận giới thống trị ưa chuộng hay bài xích. Đành rằng vạn vật hữu linh, thần tiên ma quỷ không đâu không có, song biết bao chúng sinh trong xã hội bấy giờ ai nấy đều cảm thấy mình nhỏ bé và bất lực trước thế giới tự nhiên mà họ sinh tồn trong sợ hãi, trước xã hội mà họ lập thân khi thân tâm phải gánh vác nặng nề. Giới thống trị có thể tâng bốc thứ vương quyền trời ban, tự cho rằng mình là con cháu nhà trời, không chịu giáng làm người phàm thì đương nhiên họ cũng có thể liên lạc được với trời đất quỷ thần chứ đâu cần phải nhờ đến vu và vu thuật. Trong khi đó, đại bộ phận dân chúng vẫn phải trông cậy vào thế lực duy nhất mà họ cho rằng có thể giúp họ liên hệ với một thế giới khác, đó là vu và vu thuật, để cầu xin che chở, để ăn mày phúc lộc, nhằm bù đắp cho sự nhỏ nhoi yếu đuối của bản thân họ. Ngoài điều đó ra, không còn cách giải thích nào khác hơn. Tình hình vừa nói khiến vu và vu thuật bùng phát trong dân gian, trở thành một bộ phận tổ hợp hữu cơ trong đời sống xã hội nơi làng quê. Thiên Tán bất túc trong sách Diêm thiết luận, sách ghi chép lời nói của các vị hiền lương văn học(9), cũng có nêu rõ sự tồn tại khá phổ biến của hiện tượng này. Văn bản viết rằng: “Xưa kia, người đức hạnh cầu phúc, nên tuy có tế tự nhưng chỉ là thỉnh thoảng; người nhân nghĩa dưỡng cầu lành, nên tuy có bói toán nhưng cũng thưa thớt thôi. Đời nay, thế tục buông lỏng việc tu dưỡng mà cầu cạnh quỷ thần, lơ là với lễ mà chăm chỉ cúng bái, coi thường tình thân mà xem trọng quyền thế, hay xằng bậy nhưng lại tin vào ngày tháng, nghe lời nói vu vơ hoang đường mà may được, cho nên mới bỏ vật thực ra mà hưởng lấy cái hư phúc… Chính vì vậy mà phố phường có vu, xóm làng có chúc”. Thiên Địa lý chí hạ sách Hán thư có ghi: Nước Trần “chuộng tế tự, dùng sử vu nên phong tục toàn chuyện đồng cốt cúng bái”. Đất Sở “tin chuyện đồng cốt ma quỷ, trọng việc thờ cúng không chính đáng”. Thời Hán, vu và vu thuật ở đất Tề được coi là hưng thịnh vào bậc nhất trong thiên hạ. Địa lý chí hạ ghi rằng: “Nguyên người anh của Hoàn Công là Tương Công có tính dâm loạn, không chịu gả chồng cho cô, chị gái, em gái, các cô trưởng nữ trong dân gian cả nước không được lấy chồng, gọi họ là “vu nhi”, bắt ở nhà làm chủ tế cho gia đình, nếu ai đi lấy chồng thì gia đình sẽ bất lợi, đến nay dân vẫn giữ tục lệ ấy”. Vu nhi còn gọi là “thi nữ”. Viên Mai đời Thanh đã khảo chứng vấn đề này qua thiên Thi nữsách Tùy Viên tùy bút rằng: “Vào những ngày sinh hoạt cộng đồng thì các vu nhi đều xuất hiện. Họ ăn mặc diêm dúa, nói cười huyên náo. Vì thế mà khi Trang Công đến xem, Tào Quệ cho là phi lễ. Thi nữ có lẽ chính là vu nhi”. Hiện tượng mỗi nhà lập một vu làm chủ tế cố nhiên chỉ là tục lệ đặc biệt của một địa phương nào đó trong một thời kỳ nào đó mà thôi. Nhưng ở thời Lưỡng Hán, mỗi một đơn vị thôn xóm đều có vu và vu gia, đó là một thông lệ. Trong Chiêu Thố truyện ở sách Hán thư có viết: Chiêu Thố khuyên Văn Đế mộ dân đưa tới vùng biên, ông ta mong muốn rằng khi Văn Đế lập các cụm cư dân mới ngoài biên tái thì phải “đặt ra các chức y và vu để chữa trị bệnh tật, trông coi việc tế lễ… Như thế là để dân yên vui với nơi ở mới mà nảy ra ý sinh sống lâu dài ở đó.”

Có điều khác so với trước là vu chúc trong xã hội dân gian thời Hán đã trở thành một thứ nghề nghiệp và vu thuật cũng trở thành một biện pháp mưu sinh. Về việc này, các vị hiền lương văn học trong hội nghị Diêm thiết(10) đã chỉ ra rằng: “Thế tục giả dối lọc lừa, vu chúc cúng bái cho dân để lấy lễ lộc, nhờ khua môi múa mép mà có kẻ trở nên giàu có, cho nên những người sợ việc đều rời bỏ bản nghiệp để theo học” (Theo Tán bất túc trong Diêm thiết luận). Chính vì thế mà vào thời Vương Mãng người ta mới coi các hoạt động đồng cốt, bói toán là hành vi kinh doanh sinh lời và cũng phải nộp thuế như thương nhân, thợ thuyền… Phần Thực hóa chí hạ sách Hán thư ghi luật thu thuế thời Vương Mãng như sau: “Thợ thuyền, lang y, vu chúc, thầy bói và những người buôn bán nhỏ khác bày hàng mở hiệu trong thôn xóm, mỗi nghề đều có vị trí của mình, trừ tiền vốn, tính nguyên tiền lời chia làm mười một phần, nộp thuế một phần”.

Vu chúc đã là một nghề nghiệp, một phương tiện mưu sinh thì đương nhiên cũng bị liệt vào hàng “thiên hạ nhốn nháo, đều đổ xô đi kiếm lợi”, và họ cũng thu lợi tới mức tối đa. Do vậy, “dựa vào quỷ thần để lừa bịp dân chúng” (Theo Đệ ngũ luân truyện), và tệ sách nhiễu quá đáng đã trở thành một hiện tượng tồn tại khá phổ biến. Ưng Thiệu cho rằng: “Phong tục ở Cối Kê phần nhiều là cúng bái quàng xiên, chuộng bói toán, dân toàn tế bằng trâu bò. Vu chúc hạch sách đòi lễ lộc, dân sợ miệng lưỡi họ, sợ họ trù nên không dám phản đối”. Điều này gây nên tình trạng một bộ phận dân chúng “khuynh gia bại sản vì chuyện cúng bái quỷ thần” (Theo Quái thần trong Phong tục thông nghĩa).

Thiên Phù xỉ trong Tiềm phu luận có đoạn bàn về tình trạng vu thuật tràn lan như sau: “Kinh Thi từng mỉa mai hiện tượng “bất tích kỳ ma, nữ dã bà sa”, nghĩa là: đàn bà không lo việc xe đay dệt sợi, mà chỉ múa may cầu cúng. Nay nhiều người không chịu lo chuyện bếp núc, bỏ việc chăn tằm dệt lụa mà đua học vu chúc, múa may cầu thần để lừa bịp trăm họ, mê hoặc muôn dân. Phụ nữ yếu đuối hoặc nhà có người ốm đau thì thấp thỏm trong lòng, hoang mang, sợ hãi; đến khi phải bôn tẩu, rời bỏ cửa nhà, thất thểu bên đường, trên dột dưới ẩm, cảm nhiễm phong hàn, bị kẻ gian lợi dụng, đạo tặc hoành hành. Họa vô đơn chí, khiến bao người bệnh trở nên nặng thêm. Có người thì bỏ thuốc thang quay sang cầu cúng, cho nên đến khi chết vẫn không biết mình bị lừa, còn hận rằng tìm đến vu chúc quá muộn, thật là mê hoặc dân quá đỗi”. Có thể nói Vương Phù đã vạch rõ hành vi lừa đảo, đầu độc nhân dân của bọn vu chúc.

Giới vu chúc thường lèo lái tráo trở, nhằm đạt được lợi ích về kinh tế. Trong một thời gian nào đó, họ đã góp phần làm cho tục vu chúc trong dân gian trở nên thịnh hành và đạt tới hiệu quả giống như việc truyền giáo vậy. Tuy nhiên, xét theo góc độ tín đồ và người được truyền bá thì hiệu quả cũng có chỗ khác. Hành động ngang nhiên lừa đảo để kiếm tiền của vu chúc thời Lưỡng Hán chỉ mang tính chất bịp bợm nhất thời, đe dọa nhất thời và đương nhiên cuối cùng nó cũng phải tụt dốc. Còn tôn giáo thì đằng sau nó dù có mục đích kinh tế hay các mục đích thế tục khác chăng nữa, trước sau vẫn khoác chiếc áo tín ngưỡng nên nó vẫn đạt được những bước phát triển ổn định trong một khoảng thời gian tương đối khá dài. Kể từ sau thời Đông Hán, sự suy tàn của tục vu chúc cũng như sự hưng thịnh của tôn giáo đều có nguyên nhân liên quan đến điều đó. Đương nhiên, thời Lưỡng Hán vẫn là thời đại hoàng kim của vu và vu thuật.

2. Nội dung hình thức vu cổ thời Lưỡng Hán.

Vu thuật là một thứ phép thuật lợi dụng “lực lượng siêu nhiên” hư cấu để thực hiện những nguyện vọng nào đó. Còn thuật “vu cổ” thời Lưỡng Hán thì lại là một loại vu thuật đen tối (hắc vu thuật), thâm độc đến nỗi mà mỗi khi nhắc tới, người ta cảm thấy ghê rợn. Đây là một thủ đoạn của vu sư dùng tà thuật để làm hại người khác. Nó đã bị giới thống trị nghiêm cấm. Thời Lưỡng Hán, giới thống trị thường sử dụng biện pháp tru di cả họ đối với kẻ nào sử dụng thuật vu cổ. Chẳng hạn, Truyện Công Tôn Ngao trong sách Hán thư có nói “Ngao là một viên quan nhỏ, đáng phải tội chết mà giả chết, lẩn trốn trong dân gian năm sáu năm. Về sau bị phát giác, lại bị bắt. Do vợ làm vu cổ nên bị chém cả họ. Truyện Triệu Phá Nô cũng trong sách này chép: “Sống trong tộc Hung Nô mười năm, rồi cùng Thái tử An Quốc trốn sang Hán. Sau mắc tội làm vu cổ, bị tru di cả họ”.

Thời Tây Hán có một câu chuyện nổi tiếng mãi về sau, đó là cái họa vu cổ do Giang Sung gây nên. Truyện Giang Sung trong sách Hán thư kể rằng: “Vua đến thăm Cam Tuyền và đổ bệnh. Sung thấy vua tuổi đã cao, e sau khi vua băng hà, mình sẽ bị Thái tử giết hại. Sung bèn nghĩ ra gian kế, tâu với vua rằng bệnh ấy do vu cổ gây nên. Thế là vua cho Sung làm sứ giả đi trừng trị bọn vu cổ. Sung sai vu người Hồ đào đất tìm hình nhân, bắt trùng cổ và cúng đêm, rình ma, tưới nước bẩn, sau đó bắt giữ y, nung đỏ kìm sắt bắt y phải nuốt. Dân chúng nhân đó vu cho nhau làm vu cổ, bị quan lại kết tội đại nghịch vô đạo, người mắc tội mà chết trước sau có tới mấy vạn. Lúc bấy giờ vua tuổi đã cao, nghi ngờ đám cận thần làm trùng cổ để nguyền rủa (thư) vua, kẻ còn người mất không ai dám kêu oan. Sung biết ý vua, nhân đó nói trong cung có khí trùng cổ, nên trước tiên phải trừng trị các phu nhân ít được vua lâm hạnh, thứ đến là Hoàng hậu. Bèn đào tìm trùng cổ ngay trong cung Thái tử, được một hình nhân bằng gỗ trẩu. Thái tử lo sợ nhưng không thể tự biện minh được, bèn cho người bắt Sung và tự tay chém chết…”.

Từ câu chuyện trên, chúng ta có thể nhận thấy hai vấn đề: Thứ nhất, mặc dù giới thống trị nghiêm cấm các hoạt động vu cổ, song vẫn còn không ít kẻ biết và thực hiện phép thuật ấy. Giang Sung và tên vu sư người Hồ kia trên thực tế đều rất thông thạo thuật vu cổ. “Dân chúng nhân đó vu cho nhau làm vu cổ… trước sau có tới mấy vạn người”, điều này cho thấy thuật vu cổ vẫn tồn tại phổ biến trong dân gian. Thứ hai, phép thuật chủ yếu của hình thức vu cổ này là chôn hình nhân xuống đất. “Sung sai vu người Hồ đào đất tìm hình nhân”, “đào đất tìm trùng cổ ngay trong cung Thái tử, được một hình nhân bằng gỗ trẩu”. Bên cạnh đó còn có các biện pháp bổ trợ như: cúng đêm, rình ma…

Về vấn đề này, Cù Đoài Chi tiên sinh đã tổng kết trong cuốn Hán đại phong tục chế độ sử rằng: “Thuật vu cổ đại để là dùng gỗ trẩu làm thành hình người, chôn xuống đất, lấy kim đâm vào để nguyền rủa (thư) cho người đó chết. Phần Vương chế trong sách Lễ ký chú thích rằng: “Đào được sáu con hình nhân bằng gỗ trẩu, đều bị kim đâm đầy mình…”.

Loại vu thuật dùng hình nhân làm đạo cụ, thực chất là một loại phép thuật dùng hình nhân để gây hại ở buổi cổ sơ ra đời từ thời săn bắn nguyên thủy. Mới đầu, nó chỉ là một hình thức làm phép đối với vật săn trước giờ săn bắt. Đến thời xã hội có giai cấp, nó được nhân rộng ra. Thiên Ân bản kỷ trong sách Sử ký viết về Ân vương Vũ ất: “Vô đạo, làm hình nhân, gọi đó là thiên thần, đánh bạc với nó, sai người xếp thành hàng. Thiên thần không thắng, bèn bắt nó phải chết nhục. Làm túi da đổ đầy máu vào, treo lên rồi bắn, gọi là bắn trời. Đó là thuật dùng hình nhân để làm hại rất điển hình. Thiên Phong thiện thư trong sách Sử ký ghi chép việc vu chúc tên là Trường Hoằng bắn “đầu con ly” cho Chu Linh vương cũng thuộc tục lệ này. Bắn “đầu con ly” tức là lấy hình nhân làm bia bắn, nếu vua chư hầu nào không chịu đến triều bái thì làm hình nhân người đó rồi bắn. Tô Tần liệt truyện trong Sử ký cũng viết rằng: Nước Tần muốn đánh nước Tống nhưng lại sợ nước Tề cứu viện, bèn bảo người nước Tề rằng: “Vua nước Tống vô đạo, làm người gỗ giống như nhà vua (quả nhân) rồi bắn vào mặt”. Qua đây có thể thấy ở thời Xuân thu – Chiến quốc, vu cổ đã là một thứ thuật đồng cốt ác độc nhất dùng để đối phó với kẻ thù, và tất nhiên mối quan hệ giữa người bị phù phép với người làm phép là mối quan hệ thù địch không đội trời chung. Đến thời Hán, đa phần là hình thức chôn tượng kẻ thù xuống đất, ngoài ví dụ điển hình về Giang Sung như đã nêu trên, Truyện Công Tôn Hạ sách Hán thư còn ghi: “(Chu) An Thế Toại trong ngục dâng thư tố giác việc Kính Thanh thông dâm với công chúa Dương Thạch và sai người cúng bái nguyền rủa vua, lại chôn hình nộn dưới con đường dẫn tới Cam Tuyền, lời nguyền mang nhiều ác ý”. Trong một cuộc khai quật bãi chiến trường cũ ở Đôn Hoàng, Aurel Stein(10) phát hiện ra hai pho “tượng thần tạc bằng gỗ” với khuôn mặt dữ dằn đáng sợ. Thực ra đó là những bức tượng quân địch bị chôn trong lòng đất. Cách tạc hình nhân bằng gỗ hay cách làm hình nhân gỗ trẩu như đã dẫn ở trên đều có tác dụng như nhau. Chôn hình nhân dưới lòng đất là có ý để nó bị giày xéo cho chóng chết. Tập tục này còn lưu truyền mãi về sau. Truyện Nguyên Hung Thiệu trong sách Tống thư kể rằng: Con trưởng của Tống Văn đế là Lưu Thiệu mắc nhiều tội lỗi. Thiệu sợ bị thất sủng, bèn bí mật mưu hại vua: “Lấy ngọc nhân làm thành hình nhân của vua rồi đem chôn ở trước điện Hàm Chương”. Lưu Thiệu đem chôn hình nhân Văn đế trước điện Hàm Chương là muốn để người ta giẫm đạp lên. Mãi đến thời cận đại, dân tộc Thái vẫn còn lưu giữ hình thức vu thuật này. Một hình thức trả thù quan trọng của người dân tộc Thái là nặn hình kẻ thù bằng đất sét rồi chôn xuống lòng đường đi để mọi người giẫm đạp lên cho kẻ thù đó chết đi.

Vu thuật ám hại bằng hình nhân cũng tồn tại phổ biến trong các dân tộc cổ xưa khác trên thế giới. Sigmund Frend(11) đã tổng kết rằng: “Thông thường, trò ma thuật phổ biến nhất được dùng để ám hại kẻ thù là làm tượng kẻ thù bằng những vật liệu đơn giản. Tượng giống hay không, không quan trọng, mà chỉ cần thành tượng là được. Sau đó làm tổn hại đến bất cứ bộ phận nào trên bức tượng cũng chính là làm tổn hại đến bộ phận đó trên cơ thể kẻ thù, khiến bộ phận đó sinh bệnh tật”.

Tuy nhiên, hình thức ám hại bằng hình nhân chỉ là hình thức chôn hình nhân xuống đất chứ không phải là toàn bộ nội dung thuật vu cổ. Theo sách Hán thư thì hình thức ám hại bằng hình nhân là hình thức chủ yếu của thuật vu cổ. Ngoài ra, thuật vu cổ còn bao hàm cả một phép thuật khác thần bí hơn mà nếu tách rời khỏi thứ phép thuật này thì bản thân thuật vu cổ hầu như không còn khiến người ta phải phấp phỏng lo sợ vì nhỡ đâu không tránh kịp, đó là thuật “cổ”. Song không rõ vì lẽ gì mà khi ghi chép các sự kiện về vu cổ, Ban Cố lại không trình bày tường tận về nội dung này.

Về hàm nghĩa của chữ “cổ”, thiên 13 trong sách Thuyết văn giải tựgiải thích rằng: “Cổ là một loại trùng trong bụng”. Xuân thu truyệnthì viết: “bộ mãnh (皿) với bộ trùng (虫) thành chữ cổ (蠱), loài này sinh sống ở chỗ quá tối. Ma của con cú vọ trừ tai chết cũng trở thành cổ”. Từ đoạn văn này có thể thấy cổ gồm 4 hàm nghĩa sau:

Hàm nghĩa thứ nhất là “loài trùng trong bụng”. Khi loài này vào được trong bụng, chúng sẽ làm cho ngũ tạng ruỗng nát, dẫn đến tử vong. Như phần Thứ thị trong Thu quan tư khấu ở sách Chu lễ,Trịnh Huyền chú rằng: “Loài cổ độc vào (bụng) sẽ làm loét (các cơ quan nội tạng)”.

Hàm nghĩa thứ hai: “ bộ mãnh với bộ trùng thành chữ cổ” là nói đến cách làm ra loại trùng cổ này.

Hàm nghĩa thứ ba: “sinh sống ở nơi quá tối” là nói đến loại bệnh trùng cổ. Thiên Chiêu Công nguyên niên sách Tả truyện viết: âm quá nhiều thành bệnh hàn, dương quá nhiều thành bệnh nhiệt, gió quá nhiều thành bệnh ngọn (?), mưa quá nhiều thành bệnh đau bụng, tối quá nhiều thành bệnh mê hoặc, sáng quá nhiều thành bệnh tim. Dương vật của anh gặp thời tiết quá tối, tất sinh bệnh trùng nội nhiệt. Triệu Mạnh hỏi “Thế nào gọi là trùng cổ ?”. Đáp rằng: “Là loài trùng sinh ra do đắm chìm trong mê loạn”.

Hàm nghĩa thứ tư: “Loại ma của con cú vọ trừ tai chết”, ý nói trùng cổ là một loài ma hung hãn. Thiên Phong thiện thư trong Sử ký ghi chuyện thời Tần Đức Công: “Làm đền thờ, đặt chó ở bốn cửa để chống tai họa trùng cổ”. Phần Sách ẩn viết: “Ma của con cú vọ trừ tai chết trở thành cổ, cho nên Nguyệt lệnh nói: “đại na, bàng tách (xua đuổi ôn dịch, từ tai ở bên cạnh)”. Lại chú rằng: “Tách tức là trừ tai, ma dữ chính là cổ, thường ra hại người, trừ tai bên cạnh các cửa ở bốn hướng”. Thế cho nên mới đặt chó trừ tai ở bốn cửa. Sách Phong tục thông nghĩa viết: “Giết chó trừ tai”.

Ngoài ra, trùng cổ còn có một số hàm nghĩa khác. Như ở Thiên Chiêu Công nguyên niên sách Tả truyện viết: “Thóc lúa bay cũng thành cổ. Trong Chu Dịch nữ mê hoặc nam, gió đội xuống núi đều gọi là cổ, cùng là một vật vậy”. Lại chú rằng: “Thóc để lâu thì biến thành côn trùng bay, gọi là trùng cổ”. Loài trùng cổ ở đây thực ra là một loại côn trùng biết bay.

Xét theo nội dung vu cổ thời Hán thì loài cổ dùng trong hoạt động vu thuật nhằm hãm hại người khác mang hai hàm nghĩa đầu, đó cũng chính là cách dùng đồ dựng tạo ra loại trùng cổ, sau đó cho nó vào bụng người khác để hãm hại người ta.

Cách hãm hại bằng trùng cổ ra đời từ rất lâu rồi. Trong các bài bốc từ thời Ân có các chữ như “có bệnh về răng thì duy có loài cổ là đáng sợ”. Thứ thị trong Thu quan tư khấu sách Chu lễ viết: “Họ Thứ quản việc trừ trùng cổ độc, lấy “công thuyết” (?) để nhương tai, lấy “gia thảo” (?) để diệt trừ. Trịnh Huyền chú rằng: “Trùng cổ độc là một loại côn trùng gây bệnh hại người”. Sách Tặc luật viết: “Kẻ nào làm trùng cổ hại người hoặc truyền bá trùng cổ thì sẽ bị xử chém giữa chợ”. Qua lời dẫn của Trịnh Huyền, chúng ta có thể nhận thấy thuật dùng trùng cổ độc tồn tại ở thời Hán. Còn cách làm cụ thể thì có lẽ do sợ bị truyền bá rộng ra nên không ghi vào sách vở nhằm tránh bị trở thành “kẻ truyền bá”. Đến thời Đường, thuật dùng trùng cổ độc vẫn bị nghiêm cấm. Tặc đạo luật, quyển thứ 18 trong Đường luật sớ nghi quy định rằng: “Kẻ nào nuôi trùng cổ độc hoặc truyền bá trùng cổ thì sẽ bị xử giảo”. Lại thích nghĩa rằng: “Trùng cổ có nhiều loại, khó có thể cứu xét hết; việc thờ cúng theo tà đạo, không thể nào biết cho cùng”. Song phần Địa lý chí hạ sách Tùy thưlại tiết lộ cho chúng ta biết phương pháp cơ bản để tạo ra trùng cổ và sử dụng trùng cổ. Sách viết rằng: “Phong tục các quận Tân An, Vĩnh Gia, Kiến An, Toại An.. Nghi Xuân cũng giống như Dự Chương. Những quận này thường nuôi trùng cổ, nhất là quận Nghi Xuân. Tục của họ là vào ngày mùng 5 tháng 5 thu nhập hàng trăm loại côn trùng, lớn thì kể đến rắn rết, nhỏ thì kể đến chấy rận, rồi bỏ cả vào trong một thứ đồ đựng cho chúng ăn thịt lẫn nhau, khi nào còn một con thì lưu lại, nếu là rắn thì gọi là “xà cổ” (trùng rắn), nếu là chấy rận thì gọi là “sắt cổ” (trùng rận), dùng để giết người. Người nào nuốt phải nó vào bụng, nó sẽ ăn ngũ tạng của người đó, người đó chết đi thì gia sản sẽ rơi vào tay người làm chủ con trùng cổ, còn nếu ba năm không giết được người đó thì kẻ nuôi trùng cổ tự dẹp bỏ trò xấu xa của mình. Con cháu các đời lưu truyền mãi mãi. Can Bảo gọi nó là quỷ, kỳ thực không phải vậy. Kể từ sau loạn Hậu Cảnh, những kẻ chứa trùng cổ phần lớn đều bị diệt, trùng cổ không còn chủ nhân, cho nên những con bay lượn chạy nhảy trên đường đều bị chết”.

Qua đoạn văn trên chúng ta có thể thấy trùng cổ thực chất là vật phái sinh của tục sùng bái thần linh. Đem các loại trùng cổ bỏ vào một thứ đồ đựng cho chúng tàn sát lẫn nhau, con nào sống được đến giờ phút cuối cùng sẽ trở thành con đại diện. Nếu con còn sống là con rắn thì gọi là xà cổ, nếu đấy là chấy rận thì gọi là sắt cổ. Cho dù là xà cổ hay sắt cổ thì lúc này nó cũng không còn là bản thân nó như ý nghĩa vốn có, mà nó là tập hợp của các loại côn trùng bị nó ăn thịt, mọi cái linh nghiệm của các con côn trùng độc đều tập trung vào nó. Chủ nhân nuôi dưỡng nó có nghĩa là anh ta có các loài côn trùng độc. Khi cần thiết, anh ta có thể cho con trùng độc quái đản này vào trong bụng kẻ bị hại, còn con trùng cổ mà anh ta nuôi dưỡng vẫn nằm y nguyên ở chỗ cũ. Như vậy, anh ta có thể sử dụng đi sử dụng lại con trùng cổ.

Cách tạo ra trùng cổ như trên xem ra rất ăn khớp với cách nói “mãnh trùng vi cổ” trong Tả truyện, như Thuyết văn giải tự đã dẫn. Trên thực tế, chữ “cổ” trong văn giáp cốt là chữ hội ý, chỉ những con côn trùng nhỏ chứa trong chậu. Cách tạo trùng cổ thời Hán về đại thể cũng giống như sách Tùy thư đã viết. Các sử liệu thời Hán không thấy ghi chép một chữ nào về cách thức dân gian sử dụng trùng cổ và biến trùng cổ thành “trùng trong bụng” kẻ thù. Chúng ta đành phải trông cậy vào những ghi chép ra đời muộn hơn một chút để tìm hiểu về thuật này.

Các quyển 3, 4 và 7 sách Thái Bình ngự lãm dẫn sách Tống thư rằng: “Bấy giờ tướng Đường Tú người quận Bái đến nhà Chu Khởi Điền Bành ở phía bắc thôn uống rượu, khi về thì ngã bệnh, nôn ra hơn chục con trùng cổ. Trước khi chết bảo vợ rằng: “Sau khi chết thì mổ bụng ra xem bệnh”. Về sau vợ mổ ra xem thì thấy ngũ tạng đã ruỗng nát cả”. Đây rõ ràng có ý nói rằng Đường Tú sang thôn bên uống rượu mắc phải mưu hại bằng trùng cổ độc.

Trong Tục sưu thần ký, Đào Tiềm có kể về một Hòa thượng gọi là Đàn Du Đạo nhân đến một nhà nọ ở huyện Diệm xin bố thí. Nhà này “làm trùng cổ, người dùng đồ ăn thức uống nhà ấy không ai không thổ ra huyết mà chết”. Nhưng khi chủ nhân mang thức ăn ra, Đàn Du niệm một câu thần chú, kết quả là “một con rết dài hơn một trượng bò ra khỏi mâm, sau đó ăn uống như thường mà vẫn bình yên vô sự”. Đoạn văn này tuy mang tính hoang đường bịa đặt, song qua đó chúng ta có thể thấy sơ qua diện mạo thuật vu cổ.

Xem ra, cách hãm hại người khác bằng trùng cổ mà dân gian thường dùng chủ yếu thông qua đường ăn uống. Thời Hán cũng vậy.

Nói chung, trong xã hội thời Hán, thuật vu cổ nhằm hãm hại người khác gồm hai loại phép thuật: một là làm hình nhân chôn xuống đất; hai là nuôi trùng độc. Cả hai phép thuật này đều là phương thức để trút mối thù hằn oán hận lên đầu kẻ thù và là loại vu thuật xấu xa điển hình. Cho dù giới thống trị nghiêm cấm, song trong dân gian vẫn tồn tại và lưu truyền mãi về sau.

3. Tính chất hai mặt của thuật khấn nguyền và thuật giáng thần.

Thời Lưỡng Hán, thuật khấn nguyền và thuật giáng thần rất thịnh hành trong dân gian. Tuy nhiên, nó có điểm khác so với thuật vu cổ ở chỗ, nó vừa có tác dụng hãm hại người khác, vừa có tác dụng trừ tai trị tật. Như vậy nó bao hàm cả hai tính chất lành mạnh và không lành mạnh. Đó cũng là nét đặc biệt của hoạt động vu thuật truyền thống ở Trung Quốc.

Thông thường khấn nguyền là một hoạt động vu thuật sử dụng lặp đi lặp lại những từ ngữ nhất định để khấn cáo với quỷ thần, nhằm biểu đạt ý nguyện của mình thông qua một nghi thức nào đó. Mục đích của việc làm này là tìm đến với thần linh trong tưởng tượng để cầu xin thần linh đáp ứng nguyện vọng của mình, nhằm cầu phúc, trừ tai.

Thời Lưỡng Hán, phần nhiều người ta đều cho rằng vu chúc có thể liên hệ với thần linh thông qua những lời khấn nguyền. Thiên Giao tự chí thượng sách Hán thư chép: “Thiếu Ông người nước Tề được gặp vua nhờ phép thuật. Vua có người phu nhân yêu, phu nhân mất, đêm ấy Thiếu Ông dùng phép thuật khiến cho hình hài của phu nhân và thần bếp đều nói, thiên tử đứng bên trong màn che trông ra xem”. Thiên Hung Nô truyện hạ sách Hán thư thì chép: “Năm Nguyên Thọ thứ hai, Đan Vu vào chầu, nơi vua sai thần Thái tuế khấn nguyền ở tại cung Bồ Đào vườn Thượng Lâm”. Thiên Phương thuật truyện hạ sách Hậu Hán thư ghi rằng: “Thời Chương đế có ông Thọ Quang hầu có thể vạch mặt trăm ngàn ma quỷ khiến cho nó phải tự hiện hình chịu trói. Vợ người làng ông bị ốm do ma làm, ông liền ra tay và bắt được một con rắn dài đến mấy trượng, nó chết ở ngoài cửa. Lại có một cây thần mà người nào dừng chân dưới gốc cây sẽ chết, con chim nào bay qua sẽ sa xuống, ông đợi đến mùa hè lại ra tay, giữa mùa hè cây khô héo, thấy một con rắn dài bảy tám trượng chết treo ở giữa”.

Thoạt đầu, thuật khấn nguyền chủ yếu dùng để chữa trị bệnh tật. Chính sự ngu muội và lạc hậu ở thời thượng cổ khiến người ta không nhận thức được nguyên nhân gây bệnh thực sự, mà cho rằng ma quỷ ôn dịch đang tác oai tác quái, và chỉ có nhờ biện pháp khấn nguyền mới đuổi nó đi được, mới chữa khỏi được. Hiện tượng trị bệnh bằng biện pháp khấn nguyền bắt đầu xuất hiện từ thời Ân Thương, đến thời Lưỡng Hán thì đạt đến mức cực thịnh hành. Quyển 10 sách Hàn thi ngoại truyện chép rằng: “Thời thượng cổ, thầy lang gọi là mao phu. Mao phu làm thầy lang, lấy cây hoàn làm chiếu, lấy hoa phù dung (đảm) làm chó, quay mặt về hướng bắc mà khấn mười lần, những người ốm yếu được dìu đến đều bình phục như cũ”. Đoạn này miêu tả hiệu quả của việc trị bệnh bằng phương pháp khấn nguyền của các mao phu có thể khiến người ốm tưởng như không thể dậy nổi đã khoẻ dần như ban đầu. Thiên Di tinh biến khí luận trong sách Tố vấn cũng viết: “Bệnh tật thời xưa duy có bệnh biến đổi tinh khí là có thể khấn nguyên nhân gây bệnh mà khỏi được”. Vương Băng chú rằng: “ Kêu khấn nguyên nhân gây bệnh mà không cần đến thuốc thang, cho nên gọi là khấn nguyên nhân gây bệnh”. Đây là cách giải thích khá điển hình về việc trị bệnh bằng phương pháp khấn nguyền. Thiên Ngụy Kỳ Vũ An hầu liệt truyệnghi: “Vũ Hầu ốm… sai vu chuyên bắt ma đến bắt”.

Thời Hán, trị bệnh bằng phương pháp khấn nguyền, còn gọi là đảo tự (禱 祀) hay đảo thỉnh (禱 請), rất thịnh hành trong tầng lớp thượng lưu cũng như tầng lớp thường dân. Những người chuyên hành nghề cầu đảo cũng rất phát đạt. Thiên Hoàng hậu kỷ sách Hậu Hán thư ghi: “(Đặng) Thái hậu thân thể bất an, tả hữu hốt hoảng, vội vã cầu khấn xin được tha mạng”. Trên thẻ tre viết về vu thuật niên hiệu Kiến Sơ năm thứ 4 vừa được khai quật trong mấy năm gần đây có ghi chép việc một cặp vợ chồng gia tộc họ Điền, mời một bà vu tên là Hạ đến cầu đảo khấn nguyền cho mẹ mình (có thuyết còn gọi bà là Tự Ninh, tức tên của bà vu) đang ốm nặng. Các quỷ thần được khấn cầu gồm 15 loại: Tư mệnh, thương quân, nam thương, nữ thương, thủy thượng, hoàng quân, cát (lạp) quân, quách quý nhân, đại phụ mẫu, trượng nhân, quan xã, điền xã, đông bắc quan bảo xã, xuy hưu, đại gia tây nam. Trên các thẻ tre thời Hán khác khai quật được ở Bao Sơn, Vọng Sơn, Cửu Điếm Sở; hay các thẻ gỗ khai quật được trong một ngôi mộ thời Hán ở số 5 Hồ Trường, huyện Hán Giang, tỉnh Giang Tô cũng có tên các vị thần tương tự.

Đạo giáo nguyên thủy, thứ Đạo giáo hưng thịnh vào cuối đời Đông Hán, đã hấp thu và phát triển loại hình vu thuật khấn nguyền này, đặc biệt là phương thức trị bệnh bằng cách khấn nguyền. Thiên Tương Khải truyện trong sách Hậu Hán thư từng chép thời Thuận đế có Cung Sùng người vùng Lang Nha vào cung dâng sách và nói rằng thầy của anh ta hay làm việc thiện nên được một quyển sách thần có tên là Thái Bình thanh lĩnh thư. Cuốn sách này “ngôn ngữ thuộc trường phái âm dương ngũ hành mà chứa nhiều tạp ngôn của vu hịch… Về sau có lẽ Trương Giác có cuốn sách đó chăng.” Phần chú thích Trương Lỗ truyện trong thiên Ngụy chí sách Tam quốc chí, Bùi Tùng Chi dẫn Điển lược của Ngư Hoạn rằng: đạo Thái Bình của Đông Phương Trương Giác, “thày cầm cây trượng 9 đốt làm bùa chú, bảo bệnh nhân vừa khấu đầu vừa nghĩ đến lỗi lầm của mình. Nhân đó cho người ta uống nước bùa, người nào bệnh tình thuyên giảm dần hoặc khỏi hẳn thì bảo người đó tin đạo, còn người nào không đỡ thì bảo người đó không tin đạo.” Còn đạo Ngũ đấu mễ (5 đấu gạo) của Trương Tu ở Hán Trung thì “chủ yếu là cầu đảo cho người bệnh. Cách cầu đảo là viết tên họ người bệnh, bày tỏ ý phục tội. Cầu ba lượt, một lượt cầu trời ở trên núi, một lượt cầu đất, một lượt cầu nước, gọi là tam quan thủ thư”. Bùa hay tam quan thủ thư cũng chính là lối khấn nguyền đã được văn tự hoá. Dụng ý căn bản của nó không có gì khác so với việc trị bệnh bằng phương pháp khấn nguyền trước kia. Từ thời Lưỡng Tấn – Nam Bắc triều trở đi, nội dung này dần bị gạt ra khỏi Đạo giáo, song nó vẫn rất thịnh hành trong dân gian.

Chỉ có điều, ở thời Lưỡng Hán, trị bệnh chỉ là một trong những mục đích của việc khấn nguyền. Khấn nguyền còn có những mục đích quan trọng khác như nhằm nguyền rủa để thắng người, khuất phục người hoặc vật, làm hại người khác hoặc trút đổ tai họa cho người khác. Phần chú sớ của Khổng Dĩnh Đạt trong thiên Vô dật sách Thượng thư giải thích như thế này về việc khấn nguyền: “Khấn nguyền tức là kêu cầu quỷ thần gieo rắc tai ương tội lỗi, dùng lời nói để kêu cầu quỉ thần gọi là “khấn”, xin quỉ thần gia tai ương là “nguyền”. Thời bấy giờ, một số người thường tìm cách trả thù bằng việc mời vu khấn nguyền nhằm gia tai ương lên đầu kẻ thù của mình. Chuyện Kính Thanh và công chúa Dương Thạch “sai vu tế lễ nguyền vua… lời nguyền mang ác ý” chép trong Công Tôn Hạ truyệnsách Hán thư cũng là thuật này. Thiên Đặng Hoàng hậu ký sách Hậu Hán thư viết: “Âm hậu thấy đức của Hoàng hậu ngày một lớn, không biết làm cách nào, bèn sai khấn nguyền để làm hại.” Ngoài việc gia tai cho kẻ thù, người ta còn khấn nguyền nhằm gieo tội cho người. “Cách ngầm gieo tội họa” chép trong sách Phong thiên thư lại là cách chuyển họa cho người. Vũ đế kỷ sách Hán thư viết chuyện mùa thu năm Thiên Hán thứ 2, Hán Vũ đế hạ lệnh “cấm bọn vu cầu cúng ngoài đường”. Nhan Sư Cổ chú thích sách này có dẫn lời của Văn Dĩnh rằng: “Lúc đầu, nhà Hán cầu cúng ngoài đường, nhằm trút tai họa tội lỗi cho bách tính qua đường. Nay ngăn chặn để không thấy việc đó nữa.” Như thế, hoạt động khấn nguyền nhằm gieo họa cho người khác tồn tại khá phổ biến trong dân gian ít nhất là từ trước thời Hán Vũ đế. Hoạt động khấn nguyền được tiến hành ngay trên đường đi lối lại với mục đích để cho tai ương tội lỗi cuốn đi theo bước chân người qua lại. Về sau, tập tục nhà nào có người ốm đau thì đem bã dược thảo đổ ra đường đi được hình thành từ đó.

Qua việc Vũ đế hạ lệnh “cấm chỉ bọn vu cầu cúng ngoài đường” có thể thấy vương triều nhà Hán cũng cấm đoán thuật khấn nguyền, song phương thức xử lý đối với các hoạt động khấn nguyền khác nhau cũng khác nhau. Đối với việc khấn nguyền trong dân chúng thì chỉ cấm đoán một cách chung chung, còn đối với hoạt động khấn nguyền hoàng đế thì luật lệ nhà Hán khép vào tội “đại nghịch bất đạo”. Thiên Hiếu Văn bản kỷ sách Sử ký viết: “Dân kẻ nào khấn nguyền vua, câu kết với nhau để nói xấu, thì quan viên phải khép họ vào tội đại nghịch bất đạo”. Phần Tập giải dẫn Hán thư âm nghĩarằng: “Dân câu kết với nhau khấn nguyền vua”. Thiên Chư hầu vương biểu sách Hán thư ghi chép: “Quảng Lăng Lệ vương Tư mắc tội khấn nguyền vua bèn tự sát”. Quang Vũ Thập vương truyện sách Hậu Hán thư thì chép: “Thượng thư Cáo Diên cùng anh trai vợ thứ là Tạ Yêm và chồng của chị (công chúa Quán Đào) là phò mã Đô úy Hàn Quang vào hùa gian giảo, làm ra sách sấm ký, tế lễ khấn nguyền. Khi xử án, cả Quang và Yêm đều bị giết, những kẻ liên quan bị giết hoặc bị tù đày nhiều vô kể”. Những chuyện ghi chép trên đây cho thấy vương triều nhà Hán trừng phạt rất nghiêm khắc đối với hành động khấn nguyền vua, qua đây còn có thể thấy rằng người thời bấy giờ rất tin vào uy lực của việc khấn nguyền. Vu thuật khấn nguyền có ảnh hưởng khá sâu sắc trong xã hội đương thời, đồng thời nó cũng rất thịnh hành trong đời sống nhân dân.

Thuật giáng thần do những vu chuyên nghiệp tiến hành. Phương thức của nó là khiến vị thần linh trong tưởng tượng nhập vào bà vu đang làm phép nhằm lay động quỷ thần để thực hiện mục đích của mình thông qua những nghi thức nhất định như nhảy múa, niệm chú…

Thuật giáng thần thời Hán chủ yếu dùng trong ba trường hợp sau:

Thứ nhất, nó là cách bổ trợ cho thuật khấn nguyền nhằm tăng thêm hiệu lực. Thiên Giang Đô Dị vương Lưu Phi truyện trong sách Hán thư có đoạn: “(Dị vương Kiện) chuyên làm chuyện dâm ngược, tự biết mình nhiều tội. Trong nước có nhiều kẻ muốn cáo giác, Kiện sợ tội chết nên lòng lo lắng không yên, bèn cùng vợ mình là Thành Quang sai một người hầu đất Việt nhập đồng để khấn nguyền vua”. Sai người hầu đất Việt nhập đồng và khấn nguyền cho Cảnh đế chóng chết thì mục đích làm hại đã quá rõ ràng. Quảng Lăng Lệ vương Lưu Tư truyện trong sách Hán thư cũng ghi: “Thời Chiêu đế, Tư thấy vua nhỏ tuổi, chưa có con, thì sinh bụng nhòm ngó. Tư đón một nữ vu người đất Sở tên là Lý Nữ Tu và sai nhập đồng khấn nguyền. Nữ Tu khóc mà rằng: “Hiếu Vũ đế nhập vào tôi”. Tả hữu đều phủ phục xuống. Nói tiếp: “Ta tất lệnh cho Tư làm thiên tử”. Tư cho Nữ Tu rất nhiều tiền, sai cầu khấn thần núi. Biết tin Chiêu đế băng, Tư khen: “Nữ Tu quả là bà vu giỏi!” Sai mổ trâu bò cúng tế. Đến khi Xương ấp vương chinh phạt, Tư lại sai vu khấn nguyền Xương ấp vương. Về sau vương bị phế, Tư càng tin Nữ Tu… Khấn nguyền sau khi nhập đồng là một thứ thuật làm hại được tiến hành trực tiếp. Vì thế cho nên việc giáng thần nhằm đạt mục đích làm hại đối phương chỉ là thủ đoạn bổ trợ, còn khấn nguyền mới là thứ phép thuật hữu hiệu. Do vậy Lưu Tư cho Nữ Tu nhập đồng một lần, còn lại đều trông vào việc khấn nguyền. Sau khi Xương ấp vương bị phế, Tuyên đế lên ngôi, Lưu Tư “lại ra lệnh cho Nữ Tu khấn nguyền như trước”. Đến khi Tuyên đế lập Thái tử, Lưu Tư than: “Ta không được lập nữa rồi !”, bèn “thôi không khấn nguyền nữa”.

Thứ hai là đuổi ma trị bệnh. Thiên Phong thiện thư sách Sử ký viết rằng: “Thiên tử bệnh rất nặng, gọi cả vu lẫn lang y đến vẫn không khỏi. Du Thủy phát căn nói Thượng Quận có bà vu ốm do quỷ thần nhập vào. Vua hạ chiếu chỉ sai thờ cúng ở Cam Tuyền. Khi ốm, vua sai người hỏi thần quân. Thần quân đáp rằng: “Thiên tử chớ lo lắng vì bệnh tật, bệnh không giảm thì gắng đến gặp ta ở Cam Tuyền”. Thế là bệnh đỡ, bèn trở dậy đến Cam Tuyền, bệnh đã khỏi. Vua mừng lắm liền xây Thọ Cung thờ thần quân. “ốm do quỷ thần nhập vào” tức là chỉ trạng thái của vu khi giáng thần. Xem ra bà vu người Thượng Quận này khiến cho thần quân nhập vào người và mượn sức mạnh của thần quân để chữa khỏi bệnh cho Vũ đế.

Thời Hán, việc đuổi ma trị bệnh bằng thuật giáng thần rất thịnh hành trong dân gian. Thiên Trường đồi trong cuốn sách lụa thời Tây Hán khai quật được trong ngôi mộ Mã Vương Đôi ở Trường Sa mang tên Ngũ thập nhị bệnh phương có một phương thuốc trị bệnh “ma trẻ nhỏ” như sau: “Bước Vũ ba bước, ngắt cành đào phía đông,…”Ngày 16 của tháng thì bắt đầu hủy, bước Vũ ba bước và nói: “Nguyệt với nhật tương đương, nhật với nguyệt tương đương”. “Vũ bước” là hình thức hoặc cách bước nhảy múa khi vu sư giáng thần làm phép, tương truyền bắt nguồn từ thời vua Đại Vũ. Thiên Quân trị sách Thi tử có một đoạn nói rằng: “Vũ đào sông trị thủy, mười năm không về thăm nhà, tay không còn móng, chân chẳng còn lông, sinh bệnh liệt nửa người, bước đi không thăng bằng cho nên người ta gọi là “bước Vũ”. Các vu chúc bắt chước theo lối đi tập tễnh ấy. Thiên Trọng lê sách Pháp ngôn của Dương Hùng có câu: “Vu bước nhiều bước Vũ”. Lý Quỹ chú rằng: “(Vũ) trị thủy phải trèo đèo lội suối, sinh bệnh ở chân, cho nên bước đi tập tễnh… các vu hay bắt chước lối đi của Vũ”. Cát Hồng đời Tấn miêu tả cụ thể về “bước Vũ” trong thiên Đăng thiệp sách Bão phác tử như sau: “Cách thực hiện bước Vũ: đứng thẳng, chân phải bước lên trước, chân trái đặt phía sau, sau đó bước lên trước, chân phải để cho chân trái bước theo chân phải, đó là bước thứ nhất. Tiếp đó đặt chân phải lên trước, rồi chân trái lên trước cho chân phải bước theo chân trái, đó là bước thứ hai. Sau đó chân phải lại để chân trái bước theo như trước, đó là bước thứ ba. Như thế là xong cách bước theo kiểu bước Vũ”. Cách trị bệnh bằng phương pháp giáng thần kiểu như thế vẫn lưu hành mãi về sau. Thiên Trần Hiển Đạt truyện sách Nam sử chép rằng: “Tên trúng vào mắt trái, không lấy được đầu mũi tên ra. Bà già họ Phan ở thôn Địa Hoàng chữa trị rất giỏi. Trước tiên, bà ta lấy đinh đóng vào, đoạn làm động tác bước “bước Vũ”, chiếc đinh lập tức trồi ra, đầu mũi tên trong mắt Hiển Đạt cũng ra theo”. Đến thời cận đại, loại hình vu thuật này vẫn còn lưu truyền, bởi ở những vùng thôn quê lạc hậu, các bà vu vẫn tiếp tục hành nghề.

Thứ ba là dùng trong tang lễ. Thiên Tư vu thuộc phần Xuân quan tông bá sách Chu lễ quy định: “Phàm việc tang đều có lễ vu giáng”. Trịnh Huyền chú rằng: “Giáng là xuống tức lễ vu nhập đồng. Đời nay người chết vừa liệm xong thì vu giáng đồng, đó là lệ xưa còn lưu lại”. Mục đích của hoạt động này là nhằm đuổi tà ma, trừ ôn dịch.

Ngày nay chúng ta không còn được biết về nghi thức giáng thần thời Lưỡng Hán, song chúng ta có thể thấy được quang cảnh lễ giáng thần thời Tấn. Hạ Thông truyện trong thiên Ẩn dật sách Tấn thưchép rằng: “Ông ta theo cha là Kính Ninh cúng tế tổ tiên, đón hai nữ vu là Chương Đan và Trần Chu, người đẹp, ăn mặc diêm dúa, giỏi ca múa. Đêm đến, khua chuông gõ trống, đàn sáo vang lừng. Đan, Chu cầm dao cứa lưỡi, nuốt dao nhả lửa, mây mù tan biến. ánh sáng vằng vặc… Vào cửa, bỗng thấy Đan, Chu ở nhà giữa, bèn nhẹ gót trở ra. Ma quỷ nói cười, bay đến cời lửa, thù tạc lại qua”. Đương nhiên hoạt động giáng thần thời Tây Tấn đã hấp thu các nội dung ma thuật, tạp kỹ… ở vùng Tây Vực, cho nên chắc chắn nó phải phong phú hơn nhiều so với thời Hán. Song qua đó chúng ta có thể thấy đôi nét về hoạt động giáng thần thời Hán.

4. Lời kết.

Thời Lưỡng Hán, tôn giáo cổ đại Trung Quốc đang ở vào giai đoạn manh nha. Đạo giáo của chính Trung Quốc lại chưa hình thành, Phật giáo thì mới truyền nhập, cho nên toàn xã hội Trung Quốc đặc sệt không khí quỷ thần như Lỗ Tấn nhận xét: đương thời “vu thuật thịnh hành, mà tà đạo càng phát triển”. Người ta cho rằng vạn vật đều có linh hồn, quỷ thần không đâu là không có, do đó người ta phải nhờ cậy vu và vu thuật liên hệ với quỷ thần nhằm cầu phúc trừ tai hoặc nhằm đạt được một mục đích nào đó. Vì vậy, vu và vu thuật rất thịnh hành trong thời Lưỡng Hán.

Nhưng cũng cần thấy rằng, trong điều kiện lịch sử trung ương tập quyền và quân chủ chuyên chế ngày càng thắt chặt, tầng lớp vu hịch cổ đại Trung Quốc chưa từ tập đoàn hay giai tầng tế tự chuyển hóa thành tập đoàn tôn giáo như ở phương Tây, mà họ đi theo con đường phát triển khác, phân thành hai luồng trong triều đình và trong dân gian. Trong triều đình, họ dựa vào giai cấp thống trị tập quyền, và trở thành công cụ liên hệ giữa tầng lớp thống trị với thế giới thần linh. Còn trong dân gian, họ hòa mình vào với dân chúng, người thì chữa bệnh, người thì bói toán, người thì giáng thần cầu phúc trừ tai, họ trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống nhân dân. Đến thời Đông Hán, vu hịch đánh mất dần chức năng đầu tiên, chỉ còn là một giai tầng xã hội mang tính dân gian thuần túy. Từ đó trở đi, cùng với sự thịnh hành của Phật giáo và Đạo giáo, họ hấp thu mạnh mẽ nền văn hóa tôn giáo ngoại lai cũng như bản địa, đồng thời vẫn gìn giữ và kế tục nền văn hóa truyền thống. Vậy nên mặc dù Phật giáo và Đạo giáo khá thịnh hành, con người ta ngày càng có nhiều nơi để gửi gắm tinh thần, song Phật giáo và Đạo giáo vẫn không thể thay thế được ảnh hưởng của vu và vu thuật trong dân gian. Và dường như vu và vu thuật có sức đe dọa và lôi cuốn mạnh mẽ hơn trong lãnh địa tinh thần của con người(**).

 

CHÚ THÍCH:

(1) Vọng tự, vọng diên: đều là các lễ dùng để tế trời, lễ vật dùng tiền chứ không dùng súc vật, xôi thịt. Hai lễ này như nhau tuy nhiên lễ vật dùng có khác nhau.

(2) Cuối mùa đông làm lễ xua đuổi ôn dịch để tống tiễn những điều không may, việc tế lễ bắt đầu từ nơi làm lễ, vu với thần thông, cho nên bảo phía đông thì tế phía đông, phía tây thì tế phía tây, gần thì tế gần, xa thì tế xa.

(3) Lễ trừ tai cầu phúc được tiến hành vào mồng 3 tháng 3 hàng năm.

(4) Phòng trung, đường thượng: nơi vừa để cúng tế vừa ca tụng công đức của tổ tiên. Thiên xã: tên một ngôi sao ở phương Nam.

(5) Đông quân: thần mặt trời. Vân trung quân: thần mây. Tộc nhân, tiên xuy: tên các vị thần quản việc bếp núc.

(6) Xã chủ: 3 vị xã chủ. Vu bảo, Tộc luy: tên 2 vị thần.

(7) Vu tiên: tên vị thần tổ tiên của các vu. Thí cháo: vị thần chuyên quản việc thí cháo.

(8) Cửu thiên: gồm Quân thiên ở giữa, Thượng thiên phía đông, Mân thiên phía đông bắc, Huyền thiên phía Bắc, U thiên phía Tây bắc, Hạo thiên phía Tây, Chu thiên phía Tây nam, Viêm thiên phía Nam, Dương thiên phía đông nam. (Theo Hoài Nam tử ). Còn “Thái huyền kinh” chú: Cửu thiên gồm: Trung thiên, Tiển thiên, Đồ thiên, Phạt cánh thiên, Tối thiên, Quách thiên, Hàm thiên, Trị thiên, Thành thiên.

(9). Hiền lương văn học: trong chế độ khoa cử thời Hán có hai khoa mục đặc biệt là Hiếu liêm và Hiền lương phương chính. Hiếu liêm trọng phẩm hạnh cho nên ít người ứng tuyển. Còn những ai có tài văn chương đều được tuyển làm Hiền lương phương chính, mỗi khóa tuyển hơn trăm người. Hiền lương phương chính còn được gọi là Hiền lương văn học hoặc Hiền lương.

(10) Hội nghị Diêm Thiết: là một cuộc hội thảo thời Hán Vũ Đế bàn về chính sách của nhà nước có liên quan đến vấn đề kinh doanh muối và sắt.

(11) Aurel Stein (1862-1943) là nhà khảo cổ học người Anh.

(12) Sigmund Frend (1856-1939) nguyên tên là Sigismund Solomon, nhà tâm lý học người áo, sáng lập ra ngành Tinh thần phân tích học.

(**) Bài này do nữ GS.TS Mã Tân viết, đăng ở Tạp chí Văn Sử Triếtsố 3-2001 tr.119-126.

Nguồn bài đăng

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s