Chế độ Phát Xít (bài 2)

cheering1.JPG

Tác giả: Jeliu Jeliev – Cựu tổng thống Bungaria
Dịch giả: Phạm Văn Viêm

Phần II – Những chức năng đặc biệt của nhà nước độc tài phát xít

1. Do thám tổng thể

Ðể có thể hiểu được do đâu dẫn đến “do thám tổng thể” trong những điều kiện của nhà nước phát xít, chúng ta cần xem xét lại cấu trúc độc tài của nó. Như một xã hội “được tổ chức”, nhà nước độc tài thâu tóm tất cả mọi thành viên của mình theo nghề nghiệp, giới tính hay tuổi tác vào những tổ chức quần chúng. Hệ thống tổ chức quần chúng khổng lồ này đồng thời vừa là công cụ để kiểm soát xã hội, vừa để nhồi nhét tư tưởng phát xít cho xã hội. Nhưng ở đây ẩn giấu một mặt trái của vấn đề: Trong những điều kiện nhất định, hệ thống tổ chức quần chúng này có khả năng quay lại chống nhà nước. Ðiều này đúng cho mọi tổ chức. Bởi vì một khi đã được xây dựng, tổ chức là hình thức có thể thực hiện những ý đồ chống nhà nước với sức mạnh được tổ chức sẵn, nếu vị trí lãnh đạo của nó rơi vào tay những người mang trong mình tư tưởng đối lập.

Lãnh đạo một tổ chức quốc gia và chờ thời cơ, để dùng nó chống lại chế độ sẽ hiệu quả hơn nhiều, so với việc xây dựng một tổ chức chống đối công khai. Bởi vì tổ chức chống đối công khai ít có khả năng thành công hơn do sự khủng bố gắt gao của lực lượng cảnh sát.

Vì lý do này, những người hoạt động bí mật có kinh nghiệm, làm việc trong những điều kiện của nền chuyên chính phát xít, không chống lại nhà nước một cách công khai, mà ẩn giấu trong một tổ chức nào đó. Ở đó những người này tiếp xúc với quần chúng, chiếm được lòng tin của họ và trở thành lãnh đạo của tổ chức này. Ðạt được điều đó, tổ chức quốc gia không chỉ che chở cho những người như thế, mà còn trở thành công cụ cho công tác bí mật của họ.

Nói cách khác, tổ chức quần chúng lúc này đã thay đổi ý đồ chính trị. Sự thay đổi đó càng nguy hiểm hơn cho nhà nước, nếu đây là tổ chức được vũ trang đầy đủ như quân đội hay những bộ phận của quân đội.

Ðể chống lại những hành động chống đối nhà nước công khai như bãi công, biểu tình… chính quyền phát xít có những công cụ hữu hiệu: khủng bố cảnh sát và trại tập trung cải huấn. Nhưng để chống lại những ý đồ bí mật, cảnh sát không còn giữ được vai trò hiệu quả như thế nữa. Rõ ràng cảnh sát khó có thể phân biệt được ai bí mật chống lại nhà nước và ai trung thành với nhà nước.

Từ đây dẫn đến sự cần thiết phải có thứ vũ khí mới để bảo vệ chế độ chính trị, và cụ thể đó là do thám. Nhưng đây không phải kiểu do thám truyền thống mà cảnh sát vẫn sử dụng thông qua bọn mật vụ, mà là do thám quần chúng, do thám tổng thể. Chỉ nhờ kiểu do thám này, nhà nước mới biết được tất cả những sự kiện xảy ra ở mọi nơi, mọi thời điểm, phát hiện nhanh chóngvà hủy diệt kịp thời những mưu đồ chống đối.

Rudolf Hex đã xây dựng thành những nguyên tắc cơ bản của do thám tổng thể như sau:

“- Ai cũng có thể trở thành do thám.
– Ai cũng phải trở thành do thám.
– Không có bí mật nào, mà không thể thăm dò
.” (102-117)

Trên thực tế, do thám tổng thể có nghĩa là: con cái do thám bố mẹ, sau đó báo với cảnh sát, học sinh theo dõi thầy giáo, binh lính – các cấp chỉ huy, thành viên những tổ chức quần chúng – cán bộ lãnh đạo… và ngược lại. Gia đình, trường học, cơ sở nghiên cứu khoa học, công sở, quân đội, tổ chức quần chúng, câu lạc bộ thể thao, trong đảng và thậm chí cả cảnh sát – đều là những hiện trường do thám quan trọng. Nhà nước cần phải biết nguyện vọng và ý định của tất cả mọi người. Không có bí mật nào mà nhà nước không quan tâm.

Trong bối cảnh đó, không còn ranh giới giữa kẻ do thám và người bị do thám. Tất cả đều đồng thời là do thám và bị do thám. Do thám tổng thể trở thành do thám lẫn nhau.

Nhà nước phát xít khuyến khích kiểu do thám này, xem đó như dấu hiệu cơ bản cho sự tin tưởng chính trị. Kẻ nào tố cáo được nhiều với cảnh sát sẽ được tin tưởng và có ưu thế hơn để thăng cấp trong bộ máy đảng và nhà nước.

Một ưu điểm khác của do thám tổng thể là mặc dù mức độ rất rộng lớn, kiểu do thám này kinh tế hơn rất nhiều cách do thám cảnh sát thuần túy. Nhà nước không cần thành lập những tổ chức do thám đặc biệt, mà sử dụng ngay các tổ chức quần chúng sẵn có, các công sở… cho mục đích này. Những người làm việc trong mọi tổ chức đều đồng thời là do thám, nhà nước không cần trả thêm lương. Bản chất đặc biệt của nhà nước phát xít, với việc không tồn tại của các xu hướng chính trị đối lập, diễn đàn tự dọ.. cho phép nó có thể làm được điều đó.

2. Tuyên truyền trắng trợn

Trong nhà nước độc tài, diễn đàn, đài phát thanh, phim ảnh, nhà hát, văn học, các tổ chức quần chúng… đều bị đặt dưới sự thống trị toàn diện của nhà nước; mặt khác do không tồn tại xu hướng chính trị đối lập, cho phép nhà nước này thực hiện một kiểu tuyên truyền độc đoán. Tuyên truyền không tránh khỏi trở thành chủ soái tuyệt đối của nhà nước, đưa tin tức và phân tích các sự kiện theo một chiều duy nhất. Thông qua cưỡng ép một cách hệ thống, tuyên truyền mê hoặc quần chúng và kết hợp với sự khủng bố, làm nên những điều kỳ dị. Tuyên truyền có thể tạo nên một “sự thật thứ hai”, và mặc dù đó chỉ là ảo tưởng và nằm trong khuôn khổ những lời hứa hão. “Sự thật” này được quần chúng công nhận là thực sự, còn sự thật thực sự thì bị xem như không thực và vô nghĩa. Bằng cách nhồi nhét kiên trì, liên tục và duy nhất một thứ tư tưởng, tuyêntruyền biến tư tưởng này thành huyền thoại trước mắt nhân dân, dù không có cơ sở. Không phải ngẫu nhiên mà tại Ðại Hội Ðảng ở Niurnberg năm 1936, Gobelx đã nêu khẩu hiệu:

“Tuyên truyền đã giúp chúng ta giành được chính quyền.
Tuyên truyền sẽ giúp chúng ta giữ vững chính quyền.
Tuyên truyền sẽ giúp chúng ta chiến thắng toàn thế giới.”
(90-153)

Trước đó 10 năm trong Cuộc Chiến Ðấu Của Tôi, Hitler đã giành vị trí đặc biệt cho công tác tuyên truyền: “Bằng cách tuyên truyền kiên trì và liên tục, ta có thể khiến một dân tộc xem thiên đường là địa ngục và ngược lại, một cuộc sống cơ cực nhất thành thiên đường.” (90-257) Nhưng điều đó chỉ có thể thực hiện được trong nhà nước độc tài, nơi mà phản tuyên truyền và thông tin khách quan hoàn toàn không thể có. Trong nền dân chủ tự do truyền thống, tuyên truyền của nhà nước (và không phải là duy nhất) không thể có được sức mạnh ghê gớm như vậy, vì nếu nó có ý định “khiến một dân tộc xem thiên đường là địa ngục và một cuộc sống cơ cực nhất thành thiên đường”, thì ngay lập tức sẽ bị diễn đàn đối lập vạch mặt.

Tại đây, diễn đàn đối lập đứng ra đại diện và bảo vệ quyền lợi cho xã hội một cách khách quan, đại diện cho nguyện vọng xã hội, và trong nền dân chủ tư sản, những nguyện vọng này thường không trùng hợp với nguyện vọng của nhà nước.

Trong chế độ độc tài phát xít, điều này hoàn toàn không thể xảy rạ ở đây, nhà nước cũng đồng thời là đại diện cho nhân dân, xã hội, quê hương, dân tộc, tiến bộ, công bằng… không có sự khác nhau giữa nguyện vọng của nhà nước và xã hội, vì không tồn tại nguyện vọng xã hội công khai.

Do có quyền thống trị, nguyện vọng nhà nước trở thành nguyện vọng xã hội, còn nguyện vọng thực sự của xã hội thì không được phép thể hiện công khai, mà chỉ lan truyền kín đáo, thông qua những câu chuyện tiếu lâm chính trị, những lời đồn đại…

Chúng ta có thể lấy những trích dẫn minh họa cho kết luận trên trong hồ sơ của tòa án Niurnberg:

“Do kiểm soát chặt chẽ diễn đàn, đài phát thanh… từ năm 1933, nhân dân Ðức đã bị ảnh hưởng nặng nề của tuyên truyền quốc xã; và không chỉ công kích thù địch, mà bất kỳ công kích nào cũng đều bị cấm đoán. Quyền tự chủ và tư duy tự do hoàn toàn không thể có,” và, “Chính phủ quốc xã có ý định thống nhất nhân dân theo đường lối chính trị của mình bằng cách sử dụng tuyên truyền cưỡng ép. ở Ðức có hàng loạt phóng viên được tuyển chọn với nhiệm vụ kiểm soát và gây ảnh hưởng đối với diễn đàn, đài phát thanh, phim ảnh, nhà xuất bản… mọi thú vui, nghệ thuật và văn hóa. Tất cả những phóng viên này phục tùng Bộ Tuyên Truyền Và Giáo Dục Nhân Dân, đứng đầu là Golbelx; kết hợp với tổ chức tương ứng trong Ðảng Công Nhân Quốc Xã và Ban Văn Hóa Quốc Gia, chịu trách nhiệm sự kiểm soát này…

Rozenberg, với danh nghĩa đại diện cho đảng quốc xã, giữ vai trò lãnh đạo công tác tuyên truyền học thuyết quốc xã, còn… Fritre cùng Gobelx thực hiện nhiệm vụ tương tự dưới danh nghĩa các tổ chức nhà nước.” (90-322)

Ở đây cần nhấn mạnh một tình tiết, mà mới thoạt nhìn có vẻ như không mấy quan trọng là, Ủy Ban Văn Hóa Tối Cao bao gồm bảy ban, thâu tóm toàn bộ cuộc sống tinh thần xã hội – phim ảnh, nhà hát, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, nhạc thơ, khoa học… – nằm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tuyên Truyền.

Tất nhiên điều đó chưa thể nêu bật được bức tranh toàn cảnh của tuyên truyền tổng thể. Tính chất tổng thể của tuyên truyền được thể hiện rõ ràng hơn trong bộ máy về công tác này, rằng mọi tổ chức và công sở đều bắt buộc phải tham gia tuyên truyền. Ngoài các cơ quan tuyên truyền đặc biệt – Bộ Tuyên Truyền, các cơ sở ấn loát, diễn đàn, đài phát thanh – tuyên truyền còn được tiến hành bởi bộ máy đảng và nhà nước, các tổ chức quần chúng, các hiệp hội phụ nữ, trí thức… Tuyên truyền độc đoán được thực hiện thông qua mọi tổ chức, công sở và trở thành tuyên truyền tổng thể, còn các tổ chức quần chúng và công sở bị biến thành công cụ của nó.

Tương tự như “do thám tổng thể”, nhà nước không cần thành lập bộ máy tuyên truyền đặc biệt, mà sử dụng ngay những tổ chức và công sở quốc gia vào mục đích này. Mọi tổ chức, hiệp hội, cơ sở nghiên cứu… ngoài công việc chính đều phải tham gia công tác tuyên truyền và “do thám tổng thể”.

Những nguyên tắc cơ bản đặc biệt của tuyên truyền trong những điều kiện của nhà nước phát xít là:

1. Chỉ thông báo những tin tức có lợi cho chế độ, giúp chế độ chiếm được lòng tin của xã hội.

2. Những tin tức không có lợi sẽ gây ảnh hưởng xấu đến chế độ. Thí dụ, diễn đàn thế giới trong nhiều năm đã viết về các trại tập trung ở Ðức và những tội ác của bọn SS và Zetapo. Chỉ riêng báo chí và đài phát thanh Ðức là không nói gì đến chuyện này.

Trong nhật ký của mình (1.5.1942), Gobelx viết: “Tin tức chính trị là vũ khí quân sự. Ý nghĩa của chúng để thúc đẩy chiến tranh, chứ không phải đưa thông tin”. (147-210)

3. Nếu cần đưa những tin tức không có lợi trong trường hợp không thể im lặng, thì những tin tức này đã bị bóp méo, đến mức khó nhận ra sự thật.

4. Thổi phồng các sự kiện không có lợi cho dối phương.

5. Tuyên truyền được đặt trước thông tin, nghĩa là thông báo sự kiện nào đó xuất phát từ ý nghĩa chính trị của nó.

6. Khi bắt buộc phải tỏ ra khách quan, phải đưa nhiều thông tin cụ thể hơn, thì tính “khách quan” này bị biến thành nguyên nhân phụ, để tự phân tích tuyên truyền, như công cụ tìm hiểu “sự thật” cho quần chúng.

Fritre, người xếp thứ hai sau Gobelx trong hệ thống tuyên truyền quốc xã từng nói: “…Con người có thể tuyên truyền bằng mọi phương tiện; có thể nói dối trước sự thật hiển nhiên, đơn giản là đặt những thực tế ra ngoài bối cảnh tổng quát của chúng và tách đối tượng ra khỏi nhận thức của họ về toàn bộ sự thật.” (146-270)

Tuy nhiên còn tồn tại một lĩnh vực mà tuyên truyền độc đoán của nhà nước phát xít không còn giữ được sức mạnh vốn có, đó là công tác tuyên truyền ở nước ngoài. Tại đây, tuyên truyền của nhà nước độc tài không còn có thể độc đoán, mà phải cạnh tranh trong cùng những điều kiện với các đối thủ của mình. Lúc này, tuyên truyền độc tài đứng trước những khán giả biết suy nghĩ và công kích. Do đó nó phải thay đổi công thức, phải từ bỏ kiểu cách cảnh sát, đe dọa, từ chối sự giả mạo là không thể sai lầm. Cùng với những ấn phẩm trong nước, nhiều tờ báo và tạp chí bằng tiếng nước ngoài được xuất bản…

Nhưng cuối cùng thì trò lừa bịp này cũng phải bị đổ vỡ, vì nó dựa trên sự lừa dối trắng trợn. Và dầu sao, thế giới cũng có những nguồn thông tin riêng của mình – đó là các nhà báo và những phóng viên điện tín, những người không dễ gì có thể bị gạt.

3. Cần thiết phải cách ly đất nước

Tuyên truyền độc tài trong nước trở nên bất lực khi phải cạnh tranh với tuyên truyền nước ngoài. Việc phát minh ra đài phát thanh trong thế kỷ XX đã làm một cuộc cách mạng thực sự trong lĩnh vực tuyên truyền: thông tin ngay lập tức được truyền đến với hàng triệu người, không phụ thuộc vào biên giới và khoảng cách. Nhưng điều này đe dọa quyền độc đoán của tuyên truyền độc tài và gây khó khăn cho nó trong việc cạnh tranh với tuyên truyền bằng đài phát thanh của các nước khác.

Trong cùng một điều kiện, tuyên truyền này có thể thắng tuyên truyền khác chỉ bởi chất lượng, tính chính xác và khách quan của thông tin được đưa ra. Nhưng về những điểm này, thì tuyên truyền phát xít rõ ràng là kém cỏi nhất.

Vì tuyên truyền phát xít trở nên bất lực trước ảnh hưởng của tuyên truyền nước ngoài, do đó nó phải nhờ đến sự can thiệp của cảnh sát.

Ðể giúp tuyên truyền độc tài, cảnh sát dùng những biện pháp cách ly như sau:

1. Cố định các máy radio để không còn bắt được các đài khác ngoài đài phát thanh trong nước, đồng thời trừng phạt tàn nhẫn những người vi phạm.

2. Thiết lập các hệ thống gây nhiễu sóng của những đài nước ngoài phát thanh vằng tiếng của nhà nước phát xít.

3. Kiểm soát nghiêm ngặt những tác phẩm văn học và báo chí nhập từ nước ngoài vào.

4. Thiêu hủy những tác phẩm văn học mang tư tưởng tự do dân chủ.

5. Hạn chế đến mức tối thiểu việc du ngoại của các công dân. Việc đi nước ngoài chỉ giành cho những người tin cẩn hoặc những người thừa hành công vụ và đều phải thông qua sự kiểm tra của cảnh sát.

Curt Rix đã viết về vấn đề này ở Ðức như sau: “… Ðể được cảnh sát đồng ý cho đi nước ngoài, cần phải nêu rõ: đi đâu, và vì lý do gì; đi đến với ai; có bà con họ hàng gì ở nước ngoài không; quan điểm chính trị của họ thế nào… Sau khi đến vị trí đã định, ngay lập tức phải báo với đãi diện sứ quán Ðức gần nhất.” (103-43)

Những biện phát trên chứng tỏ, bản thân tuyên truyền độc tài dựa trên bộ máy đàn áp và khủng bố cảnh sát. Sự thống trị tuyên truyền trong nước được bộ máy đàn áp đảm bảo; nó hủy diệt tất cả những ai có ý định đưa thông tin, tuyên truyền.

Sự cộng tác chặt chẽ giữa tuyên truyền và bộ máy đàn áp trong cuộc đấu tranh chống tuyên truyền nước ngoài, càng làm rõ thêm mối quan hệ giữa chúng. Tuyên truyền độc đoán không tránh khỏi chuyển thành cưỡng ép và do thám, đến mức khó mà phân biệt được ranh giới giữa chúng. “Ngoài khủng bố thể chất, bọn Hitler còn sử dụng cả khủng bố tư tưởng đối với nhân dân Ðức. Bọn phát xít hủy diệt mọi quyền dân chủ của người Ðức. Toàn bộ tuyên truyền, văn học, nghệ thuật đều bị đồng hóa. Trong nhiều năm, hàng triệu người Ðức bị ảnh hưởng nặng nề của tuyên truyền Hitler, bị bưng bít mọi nguồn thông tin về sự thật và tội ác của chế độ.” (75-20)

Với bản chất phản động và vô nhân đạo, nhà nước phát xít tự xem mình là trên hết, hủy diệt toàn bộ quyền tự chủ của mọi cá nhân, cướp đi của họ quyền suy nghĩ và hành động độc lập. Cá nhân trở thành công cụ của nhà nước. Trong hoàn cảnh đó, đương nhiên các công dân mong muốn một nền tự do dân chủ hơn là chuyên chính độc tài. Bởi thế, hệ tư tưởng độc tài rất lo sợ khi phải tiếp xúc và cạnh tranh tự do với tư tưởng tư sản dân chủ. Hệ tư tưởng độc tài tất yếu sẽ bị tan rã, vì không chịu được áp lực của hệ tư tưởng tư sản dân chủ, và do đó phải dùng những biện pháp cách ly thông qua sự giúp đỡ của bộ máy cảnh sát.

Phát xít Ðức, cũng như phát xít Italia, quảng cáo hệ tư tưởng của mình là cách mạng, tiến bộ và nhân đạo hơn nhiều lần hệ tư tưởng “cá nhân” và “ích kỷ” của nền dân chủ tự do truyền thống. Thậm chí trong Học Thuyết Về Chủ Nghĩa Phát Xít, Muxolini còn nhiều lần nhấn mạnh rằng, hệ tư tưởng phát xít tượng trưng cho tinh thần thế kỷ XX, là hệ tư tưởng “tập thể”, trong khi chủ nghĩa cá nhân là tư tưởng lỗi thời của thế kỷ XIX.

Thực chất, bản chất phản động của tư tưởng độc tài nằm ngay trong nỗi lo sợ, khi phải tiếp xúc với tư tưởng tự do dân chủ; và do đó phải cách ly quần chúng khỏi ảnh hưởng của những tư tưởng này.

4. Thường xuyên cần thiết mối đe dọa quân sự từ bên ngoài

Cần có cách giải thích thỏa đáng, khi mọi quyền lợi cá nhân bị hy sinh cho nhà nước và việc đàn áp, khủng bố thường xuyên xảy ra. Từ đó dẫn đến phải có những nguyên nhân bên ngoài không thể bàn cãi.

Thời gian đầu, nhà nước độc tài đang phải thanh toán các kẻ thù thực sự nên chưa cần tuyên truyền những nguy hiểm tưởng tượng. Nhà nước liên tục gây căng thẳng thêm cho sự cuồng tín trong nhận thức chính trị bằng cách lôi kéo quần chúng chống lại một đối tượng nào đó. Ở Ðức đối tượng đầu tiên là những người cộng sản, tiếp theo là những nhà dân chủ xã hội và cán bộ công đoàn, và sau cùng khi mọi đảng phái đã bị tiêu diệt thì đến lượt người Do Thái. Bằng mọi cách, bọn quốc xã nhồi nhét cho nhân dân Ðức rằng, những người Do Thái trong nước và trên thế giới đang có âm mưu chống lại nhân dân Ðức. Mọi nguyên nhân tai họa của dân tộc hay cá nhân từng công dân Ðức đều được đổ lên đầu người Do Thái. Một chiến dịch tuyên truyền bài Do Thái toàn diện được tiến hành.

Trong môi trường bị đầu độc này, giới tiểu tư sản thí dụ như những người bán tạp phẩm, bắt đầu nhìn thấy nguyên nhân những thất bại của mình trong việc cạnh tranh với các cửa hàng của người Do Thái; kẻ trí thức không gặp may giải thích những thất bại của mình bằng việc ganh đua với các đồng nghiệp Do Thái; người bác sĩ nhìn thấy số lượng con bệnh của mình sẽ tăng lên gấp bội nếu những phòng khám tư nhân của các bác sĩ Do Thái bị đóng cửa…

Còn gì đẹp hơn là sự cạnh tranh của những người Do Thái sẽ bị loại bỏ trên danh nghĩa một mục đích xã hội “cao cả” – giữ gìn trong sạch dòng giống dân tộc, cứu dân tộc khỏi một kẻ thù số một! Nhưng để mối nguy hiểm này được xem như thật, quần chúng nhân dân cần được tham gia những cuộc đàn áp người Do Thái. Sự cuồng tín xã hội không thể căng thẳng thêm chỉ bằng cách dùng tuyên truyền thổi phồng một mối nguy hiểm tưởng tượng. Cần thiết phải để cho dân chúng tiếp xúc trực tiếp với mối nguy hiểm này và chuẩn bị một cuộc phản công nghiêm túc chống lại nó. Không phải ngẫu nhiên mà bọn quốc xã kéo dài việc giải quyết vấn đề người Do Thái trong suốt thời gian cầm quyền, mặc dù đã có thể hủy diệt hay trục xuất toàn bộ dân Do Thái ngay từ những năm 1935-1936. Nhà nước độc tài quốc xã luôn luôn cần có mối nguy hiểm nào đó, để lợi dụng vào đó mà giữ tình trạng chính trị căng thẳng và liên tục đòi hỏi nhân dân phải hy sinh.

Nhà nước độc tài Tây Ban Nha cũng sử dụng nguyên tắc này. Mặc dù đã hơn ba mươi năm trôi qua kể từ khi cuộc nội chiến kết thúc và mọi cái đều đã đổi thay, cho đến phút chót chính quyền vẫn chia dân chúng thành người thắng, kẻ thua và thổi phồng lòng căm thù giữa họ.

Sau một cuộc nội chiến tàn khốc, thông thường một nhà nước dân chủ cần phải thi hành những biện pháp làm giảm dần các mâu thuẫn vì hòa bình dân tộc, bởi ngọn lửa của cuộc nội chiến đe dọa hủy diệt nhà nước này. Ðối với nhà nước độc tài thì ngược lại, linh hồn của cuộc nội chiến cần thiết tồn tại. Vì bản thân cấu trúc nhà nước độc tài là khủng bố và không thể tồn tại nếu không khủng bố, và để khỏi bị tan rã, nhà nước cần phải tìm đối tượng cho sự khủng bố này (vì một bộ máy khủng bố, mà không khủng bố thì sẽ bị tan rã).

Khi nào những nguy hiểm bên trong đã bị mai một, nhà nước phát xít liền dùng đến mối đe dọa bên ngoài. Một nước láng giềng hay một số nước nào đó, với hệ tư tưởng khác, sẽ bị tuyên bố là mối đe dọa thực sự. Và để loại bỏ được “mối đe dọa” này, nhà nước phát xít tăng cường vũ trang quân sự và xiết chặt hơn nữa đời sống chính trị. Những mối đe dọa trong và ngoài thường được xem là liên quan nhaụ Thông thường mối đe dọa bên ngoài được sử dụng như nguyên nhân để đàn áp lực lương bên trong nào đó. Các lực lượng này bị buộc tội là bè lũ gián điệp cho những nước mà nhà nước phát xít xem là mối đe dọa bên ngoài.

Thí dụ, nước Ðức – Hitler, trong một thời gian dài tuyên bố “chủ nghĩa Bônsevic” là mối đe dọa bên ngoài, có nguy cơ tràn ngập Âu Châu và nuốt tươi nước Ðức. Sau khi điều đó đã được công nhận, dễ dàng có thể tấn công những lực lượng mácxít trong nước (cộng sản và xã hội dân chủ).

Phát xít Italia nhìn thấy mối đe dọa bên ngoài là chế độ”tài phiệt” Anh và Pháp. Do đó chúng tiến hành công kích nền dân chủ tư sản, còn ở trong nước thì mở cuộc tấn công điên cuồng chống những kẻ tôn thờ “giới tài phiệt phương Tây”. Thí dụ vào năm 1938 ở Italia, đã triển khai chiến dịch chống “ảnh hưởng ngoại lai” và “tác phong tư sản”. De Xtefan, một trong những kẻ ủng hộ tích cực nhất cho chính sách của chế độ phát xít đã viết như sau: “Còn rất nhiều vấn đề phải xem xét trong lĩnh vực nhập khẩu phi vật chất mà chúng ta thu nhập được: cách suy nghĩ, cách sống, tác phong ngoại laị.. Chế độ phát xít cần phải kiểm soát không chỉ riêng vấn đề nhập khẩu hàng hóa, mà cả tư tưởng và cách sống.” (44-112)

Thông qua mối đe dọa bên ngoài, nhà nước độc tài “bắn một mũi tên trúng hai đích”: thứ nhất, gây nỗi kinh hoàng cho nhân dân, bắt họ phải đoàn kết xung quanh nhà nước; thứ hai, tạo điều kiện thích hợp để cách ly và tiêu diệt đối thủ chính trị nào đó. Sự thống nhất nhân dân, trong nhà nước độc tài, được hình thành trên nỗi lo sợ không chỉ từ bộ máy khủng bố của nó mà còn từ những nguy hiểm bên ngoài, đã bị nhà nước thổi phồng và nhồi nhét thành công cho nhân dân, thông qua tuyên truyền độc đoán.

Nhà nước độc tài luôn luôn cần có mối đe dọa nào đó từ bên ngoài, không phụ thuộc là phía bắc hay nam, đông hay tây.

5. Sự khác biệt giữa chế độ phát xít và nền dân chủ

Chủ nghĩa phát xít nắm chính quyền với ý nghĩ hợm hĩnh rằng, đã sáng tạo ra một nền dân chủ quần chúng và thực chất hơn nền dân chủ của “nhà nước tự do”, nền dân chủ mà thật may mắn “không bị xây dựng trên những cơ sở tài phiệt xấu xa nhất.”. Báo Berliner Tageblat,trong số ra ngày 7.6.1933 đã viết về chủ nghĩa quốc xã như sau: “Chủ nghĩa Hitler là phong trào dân chủ nhất ở Ðức trong vòng năm mươi năm gần đây.” (103-105)

Khi phát biểu trước cuộc họp quần chúng ở Coln ngày 26.3.1937, Gobelx đã tuyên bố: “Ở nước Ðức, một nền dân chủ thực sự đã trở thành thực tiễn sống động, trong đó toàn thể dân tộc tự do bày tỏ nguyện vọng của mình…” (166-115,116)

Trong Học Thuyết Về Chủ Nghĩa Phát Xít, Muxolini cũng đã viết rằng, nhà nước phát xít tượng trưng cho “một nền dân chủ có tổ chức, tập trung và pháp quyền.” (112-17)

Ðặc biệt, Hitler đã lên án gay gắt nền dân chủ phương Tây, nền dân chủ theo như chính lời ông chỉ được sử dụng “bởi một tầng lớp tư sản không đáng kể, trong khi nhân dân bần cùng thì đông hơn nhiều lắm.” (128-376). Trong diễn văn đọc trước công nhân các nhà máy vùng Berlin ngày 10.12.1940, Hitler công kích phương Tây tự do như sau:

“Trong thế giới Anh – Pháp tồn tại cái gọi là dân chủ. Nói cách khác, ở đó nhân dân điều hành chính quyền, do đó nhân dân phải có khả năng thể hiện suy nghĩ và nguyện vọng của mình. Nhưng nhìn kỹ hơn vấn đề này sẽ thấy, nhân dân không hề có được quan điểm của mình và đó chỉ là, tất nhiên – như ở mọi nơi – quan điểm giả tạo. Vấn đề cốt lõi là: ai dạy bảo và giáo dục nhân dân?

Và trên thực tế, giới tư bản đang trị vì trong những đất nước này, đó là một nhóm vài trăm người, giàu có không xiết kể và ít nhiều có vẻ được độc lập vì cấu trúc đặc biệt của những nhà nước này.

Những người này nói: “Chúng tôi có tự do”, và trước hết, họ hiểu đây là tự do kinh tế, còn tự do kinh tế thì được hiểu không chỉ là tự do tích lũy tư bản, mà là tự do sử dụng tư bản. Nói cách khác, họ chỉ cần được tự do, không bị nhà máy hay nhân dân kiểm soát trong việc tích lũy và sử dụng tư bản. Ðó chính là khái niệm của họ về tự do.” (128-374)

Trong thời gian chiến tranh, Anh là nước bị Hitler công kích dữ dội nhất:

“Tại đất nước này tồn tại những khác biệt giai cấp kinh khủng nhất mà con người có thể tưởng tượng ra. Một bên là đói nghèo, cùng cực – và một bên là giàu có không xiết kể. Ở đây không một vấn đề xã hội nào được giải quyết.

Các tầng lớp công nhân ở nước này, đất nước chiếm một phần sáu diện tích địa cầu và những kho báu dưới lòng đất của toàn thế giới đều nằm tại đây, đang phải sống bần cùng trong những ngôi nhà ổ chuột, và đại bộ phận là ăn mặc hết sức rách rưới.”(128-376)

Ðể đối ngược với nền dân chủ giả hiệu của phương Tây tự do, Hitler đã dùng nền kinh tế “thật sự” và “thực chất” của nhà nước quốc xã, nơi mà nạn thất nghiệp đã bị xóa bỏ và luân chuyển tư bản, nghĩa là phân chia và sử dụng tư bản, nằm dưới sự kiểm soát toàn diện của đảng quốc xã. Như vậy nước Ðức, từ một nền dân chủ cho “một tầng lớp không đáng kể những kẻ giàu có” đã biến thành nền dân chủ cho “toàn thể nhân dân.”. Hitler nói: “Trong thế giới tư bản dân chủ, nguyên tắc kinh tế quan trọng nhất là: nhân dân chịu trách nhiệm sản xuất, và sản xuất sinh ra tư bản. Chúng ta đảo ngược lại nguyên tắc này và nói: tư bản là để sản xuất, và sản xuất là để cho nhân dân! Trong ý nghĩa rộng nhất: trước hết là vì dân, và những cái khác là công cụ để đạt được mục đích này.” (128-373)

Ở đây cũng như những lần khác, khi công kích nền dân chủ tự do Hitler đã cố tình bỏ quên không nói đến một vấn đề cốt lõi nhất: thứ nhất, ai là sở hữu của tư bản trong nhà nước quốc xã? Thứ hai, sự kiểm soát của đảng quốc xã đã làm thay đổi những gì trong những quan hệ về sở hữủ thứ ba, nạn thất nghiệp ở Ðức đã được loại bỏ bằng cách nào và nhằm mục đích gì? Thứ tư, liệu giai cấp công nhân Ðức có khả năng kiểm tra sự luân chuyển của tư bản, mà không phụ thuộc vào sự kiểm soát của đảng và nhà nước phát xít không?

Nhưng đối với bọn quốc xã, chỉ với việc loại bỏ nạn thất nghiệp cũng đã là dẫn chứng không cần bàn cãi rằng, ở Ðức có nền dân chủ thực sự, khác hoàn toàn với nền dân chủ giả hiệu của các nhà nước tự do.

Bọn phát xít xem dấu hiệu rõ ràng nhất cho nền “dân chủ” quần chúng của mình là những cuộc duyệt binh, diễn hành chúc mừng Ðại Hội Ðảng ở Nuernberg và những cuộc mít tinh, biểu tình, tuần hành chống kẻ thù của nhà nước và thường được toàn dân tham gia… (28-28)

Một cách khách quan, chủ nghĩa phát xít khiến cho những quan niệm về nền dân chủ của chúng ta cần được bổ sung và xác định lại. Chúng ta biết rằng bắt nhân dân xuống đường, mang biểu ngữ và tuần hành hoàn toàn không phải la dân chủ, mà là sự cưỡng ép kín đáo, được tiến hành nhờ những cơ cấu của chế độ độc tài; chúng ta biết rằng, thậm chí việc xóa bỏ nạn thất nghiệp và đảm bảo mức sống tối thiểu cũng không phải là dân chủ, nếu như những việc này được thực hiện nhằm chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh ăn cướp; rằng nền dân chủ là cấu trúc xã hội, mà mọi cá nhân được đảm bảo quyền tự do công dân và tự do chính trị, và do đó cá nhân được xem là có giá trị cao hơn nhà nước và các cơ sở nhà nước.

A. Cá nhân bị dùng làm vật hy sinh cho cộng đồng phát xít

Trong nhà nước phát xít không thể có dân chủ, vì dân chủ và độc tài là những nguyên tắc thù địch và đối kháng. Bản thân cấu trúc nhà nước phát xít không cho phép có thể có dân chủ, một khi nó bắt các cá nhân phải phục tùng tuyệt đối và tước đi của họ mọi khả năng tự bảo vệ.

Ðối với chủ nghĩa phát xít, giá trị chính trị cao nhất là đảng và nhà nước phát xít, còn mọi cái khác bắt buộc phải phục tùng và phục vụ chúng. Cá nhân bị biến thành vật hy sinh cho “cộng đồng phát xít” và chỉ có quyền được tồn tại khi phục vụ cho cộng đồng này hay ít nhất là tuân theo nó.

Ðảng và nhà nước phát xít được xem như những “cộng đồng” thể hiện đầy đủ nhất quyền lợi chung của mọi công dân và đồng nhất với những quyền lợi này. Do đó đảng và nhà nước phát xít đồng nhất với khái niệm nhân dân, dân tộc, quê hương… Vì vậy, giữa nhà nước và các công dân không thể có mâu thuẫn, và nếu giả sử có trường hợp ngược lại thì lỗi là do các công dân, và mâu thuẫn cần được giải quyết bằng cách trừng phạt họ.

Nhìn chung, nguyên tắc của chủ nghĩa độc tài là: sự phục tùng toàn diện của cá thể, của cái riêng cho “cái chung”; sự thống trị của “cái chung” trên cái riêng là không thể tách rời.

Ngược lại, nền dân chủ truyền thống mang một ý nghĩa hoàn toàn đối lập, dù những hạn chế và bản chất giai cấp thế nào đi nữa, nó vẫn chú trọng nhiều hơn về cái riêng, về cá thể. Ðối với nền dân chủ tự do, giá trị chính trị cao nhất là nhân cách công dân, và những giá trị khác có tính chất chung hơn như nhà nước, các đảng phái chính trị, các tổ chức quần chúng có nghĩa vụ phải phục vụ và giúp đỡ cho việc cấu thành và giữ gìn nhân cách công dân, trước hết là bảo vệ quyền tự do chính trị và tự do công dân.

Khi xem nhân cách công dân là giá trị chính trị cao nhất, nguyên tắc dân chủ xuất phát từ quan niệm rằng: sự phát triển và tính đa dạng của một xã hội (chứ không phải của nhà nước) được hình thành trên sự đa dạng về nhân cách của các công dân. Một xã hội phát triển, giàu có và đa dạng chỉ có thể được cấu thành từ những công dân tự do và phát triển đa dạng.

Ðể làm rõ hơn sự đối kháng giữa nguyên tắc dân chủ và nguyên tắc độc tài trong quá trình xây dựng nhà nước, chúng ta có thể nêu ra đây một thí dụ từ thời cổ về Ateln và Xpata. Mặc dù Xpata chưa thể là nhà nước độc tài theo tinh thần của thế kỷ XX, những nguyên tắc cơ bản của nó là độc tài. Trong chế độ quân sự này, mọi cá nhân đều phải phục tùng nhà nước, giá trị cơ bản của người dân là phục vụ nhà nước, tự rèn luyện mình để trở nên cứng cáp và được tôi luyện trong chiến tranh. Và toàn bộ cuộc sống tinh thần, toàn bộ suy nghĩ của cá nhân đều nhằm phục vụ cho mục đích này.

Trên cơ sở đó, Xpata đã đạt được những thắng lợi to lớn trong chiến trận, trở thành một trong những nhà nước Hy Lạp hùng mạnh nhất. Nhưng đó là tất cả những gì mà Xpata đạt được; trong lĩnh vực văn hóa, nó hoàn toàn không sáng tạo được gì.

Ngược lại, Ateln là một nhà nước Hy Lạp lớn khác, trong đó nền dân chủ nô lệ phát triển rực rỡ, tạo điều kiện để thu hút nhân cách cá nhân trong những công dân tự do. Hay theo lời Hegel: “Thiên tài được tự do thể hiện những quan niệm của mình – và nguyên tắc này đã tạo nên những bức họa vĩ đại với nghệ thuật thể hiện tinh vi cùng những văn phẩm thơ ca và lịch sử bất tử”. (126-389)

Trao toàn bộ tự do cho các nhà sáng tạo, Ateln như một khối nam châm khổng lồ thu hút mọi tinh hoa của thế giới Hy Lạp: Exhil, Xofocul, Arixtofan, Apoloni, Pitago… và trở thành thủ đô, thành trung tâm văn hóa của thế giới này.

Ðây là lẽ đương nhiên – nền dân chủ, với quyền tự do công dân rộng lớn mà nó trao cho các cá thể, là miếng đất màu mỡ cho nhân cách cá nhân phát triển, và xã hội dựa theo đó mà phát triển theo.

Cũng vì lý do như trên mà không một nhà nước phát xít nào trong thế kỷ XX sản sinh ra được cơ sở cho những tấm gương vĩ đại trong văn học, nghệ thuật và văn hóa nói chung. Chỉ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật quân sự, nhà nước phát xít mới vượt trước các nước khác, đạt được những kết quả đáng kể; đồng thời bóc lột tài năng của hàng nghìn nhà bác học và hàng triệu người khác. Nước Ðức – Hitler đã vượt xa trong những kỹ thuật sản xuất tên lửa tầm ngắn và tầm xa (Fau 1 và Fau 2) và chỉ thiếu chút nữa là chế tạo được bom nguyên tử. Italia với những hạn chế dân tộc đáng kể, cũng đạt được một số thành tích trong lĩnh vực quân sự hàng không. Nhưng cả Ðức, Italia và Tây Ban Nha không để lại được cho kho tàng văn hóa nhân loại ngay cả một tác phẩm nghệ thuật thô kệch.

Việc trả giá này của nền văn hóa – chính trị trong chế độ phát xít, không phải vì nhà nước thiếu quan tâm săn sóc, như đôi lúc người ta đã nghĩ như thế. Trái lại, đây là kết quả của sự quan tâm và săn sóc quá sâu sát của đảng và nhà nước phát xít. Những lãnh tụ chính trị của nhà nước này đã dạy các họa sĩ, nhà văn cần phải cảm hứng cái gì, thể hiện cái gì và như thế nào, để được chế độ công nhận là tác phẩm nghệ thuật.

Khi Hitler “tấn công” các họa sĩ tân tiến, giữa những lời ông có một điều đúng, đó là: “Thiên tài không phải là không suy nghĩ”. Nhưng ông ta đã cố quên không nhắc đến một mặt khác của thiên tài rằng: “thiên tài không thể bị lãnh đạo”. Bởi vì ai muốn lãnh đạo thiên tài, thì cần phải thiên tài hơn. Thiên tài không cần phải có thầy dạy bảo.

B. Cơ quan hành luật được đặt trên cơ quan lập hiến

Cấu trúc của nhà nước độc tài không thể trùng lặp với nền dân chủ. Việc tập trung quyền lực tuyệt đối khiến nó không thể áp dụng nguyên tắc dân chủ cơ bản khi xây dựng nhà nước: NGUYÊN TẮC CHIA QUYỀN. Về hình thức, nhà nước phát xít vẫn giữ ba cơ quan quyền lực (lập hiến, xét xử và thi hành), vẫn giữ quốc hội, tòa án và chính phủ như những cơ quan nhà nước tối cao. Nhưng đó chỉ là hình thức, vì sau khi sát nhập với nhà nước, đảng phát xít có toàn quyền kiểm soát những cơ quan quyền lực này. Trên thực tế, cả quốc hội, chính phủ và tòa án đều bao gồm từ những đảng viên phát xít, và đảng này kiểm soát họ như những thành viên của mình. Từ đây suy ra rằng, cả ba cơ quan quyền lực này đều là cơ quan của đảng, và đảng xem chúng như những công cụ để thi hành chính sách chính trị của mình trong nhà nước và xã hội.

Hoặc nếu chúng ta nhìn vấn đề một cách tổng quát hơn, sẽ nhận được bức tranh như sau: về hình thức, nhà độc tài được xây dựng giống nền cộng hòa tư sản, đảm bảo chặt chẽ nguyên tắc chia quyền. Nhưng đứng trên nhà nước, với ba cơ quan quyền lực và những tổ chức tương ứng của chúng, là đảng phát xít, đứng đầu là lãnh tụ không thể thay thế của nó. Ðảng kiểm soát cả ba cơ quan quyền lực và toàn bộ bộ máy nhà nước. Ðồng thời không ai có quyền kiểm soát lại đảng – kể cả nhà nước, kể cả các tổ chức quần chúng và xã hội. ÐẢNG LẤY QUYỀN LỰC TỪ NHÂN DÂN, GIỐNG NHƯ VUA CHÚA LẤY QUYỀN LỰC T Ừ THƯỢNG ÐẾ.

Việc biến đổi quyền lực nằm trong vòng luẩn quẩn. Vì chính phủ, quốc hội và tòa án đều thi hành chỉ thị của đảng, nghĩa là thực hiện cùng một chính sách chính trị và đều là vô quyền trước giới lãnh đạo đảng. Trong đời sống chính trị thực sự, nhà nước phát xít bắt đầu từ bỏ kiểu hình thức này bằng cách nhấn mạnh vai trò của cơ quan hành luật.
Ðể tránh được điều trái quy luật này và để bộ máy nhà nước có thể hoạt động linh hoạt, đảng phát xít trao chức năng lập hiến cho cơ quan hành luật. Còn cơ quan lập hiến – tức quốc hội – chỉ còn mang giá trị hình thức và được sử dụng để tuyên truyền cho tính chất dân chủ giả hiệu của chế độ.

Ngày 24.3.1933 chính phủ Hitler nhận được từ quốc hội (Raihxtaga) sắc luật toàn quyền đặc biệt, theo đó, “chính phủ có thể ban hành các luật lệ trong Ðế Chế.” (103-94). Với văn bản này, bản thân quốc hội không còn là một cơ quan lập hiến. Toàn bộ luật lệ có giá trị tại nước Ðức quốc xã đều do Hitler ban hành. Chính phủ Hitler là thí dụ điển hình về cách thức nhà nước phát xít trao quyền lập hiến cho cơ quan hành luật và bằng cách đó phá vỡ hoàn toàn nguyên tắc chia quyền. Sau ngày 24.3.1933, quốc hội Ðức (Raihxtaga) được sử dụng như diễn đàn để Hitler đọc diễn văn tuyên truyền trước những cán bộ ngoại giao và nhà báo nước ngoài.

Những sự kiện tương tự cũng đã xảy ra ở Italia bảy năm về trước. Sau khi ban hành “Những Sắc Luật Phát Xít Ðặc Biệt” vào năm 1925-1926, kết quả là đảng phát xít thiết lập đưọc cơ cấu một đảng quyền và điều hành toàn bộ bộ máy nhà nước, chế độ trao chức năng lập hiến cho cơ quan hành luật. Chính phủ có thể quyết định những vấn đề mà trước đây được giải quyết tại quốc hội. Những “cải cách” theo hướng này được phát xít Italia thực hiện bằng hai sắc luật:

a/ Sắc luật về quyền hạn và nhiệm vụ của Thủ Tướng chính phủ, Bí Thư Thứ Nhất Nhà Nước,

b/ Sắc luật về quyền của cơ quan hành luật được ban hành những quy định pháp luật. Như vậy, vai trò của quốc hội chỉ còn là con số không.

Ðiểm đặc biệt này của các nhà nước phát xít cũng được thực hiện ở Tây Ban Nha. Với sắc luật củng cố nghị viện ra ngày 17.7.1942, Franco xác định vai trò của nghị viện như sau: “Nhiệm vụ chính của nghị viện là dự thảo và ban hành luật lệ, nhưng không được ảnh hưởng đến toàn quyền của người đứng đầu nhà nước.” (20-284). Ðiều 13 của sắc luật này cho phép chính phủ “trong trường hợp chiến tranh hoặc khẩn cấp được ban hành các sắc luật và sau đó, chỉ cần thông báo lại với nghị viện.” (20-285)

Tất nhiên, chủ nghĩa phát xít không phủ nhận nguyên tắc chia quyền. Nó chỉ “điều chỉnh lại” cho phù hợp với những nhu cầu của nhà nước. Raco, một trong những nhà lý luận của phát xít Italia, đã viết về vấn đề này như sau:

“Nguyên tắc chia quyền không phải tuyệt đối, không phải là sự cần thiết để nhà nước có thể tồn tại, và nhà nước không thể vì nó mà phải hy sinh. Nguyên tắc này có thể xem như nguyên tắc cơ bản trong hiến pháp, duy trì sự sống và đảm bảo trật tự trong các hoạt động của nhà nước. Nhưng trước sự sống còn của nhà nước, thì những chức năng của các cơ quan quyền lực, đặc biệt là cơ quan lập hiến, cần phải được trao cho chính phủ – cơ quan có nghĩa vụ và trách nhiệm duy trì sự sống liên tục cho nhà nước, khi đó nguyên tắc chia quyền cần phải có một giới hạn và thay đổi nhất định. Tất cả những điều này chỉ ra rằng, chia quyền là một nguyên tắc bình thường, chứ không phải tuyệt đối và bất biến.” (112-45)

Chế độ phát xít xem việc đặt cơ quan hành luật trên cơ quan lập hiến là “ưu điểm” to lớn của mình, so với nền dân chủ tự do truyền thống, rằng cách đó, nó đạt được tính năng động là linh hoạt, có thể nhanh chóng giải quyết được những vấn đề xã hội quan trọng, không cần bàn cãi và tranh luận dài dòng trong quốc hội. Ði Xtefan, Bộ Trưởng Bộ Tài Chính trong chính phủ Muxolini, đã từng tuyên bố: “Chế độ phát xít thay tranh luận bằng hành động.” (112-112)

Trong bài phát biểu ngày 16.1.1937, Rudolf Hex cũng tán dương cho kiểu cải tổ hiến pháp, “điều chỉnh” nguyên tắc chia quyền: “Chế độ quốc xã quan tâm đến vấn đề này, vì những nhu cầu sống bức thiết của nhân dân không nên để lâu trong quốc hội và trở thành đối tượng thương mại giữa các đảng phái. Các ngài đã biết, trong chính phủ mới những quyết định mang ý nghĩa lịch sử được thống lĩnh và chính phủ thông qua – những quyết định mà ở các nước khác còn bị quốc hội bàn cãi nhiều tuần lễ.” (84-706)

Bằng cách đó, nhà nước phát xít không chỉ đặt cơ quan hành luật lên trên cơ quan lập hiến và tòa án, mà còn khiến cho những vụ bê bối chính phủ không thể xảy ra. Trong thời gian của chủ nghĩa phát xít, ở cả ba nước Ðức, Italia và Tây Ban Nha, không hề có vụ bê bối chính phủ nào. Năm 1965, Franco thành lập chính phủ thứ mười hai. Ông ta tự chọn và thay đổi các Bộ Trưởng khi cần thiết. Hitler và Muxolini mặc dù không có thời gian để thành lập chính phủ nhiều lần như vậy, nhưng nhìn chung cả hai người này cũng thực hiện theo cách đó. Chế độ phát xít tạo ra cái gọi là chính phủ quay vòng, các Bộ Trưởng có thể bị thay đổi, nhưng người đứng đầu thì vẫn giữ nguyên lãnh tụ phát xít như cũ. Chế độ phát xít xem vấn đề này là một trong những ưu điểm to lớn, so với nền dân chủ tự do, nơi vẫn thường xảy ra những vụ bê bối chính phủ. Thực chất, “ưu điểm” giả tạo này có được vì chính phủ chỉ là một công cụ mà đảng phát xít sử dụng để thi hành chính sách chính trị của đảng trong nhà nước. Do đó người đứng đầu chính phủ luôn luôn không bị thay đổi và cũng là thủ lĩnh của đảng phát xít.

C. Viện kiểm soát phục tùng cảnh sát

Ðây là một trường hợp phụ trong việc phá vỡ nguyên tắc chia quyền. Nhưng nó cũng xuất phát từ cấu trúc nhà nước phát xít, hay đúng hơn – từ việc biến đổi quyền lực thực sự của chính quyền phát xít. Các Thủ lĩnh đảng và nhà nước phát xít điều hành điều hành đất nước dựa chủ yếu vào các cơ quan khủng bố: Zetapo, SS, SA (ở Ðức), công an phát xít, tổ chức vũ trang “Những Người Phát Xít Trẻ”… (ở Italia). Ðó là chỗ dựa chính trị tin tưởng nhất của chúng trong nhà nước và cả trong đảng phát xít.

Bản thân Hitler đã nhiều lần nhấn mạnh đến vai trò khủng bố trong việc điều hành hệ thống chính trị. Trong một lần nói chuyện với các Bí Thư Khu Ủy tại biệt thự của ông ta ở Brehtexgadel, Hitler tuyên bố: “…Tôi sẽ tiến hành khủng bố một cách bất ngờ và bằng mọi phương tiện hủy diệt mà tôi có. Khủng bố là vũ khí chính trị hiệu quả nhất, và tôi sẽ không từ bỏ, nếu chỉ vì nó làm cho một vài tiểu thị dân ngu ngốc nào đó khó chịu. Thành công phụ thuộc vào quả đấm thô bạo, gây nỗi kinh hoàng khủng khiếp… Và nếu trong các ngài có những kẻ hèn nhát không chịu được điều đó, xin mời họ hãy đến nhà chùa mà sống với các thầy tu. Không có chỗ cho những kẻ như thế trong đảng của tôi.” (52-43)

Biểu đồ “lãnh tụ dân tộc – đảng phát xít – nhà nước – xã hội công dân” không phải là con đường biến chuyển quyền lực thực sự. Ảo tưởng rằng các Thủ lĩnh phát xít điều hành đất nước bằng cách dựa trực tiếp vào đảng phát xít, xuất phát từ tuyên truyền, nhằm thể hiện một cơ sở rộng rãi của chế độ, nâng cao vai trò của đảng phát xít trong việc lãnh đạo đất nước. Thực chất, các Thủ lĩnh phát xít điều hành dựa trên hệ thống khủng bố, nghĩa là dựa trên bộ phận được vũ trang và trung thành nhất của đảng phát xít, mà quyền lợi vật chất của nó liên quan đến việc củng cố chế độ. Giới cầm quyền chóp bu không thể dựa trực tiếp vào đảng phát xít, bởi vì thành phần xã hội phức tạp của đảng và điều kiện vật chất rất khác nhau của các đảng viên không tránh khỏi dẫn đến những cảm hứng và suy nghĩ khác biệt. Một công nhân, đảng viên phát xít, không thể có những suy nghĩ giống với giới cầm quyền chóp bu, với mức lương cao hơn hàng trăm lần và còn được hưởng những ưu ái vật chất khác; một trí thức hay một sĩ quan, xuất thân từ tầng lớp thượng lưu, không thể có cùng tâm lý với những cán bộ đảng hãnh tiến. Sau cùng giữa các Thủ lĩnh của giới cầm quyền chóp bu cũng có những mâu thuẫn, và với những điều kiện nhất định, có thể dẫn đến âm mưu đảo chính.

Ðiều đó giải thích tại sao giới cầm quyền chóp bu không thể dựa trực tiếp vào đảng phát xít với số lượng không lồ các đảng viên. Chúng ta không nên quên rằng, cái gọi là “xã hội phát xít” vẫn chỉ là một xã hội với sự phân chia giai cấp sâu sắc. Dấu hiệu đặc biệt này chứa đựng những bất ngờ nguy hiểm – âm mưu, xu hướng đối lập trong đảng…

Ðể có thể tránh được những nguy hiểm này, giới cầm quyền chóp bu dựa chủ yếu vào lực lượng cảnh sát chính trị (cảnh sát mật), sau đó mới đến đảng và nhà nước. Vì thí dụ, nếu trong đảng xuất hiện xu hướng đối lập, giới cầm quyền chóp bu sẽ không tranh luận hay thuyết phục, mà sẽ đàn áp thẳng thừng thông qua lực lượng khủng bố.

Như vậy lực lượng cảnh sát trở thành tổ chức tin tưởng nhất, thành chỗ dựa chính trị vững chắc nhất cho giới cầm quyền phát xít chóp bu. Và để thực hiện được vai trò của mình, lực lượng khủng bố này được trao quyền lực to lớn, có toàn quyền hành động trên danh nghĩa giới cầm quyền chóp bu.

Với cơ cấu hoạt động như thế – và không thể có cách nào khác – tòa án và viện kiểm sát, hiển nhiên bị gạt ra rìa. Tòa án thường hành động chậm chạp và ít nhiều mang tính công khai, đôi khi làm hỏng việc; còn đối với nền chuyên chính phát xít, đòi hỏi trước tiên là khẩn trương và quyết đoán, không cần đắn đo bất cứ một điều gì.

Vì lý do này, trong nhà nước phát xít, các cơ quan tư pháp thường hành động sau cảnh sát, bao che và hợp pháp hóa những việc mà lực lượng khủng bố đã làm. Nếu cơ quan tư pháp chống lại những hành vi của cảnh sát, nó sẽ phá vỡ mối quan hệ hỗ tương thực sự giữa các cơ quan quyền lực trong nhà nước phát xít; và điều đó hoàn toàn không thể cho phép. Cũng vì thế, bất cứ ai rơi vào tay cảnh sát đều có tội. Bởi nếu ngược lại thì chứng tỏ là cảnh sát có những hành vi phạm pháp – điều không thể cho phép vì quyền lợi của phát xít.

Ðể minh họa cho những phân tích trên đây, chúng ta chỉ cần nhớ lại sự kiện “Ðêm Của Những Lưỡi Gươm Dài” (ngày 30.6.1934). Chỉ trong một đêm, hàng chục nghìn Thủ lĩnh và sĩ quan SA đã bị thủ tiêu, vì bị buộc tội là có âm mưu chống lại Ban lãnh đạo đảng quốc xã, mặc dù không có cơ sở cho kết luận đó. Chiến dịch này đã được các đội SS – chỗ dựa chính trị hứa hẹn nhất của giới cầm quyền quốc xã chóp bu – thực hiện. Một vài tháng sau, tòa án mới dựa vào những “dẫn chứng” của SS để khẳng định rằng Bộ chỉ huy SA quả có âm mưu chống đối và việc hủy diệt nó cần phải được tiến hành khẩn trương.

Một thí dụ khác, trong những tháng cầm quyền đầu tiên của bọn quốc xã, hàng trăm nghìn đối thủ chính trị của chế độ đã bị bắt giam vào các trường học, trại tập trung, không cần xét xử và tuyên án. Mãi sau khi đã nhốt những người này vào nhà tù, đảng phát xít mới quyết định hợp pháp hóa hành động khủng bố nàỵ Các tòa án địa phương bắt đầu tìm cách buộc tội những người đã nằm trong tù nhiều tháng.

Thí dụ này cho thấy rõ nhất những quan hệ tương hỗ giữa tòa án và lực lượng khủng bố. Mặc dù chúng đều là những cơ quan của nhà nước, chế độ vẫn tin tưởng sử dụng lực lượng khủng bố hơn, bởi vì đó là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để đạt được mục đích, loại bỏ được những trình tự hình thức, trong khi thi hành pháp luật.

Ðối với các cá nhân trong nhà nước độc tài, sự phục tùng của tòa án trước cảnh sát giống như một cái vòng thôi miên ma quỷ, mà không ai có thể bước qua. Cảnh sát là cơ quan vi phạm nhiều nhất quyền tự do chính trị và tự do cá nhân của các công dân. Ðể có thể kiện những hành vi phạm pháp của cảnh sát, người công dân cần phải đưa đơn tại tòa án. Nhưng vì các tổ chức tòa án phụ thuộc hoàn toàn vào các bộ máy cảnh sát, nên trên thực tế, những người này lại rơi vào tay cảnh sát. Kẻ phạm tội trở thành quan tòạ Báo Folciser Beobahter số ra ngày 26.8.1933 viết, “Dân chúng thường kêu ca những hành vi lừa đảo của bọn mật vụ… Trong mọi trường hợp, cơ quan đầu tiên nhận những đơn kiện đó lại là đội mật vụ địa phương.”. Bọn mật vụ phạm tội và cũng chính bọn mật vụ ban phát công lý cho những nạn nhân của mình!

Sở dĩ tồn tại vòng thôi miên ma quỷ này vì cảnh sát và tòa án đều là những tổ chức của đảng phát xít và phải thi hành nguyện vọng của đảng.

Khi đảng phát xít ra lệnh khủng bố những kẻ thù của nhà nước, không thể mong đợi tòa án sẽ tuyên bố chống lại sự khủng bố này, vì như một tổ chức phát xít, tòa án phải bao biện và hợp pháp hóa những hành động khủng bố của cảnh sát.

D. Cương vị bù nhìn của quốc hội

Sau khi chức năng lập hiến được trao cho cơ quan hành luật, vai trò của quốc hội chỉ là hình thức và một khi còn tồn tại (cả ba nhà nước phát xít đều không hủy bỏ quốc hội), giá trị của nó là để sinh ra ảo tưởng rằng, trong nhà nước tương ứng vẫn hiện hành một chế độ pháp quyền. Trong “Tuyên Bố Cương Lĩnh Của Chính Phủ” do Quốc Trưởng Adolf Hitler đọc trước Quốc hội ngày 23.3.1933 có đoạn: “Nếu để cho quốc hội bàn cãi và quyết định mọi vấn đề và mọi biện pháp, chính phủ Ðức có thể sẽ đi ngược lại tinh thần phục sinh dân tộc… Hành động như thế, chính phủ hoàn toàn không có ý định bãi bỏ quốc hội và các chức năng của nó; ngược lại, chính phủ vẫn để cho quốc hội tồn tại và được quyết định một số biện pháp có thể chấp nhận, và thậm chí nếu cần thiết, có thể yêu cầu quốc hội bổ sung ý kiến.” (128-188)

Cũng trong tuyên bố này, Hitler giải thích tại sao chế độ quốc xã không công nhận cơ cấu quốc hội: “Chúng ta không công nhận rằng, quốc hội thể hiện được nguyện vọng của nhân dân, mà theo tính logic đó chỉ có thể là nguyện vọng bảo vệ nhân dân; chúng ta nhìn thấy trong cơ cấu quốc hội sự thể hiện sai lầm nguyện vọng này, thậm chí là xuyên tạc. Nguyện vọng của một dân tộc khẳng định sự tồn tại của nó, được thể hiện rõ ràng nhất, có lợi nhất trong những nhân cách tốt đẹp của dân tộc đó. Họ là ban lãnh đạo đại diện cho dân tộc và chỉ có họ mới có thể là niềm tự hào cho nhân dân, chứ không thể là cái nhóm đại biểu quốc hội, mà nơi sinh ra thùng phiếu và bố đẻ là bản danh sách bầu cử vô danh.” (128-202)

Vai trò hình thức của quốc hội trong nhà nước độc tài được xác định từ những tình tiết sau:

– Quốc hội phục tùng chính phủ, chính phủ thay thế quốc hội ban hành sắc luật.

– Thậm chí nếu quyền lập hiến vẫn thuộc về quốc hội và nó được xếp trên chính phủ (như khi đảm bảo tuyệt đối nguyên tắc chia quyền) thì điều đó cũng vẫn không làm thay đổi cương vị bù nhìn của quốc hội. Bởi vì đứng trên quốc hội, chính phủ và tòa án là “hạt nhân đại diện cho dân tộc”, được gọi là đảng phát xít. Trước khi đệ trình quốc hội, tất cả mọi luật lệ đều phải được hạt nhân đại diện của đảng phát xít bổ sung. Nếu không được sự đồng ý của hạt nhân đại diện này, thì không một điều luật nào đến được với quốc hội.

Ðể minh họa, chúng ta chỉ cần nhớ lại những quyền lực mà Hex (và sau đó là Martin Borman) đã có đối với mọi hoạt động pháp luật trong Ðế Chế, hay là Hội Ðồng Phát Xít Tối Cao – đối với quốc hội Italia.

Như vậy do cấu trúc của chế độ được thiết lập, mọi hoạt động chính trị thực sự trong quốc hội đều bị loại bỏ, mọi vấn đề đều được đồng tâm nhất trí thông qua, giống như trong các Ðại Hội Ðảng, bằng cách hô đồng loạt: “Hail Hitler!” hay “Franco – Falanga!”

Trong lịch sử chủ nghĩa phát xít không có trường hợp nào mà quốc hội bác bỏ những sắc luật của chính phủ và cũng không dám phê phán hay chê bai. Ðiều này cho thấy một cách rõ ràng nhất tính hình thức của quốc hội và chỉ ra vai trò thực sự của nó: là diễn đàn để lãnh tụ phát xít tán dương những quyết định của mình trước các công dân và thế giới.

Cách thức bầu đại biểu quốc hội cũng cho thấy vai trò hình thức của nó. Các đề cử viên được đảng phát xít hoặc những tổ chức quần chúng chỉ định. Thí dụ ở Italia, đề cử viên được các tổ chức nghiệp đoàn giới thiệu, sau đó danh sách đề cử được Hội Ðồng Phát Xít Tối Cao bổ sung thêm. “Các đề cử viên được những nhóm sản xuất, cơ sở kinh tế và hiệp hội trí thức – nghĩa là cơ sở và tổ chức của hệ thống nghiệp đoàn quốc gia – chỉ định. Sau đó Hội Ðồng Phát Xít Tối Cao bổ sung thêm vào danh sách đề cử viên những người xứng đáng nhất trong mọi lĩnh vực xã hội, những người mà dân tộc (cần phải hiểu: đảng phát xít – J.J.)bầu lên thành những lãnh tụ của mình.” (112-205)

Ở Ðức và Tây Ban Nha, việc bầu cử quốc hội cũng được tiến hành theo cách thứ tương tự.

Với kiểu bầu cử như thế, các đại biểu quốc hội trên thực tế đều là những cán bộ lãnh đạo của đảng và đại diện của cơ quan hành luật.

E. Trò bầu cử hài hước

Các cuộc bầu cử trong nhà nước độc tài chỉ là những trò hài hước chính trị. Ðáng lẽ ở những dạng nhà nước này hoàn toàn không cần đến bầu cử, bởi vì kết quả thắng lợi luôn luôn được đảm bảo. Nhà nước không bao giờ có thể thua trong các cuộc bầu cử, và nếu không thắng lợi 100%, thì cũng phải gần sát con số đó. Thí dụ trong cuộc trưng cầu dân ý vùng Xaarx vào năm 1935, 90% dân chúng đã bỏ phiếu tán thành việc sát nhập với nước Ðức (71-194)… Chúng ta nên biết rằng trước khi nắm chính quyền, bọn quốc xã chưa bao giờ chiếm được quá 37,3% số phiếu.

Trong cuộc trưng cầu dân ý ngày 19.8.1934 về vấn đề sát nhập các trọng trách Tổng Thống và Thủ Tướng, nhân dân Ðức cũng “đồng tâm nhất trí” và “tin tưởng” trao toàn bộ những quyền lực này vào tay Hitler.

Ở Tây Ban Nha, trong cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 3.1947 về vấn đề “sau khi Franco chết, có cần giữ nền quân chủ nữa hay không”, chính phủ cũng thu được 80% phiếu thuận.

Những cuộc bầu cử chính trị trong nhà nước độc tài là hoàn toàn hình thức, vì mọi cái đã được sắp đặt sao cho giới cầm quyền chóp bu có thể tự mình lựa chọn.
Giả mạo phiếu bầu là việc dễ dàng nhất và thường xuyên xảy ra trong thời gian bầu cử. Lúc thống kê phiếu, thường gặp những trường hợp khôi hài khi số phiếu thuận nhiều hơn cả số cử tri.

Trong hồ sơ của tòa án Nuernberg có đoạn viết: “Tiếp theo, với sự giám sát của những phần tử quốc xã, các cuộc bầu cử trở nên hoàn toàn hình thức, không còn một chút tự do nào. Bầu cử, với ý nghĩa thực sự của từ này, hoàn toàn không thể có trong chế độ quốc xã.” (84-580)

Những tài liệu thu được sau sự sụp đổ của phát xít Ðức cho thấy các cuộc bầu cử đã được tiến hành như thế nào, đâu là sự thật ẩn giấu sau sự đồng tâm nhất trí của các cử tri, các lực lượng khủng bố bí mật, dưới danh nghĩa giữ gìn trật tự đã hoạt động ra sao… Macxuel, người buộc tội người Anh tại tòa án Nuernberg nói: “Chúng tôi thu được toàn bộ hồ sơ của vùng Erfurt (Tiuringia), trong đó có những tài liệu liên quan đến cuộc trưng cầu dân ý năm 1937. Các cán bộ đảng cơ sở có nhiệm vụ phải thông báo những người có thể bỏ phiếu chống trong khu vực của chúng. SD ra các sắc lệnh cho cán bộ đảng cơ sở và lãnh đạo những đội an ninh. Những cán bộ hành chính cơ sở có nghĩa vụ phải cộng tác chặt chẽ với cán bộ đảng.” (89-564)

Và trên thực tế, SD đã thi hành sắc lệnh theo dõi các công dân xem họ bỏ phiếu thuận hay phiếu chống, một việc có thể xác định dễ dàng (89-563). Trong một tài liệu khác có ghi: “Người ta đã phải nhắc anh công nhân Otto Vigand đến lần thứ tư là phải đi bỏ phiếu đúng ngày bầu cử; kết quả là anh ta đã bỏ phiếu, chỉ vì bị cưỡng ép.” (89-563)

Và “…tại Bremen, các Bí Thư Tỉnh Ủy, Huyện Ủy và Bí Thư Ðảng Bộ đã phải báo cáo bằng văn bản về những công chức không tham gia bỏ phiếu trong cuộc bầu cử ngày 26.3.1936.” (89-564)

“… tại Tiuringa, các Bí Thư Ðảng Bộ và Chi Bộ phải báo cáo vấn đề phản ứng của nhân dân về kết quả của cuộc trưng cầu dân ý năm 1938, “đặc biệt là tại các làng mạc và thị trấn nhỏ.” (89-565)

“Tại Rotenburg, đảng phát xít tổ chức biểu tình chống một linh mục vì đã từ chối không tham gia bầu cử…” (89-564)

F. Hủy diệt mọi quyền tự do công dân và tự do chính trị

Với việc thiết lập hệ thống phát xít, trước tiên những quyền tự do công dân và tự do chính trị của cá nhân bị hủy diệt. Một khi toàn bộ quyền hành đều nằm trong tay nhà nước, mọi cá nhân không còn một chút quyền gì. Cá nhân chỉ có thể nhận được từ nhà nước những quyền tối thiểu, cần thiết để phục vụ tốt hơn cho chế độ.

Chủ nghĩa xuất phát từ quan điểm rằng, nhà nước là hiện thực chính trị cao nhất và tất cả hoài vọng về hiện thực đều chỉ có thể nhận được từ nhà nước. Bọn phát xít Ytalia thể hiện nguyên tắc này bằng khẩu hiệu, “Tất cả vì nhà nước; đứng ngoài nhà nước và chống lại nhà nước là vô nghĩa.”

Trên thực tế, phát xít Ytalia thành lập hệ thống nghiệp đoàn, thâu tóm tất cả mọi tổ chức, hoạt động, thâu tóm toàn bộ xã hội và mọi biểu hiện của xã hội. Nhân cách cá nhân chỉ có thể thể hiện trong nhà nước và thông qua nhà nước. Muxolini viết trong Học Thuyết Về Chủ Nghĩa Phát Xít, “Nhà nước phát xít là biểu hiện cao nhất và mạnh mẽ nhất của nhân cách… nó thể hiện tất cả mọi hình thức của đời sống trí thức và tinh thần con người.” (80-8)

“Ðối với chủ nghĩa phát xít, nhà nước là tuyệt đối, còn các cá nhân hay nhóm xã hội chỉ “có nghĩa” khi thuộc nhà nước… Nhà nước không chỉ là hiện tại, mà còn là quá khứ và trước hết là tương lai. Thông qua cuộc đời ngắn ngủi của các cá nhân, nhà nước tượng trưng cho sự trường tồn của ý thức dân tộc. Hình thái nhà nước có thể thay đổi, nhưng cái quan trọng thì còn lại mãi.

“… Ðối với chủ nghĩa phát xít, nhà nước không phải là người canh cửa ban đêm để chỉ chăm lo đến vấn đề an ninh cho các công dân; cũng không phải là tổ chức với mục đích hoàn toàn vật chất, thí dụ như cộng sinh hòa bình, mà để điều hành chỉ cần một ban quản trị; cũng không chỉ là nhận thức chính trị thuần túy, không liên quan gì đến thực tế vật chất phức tạp của cuộc sống mỗi cá thể và dân tộc. Theo chủ nghĩa phát xít, nhưng là linh hồn và tinh thần, vì nó cụ thể hóa tổ chức chính trị, pháp luật và kinh tế của một dân tộc…

“Nhà nước giáo dục các công dân về những phẩm chất tốt đẹp, trao cho họ nhận thức về giá trị của họ, dẫn họ đến sự thống nhất, điều hòa quyền lợi của họ trong công lý; đồng thời thu nhận mọi thành tựu trong khoa học, nghệ thuật, quyền lực cộng đồng con ngườị..” (80.21)

Nói cách khác, nhà nước phát xít là nhà nước tổng thể, thâu tóm toàn bộ mọi hoạt động và biểu hiện của các cá nhân và cả chính bản thân các cá nhân đó. Vì cá nhân gắn liền với nhà nước, nên không có quyền được tự do, không phụ thuộc vào nhà nước. Theo quan điểm phát xít, nhà nước đồng nghĩa với nhân dân, dân tộc, quê hương… chăm lo đến các cá nhân như mẹ đẻ. Và cá nhân không có quyền được yêu cầu tự do, giống như đứa trẻ không thể xa mẹ nó.

Muxolini viết tiếp, “Một nhà nước dựa vào hàng triệu cá nhân được họ công nhận và sẵn sàng phục vụ, không thể là nhà nước ghê tởm thời trung cổ…

“… Cá nhân trong nhà nước không bị hủy diệt, mà được nhân lên nhiều lần, giống như trong một đơn vị quân đội, giá trị của người lính không bị giảm đi, mà được nhân lên theo số lượng các đồng chí của mình. Nhà nước phát xít tổ chức dân tộc, nhưng sau đó để cho các cá nhân đầy đủ quyền tự do; nhưng chỉ hạn chế những quyền tự do không có lợi, những quyển tự do có hại (!!!), và giữ gìn những quyền tự do chính đáng. Chỉ có nhà nước, chứ không phải là cá nhân, được quyền phán xét trong lĩnh vực này.” (80-23)

“Trong nhà nước của chúng ta, cá nhân không thiếu tự do, cá nhân có nhiều tự do hơn kẻ cô đơn, vì nhà nước che chở cho cá nhân, cá nhân là một bộ phận của nhà nước, còn kẻ cô đơn thì không có người bảo vệ.” (80-35). Vì lý do này, chính phủ phát xít không ngần ngại xét xử các tác giả tư tưởng tự do. Từ đây cũng dẫn đến lòng căm thù nền tự do dân chủ, vì nó đặt cá nhân cao hơn nhà nước. “Chủ nghĩa tự do cưỡng ép nhà nước theo quyền lợi cá nhân, còn chủ nghĩa phát xít khẳng định nhà nước như một thực tiễn thực sự của cá nhân. Và nếu quyền tự do cần phải thuộc con người, chứ không phải là con búp bê tưởng tượng mà chủ nghĩa tự do ích kỷ đã nghĩ, thì chủ nghĩa phát xít thuộc về tự do, về tự do duy nhất, tự do nghiêm túc, tự do của nhà nước và tự do của cá nhân trong nhà nước (13). Một khi là người phát xít thì tất cả phải giành cho nhà nước, không còn tồn tại bất cứ thứ gì thuộc con người hay linh hồn; và đứng ngoài nhà nước thì giá trị thật không đáng kể. Trong ý nghĩa này, chủ nghĩa phát xít là tổng thể và nhà nước phát xít- đỉnh cao và sự thống nhất của tất cả mọi giá trị- tư duy, phát triển và cống hiến toàn bộ cuộc đời cho nhân dân (14).” (80-20)

Và nếu cá nhân không đồng ý với chính sách chúng ta của nhà nước, với hệ tư tưởng và tinh thần của nó; giả sử cá nhân không cần đến sự chăm sóc, bảo vệ của nhà nước và muốn phê phán hay đấu tranh chống lại nó; khi đó nhà nước phát xít thực sự sẽ tỏ rõ những ưu việt dân chủ của mình. Bằng mọi biện pháp- từ sức ép của những tổ chức quần chúng đến trại tập trung cải huấn- nhà nước sẽ ngăn chặn và uốn nắn cá nhân đó theo con đường “đúng đắn”.

Sự so sánh của Muxolini về cá nhân trong nhà nước và những người lính trong quân đội, mang ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều. Nó không những cho chúng ta thấy sự giống nhau giữa nhà nước và trại lính, mà còn chỉ rõ “tự do” của các cá thể trong nhà nước này. Giống như trong quân đội, theo luật quân sự, người lính chỉ có quyền tự do để suy nghĩ bằng cách nào có thể thực hiện tốt hơn mệnh lệnh của cấp chỉ huy (và không được do dự), cá nhân trong nhà nước độc tài cũng chỉ có quyền tự do tìm cách phục vụ tốt hơn cho nhà nước, “sáng tạo” cho nhà nước.

Nói gọn hơn: tất cả những gì mang lại lợi ích cho đảng và nhà nước phát xít, là tự do sáng tạo; và ngược lại, tất cả những gì công kích lại chúng là tự do phá hại, vô chính phủ hay nổi loạn và nhà nước không thể chấp nhận.

Phần III – Đặc thù tổng quát của nhà nước độc tài

1. Nhà nước độc tài có thể bị lật đổ “từ dưới” không?

Theo cấu trúc, nhà nước độc tài là hệ thống toàn diện và hoàn thiện nhất để đàn áp các cá nhân và nhân dân. Nó không chỉ đàn áp, khủng bố mà còn lôi kéo cả dân tộc tham gia vào những tội ác chống lại chính dân tộc đó; không chỉ hành dộng trên danh nghĩa dân tộc – điều đó thì nước nào cũng làm- mà là hành động thông qua dân tộc. Dân tộc trở thành vũ khí của nhà nước chống lại chính dân tộc đó và những đại diện xứng đáng nhất- những người bảo vệ quyền dân chủ, quyền tự do công dân và tự do chính trị.

Thâu tóm tổng thể nhân dân vào các tổ chức quốc gia, nhà nước độc tài dễ dàng khiến nhân dân bằng chính tay mình hủy diệt những người chống lại nền chuyên chính trong hàng ngũ của mình. Còn sự thống nhất nào sâu sắc hơn giữa nhân dân và nhà nước, khi nhân dân bảo vệ nhà nước và tiêu diệt những kẻ thù của nó.

Thậm chí, khủng bố cũng không chỉ giới hạn trong vấn đề thể chất (nhốt trong hầm ngục của Zetapo và lao động khổ sai trong trại tập trung), mà còn có cả khủng bố tư tưởng một cách hệ thống thông qua đài phát thanh, phim ảnh, báo chí, tổ chức quần chúng…

Nếu như SS và Zetapo tiêu diệt những người mang tư tưởng dân chủ còn sót lại từ thời nền Cộng Hòa Vaimar, thì tuyên truyền và các tổ chức quần chúng nhổ tận gốc cả những mầm mống tự do suy nghĩ, đồng thời nhồi nhét giáo lý của hệ tư tưởng quốc gia.

Trong hoàn cảnh như thế không tồn tại những điều kiện và con người cho một cuộc đấu tranh quần chúng chống lại nền chuyên chính phát xít. Không thể thành lập được một tổ chức quần chúng với ý đồ khởi nghĩa vũ trang nhằm lật đổ nhà nước phát xít, vì do thám tổng thể sẽ nhanh chóng phát hiện ra mạng lưới bí mật và lực lượng khủng bố sẽ hủy diệt nó. Do đó cho đến tận giờ phút cuối, tại nước Ðức – Hitler không hề có được một tổ chức bí mật hoàn chỉnh để có thể khởi nghĩa vũ trang.

Ðiều lớn nhất mà những người Ðức chống phát xít đã đạt được là thành lập những nhóm bí mật trong các nhà máy, hoàn toàn cách ly lẫn nhau và hoạt động tuyệt đối bí mật. Cá biệt chỉ có một vài nhóm liên kết được với nhau. Các nhóm này xuất hiện trong giai đoạn khủng hoảng của phát xít Ðức, khi chiến tranh đã đẩy đất nước này đến gần thảm họa không tránh khỏi (nhóm của Xefcov- Iacob- Bectlain, nhóm của Teo Noibauer, nhóm của Georgi Suman- tất cả đều đã bị Zetapo phát hiện và hủy diệt trước khi kết thúc năm 1944)
Nhìn chung, số lượng người tham gia những tổ chức bí mật chống chế độ quốc xã không vượt quá “vài nghìn” và với một nước như Ðức, con số này quả là khiêm tốn. Tất nhiên, nói như thế không phải là có ý làm giảm uy tín của Ðảng cộng sản Ðức và chủ nghĩa anh hùng của những con người dũng cảm đã tiến hành cuộc đấu tranh trong chín tầng địa ngục. Nhưng điều đó chỉ ra rằng, không thể tổ chức một cuộc đấu tranh vũ trang để lật đổ chế độ độc tài.

Thật ngây thơ nếu nghĩ rằng, tại nước Ðức- Hitler không có nhiều người căm thù và sẵn sàng đấu tranh lật đổ chế độ. Nhưng những người này đã không hành động, bởi vì họ nhận thức được sự thất bại tất yếu trong cuộc đấu tranh này. Trong điều kiện không có tính công khai, thậm chí cả chủ nghĩa anh hùng cũng trở nên vô nghĩa, vì không thể trở thành tấm gương hy sinh hay một hình thức tuyên truyền cho những tư tưởng chống lại nhà nước.

Những ai bị rơi vào nanh vuốt của Zetapo sẽ mãi mãi là tù nhân của nó. Sẽ không còn ai thông báo hay nhắc nhở một tí gì về những người này. Họ sẽ bị chết dần mòn sau những bức tường dày dưới lòng đất. Iamar Saht, một trong những người sáng lập nhà nước quốc xã, vào năm cuối cùng của chế độ này đã bị rơi vào trại tập trung cải huấn và sống sót một cách ngẫu nhiên, tại tòa án Niurnberg đã nói như sau: “Những khổ đau mà con người phải chịu đựng trong cuộc đấu tranh chống khủng bố sẽ có lợi ích gì, nếu nhân dân không có khả năng biết tới và không thể trở thành tấm gương cho những người khác noi theo.” (84-590)

Ðây có lẽ là lý do tâm lý cơ bản cho việc không tồn tại cuộc đấu tranh quần chúng chống nhà nước quốc xã. Ðiều này có thể giải thích một hiện tượng, mà mới thoạt nhìn tưởng như khó hiểu: quần chúng không hài lòng, có nhiều người căm ghét chế độ trong bối cảnh tan rã của nó, thế nhưng vẫn không tồn tại lực lượng chống đối hay một cuộc đấu tranh thực sự.

Tóm lại, nhà nước phát xít khó có thể bị lật đổ từ dưới bằng cuộc khởi nghĩa vũ trang do các lực lượng cánh tả tổ chức và lãnh đạo. Trước hết vì chắc gì lực lượng này đã được tổ chức và vũ trang đầy đủ. Với bộ máy khủng bố khổng lồ, do thám và tuyên truyền tổng thể, cùng việc thâu tóm triệt để nhân dân vào các tổ chức quốc gia, nhà nước phát xít có thể hủy diệt mọi ý đồ chống đối từ lúc còn trứng nước, trước khi các lực lượng này đạt được tính quần chúng rộng rãi và đe dọa được nó. Nếu trong một nhà nước phát xít có thể tổ chức lực lượng quần chúng chống đối, chẳng hạn như phong trào du kích, thì điều này chỉ có nghĩa: nhà nước đó đã không còn là nhà nước phát xít, mà chỉ có một vài cơ cấu nào đó được xây dựng như chế độ phát xít.

Trong nền chuyên chính phát xít, công tác chống đối bí mật mang một mâu thuẫn không thể vượt qua: càng giữ bí mật bao nhiêu thì càng khó bị phát hiện bấy nhiêu. Nhưng như thế nó lại xa rời với mục đích chính; chiếm được lòng tin của quần chúng để có thể lật đổ chế độ. Mặt khác, càng mang tính quần chúng rộng rãi bao nhiêu càng dễ bị phát hiện bấy nhiêu.

2. Ba lực lượng vũ trang của nhà nước phát xít

Nhà nước độc tài có ba lực lượng vũ trang, mà trong những điều kiện nhất định có thể tách rời và hoạt động độc lập: đảng phát xít, cảnh sát và quân đội. Bình thường, các lực lượng này nằm trong mối quan hệ phụ thuộc tương hỗ: cảnh sát (bí mật và công khai) và quân đội phải phục tùng đảng phát xít. Mặt khác, cảnh sát và quân đội là hai chỗ dựa căn bản của đảng phát xít trong nhà nước này. Cảnh sát bao gồm những phần tử trung thành và ràng buộc với chế độ, là bộ phận được vũ trang của đảng phát xít và được xem là chỗ dựa vững chắc nhất.

Nhưng quân đội thì không được tin tưởng như thế, vì theo luật quân sự, mọi công dân đến tuổi đời nhất định đều phải xung lính, không phụ thuộc vào quan điểm của họ. Hơn thế nữa, quân đội là mối hiểm họa cho nhà nước trong những hoàn cảnh khó khăn ( chiến tranh, khủng hoảng) vì quân đội có quân số khổng lồ lại được trang bị những vũ khí hiện đại (xe tăng, xe bọc thép, máy bay), nếu xảy ra đảo chính, cảnh sát không bao giờ có thể chống trả được trước sức tấn công của nó.

Ðiều này dã bắt buộc đảng phát xít phải đặt quân đội dưới sự kiểm soát vô cùng nghiêm ngặt: huấn luyện quân đội chính quy một cách có hệ thống theo tinh thần tư tưởng của đảng, đào tạo đội ngũ cán bộ sĩ quan trung thành với đảng, bổ nhiệm Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng – vô bản sắc và trung thành tuyệt đối với giới lãnh đạo đảng, tổ chức mạng lưới do thám để thăm dò tinh thần các sĩ quan.

Sự kiện ngày 30-6-1934, “Ðêm Của Những Lưỡi Gươm Dài”, là một minh chứng rằng quân đội là mối hiểm họa đáng sợ nhất cho đảng phát xít. Cuộc đảo chính ngày 20-7-1944 càng khẳng định thêm kết luận này. Cuộc đảo chính này không thành công chỉ vì cách tư duy hạn chế của các tướng lĩnh Ðức: không muốn phản bội lời thề của mình trước Thống Lĩnh, hoặc vẫn bị ràng buộc bởi những nguyên tắc tư tưởng mà chủ nghĩa quốc xã đã nhồi nhét cho họ.

Nhưng dù sao, điều này vẫn chỉ ra một sự thật lịch sử là: chỉ có quân đội mới có thể chống lại và lật đổ đảng phát xít.

Cuộc đảo chính quân sự ở Ytalia vào tháng 7-1943 là dẫn chứng thuyết phục hơn.
“Một cuộc họp phát xít lớn được triệu tập vào ngày 24-7-1943 và sau 10 giờ tranh luận liên tục, với kết quả 19 phiếu thuận và 7 phiếu chống để đi đến kết luận: buộc Muxolini phải yêu cầu nhà vua chấp thuận những quyết định của Bộ Chỉ Huy Quân Sự Tối Cao…” (45-736)

Hai ngày sau, 26-7-1943, bị cách ly khỏi những người ủng hộ mình, trong đó có con rễ là bá tước Trao, Muxolini đã phải xin từ chức. Và trước đó, ngày 25-7, Muxolini đã bị bắt. Như vậy là cuộc đảo chính đã được thực hiện được. Chính phủ quân sự mới, đứng đầu là nguyên soái Badolio, giữ bí mật tuyệt đối việc bắt Muxolini và giam ông ta ở đảo Ponxa. Chính phủ không tấn công cảnh sát và đảng phát xít, chỉ vì bối cảnh đặc biệt của nước này: lúc bấy giờ tại Ytalia có mặt nhiều sư đoàn quân Ðức (mùa hè năm 1943 có 7 sư đoàn quân Ðức đóng ở Ytalia) (113-195), các sư đoàn Ðức có thể dễ dàng lật đổ chính phủ mới và phục hồi Muxolini để giữ Ytalia như một nước đồng minh của mình. Mặt khác do sự tồn tại của các sư đoàn Ðức, một cuộc tấn công như thế có thể gây ra cuộc khởi nghĩa phát xít, vì bộ máy đảng và nhà nước vẫn trung thành với Muxolini.

Trong hoàn cảnh đó, chính phủ Badolio chỉ có thể ra thông cáo, trong đó tuyên bố vẫn đứng về phía Ðức trong cuộc chiến tranh; đồng thời giữ bí mật nơi giam giữ Muxolini để quân Ðức không thể phát hiện ra, cho đến khi quân đồng minh tạo điều kiện cắt đứt quan hệ với Ðức.

Ðảo chính quân sự trong những điều kiện của nhà nước độc tài, là bước chuyển tiếp từ chuyên chính phát xít đến chuyên chính quân sự, đặc trưng bằng việc kém ổn định và khủng bố tổng thể (nhưng không dã man!). Một cuộc đảo chính quân sự không thể là bước chuyển tiếp thẳng từ chế độ phát xít đến nền dân chủ tự do vì những mâu thuẫn chính trị khổng lồ mà nó giải phóng. Những mâu thuẫn này có thể biến thành một cuộc khởi nghĩa chống phát xít hay phục hồi phát xít, và sẽ dễ dàng dẫn đến một cuộc nội chiến. Trong mọi trường hợp, những người đảo chính sẽ đánh mất quyền kiểm soát chính trị và sẽ trở thành nạn nhân cho những lực lượng mà họ vừa giải phóng.

Do đó, một cuộc đảo chính quân sự thông thường phải chuyển thành chuyên chính quân sự, để có thể giữ được chính quyền mới và để khỏi xảy ra cuộc khởi nghĩa chống hay phục hồi phát xít.

Vì vậy, sau cuộc đảo chính, nguyên soái Badolio tuyên bố giới nghiêm, cấm các đảng phái và những tổ chức dân chủ chống phát xít hoạt động, vỗ về các tầng lớp công nhân.

Ðồng thời do sự có mặt của các sư đoàn Ðức, chính phủ không thể giải tán đảng và công an phát xít, mà chỉ cố gắng đặt chúng dưới quyền kiểm soát của mình, bằng cách sát nhập công an vào với quân đội và phong cấp sĩ quan cho những cán bộ lãnh đạo đảng phát xít.

Mặc dù vậy, trong 45 ngày cầm quyền, từ 29.7 đến 5.8.1943, Badolio đã thi hành hàng loạt chính sách nhằm phá vỡ cấu trúc của chế độ phát xít: ban hành các sắc lệnh giải tán đảng phát xít, giải tán Hội Ðồng Phát Xít Tối Cao, xóa bỏ Tòa Án Ðặc Biệt, giải tán hệ thống nghiệp đoàn… (118-327)

3. Sự khác nhau giữa nhà nước phát xít và nền chuyên chính quân sự

Ðể làm sáng tỏ bản chất nhà nước phát xít như một chế độ độc tài, chúng ta cần so sánh nó với nền chuyên chính quân sự.

Trên thực tế, hai khái niệm này thường bị đồng nhất và do đó, các nền chuyên chính quân sự cổ đại đều bi xem là chuyên chính phát xít hay chế độ phát xít. Người ta ngấm ngầm công nhận rằng, dấu hiệu đặc biệt của nhà nước phát xít chỉ là những cuộc đàn áp, khủng bố chính trị trắng trợn, cấm biểu tình, hội họp, hủy diệt quyền tự do công dân.

Thậm chí đôi khi người ta xem dấu hiệu đặc biệt của nhà nước phát xít là bản chất chống cộng của nó.

Thực tế thì giữ nhà nước phát xít và nền chuyên chính quân sự có nhiều điểm khác nhau về cơ bản:

1/ Chế độ phát xít thiết lập cơ cấu một đảng quyền, đảm bảo sự thống trị chính trị toàn diện của đảng mình; trong khi đó chuyên chính quân sự là chế độ không đảng phái, nó giải tán tất cả mọi đảng phái không từ đảng nào, “đảng” duy nhất có quyền tồn tại là quân đội.

2/ Chế độ phát xít không chỉ xử dụng khủng bố thể chất trắng trợn, mà còn chú trọng đến việc củng cố quần chúng nhân dân (đặc biệt là tầng lớp tiểu tư sản), thâu tóm nhân dân vào những tổ chức quốc gia khác nhau. Còn nền chuyên chính quân sự chỉ dựa vào khủng bố trắng, hoàn toàn không xây dựng được cơ sở chính trị và xã hội.

3/ Chế độ phát xít thành lập các tổ chức quần chúng, thâu tóm tổng thể nhân dân, trong khi chuyên chính quân sự cấm và theo dõi mọi tổ chức, hiệp hội trong ý nghĩa tổng quát, quân đội là tổ chức quần chúng duy nhất được phép tồn tại.

4/ Chế độ phát xít đồng hóa thành công đời sống tinh thần xã hội, bắt xã hội phục tùng hệ tư tưởng phát xít, trong khi chuyên chính quân sự chỉ biết khủng bố.

5/ Chế độ phát xít xây dựng nhà nước độc tài, thông qua đó mà kiểm soát toàn xã hội, trong khi nền chuyên chính quân sự không phải bao giờ cũng xây dựng được nhà nước uy tín – điều mà các nền chuyên chính quân sự thông thường đều mơ ước.

Tất cả những điểm khác nhau này làm cho nền chuyên chính quân sự không ổn định. Chỉ dựa vào khủng bố, chuyên chính quân sự dễ dàng bị phá vỡ, một khi điểm tựa duy nhất này bị mài mòn. Khác với chuyên chính quân sự , chế độ phát xít cơ động hơn nhiều, tùy thuộc vào từng trường hợp mà sử dụng khủng bố hay công tác tư tưởng, tuyên truyền.

Do đó chuyên chính quân sự đứng trước hai con đường: hoặc quay lại với những nguyên tắc tư sản truyền thống, hoặc chuyển sang chuyên chính phát xít với cơ cấu độc tài tương ứng. Nếu tồn tại lâu hơn thời gian mà bản chất chính trị của nó cho phép, chuyên chính quân sự thường bị lật đổ bằng một cuộc đảo chính quân sự mới.

Về mặt ổn định, chuyên chính phát xít bền vững hơn nhiều. Với việc thiết lập chỗ dựa trong xã hội, nó loại bỏ được mọi khả năng đảo chính quân sự trong những điều kiện bình thường. Chỉ khi có khủng hoảng chính trị sâu sắc, do thất bại trong chiến tranh, quân đội mới có thể làm đảo chính, cướp chính quyền từ tay đảng phát xít. Thí dụ, ai có thể dám làm đảo chính quân sự ở Ðức vào những năm 1937 hay 1938? Bản thân nhân dân sẽ đứng lên bảo vệ cho Hitler và chế độ quốc xã.

4. Sự khác nhau giữa nhà nước phát xít và nhà nước uy tín

Trong văn học, các khái niệm “nhà nước uy tín” và “nhà nước phát xít” thường bị sử dụng lẫn lộn hay thay thế nhau như những từ đồng nghĩa, đặc biệt là các năm 30 và 40. Khi nghiên cứu phát xít Ytalia, thậm chí có tác giả đã sử dụng cùng một lúc cả hai lhái niệm này.

Thực chất, việc sử dụng thuật ngữ như vậy là không chính xác. Ðiều này xuất phát từ những phân tích bề mặt, nhầm lẫn hình thức với nội dung, còn nội dung thì bị che khuất. Mặt khác, sai sót này không phải ngẫu nhiên; nó có cơ sở khách quan trong sự tương ứng thực sự giữa nhà nước độc tài và nhà nước uy tín.

Tất cả mọi nhà nước phát xít đều là nhà nước uy tín, nhưng không phải mọi nhà nước uy tín đều độc tài. Uy tín là nguyên tắc cơ bản cấp quan liêu: Bởi vậy, mọi nhà nước quan liêu đều ít nhiều là nhà nước uy tín. Thí dụ, nền quân chủ hay chuyên chính quân sự là những nhà nước uy tín, nhưng không phải là những nhà nước độc tài.

Sự khác nhau giữa nhà nước phát xít và nhà nước uy tín là, nhà nước phát xít phân chuyển nguyên tắc của mình trên toàn bộ đời sống xã hội: không chỉ trên bộ máy nhà nước mà còn cả trong đảng, các tổ chức quần chúng, trong văn học, nghệ thuật, khoa học… Trong nhà nước phát xít không còn tồn tại quyền tự chủ của xã hội. Tất cả các công dân đều là những người lính của nhà nước, bắt buộc phải thi hành và phục tùng mọi mệnh lệnh quốc gia. Những ai không tuân theo nghĩa vụ này sẽ bị xem là phản bội, lừa dối và xứng đáng để nhà nước chà đạp và tiêu diệt.

Nhà nước phát xít là trại lính, trong đó không có các thường dân, không có những quyền lợi cá nhân độc lập trước nhà nước. Ðối với nhà nước này, xã hội là hình thái tiếp diễn và là bộ mặt của nhà nước, phục tùng toàn bộ vào nền chuyên chính.

Từ đây dẫn đến những tham vọng của nhà nước độc tài nhằm đồng nhất bản thân mình với dân tộc (không đơn giản là với “quyền lợi dân tộc” – điều đó thì nhà nước nào cũng làm như thế – mà là với chính bản thân của dân tộc đó!), với xã hội, quê hương… Và trên thực tế nhà nước này đã lợi dụng danh nghĩa dân tộc, quê hương, xã hội… để hủy diệt mọi biểu hiện chống đối nhà nước như “chống lại nhân dân”, “chống lại xã hội”…

Và cũng vì lý do này, những kẻ mị dân thường gắn cái mác “nhân dân” cho các công sở hành chính. Thí dụ, ở Ðức có Tự Vệ Nhân Dân, Những Công Dân Trẻ, Tòa Án Nhân Dân…

Như vậy, nhà nước phát xít có thể xem như hình thái cao nhất của nhà nước uy tín, như nhà nước uy tín hoàn thiện, thi hành một cách tổng thể nguyên tắc của mình trên mọi lĩnh vực xã hội và đời sống cá nhân. Khác với nhà nước phát xít, nhà nước uy tín thông thường chỉ phân chuyển nguyên tắc của mình trong bộ máy nhà nước (viên chức, quân đội, cảnh sát). Ngoài những lĩnh vực này, nguyên tắc đó không còn giá trị. Vì lý do này, trong nhà nước uy tín vẫn còn tồn tại sự chống đối công khai của xã hội đối với nhà nước. Ðiều này không có nghĩa rằng, nhà nước uy tín không muốn kiểm soát xã hội công dân và phân chuyển trên đó những nguyên tắc của mình. Ngược lại, nhà nước uy tín cũng có tham vọng về một nền chuyên chính tổng thể, nhưng vì những lý do khách quan, nó không bao giờ đạt được điều đó. Bởi vì nhà nước này không có những tổ chức quần chúng đặc thù như nhà nước phát xít, để thông qua đó mà nắm giữ xã hội và mọi cá nhân trong tay mình. Thí dụ điển hình về nhà nước uy tín là nền quân chủ Pruxia trong nửa đầu thế kỷ XIX. Pruxia kiểm soát xã hội công dân và tư tưởng của họ, đồng thời tự xem mình là người thể hiện và chịu trách nhiệm cho hệ tư tưởng của nhân dân _ Ðạo Thiên Chúa. Nhưng trên thực tế nó không có những tổ chức quần chúng để thực hiện việc kiểm soát này, mà chỉ sử dụng cảnh sát như một cơ quan khủng bố. Và vì không có khả năng kiểm soát tổng thể, nên ngay cả một nhà nước uy tín như Pruxia vẫn tồn tại những hiện tượng chống đối, đi ngược lại những lợi ích của nhà nước.

Trong thời gian này Ðavid Straux đã xuất bản cuốn sách Cuộc Ðời Jiêsu lật đổ mọi huyền thoại về Ðức Chúa. Việc này đã gây nên những giông tố công phẫn của nhà thờ trong nước, cũng như thế giới “học vấn” bên ngoài, và mặc dù vậy vẫn không có gì nguy hiểm xảy ra cho chính tác giả. Tác phẩm vẫn được xuất bản và phát hành.

Vào năm 1841, L.Foierbah còn viết một cuốn sách còn tà giáo hơn nữa Sự Thật Về Ðạo Thiên Chúa. Tác phẩm này đã tẩy chay không những riêng đạo Thiên Chúa mà còn cả mọi thứ tôn giáo khác, và trên cơ sở tư liệu lịch sử khổng lồ, nó chứng minh rằng thế giới siêu hình không có gì khác hơn là ảo ảnh tưởng tượng hay hình chiếu của thực thể con người lên bầu trời. Tác phẩm này có thể xem như một cuộc đảo chính tư duy của thế hệ trẻ ở Ðức; vì nó mà Foierbah không được nhận vị trí giảng dạy trong trường tổng hợp Berlin và theo lời Angel, đành phải mài mòn cuộc đời mình nơi tỉnh lẻ. Nhưng nhà nước cũng chỉ có thể trừng phạt đến thế. Tác phẩm của Foierbah vẫn được phát hành và manh lại vinh quang cho tác giả tại nước Ðức cũng như trên toàn thế giới.

Trong thời gian này ở Ðức còn xuất hiện nhiều biểu hiện của tự do tư tưởng và tà giáo khác trong các lĩnh vực triết học, văn học… và nền quân chủ Pruxia đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Như một nhà nước uy tín, nó không có những công cụ cần thiết để chống lại hoặc ngăn chận triệt để những biểu hiện này.

Những sự việc tương tự liệu có thể xảy ra ở Ðức một thế kỷ sau, khi nó đã là nhà nước độc tài phát xít? Liệu có thể xuất bản những tác phẩm chống lại tư tưởng quốc gia hiện hành, mà các tác giả vẫn được tự do và vinh quang của họ như những chiến sĩ tự do vẫn được tỏa sáng trong nước và trên thế giới?

Câu trả lời hiển nhiên là không thể. Trước hết vì trong nước Ðức – Hitler không có người trí thức nào lại viết và xuất bản những tác phẩm như thế. Họ biết trước là sẽ phải trả giá của cuộc đời mình cho hành động đó và đây là sự hy sinh vô nghĩa.

Nhưng thậm chí giả sử vẫn tồn tại những tác giả như vậy, thì cũng không có nhà xuất bản nào dám đánh đố cuộc đời mình vì một quyển sách. Là thành viên của hội các nhà xuất bản quốc gia, họ sẽ bảo với Zetapo để cứu mạng mình, hơn là đưa lưng chịu hậu quả việc xuất bản tác phẩm như thế, điều mà rõ ràng sẽ dẫn họ đến ngục tù hay trại tập trung cải huấn.

5. Nhà nước phát xít bắt buộc thế giới cũng phải độc tài hóa

So với nền dân chủ tư sản, nhà nước độc tài có rất nhiều ưu thế quân sự. Do bản chất phản động, nó luôn luôn là mối đe dọa cho các nước láng giềng. Trong vài giờ, nhà nước độc tài có thể tập trung mọi lực lượng quân sự và tiến hành tấn công. Với cơ cấu một đảng quyền, với những hạn chế tổng thể đối với xã hội công dân và tuyên truyền tư tưởng độc đoán nó là nhà nước quân sự hay bán quân sự, luôn luôn sẵn sàng cho chiến tranh.

Nhà nước độc tài có thể lợi dụng những mặt yếu của nền dân chủ, trong khi nền dân chủ không thể có khả năng đó:

1/ Nền dân chủ tự do cho phép mọi đảng phái chính trị tồn tại, kể cả đảng phát xít – đảng đối lập với cơ chế đa đảng. Nhưng sự có mặt một đảng phát xít trong nhà nước dân chủ tự do luôn luôn là bè lũ gián điệp của nhà nước phát xít (“Ðội Quân Thứ Năm”). Ðối với Ðức, “Ðội Quân Thứ Năm” ở Áo là bọn quốc xã Áo, ở Tiệp – đảng thân Ðức của Heinlain, ở Bỉ – bọn quốc xã Bỉ, ở Anh – đảng phát xít Moxli… Ngày nay chúng ta đã biết vai trò của đảng này trước khi chuẩn bị chiến tranh thế giới thứ hai và trong cuộc chiến này. Chúng đã mở đường cho quân đội Ðức, cộng tác với chính quyền đô hộ…

2/ Việc tồn tại các quyền tự do công dân và tự do chính trị tại nền dân chủ tư sản, dù có thể chỉ là hình thức, vẫn tạo điều kiện cho nhà nước độc tài mở rộng tuyên truyền có lợi cho nó: thông qua đảng phát xít tương ứng trong nước này, mua chuộc một bộ phận diễn đàn của nước láng giềng… Theo nhân chứng của Curt Rix, đến năm 1937 Gobelx chịu trách nhiệm kiểm soát khoảng 330 tờ báo phát ra nước ngoài bằng tiếng Ðức. (102-161)

Ngược lại, nền dân chủ tự do hoàn toàn không có khả năng thực hiện tuyên truyền tại nhà nước phát xít. Kiểm duyệt phát xít tổng thể không cho phép nhập những ấn phẩm văn hóa mang tư tưởng ngoại lai, không cho phép các đảng dân chủ tồn tại, không cho phép tiếp xúc tự do giữa các công dân. Nó gây nhiễu sóng các đài phát thanh của những nước dân chủ và trong thời gian chiến tranh còn cố định các sóng radio để chỉ nghe được đài dân tộc.

3/ Trong lĩnh vực kinh tế, nhà nước phát xít có nhiều công cụ hữu hiệu. Trên thực tế, nó có thể liên tục giảm mức sống bằng cách tăng thuế, bổ sung nhiều loại thuế mới, tăng giá hàng và giảm giá trị thực của đồng lương. Nói cách khác, nhà nước phát xít có thể dễ dàng thi hành những chính sách mà không một chính phủ dân chủ nào dám mong ước.

Ðồng thời nhà nước phát xít chi những khoản kinh phí khổng lồ cho vũ trang quân sự, xây dựng những công trình quân sự lớn, mở rộng tuyên truyền và do thám.

Nếu một chính phủ trong nhà nước đa đảng tăng giá hàng vì yêu cầu bức thiết, nó sẽ bị phản đối và bị bắt buộc từ chức. Ðối với nhà nước phát xít, điều đó hoàn toàn không bao giờ xảy ra: chính phủ có thể cùng một lúc giảm mức sống của nhân dân về nhiều mặt hàng mà không sợ phải chịu những hậu quả xấu. Nhân dân luôn luôn “ủng hộ” các chính sách của chính phủ, vì không có cách nào để thể hiện sự bất bình của mình.

4/ Sau cùng, trên quan điểm quân sự tuần túy, nhà nước phát xít cũng có rất nhiều ưu thế lợi hại. Nó có thể giữ bí mật triệt để những ý đồ chuẩn bị chiến tranh. Ðiều này có thể thực hiện dễ đàng, do không có diễn đàn đối lập và quyền tự do ngôn luận.

Với những “ưu thế” này, nhà nước phát xít luôn luôn là mối đe dọa cho các nước láng giềng – mối đe dọa rất dễ chuyển thành những hành động ăn cướp. Ðiều này đặc biệt nguy hiểm cho các nước dân chủ, nhất là trong những giai đoạn khủng hoảng hay rối loạn nội bộ, những việc mà bọn phát xít không chỉ lợi dụng mà thường còn khơi mào.

Bởi vậy, để có thể hạn chế được mối đe dọa thường xuyên của tên kẻ cướp phát xít độc tài, các nước dân chủ láng giềng bắt buộc phải tự độc tài hóa, giảm bớt quyền tự do chính trị và tự do công dân. Việc có mặt của nhà nước độc tài biến những ưu điểm của nền dân chủ thành những yếu điểm và đe dọa an ninh của nó. Như vậy, nhà nước độc tài bắt các nước láng giềng cũng phải tự độc tài hóa, từ bỏ những chính sách dân chủ.

Thí dụ, nước Anh – đại diện tiêu biểu của nền dân chủ tư sản quê hương của nghị trường – trước khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đã bắt buộc phải hạn chế hoạt động của đảng phát xít Moxli. mặc dù điều này mâu thuẫn với những truyền thống của cơ cấu đa đảng. Trong thời gian này, đảng phát xít Moxli định cải tổ theo kiểu mẫu của đảng quốc xã (có thủ lĩnh đứng đầu, có đảng phục, thành lập các đội vũ trang), nhưng chính phủ đã không cho phép những thay đổi này.

6. Những cơ sở kinh tế của nhà nước phát xít

Thật sai lầm nếu nghĩ rằng, việc tập trung quyền lực tuyệt đối trong tay nhà nước phát xít không liên quan gì đến vấn đề kinh tế. Một thượng tầng kiến trúc tập trung tuyệt đối không thể dựa trên hạ tầng cơ sở phân rã; thượng tầng kiến trúc độc tài đòi hỏi một nền kinh tế độc tài do nhà nước kiểm soát triệt để.

Không cần xóa bỏ sở hữu cá thể hình thức đối với công cụ sản xuất, nhà nước phát xít là người điều hành nền kinh tế quốc dân. Nhà nước xác định những vấn đề như sau trong nền kinh tế:

a/ Phương hướng của nền kinh tế – sản xuất để phục vụ cuộc chiến tranh tương lai hay cho nhu cầu tiêu dùng; nền kinh tế quốc dân có liên kết với các nước khác hay không, hay sẽ xây dựng trên nguyên tắc tự cung tự cấp.

b/ Cấu trúc sản xuất – sẽ sản xuất cái gì, số lượng bao nhiêu. Người sản xuất phụ thuộc hoàn toàn vào nhu cầu của nhà nước.

Chúng ta hãy lấy thí dụ về những luật lệ nông nghiệp trong nhà nước quốc xã. Tất cả điền chủ nhận kế hoạch sản xuất từ nhà nước, nhà nước xác định cho những người này phải sản xuất bao nhiêu khoai tây, sữa, trứng, thịt… đồng thời định giá sản phẩm mà họ phải bán cho nhà nước. Họ không được bán sản phẩm của mình cho ai khác ngoài nhà nước. Như vậy trên thực tế, nhà nước là người điều hành thực sự nền kinh tế, còn những người sản xuất chỉ là những ông chủ hình thức.

c/ Nhà nước can thiệp vào quyền thừa kế gia sản – ở Ðức với sắc luật về “quyền thừa kế ruộng đất” ban hành ngày 29-9-1933, gần 5 triệu rưỡi điền chủ, mỗi người có ít nhất là 10 hecta ruộng đất, được tuyên bố là có toàn quyền sở hữu. Những ruộng đất này không chỉ con trưởng được thừa kế, mà trước hết phải là người được nhà nước phát xít công nhận là xứng đáng (tất nhiên là về mặt chính trị).

Valter Ðare viết, “Theo hướng dẫn của Bộ Nông Nghiệp, nếu không có người thừa kế xứng đáng, quyền sở hữu gia sản của điền chủ có thể bị tước bỏ và chuyển giao cho một cán bộ phụ trách nông nghiệp nào đó. Ðiều luật ngặt nghèo này đã bắt buộc những người nông dân phải giữ gìn phẩm giá của mình.” (13-223)

Nhà nước quốc xã cũng đặt toàn bộ nền kinh tế công nghiệp dưới sự kiểm soát của mình. Nó nhà nước hóa Ban lãnh đạo và điều hành công nghiệp, không chỉ thể hiện bằng việc thành lập các ban quản lý chịu sự chỉ đạo của bọn quốc xã sừng sỏ, mà còn trong việc sử dụng phần lớn lợi nhuận cho vũ trang quân sự và những mục đích có lợi cho nhà nước khác.

Trong lời phát biểu trước công nhân các nhà máy công nghiệp quân sự ngày 10-12-1944, Hitler đã nói về vấn đề này như sau:

“Tôi lấy một thí dụ, các nhà tư sản Anh có thể đóng góp 76, 80, 85, 100, 160 phần trăm lợi tức công nghiệp cho vũ trang quân sự.

… Tôi nghĩ rằng, đối với chúng ta chỉ cần 6 phần trăm, thậm chí từ 6 phần trăm này chúng ta có thể thu được một nửa, và nửa còn lại người ta cần phải đưa cho chúng ta những bằng chứng là đã được sử dụng vì lợi ích của cộng đồng dân tộc. Ðiều này có nghĩa là, cá nhân không có quyền dùng những cái mà đáng lẽ phải giành cho nhà nước. Nếu cá nhân sử dụng phần đó một cách có suy nghĩ thì điều đó đáng hoan nghênh, còn ngược lại cần phải có sự can thiệp của nhà nước quốc xã.” (128-379)

Hệ thống hợp tác xã nông nghiệp là đòn bẫy quan trọng nhà nước quốc xã sử dụng để kiểm soát nền kinh tế nông nghiệp. Các hợp tác xã này được hình thành ngay từ năm 1933. Vào năm 1939, số lượng các hợp tác xã đã đạt tới 45545 đơn vị. 73 phần trăm sản phẩm sữa, 61 phần trăm sản lượng trứng và phần lớn sản phẩm nông nghiệp là do các hợp tác xã này sản xuất.

Việc can thiệp thô bạo của nhà nước vào quyền sở hữu được thể hiện bằng sắc luật tịch thu tài sản của những công dân sống tỵ nạn ở nước ngoài và có quan điểm chống đối chế độ. Ðiều luật này tồn tại trong tất cả các nhà nước phát xít. Thí dụ, biệt thự mùa hè của Ainstain tại Capute cùng với phần đất quanh đó bị chính quyền Pruxia tịch thu theo “Sắc Lệnh Quốc Xã về thu hồi sở hữu của những người cộng sản và kẻ thù của nhà nước” ban hành vào năm 1933.

d/ Ðiều hành độc đoán sức lao động quốc dân – tại nước Ytalia phát xít, chính sách này được thực hiện hóa thông qua hệ thống nghiệp đoàn. Và sau đó, chính sách này cũng được áp dụng ở Tây Ban Nha (thông qua “Các Công Ðoàn Thăng Tiến”). Ở Ðức, vai trò tương tự cũng được Mặt Trận Lao Ðộng Ðức đảm nhận. Thông qua hệ thống nghiệp đoàn, nhà nước thiết lập sự kiểm soát toàn diện của mình đối với giai cấp công nhân, đồng thời cấm họ không được bãi công. Bằng cách đó, nhà nước bắt buộc giai cấp công nhân phải phục vụ cho những lợi ích của nó. Nhà nước không chỉ cấm công nhân không được bãi công, mà còn bắt họ phải làm việc cho nó, phục vụ cho những tham vọng của nó. Vấn đề này cần phải hiểu thật cặn kẽ. Ðây không chỉ đơn giản tiêu diệt khả năng phản kháng của công nhân, làm cho họ không còn có khả năng bãi công – điều đó nền chuyên chính quân sự thông thường vẫn làm, mà là thâu tóm giai cấp công nhân vào các tổ chức quần chúng quốc gia, và thông qua những tổ chức này, “thu hút” họ về phía nhà nước để kiểm soát họ chặt chẽ hơn. Nói cách khác, không cần thể hiện những quyền lợi thực sự cho giai cấp công nhân, nhà nước phát xít vẫn đứng ra đại diện cho họ và trở thành ông chủ độc đoán của sức lao động.

Nói gọn hơn, trong lĩnh vực kinh tế nhà nước phát xít thiết lập hệ thống lao động gần giống như của chế độ phong kiến. Hệ thống này được đặc trưng bằng những dấu hiệu: trên thực tế, nhà nước cai quản phương tiện sản xuất và sức lao động của xã hội; bãi bỏ quyền tự do lao động và thay thế bằng chính sách lao động cưỡng ép kinh tế ngoại lệ. Hay là, từ cưỡng ép kinh tế thuần túy của xã hội tư sản tự do, chế độ phát xít quay trở lại với hệ thống cưỡng bức chính trị và kinh tế ngoại lệ của chế độ phong kiến.

Nhờ đó, chế độ phát xít ép buộc được những người lao động làm việc trong mọi điều kiện, không đếm xỉa gì đến quyền lợi của họ. Họ trở nên gần như một đội quân lao động của nhà nước. Mọi biểu hiện không phục tùng sẽ bị trừng phạt nặng nề, bị xem là đào ngũ hay phản bội.

Do sự thống trị của nhà nước đối với sức lao động, công nhân không có quyền lựa chọn công việc theo bậc thợ và nghề nghiệp của mình, nếu điều đó không có lợi cho nhà nước. Thí dụ, bọn phát xít Ðức tước bằng của các tất cả các họa sĩ hiện đại, cấp cho họ sổ lao động, bắt họ làm việc như những người đào đất thông thường; đồng thời buôn bán những tác phẩm của họ trên thị trường thế giới.

Với việc bãi bỏ quyền tự do lao động và thiết lập hệ thống cưỡng bức kinh tế ngoại lệ, nhà nước phát xít đã loại bỏ được nạn thất nghiệp, giống như không có những người thất nghiệp trong chế độ phong kiến hay trong các trại tập trung.

Thông thường, người ta giải thích tiềm năng kinh tế “thần kỳ” của chế độ quốc xã bằng sự phát triển điên rồ của nền công nghiệp, quốc phòng. Ðiều này hoàn toàn đúng, nhưng vẫn chưa phải là nguyên nhân thực sự của vấn đề. Bởi vì trên cơ sở giải thích như thế có thể đặt một câu hỏi ngược lại: bằng cách nào để chế độ phát xít có thể chi những khoản ngân sách khổng lồ cho quân sự ? Tại sao nền dân chủ tư sản thông thường không thể hoặc không cho phép những hành động tương tự ? Trả lời những câu hỏi này sẽ không tránh khỏi dẫn chúng ta đến với những nguyên tắc kinh tế chung của nhà nước phát xít, mà nguyên tắc cơ bản là bắt xã hội quay trở lại với hệ thống cưỡng ép ngoại lệ: nhà nước cưỡng ép người công nhân làm việc bằng cách dùng tòa án đe dọa; ấn định thời gian lao động; ấn định mức lương thu nhập; cấm người công nhân không được tự do bỏ việc; cấm không được bãi công: bắt làm việc theo ca kíp; cấm không được bỏ đi tìm việc làm ở các nước khác,v.v… Nói gọn hơn, nhà nước đơn phương khống chế mọi điều kiện lao động của người công nhân, đặt họ vào vị trí như của một người tù.

Ðể có thể hiểu rõ cơ cấu bãi bỏ nạn thất nghiệp (ở Ðức vào năm 1933, con số này kên tới 5,5 triệu người), ta cần nhớ lại là nhà nước phát xít có thể luôn luôn giữ mức sống rất thấp và vẫn liên tục tăng cường sản xuất. Thông qua bộ máy khủng bố và hệ thống tổ chức quần chúng quốc gia, nhà nước làm tiêu tan mọi ý đồ chống đối ngay từ khi còn trứng nước; còn thông qua tuyên truyền toàn diện và độc đoán, nó “thuyết phục” được cho chính sách kinh tế đúng đắn của mình.

Một khi lao động đã là bắt buộc, giá trị sức lao động đối với nhà nước phát xít không còn là vấn đề lưu tâm. Nhờ đó, nhà nước này luôn có trong tay sức lao động vô hạn và rẻ mạt. Do đó, khác với chế độ tư sản tự do, nó có thể dùng những sức lao động khổng lồ cho những nhà máy không có lợi ích kinh tế, nhưng có giá trị quân sự quan trọng; nó có thể xây dựng nền kinh tế tự cung tự cấp dù tốn kém hơn nhiều so với khi sử dụng các nguyên liệu nhập ngoại. Kết quả là, trong nhà nước phát xít, một nền kinh tế quân sự hiện đại nhất được phát triển, điều mà các nhà nước tư sản truyền thống thậm chí không dám mơ ước.

Tại hội nghị các nhà kinh tế nói tiếng Pháp năm 1938, Rapard đã có những suy nghĩ rất sâu sắc về nền kinh tế quốc xã: “Nếu chúng ta công nhận rằng, tiêu chuẩn để đánh giá thành công sức là sức lao động lớn nhất cho một thu nhập nhỏ nhất, thì thí nghiệm của người Ðức là một lễ khải hoàn; nhưng nếu chúng ta xem giá trị của một hệ thống kinh tế được đo bằng mức thu nhập lớn nhất từ một sức lao động nhỏ nhất, thì điều đó sẽ bị đổ vỡ hoàn toàn… Người ta nói rằng, nền kinh tế tự cung tự cấp của Ðức đã tiêu diệt được nạn thất nghiệp; và cả điều này cũng không làm chúng ta ngạc nhiên vì trong nhà tù thì làm gì có người thất nghiệp.” (155-57)

7. Nhà nước phát xít – con đẻ của xã hội công nghiệp

Sự thâu tóm và phục tùng tổng thể của toàn xã hội đối với nhà nước- dấu hiệu đặc thù của chế độ phát xít- hoàn toàn không thể được thiết lập trước thế kỷ XX. Ðiều này có nghĩa là cả nhà nước phát xít cũng không thể xuất hiện trước khi thời đại của chúng ta phát minh ra những cơ sở kỹ thuật cần thiết và trước hết, đó là những phương tiện giao tiếp và tuyên truyền hiện đại: đài phát thanh, phim ảnh, điện thoại, loa phóng thanh.

Albert Speer viết trong lời khai tại phiên tòa Niurnberg, “Chuyên chính Hitler khác hẳn với những nền chuyên chính trước đó trong lịch sử. Ðây là nền chuyên chính đầu tiên của nhà nước công nghiệp, trong thời đại kỹ thuật hiện đại, nó thống trị triệt để và toàn diện trên dân tộc mình và kỹ thuật. Nhờ đó những phương tiện kỹ thuật như đài phát thanh, loa phóng thanh, quyền độc lập suy nghĩ của 80 triệu người bị tước đoạt và phải phục tùng nguyện vọng của một người duy nhất. Ðiện tín, điện thoại,radio cho phép những tổ chức cao cấp có thể truyền mệnh lệnh trực tiếp xuống các cơ sở, và tại đây nhờ uy tín của chúng, các mệnh,lệnh này được thi hành vô điều kiện…” (89 – 299, 300)

Các phương tiện giao tiếp hiện đại gây nên những biến đổi quan trọng trong cấu trúc truyền thống của chuyên chính và trước hết là trong cơ cấu hoạt động của nó. ở dạng chuyên chính cũ, mọi mệnh lệnh hay sắc luật phát ra từ trung tâm được thi hành theo từng bậc từ trên xuống dưới. Mọi mắt xích trung gian đều có vai trò xác định như một cơ cấu thành phần, và nếu không có sự tác động tương hỗ của nó, nguyện vọng của trung tâm không đạt được yêu cầu như đã định. Trong những thời điểm cấp thiết, nếu mắc xích trung gian này từ chối không hoạt động, sắc lệnh của trung tâm sẽ không được thực hiện, vì lúc này đường dây liên lạc đã bị đứt.

Như vậy đối với cơ cấu chuyên chính cổ truyền, các mắc xích trung gian có vai trò quan trọng đến mức trong mọi trường hợp, trung tâm đều trở nên phải phụ thuộc vào chúng, không thể bỏ qua chúng, khi thực hiện những kế hoạch của mình. Trung tâm có thể thay đổi cơ cấu trung gian, phê phán hoặc cải tổ, nhưng không thể từ chối sự cộng tác của nó.

Cái mới mà nhà nước phát xít thu nhận được nhờ các phương tiện giao tiếp hiện đại là, khả năng có thể bỏ qua các mắc xích trung gian nói trên, hoặc nếu không bỏ qua thì trong mọi trường hợp, đều có thể sử dụng cả đường đây trực tiếp giữa trung tâm và các cơ sở. và nếu một mắc xích nào đó từ chối không hoạt động, thì điều đó không có nghĩa là sắc lệnh của trung tâm không được thi hành. Radio đã loại bỏ được mọi hiểm họa này. Tính chất đặc biệt này của nhà nước phát xít không chỉ giúp nó thông tin một cách nhanh chóng, tuyên truyền mang tính quần chúng sâu rộng, mà còn tác động đến cả bản thân bộ máy nhà nước và cơ cấu hoạt động của nó.

Thông qua radio, trung tâm có thể kiểm tra chính bộ máy này và mức độ khẩn trương trong khi thi hành các mệnh lệnh của cấp trên. Như vậy mỗi một trạm trung gian của cấu trúc đẳng cấp, nằm giữa trung tâm và cơ sở, bị đặt dưới hai tầng kiểm soát, từ trên xuống và từ dưới lên, vì trung tâm có thể thông tin trực tiếp đến cơ sở nhờ hệ thống radio. Trong trường hợp này, các mắc xích trung gian đánh mất vai trò tự chủ khi thừa hành mệnh lệnh, cũng như quyền độc lập tương đối của mình. Radio đã thay đổi bản chất của mắt xích trung gian, biến nó thành cơ cấu vô bản sắc của hệ thống, chỉ biết truyền đúng toàn bộ mệnh lệnh.

Như vậy, nhờ có các phương tiện giao tiếp hiện đại, bộ máy nhà nước đã được cơ giới hóa và tạo nên những kết quả quan trọng khác: thứ nhất, bãi bỏ được tính chậm chạp và quan liêu trong hoạt động và trở nên linh hoạt hơn; thứ hai, bộ máy trở nên dễ điều khiển và làm việc tốt hơn.

Chúng ta hãy lấy ví dụ về vụ ám sát hụt trong ngôi biệt thự lớn của Hitler ở miền đông Pruxia. Staufenbert quay trở lại Berlin bằng máy bay và thông báo với những người âm mưu đảo chính là Hitler đã chết. Một số người nghi ngờ muốn xác định lại sự thật về cái chết của Thống lĩnh để quyết định hành động. Nhờ có radio, chỉ hai giờ sau vụ ám sát hụt, Hitler đã phát biểu trên đài phát thanh và những người đảo chính hết nghi ngờ. Nếu không có radio như phương tiện thông tin nhanh chóng, thì dù Hitler còn sống, binh lính ở Berlin đã có thể khởi nghĩa. Tất nhiên, đây không phải là nguyên nhân thất bại căn bản của cuộc đảo chính, nhưng nó đã tạo nên khả năng có thể xử sự kịp thời, mà trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Tóm lại, hoàn toàn không phải phóng đại khi khẳng định, chuyên chính phát xít là con đẻ của xã hội công nghiệp. Kỹ thuật hiện đại của thế kỷ XX không chỉ là hoàn thiện nền chuyên chính, mang lại cho nó những công cụ tinh vi, mà còn tạo nên những cơ sở mà thiếu chúng, nhà nước phát xít không thể được hình thành trên phương diện kỹ thuật. Không có radio, điện thoại, điện tín và phim ảnh, thì những đặc thù quan trọng sau đây của nhà nước độc tài trở nên không tưởng: tuyên truyền mang tính quần chúng và tổng thể; do thám tổng thể; cơ giới hóa bộ máy nhà nước; xây dựng và chỉ huy quân đội chính quy, cơ động.

Phần IV – Sự tan rã của nhà nước phát xít

1. Sự tách rời của đảng phát xít khỏi nhà nước

Không thể xây dựng được chế độ phát xít hoàn chỉnh, nếu không có sự thống trị chính trị tuyệt đối của đảng phát xít; cũng như không thể tiêu diệt được sự thống trị này nếu đảng phát xít không bị tách rời khỏi nhà nước. Bằng cách nào để thực hiện được điều này – theo con đường chiến tranh như ở Ðức và Italia, hay theo con đường hoà bình như ở Tây Ban Nha- là vấn đề phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Trong mọi trường hợp, nếu không có sự tách rời của đảng phát xít khỏi nhà nước này, thì không thể thực hiện bước chuyển đổi từ chuyên chính một đảng quyền đến nền dân chủ tư sản truyền thống với cơ cấu đa đảng, với những quyền tự do chính trị và tự do công dân ( tự do ngôn luận, ấn loát, lập hội, lao động, nơi cư trú…)

Tại Tây Ban Nha, quá trình này diễn ra trong những điều kiện hoà bình, do những biến đổi mang tính quy luật của các mâu thuẫn bên trong. Do đó “phương án Tây Ban Nha” mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nó thể hiện bước chuyển tiếp thuần chất từ chế độ phát xít đến nền tự do dân chủ, không bị ảnh hưởng của ngoại cảnh, như ở hai trường hợp của Ðức và Italia, những ngoại cảnh đã làm biến dạng đáng kể logickhách quan của các sự kiện, làm mất tính chính xác và triệt để. Hơn thế nữa, những biến động quân sự điên cuồng vào Chiến Tranh Thế Giới Thứ II đã không cho phép những quá trình đó diễn ra trọn vẹn. Chúng chỉ sống dậy trong khoảnh khắc hoặc bị giữ lại ở dạng phôi thai, vì thiếu thời gian hoặc những điều kiện cần thiết. Thí dụ, thật khó có thể đoán trước sự tan rã của đảng phát xít sẽ diễn ra thế nào, sau khi nó bị cách ly và tách rời khỏi nhà nước.

Tại Tây Ban Nha, chúng ta có thể quan sát chính xác được diễn biến của quá trình này, chậm chạp nhưng không thể tránh khỏi, bắt đầu phát triển từ sau năm 1955. Những cán bộ Falanga dần dần bị sa thải khỏi các cơ quan đầu não của nhà nước và đảng này mất dần ảnh hưởng đối với nhà nước. Nhà nước không còn là sở hữu riêng của Falanga. Sự thống nhất giữa nó và nhà nước bị phá vỡ và đảng này mất dần nhựa sống.

Vào năm 1956, Areze, đương kim Bộ Trưởng, Bí Thư Ðảng Falanga, lo lắng báo cáo với Hội Ðồng Dân Tộc ( Ban Lãnh Ðạo Trung Uơng Ðảng) rằng đảng này chỉ còn chiếm 5% trong các cơ quan đầu não của nhà nước, và đề nghị phục hồi lại vị trí trước đây của Falanga. Vì yêu cầu này, Areze bị Franco sa thải.

Vào năm 1957, sau khi chuẩn bị đầy đủ điều kiện, tướng Franco thực hiện một bước ngoặt quan trọng quyết định từ chế độ phát xít đến nền chuyên chính quân sự. Franco chuyển chỗ dựa của mình từ đảng Falanga sang giới quân sự và lực lượng cánh hữu của nhà thờ Thiên Chúa Giáo, được tập trung trong tổ chức Opuxdei. Falanga không còn được xem là chỗ dựa chính trị quần chúng tin tưởng của chế độ như mấy chục năm trước đó. Một mặt, đảng này đã bị thoái hoá về chính trị – tinh thần vì những quan hệ với đảng quốc xã Ðức và đảng phát xít Italia, đến mức bản thân tên gọi “Falanga”bị xem như điều xấu hổ và sỉ nhục. Vì vậy chính phủ phải đổi tên cho Falanga thành ” Phong Trào Dân Tộc “. Mặt khác, Falanga trong quá trình tan rã đã đánh mất ảnh hưởng của mình và quần chúng đảng viên liên tục rời xa nó. Nếu như trước đây, theo nhân chứng của Aibl Plen, đảng này có tổ chức tại mọi làng, bản, thì ngày nay nó đã bị mất phần lớn những cơ đảng đầu tiên của mình:trong 9 nghìn làng ở Tây Ban Nha có tới 5-6 nghìn làng không còn tổ chức của đảng này.

Việc cách ly dần dần của Falanga khỏi các cơ quan nhà nước được thể hiện rõ ràng nhất trong hai lần cải tổ nội các chính phủ. Trong cuộc cải tổ lần thứ nhất (vào năm 1962) số lượng các tướng lĩnh tăng từ ba người lên bảy người (26-105); đồng thời Franco sa thải một loạt các phần tử của đội cận vệ Falanga cũ, trong đó có Bộ Trưởng Bộ Xây Dựng Thành Phố và Bộ Trưởng Bộ Thông Tin Ariax Xalgado.

Hoxe Garxia đã viết về cuộc cải tổ nội các này như sau: ” Trong 18 bộ của chính phủ cũ có tới 8 bộ bị thay đổi. Trong chính phủ năm 1957, Falanga giữ ba bộ chính thức thì nay chỉ còn một bộ. Phần lớn các bộ trưởng là những đại diện của tổ chức Opux Dei, ngoài ra trong chínhd phủ còn được bổ sung thêm năm tướng lĩnh và hai thuỷ sư đô đốc. Ðiểm dặc biệt nhất là trong chính phủ mới, Ðại Tướng Munox Grandec được bổ nhiệm chức Phó Thủ Tướng chính phủ. Cựu chỉ huy Quân Ðoàn Xanh trở thành người lãnh đạo nhà nước thứ hai sau Franco.” (20-454)

Cuộc cải tổ nội các lần thứ hai vào năm 1965 cũng nhằm đánh vào Falanga. Franco tăng ảnh hưởng của giới tư bản tài chính; các Bộ Trưởng mới gồm:Bộ Trưởng Tài Chính Huxi Hoxe Expinoxa – phần tử tích cực của Opux Dei, Bộ Trưởng Bộ Thương Mại Fauxtino Garxia Minho – cũng thuộc tổ chức Opux Dei và có mối quan hệ chặt chẽ với các nhà băng, Bộ Trưởng Bộ Nông Nghiệp Adolfo Ambrona – một đại địa chủ, Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp AtonioMaria Orion -i-Urkito – một trong những đại diện có thế lực nhất của giới tư bản tài chính Tây Ban Nha.

Những thực tế này cho thấy, chế độ Franco thực sự đã thay đổi chỗ dựa cơ bản của mình, bằng cách chuyển từ Falanga sang bộ phận quân sự của giới tư bản tài chính. Ðồng thời những thực tế này cũng chỉ ra sự tan rã và đổ vỡ của nền chuyên chính, bởi vì chỗ dựa cơ bản của nó- Falanga, đảng điều hành và chỉ huy đất nước – đã bị thay thế. Tách đảng phát xít ra khỏi nhà nước, tức là phá vỡ chỗ dựa căn bản của nhà nước độc tài, và tiếp theo đó, nhà nước này sẽ không tránh khỏi bị sụp đổ hoàn toàn.

Ðảng phát xít là nhà thờ của nhà nước độc tài phát xít, nó đánh giá tư tuởng- chính trị cho mọi biểu hiện trong nhà nước này. Ðây không phải là sự so sánh ngẫu nhiên, mà xuất phát từ sự tương ứng sâu sắc giữa nhà nước phát xít thế kỷ XX và nền phong kiến thời Trung Cổ.

1) Nếu như nền quân chủ phong kiến lấy nhà thờ làm chỗ dựa tư tưởng thì nhà nước phát xít cũng có chỗ dựa tư tưởng là đảng cầm quyền độc đoán.

2) Nếu nhà thờ là đại diện cho tinh thần phản động trong nhà nước Trung Cổ, thì đảng phát xít cũng là đại diện cho tinh thần phản động trong nhà nước độc tài.

3) Giống như nhà thờ Trung Cổ có cơ quan đặc biệt để theo dõi các đối thủ tưtưởng và tà giáo dưới danh nghĩa Toà án Giáo Hội, đảng phát xít cũng có cơ quan tư tưởng đặc biệt để chống lại những kẻ thù của “nhà nước và dân tộc “trên danh nghĩa an ninh quốc gia và kiểm duyệt phát xít tổng thể.

4) Giống như nền quân chủ phong kiến dựa trên chính sách cưỡng ép kinh tế, cương ép chính trị, nền kinh tế của nhà nước phát xít cũng được củng cố trên chính sách cưỡng ép chính trị thuần tuý: trong cả hai trường hợp, người công nhân đều bị xem là sở hữu của nhà nước và có nghĩa vụ phải phục tùng nhà nước.

5) Giống như trong bước quá độ từ chế độ phong kiến đến xã hội tư sản, nhà thờ bị cách ly khỏi nhà nước( điều mà mọi cuộc cách mạng tư sản vẫn làm), bước quá độ từ chuyên chính phát xít đến nền dân chủ cũng đòi hỏi có sự tách rời của đảng độc tài khỏi nhà nước.

Ảo tưởng của một bộ phận trí thức quốc gia rằng, chế độ phát xít sẽ tiến dần đến nền dân chủ không được thể hiện ở Italia cũng như ở Tây Ban Nha. Kinh nghiệm cho thấy nhà nước phát xít không thể tự dân chủ hoá hay “tự do hóa” (một thủ đoạn mà Franco thường tuyên cáo trong giai đoạn cuối đời ông).Từ nhà nước phát xít đến nền dân chủ chỉ tồn tại một con đường duy nhất – đó là sự sụp đổ của chế độ phát xít. Thời điểm quan trọng nhất trong quá trình này là, sự tách rời của đảng khỏi nhà nước và bước chuyển tiếp đến cơ cấu đa đảng.

2. Ðảng phát xít trở thành xu thế chống đối nhà nước

Ngay sau khi bị tách rời khỏi nhà nước, đảng phát xit bắt đầu bị phân rã do những mâu thuẫn bên trong. Sự thông nhất chính trị tinh thần trước đó (thống nhất tuyệt đối), điều mà mọi đảng phát xít đều lấy làm tự hào giờ đây bị tan thành mây khói, thay vào đó là những mối bất hoà, cạnh tranh nội bộ, bè phái, vây cánh.

Ðây là lẽ đương nhiên. Với việc tách rời khỏi nhà nước, đảng phát xít đánh mất những đòn bẩy quan trọng nhất cho việc giữ gìn sự thống nhất trong đội ngũ của mình: quyền được chia các vị trí nhà nước, cũng như bộ máy khủng bố, an ninh quốc gia, thông qua chúng giới lãnh đạo đảng huỷ diệt mọi biểu hiện bất hoà trong đảng.

Trong cuộc sống nội bộ của đảng phát xít có một dấu hiệu đặc biệt là, không tồn tại những cuộc tranh chấp nội bộ. Ðảng phát xít đã từng thống nhất như một đội quân. Ban lãnh đạo chỉ huy, còn các binh sỹ thi hành mệnh lệnh. Biểu hiện” dân chủ” cao nhất trong các đảng phát xít là, đôi khi giới lãnh đạo thông báo cho các cơ sở đảng cấp dưới về bước ngoặt chính trị nào đó. Và nếu giả sử ở đâu đó xuất hiện những bất hoà trong đảng, thì giới lãnh đạo đảng và chính phủ sẽ dùng bộ máy khủng bố để huỷ diệt ngay lập tức.

Trước đây giới cầm quyền Falanga thực hiện vấn đề này thông qua công an của đảng và nhóm trừng phạt. Tất cả những lực lượng này đều do nhà nước cai quản. Giờ đây, sau khi đã mất quyền điều hành nhà nước, Falanga không còn những công cụ để giữ gìn bộ máy khủng bố của mình. Nó không còn có quyền chia địa vị, giúp dỡ và trợ cấp để giữ cơ sở xã hội rộng rãi và tin tưởng của mình. Falanga trở thành một đảng chính trị thông thường, bắt buộc phải giải quyết mọi mâu thuẫn nội bộ bằng tranh luận và bàn bạc công khai. Sau khi bị tước bỏ những ưu ái vật chấtvà tinh thần của chính quyền, Falanga bắt buộc phải trở thành xu hướng đối lập với nhà nước để tự bảo vệ mình như một lực lượng chính trị. Trước đây nó có chỗ dựa xã hội thông qua nhà nước ( chia địa vị, chia lợi ích…) thì giờ đây Falanga chỉ có thể đặt niềm tin vào quần chúng với lòng căm thù chính quyền hiện hành. Nhưng để có thể tìm được chỗ dựa trong quần chúng, Falanga trong chừng mực nào đó phải trở thành đại diện cho tinh thần chống đối nhà nước của họ, nghiã là phải trở thành xu hướng đối lập công khai với nhà nước. Ðó là con đường của Falanga từ một đảng cầm quyền độc đoán chuyển thành một đảng đối lập.

Hoxe Garxia viết: “Một bộ phận của Falanga trong thời gian đầu đã từng cộng tác với Franco, nay tự rời bỏ chế độ và trở thành xu hướng đối lập.”Quần chúng “của Falanga thụ động quan sát cuộc đấu đá trên thượng đỉnh và có cảm tình với những người chuyển sang xu hướng đối lập. Như vậy đa phần các đảng viên Falanga cuối cùng đã trở thành những đối thủ của nền độc tài Franco, thành những người tiên phong của “đổi mới”, “cải cách”, “tự do”, với mục đích thay chế độ Franco bằng một chế độ khác, phản ánh được “quyền lợi dân tộc”. Falanga trở nên không cần thiết cho tướng Franco và ông ta đã chia tay với nó không chút tiếc rẻ.” (20-436,437)

Mặc dù tất cả những mâu thuẫn nội bộ với nhiều xu hướng và phe phái khác nhau, Falanga vẫn thống nhất trong một vấn đề: đó là lòng căm thù đối với nhà nước Franco trong thời kỳ sau. Các đảng viên Falanga đều công kích chế độ một cách có hệ thống, không phụ thuộc là cánh tả hay cánh hữu, xu hướng tiến bộ hay bảo thủ.

Sau đây là lời công kích của Luix Gonxalex Vixen, một trong những thủ lĩnh có uy tín nhất của những ngườiFalangist cánh tả, cựu đội trưởng đội cận vệ của Franco:

“Trong đảng Falanga, những mầm mống của “phong trào” không còn nữa. Có thể khẳng định rằng Falanga và “”phong trào” là đồng nghĩa, điểm khác biệt duy nhất là chúng có những sách lược không giống nhau. Những nhóm mạnh nhất đã từng nắm giữ trong tay mọi quyền lực của Tây Ban Nha tự xem mình là đại diện cho các lực lượng cánh hữu và giới tư sản. Do đó đương nhiên chúng có xu hướng bài bác những quan điểm tự do và những nguyên tắc tiến bộ của Falanga trong lĩnh vực kinh tế.

Kết quả là hiện tại Tây Ban Nha tồn tại hai xu hướng khác biệt: một bên là những người Falangist mong muốn tự do và cách mạng kinh tế xã hội, và một bên là “phong trào” bao gồm các lực lượng cánh hữu cố tình gây trở ngại cho sự tiến bộ trong lĩnh vực kinh tế… Các lực lượng cánh hữu Tây Ban Nha có hai mục đích: chúng đã và sẽ làm rối loạn, chia rẽ phong trào cách mạng, phong trào có ý định làm cuộc cải cách kinh tế trong nước, đồng thời chúng tuyên bố chống lại những tư tưởng có thể dẫn đến việc cấu thành các quyền tự do”. (20-435)

L.Gonxalex Vixen thực chất là muốn phục hồi lại đảng Falanga ” thực sự” trước đây từ thời Hoxe Antonio Primo De Rivera (người sáng lập Falanga) mà trong cương lĩnh từng có một vài xu hướng chống tư sản. Ðây là một tham vọng hão huyền vì sau một phần tư thế kỷ cộng tác với nhà nước, Falanga đã bị thoái hoá trầm trọng và không thể còn phục hồi lại trên cơ sở chính trị tư tưởng thuần chủng ban đầu. Ðiều lý thú ở đây là sự dối lập và lòng căm thù của những người Falangist cánh tả. Sự đối lập này còn được thể hiện rõ ràng hơn trong một bài báo khác cũng của Vyxen: “” chúng ta chống lại mọi chính phủ độc tài và ngẫu nhiên… chúng ta chống lại chính phủ, với chiêu bài củng cố nền kinh tế đất nước đã làm cho những giai cấp nghèo khó nhất càng trở nên bần cùng hơn.” (20- 436)

Xu hướng đối lập của những người Falangist cánh tả đôi khi sử dụng cả những cách thức gay gắt và liều lĩnh. Trong lễ tưởng niệm người sáng lậpFalanga, một người tên Hoxe Ramon Alonxo Urdialex đã hét thẳng vào mặt Franco:”Ðồ phản bội!” và vì thế bị tuyên án 12 năm tù trong ngục tối. (26-96)

Nhà báo Falangist, Antonio Himenex Pericax, bị tuyên án 10 năm ngục tối. Anh sinh viên Hoxe Antonio Xantrex Maxax Ferloxio, con trai của một trong những người sáng lập Falanga tên là Xantrex Maxax, bị ra toà vì “”tuyên truyền bí mật”…

Labade Otermin, một trong những đại diện của Ðội Cận Vệ Falanga trước đây, thành viên Hội Ðồng Dân Tộc Falanga và đã nhiều năm là tòan quyền vùng Axtuaria, tuyên bố chống lại các tổ chức công đoàn quốc gia rằng, chúng đã” đánh mất vai trò và ý nghĩa của mình, đã bị chuyển thành công sở của chính phủ , bị chính phủ xử dụng như những công cụ chính trị và không còn thể hiện được nguyện vọng của các tầng lớp lao động.” (26-98). Ðồng thời Labade Otermin đề nghị cái tổ các tổ chức công đoàn sao cho ” đường lối bầu cử thay thế cho đường lối áp đặt chính trị hiện hành.” (26-98)

Ngoài những công kích cá nhân nói trên, những người Falangist đặc biệt là cánh tả, đã kết hợp với công nhân tổ chức tuần hành, biểu tình tập thể… Trong cuộc diễu hành nhân kỷ niệm ngày 1-5 của giai cấp công nhân vào năm 1963, xu hướng công đoàn đối lập nhận thấy, ” tại một vài nơi có cả những người Falangist cánh tả tham gia, những người đang tự cảm thấy xa rời chế độ”.

“Những người Falangist cánh hữu” công khai công kích chính phủ. 52 người bao gồm cả chủ tịch” Hội Nghiên Cứu Hoxe Antonio” và 7 nghị sĩ đã gửi thư cho Hoxe Xolix Ruix trong đó có đoạn viết: “Trong sáu năm gần đây, chính sách của chính phủ đã khiến những người công nhân không còn phục tùng nữa, đã không trao cho họ công cụ nào khác ngoài việc nổi loạn, kết quả là Tây Ban Nha và toàn thế giới biết được sự bất bình đối với nền chính trị này…” (26-97)

3. Sự tan rã của hệ thống tổ chức quần chúng quốc gia

Sau đảng Falanga, hệ thống tổ chức quần chúng quốc gia không còn phải chịu sự chỉ đạo và kiểm soát chính trị cũng bắt đầu tan rã. Sự tách rời của đảng phát xít khỏi nhà nước và đặc biệt là lòng căm thù của nó đối với chế độ đã nhanh chóng vạch trần bản chất phản bội giai cấp công nhân của các “”nghiệp đoàn thăng tiến”. Sụp đổ toàn bộ vỏ bọc tư tưởng, được Falanga xây dựng công phu suốt mấy chục năm trời, với mục đích duy nhất là để che dấu bản chất và vai trò thực sự của “”các nghiệp đoàn thăng tiến”. Các tổ chức này cũng bắt đầu xa rời và tuyên bố chống lại nhà nước.

Trước đây trong quá trình phát triển, nhà nước phát xít đặt các tổ chức quần chúng dưới sự kiểm soát của mình và biến chúng từ chỗ là vũ khí của giai cấp công nhân thành vũ khí chống lại chính giai cấp này. Giờ đây một quá trình ngược lại đang diễn ra: khi tách rời và chống lại nhà nước tư sản, các tổ chức công đoàn lại trở thành vũ khí của những tầng lớp lao động, và nhà nước bắt buộc phsỉ dùng quân đội và cảnh sát để đàn áp.

Quá trình này rất đa dạng – từ biểu tình đến hội họp chính trị đến việc thành lập những tổ chức quần chúng mới.

Xu hướng cơ bản là xoá bỏ những nguyên tắc của các tổ chức quốc gia, xây dựng những tổ chức quần chúng mới của các tầng lớp lao động và thanh niên, dựa trên những nguyên tắc dân chủ và hoàn toàn tự nguyện.

Thí dụ, tổ chức nghiệp đoàn thanh niên SEU được Falanga thành lập từ năm 1936, và là tổ chức công đoàn phát xít bắt buộc của sinh viên Tây Ban Nha.

Những yêu sách không đổi trong các cuộc biểu tình của sinh viên từ năm 1956-57 là: Xoá bỏ SEU và thành lập những tổ chức công đoàn tự do, phục hồi quyền tự trị của các trường đại học, và trả lại quyền tự do chính trị, tự do công dân cho đất nước… “Vào cuối năm 1964, rất nhiều tổ chức sinh viên từ bỏ SEU.” (26-39) Các tổ chức sinh viên từ bỏ SEU và thống nhất lại với nhau trong Ðại Hội Sinh Viên Tự Do, và trong quá trình đấu tranh, tổ chức này được hình thành như một phong trào thanh niên dân chủ mới.

Ðại hội sinh viên lần thứ tư vào đầu năm 1965 đã ra thông cáo và đồng thời cũng là cương lĩnh của phong trào sinh viên mới:

“a/ Quyền tự do công đoàn, tức là thành lập tổ chức công đoàn tự chủ, dân chủ, đại diện, tự do và độc lập, không chịu bất kỳ một sự áp đặt chính trị hay tinh thần nào;

b/ Ðại ân xá cho tất cả sinh viên đang bị theo dõi, bị phạt hoặc bị tù đày;

c/ Tự do tư duy trong các trường đại học;

d/ Tự do lập hội trong các trường đại học;

e/ Ðoàn kết với các tầng lớp lao động đang đấu tranh cho những yêu sách dân chủ tương tự.” ( 26-40, 41)

Ngày 27-2-1965 trong một cuộc họp trên giảng đường của trường đại học tổng hợp Madrit, Ðại Hội Sinh Viên lần thứ tư tuyên bố là” tổ chức đại diện cao nhất của phong trào sinh viên dân chủ và độc lập.” (26-41)

Tất cả những cuộc biểu tình, bãi khoá hay tuần hành đều được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Ðại Hội Sinh Viên. Ngày 2-3-1965, tức là ngày lễ của sinh viên, theo quyết định của Ðại Hội Sinh Viên lần thứ tư, hàng nghìn sinh viên ở Madrit đã biểu tình chống lại sự khủng bố và chiến dịch bài bác của cơ quan ấn loát Falanga. Trước trụ sở toà soạn, sinh viên xé nát và chà sát trên mặt đường những tờ báo chính thức của Falanga. Cảnh sát vũ trang đã can thiệp để giải tán cuộc biểu tình này…

Các sự kiện tiếp tục diễn ra. Tại Barxelona ngày 22và 23-3-1965, Hội Nghị Sinh Viên Dân Tộc lần đầu tiên được triệu tập, bao gồm đại diện sinh viên của các trường đại học ở Madrit, Barxelona, Bilbao, Xalamarc… Ðó là các đoàn đại biểu của những trường đại học đã tuyên bố từ bỏ SEU. Họ đã thông qua tyên ngôn trong đó nhấn mạnh rằng, “Đối với sinh viên, SEU đã chết từ lâu”. Ðồng thời thông qua tuyên bố về những nguyên tắc cho cấu trúc tổ chức của Công Ðoàn Sinh Viên Dân Tộc Ðộc Lập Dân Chủ và Tự Do.

Chính phủ Franco bắt buộc phải công nhận sự phá sản của SEU. Ngày 2-4-1965, Hội Ðồng Bộ Trưởng thông qua cái gọi là “”Sắc Lệnh Hiện Thời Về Những Hiệp Hội Công Ðoàn Sinh Viên”.Mục đích của nó là xoá bỏ tên gọi xấu xa, hình thức công nhận ban lãnh đạo của các hiệp hội sinh viên từ trên xuống dưới và thử bảo vệ hệ thống kiểm soát của chính phủ đối với toàn bộ các tổ chức sinh viên. (26-41, 42)

Tất nhiên, các tổ chức sinh viên tự do đã bác bỏ hoàn toàn sắc lệnh nói trên của chính phủ, và trên thực tế lúc này, tại các trường đại học Tây Ban Nha, song song với SEU “đã chết” tồn tại các hiệp hội công đoàn sinh viên độc lập – dân chủ – tự do, thể hiện quyền lợi cho các sinh viên.

Những sự việc tương tự cũng xảy ra đối với xu hướng công đoàn đối lập. Song song với các “nghiệp đoàn thăng tiến” mà nhà nước cưỡng ép công nhân phải tham gia, giai cấp công nhân trong các công đoàn quốc gia tự lựa chọn “Hội Ðồng Công Nhân” của mình. Các tổ chức này thể hiện quyền lơi thực sự cho họ, hoạt động trên danh nghĩa của họ, khi cần phải cô lập ban lãnh đạo ép buộc trong thời gian bãi công, tẩy chay hay biểu tình chính trị.

Theo quan điểm nhà nước, những Hội Ðồng Công Nhân này là bất hợp pháp. Nhưng khi những Hội Ðồng Công Nhân tổ chức và lãnh đạo những cuộc bãi công lớn, các chủ nhà máy và chính quyền bắt buộc phải đối thoại với chúng và như vậy trên thực tế đã phải công nhận các tổ chức này là đại diện cho giai cấp công nhân. Khi nói về sách lược của những Hội Ðồng Công Nhân trong những năm 60, X.Garxia đã đưa ra những nhận xét rất chính xác: “Giai cấp vô sản Tây Ban Nha đã tìm được công cụ hữu hiệu để thay thế những tổ chức công đoàn phát xít bằng các tổ chức của mình và đấu tranh bắt chế độ phải công nhận chúng như “”sự đã rồi”. Ðây là một trong những thắng lợi quan trọngcủa giai cấp công nhân Tây Ban Nha. Nhờ có những Hội Ðồng Công Nhân này, xu hướng công đoàn đối lập không cần được công nhận chính thức đã không còn phải hoạt động bí mật.” (20-463)

Xantiago Carilo, Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Tây Ban Nha lúc bấy giờ trong tác phẩm Sau Franco – Hướng đi nào? đã đạt rất nhiều hy vọng vào những Hội Ðồng Công Nhân này như vũ khí của giai cấp công nhân để tiêu diệt hệ thống nghiệp đoàn: ” Các nghiệp đoàn thăng tiến đang trong cơn hấp hối. Bằng những Hội Ðồng của mình, giai cấp công nhân đã tạo điều kiện để xây dựng những tổ chức công đoàn dân chủ, thống nhất, tự do và độc lập, nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân và đấu tranh vì một xã hội không có người bóc lột người.” (46-44)

Xu hướng công đoàn đối lập trên thực tế đã chứng minh rằng, nó là người lãnh đạo thực sự của giai cấp này. Xu hướng công đoàn đối lập đã chịu trách nhiệm lãnh đạo các cuộc bãi công lớn vào những năm 1957,1958, 1961 – 1962 và đặc biệt vào năm 1964, bắt buộc chính phủ phải dùng cảnh sát và quân đội để trấn áp.

Thực chất, ý nghĩa của cuộc đấu tranh nhằm chuyển hoá các tổ chức công đoàn quốc gia thành vũ khí của các tầng lớp lao động chống lại nhà nước, được thể hiện rõ ràng nhất trong yêu sách của sinh viên Madrit: ” Cho đến nay, SEU là đại diện cho chính phủ trước sinh viên. Chúng tôi muốn những tổ chức công đoàn của chúng tôi đại diện cho sinh viên trước chính phủ.” (20-456,457)

4. Chuyên chính quân sự – bước quá độ từ chế độ phát xít đến nền dân chủ

Trong những năm 50 và 60, trên thực tế Tây Ban Nha đã trải qua giai đoạn tan rã của nhà nước phát xít khi nó đánh mất chỗ dựa xã hội quần chúng của mình và những đặc thù quan trọng nhất: đảng phát xít và các tổ chức quần chúng. Lúc này nhà nước phát xít đã bị chuyển đổi thành nền chuyên chính quân sự thông thường, dựa chủ yếu vào cảnh sát và quân đội.

Rõ ràng, để chống lại các cuộc bãi công và biểu tình lớn trong thời giain này, chính phủ chỉ còn biết dùng cảnh sát và quân đội, vì không còn công cụ nào khác.

Một nước trong đó cho phép có thể tổ chức bãi công hay biểu tình thì không còn có thể xem là nhà nước độc tài theo ý nghĩa chính xác của từ này. Nhà nước độc tài phát xít nắm trong tay những công cụ để không chỉ có thể tiêu diệt mọi mầm mống chống đối, mà còn hoàn toàn không cho phép tổ chức bất kỳ một cuộc biểu tình nào. Do đó trong nhà nước độc tài thực sự hoàn toàn không tồn tại những khả năng chống đối, đến mức xuất hiện những ảo tưởng rằng không có người bất bình với chế độ, vì không có ai dám đứng lên đấu tranh. Lý do không tồn tại những điều kiện cho đấu tranh đã giải thích tất cả những điều này. Tờ báo tư sản Stampa số ra ngày 18-7-1922 đã tiên đoán rất chính xác về nền chuyên chính phát xít tương lai như sau: “Chủ nghĩa phát xít – đó là phong trào nhằm xử dụng mọi công cụ hợp pháp và bất hợp pháp để điều khiển nhà nước và bắt toàn bộ dân tộc phải phục tùng, và để thiết lập quyền chuyeen chính vô hạn và không thể tách rời của mình. Phương tiện căn bản để dạt được những mục đích này, theo cương lĩnh và tinh thần của các thỉ lĩnh và những kẻ ủng hộ tích cực, là huỷ diệt triệt để mọi quyền tự do công dân và tự do cá nhân, nói cách khác – huỷ diệt mọi quan điểm và mọi thành quả tự do của Rixodjiment (3) – Ytalia.

Khi nền chuyên chính này đã được thiết lập bền vững đến mức chỉ có thể tồn tại những suy nghĩ, hành động và lời nói, xuất phát từ tinh thần phục tùng và hy sinh vô điều kiện cho chế độ phát xít, khi đó chế độ sẽ tạm dừng những hành động khủng bố vì lúc này không còn đối tượng cho chúng. Nhưng chế độ vẫn giữ những quyền này và bất kỳ những thời điểm nào cũng có thể áp dụng trở lại, nếu xuất hiện những dấu hiệu chống đối.” (2-213)

Ytalia và Ðức đã khẳng định toàn bộ những lời tiên đoán trên về chủ nghĩa phát xít, được nói ra ngay từ buổi bình minh của nó, đúng đến từng chi tiết. Tại đỉnh cao nhất của quá trình phát triển, chúng đã đạt được nền chuyên chính triệt để, đến mức trên thực tế không tồn tại những biểu hiện đối kháng.

Tình tiết rằng, trong những năm 50 và 60, nhà nước phát xít Tây Ban Nha thường xuyên phải chống lại các cuộc bãi công, biểu tình hay tuần hành, không có nghĩa là khủng bố được tăng cường, mà chỉ đơn giản là nó đã trở nên rõ ràng hơn trước mắt đại chúng. Ðiều này chứng tỏ đã có những điều kiện để tổ chức đấu tranh chống lại nhà nước và nhà nước bắt buộc phải ngày càng lộ rõ bản chất phản bội giai cấp công nhân và phi dân chủ của mình.

Ðôi khi ở nền chuyên chính quân sự, khủng bố có thể mang những hình thức tàn klhốc nhưng nó không bao giờ đạt được mức độ toàn diện và tổng quát như trong chế độ phát xít. Nếu nhà nước độc tài có thể đồng thời và một cách hệ thống xử dụng khủng bố tư tưởng ( thông qua tuyên truyền độc đoán và giáo dục), chính trị (thông qua hệ thống tổ chức quần chúng) và cảnh sát quân sự, thì trong giai đoạn chuyên chính quân sự nhà nước chỉ còn có thể dùng hình thức khủng bố sau cùng. Chuyên chính quân sự bị cả xã hội liên tục tấn công thông qua các tổ chức quần chúng, và để bảo vệ mình chế độ bắt buộc phải xử dụng lực lượng khủng bố.

Chúng ta hãy lấy một thí dụ minh hoạ đặc trưng cho giai đoạn mới này của nhà nước độc tài. Một năm sau cái chết của Hulian Grimau, xung quanh tên tuổi củ thiếu tá Manuel Fernandex Martin, người buộc tội chính trong vụ án này đã dấy lên một vụ kiện lớn. Người ta phát hiện ra là Martin không có bằng luật học, mà theo điều 63 của luật quân sự thì thì bát buộc phải có. “Tất cả những điều này được phát hiện một cách ngẫu nhiên. Sau vụ án của Hulian Grimau, Martin tham gia một phiên toà dân sự xử một vị tướng. Vị tướng này đã “”tự ái” và nói thẳng là Martin không có bằng luật học. Ngay sau đó Martin đi thẳng đến trường đại học tại Xevilia với hy vọng là sẽ nhận được bằng, nhưng Khoa Trưởng Luật Học đã từ chối thẳng thừng và không đưa bằng cho kẻ mạo nhận này. Vụ kiện này đã gây nên làn sóng bất bình trong giới luật học và các luật sư ở Madrit, Barxelona và trong quân đội. Nhưng chính quyền Franco từ chối không xét lại vụ án của Hulian Grimau và những vụ án khác mà Martin đã từng tham gia xet xử.” (26-103)

Những sự kiện tương tự liệu có thể xảy ra trong chế độ phát xít không? Chắc chắn trong những trường hợp như vậy, đảng phát xít sẽ ra lệnh cho Khoa Trưởng Luật phải cấp bằng luật sư cho thiếu tá Martin, vì nười này đã từng tham gia xét xử tới bốn nghìn vụ án chính trị và rõ ràng đã có những cống hiến không nhỏ cho đảng phát xít.

Một thí dụ khác cũng trong giai đoạn này là, việc ra đời bản tuyên bố của 1160 nhà trí thức có tên tuổi nhất ở Tây Ban Nha nhằm bảo vệ các tù chính trị. Trong nhà nước độc tài không bao giờ có được những sự kiện tương tự.

Vì chỉ sử dụng khủng bố thể chất, chuyên chính quân sự trên thực tế chỉ dựa vào một lá bài duy nhất, và nếu mất lá bài này nó sẽ không tránh khỏi đổ vỡ. Bởi thế trên quan điểm chính trị, nền chuyên chính quân sự có thể xem như một chế độ bi quan, không hy vọng và tất yếu sẽ bị diệt vong, đặc biệt khi nó là kết quả trong quá trình tan rã của nhà nước phát xít. Bản thân chính sách chính trị” tự do hoá” mà chính phủ Franco tuyên cáo là bằng chứng không thể chối cãi của quá trình tan rã này.

Nhà nước độc tài phát xít không thể tự do hoá và dân chủ hoá mà không bị tan rã. Từ chế độ này đến nền dân chủ chỉ có một con đường duy nhất – con đường tan rã, và chuyên chính quân sự chỉ là giai đoạn quá độ, là bước chuyển tiếp trung gian.

5. Xu thế dần tiến tới cơ cấu đa đảng

Sự tan rã của chế độ phát xít và tác động kích thích của các lực lượng đối lập không tránh khỏi dẫn đến việc phục hồi những vũ khí chính trị quen thuộc trong xã hội: các đảng phái, những tổ chức và hiệp hội quần chúng. Chúng là lối thoát tự nhiên cho nguồn năng lượng xã hội khổng lồ mà nhà nước phát xít luôn giữ bên mình trong một thời gian dài, thông qua hệ thống chính trị đặc thù của nó. Hoxe Garxia viết, trong giai đọan này tại Tây Ban Nha ” tồn tại nhiều đảng phái, những tổ chức công đoàn và thanh niên hơn cả thời quân chủ và cộng hoà.” (20-432)

Hơn bao giờ hết, tại Tây Ban Nha bắt đầu xuất hiện hàng chục đảng phái và tổ chức từ mọi thành phần – cách mạng và phản cách mạng, vô sản và tư sản, quân chủ và cộng hoà, thiên chúa giáo và nghiệp đoàn vô chính phủ. Thành lập các liên hiệp của những đảng phái khác nhau và những phong trào của các lực lượngchính trị riêng biệt. Ðây là quá trình khó khăn và phức tạp, minh chứng trước hết cho những hoạt động tích cực của các lực lượng chống phát xít bí mật và cho sự xuất hiện rất nhiều các đảng phái bán công khai. Nền chuyên chính không còn đủ khả năng để ngăn cản được quá trình này.” (20-420)

Những đảng phái đáng kể xuất hiện trong thời gian này là:

1.Ðảng quân chủ Liên Hiệp Tây Ban Nha thành lập năm 1959, đứng đầu là Hoahin Xatruxteti.

2.Ðảng Quân Chủ Lập Hiến – muốn một chế độ quân chủ, thiết lập thông qua tuyển cử.

3. Ðảng Hành Ðộng Dân Chủ.

4. Liên Hiệp Truyền Thống Dân Tộc Giữa Các Ðảng Quân Chủ – đảng bảo thủ nhất, muốn có nhà vua điều hành đất nước với sự tham gia của nhân dân, muốn phân chia công bằng thu nhập quốc dân.

5. Ðảng Dân Chủ Thiên Chúa – Xã hội, thành lập năm 1960.

6. Ðảng Dân Chủ Thiên Chúa cánh tả.

7. Ðảng Hành Ðộng Thiên Chúa.

8. Ðảng Thiên Chúa Dân Chủ.

9. Ðảng Hành Ðộng Cộng Hoà Vì Nền Dân Chủ Tây Ban Nha thành lập năm 1959.

10. Ðảng Xã Hội Công Nhân Tây Ban Nha.

11. Liên Hiệp Nghiệp Ðoàn Dân Tộc và Liên Hiệp Vô Chính Phủ Iberia.

12. Ðảng Cộng Sản.

Cùng với các đảng phái, một số lượng khổng lồ các tổ chức hiệp hội và các nhóm xã hội cũng xuất hiện. Trong những năm 60 và đầu những năm 70 các tổ chức này hoạt động dưới hình thức bán công khai mặc dù không công nhận sự tồn tại hợp pháp của những tổ chức này nhà nước cũng không còn có thể huỷ diệt chúng để bắt xã hội trở lại trạng thái trước đây.

Xu thế của xã hội Tây Ban Nha về cơ cấu đa đảng được thể hiện không chỉ ở số lượng khổng lồ các đảng phái chính trị, mà còn cả trong cương lĩnh của những đảng này. Không một đảng phái chính trị nào, kể cả những đảng quân chủ, còn mong muốn một cơ cấu đảng quyền. Bởi vì cơ cấu này dã bị Franco làm tha hoá đến mức nếu một đảng nào còn có ý đồ đó, thì ngay lập tức sẽ không còn những người ủng hộ. Cơ cấu một đảng quyền khiến người ta liên tưởng đến nền chuyên chính phát xít, bởi vì đó là bước đầu tiên để xây dựng nhà nước này.

Bảo vệ tích cực nhất cho cơ cấu đa đảng là những người Thiên Chúa Giáọ Giáo dân Himenex De Parga, giáo sư về quyền chính trị tại trường tổng hợp ở Barcelona, công khai tuyên bố chống lại việc cấm đoán các đảng phái chính trị ở Tây Ban Nha: ” Theo bản chất của mình, con người là một thực thể quảng giao nhưng hoạt động không đơn độc, mà nhờ các liên tưởng. Vì lý do này, các quyền chính trị của con người trên thực tế được thể hiện dựa vào những liên tưởng chính trị, và căn bản là thông qua các đảng phái chính trị…Nhưng đây không phải là những liên tưởng được chính quyền và chính phủ tạo ra và các công dân có thể hoặc bắt buộc tham gia.

Ở đây muốn nói đến quyền được cấu thành những liên tưởng như tthế, những liên tưởng mà bản thân các công dân cho là cần thiết và hoàn toàn tự do, kể cả sự tồn tại, cũng như mục đích của chúng.” (26-88)

Những người cộng sản cũng bảo vệ quan điểm này, Xantiago Carilo viết:

“Nhận thức của chúng ta về nghị viện đương nhiên là đề xuất một cơ cấu đa đảng. Tuyên truyền chính thức ở nước ta bài bác và phỉ báng cơ cấu đa đảng. Việc này không đáng để cho chúng ta tranh luận: ý đồ của nó thật rõ ràng. Những người Tây Ban Nha chúng ta đã có kinh nghiệm cay đắng về những gì xảy ra cho đất nước khi nguyên tắc đa đảng bị huỷ diệt. Có thể nói rằng đây là bài học xương máu cho chúng ta. Bất kỳ một chế độ nào đảm bảo được quyền tự do đảng phái thì dù với tất cả những khuyết điểm của nó, vẫn nghìn lần tốt hơn chế độ hiện hành.

… Thậm chí với những yếu điểm rõ ràng, các đảng phái vẫn là biểu hiện dân chủ trong đời sống chính trị của một đất nước, vì chúng phản ảnh những quyền lợi và xu hướng đa dạng của các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau. Thậm chí cả những đảng phái mà ban lãnh đạo phục tùng giới tư bản lũng đoạn, khi thành lập những phong trào quần chúng rộng rãi, trên dư luận xã hội và trước các đảng viên, vẫn phải để ý ít nhiều đến nguyện vọng của nhân dân. Mặt khác, sự tồn tại các đảng phái chính trị và công tác tuyên truyền của chúng khiến đại công chúng quan tâm đến hay ít nhiều tham gia vào đời sống của đất nước, nghĩa là chống lại cái mà chúng ta gọi là vô bản sắc chính trị của nhân dân, điều mà giới tư bản lũng đoạn quan tâm và khuyến khích.” (46-88)

Theo Xantiago Carilo, cơ cấu đa đảng không chỉ cần thiết cho giai đoạn sau Franco mà còn cho cả công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa: “Chúng ta đã nói không chỉ một lần rằng, ở Tây Ban Nha cơ cấu đa đảng là cần thiết cho cả công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Ðây không phải là sách lược chắp vá cho đất nước chúng ta, mà là chiến lược tư duy tổng thể.” (46-89)

Vấn đề này được xác định từ tình tiết rằng,”ngày nay công cuộc xây dựmg xã hội chủ nghĩa không chỉ là nhiệm vụ riêng biệt của giai cấp công nhân, mà còn là của những nhóm và tầng lớp xã hội khác; tư tưởng cho luận điểm này là, ngày nay cùng với các lực lượng Mác xít Lê Nin Nít, phản ánh thế giới quan của chủ nghĩa xã hội khoa học, được thể hiện thông qua đảng cộng sản, còn tồn tại nhiều xu thế xã hội khác, được phản ánh trong các đảng phái chính trị khác, mà sự cống hiến của chúng là tuyệt đối cần thết cho việc xây dựng một xã hội mới, không có người bóc lột người.” (46-89)

Ngay cả những “nghiệp đoàn thăng tiến”, mặc dù thật ngượng ngùng cũng tuyên bố chống lại một đảng quyền. Báo Pueblo vào tháng 2-1963 đã viết: “Một đảng duy nhất không phải là phương án nhà nước tốt nhất, vì trong xã hội còn tồn tại vô số những tư tưởng và ý niệm; cũng như phương án tồn tại một đảng phái vẫn chưa phải là đúng đắn, vì sẽ dẫn đến hỗn loạn chính trị. Do đó cần thiết phải có một giới hạn nhất định, trong đó những ý niệm khác nhau có thể tồn tại trên một hệ tư tưởng cơ bản. Bởi thế cần phải sử dụng cả những ưu điểm của độc nhất và đa dạng.” (46-99)

—Hết—

Nguồn bài đăng

Advertisements

One thought on “Chế độ Phát Xít (bài 2)

  1. Để có cơ sở nhận thức nội dung công trình nghiên cứu Chế Độ Phát Xít vì sao lại rất giống Chế Độ Xô Viết (và chế độ ở Triều, Tàu, Ta và Cu) chỉ xin nhấn một (1) điều là tạm đủ:

    Chúng đều KHÔNG (vâng, không và không) thực hiện TAM QUYỀN PHÂN LẬP.

    Nhắc lại lời bàn ở bài 1:
    Nên có vài giới thiệu về tác giả và dịch giả.
    Tác giả vốn là giảng viên chính trị của Bungary thời còn là chư hầu của Liên Xô.
    Ông nghiên cứu về Chế độ Phát xít, thấy rằng nó rất giống chế độ xô-viết về rất nhiều mặt. Đến nay, các “cụ” bạn đọc (nếu trên 70 tuổi) lại càng thấy sự giống nhau.
    Chính do vậy, tác giả bị phân biệt đối xử và trở thành đối kháng chính trị với đảng CS nước Bun.
    Khi chế độ ở Bun đổ, tác giả được dân bầu làm tổng thống đầu tiên của nước Bun dân chủ.
    Quý vị đọc công trình nghiên cứu này xin so sánh với chế độ xô-viết của phe XHCN. Nó rất giống chế độ phát xít về rất nhiều mặt. Nó cũng giống chế độ ta khi đảng còn oai như Trời và dân còn ngu như Ngố.
    Phạm Văn Viêm là một lưu học sinh ở Bun, đã cả gan dịch công trình này sang Việt. Qua sứ quán VN ở Bun, bộ Công An VN đã cử đặc nhiệm sang tận Bun bắt cóc Pham Văn Viêm về nước trị tội.
    Từ đó đến nay, ông (cụ – nếu còn sống) Viêm bặt tăm tích.

    Xin Admin bảo vệ trang này, phòng harker.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s