Đấu tranh của các chí sĩ yêu nước tại nhà tù Côn Đảo (1862-1930)

nha-tu-con-dao
“Chuồng cọp” là một kiểu trại giam đặc biệt do người Pháp xây dựng ở Côn Đảo từ năm 1940 để giam giữ những người Việt Nam yêu nước

Khổng Đức Thiêm

Ngày 1-9-1858, hạm đội của liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công rồi đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam.

Từ tháng 2-1859 đến đầu năm 1861, dưới sự chỉ huy của các viên tướng De Jenu, Page và Phó thủy sư Đô đốc Charne, quân Pháp đã tiếp tục đánh chiếm nhiều nơi. Ngày 12-4-1861, chúng chiếm được Định Tường. Ngày 28-11-1861, chúng cho Thông báo hạm Nordagaray chở quân đổ bộ lên Vũng Đầm rồi ra Tuyên bố đã hoàn thành việc chiếm lĩnh toàn bộ quần đảo Côn Lôn.

Vào ngày hôm sau, Thiếu tướng Tổng chỉ huy lực lượng hải quân Pháp trên biển Đông Bonard được giao kiêm giữ chức Tổng tư lệnh lực lượng viễn chinh Pháp tại Việt Nam. Ngày 16-12-1861, viên Thiếu tướng này cho quân đánh chiếm Biên Hòa. Cũng viên tướng này, ngày 14-1-1851 đã ra lệnh cho Trung úy hải quân Félix Roussel đáp tàu Nièvre ra Côn Lôn chuẩn bị cho bước thực thi âm mưu biến quần đảo này thành địa ngục trần gian ở Đông Dương thông qua việc chọn địa điểm đặt ngọn hải đăng và tìm mặt bằng để có thể xây dựng nhà tù có sức chứa khoảng 200 tù nhân lưu đày.

Ngày 1-2-1862 trở thành thời điểm mở đầu trang sử lao tù dưới chế độ thực dân tại quần đảo bốn mùa xanh tươi, thanh bình đứng trấn giữa biển Đông. Qua kết quả khảo sát và đề xuất của Roussel, Thiếu tướng Tổng tư lệnh lực lượng viên chức chinh Pháp ở Việt Nam đã ký quyết định cho phép xây dựng tại Côn Đảo một nhà tù để giam giữ các phần tử nguy hiểm, tù nhân và những người bị gọi là trộm cướp. Bonard đã ấn định chia tù nhân Việt Nam tại Côn Đảo ra làm hai loại:

1. Tù nhân phạm tội nổi loạn, làm phản và các trọng tội thông thường (người Việt Nam coi tội làm phản giống như tội giết cha mẹ).

2. Tù nhân chiến tranh (tù nhân chiến tranh cấp dưới vì chỉ làm theo lệnh cấp trên nên sẽ không bị xếp vào loại phản loạn).

Hai loại tù nhân trên phải được giam giữ tách rời nhau.

Tù nhân chiến tranh sẽ được làm doanh điền.

Tù nhân phạm tội phản loạn và mắc trọng tội sẽ phải đi làm việc công ích và trồng trọt.
Việc canh giữ, giám sát tù nhân sẽ được giao phó cho các quan viên và binh lính Việt Nam phục vụ tại Côn Đảo dưới sự chỉ huy của Quản đốc nhà tù.

Tiền lương, trang phục, khẩu phần ăn của họ theo quy định hiện hành.

Trang phục, khẩu phần ăn và chế độ thưởng phạt đối với tù nhân cũng theo quy định hiện hành.

Các quan viên và binh lính Việt Nam được giao nhiệm vụ canh gác tù nhân sẽ phải thực hiện đầy đủ cam kết của mình. Thông thường những người Việt Nam đảm nhận các chức vụ này được thăng một bậc.

Các quan viên và binh lính Việt Nam được phép gặp gỡ gia đình.

Một Ủy ban hành pháp sẽ chịu trách nhiệm kiểm tra các tài khoản, tiền lương, trang phục, lương thực. Quản đốc nhà tù Côn Đảo sẽ phải trình sổ sách lên Ủy ban và người có quyền duy nhất cho phép thực hiện các khoản chi(1).

Để thực thi Quyết định trên, ngày 1-3-1862, Bonard soạn thảo quy chế, đệ trình lên Bộ trưởng Hải quân và thuộc địa Pháp nêu rõ, nhà tù Côn Đảo sẽ do Thanh tra công việc bản xứ (Inspecteur des Affaires Indigènes), Trung úy Roussel, Phó hạm trưởng Hải quân Pháp làm Quản đốc với nhiều quyền hành pháp, tư pháp trên quần đảo. Tàu Écho sau khi hoàn thành việc chuyên chở toán tù nhân đầu tiên ra Côn Đảo giam giữ sẽ ở lại làm nhiệm vụ tuần tra, canh phòng mặt biển.

Trên đất liền, Bonard tiếp tục tiến hành đánh chiếm tỉnh thứ ba của miền Đông Nam Kỳ. Bằng một lực lượng 10 tàu chiến chở đầy quân, ngày 23-3-1862, quân Pháp chiếm được Vĩnh Long.

Sau khi để mất 4 tỉnh Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long) vào tay quân Pháp một cách dễ dàng, ngày 5-6-1862 (ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất) triều đình Huế buộc phải ký Hiệp ước hòa bình và hữu nghị tại Sài Gòn với Pháp và Tây Ban Nha gồm 12 điều khoản, thừa nhận ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) và quần đảo Côn Lôn hoàn toàn thuộc chủ quyền của Pháp; phải bồi thường chiến phí tương đương 288 vạn lạng bạc trong 10 năm; có trách nhiệm truy lùng, bắt giữ và giao nộp cho Pháp những người chống đối ẩn náu tại các vùng triều đình còn kiểm soát.

Ngày 25-6-1862, Bonard được cất nhắc lên chức Phó thủy sư Đô đốc, trở thành viên Thống đốc đầu tiên tại các vùng đất Nam Kỳ mà chúng chiếm được theo Hòa ước Nhâm Tuất, mở đầu thời kỳ Đô đốc – võ quan cai trị Nam Kỳ kéo dài 17 năm (1862-1879)(2). Dưới thời Bonard, hàng ngũ tổng lý được sử dụng vào bộ máy cai quản cơ sở. Nhiều sĩ quan Pháp như Gougeard, Brière de l’ Isle, Aubaret, Philastre, Rieunier, Paulin Vial, Harmand, Luro được chọn làm Thanh tra công việc bản xứ. Đầu năm 1863, sau khi có thêm viện quân, Bonard tấn công căn cứ Gò Công của nghĩa quân Trương Định. Thắng lợi về quân sự cộng với sự thỏa thuận của phái đoàn triều đình Huế tại Paris hồi tháng 6-1863 khiến cho Bonard yên tâm trong việc cho phép xây dựng lại nhà tù Côn Đảo bị cuộc nổi dậy của tù nhân tàn phá trước đó một năm. Trung úy hải quân Bizot trở thành viên Quản đốc thứ hai của nhà tù Côn Đảo tiếp nhận chuyến tù tiếp theo gồm 45 người do tàu Écho mới chở ra.

Cùng với việc xây dựng nhà tù, nhà cầm quyền Pháp còn chăm lo đến việc tổ chức bộ máy tư pháp. Ngày 25-7-1864, Thống đốc Nam Kỳ ban hành Sắc lệnh đầu tiên về tổ chức hệ thống tòa Tây án và tòa Nam án. Ngày 9-11-1864, Nha Nội chính (Direction de l’ Intérieur) ra đời để chuyên tâm vào việc nghiên cứu, theo dõi và giải quyết mọi công việc liên quan đến vùng đất Nam Kỳ thuộc Pháp. Paulin Vial được cử làm Giám đốc Nha nội chính(3).

Gần như tức thì, Nha Nội chính đã đệ trình nhiều phương án và giải pháp tiến tới việc mở rộng thuộc địa ở Nam Kỳ cho Nhà nước Pháp. Căn cứ vào các đề xuất tháng 2-1865, Thống đốc Nam Kỳ phái người ra Huế yêu cầu triều đình hạ lệnh cấm việc chiêu mộ nghĩa binh, giao cho quan lại cấp tỉnh, phủ, huyện trách nhiệm bắt giữ những người vi phạm lệnh này. Trong việc đền bù chiến phí, nếu không đủ bạc thì triều đình có thể gán nợ bằng các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Yêu sách kể trên đã khiến Tự Đức phải đốc thúc Bộ Hộ và Nội vụ phủ hối hả kiểm xét, thu thập tất cả các đồ dùng bằng bạc, bạc khối, bạc đĩnh tổng cộng được 72 ngàn lạng đem nộp thêm nhưng vẫn không đủ. Do đó, đến tháng 4-1866 Thống sứ Nam Kỳ lại cử phái viên đáp tàu ra Huế đưa thư yêu cầu giao lại các tỉnh trên để trừ vào số bạc còn thiếu. Phan Thanh Giản được cử vào Sài Gòn thương thuyết nhưng vẫn không làm vợi đi tham vọng của quân xâm lược.

Tháng 10-1866, Paulin Vial lại được cử ra Huế đe dọa chiến tranh. Các thân phiên, đình thần và Viện Cơ mật không tìm được lối thoát buộc Tự Đức phải quyết định xin đổi 3 tỉnh miền Tây lấy 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Tại Côn Đảo, Đại úy Jean Baptiste Boubé thuộc Trung đoàn 4 thủy quân lục chiến được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng đặc biệt. Trong khi chờ đợi viên sĩ quan này ra nhận chức, Héral de Brises – Trung úy thuộc trung đoàn 3 thủy quân lục chiến tạm quyền(4).

Ngày 20-6-1867, thực dân Pháp đưa quân đánh chiếm Vĩnh Long lần thứ hai. Ngày 22-6-1867 chúng chiếm Châu Đốc (An Giang). Ngày 24-6-1867 tiến đánh Hà Tiên. Ngày 25-6-1867, Thiếu tướng hải quân De La Grandière ra tuyên bố Lục tỉnh Nam Kỳ hoàn toàn thuộc lãnh thổ của Pháp.

Tuy thành lập được vài năm, nhà tù Côn Đảo cho đến tận lúc này vẫn chưa có quy chế độc lập. Trong khi ngày 24-11-1869, Thống đốc Nam Kỳ G.Ohier cho ban hành quy định riêng về các hoạt động của Khám Lớn do Giám đốc Nha Nội chính soạn thảo nhưng mãi đến ngày 22-5-1871, Thống đốc Nam Kỳ Dupré mới ra quyết định trợ cấp cho toàn bộ lực lượng đồn trú tại Côn Đảo mỗi tháng 300fr để cải thiện bữa ăn trưa vì giá lương thực, thực phẩm so với đất liền quá cao; khoản tiền này do ngân sách địa phương đài thọ(5). Gần hai tháng sau, ngày 8-7-1871, Thống đốc Nam Kỳ quyết định bổ sung một số điều:

1) Kể từ ngày 1-7-1871, nhà tù Côn Đảo được đặt dưới quyền kiểm soát của Giám đốc Nha Nội chính, mọi khoản chi tiêu do ngân sách địa phương cung cấp.

2) Lương cho đội ngũ nhân sự được trả như sau:

– Quản đốc nhà tù 12.000 fr/năm kể cả phụ cấp độc hại và các khoản trợ cấp khác.
– Mỗi giám ngục từ 2.100-2.400fr/năm tùy theo cấp bậc.
– Tám thủy quân lục chiến, mỗi người 1.080fr/năm.
– Giám thị trưởng và Thư ký được hưởng thêm 400fr/năm tiền phụ cấp lương thực.
– Đội lính gác đảm nhận việc canh giữ khu vực ngoài nhà tù, được trợ cấp thêm 100fr/năm để may trang phục, ngoài ra còn được nhận khẩu phần lương thực trả bằng hiện vật.
– Theo Quyết định ngày 22-5-1871, hàng tháng ngân sách địa phương có trách nhiệm trợ cấp 300fr để thủy quân lục chiến cải thiện bữa ăn trưa.

3) Quản đốc nhà tù Côn Đảo được quyền xử phạt tù nhân và các nhân viên làm việc tại nhà tù, thẩm quyền ngang với Thanh tra công việc bản xứ.

4) Các Nghị định ngày 14-7 và ngày 24-11-1869 quy định chế độ và nội quy của Khám Lớn (Sài Gòn) sẽ được áp dụng tại Côn Đảo sao cho phù hợp với tổ chức đặc biệt của nhà tù(6).
Quản đốc nhà tù Côn Đảo đã căn cứ vào chương 9 của bản quy định ngày 24-11-1869 của Khám Lớn (Sài Gòn) áp dụng:

1) Chỉ có các nghi phạm, tù nhân thường mới được giam giữ trong các phòng thoáng khí. Các tù nhân trung chuyển bị đưa vào các phòng giam đặc biệt. Tù nhân bị kết án lao động khổ sai bị nhốt trong các phòng giam tách biệt. Bị cáo do tòa Nam xét xử không được giam chung với bị cáo do tòa Tây xét xử. Tù nhân vị thành niên giam riêng. Tuyệt đối cấm sự tiếp xúc, trò chuyện giữa các tù nhân ở các khu vực khác nhau, các loại tù khác nhau. Quản đốc nhà tù sẽ lên danh sách những tù nhân không chấp hành kỷ luật để buộc phải chịu hình thức dọn phân ở các nhà tiêu. Các trò chơi dưới mọi hình thức đều bị cấm. Không một tù nhân nào được phép cất giấu các loại dao và vật sắc nhọn. Khi ăn uống, làm việc phải giữ trật tự. Cấm hát hò, la hét, nói chuyện to, tụ tập để thỉnh cầu tập thể. Nếu làm mất, làm hỏng công cụ lao động do mình quản lý hoặc gây thiệt hại cho cơ sở vật chất của nhà tù, tù nhân phải chịu trách nhiệm; các tù nhân khác cùng phòng, cùng phân xưởng cũng bị liên đới. Cấm vẽ bậy, bôi bẩn, đóng đinh hoặc vật cứng lên tường. Cấm hút thuốc lá, ăn trầu đối với tù nhân. Các nghi phạm và bị cáo có thể được dùng trầu, thuốc nhưng dưới dạng nghiền nát.

2) Quy định về tín ngưỡng và tôn giáo: Những tù nhân theo đạo Thiên chúa sẽ được dự các buổi cầu nguyện và giảng giáo lý. Theo sự thỏa thuận và đề xuất của Quản đốc nhà tù và mục sư, Giám đốc Nha Nội chính chịu trách nhiệm sắp xếp giờ cầu nguyện và giảng đạo nhưng không được trùng với giờ tù nhân lao động(7).

Do việc tăng thêm nhân viên, binh lính và tù nhân, ngày 5-10-1871, Thống đốc Nam Kỳ ra quyết định nâng quỹ dự trữ cho nhà tù Côn Đảo từ 5.000fr lên 8.000fr.

Sau một thời gian áp dụng quy chế Khám Lớn (Sài Gòn) và bắt tay soạn thảo, ngày 31-1-1873, Thống đốc Nam Kỳ Dupére ký Nghị định ban hành Quy chế riêng cho nhà tù Côn Đảo gồm 43 điều, không có gì khác nhiều so với quy chế Khám Lớn, chỉ gia giảm những đối tượng tù nhân không liên quan, đưa thêm sự hà khắc đối với lao động khổ sai và các biện pháp trừng phạt tù nhân.

Một trong những quy chế mà thực dân Pháp hết sức lúng túng khi thực thi tại Côn Đảo là do quy định không rõ trách nhiệm của Chỉ huy trưởng đặc biệt và Quản đốc nhà tù, giới hạn về mặt dân sự và quân sự của mỗi bên đến đâu rất khó phân định. Trước sức ép ngày càng gia tăng, ngày 8-7-1871, Thống đốc Nam Kỳ đã phải ra Nghị định bãi bỏ chức vụ Chỉ huy trưởng đặc biệt ở Côn Đảo nhưng không nhận được sự đồng tình của Tổng biện lý và Giám đốc Nha Nội chính(8), vì lý do khuyết người quản lý hồ sơ nhân sự của các công dân Pháp và người nước ngoài khác cư trú tại Côn Đảo. Để dung hòa một phần, ngày 29-7-1871, Thống đốc Nam Kỳ giao cho Quản đốc nhà tù tạm thời đảm nhiệm thêm phần công việc trên. Trước sự phản đối ngày càng mạnh, Thống đốc Nam Kỳ phải cho công bố Sắc lệnh ngày 14-5-1876 của Tổng thống Pháp về việc bổ nhiệm trở lại chức Chỉ huy trưởng đặc biệt và giao cho Giám đốc Nha Nội chính có trách nhiệm thi hành, kể cả việc công bố trên tờ Thư tín Sài Gòn và Công báo Nam Kỳ thuộc Pháp(9).

Nhằm thực hiện các thay đổi trên, ngày 11-4-1877 Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định giao các thẩm quyền Tổng biện lý phụ trách các vấn đề pháp lý bản xứ và việc quản lý hồ sơ người Pháp và người nước ngoài cho Chỉ huy trưởng đặc biệt tại Côn Đảo. Trong trường hợp có sự cố hoặc do Chỉ huy trưởng đặc biệt vắng mặt, Quản đốc nhà tù được phép giải quyết theo phạm vi quyền hạn được quy định(10).

Mọi mối quan hệ đang diễn ra theo chiều hướng suôn sẻ thì ngày 13-1-1878, Thống đốc Nam Kỳ lại ra Nghị định điều Trung tá hải quân Dosnematin Dorat đang giữ chức Chỉ huy trưởng đặc biệt để nhận nhiệm vụ trợ lý cho Đại tướng Chỉ huy tối cao lực lượng viễn chinh Pháp ở Việt Nam(11). Chức vụ chỉ huy trưởng đặc biệt tại Côn Đảo thực sự chấm dứt bởi Sắc lệnh ngày 16-5-1882 của Tổng thống Pháp, theo đó Sắc lệnh ngày 14-5-1876 bị bãi bỏ, Côn Đảo chính thức trở thành đơn vị hành chính dân sự cấp quận của Nam Kỳ thuộc Pháp và đặt dưới quyền điều khiển của Tổng tham biện phụ trách các vấn đề bản xứ(12).

Cho đến lúc này, nhà cầm quyền Pháp vẫn thực sự bối rối trong việc lựa chọn mô hình tổ chức cho Côn Đảo. Ngày 1-6-1884, theo đề xuất của Giám đốc Nha Nội chính, Thống đốc Nam Kỳ cho thành lập Ủy ban nghiên cứu phương án thay đổi cơ cấu tổ chức hiện tại của Côn Đảo do Giám đốc Nha Nội chính làm Chủ tịch, Sertier làm Thư ký và một số thành viên bao gồm Jouvet, Jourdan (Cố vấn Hội đồng Quản hạt), 1 quan tòa (Tổng biện lý chỉ định), 1 bác sĩ (Giám đốc Sở Y chính chỉ định), Chánh Văn phòng Văn phòng 3, Courteaud (nhân viên), Bocquet (nhân viên hành chính tập sự). Ủy ban này có nhiệm vụ nghiên cứu những phương án thay đổi cả về mặt hành chính cũng như tổ chức của nhà tù(13).

Suốt trong 5 năm tồn tại, Ủy ban không làm được gì nhiều, ngoại trừ việc đề nghị bổ nhiệm Charles Berre – Phó phòng cấp 1 thuộc Nha Nội chính tạm thời liêm nhiệm chức vụ quyền Quản đốc nhà tù Côn Đảo từ ngày 26-5-1886. Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ trong phiên họp ngày 9-2-1887 đã ra quyết nghị thay đổi chức danh Quản đốc nhà tù Côn Đảo thành người đại diện cho chính quyền tức là chức danh Giám đốc. Chấp hành sự chỉ đạo trên, ngày 22-6-1887, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định bổ nhiệm Charles Berre vào chức Giám đốc Côn Đảo(14). Ngày 22-12-1888, theo đề nghị của Ủy ban và căn cứ vào chi phí cho việc xây dựng ngọn hải đăng ở hòn Bảy Cạnh, Toàn quyền Đông Dương đã cho phép trao quyền quản lý quỹ dự trữ cho kế toán nhà tù Côn Đảo, quỹ này giảm xuống mức 7.000fr(15).

Những cải cách đơn lẻ và nhỏ giọt tại Côn Đảo làm cho giới cầm quyền Pháp thiếu an tâm, do đó đến ngày 14-7-1889, Phó Thống đốc Nam Kỳ lại phải thành lập Ủy ban nghiên cứu – khảo sát thực trạng nhà tù Côn Đảo do Vilard đứng đầu cùng với các thành viên là Réne, Brousmichi, Igonel. Ngoài nhiệm vụ chính được giao như tên gọi, Ủy ban này còn có trách nhiệm đề xuất các phương án và giải pháp cần thiết về cơ cấu, tổ chức của nhà tù(16).

Các thành viên đã tập trung rà soát lại toàn bộ văn bản có liên quan như Nghị định ngày 8-7-1871 về tổ chức lại nhà tù Côn Đảo, Nghị định ngày 31-1-1873 về tổ chức hoạt động nội bộ của nhà tù Côn Đảo, Sắc lệnh ngày 23-5-1889 về bổ nhiệm Giám đốc Côn Đảo, Sắc lệnh ngày 17-6-1889 về tổ chức hệ thống tòa án ở Đông Dương, Thông tư ngày 13-7-1889 về nội quy các nhà tù ở Nam Kỳ. Ngoài ra, các thành viên còn tiến hành khảo sát thực địa, lập báo cáo, đề xuất các giải pháp(17).

Theo đề xuất của Ủy ban khảo sát – nghiên cứu thực trạng nhà tù Côn Đảo, ngày 11-12-1889, Phó Thống đốc Nam Kỳ đã ký Nghị định về quy định nhà tù Côn Đảo gồm 24 chương, 122 điều. Bản quy chế quy định rõ ràng, chi tiết các chức danh, số lượng của mỗi chức danh làm việc tại nhà tù, mức lương và trách nhiệm của từng chức danh. Ngoài ra, còn nêu rõ các vấn đề về tài chính của nhà tù, việc khám chữa bệnh, trang phục, vũ khí và thiết bị.
Đối với tù nhân, quy chế quy định:

– Về thực phẩm: khẩu phần ăn hàng ngày: 800g gạo, 250g cá muối hoặc 750g gạo và 400g cá tươi. Nếu có điều kiện, mỗi tuần 2 lần sẽ được 750g gạo, 250g thịt lợn, 100g rau xanh. Tù nhân làm trong trang trại hoặc hầu việc được nhận lương thực, thực phẩm chưa nấu.
Giám lại ngục được phép buộc mỗi tù nhân nộp tối đa 50kg củi trong một ngày.

– Về trang phục: mỗi năm phát hai bộ quần áo vải nhuộm xanh. Tù nhân chạy giấy hay hầu việc được mang trang phục bằng vải trắng. Nữ tù nhân được phát một váy, 2 quần dài.

– Đồ dùng để ngủ: mỗi tù nhân có 1 giường lính, 1 chiếu. Mùa lạnh thêm 1 chiếu.

– Về lao động: tù nhân phải làm việc liên tục không được nghỉ ngơi, có lính canh gác và áp tải.

– Về chế độ kỷ luật: cấm mang theo các loại dao và vật sắc nhọn vào nhà tù; cấm ồn ào, huyên náo; cấm nói to, la hét, tụ tập, kiến nghị tập thể; không được giữ tiền; tất cả tù nhân phải cạo trọc đầu, trừ nữ tù nhân và một vài trường hợp được phép.

Bản quy chế còn nêu rõ: Côn Đảo là khu vực đóng kín; người châu Âu, người châu Á đều không được cư trú trên đảo, ngoại trừ số người được phép đến làm nông nghiệp… Có chế độ khen thưởng cho việc bắt được tù nhân trốn trại.

Như vậy, cho đến hết năm 1889 tại nhà tù Côn Đảo có tới 87 giám lại ngục, giám thị, nhân viên và binh lính. Theo quy định, còn có một đại đội chính quy thuộc Binh đoàn thuộc địa để bảo đảm thực thi các điều khoản của Nghị định trên.

Tuy nhiên, chữ ký trên bản Nghị định ngày 11-12-1889 chưa ráo mực thì Hội đồng y tế cấp cao đã đòi rút bớt một bác sĩ tại Côn Đảo. Đúng vào ngày ban hành Nghị định trên, Hội đồng Tư mật Nam Kỳ đã phải họp khẩn cấp đề nghị được giữ lại cả hai bác sĩ và cho rằng đây là việc làm cần thiết không phải số người trên đảo quá đông mà là vì cho đến tận thời điểm ấy, Côn Đảo vẫn không hề có đường dây liên lạc điện thoại nào nối với Sài Gòn. Trong trường hợp xảy ra dịch bệnh, quân đội có thể sẽ không được cứu chữa vì biết đâu bác sĩ duy nhất ấy cũng là nạn nhân đầu tiên. Để đề phòng mọi tình huống xấu nhất, cần phải tăng gấp đôi số bác sĩ làm việc tại bệnh xá của nơi xa nhất trong vùng thuộc địa. Hội đồng y tế cấp cao họp vào ngày 20-2-1890 đã bác bỏ lời đề nghị này do điều kiện vệ sinh ở Côn Đảo đã được cải thiện đáng kể(18).
Trước tình hình trên, Bộ trưởng Jules Roche gửi báo cáo Tổng thống Pháp: “Theo Sắc lệnh ngày 25-5-1881 về quyền và nghĩa vụ của người bản xứ, các tù chính trị Việt Nam hiện đang bị giam giữ ở Côn Đảo. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp việc giam giữ đơn thuần các phần tử phiến loạn này tại Đông Dương chưa chắc đã là một giải pháp tốt cho an ninh trật tự. Thật vậy, nhiều lãnh tụ của các phe phái đối lập với chính quyền Pháp ở Đông Dương được dân chúng ủng hộ nên sau khi bị bắt vẫn tiếp tục giữ được uy tín và tiếng tăm của mình. Điều này có thể ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự.

Trước tình hình này, việc cần thiết phải làm là tiến hành giam giữ các bị cáo trên vào một nhà tù khác tại thuộc địa nhưng với điều kiện nhà tù đó phải ở cách xa những nơi đông đúc, như thế mới có thể tách các bị cáo ra khỏi dân chúng. Có thể qua đó mà việc áp dụng các hình phạt được quy định tại Sắc lệnh ngày 25-5-1881 mới có hiệu quả; mặt khác, nó còn có tác dụng răn đe đối với dân bản xứ”(19).

Những đề nghị trên đã có tác động không nhỏ đến việc thay đổi phương thức quản lý ở nhà tù Côn Đảo.

Trước hết là, chi phí cho nhà tù Côn Đảo quá lớn, trong khi các địa phương đã bắt đầu có nhiều ngục thất, nhiều nơi cần đến sức lao động của tù khổ sai trong việc xây dựng dinh thự, đường sá, cầu cống. Các xứ thuộc địa khác như Guane, Tân Calédoni, Tahiti có nhu cầu cấp bách đến mức Bộ Hải quân và Thuộc địa kêu cầu khắp nơi. Để đáp ứng phần nào các loại đòi hỏi khác nhau, ngày 12-7-1891, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định cho phép các tội phạm có án sẽ được đưa đi bất cứ nơi nào ở Đông Dương dùng cho công ích. Nhà tù Côn Đảo có chỉ tiêu đưa 200 tù nhân lên tàu Annamit ra Bắc Kỳ để làm con đường chiến lược Tiên Yên – Lạng Sơn. Một số tù nhân khác của nhà tù Côn Đảo cùng tù nhân Khám Lớn (Sài Gòn) được đưa đi xây dựng thành phố Vũng Tàu khiến cho số tù ở Côn Đảo vợi hẳn. Tình hình này làm xuất hiện các ý kiến về sự tồn tại của nhà tù Côn Đảo, về ngân sách đài thọ cho nhà tù và có nên phân tán tù nhân ở đây về cho các tỉnh quản lý hay không? Trong bối cảnh đó, ngày 10-1-1892, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định quy định, tất cả tù chính trị, tù khổ sai bị án 2 năm tù giam trở lên đều phải giam giữ ở Côn Đảo. Các tranh luận chính quyền vấn đề này chấm dứt.

Mặt khác, để mị dân, ngày 29-10-1891, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định bãi bỏ chế độ chém đầu bằng gươm, đặt mua từ Pháp một máy chém (guillotine), giao cho một người phụ trách việc hành quyết cho cả Nam Kỳ. Mỗi khi Côn Đảo cần, máy chém này lại được đưa từ Sài Gòn ra bằng tàu thủy, đặt ở ngay trước bệnh xá của đảo.

Về mặt nhân sự, ngày 4-1-1892, Thống đốc Nam Kỳ ấn định việc tổ chức lại vấn đề này ở các đảo và nhà tù Côn Đảo; bổ nhiệm Jacquet – quan chức chính phụ trách các vấn đề văn hóa giữ chức Quản lý hành chính nhà tù Côn Đảo. Đến ngày 1-12-1893, Jacquet còn được giao thêm nhiều thẩm quyền và đặc quyền với mức lương 9000fr/năm(20) (4.500fr từ nhà nước Pháp, số còn lại do quỹ thuộc địa chi). Ngày 25-6-1894, Phó Thống đốc Nam Kỳ Navelle cho phép tăng số lượng nhân viên bản xứ tại nhà tù Côn Đảo từ 2 Giám thị cấp 3 lên 8 Giám thị cấp 4 và đến này 4-10-1894 lại bổ sung 1 Giám thị bản xứ cấp 3 và 4 Giám thị bản xứ cấp 4(21).

Để bù đắp sự thiếu hụt về kinh phí, ngày 1-6-1895, Phó Thống đốc Nam Kỳ J.Fourès đã căn cứ vào các điều khoản đặc biệt tại Nghị định ngày 11-12-1889 và dựa vào đề xuất của Quản lý hành chính nhà tù Côn Đảo, ấn định cho các quan chức và nhân viên có sử dụng tù (ngoại trừ những người được quy định ở điều 100) đều phải nộp 3fr/năm coi như khoản thu về hoa lợi(22).

Tình hình nhà tù Côn Đảo thực sự nóng lên khi Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp nghiên cứu báo cáo về hoạt động của các nhà tù Đông Dương của Chánh thanh tra Verrier và ngày 31-3-1896 đã có Thông tư gửi tới Toàn quyền Đông Dương. Theo Thông tư này, nhà tù Côn Đảo vẫn giam giữ cùng một lúc nhiều loại tù nhân (đi đày, cấm cố, khổ sai, câu lưu) là điều bất hợp lý, tạo ra cho tù nhân hình phạt nặng hơn mức bị xử ở tòa án. Đó là chưa kể hình phạt đánh bằng roi mây – một hình phạt đã bị loại ra khỏi khung hình phạt của nước Pháp và bị nhân loại lên án. Thông tư còn yêu cầu đưa các loại tù nhân kể trên ra Tân Đảo, Guane và tại các xứ thuộc địa này, phải giam giữ người Việt Nam vào một nhà tù đặc biệt bởi kinh nghiệm cho thấy tù nhân Việt Nam thích nghi rất nhanh với hoàn cảnh, và kết quả lao động của họ thực sự là một bảo đảm chắc chắn đối với các nhà tù mà họ đã xây dựng nhằm phục vụ cho chính sách đô hộ ở Nam Kỳ. Để thành công hơn, cần đưa nữ tù nhân Việt Nam bị kết án khổ sai ra Guane để cùng với đàn ông Việt Nam bị lưu đày thành lập những trung tâm thuộc địa(23).

Ngày 14-8-1896, nhà cầm quyền Pháp đã ra Nghị định như sau:

“Phó Thống đốc Nam Kỳ tạm quyền
Chiểu Thông tư ngày 31-3-1896 của Bộ trưởng Bộ thuộc địa,
Chiểu Nghị định ngày 11-12-1889 về cơ cấu tổ chức nhà tù Côn Đảo,
Vì đã có nhiều nơi bãi bỏ hình phạt đánh bằng roi mây,
Sau khi được sự thỏa thuận của Cơ mật viện,
Ra Nghị định:

Điều 1- Nay bãi bỏ hình phạt đánh bằng roi mây được quy định tại điều 7 Nghị định ngày 11-12-1889.

Điều 2- Nghị định này sẽ được công bố và tống đạt đến những nơi cần thiết”(24).

Đồng thời, căn cứ vào báo cáo của các Thanh tra thuộc địa tham gia vào chuyến thị sát năm 1895 và đề xuất của Phó Thống đốc Nam Kỳ, ngày 30-10-1896, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định hủy bỏ những điều khoản có liên quan đến người đại diện hành chính được quy định tại Nghị định ngày 4-1-1892 để bổ nhiệm vào chức vụ Giám đốc nhà tù Côn Đảo với mức lương và phụ cấp 8.000fr (3.500fr do nhà nước Pháp trả, 3.500fr do chính quyền thuộc địa chi, 1.000fr chi phí dịch vụ và văn phòng phẩm), được hưởng các chế độ về quyền nghỉ phép, tiền lộ phí và các khoản khác như Phó ban Tổng Thư ký Chính phủ Đông Dương. Viên Trung tá hải lục quân đã về hưu Colbert Turgis được bổ nhiệm giữ chức vụ này trong Nghị định được ký cùng ngày. Louis Jacquet, đại diện hành chính tại nhà tù Côn Đảo chuyển sang ngạch Thanh tra nông nghiệp Nam Kỳ(25).

Qua 10 năm thực hiện quy chế về nhà tù Côn Đảo, khẩu phần ăn của tù nhân ngày càng trở nên tồi tệ do nạn bớt xén, chi ít khai nhiều. Từ đầu năm 1897, số tù nhân bị phù thũng vì thường xuyên phải ăn loại gạo mốc ẩm, cá thối mục ngày một gia tăng. Ngày 10-11-1898, Giám đốc nhà tù Côn Đảo buộc phải báo cáo thực trạng trên và ngày 12-11-1898, Phó Thống sứ Nam Kỳ đã ra Nghị định sửa lại điều 55 Nghị định ngày 11-12-1889 về khẩu phần ăn hàng ngày của tù nhân. Theo đó, mỗi tù nhân sẽ được 750g gạo, 300g thịt lợn, 100g rau xanh (5 bữa rau xanh/tuần) hoặc 800g gạo, 100g đậu khô (1 bữa/tuần) hoặc 800g gạo, 80g dưa muối (1 bữa/tuần) cho một ngày. Sau mỗi lần đánh bắt, nếu sản lượng cá đủ cho nhu cầu thì tù nhân sẽ được 400g cá tươi thay cho đậu và dưa muối. Ngoài ra, khẩu phần ăn của tù nhân còn có 50g mỡ lợn, không kể nước mắm và gia vị khác(26). Ngày 17-12-1898, Phó Thống đốc Nam Kỳ lại ấn định thêm, kể từ thời điểm này, trong trường hợp bất trắc xảy ra, nếu viên quản lý ngọn hải đăng Bảy Cạnh không tự giải quyết được vấn đề lương thực, thực phẩm cho mình thì nhà tù Côn Đảo mới phải chuyển đồ tiếp tế tươi sống đến đó.

Ngày 8-11-1902, Phó Thống đốc Nam Kỳ cho thành lập Ủy ban kiểm tra điều kiện vật chất và tinh thần tại nhà tù Côn Đảo do Chesne – Tham biện cấp I Sở Dân chính làm Chủ tịch; bác sĩ trưởng thuộc địa cấp I Métin, thanh tra quân đội thuộc địa cấp I Morange là thành viên. Ủy ban này sau khi hoàn thành công vụ sẽ đề xuất các giải pháp một cách toàn diện, kể cả vấn đề nhân sự và sinh hoạt vật chất tại nhà tù.

Đầu năm 1903, Ủy ban này hoàn thành công việc được giao. Căn cứ vào các văn bản và giải pháp, ngày 8-4-1903, Phó Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định đặc biệt cho nhà tù Côn Đảo. Trên cơ sở Nghị định, Giám đốc nhà tù Côn Đảo và Giám đốc các Sở Y chính Nam Kỳ, Cao Miên, Lào đã có nhiều đề xuất. Ngày 28-5-1904, Phó Thống đốc Nam Kỳ cho phép điều chỉnh khẩu phần ăn của tù nhân như sau:

– Các ngày chủ nhật, thứ 3, thứ 5: 600g gạo, 200g thịt lợn, 100g rau tươi, 100g chuối, 30g nước mắm, 10g muối, 3g hạt tiêu, 10g mỡ lợn, 15g chè.
– Các ngày khác trong tuần: 600g gạo, 250g cá muối hoặc 300g cá tươi, 100g chuối, 30g nước mắm, 10g muối, 3g hạt tiêu, 30g mỡ lợn, 15g chè(27).
Ngày 5-11-1909, Phó Thống đốc Nam Kỳ lại ra Nghị định hủy bỏ và thay thế đoạn 2 điều 94 trong Nghị định ngày 8-4-1903 về lượng củi sử dụng cho 1 ngày/người và giá mua 100 kg củi(28).

Quy chế về khẩu phần ăn và các chế độ khác đến với tù nhân được nêu ra trong các Nghị định do chính quyền thuộc địa ban hành trên đây chỉ tồn tại trên giấy, thực chất chỉ là những thủ đoạn nhằm đối phó với dư luận lên án việc đày ải, giết dần giết mòn tù nhân tại nhà tù Côn Đảo. Mặt khác, nó cũng biểu hiện sự lúng túng thực sự của nhà cầm quyền về quy mô của Côn Đảo này nên như thế nào và tên gọi chính xác của nó.

Chính vì những tốn kém và khó khăn kể trên mà ngay từ cuối thế kỷ XIX, đã xuất hiện nhiều ý kiến nên dỡ bỏ nhà tù Côn Đảo. Viên Phó Thống sứ Nam Kỳ Bocquét ngày 10-11-1899 đã ra Thông tư về một số vấn đề với các lý lẽ sau:

– Trong cuộc họp ngày 28-9-1899, sau khi đã nhất trí với chính quyền, Hội đồng Quản hạt đã quyết định dỡ bỏ nhà tù Côn Đảo vì nhà tù hiện nay không có khả năng đáp ứng chi phí giam giữ cho số tù nhân hiện có.

– Theo luật hiện hành, kể từ nay trở đi, tù nhân thụ án tại Côn Đảo sẽ được đưa đi làm việc công ích tại các địa phương hoặc thực thi các loại công việc yêu cầu tốc độ thực hiện nhanh nhưng thường bị trở ngại do quá trình tuyển mộ nhân công, nhất là vào thời điểm cấy gặt. Như vậy khu vực Côn Đảo sẽ có thể trở thành vùng thuộc địa tự do.

– Theo Nghị định ngày 10-1-1893, các nhà tù tại các địa phương chỉ được giam giữ tù nhân phạm trọng tội hoặc những tội có mức độ nguy hiểm tương đương xảy ra tại khu vực đó cho đến ngày bản án có hiệu lực và cả những tù nhân có hình phạt dưới 1 năm. Do đó nếu nhà tù Côn Đảo bị dỡ bỏ thì các nhà tù khác phải có đủ khả năng tiếp nhận cả những phạm nhân bị kết án 2, 3, 4 thậm chí là 15 năm tù và thêm vào đó, mọi điều kiện vệ sinh và an ninh cũng phải bảo đảm(29).

Quyết định dỡ bỏ nhà tù Côn Đảo rút cục bị xếp lại dù vào tháng 11-1904 tại đây, nhà cầm quyền Pháp cho thiết lập trạm quan sát khí hậu, thời tiết nằm trong hệ thống quan sát khí tượng Đông Dương. Ngày 17-8-1909, Phó Thống đốc Nam Kỳ cho thành lập một Ủy ban do Teulet, Chánh án tòa án đệ nghị cấp làm Chủ tịch, cùng một số thành viên khác (thư ký của Ủy ban do Thư ký Sở Dân chính đảm nhiệm, cố vấn thuộc địa, nhân viên tòa án, viên chức công chính, Chánh án văn phòng Văn phòng 1) có nhiệm vụ nghiên cứu các phương án chuyển nhà tù Côn Đảo thành một banh (le bagne)(30) ở Đông Dương, phục vụ cho mục đích giam giữ tất cả những người bị kết án lưu đày biệt xứ và tù khổ sai châu Á tại Đông Dương. Ủy ban này phải đưa ra các kiến nghị về việc xây mới nhà tù Côn Đảo và tổ chức hành chính, đi kèm với nó là chế độ kỷ luật. Trong trường hợp cần thiết, Giám đốc nhà tù Côn Đảo có trách nhiệm tiếp thu các ý kiến đề xuất của Ủy ban.

Chuẩn bị xong cơ sở vật chất cho địa ngục trần gian tại Côn Đảo, ngày 19-12-1915, Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh liên quan đến những tội phạm bị kết án phát lưu ở Đông Dương với các quy định dưới đây:

– Chế độ phát lưu có hai loại: phát lưu tập thể (relégation collective) và phát lưu cá nhân (relégation individuelle).

– Địa điểm dành cho phát lưu tập thể là Côn Đảo (đối với những người Việt Nam và châu Á có nguồn gốc là người Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Thượng Lào, Quảng Châu Loan) và các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang (đối với những người Việt Nam và châu Á có nguồn gốc là người Nam Kỳ, Khơme, Hạ Lào và Battambang).

– Số người bị phát lưu tập thể sẽ do chính quyền sở tại bố trí công việc để họ lao động. Cơ sở lao động có thể là những cơ sở thuộc chính quyền hoặc của tư nhân sở tại. Nếu là của tư nhân thì phải được sự đồng ý của Toàn quyền Đông Dương (sau khi đã tham khảo ý kiến của Thống đốc Nam Kỳ hoặc Thống sứ Bắc Kỳ và Giám đốc Sở Tư pháp Đông Dương). Số tù phạm này được trả lương nhưng chính quyền phải giữ phần lớn số lương đó để trừ vào chi phí cấp dưỡng tù nhân. Mức lương và mức trừ các khoản chi phí đó sẽ do Toàn quyền quyết định.

– Người bị kết án phát lưu tập thể có thể làm đơn xin chuyển sang chế độ phát lưu cá nhân. Chính quyền địa phương kết hợp với tòa án sẽ xem xét trên cơ sở thái độ của đương sự trong thời gian còn ở chế độ phát lưu tập thể và xem xét đương sự đó đã có nghề chuyên môn tự kiếm sống không. Toàn bộ hồ sơ phải chuyển cho Giám đốc Sở Tư pháp, Toàn quyền Đông Dương mới ra quyết định chính thức cho người đó được chuyển sang chế độ phát lưu cá nhân. Trường hợp đơn bị bác bỏ thì 6 tháng sau mới được làm đơn lại.

– Người được hưởng chế độ phát lưu cá nhân có thể được tự do hành nghề của mình để tự kiếm sống hoặc có thể tự do ký giao kèo lao động với các cơ sở lao động của chính quyền hoặc của tư nhân, song vẫn phải ở nơi khác với nơi quê hương bản quán của mình hay khác với nơi mình đã gây án. Ngoài ra, chính quyền sẽ phát cho mỗi người một số riêng, trong đó ghi rõ tên gọi, bí danh, nhận dạng, hộ tịch, trạng thái pháp lý, thời hạn và nơi phải đến trình diện theo định kỳ. Trường hợp tái phạm một tội nào đó thì Toàn quyền Đông Dương sẽ ra quyết định hủy bỏ quyền được hưởng chế độ phát lưu cá nhân.

– Người bị kết án phát lưu tập thể cũng như phát lưu cá nhân đều có thể được chính quyền xét và tạm cấp cho một mảnh đất để tự canh tác thêm. Nếu không có vi phạm gì thì người đó có thể trở thành người sở hữu mảnh đất với hai điều kiện sau: một là, phải là người đang được hưởng chế độ phát lưu cá nhân; hai là, mảnh đất tạm cấp đã được canh tác liên tục 7 năm liền kể từ ngày tạm cấp(31).

Song song với việc ban hành các văn bản pháp quy, ngày 22-4-1916, Toàn quyền Đông Dương còn ban hành Nghị định cho củng cố, mở rộng và xây dựng thêm một số nhà tù ở các tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Sơn La, Lai Châu và đảo Cái Bàu. Giới thực dân cho rằng, nhà tù Cao Bằng giáp biên giới, tù nhân dễ vượt ngục; nhà tù Thái Nguyên chưa xây dựng xong; nhà tù ở đảo Cái Bàu đang xây dựng thì bỏ dở còn nhà tù Sơn La và Lai Châu chỉ là nơi giam giữ đơn sơ, chưa thích hợp với việc giam giữ các tù nhân nguy hiểm. Do đó phải củng cố vững chắc các nhà tù Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng; tiếp tục xây dựng cho thật kiên cố nhà tù đảo Cái Bàu, cần phải tập trung đầu tư cho nhà tù Thái Nguyên giống như nhà tù ở Côn Đảo.
Ngày 17-5-1916, Toàn quyền Đông Dương đã ra ba Nghị định:

1) Nghị định về chế độ tù phát lưu ở Đông Dương. Nghị định có các nội dung: địa điểm ấn định cho tù phát lưu, điều kiện yêu cầu và đề đạt, việc xin làm công tại các cơ sở lao động, vấn đề tạm cấp đất đai để canh tác, việc chuyển thành sở hữu, trường hợp tù nhân ở với gia đình, trường hợp tù nhân lấy vợ, trường hợp tù nhân chết. Đây là văn bản triển khai Sắc lệnh 19-12-1915 của Tổng thống Pháp.

2) Nghị định về chế độ tại các nhà tù ở Nam Kỳ gồm 3 chương, 24 điều khoản.

3) Nghị định về quy chế mới cho nhà tù Côn Đảo gồm 20 chương, 109 điều, hoàn chỉnh hơn, nghiệt ngã hơn, nhất là các vấn đề quy định tại:

– Chương 19. Phân loại tù nhân. 92) Tù khổ sai tại nhà tù Côn Đảo được chia làm 3 loại dựa vào tội trạng, thái độ và sự mẫn cán trong công việc. 93) Tù loại 1 có nhiều tiến bộ, được phép nhận doanh điền hoặc làm công cho dân trong vùng. 94) Tù loại 1 không nhận doanh điền được đi học hoặc đi làm trong phân xưởng, công trường. 95) Chỉ riêng tù loại 1 mới được Toàn quyền Đông Dương xét xá tội, giảm tội; tù loại 2 và loại 3 nếu tỏ ra dũng cảm, trung thành có thể được xem xét. 96) Tù loại 2 được đưa đi làm việc công ích phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích thuộc địa. 97) Tù loại 3 phải làm việc nặng nhọc nhất và có thể bị cách ly với các loại tù khác. 98) Việc phân loại tù căn cứ theo tội trạng, năng lực. 99) Chính quyền ra quyết định chuyển loại tù nhân, nhưng buộc tù nhân phải trải qua một thời gian chịu án theo quy định. 100) Chính quyền có quyền đề nghị đưa tù nhân xuống loại thấp và đưa vào phòng biệt giam hoặc ngục thất. 101) Tù nhân lưu đày bị giam trong xà lim, bị câu lưu do gây trọng tội hoặc các tội khác tương đương đều bị xếp loại 3. 102) Nếu không hoàn thành công việc, tù nhân chỉ được ăn cơm nhạt và uống nước lã.

Chương 20. Những khu trại trừng giới dùng để cầm cố những tù nhân không chịu hối cải: 103) Tù loại 3 được xếp vào loại này phải cách ly hoàn toàn với các loại tù khác và phải tuân theo chế độ đặc biệt. 104) Tù nhân không chịu cải tạo bị đưa vào nhà hoặc trại trừng giới. 105) Giám đốc nhà tù Côn Đảo sẽ đề xuất ý kiến lên Toàn quyền Đông Dương quyết định cần phải đưa ai vào nhà, trại trừng giới. 106) Thời gian bị giam trong nhà, trại trừng giới là vô hạn định, tối thiểu là 6 tháng, nó hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ lao động cũng như lỗi lầm mắc phải. 107) Tù nhân trong nhà, trại trừng giới phải làm những công việc nặng nhọc nhất trên công trường đặc biệt, không được phép tiếp xúc với tù nhân khác. 108) Thống đốc Nam Kỳ có thể nâng cấp các vùng trở thành khu vực giam giữ mà trong đó tù khổ sai sẽ được đưa vào làm việc. 109) Thống đốc Nam Kỳ, Tổng biện lý, Giám đốc Sở Tư pháp Đông Dương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Theo ông Trần Huy Liệu, nhà tù Côn Đảo gồm có những tù ở có các án khác nhau như sau:

1. Án cấm cố (détention).
2. Án phát lưu (déportation)
3. Án phóng trục (bannissement).
4. Án khổ sai (travaux forcés).
5. Án giam (prison)
6. Án lưu (relégation).
7. Án đồ và án đồ bị giam luôn luôn ở trong phòng (réclusion et téclusion cellutalre).
8. Những người chống án về tòa án bên Pháp (cour de cassation).

Trong các án trên đây lại phân biệt chính trị phạm và thường sự phạm. Những người bị kết án vào những án cấm cố, phát lưu và phóng trục thì toàn là những chính trị phạm, vì những án ấy là án chính trị; ngoài ra lại có một số đông chính trị phạm mà kết án khổ sai và án giam: theo án thì những người này không có gì khác với những người thường sự phạm cũng bị kết vào án ấy, nhưng nguyên nhân của nó vẫn là nguyên nhân chính trị. Người ta nói: những án chính trị nào mà có tính chất nguy hiểm hơn như bạo động, án mạng, lưu huyết, v.v. thường bị kết vào án khổ sai, còn những án nào có tính chất nhẹ nhàng hơn và biểu tình, làm rối loạn cuộc trị an, v.v. thì thường chỉ kết vào án giam. Án khổ sai là án nặng hơn những án chính trị kia, nhưng án giam thì lại nhẹ hơn. Tuy vậy, theo chỗ tôi thấy, thì nhiều chính trị phạm có những trường hợp (cas) rất thường mà cũng bị kết vào án khổ sai, nên không rõ trong đó còn có những nguyên nhân gì khác nữa.

Số chính trị phạm ở Côn Lôn hiện nay, người ta ước cả thảy độ non một nghìn người; còn thì là những thường sự phạm, theo danh từ mới trong nhà tù, người ta quen gọi là tù kinh tế. Các danh từ “tù kinh tế” không biết do đâu đặt ra, là có ý đối lập với “tù chính trị” mà nói.
Hai chữ “kinh tế” không bao quát được các trường hợp khác nhau. Ví dụ: tội nhân bị vào những tội như ăn cướp, ăn cắp v.v.. thì cắt nghĩa là vấn đề kinh tế đã đành; thế nhưng những tội phạm như tức khí đánh nhau, cưỡng gian, v.v.. thì cắt nghĩa thế nào cho xuôi được là vì vấn đề kinh tế? Tuy vậy cái danh từ ấy đã lưu hành nhiều và phổ thông lắm rồi; từ mấy nơi nhà tù trong đất như Hỏa Lò (Hà Nội), Sơn La; Khám Lớn (Sài Gòn), cho tới Côn Lôn đều thấy dùng cái danh từ ấy cả.

Theo chế độ nhà tù và sự giam giữ, người ta chia những án tù ra từng khu vực (catégorie) riêng, những tù khác án nhau không được ăn chung ở lộn và tiếp xúc với nhau. Nhất là tù chính trị và tù thường càng phải cách biệt nhau; mà ngay đến trong đám tù chính trị nếu khác án thì cũng không được gần nhau, nên nhiều khi đôi bên cách nhau chỉ một bức tường mà đã như ở vào một thế giới riêng(32).

4) Nghị định thay đổi khẩu phần gạo hàng ngày cho tù nhân, theo đó, mức 800g theo điều 27 Nghị định ngày 8-4-1903 được nâng lên 1kg(33). Tuy nhiên, đến ngày 22-1-1917, Thống đốc Nam Kỳ lại cho rút từ 1kg xuống còn 900g(34). Toàn quyền Đông Dương cũng ra Nghị định sửa đổi lại điều 82 Nghị định ngày 17-5-1916, theo đó Giám đốc nhà tù Côn Đảo có trách nhiệm bảo quản các tòa nhà, cơ sở vật chất và đồ đạc cũng như bảo đảm đủ ánh sáng cho toàn bộ khu vực nhà tù.

Ngày 6-7-1917, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định quy định địa điểm tập trung những người bị kết án phát lưu tập thể để tiếp tục triển khai việc thực thi Sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày 19-12-1915:

Đối với người Việt Nam và châu Á khác mà nguồn gốc là người Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Thượng Lào, Quảng Châu Loan phải đưa ra tập trung tại Côn Đảo. Địa điểm này trực tiếp đặt dưới quyền của Giám đốc nhà tù Côn Đảo và đặt dưới quyền kiểm soát tối cao của Thống đốc Nam Kỳ.
Đối với người Việt Nam và châu Á khác mà nguồn gốc là người Nam Kỳ, Khơme, Hạ Lào, Battambang thì phải đưa đi tại những khu vực nhất định nằm trong tỉnh Cao Bằng và Hà Giang. Những địa điểm này đặt trực tiếp dưới quyền Công sứ Cao Bằng, Hà Giang và đặt dưới quyền kiểm soát tối cao của Thống sứ Bắc Kỳ.

Một nghị định khác cũng do Toàn quyền Đông Dương ký trong ngày 17-5-1916, quy định việc sử dụng những nhân công bị kết án phát lưu tập thể(35).

Từ thời gian này cho đến năm 1930, các luật lệ dành cho Côn Đảo nhìn chung đi vào ổn định, ngoại trừ một số thay đổi nhỏ vào các năm 1926 và 1928(36).

Qua sơ đồ dưới đây(37), nhà tù Côn Đảo duy nhất thuộc cấp liên bang tuy nó trực tiếp thuộc quyền của Thống đốc Nam Kỳ. Cũng như vậy, nhà tù Hà Giang, Cao Bằng thuộc cấp kỳ nhưng vẫn do Công sứ hàng tỉnh quản lý. Đây có lẽ là một đặc trưng của hệ thống nhà tù do thực dân Pháp dựng lên ở Việt Nam trước năm 1930. Chính nét đặc trưng này đã tạo cho nhà tù Côn Đảo có đẳng cấp trong hệ thống nhà tù ở các nước thuộc địa, làm cho nó ngang tầm cỡ với hệ thống nhà tù ở Guane, Tân Calédoni và trở nên đáng sợ nhất ở trong nước(38), được mệnh danh là có lợi ích chung cho các xứ thuộc Liên bang Đông Dương như Quyết định ngày 8-1-1904, các tù nhân sẽ được đưa đi bất cứ nơi nào thuộc Pháp quốc hải ngoại (France d’ Outremer), để dùng vào các việc công ích như Quyết định ngày 12-7-1891.

Lúc mới xây dựng, nhà tù Côn Đảo chỉ là những lán trại đơn sơ, mái tranh vách nứa nhưng do số lượng tù nhân đưa đến đây ngày một đông, trong số đó có nhiều quốc sự phạm nguy hiểm nên nhà cầm quyền Pháp đã nhanh chóng tận dụng những vật liệu xây dựng sẵn có để dùng cho việc kiên cố hóa hệ thống các nhà giam bằng các loại gỗ tốt, đá vôi, san hô.

Thông thường, các nhà giam được thiết kế và cấu trúc giống nhau. Tường được xây bằng đá hộc, đá tảng. Ở các góc tường đều có tháp canh và hệ thống chiếu sáng.

Phòng giam có nhiều loại. Phòng tập thế có thể chứa đến hàng chục và khi cần chúng nhồi nhét đến hàng trăm tù nhân. Phòng cá nhân gọi là nhà hầm hoặc xà lim không có hố xí, tù nhân ngủ ngay trên bục xi măng, hoàn toàn không có bóng dáng của giường lính và chiếu như quy định. Cửa ra vào làm bằng sắt, ngăn ánh sáng hoàn toàn không cho tù nhân được hưởng một chút không khí và ánh sáng tự nhiên.

Nhìn trên tổng thể, đến năm 1930 hệ thống giam giữ và quản lý tù nhân ở Côn Đảo gồm nhiều phòng giam (tức là các banh) và các sở chuyên môn – gọi tắt là sở tù.

Banh I được khởi dựng từ một 1862 nhưng phải đến năm 1889 mới được xây dựng kiên cố và năm 1896 hoàn thành. Vào khoảng 1876, tại đây đã có 5 phòng giam ở dãy bên phải, 2 trạm gác của lính, 9 gian nhà kho và 1 kho gạo ở bên trái sát với cổng. Đến cuối năm 1885, có thêm 4 gian cấm cố và 16 xà lim ở phía cuối; mỗi xà lim có kích thước 1,3m x 1,9m (xà lim đơn) và 4 xà lim đôi có kích thước 2,6m x 1,9m; giữa trại có một dãy nhà tranh kích thước 10m x 35m. Sau khi hoàn chỉnh, Banh I là một khu nhà được xây dựng kiên cố bằng gạch ngói, nằm khuất trong bốn bức tường đá cao hơn 3m, trên cắm nhiều mảnh thủy tinh sắc nhọn; bốn góc đều có tháp canh. Tuy đã được gia cố nhiều nhưng trong khuôn viên của Banh I vẫn còn một số phòng giam nhỏ sơ sài, tường đất mái tranh hoặc vách gỗ, mái ngói.

Banh I nằm ở trung tâm thị trấn Côn Đảo có tổng mặt bằng 12.015m2 bao gồm 10 khám lớn, trong đó có 1 khám tử hình, 20 xà lim biệt giam bằng đá, 1 khám đặc biệt, 1 hầm xay lúa đồng thời là nhà trừng giới.

Trước cửa Banh I là Văn phòng Giám lại ngục – còn gọi là Giám thị trưởng hoặc Sếp chánh. Sau Banh I là văn phòng của Giám thị Tây, bên trái là trại lính Tây. Giữa hai dãy khám là một khoảng sân trồng hai dãy bàng. Phía cuối là giếng nước, khu nhà bếp, có tường đá ngăn cách với nơi giam giữ tù nhân khổ sai loại 1.

Mỗi một khám lớn rộng chừng 150m2, tường xây bằng đá dày 50-60cm, mở 4 ô cửa sổ hẹp đặt cao giáp mái ngói, một tấm tôn dày có đục nhiều lỗ nhỏ bịt kín ô cửa sổ thay cho trấn song. Cửa ra vào khám rất hẹp, cánh bằng gỗ dày nẹp sắt, ổ khóa thô và nặng. Bên trong cửa gỗ là chuồng cửa tạo nên bằng nhiều gióng sắt làm thành một cái lồng sắt kiên cố, được đóng mở bằng hai chốt đặc biệt.

Các xà lim biệt giam xây nổi trên mặt đất, 10 phòng đối lưng vào nhau. Mỗi phòng biệt giam nhỏ thì nhốt 1-2 tù nhân, chiều dài hơn 2m, chiều rộng hơn 1m, cao hơn 2m, xây bằng đá, trần xây cuốn, chỉ để hở một cái lỗ nhỏ bịt kín bằng lưới sắt. Sàn nằm bằng xi măng, chôn một cái cùm gồm một suốt và hai vòng sắt. Cửa bằng sắt dầy. Vách hầm sơn hắc ín. Tù nhân trần truồng, chân bị cùm nằm ngửa mặt lên trần. Khi bị đưa vào phòng biệt giam, ba ngày đầu tù nhân bị nhịn ăn, ngày thứ tư được một nắm gạo xay rối, ngày thứ năm mới được một nắm cơm nhỏ. Một tháng phải ăn cơm nhạt, uống nước lã 10 ngày. Xà lim biệt giam lớn có thể nhốt tới 5-7 tù nhân.

Hầm Xay lúa là nơi nhốt những tù nhân đã từng bị nhốt ở phòng biệt giam và cùm kẹp không khuất phục được. Nó bao gồm một khám giam có bệ xi măng để nằm và một gian đặt cối xay lúa khổ sai làm bằng vỏ thùng tôn cũ, 6 tù nhân khổ sai mới quay nổi. Mỗi hầm có 5 cối xay. Tù nhân bị đày xuống đây bị xiềng thành từng cặp, quần quật xay lúa từ 6 giờ sáng đến 5 giờ chiều.

Hồi đầu thế kỷ XX, hai phòng đầu của dãy nhà khám phía trái được ngăn riêng để giam quốc sự phạm như Huỳnh Thúc Kháng và nhiều chí sĩ yêu nước khác.

Banh II xây dựng từ năm 1916 (có tài liệu nói năm 1917) có tổng mặt bằng là 13.228m2, lấy thợ ở Sở Tràng Tiền thi công, gồm Văn phòng Giám lại ngục, hai dãy khám lớn được làm cao hơn, có cầu thang sắt cho giám thị đi tuần và 14 xà lim biệt giam. Cuối sân, là trạm xá và nơi đặt máy chém mỗi khi hành quyết tù nhân.

Banh II được dùng làm nơi giam tù chính trị nhưng cũng là nơi để nhốt những tù nhân vượt ngục bị bắt trở lại, các tù nhân bị tử hình sắp thi hành án.

Banh III khởi công năm 1925 (có tài liệu nói năm 1928), nằm cách các banh xây trước chừng 1km, diện tích mặt bằng là 962m2 gồm 3 dãy khám, chia thành 2 khu tách biệt. Lúc đầu nó được xây dựng để dùng cho việc tạm giam tù nhân ở đất liền mới được đưa ra đảo. Sau khi bị nhốt ở đây 8 ngày, tù nhân mới được phân đi các banh khác. Dần dần Banh III được dùng làm nơi giam những tù chính trị bị liệt vào hạng phá rối trị an, nguy hiểm.

Đây là khu vực có các công trình phụ chiếm tới 152m2, sân vườn 5.000m2.

Banh III phụ xây dựng năm 1930, có tổng diện tích 12.700m2 trong đó phòng giam tới 1.200m2 gồm 10 phòng khám lớn.

Trại lính, một báo cáo được viết vào tháng 2-1922 cho biết, vào thời điểm này, các trại lính đều nối liền với Banh I và Banh II, với quân số gồm 3 sĩ quan, 9 hạ sĩ quan, 133 cai và lính, nhu cầu xây dựng trại lính và khu nhà ở riêng rẽ là hết sức cần thiết.

Ngày 13-7-1922, Ban Thanh tra Sở Công chính Đông Dương đã trình một đề án khả thi về việc xây dựng trại lính Côn Đảo lên kỹ sư trưởng Debarnot, Thống đốc Nam Kỳ Cognacq, Chánh Thanh tra Sở Công chính Fefevre, Toàn quyền Đông Dương Baudoin.

Các sở tù được lập ra để bòn rút sức lao động khổ sai của người tù, đứng đầu mỗi sở là một giám thị người Pháp, dưới là các giám thị người Việt và cai tù. Tính đến năm 1930, tại nhà tù Côn Đảo có chừng 18 sở tù:

Sở Lưới: chuyên đánh bắt hải sản, quản lý tàu xuồng, khi cần thì truy bắt tù nhân vượt ngục. Số tù nhân làm việc ở đây tới 60-70 người.

Chương 19 của bản quy chế ngày 14-9-1889 ấn định các điều dưới đây về Sở Lưới:
86) Một lính gác người Âu cùng với phụ tá của mình là một lính gác người Tagal (Philippin), một thợ cơ khí người châu Á và 3 giám thị bản xứ; số lượng tù nhân tham gia vào việc đánh bắt cá sẽ do quản đốc quy định. Lính gác việc đánh bắt cá sẽ nhận lệnh trực tiếp từ quản đốc và phải nộp danh sách những người cùng đi đánh cá được lựa chọn.

87) Đội tàu phục vụ cho công việc của nhà tù cũng như cho việc đánh bắt cá gồm tàu thủy hơi nước, xuồng dành cho quản đốc, xuồng dành cho bưu điện, 2 xuồng phục vụ cho việc tiếp tế tới ngọn hải đăng Bảy Cạnh, 3 xà lan, 2 tàu đánh cá.

88) Tàu thuyền phải neo đậu ở bãi đánh cá, khóa bằng xích sắt, cắt cử người canh gác suốt ngày đêm.

89) Chưa được sự đồng ý của Quản đốc không được phép sử dụng tàu thuyền; lính gác người Âu chịu trách nhiệm trực tiếp về sự vi phạm và sẽ bị kỷ luật nghiêm khắc nếu tỏ thái độ thờ ơ…

96) Tất cả các tàu thuyền khi ra khơi đều phải kèm thêm 1 lính gác hay 1 thủy thủ được trang bị súng đã lên đạn. Khi nhổ neo, thuyền trưởng sẽ là người trực tiếp chịu trách nhiệm về tất cả mọi việc. Thuyền trưởng chỉ được phép lấy lưới đánh cá khỏi bãi nếu được Quản đốc cho phép.

97) Nhà tù được phép tiến hành đánh bắt cá trong phạm vi 3 dặm tính từ vùng lãnh hải thuộc địa phận Côn Đảo.

Sở Ruộng: chuyên đóng cày bừa, sản xuất dụng cụ canh tác.
Sở Làm Đá: chuyên bắn phá mìn lấy đá ở núi Chúa hoặc dùng dụng cụ thủ công để khai thác đá hộc, đá dăm làm đường, xây móng nhà, xây tường, xây cầu tàu.
Sở Kéo Cây, còn gọi là Sở Ông Câu, chuyên khai thác gỗ lớn, thả xuống biển, kết thành bè chờ xà lúp kéo về.
Sở Củi – Chuồng Bò: chăn nuôi bò, heo và cung cấp củi cho cả Côn Đảo (củi cho Nhà Đèn, củi cho hầm than, củi cho hầm vôi, củi cho Banh).
Sở Lò Gạch: sản xuất gạch xây dựng nhà ở và trại giam.
Sở Lò Vôi: chuyên nung san hô do Sở Chỉ Tôn khai thác và cung cấp để làm thành vôi.
Sở Muối: có khi tập trung đến 600 người ở làng An Hội làm muối cung cấp cho toàn đảo.
Sở Bản Chế (Bagnedes Métiers) đặt ở trung tâm thị trấn, làm thủ công và mỹ nghệ. Lại có xưởng cơ khí nhỏ.
Sở Tiêu là một doanh điền chuyên trồng hồ tiêu, mít, dừa.
Sở Rẫy An Hải là một doanh điền lớn, trồng nhiều loại cây ăn trái và cung cấp giống cây trồng cho toàn đảo.
Sở Cỏ Ống là doanh điền lớn hơn An Hải, thuộc làng Cỏ Ống, trồng nhiều loại cây nhưng chủ yếu là lúa
Sở Hòa Ni (vanillier): nơi tù nhân khổ sai trống thí nghiệm cây va ni.
Sở Bông Hồng, lúc đầu trồng hoa hồng rồi chuyển sang trồng rau quả.
Sở Rẫy Ông Lớn là khu vực vườn rộng của Quản đốc nhà tù, trồng cây ăn trái và nuôi vích, đồi mồi.
Sở Ông Đụng là sườn phía tây bắc núi Chúa, chuyên trồng khoai lang, thuốc lá, khoai môn, bí đỏ.
Sở Đất Dốc chuyên trồng cây ăn quả và nuôi gà vịt.
Sở Vệ sinh lo việc quét đường, hót rác.

Nguyễn Ngọc Tỉnh – một chiến sĩ cách mạng từng bị giam cầm ở Côn Đảo có bài vịnh Các sở tù thật sinh động và tinh tế như sau:

“Sở to sếp giữ quyền hành
Còn mấy sở nhỏ phần anh mã tà.
Sở Bếp nọ làm ra cơm nước
Sở Tải kia quét tước trong banh
Mấy người ốm yếu vàng xanh
Dọn phân, thu rác ở anh quét đường
Sở Chỉ Tồn kiêm đương mọi việc
Dọn tàu bè, chở gạo, chở khô
Chở gạch ngói, kéo rulô
Lại còn tháng lấy san hô hai lần
Sở Bản Chế thuộc phần công nghệ
Trong gồm thêm Sở Ghế, Sở May
Thợ cưa xở ấy xẻ cây
Thợ hồ sở ấy đi xây cửa nhà
Ngày chạy máy làm ra nước đá
Tối bật đèn sáng cả mọi nơi
Nhà Đèn tương đối thành thơi.
Đỡ phần nắng lửa mưa vùi khổ thân.
Đục minơ là dân Đá Trắng
Chẻ san hô là đám Lò Vôi
Lò Than, Lò Gạch đôi nơi
Ở kề hai sở Chăn Nuôi heo, bò
Sở Muối nọ đốt lò nấu muối
Sở Củi kia thì lỗi đẵn cây
Sở Cỏ Ống nộp tre, mây
Sở đầm Đất Dốc kéo cây trở về.
Sở Ruộng nọ chăm nghề cày cấy
Sở Dâu kia cần lấy tơ gai
Cá thời Sở Lưới đi chài
Chuối dừa An Hải, ngô khoai Bông Hường
Sở An Hội sẵn sàng mít dứa
Trong Sở Tiêu đầy ứa cà phê
Hòn Cau chở vích mang về
Bao nhiêu Sở Rẫy chuyên nghề trồng rau
Ấy mọi sở mọi màu như thế
Chỉ xoay vào kinh tế mà thôi
Mình tù nào phải nó nuôi
Chẳng qua đâu cũng mồ hôi của mình”(38).

Theo bài thơ vịnh kể trên, còn hàng chục Sở nữa sau này ít được đề cập tới như Sở Bếp, Sở Ghế, Sở Máy, Sở Xẻ Cây, Sở Xây Nhà, Sở Dâu hoặc có tên gọi khác như Sở Tải, Sở Vệ Sinh, Sở Đá Trắng là Sở Làm Đá chẳng hạn. Tù nhân còn sáng tác những câu ca dao về các Sở An Hải, Bãi Bàng và Chỉ Tồn với các câu:

– Côn Lôn sướng nhất là đây
Sarét An Hải, kéo cây Bãi Bàng
– Chỉ Tồn lụt cổ lụt đầu
Xe đá, vác thóc, dọn tàu, khuân khô
Lặn xuống biển mò san hô
Lôi thôi xay lúa, cátsô đeo xiềng(39).

Trong hơn 70 năm (1862-1934) nhà tù Côn Đảo đã trải qua 28 đời quản đốc, đại diện hành chính, giám đốc – gọi chung là Chúa đảo như sau:

1 Roussel – Trung úy Hải quân, Phó hạm trưởng 1862 – 1863
2 Bizot – Trung úy Hải quân, Phó hạm trưởng 1863 – 1864
3 Benoist – Trung úy Hải quân 1864 – 1866
4 Boube – Đại úy Hải quân lục chiến 1866 – 1869
5 Stiedel – Trung úy, Phó hạm trưởng 1869 – 1876
6 Claudot – Trung úy, Phó hạm trưởng 1870 – 1871
7 Gaudot – Trung úy, Phó hạm trưởng 1871 – 1872
8 Chevillet – Đại úy Hải quân lục chiến 1872 – 1874
9 Symphoz – Đại úy Hải quân lục chiến 1874 – 1875
10 Morin – Tham biện 1875 – 1876
11 Pasquet de la Broue – Đại tá Hải quân lục chiến 1876 – 1877
12 Disnematin Dorat – Tiểu đoàn trưởng Hải quân lục chiến 1877 – 1878
13 Pasquet de la Broue – Tham biện, Đại tá Hải quân lục chiến 1878 – 1882
14 Bocquet – Tham biện, đại diện hành chính 1882 – 1884
15 Cafort – Tham biện, đại diện hành chính 1884 – 1887
16 Sellier – Tham biện, đại diện hành chính 1887 – 1890
17 René – Trưởng Văn phòng thư ký tổng vụ 1890 – 1892
18 Jacquet – Nhân viên hành chính 1892 – 1896
19 De Colbert Turgis – Tiểu đoàn trưởng Hải quân lục chiến về hưu 1896 – 1898
20 Morizet – Cử nhân luật khoa 1898 – 1908
21 Malaye – Tham biện 1908 – 1909
22 Cudenet – Tham biện 1909 – 1913
23 De Gailland – Tham biện 1913 – 1914
24 O’ Connel – Tham biện 1914 – 1916
25 Royer – Tham biện 1916 – 1917
26 Andouard – Trung úy Phó hạm trưởng dự bị 1917 – 1919
27 Lambert – Đại úy bộ binh thuộc địa 1919 – 1927
28 Bouvier – Tham biện 1927 – 1934(40)

Dù được gọi là Quản đốc, Đại diện hành chính hoặc Giám đốc thì các Chúa đảo này đều nắm trọn quyền sinh, quyền sát vào trong tay. Chúng buộc các tù nhân phải gọi bằng các từ Ông Lớn, Dinh Ông Lớn, Sở Rẫy Ông Lớn với tất cả đặc quyền, đặc lợi hàm chứa trong đó.
Sau Chúa đảo, Ông Lớn là vai trò của kế toán viên, còn gọi là Cối kê viên hoặc Lục sự kế toán (agent de comtable) người Pháp, là chủ sự kho bạc trên đảo (nên cũng được gọi là Ông Kho Bạc), có thể thay Chúa đảo xử lý mọi công việc.

Trong ngạch đề lao cai quản nhà tù thì Giám lại ngục, còn gọi là Giám thị trưởng, hoặc Sếp chánh (gardien-chef) là nhân vật quyền uy sau Chúa đảo; chịu trách nhiệm cai quản về mặt an ninh của từng banh, điều hành lao động khổ sai ở các sở tù, trực tiếp điều hành 40 giám thị người Pháp và 80 giám thị người Việt.

Dưới quyền Chúa đảo còn có:

– Một y sĩ hoặc bác sĩ người Pháp trông nom về sức khỏe.
– Một sĩ quan hải quân lục chiến chỉ huy trung đội hoặc đại đội lính bảo vệ người châu Âu.
Ngoài ra, còn có Chủ sự Văn phòng, Sếp Cảnh sát, Sếp Nhà đèn (xưởng điện), Sếp Nhà Dây thép gió (bưu điện), Sếp Lục lộ (công chính), Đốc công Sở Xà lúp, Chủ sự hợp tác xã tiêu thụ, Nữ giáo học hệ tiểu học Pháp, Nữ giáo học hệ Pháp – Việt, Giám thị Sở Truy tầm.

Quần đảo Côn Lôn với khoảng cách đất liền tới hàng trăm hải lý, bốn bề biển nước mênh mông, con người bằng những phương tiện đi biển thô sơ như bè mảng khó lòng trốn thoát khỏi cái địa ngục trần gian này. Ở nơi xa xôi mãi tận chốn chân trời ấy, mọi mối liên hệ với quê hương, làng xóm như bị ngưng đọng lại. Thân phận của mỗi tù nhân nếu không được rèn đúc ý chí sẽ dễ bị năm tháng làm cho mòn mỏi trong đày ải và sự hành hạ từ miếng ăn, chốn giam giữ cho đến những công việc lao động khổ sai. Tuy nhiên, hầu như tất cả những chí sĩ yêu nước vẫn hiên ngang giữa Côn Đảo với một tinh thần hơi thở vẫn còn, lòng son chưa mất của Phan Chu Trinh:

Xích tay ra khỏi kinh thành
Nghêu ngao hát lớn, lưỡi mình còn đây
Dân tàn, nước mất nỗi này
Làm trai sao lại sợ đày Côn Lôn(41).

Hoặc với tinh thần của Huỳnh Thúc Kháng, Côn Lôn là một trường học thiên nhiên; mùi đắng cay trong ấy, làm trai giữa thế kỷ XX này không thể không nếm cho biết(42) để khi trở lại đất liền, trong người rèn đúc lòng như sắt, gặp cảnh đâu cũng thuận dầm(43).

Ngay lúc nhà tù Côn Đảo chưa ra đời thì viên Trung úy hải quân Roussel – Chúa đảo đầu tiên đã có sẵn trong tay một số tù nhân bị bắt giữ trong cuộc bạo loạn nổ ra ngày 15-12-1861 gồm nhiều dân cư ngụ trên quần đảo, tù nhân cũ của triều đình Huế và một số lính của triều đình coi tù tham gia vào phong trào của thủ lĩnh Nguyệt.

Tháng 3-1862, tàu Écho chở chuyến tù nhân thứ nhất ra Côn Đảo gồm 45 người. Tính đến giữa năm 1867, nhà tù Côn Đảo đã giam giữ chừng 500 tù nhân với đội ngũ cai quản lên tới 30 giám ngục.

Sau khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất vào năm 1873, cho đến 30-1-1882, tại đây đã có 836 tù nhân. Riêng vụ vận động nổi dậy ở Cần Thơ trong mấy tháng đầu năm 1883, Thống đốc Nam Kỳ ký Nghị định đày 14 người ra Côn Đảo – trong đó có Chánh Đề đốc Nguyễn Văn Vi, Đề đốc Nguyễn Văn Nở và Trần Thế Quơn, Chánh tổng binh Nguyễn Hữu Hùng, Tổng quản Lê Văn Giàu.

Các chĩ sĩ yêu nước và các tù nhân bị đày ra nhà tù Côn Đảo giai đoạn từ 1862 tới 1883 hầu hết là các nghĩa binh có mặt trong các cuộc nổi dậy do Trương Định, Thiên hộ Dương, Thủ khoa Huân, Tri phủ Toại lãnh đạo cùng một số quan binh nhà Nguyễn bị bắt trong các cuộc giao tranh Pháp – Việt. Nguyễn Đình Chiểu trong Văn tế nghĩa sĩ trận vong đã ghi nhận lại điều này:

Nghĩ nỗi anh hùng nạn nước, bãi khô lâu nào, mấy kẻ khóc than; tưởng đâu danh lợi tình đời, trường khối lỗi mặc dầu ai náo nức.

Thời lòng nghĩa dân thảo với ngô quân, tiếng nghịch đảng lỗi cùng địch vực.

Gần Côn Lôn, xa Đại Hải, máu thây trôi nổi ai nhìn; hàng cai đội, bậc quản cơ, xương thịt rã rời ai cất.

Sống thì chịu tuyết sương trời một góc, khó đem sừng ngựa hẹn quy kỳ; thác rồi theo mưa bể muôn trùng, khôn mượn thư nhàu đem tin tức(44).

Năm 1885, cuộc nổi dậy ở kinh thành Huế bùng nổ, phong trào Cần Vương hưởng ứng khắp từ Trung Kỳ ra đến Bắc Kỳ khiến thực dân Pháp phải ra sức đàn áp, bắt bớ và đày ải nhiều người yêu nước ra nhà tù Côn Đảo. Trong số tù nhân là quan chức của triều đình thời kỳ này, có 3 nhân vật quan trọng:

1. Nguyễn Văn Tường, Phụ chánh Đại thần, Thượng thư Binh bộ sung Cơ mật viện kiêm quản Thương bạc viên, bị thực dân Pháp xem là một yếu nhân của cuộc nổi dậy ở kinh thành Huế. Ngày 1-9-1885, ông cùng Tôn Thất Đính, Phạm Thận Duật bị đày ra Côn Đảo, sau đó sang Haiti (Santo Domingo) và mất tại đấy vào ngày 31-7-1886.

2. Tôn Thất Đính, phụ thân của Tôn Thất Thuyết, bị bắt để thế mạng cho con.

3. Phạm Thận Duật, Phụ chánh Đại thần, Thượng thư Hộ bộ, Cơ mật viện Đại thần, Phó Tổng trù Quốc sử quán, bị bắt ở Quảng Trị khi trên đường vận động phong trào Cần Vương.
Chiếc tuần dương hạm Clochetterie đưa Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Đính ra nhà tù Côn Đảo, đem theo bức mật hàm của De Courcy gửi cho Chúa đảo Caffort lời dặn: “Tầm quan trọng chính trị của những tù nhân này đòi hỏi họ phải được giám sát hết sức nghiêm ngặt với bất cứ giá nào”(45).

Trong vòng hơn 20 năm, kể từ tháng 3-1884 đến hết năm 1906, nhà tù Côn Đảo liên tiếp đón nhận hàng trăm nghĩa binh, các thủ lĩnh các phong trào nổi dậy chống Pháp, hội viên các hội như Đông Châu, Đồng Tâm Hiệu, Thiên Địa, Vạn Xa, Phật Đường, Học Hưng, Bình Hưng; giáo dân Quảng Châu, giáo dân Phúc Kiến, Bạch Xỉ, Huynh Đệ.

Tháng 3-1884, nhiều hội viên hội Đông Châu có trụ sở ở Hàm Thuận (Bình Thuận) đi xây dựng cơ sở tại Bà Rịa, Biên Hòa cùng nhiều nghĩa binh có mặt trong các cuộc nổi dậy ở Trà Vinh, Sóc Trăng và trên đất Cao Miên bị lưu đày ra Côn Đảo. Năm 1885, các nghĩa binh khác tại Mỹ Tho và nhiều tỉnh thuộc Nam Kỳ cùng các tù nhân Cao Miên, Thái Lan và Trung Quốc bị đưa ra Côn Đảo giam giữ. Năm 1886 các nghĩa binh bị bắt ở Bình Thuận, đặc biệt số tù nhân tham gia vào các cuộc nổi dậy thuộc Vĩnh Long, Châu Đốc, Cần Thơ, Chợ Lớn, Sóc Trăng, Sa Đéc, Phú Yên bị kết án tù từ 2 đến 5 năm khổ sai lần lượt bị đưa ra giam giữ tại Côn Đảo.
Năm 1888, nhà tù trả tự do cho 10 tù nhân Việt Nam tham gia khởi nghĩa trên đất Cao Miên(46), tiếp nhận thêm 16 tù nhân của hội Vạn Xa, 6 nghĩa binh tấn công vào nhà Phó tổng ở Long Hưng Hạ. Ngoài ra, còn có cả Thống binh Lê Văn Viên – người mà thực dân Pháp liệt vào hàng ngũ những kẻ châm ngòi cho các cuộc nổi loạn ở các tỉnh miền Tây Nam Kỳ năm 1883.

Năm 1889, nhà tù Côn Đảo lại tiếp nhận nhiều tù nhân khác.

– Một số hội viên Đồng Tâm Hiệu và Bùi Văn Thuận – người Châu Đốc, tham gia vào cuộc nổi dậy ở Cao Miên.
– Lã Xuân Oai, người tỉnh Nam Định, Tuần phủ Lạng Sơn, từng tham gia phong trào Cần Vương, thường xuyên liên hệ với nghĩa quân Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật và nghĩa quân Cai Kinh. Khi bị giam giữ, tháng 6-1890 ông lại tham gia vào cuộc nổi dậy của tù nhân. Mất tại đảo vào cuối năm 1890.

Năm 1890, nhiều hội viên Phật Đường Hội – một giáo phái có cơ sở tại Chợ Lớn, Gò Công trở thành tù nhân của Côn Đảo.

Tháng 3-1891, chiếc tàu Comorin đưa nhiều quan chức cấp tỉnh, huyện ở Bắc Kỳ ra lưu đày ở Côn Đảo.

– Tuần phủ tỉnh Chợ Bờ (tên cũ của tỉnh Hòa Bình, còn gọi là tỉnh Mường) Đinh Văn Vinh, đối đầu với Công sứ người Pháp, tham gia phong trào của Đốc Ngữ.
– Tri phủ Khoái Châu (Hưng Yên) Trịnh Đình Vì, Tri phủ Tiên Lãng (Hải Phòng) Đồng Ngọ, Tuần phủ Hưng Yên Lê Cơ, Phó quản Bắc Ninh Lê Văn Mười, Phó quản Mỹ Đức Nguyễn Hữu Đôn, Chánh quản Lê Hiển Vinh có nhiều dính líu đến phong trào Bãi Sậy hoặc tỏ ra không mẫn cán trong việc đối phó hoặc báo cáo với cấp trên về các cuộc nổi loạn của dân chúng trong quản hạt.

Từ năm 1892 đến 1895, nhà tù Côn Đảo có thêm nhiều tù nhân hoạt động theo nhiều xu hướng.
– Nguyễn Văn Đảm có dính líu đến vụ giết người Pháp tên là Defentini, đe dọa đối với an ninh trật tự, là mối hiểm họa đối với người châu Âu và bản xứ đang tham gia trên công trường xây dựng tuyến đường sắt Phủ Lạng Thương (Bắc Giang).
– Nguyễn Văn Chơn và 8 công nhân khác tham gia vào cuộc nổi dậy trên công trường làm đường Stungtreng (Cao Miên).
– Nguyễn Văn Xuyên, Châu Văn De, Trần Văn Nhân, Trần Vân Đang, Biện Văn Nghiêm và nhiều người khác tấn công tu viện và đồn Sóc Nóc tỉnh Xoài Riêng (Cao Miên).
– Trần Văn Khuê, cố ý tổ chức hội kín, gây rối trật tự an ninh ở Trà Vinh.
– 7 hội viên của hội kín Học Hưng và Bành Hưng.
– Nguyễn Văn Lịch và 7 người khác ở Gia Định tham gia các vụ tấn công vào người Pháp.
– Nhiều người ở Tân An, Thủ Dầu Một tàng trữ vũ khí trái phéo.
– Đào Công Bưu và hơn 20 thành viên khác tham gia cuộc nổi dậy ở Rạch Giá.
– Các hội viên hội Huynh Đệ (thuộc Hội Giáo dân Quảng Châu) ở Rạch Giá.
– Lê Văn Bình, Nguyễn Văn Do là nghĩa binh ở Vĩnh Long.
– Các hội viên của hội Thiên Địa trên địa bàn Gia Định, Mỹ Tho.
– Huỳnh Văn Sa và một số người ở Chợ Lớn có hành vi tiếp tay cho các hội viên một số hội kín không hoạt động vì mục đích thương mại mà lợi dụng danh nghĩa các tổ chức đó phá hoại, gây rối an ninh.
– Các hội viên Quảng Thắng và đạo Nghĩa Đường (thuộc Hội Giáo dân Quảng Châu).
– Một số thương gia và người làm công ở Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) tham gia vào Hội Giáo dân Phúc Kiến, thường xuyên cung cấp lương thực và tin tức cho nghĩa quân Đề Thám, gây ra nhiều vụ bắt cóc người châu Âu, đe dọa nghiêm trọng nền an ninh.
Năm 1896 có nhiều tù nhân là nghĩa quân của cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Đề Thám lãnh đạo và khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng.
– Lê Văn Chinh, còn gọi là Bang Chinh, điền chủ vùng Lạng Giang (Bắc Giang) là nguồn cung cấp vũ khí, lương thực, tin tức cho nghĩa quân Đề Thám; tham gia vụ bắt cóc chủ bút báo Tương lai xứ Bắc Kỳ là Chesnay và viên trợ lý Laugiou. Toàn bộ gia sản của Bang Chinh bị tịch thu sung vào kho bạc, Bang Chinh và gia đình bị lưu đày ra Côn Đảo 20 năm.
– Bacsantha, Naicha Sangnoha (Attopeu – Lào), Thaokamlay, Xiêngna Kumanna (Saravan – Lào) tham gia vào việc cướp vũ khí tại các đồn binh.
– 24 nghĩa binh gồm: Thông biện, Lãnh binh, Tạo lãnh, Tạo quản, Bang biện, Đốc binh, Hiệp quản, Kiêm biện tham gia vào cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng với 11 án chung thân, 9 án 20 năm, 1 án 5 năm và 3 án 3 năm. Trong số này có:

+ Nghĩa binh là người Hà Tĩnh: Nguyễn Dư, Trần Bá Lai, Phan Đạt, Phạm Tô, Trần Thư, Phạm Duy, Kiều Vinh, Dương Tài, Đặng Văn Duệ, Đặng Phương, Nguyễn Duyệt, Hà Văn Toán, Hồ Văn Tường, Võ Văn Lưu, Nguyễn Vi, Trần Chu.
+ Nghĩa binh là người Nghệ An: Đỗ Cuông, Ngô Danh, Nguyễn Dinh, Trịnh Văn Truy, Nguyễn Lương, Huỳnh Chân, Lê Văn Lâm.
+ Nghĩa binh là người Quảng Bình: Võ Liêm Đức.
– Nguyễn Trường Thọ, Trần Văn Nho, Trần Ngọc Vinh, Huỳnh Văn Do, Lê Văn Long, Lê Văn Kiểm, Nguyễn Văn Ngãi, Nguyễn Văn Quới, Lê Thị Bích, Trương Văn Hòa, Võ Cự Hải dự định tổ chức cuộc nổi loạn tại Rạch Giá, sau đó mở rộng xuống Cần Thơ và các nơi khác ở lân cận.

Toàn bộ số nghĩa binh này bị đày ra Côn Đảo với mức án tù 2 đến 5 năm.

Năm 1897 các nghĩa binh tham gia vào cuộc khởi nghĩa Yên Thế là: Trần Văn Vinh, Phạm Văn Tài, Lê Quang Huy, Bùi Cự Tống và Đặng Văn Thanh bị kết án lưu đày chung thân, được đưa ra Côn Đảo thụ án một thời gian trước khi bị đưa sang Tân Đảo.

Năm 1898 có thêm nhiều tù nhân Bắc Kỳ bị đày ra Côn Đảo.

– Nguyễn Văn Thanh, thông dịch viên đã tìm cách giúp cho một thủ lĩnh của cuộc nổi dậy chống Pháp tại Hải Phòng trốn thoát, không thông báo cho chính quyền biết tin tức và kế hoạch chuẩn bị cho cuộc phản loạn.

– Tri phủ Kiến Thụy (Hải Phòng) Phạm Duy Du, Tri huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) Đặng Ngọc Kiêm có biểu hiện vô trách nhiệm trong khi thi hành nhiệm vụ, không thông báo cho cấp trên biết về những hiện tượng đáng ngờ xảy ra trong địa hạt quản lý, bỏ trốn không sử dụng các phương tiện hiện có để có biện pháp chống lại cuộc phản loạn sử dụng vũ khí thô sơ, thậm chí không có vũ khí khi tấn công vào phủ, huyện.

– Trần Thiên Tính, người chuẩn bị cho cuộc nổi loạn nổ ra vào tháng 12-1897 tại tỉnh Thái Bình và là người nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của dân chúng, do đó ngay lập tức bị trục xuất ra khỏi Bắc Kỳ.

– Phùng Văn Bươu, Nguyễn Văn Niên, Nguyễn Văn Nam (Hải Dương), Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Văn Chung, Đinh Vân Tráng, Nguyễn Văn Liên (Thái Bình) tham gia vào cuộc nổi loạn tháng 12-1897, bị kết án từ 11 năm đến khổ sai chung thân.
– Phạm Văn Cường, Vũ Văn Đại công nhân mỏ than Kế Bào, bị mức án từ 15 đến 20 năm khổ sai.
– Nguyễn Văn Luận, khố đỏ ở Hà Nội, 15 năm khổ sai.
– Trần Vân, Châu Huấn, Long Xương và Huỳnh Phan là hội viên hội Thiên Địa.
– Nguyễn Văn Đắc, Hoàng Nghĩa Nho quê ở tỉnh Hà Đông.
– Năm 1900 nhiều binh lính vốn đứng trong hàng ngũ quân đội Pháp quê ở Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây và Hà Nội bị kết án lưu đày ra Côn Đảo:
– Nguyễn Hoan, Nguyễn Văn Thung, Nguyễn Đức Tư, Ngô Văn Hòa (Nam Định) bị kết án khổ sai chung thân.
– Nguyễn Văn Ngọ (Hải Dương), 10 năm khổ sai.
– Vũ Văn Dinh (Hải Phòng) câu lưu.
– Phạm Văn Thoại, Trương Văn Vi, Chu Hưng Thập, Chu Hữu Kỷ, Kiều Văn Pháo, Duy Nhớn, Đôc Văn Võ, Trương Nghĩa Nho, Nguyễn Na, Trần Văn Huệ, Đào Văn Bắc, Nguyễn Văn Bát, Nguyễn Văn Đắc, Đỗ Đăng Tụy, Lê Văn Bắc, Hồ Văn Huyền, Trần Văn Tốt, Nguyễn Văn Phương, đoàn Văn Ban, Nguyễn Văn Thuyết, Dương Văn Hán, Nguyễn Văn Sáu (Hà Nội) bị kết án tù 12 năm đến khổ sai chung thân vì có mưu đồ phản loạn.

– Dương Văn Ếch tức Đốc Trung (Sơn Tây) lưu đày chung thân.
– Ngô Văn Trọng, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Tất Dong, Nguyễn Văn Quán, Hà Văn Cõm, Nguyễn Văn Lương (Bắc Ninh) bị kết án từ 10 năm đến khổ sai chung thân.

Từ đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tư sản từ bên ngoài vào. Năm 1904, Phan Bội Châu thành lập Duy Tân Hội để tập hợp lực lượng, phát triển thế lực chuẩn bị lực lượng bạo động, xúc tiến việc xuất dương cầu viện. Cuộc vận động cứu nước của hội Duy Tân và phong trào Đông Du tạo nên một khí thế mới ở trong nước. Năm 1907, Đông Kinh nghĩa thục được thành lập, thúc đẩy mạnh mẽ cuộc cách mạng dân trí.

Như vậy là từ 1862 đến 1907 bao lớp tù nhân, bao lớp chí sĩ yêu nước đã bị thực dân Pháp giam cầm ở nhà tù Côn Đảo và chính nơi đây đã rèn đúc họ ý chí để họ tiếp tục bước lên con đường đấu tranh đầy chông gai, bão táp, không sợ hy sinh, đúng như Lê Văn Huân đã viết:

“Biển Đông có một đảo
Nổi tiếng rừng anh hùng
Ai lưu đày đến đó
Nhân phẩm cao ngàn vàng”(47).

Để có được nhân phẩm cao ngàn vàng đó, các chí sĩ yêu nước không chỉ giữ vững tinh thần, nêu cao phẩm tiết mà còn tiếp tục xông pha vào cuộc chiến đấu sống còn với kẻ thù tại nơi lưu đày giữa biển khơi xa tắp.

Mở đầu cho trang sử được viết nên bằng xương máu đó là cuộc trỗi dậy do thủ lĩnh Nguyệt cầm đầu nổ ra vào ngày 28-6-1862. Người thủ lĩnh quê Chợ Quán – Sài Gòn đã tập hợp số tù nhân mới bị thực dân Pháp đưa ra phối hợp với hàng trăm tù nhân cũ do nhà Nguyễn đày ải còn lại và số ít dân trên đảo, nhanh chóng san phẳng nhà tù Côn Đảo vừa mới thành hình hài. Lo ngại đây sẽ là một tiền lệ xấu, thực dân Pháp đã huy động tối đa lực lượng và hỏa lực dập tắt cuộc nổi dậy, thu hồi lại đảo, triệu hồi Roussel, cử quản đốc mới ra thay. Thủ lĩnh Nguyệt và nhiều tù nhân sa vào tay địch bị sát hại, giam cầm dã man.

Tháng 6-1863, Trung úy Hải quân Bizot ra nhận chức, trở thành viên Quản đốc nhà tù thứ hai, đã cho xây dựng lại nhà tù. Tù nhân bị bắt xuống biển mò san hô, lên núi lấy đá, vào rừng lấy gỗ để phục vụ cho việc tái lập nơi giam giữ đá mới.

Tù nhân phải tới bãi trước vịnh của đảo lớn đến cồn San hô nổi lên và chạy dài tới tận cồn Đá Trắng để lấy san hô. Mỗi kíp khổ sai, theo con nước xuống đem theo đòn xeo và choòng, đẩy thuyền ra cồn với khoảng cách so với bờ chừng 2km rồi ngụp lặn, đào bới, bẩy từng tảng lớn, xe nhỏ chất thành đống cao. Mùa hè, tù nhân thường phải dầm mình dưới nước biển từ nửa đêm đến trưa hôm sau. Mỗi ngày họ phải lao động 12 tiếng, cộng với 3 tiếng đi về. Mỗi chuyến đi phải nộp 40 tảng san hô có kích thước bằng chiếc nón lá.

Đá hộc khai thác ở chân Núi Chúa. Tù nhân phải lên núi khoan lỗ để nhồi thuốc nổ, đập nhỏ đá, khuân vác về nơi quy định trên những con đường mòn cheo leo, gập ghềnh đầy lau sậy.
Việc đốn gỗ cũng nhọc nhằn không kém. Các kíp tù nhân phải vào các cánh rừng ở Đá Trắng, Đất Dốc, Bãi Bàng, bãi Ông Câu, bãi Ông Đụng để đốn gỗ, quần quật từ mờ sáng cho đến mờ tối. Rồi lại phải kéo gỗ ra bãi biển, kết bè chuyển đi. Mỗi tháng một kíp phải cung nạp từ 3 đến 4 bè gỗ, mỗi bè chứa 30-40 cây, ngoài ra còn phải lấy củi cung cấp cho các lò nung vôi, nung gạch và nhu cầu nấu nướng trên đảo.

Số người chết dưới biển do ngâm mình lâu dưới nước, chết trên núi do đá đè, chết trong rừng do cây đổ hầu như tháng nào, tuần nào cũng có. Chế độ lao dịch nặng nhọc, ăn uống kham khổ cùng với nạn sốt rét đã cướp đi biết bao sinh mạng. Không cam chịu, trong năm 1864, tù nhân Côn Đảo lại hoạch định kế hoạch đầu độc bọn thủy thủ Pháp trên tàu Đồng Nai khi chúng mới tới đảo. Kẻ thù đã đánh hơi thấy sự chuẩn bị, kịp thời giam một thầy thuốc người Việt và 4 tù nhân.

Thất bại vẫn không làm cho tù nhân Côn Đảo nản chí. Đoàn Văn Đang và Lê Văn Lương đã cảm hóa được Giám lại ngục người Philippin có tên là Atatôliô, công phu chuẩn bị cho cuộc nổi dậy mới. Đoàn Văn Đang tuyên bố sẽ lột da bọn xâm lược làm cờ, lấy máu chúng nhuộm cờ. Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa vừa nổ ra vào lúc mờ sáng ngày 2-1-1868 đã nhanh chóng bị dập tắt vì quản đốc Boubé đã nắm được tin đó trước mấy tiếng. Những người cầm đầu cùng 17 tù nhân tham gia đã bị bắt. Trước khi bị treo cổ cùng các đồng chí của mình, Lê Văn Phương thanh thản tuyên bố rất tự hào vì đã giết 50 người Tây. Atatôliô bị xử chung thân, đày ra đảo La Réunion ở châu Phi.

Để đối phó và trả thù, bọn Chúa đảo và tay chân đã cưỡng bức tù nhân bằng một chế độ lao dịch hết sức khắc nghiệt. Bên cạnh việc mò san hô, đục đá, đốn gỗ, lấy củi, chúng còn bắt tù nhân phải tham gia vào tất cả công việc mở rộng và kiên cố hóa nhà tù; có mặt trong xây cất xà lim biệt giam, hầm tối, khu công sở và các công trình sau:

– Xây dựng cầu tàu Côn Đảo, khởi công vào khoảng năm 1873, dài chừng 100m trước thị trấn Côn Đảo, bằng toàn đá tảng. Khi thiết kế, thực dân Pháp định cho xây cầu tàu dài vài ba trăm mét, ra tận lạch nước sâu để tàu lớn có thể cập bến. Tù nhân phải chuyên chở đá bằng xe goòng, xe bò, xe trâu hoặc khênh bằng cáng. Tương truyền, khi cầu này xong đã có 914 người chết, vì thế mà cầu tàu cũng mang tên con số đó.

– Con đường ven biển dài chừng 2km, chạy qua trước dinh Chúa đảo, nền đường cao hơn mặt nước biển chừng 3m, ghép bằng đá hộc kiên cố. Con đường này phải làm trong nhiều năm. Tù nhân còn phải dùng cả goòng để chở đá từ Núi Chúa đến làm đường. Con đường ven biển đẹp nhất nhưng cũng thấm đầy xương máu của tù nhân.

– Cầu Ma Thiên Lãnh xây dựng tại đèo Ông Đụng với một mố cầu bằng đá cao 5m, rộng 4m. Nhịp cầu nối giữa các mố cũng bằng đá. Do số tù khi mở đường đã chết tới trên 300 người nên công trình phải bỏ dở.

Từ khi có cầu tàu, cứ độ hai tuần lại có một chuyến tàu chở thóc và cá khô cùng hàng hóa ra đảo. Kíp tù khổ sai ở đảo Chỉ Tồn phải đưa 50-60 người ra dọn tàu. Do vịnh biển cạn, tàu lớn không vào được cầu tàu nên muốn lấy hàng phải đưa xà lan nhỏ ra dỡ hàng, chuyển vào bờ làm nhiều chuyến và phải đi từ vịnh men theo lạch nước ra tới tàu đậu gần Đá Trắng (phía mũi Cá Mập). Hàng được chuyển từ hầm tàu lên, khi theo xà lan vào bờ còn phải vận chuyển đến kho chứa. Mỗi bao hàng nặng trung bình 50kg. Nhiều bao nặng tới 60-70kg, thực sự là mối tai họa đối với tất cả tù nhân vốn ăn đói, gầy yếu xanh xao.

Để phục vụ cho tàu bè vào vịnh và cập bến dễ dàng, bọn Chúa đảo đã cho sơn trắng cả tảng đá lớn (vì thế gọi là mỏm Đá Trắng) để định phương hướng. Chúng còn cho xây dựng ngọn hải đăng ở khu vực Cỏ Ống. Hàng trăm tù nhân đã được đưa đến để dọn đất đá, chuẩn bị mặt bằng, vận chuyển gạch đến địa điểm. Tuy nhiên, nhận thấy vị trí này không thuận tiện nên ngày 27-8-1883, chúng đổi ý chuyển sang xây dựng ở hòn Bảy Cạnh, tiếp tục buộc 150 tù khổ sai phát hoang, phá đá, san mặt bằng, xẻ gỗ, leo dốc chuyển vật liệu lên nơi sẽ xây dựng ngọn hải đăng. Chính bản thân Quản đốc nhà tù Côn Đảo cũng cho rằng việc vận chuyển thực hiện bằng sức người không thể tiến hành được, nếu cứ tiếp tục như vậy thì tù nhân chỉ làm được vài ngày là kiệt sức và ngã bệnh.

Không cam chịu cảnh bị giết dần giết mòn, ngay từ sáng sớm ngày hôm đó, toàn bộ 150 tù nhân đã đồng loạt nổi dậy, giết 5 lính gác và viên sĩ quan chỉ huy Gaston Cabilique, Kiểm định viên công chính Jules Pierre Dulon, Đốc công Bidault bị tương nặng, về đến thị trấn chỉ kịp kể lại vắn tắt vài điều thì chết. Các nghĩa binh đã cướp được 15 súng trường, 2 súng lục và chiếm được 1 tàu săn cá mập, 1 canô cùng nhiều lương thực và rời Côn Đảo hướng về đất liền. Họ đã cập bến một làng gần Phan Thiết (Bình Thuận) nhưng bị viên Chánh tổng cho dân binh bắt giam tất cả vào một khu trại. Đêm hôm đó, viên Phó tổng bí mật cho mở cửa, giải thoát cho tất cả nghĩa binh. Do sức ép của Thống đốc Nam Kỳ, triều đình nhà Nguyễn phải để cho quân Pháp tiến hành càn quét tại địa phương để truy lùng những người tham gia vào cuộc nổi dậy. Chỉ có 36 người bị giặc bắt lại còn 114 người đã trốn thoát trong sự che chở, đùm bọc của nhân dân. Sự kiện gây chấn động này được báo chí Pháp mệnh danh là cuộc cách mạng ở Côn Đảo.

Sau cuộc khởi nghĩa tháng 8-1883, chế độ kìm kẹp nhà tù lại càng trở nên chặt chẽ hơn. Trong nỗi hoang mang lo sợ, thực dân Pháp phải tăng thêm lực lượng hải quân lục chiến tới hòn Bảy Cạnh, đặt cáp điện tín ngầm nối Côn Đảo với Sài Gòn. Quản đốc nhà tù là Bocquet bị khiển trách. Việc xây dựng ngọn hải đăng được tiếp tục với các toán tù nhân mới được giám sát chặt chẽ, nghiêm ngặt. Trong một báo cáo viết hồi tháng 10-1883, Quản đốc Bocquet phải thừa nhận rằng: “Ngày 12-10 tôi có mặt ở Bảy Cạnh và chứng kiến cảnh tượng hết sức thảm hại của tù nhân. Chúng làm việc giữa trời, khi cơn giông đột ngột trút xuống rừng cây thì hàng trăm tù nhân biến thành một lũ chuột lột. Thêm nữa, vào mùa này, ban đêm ở Côn Đảo rất rét, nhất là tại Bảy Cạnh”(48).

Ngày 27-11-1883, Quản đốc nhà tù tăng cường cho công trường xây dựng ngọn hải đăng, một toán tù nhân khổ sai gồm 55 người nhưng chưa đầy hai tháng, vào ngày 11-1-1884, toán này đã có 11 người chết, 42 người bị ốm. Ngày 12-1-1884, một đoàn gồm 122 tù nhân ra thay thế, mới hơn nửa tháng sau, tức là ngày 29-1-1884 đã có 3 người chết, 51 người ốm đau tại Bảy Cạnh(49).

Mãi đến tháng 5-1884, ngọn hải đăng Bảy Cạnh mới khánh thành.

Những năm kế tiếp, phạm vi khổ sai đối với tù nhân càng mở rộng thêm. Nếu trước đây tù nhân mới chỉ phải làm những công việc như khai thác san hô, đốn củi để đốt lò nung gạch, đập đá làm đường và xây cầu tàu hoặc dựng nhà cửa, thì đến lúc này, theo báo cáo ngày 5-12-1884 của Quản đốc nhà tù Bocquet, tù nhân đã phải có mặt ở hầu hết các loại công việc mới như xây hải đăng, xay lúa, bốc dỡ vật liệu, đốt than, chăn bò, kéo xe, làm mộc, lò rèn, đánh cá, sửa chữa tàu thuyền, trồng trọt (lúa, cà phê, hồ tiêu)(50).

Lúc này, các sở tù được hình thành để tận dụng sức lao động của tù nhân vào việc tăng thêm lương thực, thực phẩm tại chỗ. Trong biên chế của đội ngũ nhân viên quản lý nhà tù, đã có chức danh nhân viên quản lý về nông nghiệp. Bản Quy chế ngày 11-12-1889 dành hẳn Chương 7 với 8 điều (từ Điều 29 đến Điều 36) như sau:

29) Nhân viên phụ trách các vấn đề về nông nghiệp được đặt dưới sự quản lý trực tiếp của quản đốc và được giao nhiệm vụ quản lý việc trồng trọt, thu hoạch mùa màng, xay xát lúa, thử nghiệm các giống cây mới, chăm sóc các khu vườn; canh giữ súc vật, chuồng ngựa, trang trại và hầm than.

30) Ngoại trừ trường hợp thất bát hoặc thiệt hại không thể tránh, được ủy ban do quản đốc chỉ định kiểm tra và xác minh chắc chắn, nhân viên phụ trách nông nghiệp phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với các sản phẩm nông nghiệp cũng như việc bảo quản chúng đúng quy trình cho đến khi nhân viên kế toán tiến hành kiểm tra, biên nhận vào sổ sách.

31) Nhân viên phụ trách nông nghiệp được phép phân phát số lượng thóc cần thiết cho người chăn giữ gia súc và chuồng ngựa với điều kiện có giấy phép của quản đốc. Số lượng lớn nhất là 4kg/súc vật/ngày và 4kg/con ngựa. Tuy nhiên, số lượng này có thể thay đổi theo mùa, theo sự khan hiếm của thức ăn gia súc và sức khỏe của gia súc.

Nhân viên phụ trách nông nghiệp không được phép sử dụng ngựa nếu quản đốc chưa đồng ý.
32) Nhân viên phụ trách nông nghiệp có nhiệm vụ cung cấp hoa quả và rau xanh theo đơn đặt hàng của những người có nhu cầu (đã thông qua quản đốc). Giá cả và thành phần được quy định như sau:
Rau loại 1: dành cho sĩ quan và những nhân viên cao cấp khác 3 xu/ngày, 90 xu/tháng.
Rau loại 2: dành cho những người còn lại 2 xu/ngày, 60 xu/tháng.
Hoa quả loại 1: dành cho sĩ quan và những nhân viên cao cấp 2 xu/ngày, 60 xu/tháng.
Hoa quả loại 2: dành cho những người còn lại 1 xu/ngày, 30 xu/tháng.
Nếu quản đốc cho phép mổ thịt gia súc, nhân viên phụ trách nông nghiệp sẽ được quyền tiến hành giết mổ và phân phối theo nhu cầu của nhân viên: lợn sữa 1$00/con, lợn thịt 5$00/con, bê dưới 3 tháng tuổi 3$00/con, bê trên 3 tháng tuổi 5$00/con, dê con 0$60/con.
Nếu số lượng giết mổ lớn và được quản đốc đồng ý, tù nhân cũng được quyền hưởng chế độ phân phối thịt lợn như trên.

33) Nhân viên phụ trách nông nghiệp phải có trách nhiệm giám sát và mua bán sữa, mức giá quy định là 10 xu/lít và phải báo cáo ngay cho quản đốc nếu việc mua bán sữa làm ảnh hưởng đến việc nuôi súc vật con.

34) Nhân viên phụ trách nông nghiệp phải nộp lên quản đốc các giấy cung cấp than để xin chữ ký. Giá 1 thùng 60kg than là 30 xu.

35) Hàng tháng, nhân viên phụ trách nông nghiệp phải nộp cho Quản đốc một bản tường trình chi tiết các việc mua bán đã được tiến hành trong tháng và phải cất giữ 1/10 số tiền thu được hàng tháng dùng để mua hạt giống và thưởng cho các tù nhân đã làm việc chăm chỉ trong các sở tù. Vào mùa thu hoạch, nhân viên phụ trách nông nghiệp phải nộp các nông sản cho kế toán và phải đề nghị quản đốc cho giữ lại một lượng hạt giống nhất định cho vụ mùa sau.

Cuối năm, nhân viên phụ trách nông nghiệp không chi tiêu hết 1/10 số tiền đã giữ lại hàng tháng thì số tiền còn lại đưa vào kho bạc.

Mọi nguồn thu nhập từ nguồn bán hoa quả, rau tươi, thịt sẽ được nhân viên kế toán đưa vào mục Các khoản hoa lợi khác.

Theo đề xuất của ban Tổng thư ký, Phó Thống đốc Nam Kỳ sẽ ra Nghị định điều chỉnh giá mua bán các nông sản.

36) Về mặt kỹ thuật, nhân viên phụ trách nông nghiệp sẽ phải tiếp thu ý kiến đóng góp và hướng dẫn của Giám đốc Vườn sinh học Sài Gòn. Giám đốc Vườn sinh học Sài Gòn sẽ cung cấp cho nhân viên phụ trách nông nghiệp tất cả các loại cây cần thiết(51).
Các tù nhân khi ấy đã từng tổng kết:

“Ấy mọi sở mọi màu như thế,
Chỉ xoay vào kinh tế mà thôi,
Mình tù nào nó phải nuôi,
Chẳng qua đâu cũng mồ hôi của mình”(52).
và:
“Trải mấy phen ra biển dọn tàu
Xuống xà lan vác lúa, lên cầu kéo quả balăng
Nặng nề thay lúc chở xi măng
Sáu thùng một chuyến, bốn thằng phải đẩy một xe
Mỏ san hô mới cực đủ trăm bề
Lấy ngoài đáy biển xe về đến tận cửa Lò Vôi
Chẳng mấy ngày ta được nghỉ ngơi
Không xe gạch, xe đá thì cũng xe vôi, xe đồ
Lại còn đi kéo rulô
Trên con đường Đất Thánh, dưới cái lộ Cống Dừa
mới thực chết chân.
Vụ mùa màng cấy gặt gian truân
Dầm mưa dãi nắng muôn phần ta biết kể cùng ai
Tụi Tây, ta thì nó chỉ giục hoài
Xảy ra một hút, nó sẵn cađui đập liền
Bữa cơm ăn gạo lức với canh cục dền
Nuốt chưa khỏi cổ, nó đã đứng lên giục vào
Thân chúng ta cực khổ xiết bao…

Việc mình khổ cực thế nào, nó có kể chi.
Sáng 5 giờ nó tập binh đi
Cổ thì vác búa, tay thì xách lon
Đến chân rừng quần áo cuộn tròn.
Trần truồng chui rúc đi bòn lấy cây.
Chạy lung tung khắp hết đó đây
Dẫu cho bãi mía, bờ mây chẳng từ
Bắt tay làm từ sáng đến trưa
Mặc chi gió bão, nắng mưa dãi dầu
Nghe tù và nó gọi ở đâu
Xách lon mà chạy mau mau về chòi
Lãnh cơm ra ăn uống xong rồi
Vác bò chất củi mà ngoi xuống đường
Ba giờ xếp thước đàng hoàng
Để chờ mấy chú cặp rằng đến đo
Củi than củi bửa thì to
Củi banh dầu nhỏ, dầu khô cũng là
Việc xong bóng đã xế tà
Xuống khe dội mát một và bốn lon
Búa rìu ngày tháng hao mòn
Thân dù gian khổ, chí còn đấu tranh”(53).

Mặc dù đã tăng cường các biện pháp an ninh cũng như những hình thức trừng phạt, nhưng thực dân Pháp vẫn không ngăn cản được sự trỗi dậy liên tục của các lớp tù nhân. Ngày 17-6-1890, gần 400 tù nhân là người Bắc Kỳ dã nổi dậy giết gác ngục, cướp súng, dự định đóng bè vượt biển. Tên Quản đốc René vội vàng điều lính đến đàn áp, bắn chết mấy chục tù nhân, nhanh chóng dập tắt cuộc nổi dậy.

Ngày 19-6-1890, chỉ hai ngày sau đó, thủ lĩnh Ca dự định cướp chiếc tàu thủy từ Thái Lan vừa sang nhưng bị lộ nên việc không thành.

Do nhu cầu ngày càng lớn về nhân công trong việc triển khai khai thác thuộc địa, mặt khác để phân tán bớt lực lượng tù nhân đang ngày một đông đến ở nhà tù Côn Đảo, thực dân Pháp đã đưa nhiều toán tù nhân tới các đảo Bourbon, Gabon, Tahiti, Nouméa, Guane. Năm 1892, Toàn quyền Đông Dương còn lệnh cho Quản đốc nhà tù Côn Đảo đưa hơn 200 tù nhân ra vùng Hải Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng làm con đường chiến lược số 4 nằm giáp biên giới Việt – Trung.
Kẻ thù tuy đã tìm nhiều cách nhưng vẫn không ngăn cản được sự đấu tranh của tù nhân. Chập tối ngày 28-801894, 15 tù nhân trong kíp mò san hô, dưới sự chỉ huy của thủ lĩnh Đạt đã dùng lưỡi hái giết chết 2 lính gác để cướp thuyền vượt ngục. Cuộc nổi dậy bị đàn áp, thủ lĩnh Đạt đã bị kẻ thù ghép vào án tử hình.

Bước sang thế kỷ XX, tù nhân nhà tù Côn Đảo vẫn tiếp tục tiến hành đấu tranh vũ trang chống lại sự kìm kẹp của kẻ thù. Ngày 25-7-1904, Xà lúp trưởng Le Carer cùng 3 giám thị người Pháp, 1 lính Philippin, 3 giám thị người Việt chở 65 tù nhân khổ sai người Bắc Kỳ sang đảo Hòn Cau trảy dừa. Mọi người đã ngầm liên kết tiêu diệt gần hết bọn đi theo trên Xà lúp, trừ 2 viên giám thị người Pháp thoát chết vì kịp nhảy xuống biển. Chiếc Xà lúp được tù nhân cho chạy thẳng ra khơi khiến thực dân Pháp phải huy động chiếc tàu chiến Aspic đi truy lùng nhưng đành bất lực.

Năm 1908, phong trào chống sưu thuế rộng khắp Trung Kỳ và vụ đầu độc binh lính Pháp gây náo động ở Hà Nội. Chính quyền thực dân ra tay đàn áp các phong trào kể trên.

Các lớp tù nhân bị đưa ra Côn Đảo mang nhiều thành phần mới. Ngoại trừ hàng chục nghĩa quân trong toán khởi nghĩa của Quản Tư ở Bắc Ninh, còn có các binh lính có chân trong Đảng Nghĩa Hưng tham gia vào vụ Hà thành đầu độc và nhiều nghĩa quân của Đề Thám tiếp tục bị đày ra Côn Đảo.

Ngày 14-4-1908, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định như sau:

“Chiểu Sắc lệnh ngày 21-4-1891,
Chiểu Sắc lệnh ngày 2-8-1890 về việc thi hành các hình phạt do các tòa án ở Đông Dương ban hành.
Chiểu bức điện tín số 121 ngày 12-4-1908 của Khâm sứ Trung Kỳ thông báo việc Nhiếp chính viện tuyên phạt đối với Phó bảng Phan Châu Trinh và việc yêu cầu nhà cầm quyền Trung Kỳ can thiệp để đưa Phan Châu Trinh ra Côn Đảo chịu án.
Theo đề nghị của Khâm sứ, Tổng biện lý, Giám đốc Sở Tư pháp Đông Dương, nay ra Nghị định:
Điều 1: Phó bảng Phan Châu Trinh sẽ bị lưu đày ra Côn Đảo theo đúng nội dung bản án mà Nhiếp chính viện đã tuyên.

Điều 2: Khâm sứ Trung Kỳ và Phó Thống đốc Nam Kỳ chịu trách nhiệm thi hành bản Nghị định này”.

Trên Công báo hành chính Nam Kỳ năm 1908 (B.A.C, J.511, tr.2682) cũng công bố văn bản sau:

Theo Nghị định ngày 31-8-1908 của Quyền Toàn quyền Đông Dương, theo đề xuất của Khâm sứ Trung Kỳ và sự nhất trí của Tổng biện lý, Giám đốc Sở Tư pháp.

Theo Quyết định của Tòa án bản xứ Trung Kỳ, những người có tên trong danh sách sau đây sẽ bị giam giữ tại nhà tù Côn Đảo:

Võ Văn Phương Phan Thúc Duyện
Trần Ty Lê Bá Thuận (tức Trinh)
Phan Hiệp Nguyễn Thành (tức Ấm Hàm)
Phan Tấn Xoang Trương Bá Huy
Ngô Đức Kế Nguyễn Quân
Đặng Nguyên Cẩn Nguyễn Mai
Đặng Văn Bạch Phạm Chẩm
Lê Văn Huân Nguyễn Sụy
Lê Mộng Nguyễn Tuyên
Hoàng Cảnh Hoàng Văn Chùy
Nguyễn Cơ (tức Quân) Nguyễn Văn Tỉnh
Dương Thạc Hồ Như Ý
Huỳnh Thúc Kháng Trần Đôn

Về các lớp tù nhân bị đày ra nhà tù Côn Đảo trong thời gian này, sách Thi tù tùng thoại, Chương XXIV của cụ Huỳnh Thúc Kháng viết:

“Chúng tôi ra tháng 8 năm 1908 đến sang năm (1909) độ 2 tháng thì một lớp ra khá đông:
Bắc Hà:

1. Dương Trạc (Cử nhân) 3. Lê Đại
2. Nguyễn Quyền 4. Võ Hoành

Vài tháng sau một lớp đông nữa là:

Thanh Hóa: 1. Hoàng Khải 5. Nguyễn Thiệp
2. Lê Nhĩ 6. Lê Nguyên Thành
3. Nguyễn Xứng 7. Lê Tá
4. Nguyễn Soạn 8. v.v.

Sau ít năm thì có 3 ông mục sư người Nghệ An và Nguyễn Hy Cao (Tú Kiên). Chúng tôi ở riêng một khám nhỏ gọi là Khám B, làm Sở Ghế mây và rẫy làm rau.

Mấy năm sau, Trần Hoành (Trần Cửu Cai), Lê Dật Trúc (Võ), rồi Nguyễn Cảnh Lâm, Nguyễn Thạch Giản, Trịnh Đình Lựu…”(54).

Để hiểu rõ hơn các khuôn diện của phong trào yêu nước và cách mạng hồi đầu thế kỷ XX, xin điểm qua một số nét về các nhân vật tiêu biểu.

Tỉnh Quảng Nam có:

Phan Châu Trinh, hiệu Tây Hồ, đỗ Phó bảng năm 1901, làm việc ở Bộ Lễ. Năm 1905 từ quan đi chu du liên kết những người cùng chung chí hướng, từng qua cả Nhật để tìm gặp Phan Bội Châu. Trở lại đất nước, Phan Châu Trinh cùng Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng đẩy mạnh phong trào Duy Tân. Năm 1908, ông bị bắt ở Hà Nội, đưa về Huế xử đày ra Côn Đảo với tội danh phỉ báng triều đình, sỉ nhục quan lại, cố tình phản nghịch. Bị quản thúc tại Côn Đảo từ tháng 4-1908 đến cuối năm 1911, nhờ Hội Nhân quyền và Dân quyền Pari can thiệp, ông được đưa về đất liền, sau đó sang Pháp. Trong lao tù của kẻ thù, ông luôn giữ vững chí khí của người yêu nước:

“Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn
Lừng lẫy làm cho lở núi non
Xách búa đánh tan dăm bảy đống
Ra tay đập bể mấy trăm hòn
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi
Mưa nắng càng bền dạ sắt son
Những kẻ vá trời khi lỡ bước
Gian nan chi kể sự con con”
(Đập đá tại Côn Lôn)

Huỳnh Thúc Kháng, hiệu Minh Viên, đậu Giải nguyên năm 1900, đỗ Hoàng giáp năm 1904, không ra làm quan, bị bắt trong vụ chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908 với bản án do tòa Nam án Quảng Nam buộc như sau:

Bọn Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyệt, Lê Bá Trinh, Dương Thạc, Trương Bá Huy, Nguyễn Thành, v.v. đều là những người trong khoa mục, danh sắc, há không biết người bội quốc(*) là không nên theo. Mà Nguyễn Thành thấy y đến nhà bèn mời Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng cùng nhau mật nghị, kế đó y ra khỏi nước, bọn Phan Thúc Duyệt, Lê Bá Trinh và Nguyễn Đình Tấn cùng xướng lập thương hội ngấm ngầm gửi tư trợ. Theo ngụy tác Hạ đã khai, Phan Mỗ có gửi về mỗi người một bức thư, không rõ thư nói gì, xem dấu tích hành vi như thế, bảo rằng không di tâm có ai tin được?

Nay xét làm thơ có câu thóa mạ, lao lung(**), gửi thư có câu cường quyền diện tự(***) mà các bài diễn thuyết đều nêu câu lấy yêu đồng bào làm tôn chỉ. Tuy trong cuộc diễn thuyết vẫn nói các chi tiết khai trí, trị sinh, tỉnh xa, sùng kiêm song đại khái lấy đề xướng dân quyền làm mục đích, khêu mối bội loạn cho phần đông. Dò xét đến nguồn gốc là do Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đề xướng mà các người kia phụ họa theo. Hiện hạt dân náo động, hẳn do thuyết dân quyền làm bước đầu mà kích thành cuộc biến này. Nếu không chiếu luật nghiêm trừng trị thì nhân dân bắt chước làm càn, không khỏi có phòng ngại đến chính quyền mà cuộc cai trị gặp nỗi khó khăn.

Vả chăng, việc này thủ xướng, chẳng qua một vài người, còn thì biết mà không ra thú, hoặc không biết mà theo mù, nếu một mai bủa vào lưới tội cả thì nước nhà có chỗ bất nhân. Vậy mà xét theo lúc bình nhật, tham hợp có chứng luận, kết nghĩ minh bạch, cho được thỏa đáng: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyên cùng Phan Châu Trinh đồng tội xử tử đày ra Côn Lôn, gặp ân xá không nguyên tình.

Còn Nguyễn Thành, Lê Bá Trinh, Trương Bá Huy phạt trăm trượng, đày ba ngàn dặm, cải hạng khổ sai 9 năm(55).

Phan Thúc Duyên, hiệu Phong Thử, đậu Cử nhân năm 1900 đồng khoa với Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, không ra làm quan, tích cực hoạt động duy tân tự cường, bị giam cầm ở Côn Đảo đến năm 1919 mới được tự do.

Trương Bá Huy, đậu Tú tài, bị khép vào tội càn quấy diễn thuyết, phỉ báng quan lại.
Lê Bá Trinh (còn gọi là Lê Bá Thuần), bị kết tội ủy đi các xã thôn dụ dỗ các đoàn lấy chữ ký, diễn thuyết cuồng nghịch bậy bạ trong các trường học.

Hoàng Cảnh, Nguyễn Cò (còn gọi là Nguyễn Quân), hai hương chức bị ghép vào tội xúi giục dân chúng, tụ tập đông người ở tỉnh thành; soát thấy giấy tờ xướng làm dân quyền.

Dương Thạc cùng anh ruột là Dương Thường bị ghép tội đương khi hạt dân phiến động, tụ họp bậy bạ, xướng dân quyền; chiếu luật mưu phản chưa thành, án xử giảo giam hậu. Mấy tháng sau Dương Thạc mất tại Côn Đảo.

Trần Kỳ Phong, đậu Tú tài năm 1902, từng tham gia phong trào Cần Vương và sau này là phong trào Duy Tân, nhất là trong vụ chống thuế ở Trung Kỳ. Nghe tin bị tòa Nam án Quảng Ngãi kết tội vắng mặt, ông đã rút vào hoạt động bí mật nhưng đến đầu tháng 11-1908 bị bắt tại Cửa Đại (Quảng Nam), rồi kết án đày ra Côn Đảo 13 năm. Trong ngục tù, ông vẫn ung dung tự tại “góc biển rừng hoang, xương anh hùng không cần lựa chỗ”.

Trần Hoành, quê ở Quảng Trị nhưng tham gia phong trào Duy Tân tại Quảng Nam, bỏ nghề thông ngôn ở mỏ than Nông Sơn, tham gia các hoạt động yêu nước. Bị mật thám truy lùng, ông rút vào hoạt động bí mật nhưng đến năm 1912 bị thực dân Pháp bắt ở Mỹ Tho rồi đày ra Côn Đảo. Ông đã từng cùng Nguyễn Đình Kiên, Phạm Kim Đài vượt ngục để về đất liền hoạt động nhưng lại bị thực dân Pháp bắt và giam lại ở Côn Đảo. Trong lao tù ông luôn giữ vững tinh thần yêu nước, cùng các chí sĩ tiếp tục trù tính, kiên nhẫn chờ đợi thời cơ để tiếp tục con đường cứu nước.

Nguyễn Thành còn gọi là Nguyễn Hàm, hiệu Tiểu La, còn gọi là Ấm Hàm vì là con Bố chánh, Kinh lược sứ Nguyễn Trường. Ông từng tham gia phong trào Cần Vương, giữ chức Tán tương quân vụ, giữ vai trò liên lạc giữa Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng. Tại ngục tù, ông thường nói với đồng chí của mình: “Thời cuộc xoay vần, cơ hội tốt sẽ đến. Guồng máy Đông Á sau này còn biến đổi. Anh em hãy gắng lên!” và mấy câu thơ:

Một việc chưa thành tóc nhuộm mầu,
Non sông ngoảnh lại thẹn mày râu,
Vá trời thiếu sức bàn nghe dễ,
Cứu thế không tài tránh ở đâu?
Cuộc biến ngại gì mây đổi sắc,
Tình người e nổi sóng thêm sâu.
Mở toang hai mắt trông trời đất,
Ngẫm thử mười năm vẫn thế ru(56).

Trần Cao Vân, đã từng đi tu, năm 1892 vào hoạt động ở Bình Định, Phú Yên, làm cố vấn cho cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ, bị bắt giam nhiều lần tại nhà lao hai tỉnh này. Bị kết tội xúi dân phiến loạn, ông lại bị đưa về giam tại Quảng Nam. Năm 1908, khi phong trào Duy Tân dâng cao, ông bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo, đến tận năm 1914 mới thả. Năm sau, ông tham gia tổ chức Việt Nam Quang phục hội ở địa phương, cùng Thái Phiên liên lạc với vua Duy Tân chuẩn bị khởi nghĩa. Cuộc nổi dậy thất bại, ông cùng nhiều đồng chí bị kẻ thù sát hại. Bài thơ Vịnh tam tài thể hiện và tỏ rõ hoài bão và chí hướng của ông:

Trời đất sinh ta có ý không?
Chưa sinh trời Đông có ta trong.
Ta cùng trời đất ba ngôi sánh,
Trời đất in ta một chữ đồng.
Đất nứt ta ra trời chuyển động,
Ta thay trời mở đất mênh mông.
Trời che đất chở ta thong thả.
Trời đất ta đây đủ hóa công(57).
Tỉnh Thừa Thiên có:

Tú tài Lê Đình Mộng bị khép là theo chúng làm càn, bắt trói quan binh, án xử trảm giam hậu.

Tỉnh Quảng Ngãi có:

Nguyễn Đình Quản mang tội xúi dân quần tụ, mượn cớ xin thuế gây náo động kinh thành, mất tại Côn Đảo khoảng 1917.

Nguyễn Sụy và Phạm Cao Chẩm, sau khi mãn hạn ở Côn Đảo lại có mặt trong cuộc khởi nghĩa Duy Tân (1916). Nguyễn Sụy bị sát hại cùng Trần Cao Vân và Thái Phiên. Phạm Cao Chẩm bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai. Tháng 2-1918, Phạm Cao Chẩm cùng Nguyễn Trọng Thạc (con trai Nguyễn Thiện Thuật) lãnh đạo tù nhân nổi dậy, hy sinh cùng đồng đội.
Nguyễn Mai, Tri huyện bị ghép tội làm mất an ninh.
Ngoài ra còn Tú tài Nguyễn Tuyên.

Tỉnh Bình Định có:

Hồ Như Ý, Tú tài, bị khép tội đem bản đồ địa lý tìm đường núi làm căn cứ dụng võ, mưu đồ làm loạn.
Trần Đôn mang tội đem dân gây ép quan tỉnh thành làm náo động.
Hoàng Văn Chùy và Nguyễn Văn Tính mang tội ỷ đông người bắt ép quan giảm thuế.
Nguyễn Cù, Lê Viết Tuấn, Nguyễn Duy Viên, Lê Thức, Trương Khả, Trần Lập, Đoàn Hữu, Đinh Văn Cương đã bị buộc tội cắt tóc ngắn để làm càn.
Nguyễn Hàm, Tri huyện, can tội đem dân tới tỉnh làm huyên náo, tước đoạt bộ triện của 3 tổng.

Tỉnh Thanh Hóa có:

Hoàng Văn Khải, đỗ Cử nhân năm 1906, không ra làm quan, tham gia phong trào Duy Tân và có chân trong tổ chức Minh Xã của Ngô Đức Kế. Bị đày ở Côn Đảo 13 năm. Ra tù, năm 1926 đắc cử Nghị viên Viện Dân biểu Trung Kỳ, năm 1928 cùng Huỳnh Thúc Kháng, Lương Quý Gi, Hoàng Đức Trạch, Lê Văn Huân, Trần Đình Diệm… từ chức. Về sau tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng.
Nguyễn Dữ Hàm, Tri huyện, bị kết tội mê hoặc dân chúng.
Nguyễn Chỉ Tín, con trai Nguyễn Dữ Hàm và con rể Lương Văn Can, tham gia hoạt động trong tổ chức Hạc thành thư xã, bị đày ra Côn Đảo 5 năm. Sau khi mãn hạn, bị tình nghi dính líu tới vụ ném lựu đạn tại Hà Nội, lại bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai.
Nguyễn Xứng, đậu Cử nhân năm 1906, và Lê Duy Tá bị kết tội mê hoặc dân chúng, xử trảm giam hậu đày ra Côn Đảo.
Nguyễn Soạn – đậu Cử nhân năm 1900, Lê Trọng Nhĩ – đậu Cử nhân năm 1903 cùng Lê Nguyên Thành, Lê Văn Tấn, Nguyễn Lợi Thiệp đều bị kết án phạt 100 trượng, đày 3.000 dặm phát phối Côn Đảo.

Các tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An có:

Ngô Đức Kế, đậu Tiến sĩ năm 1901, tham gia thành lập Triều Dương thương quán ở Vinh, chủ bút tờ Hữu Thanh và lập Giác Quần thư xã, bị án sát Hà Tĩnh bắt giữ và đày ra Côn Đảo 13 năm (1909-1921). Trong ngục tù của kẻ thù, ông vững vàng kiên định, là ngôi sao sáng của Thi đàn Côn Đảo, để lại nhiều vần thơ đầy khí tiết:
“Bút chả xong, gươm cũng dở dang
Mười năm nín tiếng chốn cùng hoang
Non sông hun đúc người sau đấy
Cầu nguyện thường đêm cứ đốt nhang”.

Đặng Nguyên Cẩn, đậu Phó bảng năm 1895, tuy làm Đốc học nhưng vẫn nặng lòng yêu nước, tham gia cổ động cho phong trào Đông Du và Duy Tân. Huỳnh Thúc Kháng đánh giá: “Cụ Đặng Nguyên Cẩn là một nhà học rộng, chí sĩ Nghệ Tĩnh xem như núi Thái Sơn, sao Bắc Đẩu, là một người bạn già của cụ Sào Nam”. Năm 1923, ông mất, sau khi ra tù được 2 năm.
Lê Văn Huân, đậu Giải nguyên năm 1906, tham gia thành lập Triều Dương thương quán, chủ trương cải cách văn hóa và công thương nghiệp. năm 1908, bị bắt và lưu đày ra Côn Đảo, đến tận 1917 mới được trả tự do. Cùng bị bắt và đày ra Côn Đảo là người Hà Tĩnh còn có Phạm Văn Ngôn và Nguyễn Duy Dương.

Đặng Văn Bá, đậu cử nhân năm 1900, hoạt động tích cực trong Triều Dương thương quán, luôn luôn giữ vững tinh thần giữa ngục tù Côn Đảo:
“Chớ ngại tóc sương phơi khắp mái
Vẫn lưu huyết để chứa đầy bầu
Gió mưa gắng sức gây nên chuyện
Chống mặt cùng trông gặp hội sau”

Nguyễn Đình Kiên còn gọi là Tú Kiên, hiệu Hy Cao, tích cực hoạt động trong phong trào Duy Tân; năm 1908 bị bắt và lưu đày ra Côn Đảo. Năm 1917, Nguyễn Đình Kiên cùng Trần Hoành, Phạm Cao Đài vượt biển để trở về đất liền thực hiện dự án xây dựng tổ chức Phục hưng Việt Nam (gọi tắt là Phục Việt hoặc Hưng Nam”(****) nhưng thuyền bị trôi dạt sang Trung Quốc, bị bắt trở lại Côn Đảo đến tận năm 1924 mới được tự do.

Trần Ty và Phan Hiệp bị đưa ra Côn Đảo vì tội đem dân tới huyện dọa nạt, sỉ mạ quan huyện.
Võ Tính và Phan Tấn Xoang thì can tội xúi dân bao vây huyện đường kêu thuế.
Võ Văn Phương có thể tội liên kết cùng Cao Đạt ngầm mưu xướng họa, làm con dấu giả, bị kết án 13 năm khổ sai.

Châu Trạc và Phạm Ngô Đông mang tội dán bảng kêu gọi dân chúng làm loạn.
Đậu Quang Lĩnh (Đỗ Lệnh), Nguyễn Văn Tường và Nguyễn Thần Đồng là 3 vị linh mục bị kết án dính líu tới vụ ném bom ở Thái Bình, phá rối trị an. Linh mục Nguyễn Văn Tường mất tại Côn Đảo.

Nguyễn Văn Ngôn, còn gọi là Tú Ngôn, tham gia hoạt động trong phong trào yêu nước do Phan Bội Châu khởi xướng, từng lên Yên Thế lập đồn Tú Nghệ chiến đấu bên cạnh Đề Thám. Năm 1911, ông bị bắt và đày ra Côn Đảo, mất tại nhà tù.

Tỉnh Hà Nội (bao gồm cả các huyện Từ Liêm, Thanh Trì) có:

Phan Tuấn Phong và Phan Trọng Kiên – anh trai của luật sư Phan Văn Trường, quê làng Đông Ngạc, Từ Liêm bị đày ra Côn Đảo an trí năm 1909 vì có liên can đến Đông Kinh nghĩa thục. Năm 1911, hai ông được đưa về đất liền an trí nhưng trên đường đi, Phan Tuấn Phong đã qua đời và bị kẻ thù quăng xác xuống biển.
Nguyễn Hữu Cầu, người làng Trung Tự, đỗ Cử Nhân năm 1906, ham đọc Tân văn, Tân thư, là một trong những người sáng lập ra Đông Kinh nghĩa thục và là ủy viên Ban Tu thư của nhà trường. Ông bị đày ra Côn Đảo năm 1914 và được trả tự do năm 1919.
Lê Đại, người làng Thịnh Hào, có chân trong Ban Tu thư của Đông Kinh nghĩa thục, bị đày ra Côn Đảo từ năm 1926 vì thêm tội tham gia vào vụ Hà thành đầu độc của Đề Thám.
Võ Hoành, người làng Thịnh Liệt, tham gia Đông Kinh nghĩa thục bị đày ra Côn Đảo năm 1908, sau bị an trí ở Sa Đéc.

Tỉnh Bắc Ninh có:

Nguyễn Quyền, đậu Tú tài năm 1891, làm Huấn đạo Lạng Sơn, bỏ việc về Hà Nội cùng Lương Văn Can và một số chí sĩ yêu nước khác mở Đông Kinh nghĩa thục và được cử làm Giám đốc của nhà trường. Khi trường bị đóng cửa, ông mở hiệu Hồng Tân Hưng vừa buôn bán hàng nội hóa vừa là nơi liên lạc với những người yêu nước. Nhân vụ đầu độc Hà thành, ông cùng nhiều chiến hữu bị bắt và đày ra Côn Đảo, sau đưa về an trí ở Bến Tre.
Nguyễn Cảnh Lâm, đậu Tú tài năm 1900, dạy học ở quê nhà, sau tham gia Đông Kinh nghĩa thục. Năm 1908, ông bị bắt vì tội phản nghịch chống đối nhà cầm quyền, bị kết án 5 năm khổ sai đày ra Côn Đảo(58).

Tỉnh Hưng Yên có:

Dương Bá Trạc, hiệu Tuyết Huy, anh ruột của Dương Quảng Hàm, đậu Cử nhân năm 1900, tham gia tích cực vào Đông Kinh nghĩa thục, năm 1908 bị đày ra Côn Đảo rồi an trí tại Long Xuyên.
Trong dịp này còn có các nhà yêu nước bị đày ra Côn Đảo như Phạm Cao Đài, Hoàng Hưng, Đặng Bỉnh Thành trước tham gia phong trào Đông Du, sau khi ở Nhật Bản về tiếp tục hoạt động, và Trịnh Đình Lựu, Trần Thúy, Nguyễn Trung, Nguyễn Tiệp, Nguyễn Huy Tiễn, Nguyễn Tử Hành, Nguyễn Tử Thân… hoạt động chính trị ở Bắc Kỳ bị đày biệt xứ.
Cuối năm 1917, đầu năm 1918 có thêm một số chí sĩ yêu nước tham gia cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên bị đày ra Côn Đảo như Binh Thiều, Nho Địch, Đội Trường, Đội Giá, Đội Lư. Đáng chú ý hơn cả là trường hợp Nguyễn Thức Bao¸ quê Nghệ Tĩnh đã từng xuất dương theo Phan Bội Châu, năm 1914, bị Pháp bắt giải về nước, kết án 15 năm tù đày ra Côn Đảo. Ông đã vượt ngục bằng bè, đến được vịnh Thái Lan, tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều. Năm 1918, ông lại bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai rồi lại vượt ngục, bị bắt và xử với mức án chung thân.
Tại nhà tù Côn Đảo, từ năm 1929, các tù nhân chính trị, không kể số người bị bắt từ các vụ khởi nghĩa Yên Thế, khởi nghĩa Thái Nguyên và các hội viên Thiên địa hội còn sót lại, bắt đầu xuất hiện các đoàn tù nhân chính trị mới từ Bắc Kỳ tới, kể từ sau vụ xử của Hội đồng đề hình lần thứ nhất. Trong số này, phần lớn là đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng và hội viên Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Theo Trần Huy Liệu, đoàn này lúc mới ra được bọn thống trị Pháp ở Côn Đảo bố trí cho làm vườn tại rẫy của tên Giám đốc quần đảo và nhà tù Côn Đảo mà người ta quen gọi là “Sở rẫy Ông lớn”. “Ông lớn” là cái tên mà tù Côn Lôn dùng để gọi tên Giám đốc, gọi lâu thành quen. Chúng tôi nhiều khi ngồi nói chuyện với nhau cũng nhắc đến thằng “Ông lớn”. Hồi ấy, chính trị phạm trên Côn Đảo còn là “của hiếm” và được đối xử có phần đặc biệt hơn so với thường phạm. Tù chính trị được mặc quần áo trắng do gia đình gửi cho, nghĩa là không phải mặc quần áo xanh nhuộm chàm của nhà tù, không phải cạo trọc đầu, được đi guốc, dép, nhất là được tự do đi lại trong một phạm vi nhất định chứ không bị nhốt trong các khám tù. Một điểm đáng chú ý là: lúc đầu bọn thống trị chọn những tù chính trị có trình độ văn hóa khá để làm việc tại các văn phòng, công sở, cũng có người khảng khái không chịu nhận, không chịu hợp tác và cuối cùng bị phạt giam một tuần lễ. Anh em tù thường gọi tù chính trị phạm là các “ông tù”(59).
Cũng theo Trần Huy Liệu, giai đoạn này, tại nhà tù Côn Đảo có nhiều nhân vật tiêu biểu như Bửu Đình, Phạm Tuấn Tài, Hoàng Phạm Trân, Lê Cần, Đào Khắc Hưng, Hoàng Trác, Hoàng Hô, Lê Xuân Huy, Nguyễn Phương Thảo (tức Nguyễn Bình), Nguyễn Danh Đới, Nguyễn Văn Năng, Nghiêm Toản.
Bửu Đình, tức Nguyễn Phúc Bửu Đình, hiệu Hà Trì, dòng dõi vua Minh Mệnh, công chức ngành bưu điện tại Sài Gòn, cộng tác viên của nhiều tờ báo và liên hệ với nhiều người yêu nước nên bị triều đình kết tội khi quân, xóa tên hoàng tộc và buộc phải theo họ của mẹ, bị án đày đi Lao Bảo rồi Côn Đảo.
Trần Huy Liệu cho biết, trong chỗ giao thiệp thân mật với các chính trị phạm ở Sở rẫy Ông lớn hồi ấy có Bửu Đình, người trong hoàng tộc nhà Nguyễn nhưng bị bắt về tội chửi vua, đả kích chế độ quân chủ trên tờ Tân Thế kỷ xuất bản ở Sài Gòn và diễn thuyết tại nhà cụ Phan Bội Châu năm 1926. Bửu Đình và Hồ Đắc Hiển bị Nam triều kết án 9 năm tù và dày đi Lao Bảo. Ba năm sau Bửu Đình lại bị đày đi Côn Đảo. Ông vượt ngục nhiều lần và mất tích.
Phạm Tuấn Tài, quê Nam Định, giáo học, sáng lập Nam Đồng thư xã và cùng Nguyễn Thái Học tổ chức ra Việt Nam Quốc dân Đảng, bị bắt và đày ra Côn Đảo năm 1929.
Hoàng Phạm Trân, còn gọi là Nhượng Tống, quê Nam Định, tham gia thành lập Nam Đồng thư xã, có chân trong Việt Nam Quốc dân Đảng, bị bắt năm 1929 với án 10 năm cấm cố.
Nguyễn Phương Thảo, còn gọi là Nguyễn Bình, quê Hưng Yên, tham gia phong trào yêu nước khá sớm, sau khi gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng bị bắt và đày ra Côn Đảo cùng Hoàng Phạm Trân, Nghiêm Toản.
Nghiêm Toản, quê Nam Định, tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm Đông Dương, tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng từ khi còn ngồi ghế nhà trường, bị bắt giam ở Hòa Lò (Hà Nội) rồi đày ra Côn Đảo.
Lê Cần, nghĩa quân của Phan Đình Phùng, bị giam cầm ở Côn Đảo trên 30 năm, được giao việc trông coi nghĩa địa chôn cất các công chức và binh lính người Việt.
Nguyễn Danh Đới, người Thái Bình, từng được Nguyễn Ái Quốc đào tạo tại Quảng Châu (Trung Quốc), tham gia Việt Nam Cách mạng Thanh niên từ năm 1926, bị thực dân Pháp bắt tháng 2-1929 và đày ra Côn Đảo.
Nguyễn Văn Năng, Bí thư Tỉnh hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên của tỉnh Thái Bình, bị bắt và và đày ra Côn Đảo năm 1929.
Ngoài ra còn có Nguyễn Phú Cương – hội viên Việt Nam Cách mạng Thanh niên, công nhân mỏ than Cẩm Phả, bị bắt khi đang rải truyền đơn và Hoàng Trác, một chí sĩ yêu nước người Nam Định.
Bắt đầu từ năm 1908, đội ngũ tù nhân yêu nước có thêm nhiều chí sĩ yêu nước, nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt trong các cuộc vận động Duy Tân, chống thuế ở Trung Kỳ, Đông Kinh nghĩa thục và đầu độc Hà thành. Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng bị ghép vào các tội theo đảng bội quốc, ngầm thông nước ngoài, đề xướng dân quyền, kết án đày Côn Đảo và cùng bị án ngộ xá bất nguyên.

Trong tác phẩm Huỳnh Thúc Kháng tự truyện có một đoạn ghi khá đầy đủ về chuyến ra Côn Đảo đó:(60)

“Lúc bấy giờ cùng đi với tôi có My Sanh Phan Thúc Duyện, Hàn Hải Lê Bá Trinh (cử nhân), Phước Âm Trương Bá Huy, Trường Đình Dương Phu Thạc cùng Hương Cảnh (Phước Yên), Hương Quần (Định Thái), người cựu Đảng Cần vương Tiểu La Nguyễn Triết Phụ, cả thảy 8 người do chuyến xe lửa đường Hội An ra Đà Nẵng lên tàu thủy. Tại khoang thuyền phía sau, một đoàn xiềng gông lang thang, té ra thân sĩ Nghệ Tĩnh cùng bị án đày Côn Đảo, lần hỏi ra mới rõ: Tập Xuyên Ngô Đức Kế, Thai Sơn Đặng Nguyên Cẩn, Lâm Ngu Lê Văn Huấn, Nghiêu Giang Đặng Văn Báu đều là bạn từ lâu đã giao nhau trên đường tinh thần, chứ chưa lần nào xáp mặt, nay mới thấy qua đã như người cũ cùng Đội Tịnh, Đội Phương, Lý Tự, Lý Hạ Lôi, Hương Hợp. Kế đến các Thừa Thiên: ấm sinh Lê Đình Mộng cũng bị giải lên tàu. Đến Bình Định vào cửa Thi Nại có thân sĩ và dân Nghĩa Định xiềng xích lên thuyền: Phong Niên Nguyễn Đình Quản, Hổ Khê Nguyễn Sụy, Kim Giao Nguyễn Mai, Xuân Phổ Phạm Cao Chẩm, Tân Hội Nguyễn Tuyên (Quảng Ngãi); học sinh Bình Định có Hồ Như Ý, hương chánh Đôn cùng dân danh Chi, danh Tịch, cộng tất cả đồng thuyền 27 người, đến Sài Gòn vào Khám cúp tóc, thay quần áo, ở lại độ một tuần đợi kỳ tàu. Ngày 28-8 đến Côn Lôn”.

Các chí sĩ yêu nước được phát một tấm thẻ gỗ ghi số tù và khắc hai chữ D, C (Dangerẽu Condamné = tù nguy hiểm) rồi chia ra các phòng, cùng những tù nhân khác làm lao dịch. Phan Châu Trinh ra trước đã được đưa sang an trí ở làng An Hải. Ngay đêm đầu tiên, Huỳnh Thúc Kháng được động viên bằng những dòng thơ của Thượng Cát Trần Trọng Cung – người đã tham gia phong trào Cần Vương và đầu độc Hà thành (Ắt hẳn lòng trời phò Tổ quốc. Hỏa tinh thổi đỏ giữa tầng không) và thư của Tây Hồ Phan Châu Trinh chỉ vẽ mọi việc trong tù cùng lời căn dặn: “Anh em vì quốc dân hy sinh tất cả ra đây, nơi đảo khơi tưởng có vui thú tuyệt, chứ chẳng có chút nào buồn chán. Cảnh cay đắng này làm trai ở thế kỷ hai mươi không thể không nếm trải”.

Cũng theo Huỳnh Thúc Kháng, ngoài đảo canh phòng rất nghiêm, nhưng tù nhân bỏ trốn xuất hiện liên tục. Giữa một khu đảo bốn bề đều là biển cả mênh mông vây bọc, nếu không phải là người có gan liều mình với sống chết thì không dám vượt ngục.

Để chuẩn bị trốn khỏi nhà tù, tù nhân phải dự trữ những vật cần dùng như hộp diêm, đồ đốn cây, cơm khô cùng đồ đựng nước uống. Lợi dụng những ngày được ra ngoài làm việc mà dồn chứa, cất giấu ở các nơi hoặc thuê mướn những tù nhân bị án nhẹ ở các sở ngoài mua sắm giúp. Khó nhất là sự chuẩn bị còn việc bỏ trốn thì khi đi làm lao dịch, lẻn chui vào rừng một cách dễ dàng.

Muốn trốn phải có vài ba tù nhân cùng đi vì còn phải đốn cây, bứt dây để kết bè đi biển.
Mỗi năm, vào mùa gió chướng, tù nhân bỏ trốn khá nhiều song hoặc vào rừng hết thực phẩm phải quay trở lại, hoặc chưa kịp làm bè đã bị bắt. Làm được bè rồi ra biển, không gặp gió cứ lừng khừng gần bờ, bị Xà lúp đi tuần bắt giữ. Có trường hợp ra được biển rồi hết đồ ăn bị chết đói hoặc bị sóng đánh vỡ bè, chìm đắm xuống biển khơi. Người về được đất liền có khi lại bị bắt giải trở ra đảo.

Tại nhà tù Côn Đảo hồi đầu thế kỷ XX vẫn chưa có sự phân biệt chính trị phạm, quốc sự phạm với thường phạm nên tất cả vẫn giam chung ở Banh I. Các chí sĩ yêu nước, các nhà khoa bảng vẫn phải làm khổ sai như tù thường. Án nặng thì phải đập đá trong banh không được ra ngoài. Án nhẹ thì đi làm rẫy, đốn củi, dọn tàu. Huỳnh Thúc Kháng, trong Thi tù tùng thoại cho biết:

“Lúc chúng tôi ra đảo có dọn tàu hai lần, rất là tê mê bải hoải, rước lấy vô số là roi! Đám quan to duy có hai ông Phong Thử và Ngô Xá là vác nổi bao lúa nặng 60kg, còn bao nhiêu đều quỵ liệt cả, đến 2 người cũng không rê nổi… Có đánh cũng chỉ nằm quay ra đó mà chịu, không làm nổi việc”.

Bị đánh đập tàn nhẫn, lại bị thường phạm nhũng nhiễu, dịch bệnh đe dọa các chí sĩ đã kiên quyết đấu tranh. Năm 1910, Quản đốc nhà tù Côn Đảo là Cudenet đã phải đưa các chính trị phạm giam riêng ở Khám số 6 và Khám số 7 thuộc Banh I, cho làm khổ sai nhẹ hơn như dệt chiếu, đan mây, làm rẫy.

Cũng vào khoảng thời gian đó, vào ngày 22-5-1910, tù nhân ở nhà tù Côn Đảo lại bạo động chống lại bọn cai tù, gác ngục. Một nhóm tù nhân được giao việc xây bể giặt quần áo ở Banh I đã dùng những dao nhọn làm bằng đai thùng phuy đâm chết giám lại ngục Emile Anjard và một tên giám thị khác. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp dữ dội. Ba tù nhân khởi xướng bị kết án xử chém. Họ điềm nhiên đón nhận cái chết, kiên quyết không ký vào đơn xin ân giảm.

Sự trả thù man rợ và chém giết dã man của kẻ thù vẫn không làm cho tù nhân nhụt chí. Ngày 14-2-1918 (tức mồng 4 tết năm Mậu Ngọ), Nguyễn Trọng Thạc – con trai của Nguyễn Thiện Thuật đã cùng Phạm Cao Chẩm và những tù nhân chung thân ở Banh I đập đá ở sân, dùng búa xông vào đập chết Giám ngục Simon Jean và 2 lính mã tà, tiến hành cướp vũ khí của lính gác nhưng hạ sĩ quan Larmurier đã kịp thời huy động lực lượng phản kích. Được sự chi viện của Quản đốc nhà tù Andouard, kẻ thù đã xả súng một cách dã man vào những người nổi dậy, giết chết hơn 80 tù nhân – trong đó có Nguyễn Trọng Thạc và Phạm Cao Chẩm.

Andouard nguyên là Trung úy trù bị ngạch cảnh sát, bị cụt tay trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, là tên Chúa đảo vô cùng hung bạo. Vụ thảm sát dã man do hắn chỉ huy đã bị báo chí Sài Gòn và Pháp lên án mạnh mẽ khiến hắn phải ra hầu tòa vào ngày 1-10-1918, nhưng rốt cuộc viên Chúa đảo gian ác vẫn được tha bổng và trở lại nhiệm sở tại Côn Đảo.

Ngày 3-12-1919, Andouard đã phải đền tội. Một tù nhân tên là Sửu Nhỏ đã dùng súng lục hạ sát tên Quản đốc khát máu ngay tại phòng làm việc của hắn.

Giữa lúc các phong trào chống lại bọn thống trị của nhà tù bằng bạo lực vẫn để lại nhiều dư âm trong lòng tù nhân Côn Đảo thì lại xuất hiện một xu hướng khác có vẻ hòa bình hơn, đó là hình thức sinh hoạt trong Thi đàn Côn Đảo. Nhờ được ở cùng một khu vực, các chí sĩ có điều kiện dùng thơ ca xướng họa về đủ loại thể tài, trong đó phần lớn là những nỗi lòng nhớ bạn, thương quê và trằn trọc trong nỗi đau mất nước, mong qua đó mà gìn giữ cho nhau cốt cách và tinh thần dũng liệt vì sự nghiệp đánh đuổi kẻ thù chung.

Huỳnh Thúc Kháng, người đã ghi lại tất cả những vần thơ đối đáp ấy trong Thi tù tùng thoại, đã hết lời ca ngợi cái sức mạnh di dưỡng tinh thần của những vần thơ được cất lên giữa chốn lao tù ngoài bể khơi sóng vỗ.

“Đến cảnh tù, trăm điều tự do không còn một chút gì, đến cả cái xu xác cũng không phải của mình, chỉ lựa có một chút tự chủ về tinh thần mà muốn an ủi cho tinh thần thì thi văn lại là món ăn tu dưỡng tinh thần, đã không phương hại gì mà lại có sự bổ ích rất rõ ràng. Trong trường học thiên nhiên 13 năm (1908-1921) cả bọn đồng thời với tôi, cả thân sĩ cho đến người dân, kẻ chết không nói, người còn mà được tha về, vẫn giữ được tấm lòng không thay đổi. Biết đâu không nhờ món nuôi tinh thần đằm thắm đó mà không tự biết.

Thi cùng mà sau mới hay cái đó không dám chắc. Song thi văn có thể làm món nuôi tinh thần trong cảnh cùng thì chính tôi là một người đã nhờ món quà ấy mà nuôi tinh thần được sống đến ngày nay”(61).

Thi đàn Côn Đảo đã góp phần rèn luyện, bồi dưỡng chí khí, hoài bão của những tù nhân có tâm huyết, tạo ra và xác lập được mối đồng cảm và đồng chí hướng giữa họ với nhau, đúng như Phan Bội Châu đã xác nhận:

“Thi mà tù, tù mà thi là một việc rất hiếm. Chẳng dè sự hiếm có ở đời xưa mà lại náo nhiệt ở đời nay! Thi đàn ở đảo Côn Lôn vừa xây đâu trước đây 30 năm mà các ông tù hay thơ, gót trước liền gót sau khoảng không dứt:

Sá lẽ bút thua gươm được mãi
Ghê phen núi đổ bể vùi đi
Ai ơi! Muốn học thi tù nhé
Trong đảo Côn Lôn bạn thiếu gì”

Cũng không thể phủ nhận một điều, không ít chính trị phạm đã rơi vào hoàn cảnh “nhốt chặt mười năm cọp cũng lành, muốn về đánh chén với non xanh”, chỉ lo làm ăn chơi bời, không có thi hứng thi cảm, sinh ra xa xỉ, nay tiệc mai tùng, đêm nào cũng tổ tôm tài bàn, quên hẳn mình ở tù mà cũng chẳng nhớ vì cớ gì lại ở cõi tù đó. Trong điều kiện ấy mới thấy đóng góp của Thi đàn Côn Đảo lớn lao đến chừng nào.

Một đóng góp cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Thi đàn Côn Đảo cũng hết sức lớn lao nữa là, dưới hình thức đàm đạo thơ văn, những buổi bình thơ, ngâm vịnh, các nhà chí sĩ đã có những buổi sinh hoạt chính trị nhằm trình bày lại những điều mình suy ngẫm, đánh giá lại quá trình hoạt động, phác thảo kế hoạch xúc tiến nhanh sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và đất nước. Nhờ đó, nhiều người đã không ngừng tự hoàn thiện bản thân, củng cố thêm quyết tâm dấn sâu vào con đường cứu nước. Một tổ chức yêu nước mới mang tên Phục hưng Việt Nam(62) (có thể gọi tắt là Phục Việt hoặc Hưng Nam đều được) đã ra đời với các sáng lập viên là Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên, Ngô Đức Kế, Trần Hoành và Hoàng Văn Khải (Cử Ngò) nhằm mục đích:

– Nghiên cứu về các nguyên nhân thất bại của các hoạt động trước đây.
– Liên lạc với Phan Bội Châu về các đồng chí ở Trung Quốc.
– Khi ra tù sẽ tuyên truyền sôi nổi ở trong nước về tổ chức này.

Tháng 8-1917, Nguyễn Đình Kiên, Trần Hoành và Phạm Kim Đài cùng 3 tù thường phạm thuộc Lục tỉnh Nam Kỳ tổ chức kết bè vượt biển trở về đất liền, thực hiện chuyến sang Trung Quốc tìm gặp Phan Bội Châu. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, bè của họ dạt vào đất Bình Thuận. Trần Hoành kể lại:

“Sau vào một nhà nọ, mua gạo nấu ăn và phơi quần áo, mấy ông làng nghe có bọn chùm ghe, tới hỏi đầu đuôi. Nguyên trong bọn Lục tỉnh có một người trước có làm việc ở phòng giấy quan có đem theo một tờ giấy chữ Tây có dấu Tham biện, đưa ra trình, bọn làng cho ở đó ăn uống.
Đoạn ra đi, 3 người Lục tỉnh rẽ đường lên miền Mọi, giả làm bọn mua heo về Lục tỉnh còn 3 anh em chúng tôi khi ấy bàn thầm với nhau nếu đi chung một đường, e không khỏi nguy hiểm, lộ hành tích ra, bèn chia nhau đi riêng. Khi chúng tôi đã mua được ba cái giấy thuế thân, tôi có quen biết trong Nam nên vào Nam Kỳ, còn Hy Cao, Kim Đài đi ra miền ngoài, từ đó ai đi đường ấy.

Tôi vào Nam làm thầy dạy học, giả người buôn trầm quế, nay đây mai đó, thỉnh thoảng có gặp người quen. Một bữa nọ, nhà tên khách nọ. Họa đâu đưa đến. Đêm ấy có cảnh sát và ông cò tới xét á phiện hay rượu lậu gì đó, thấy tôi người lạ hỏi, tôi khai người Trung Kỳ bèn túm luôn đem về bót rồi cho giải về Trung Kỳ”(63).

Nguyễn Đình Kiên và Phạm Kim Đài cũng đều bị bắt trở lại nhà tù Côn Đảo khi họ đến Thượng Hải (Trung Quốc) do sự phản bội. Chuyến vượt biển đầy gian lao vất vả chưa đi được tới đích.
Trong khi ấy, Lê Văn Huân và Cử Ngò đã được trả lời tự do và về tới đất liền. Năm 1921 đến lượt Ngô Đức Kế cùng được thả một đợt với Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn và Trần Kỳ Phong. Bài thơ Trên đường về của Huỳnh Thúc Kháng đã ghi lại không khí lúc ấy:

“Mười hai năm tù ngục
Ba ngàn dặm biển khơi
Cùng đi hai mươi bảy
Cùng về chỉ bốn người
Tiếng quốc hồn đương bận
Mình sâu cát chửa vùi
Nợ bầy sao trả đặng
Mày râu khỏi hổ ngươi”(64)

Sau mấy năm vận động và chuẩn bị, mãi tới năm 1924, Lê Văn Huân mới gặp được một số thanh niên nhiệt thành (Tôn Quang Phiệt, Trần Mộng Bạch, Ngô Đức Diễn). Ngày 14-7-1925, Lê Văn Huân đã cùng 3 thanh niên trên đã nhóm họp và quyết định ra mắt Phục Việt. Tiếp theo đó phát triển thêm được Trần Phú, Hoàng Đức Thi.

Trần Phú giới thiệu thêm được Lê Duy Điếm, còn Tôn Quang Phiệt kết nạp thêm được Ngô Đức Trì; Trần Mộng Bạch phát triển thêm được Phan Kiêm Huy, Trần Văn Tặng; Ngô Đức Diễn kết nạp được Hà Huy Tập; Lê Văn Huân mời được Cử Ngò và Nguyễn Trác.

Hà Huy Tập đánh giá: “Đảng này từ đầu được gọi là “Phục Việt” (Restitution Annamite) mà những người sáng lập là một vài trí thức. Đó là một nhóm có xu hướng cộng sản nhưng – bởi sự dốt nát về ý thức hệ và sự thiếu kinh nghiệm cách mạng – họ không thể trình bày một cách rõ ràng chương trình hành động của họ, cũng không thể tự tổ chức thành một đảng đấu tranh cách mạng thật sự”(65).

Trong lúc các nhà yêu nước hướng vào tuyên truyền, tổ chức để đi đến phát động quần chúng đứng dậy khởi nghĩa, từ chối phương pháp tiến hành những cuộc nổi dậy bột phát của lớp người đi trước thông qua việc phác thảo ra mô hình hội Phục Việt và trên thực tế đã ra đời tổ chức đó, để đến đầu năm 1930 trở thành một thành tố của Đảng Cộng sản Việt Nam thì những người yêu nước bị giam cầm tại nhà tù Côn Đảo là các đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng vẫn tiếp tục chủ trương tiến hành bạo động.

Theo Trần Huy Liệu, từ năm 1930 trở đi, phong trào đấu tranh cách mạng dâng cao, đồng thời Côn Đảo cũng nhận thêm hàng nghìn tù chính trị. Vì vậy, cố nhiên bọn thực dân Pháp cũng không thể để một số chính trị phạm ở Sở Rẫy Ông Lớn kéo dài mãi các chế độ đặc biệt như trước nữa. Về phía những chính trị phạm ở đây cũng đương nổi lên những lớp sóng ngầm để rồi có dịp trở thành dông bão. Đặc biệt là những tù chính trị Việt Nam Quốc dân Đảng bị bắt về vụ khởi nghĩa Yên Bái, những tin tức từ đất liền đã gieo vào tâm tư họ những phấn khích bồn chồn. Họ không thấy rằng, đảng cách mạng phải ăn sâu bám rễ vào nhân dân; cũng không nghĩ rằng, phong trào cách mạng có lúc lên lúc xuống, miễn là đảng vẫn sống trong lòng nhân dân thì nhất định không thể bị tiêu diệt vì có ngày đảng lại lớn mạnh lên cùng với phong trào đấu tranh do đảng lãnh đạo. Phải nhận thấy rằng tư tưởng thành nhân là tư tưởng chỉ đạo của Việt Nam Quốc dân Đảng hồi ấy. Nó chẳng những chi phối những người tham gia khởi nghĩa Yên Bái mà cả những người hăng hái ở nhà tù. Những người cộng sản khi vào tù đã nghĩ ngay đến nhiệm vụ biến nhà tù thành trường học cách mạng, một nơi đào tạo cán bộ cách mạng qua các đợt học tập, huấn luyện, qua các cuộc đấu tranh khôn khéo để bảo toàn lực lượng, trong khi đó những đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng, trừ những kẻ mất phẩm chất đầu hàng địch còn những ai hăng hái thì không tìm ra lối thoát mà chỉ nghĩ đến manh động.
Tiêu biểu cho xu hướng này là Phạm Tuấn Tài. Ông tỏ ra rất khâm phục hành động của Nguyễn Trọng Thạc trong cuộc nổi dậy tháng 2-1918, đã theo gương đó mà tổ chức ra một nhóm 5 người gồm các đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng ở Sở Rẫy Ông Lớn, lôi kéo được Bửu Đình và qua đó nắm được đầu sỏ của thường phạm rải rác ở các Sở, một số giám thị coi Sở và Lê Cần – một yếu nhân trong khởi nghĩa Hương Khê. Nhóm bạo động dự định sau khi chiếm được Côn Đảo sẽ đoạt tàu rút về nơi khác. Muốn vậy phải làm nhanh gọn không để địch kịp điện báo về Sài Gòn, phải vô hiệu hóa được hơn một trăm lính Pháp và tiêu diệt được lính gác một cách êm nhẹ. Phạm Tuấn Tài đã có nhân mối ở kho súng và các Sở Bưu điện, Sở Vô tuyến và dự định sẽ đoạt chiếc tàu Armant Rousseau.

Tuy nhiên, kế hoạch cứ phải thay đổi cho hợp với tình thế, như chuyển từ tấn công đồn binh sang bỏ thuốc độc, chuyển từ ngày 14-7 sang ngày khác do việc tuyên truyền lộ liễu và ngày 15-7-1930, toàn bộ kế hoạch đổ vỡ. Các chính trị phạm có dính líu đến âm mưu trên bị đưa sang Hòn Cau. Cuối năm 1930, các tù nhân khổ sai vốn là đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng tham gia vào vụ nổi dậy bất thành ấy đã cùng Bửu Đình chặt tre đóng bè, đem theo lương thực thực hiện chuyến vượt biển, không để lại dấu tích gì ngoài bức thư gửi cho Chúa đảo thông báo họ đi tìm chân trời tự do mới.

Âm mưu bạo động do Phạm Tuấn Tài chỉ đạo bị dập tắt đã khép lại một giai đoạn lịch sử đấu tranh của tù nhân Côn Đảo khi chưa có sự hiện diện của những tù nhân cộng sản.

** *

Lịch sử nhà tù Côn Đảo của 68 năm kể từ khi thành lập đầy máu xương và bạo tàn. Kẻ thù đã không từ bất cứ một thủ đoạn nào để biến quần đảo xinh đẹp này thành địa ngục trần gian. Bao lớp chí sĩ yêu nước đã bị thực dân Pháp đày ải tới đây nhưng giữa ngục tù và kìm kẹp tra tấn của kẻ thù họ đều giữ vững gan vàng dạ sắt, vẫn ngày đêm chuốt sáng tinh thần yêu nước, chí căm thù giặc, nung nấu khát vọng giành độc lập tự do cho đối tượng. Côn Đảo đã rạng rỡ với những Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế, Nguyễn Đình Kiên, Nguyễn Quyền, Huỳnh Thúc Kháng và hàng trăm, hàng ngàn nhà yêu nước khác. Côn Đảo đã trở thành trường học, nơi đào luyện thêm ý chí sắt đá kiên cường. Lòng yêu nước ở nơi ngục tối đã rèn đúc nên một thế hệ khát khao với sự nghiệp đấu tranh giành lại non sông, tìm ra con đường đi tới tương lai. Những dự liệu để Phục Hưng Việt Nam, để mang lại cơm no áo ấm cho giống nòi đã xuất hiện ngay ở Côn Đảo mịt mùng giữa biển khơi. Và chính vì lẽ đó, Côn Đảo sau này đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam bất diệt.

K.Đ.T

Chú thích:

(1) Xem: Công báo Nam Kỳ thuộc Pháp (B.O.C.F), J.4.
(2) Trong 17 năm đó, có 9 đời Thống đốc Nam Kỳ do võ quan đảm nhiệm như sau:
– Bonard (tháng 6-1862 đến tháng 4-1863) – Thiếu tướng hải quân.
– De La Grandière (tháng 5-1863 đến tháng 4-1868) – Thiếu tướng hải quân.
– Ohier (tháng 4-1868 đến tháng 12-1869) – Thiếu tướng hải quân.
– Faron (tháng 12-1869 đến tháng 1-1870) – Thiếu tướng thủy quân lục chiến.
– Bá tước De Cornulier – Lucinière (tháng 1-1870) đến tháng 3-1871) – Thiếu tướng hải quân..
– Dupré (tháng 4-1871 đến tháng 3-1874) – Phó thủy sư đô đốc.
– Krantz (tháng 3-1874 đến thàng 11-1874) – Thiếu tướng hải quân.
– Duperré (tháng 12-1874 đến tháng 10-1878) – Thiếu tướng hải quân.
– Bá tước Lafont (tháng 10-1878 đến tháng 7-1879) – Thiếu tướng hải quân.
(3) Xem: Dương Kinh Quốc: Việt Nam – những sự kiện lịch sử 1858-1918, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999, tr.44. Tổ chức của Nha Nội chính gồm có: Ban Tổng thư ký làm nhiệm vụ liên hệ với các Thanh tra công việc bản xứ, phụ trách công tác mật vụ, cảnh sát, giáo dục, tôn giáo; Ban Hành chính phụ trách việc lập ngân sách, công chính, tài chính và nhân sư; Ban Canh nông, Thương mại và kỹ nghệ phụ trách cả việc xét xử dân bản xứ. Tháng 10-1887, bãi bỏ Nha Nội chính.
(4) Xem: B.O.C.F, J.12.
(5) Xem: B.O.C.F, J.20.
(6) Xem: B.O.C.F, J.20.
(7) Xem: B.O.C.F, J.17.
(8) Tổng biện lý và Giám đốc Nha Nội chính là các thành viên trong Hội đồng Tư mật Nam Kỳ thành lập ngày 21-4-1869 do Thống đốc Nam Kỳ làm Chủ tịch Hội đồng. Ngày 29-10-1887 chức Giám đốc Nha Nội chính bị bãi bỏ.
(9) Xem: B.O.C.F, J.30.
(10) Xem: B.O.C.F, J.32.
(11) Xem: B.O.C.F, J.36.
(12) Xem: B.O.C.F, J.40.
(13) Xem: B.O.C.F, J.43.
(14) Xem: B.O.C.F, J.50.
(15) Xem: Công báo Đông Dương thuộc Pháp (B.O.C.F), J.51.
(16) Xem: B.O.C.F, J.53. Vilard là Tổng tham biện, Réne là Chánh Văn phòng Văn phòng số 4, Brousmichi là Giám đốc Vườn sinh học, Igonel là kế toán. Ngoài ra, còn 1 nhân viên tòa án do Tổng tham biện chỉ định.
(17) Xem: B.O.C.F, J.53.
(18) Xem: B.O.C.F, J.57.
(19) Xem: B.O.C.F, J.57.
(20) Xem: B.O.C.F, J.74.
(21) Xem: B.O.C.F, J.74.
(22) Xem: B.O.C.F, J.78.
(23) Xem: Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (R.S.T), 7269.
(24) Xem: B.O.C.F, J.78.
(25) Xem: B.O.C.F, J.79.
(26) Xem: B.O.C.F, J.91.
(27) Xem: Công báo hành chính Nam Kỳ (B.A.C). J.494.
(28) Xem B.A.C, J.517.
(29) Xem: B.O.C.F, J.97.
(30) Le bagne trong tiếng Pháp nghĩa đen là trại giam tù khổ sai, nghĩa bóng là địa ngục trần gian, vốn có nguồn gốc từ tiếng Italia (Bagno = tắm) xuất xứ từ vụ giam người trong lịch sử chiến tranh của Thổ Nhĩ Kỳ. Thời trung cổ, thành phố Constantinople (nay là Istanbul) thường đón nhận nhiều tù binh bị bắt làm nô lệ, khổ sai từ tàu biển đưa lên bờ. Một lần, số tù binh đông quá, chính quyền thành phố phải ra lệnh trưng dụng tất cả các nhà tắm công cộng trên bờ sông để giam giữ họ. Từ sự ngẫu nhiên này, về sau hàng loạt nhà tù được xây trên mặt đất, bên bờ biển để giam giữ nô lệ và gọi nó là banh. Ở nước Pháp, những banh này được xây dựng tại các thành phố Toulon, Brest và Rochefort để giam các tù khổ sai, hành hạ họ chết dần chết mòn cho đến lúc kiệt sức, tàn tạ. Tháng 5-1854, nó bị loại bỏ ở Pháp và cho phép chỉ được tồn tại ở thuộc địa. Đến tháng 6-1938, nước Pháp tuyên bố xóa bỏ nốt sự hiện diện ốn ở thuộc địa (Xem: Côn Đảo – ký sự và t liệu, Nxb. Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr.46-47).
(31) Xem: Dương Kinh Quốc: Việt Nam – những sự kiện lịch sử 1858-1918, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999, tr.359-360.
(32) Xem: Trần Huy Liệu: Côn Lôn ký sự.
(33) Xem: B.A.C, J.547
(34) Xem: B.A.C, J.548.
(35) Xem: Xem: Dương Kinh Quốc: Việt Nam – những sự kiện lịch sử 1858-1918, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999, tr.369-370.
(36) Ngày 13-10-1926, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định sửa điều 91 của Nghị định 17-5-1916 như sau: “Nếu người nào bắt được một tù nhân vượt ngục sẽ được thưởng 10$” (B.A.C, J510).
(37) Sơ đồ này được xây dựng trên cơ sở tham khảo bài viết của Phạm Xanh. Nhà tù thực dân Pháp ở Việt Nam trước năm 1945, tiếp cận từ phương pháp lịch sử Đảng. Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2, 1995, tr.85-87.
(38) Côn Đảo – ký sự và tư liệu, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr.51.
(39) Sarét (Charrette): kéo xe ba gác; cátsô (cachot): ngục tối
(40) Xem: Côn Đảo – ký sự và tư liệu, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr.72-73. Danh sách này có nhiều chỗ không trùng khớp với các văn bản đương thời như trường hợp của C.Berre năm 1886 hoặc sau đó vào năm 1887 được bổ nhiệm làm Giám đốc Côn Đảo.
(41) Nguyên văn chữ Hán: Luy luy thiết tỏa xuất đô môn, khảng khái cao ca thiệt thượng tồn, quốc thổ trầm luân dân tộc lụy, nam nhi sự nghiệp phạ Côn Lôn. Trong Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976), có một số chữ khác văn bản trên (chữ in nghiêng) nhưng nghĩa tương tự và được dịch như sau: Xiềng gông mang nặng biệt đô môn, khẳng khái ngân nga lưỡi vẫn còn, đất nước đắm chìm nòi giống mỏn, thân trai nào sợ cái Côn Lôn.
(42) Huỳnh Thúc Kháng: Thi tù tùng loại, Nxb. Nam Cường, Sài Gòn, 1951, tr.42.
(43) Nguyên văn chữ Hán: Bằng quân luyện đáo tâm như thiết, đáo xứ ưng vô bất nhược phòng. Nguyễn Q. Thắng: Huỳnh Thúc Kháng – con người và thơ văn, Sài Gòn, 1972, tr.100.
(44) Xem: Thơ văn yêu nước Nam Bộ (nửa sau thế kỷ XIX), Nxb. Văn học, Hà Nội, 1979, tr.58.
(45) Xem: Côn Đảo – ký sự và tư liệu, Nxb. Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr.85.
(46) Đó là: Nguyễn Văn Thông, Võ Văn Tam, Võ Văn Mô, Phạm Văn Tài, Lâm Văn Kim, Sa Văn Quới, Nguyễn Văn Đoàn, Lý Văn Liên, Châu Hiền, Huỳnh Tấn Phước.
(47) Nguyên văn âm Hán – Việt: Đông nam hữu nhất đảo, cận vị hào kiệt lâm, lưu lạc nhất đáo thứ, giá trị cao thiên kim.
(48) Côn Đảo – ký sự và tư liệu, Nxb. Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr.57.
(49) Xem: Sđd, tr.57.
(50) Xem: Sđd, tr.57.
(51) Xem: B.O.C.F, J.53.
(52) Côn Đảo – ký sự và tư liệu, Nxb. Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr.51.
(53) Sđd, tr.59.
(54) Huỳnh Thúc Kháng: Thi tù tùng thoại, Nxb. Nam Cường, Sài Gòn, 1951. Tại chương XXVIII, tác giả cho biết thêm: “Nguyễn Cần (Cử Giản Thanh), Nguyễn Cảnh Lâm (Tú Phật Tích) và Trịnh Đình Lưu (Y Sanh) người Bắc Hà, án 5 năm đày ra Côn Lôn, ra sau chúng tôi mà về trước. Cả ba bạn khi về đều có bài thơ lưu biệt anh em”.
(*) Chỉ Phan Bội Châu
(**) Chữ dùng của Phan Châu Trinh (trường thử bách niên cam thóa mạ, cánh tri hà nhật xuất lao lung).
(***) Chữ dùng của Phan Thúc Duyện.
(55) Xem: Vương Đình Quang: Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1965, tr.165-166.
(56) Xem: Nguyễn Q, Thắng, Nguyễn Bá Thế: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1999, tr.633.
(57) Xem: Sđd, tr.853.
(****) Đây là tổ chức tiền thân của Tân Việt Cách mạng Đảng.
(58) Tác giả Chương Thâu (trong Đông Kinh nghĩa thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1997, tr.491) cho rằng, Nguyễn Cảnh Lâm, quê ở làng Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, do đó còn gọi ông là Tú Tích hoặc Tú Phật Tích, không phải quê ở Đình Xuyên, huyện Gia Lâm.
(59) Xem: Hồi ký Trần Huy Liệu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr.100.
(60) Trong nguyên bản, Huỳnh Thúc Kháng thường thêm chữ quân vào giữa họ tên người được đề cập (thí dụ Phan Thúc Duyện là Phan quân Thúc Duyện). Để đơn giản, chúng tôi lược bỏ chữ quân.
(61) Huỳnh Thúc Kháng: Thi tù tùng thoại, Nxb. Nam Cường, Sài Gòn, 1951. Tr.271-272.
(62) Việc thành lập tổ chức Phục Việt, Tôn Quang Phiệt cho biết: “Từ ngày ở nhà tù Côn Đảo, cụ Tú Kiên đã bàn với các cụ Giải Huân, Cử Ngò khi nào ra tù sẽ thành lập hội Phục Việt, tôn Phan Châu Trinh làm minh chủ, quyên góp thật nhiều tiền, thành lập chính phủ lưu vong ở Quảng Châu”.
Nhượng Tống trong sách Tân Việt cách mạng Đảng nhận xét: “Có ngờ đâu chính lúc đó các cụ Lê Đại cùng anh em lập nên hội Phục Việt giữa Côn Lôn, các cụ nhà nho kín đáo, nhiệm nhặt biết chừng nào”.
Trong Văn bản thông báo số 2951-3C của quyền Khâm sứ Trung Kỳ gửi các Đốc lý Đà Nẵng và Đà Lạt cũng xác nhận: “Ở Côn Đảo, các tù chính trị hồi 1908 và 1913 dã tổ chức một nhóm đặt tên là nhóm Phục Việt. Lê Huân, Tú Kiên, Cửu Cai, Huỳnh Thúc Kháng… tất cả đều là những nhà nho ở trong nhóm này”.
(63) Dẫn theo: Huỳnh Thúc Kháng: Thi tù tùng thoại, Nxb. Nam Cường, Sài Gòn, 1951.
(64) Huỳnh Thúc Kháng: Thi tù tùng thoại, Nxb. Nam Cường, Sài Gòn, 1951, tr.250.
(65) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.1, tr.433.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s