Lịch sử Thái Lan

lang xang kingdom

Tác giả: Phạm Văn Tuấn

Nguồn gốc.

Người Thái Lan tự hào về đất nước của họ đã không là một thuộc địa của cường quốc tây phương nào vào cuối thế kỷ 19, quê hương của họ cũng không bị nội chiến tàn phá dù cho nền chính trị có gặp các xáo trộn. Trong thế kỷ vừa qua, giới lãnh đạo Thái Lan đã khôn ngoan trong nền ngoại giao quốc tế nên có thể duy trì được nền độc lập cho xứ sở, họ đã biết tiếp thu các ảnh hưởng tây phương đồng thời vẫn duy trì được chủ quyền quốc gia.

Từ thế kỷ 12 tới đầu thế kỷ 20, quê hương này được người ngoại quốc gọi là Siam = Xiêm La cho tới năm 1939, tên chính thức của vương quốc được gọi thành Thái Lan sau một biến cố dân chủ, trong đó danh từ “Thái” có nghĩa đen là “tự do”. Nguồn gốc của dân tộc Thái được cho là từ tỉnh Vân Nam bên Trung Hoa nhưng cũng có người lại cho rằng dân tộc gốc của xứ sở này đã từ đồng bằng sông Menam Chao Phya đi lên mạn Nam Trung Hoa rồi gặp thời kỳ bành trướng của Đại Hãn Hốt Tất Liệt mà lại phải di chuyển xuống phía nam.

Trong Thế Chiến Thứ Hai, một tù binh người Hòa Lan khi làm con đường xe lửa Thái Lan – Miến Điện, đã khám phá thấy các đồ cổ thời đồ đá tại Ban Kao, thuộc tỉnh Kanchanaburi ở phía tây. Rồi các khai quật tại làng Ban Chiang gần Udon Thani phía đông bắc đã tìm ra các đồ sành, đồ sắt, đồ đồng, nữ trang… và thời đại đồ đồng của Thái Lan còn đi trước nền văn minh của thung lũng hai con sông Tigris và Euphrates, có lẽ vào khoảng 3,600 năm trước Tây Lịch. Văn Hóa Ban Chiang này đã cho thấy người dân thời đó đã biết trồng lúa, nuôi thú vật và đã có các tài khéo léo, làm và trang hoàng các bình sành, chai lọ kim loại…

Các dấu tích khảo cổ cũng cho thấy sự hiện diện của người Ấn Độ tại Thái Lan vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch. Tài liệu Phật Giáo Sinhalese là Mahavamsa còn kể lại Vua Ấn Độ Ashoka (268- 232 trước TL) đã cử hai đặc sứ tới miền Suvannabhumi, thuộc Đông Nam Á. Tới đầu kỷ nguyên Tây Lịch, đã có giao dịch buôn bán qua đường biển giữa Ấn Độ và miền nam Thái Lan. Các tượng Ấn Độ cổ đã được tìm thấy tại cả hai cửa sông miền nam Thái Lan, ghi dấu của thế kỷ thứ 4 sau Tây Lịch.

Trong các thế kỷ tiếp theo, Phật Giáo và Ấn Độ Giáo tiếp tục được du nhập vào các miền Đông Nam châu Á và đã được sửa đổi để thích hợp với các nhu cầu địa phương. Tiếng Phạn (sanskrit) được giới quý tộc dùng làm ngôn ngữ triều đình trong khi tiếng Pali là ngôn ngữ của kinh Phật Giáo. Các nhà cai trị địa phương thời bấy giờ có lẽ đã dùng các tu sĩ Bà La Môn làm cố vấn trong việc tổ chức chính quyền. Các sắc dân định cư đầu tiên của xứ Thái Lan là người Mon và người Khmer đã chịu ảnh hưởng Ấn Độ rất nhiều. Các khai quật khảo cổ tại Lopburi và Nakhon Pathom đã chứng minh miền định cư của người Mon từ thế kỷ thứ 7 và nghệ thuật Phật Giáo của thời đại Dvaravati (thế kỷ 6 tới thế kỷ 11) là của sắc dân người Mon. Người Khmer nổi tiếng vì khu vực đền đài Angkor Wat, cũng để lại nhiều ngôi đền thờ tại các tỉnh miền đông bắc Thái Lan.

Sắc dân Thái.

Có nhiều lý thuyết cắt nghĩa việc định cư của sắc dân Thái. Lý thuyết đáng tin cậy nhất cho rằng vào thế kỷ thứ 10, một dân tộc từ tỉnh Vân Nam tại phía nam của Trung Hoa đã di chuyển theo các dòng sông và thung lũng, xuống phía nam và tỏa ra thành các giống dân: người Shan còn được gọi là “Thai Yai” (Thái lớn) di chuyển về phía bắc của Miến Điện, người Ahom Thai định cư tại Assam, một nhóm khác tới đất Lào vào, số còn lại đi qua đảo Hải Nam. Nhóm dân đông nhất là “Thai Noi” (Thái nhỏ) đã thiết lập cơ sở chung quanh Chiang Saen tại miền bắc của nước Thái Lan ngày nay. Họ đã lập nên một nước nhỏ đóng đô tại Sukhothai vào năm 1238 và sắc dân gốc Thái này di chuyển dần xuống phía nam, tới Chiang Rai năm 1281 và Chiang Mai năm 1296 rồi xứ sở Thái được nới rộng tới bán đảo Mã Lai.

Vào thế kỷ 13, vương quốc Thái Sukhothai bắt đầu mở mang, đã lấn át các vương quốc Mon và Khmer. Tại phía nam và trên dải đất hẹp là ảnh hưởng của vương quốc quân sự và thương mại Srivichaiya đã hình thành từ thế kỷ 7 mà có người cho rằng vương quốc này đặt kinh đô tại Palembang ở Sumatra, hoặc Chaiya tại miền nam Thái Lan, hoặc tại Kalimantan trên đảo Borneo. Vương quốc Srivichaiya sau đó cũng bị suy tàn vì ảnh hưởng của vương quốc Sukhothai.

Danh từ Sukhothai có nghĩa là “bình minh của hạnh phúc”. Theo tài liệu cổ xưa, người dân Thái vào thời đại Sukhothai đã vui sống tự do, đây là thời vàng son của dân tộc Thái Lan với đất nước thanh bình, tài nguyên phong phú và được vị minh quân cai trị. Theo truyền thuyết, người sáng lập ra vương quốc này là vị anh hùng Phra Ruang. Vào thời đó dân tộc Thái phải triều cống cho vua Khmer đóng đô tại Angkor thứ nước thiêng lấy từ một hồ nước bên ngoài Lop Buri vì vị vua Khmer cần nước thiêng từ bốn miền biên giới. Xe bò chở nước trong các lu bằng đất nung lại đi đường xa khiến cho không tránh khỏi bị bể vỡ dọc đường, và người dân Thái đã phải chuyên chở hai hay ba lần mới nạp đủ số nước triều cống. Khi Phra Ruang tới tuổi trưởng thành, ông ta đã chế ra một thứ lu đan bằng tre và được gắn kín, nhờ đó việc chuyên chở nước thật dễ dàng. Sự sáng suốt này khiến cho vua Khmer phái một vị tướng tới để diệt trừ Phra Ruang nhưng ông này đã biến kẻ thù thành đá. Sau đó Phra Ruang kết hôn với con gái tộc trưởng miền Sukhothai rồi trở nên vị vua đầu tiên của vương quốc độc lập Sukhothai. Phra Ruang mang danh hiệu Sri Indraditya. Kể từ thời đại Sukhothai này, đạo Phật đã được truyền bá rộng rãi và đi dần vào nếp sống của dân chúng cho tới ngày nay.

Người con trai thứ hai của vị vua sáng lập kể trên có tên là Ramkamhaeng. Năm 19 tuổi, vị hoàng tử này đã theo cha ra trận và đánh thắng kẻ thù trong một trận đấu dùng voi. Vì thế vua cha đã ban cho hoàng tử thứ hai tước hiệu Phra Ramkamhaeng hay Rama, vị anh hùng.

Vương quốc Sukhothai vào thời Ramkamhaeng lên ngôi chỉ là một xứ sở nhỏ hẹp nhưng dưới triều đại này, lãnh thổ đã được mở rộng gấp 10 lần, từ Luang Prabang tại Lào qua cánh đồng trung tâm của dòng sông Chao Phya tới tận bán đảo phía nam, còn tại phía tây, sắc dân Mon của miền nam Miến Điện cũng phải thần phục.

Ramkamhaeng là nhà cai trị, nhà lập pháp và chính khách. Ông đã phát minh ra chữ Thái bằng cách phối hợp hệ thống mẫu tự Khmer với tiếng Thái. Các sắc chỉ viết bằng lối chữ mới đã được Ramkamhaeng dùng từ năm 1292 theo đó mô tả Thái Lan là một miền đất phì nhiêu, đồ ăn dư thừa, tự do buôn bán, cấm chỉ chế độ nô lệ và quyền thừa kế được bảo đảm. Cũng vào thời đại này, các trường Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravada) được thiết lập tại Sukhotai. Các trao đổi văn hóa với các nước ngoài được duy trì vì thế tại nơi đây mới có ảnh hưởng Sinhalese và đặc biệt nhất là đã có mối liên lạc ngoại giao với Trung Hoa. Theo sử liệu, triều đình Mông Cổ thời bấy giờ đã gửi 7 phái đoàn tới Thái Lan và có tài liệu còn ghi rằng chính vua Ramkamhaeng cũng đã qua Trung Hoa vào năm 1299. Thợ thủ công Trung Hoa đã dạy cho người Thái cách làm đồ sứ nhờ đó sản phẩm của Thái Lan được chở qua Trung Hoa và miền Sawankhalok ngày nay còn dấu tích của các lò nung.

Khi Đại Hãn Hốt Tất Liệt đánh chiếm miền nam, Ramkamhaeng đã liên kết với các hoàng tử Mengrai miền Chiang Rai và Ngam Muang miền Phayao để chống ngoại xâm. Tại miền bắc Thái, hoàng tử Mengrai đã sát nhập được đế quốc Mon cuối cùng tại Haripunjaya vào năm 1292 và đã chọn Chiang Mai vào năm 1296 làm kinh đô. Trong khi đó chuyện kể rằng vua Ramkamhaeng đã bị chết đuối tại thác nước của dòng sông Yom ở Sawakhalok. Hoàng tử kế vị là Lo Thai, trị vì từ năm 1318 tới năm 1347, ưa thích tu hành hơn nên trong thời đại này liên lạc tôn giáo giữa Sukhothai và Sri Lanka đã được tăng cường. Vua Lo Thai đã cho xây dựng nhiều tòa nhà để cất giữ các dấu tích Phật mới xin được từ Sri Lanka.

Con trai của vua Lo Thai là Li Thai lên ngôi từ năm 1347, cũng sùng đạo Phật nên đã coi trọng tôn giáo hơn quân sự, vì thế ảnh hưởng của miền chư hầu phía nam Ayutthaya lớn mạnh khiến cho Li Thai cuối cùng bỏ đi tu và các thế hệ kế tiếp trở thành các công hầu. Năm 1438, kinh đô Sukhothai suy tàn nhưng thời kỳ Sukhothai đã để lại dấu nét đặc biệt về nghệ thuật thuần Thái Lan nhất.

Thời đại Ayutthaya.

Lịch sử Thái Lan đã không ghi rõ nguồn gốc của người sáng lập nên triều đại Ayutthaya nhưng truyền thuyết đã kể lại rằng vua Traitrung đã cảm thấy rất buồn khổ khi một công chúa không có chồng đã có con vì ăn phải một trái cà do tên làm vườn tưới bằng nước tiểu của hắn. Kẻ phạm tội là Nai Saen Pom đã bị tống khứ khỏi kinh thành cùng công chúa và đứa con. Thần Indra thấu hiểu cảnh khổ của cả ba người này nên đã cho Saen Pom ba điều ước. Saen Pom có cả ngàn mụn cóc trên người nên điều ước thứ nhất của Pom là các mụn xấu xa đó được biến đi. Điều ước thứ hai là xin được một xứ sở để cai trị và một cái nôi bằng vàng cho đứa con là điều ước thứ ba. Tất cả ba điều ước này đã được thực hiện. Đứa bé vì thế được gọi tên là Chao U-Thong hay hoàng tử có chiếc nôi vàng.

U-Thong là một nước nhỏ độc lập, đặt tại tỉnh Suphan Buri này nay. Vua của xứ này thuộc gia đình của các vua Chiang Saen. Trong thời kỳ vua Phya U-Thong cai trị, một bệnh dịch tả đã lan tràn khiến cho vương quốc này phải di chuyển tới Ayodhya hay Ayutthaya. Vị trí của kinh đô mới này có nhiều ưu điểm. Nơi đây là chỗ tập trung của ba dòng sông Chao Phya, Lop Buri và Pasak, lại không xa biển và nằm giữa một đồng bằng phì nhiêu nên là trung tâm lý tưởng về quản trị hành chánh và giao thông. Sau ba năm chuẩn bị, vua Phya U-Thong đã lập nên kinh đô vào năm 1350 và mang danh hiệu vua Ramathibodi I. Nhà vua này đã mở mang bờ cõi, gồm cả xứ sở Sukhothai lẫn miền nam Miến Điện và bán đảo Mã Lai, rồi sau đó còn chiếm xứ Chiang Mai và Cambốt. Vào thời kỳ này, tuy đế quốc Angkor bị suy tàn nhưng ảnh hưởng Khmer lại được phổ biến tại triều đình Ayutthaya. Quan niệm “devaraja” (vừa là vua, vừa là thần) của dân tộc Khmer đã khiến nhà vua Thái Lan vừa là người cai trị dân, vừa là vị đứng đầu giáo hội. Triều đình Thái Lan đã dùng nghi lễ và ngôn ngữ Khmer và tại các buổi đại lễ, các giáo sĩ Phật Giáo và Bà La Môn cùng hành đạo bên nhau, một việc làm còn lưu tới ngày nay.

Vua Ramathibodi đã chia quyền hành ra làm bốn khu vực: nông nghiệp, nội vụ, tài chính và hoàng gia, và nền móng này đã giữ cho vương quyền tồn tại được trong 417 năm. Ramathibodi qua đời năm 1369. Con là vua Ramesuen đã đánh chiếm Chiang Mai vào năm 1390 rồi ba năm sau, tấn công Angkor. Kinh đô Khmer này bị xâm lăng hoàn toàn vào năm 1431 sau 7 tháng vây hãm bởi đội quân của vua Boromajara II. Người Thái Lan đã thu được rất nhiều chiến lợi phẩm, bắt theo hàng chục ngàn tù binh, kể cả các nghệ sĩ và các tu sĩ Bà La Môn.

Tại Thái Lan vào thời kỳ này có hai nước với hai kinh đô là Chiang Mai và Ayutthaya, và chiến tranh đã diễn ra trong hai thế kỷ với cao điểm là vào thời đại của vua Boroma Trailokanath, hay còn được gọi là Trailok (1448- 1488). Vua Trailok đã cải tổ nền hành chánh và kiến trúc xã hội Thái Lan mà ảnh hưởng còn được duy trì tới thế kỷ 19. Vua Trailok đã tập trung quyền hành vào trung ương, quy định về sở hữu đất đai, đặt ra các cấp lương bổng và nhân viên, ấn định chế độ lao động mà người dân phải đóng góp. Đạo luật Triều Đình (Palace Law) năm 1450 của vua Trailok cũng đề cập tới thứ hạng của các người trong hoàng tộc, nhiệm vụ của các quan lại…

Vào năm 1511, Alfonso de Albuquerque người Bồ Đào Nha, chinh phục được Malacca và sau đó đã cho thuyền vào Thái Lan. Vua Ramathibodi II (1491- 1529) đã cho phép người Bồ buôn bán trên đất Thái để đổi lấy súng đạn. Đội quân đánh thuê người Bồ cũng giúp vua Thái Lan trong việc chiếm Chiang Mai và dạy cho người Thái cách đúc súng thần công và súng hỏa mai.

Tại nước Miến Điện, vua Tabinshweti của miền Pegu đã cố gắng thống nhất đế quốc Miến và đồng thời dòm ngó Thái Lan vì xứ sở này đang yếu đi do nội chiến. Năm 1549, vua Tabinshweti đem quân đánh vua Mahachakrapat của Thái Lan vừa mới lên ngôi. Hoàng hậu Thái khi đó là Suriyothai đã cải trang thành tướng nam, cưỡi voi ra trận đánh quân Miến để cứu chồng đang bị vây hãm nhưng sau đó, hoàng hậu bị tử thương. Tro tàn của hoàng hậu này còn được lưu giữ tại Ayutthaya.

Cuộc xâm lăng của vua Miến Điện thất bại. Vua Mahachakrapat củng cố vương quốc với lực lượng quân sự gồm hàng trăm con voi trận và sự giúp đỡ của người Bồ Đào Nha. Vào năm 1569, kinh đô Ayutthaya lại bị quân Miến Điện vây hãm và thất thủ bởi đội quân của vua Bayinnaung. Vua Thái Lan Mahachakrapat bị bắt và bị dẫn về Miến Điện nhưng đã chết dọc đường trước khi tới Pegu. Vị phó vương Maha Thamaraja được người Miến cho cai trị Thái Lan như một chư hầu của Miến. Con trai trưởng Naresuen của Maha cùng với em trai là Ekatotsarot đã nổi lên, về sau dùng du kích chiến đánh thắng quân Miến Điện, mang lại nền độc lập cho Ayutthya vào năm 1584. Naresuen lên ngôi vua Thái Lan vào năm 1590 và củng cố vương quốc Thái, làm suy tàn hai đế quốc Miến Điện ở phía tây và Khmer ở phía đông. Kinh đô Ayutthaya trở nên phồn thịnh và đã làm ngạc nhiên nhiều du khách người Âu vào thế kỷ 17.

Ảnh hưởng của châu Âu.

Người em trai của Naresuen là Ekatotsarot lên trị vì Thái Lan từ năm 1605 tới năm 1610, đã không chú ý đến các chính sách quân sự mà lo phát triển kinh tế cho Ayutthaya. Nhà vua ban ra các đạo luật tăng thuế khiến cho dưới mắt người Âu, vua đã mang danh là “người tham lam”. Vào thời kỳ này người Hòa Lan đã tới Thái Lan và bắt đầu mở trạm mậu dịch vào năm 1608. Vua Ekatotsarot nhân dịp này đã gửi một phái đoàn đi The Hague. Rồi vào thời vua Songtham (1610- 1628), người Anh cũng đến Thái Lan, mang theo bức thư của vua James I và cũng được Thái Lan cho một mảnh đất để xây cất nơi buôn bán.

Người Âu đã bị thu hút đến Thái Lan bởi vì họ coi nơi này là cửa ngõ dẫn tới việc thương mại với Trung Hoa. Gió mùa tại châu Á không cho phép các tầu thuyền của thời đại này đi thẳng tới Trung Hoa, vì thế Ayutthaya đã trở nên một cảng chuyển tiếp giữa châu Âu, Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản. Nền hòa bình dưới thời vua Naresuen đã mang lại sự thịnh vượng cho người dân Thái và do đó, làm tăng lên nhu cầu xa xỉ của xã hội Thái Lan như lụa và đồ gốm. Ngoài ra người Nhật Bản cũng tới Thái Lan để mua các hàng hóa như gỗ quý, thiếc, đường mía và da thú vật cùng các sản phẩm của châu Âu. Một nhà mạo hiểm người Nhật của thời bấy giờ là Yamada Nagamasa đã có được tước vị cao trong triều đình Thái nhờ đó nhiều người Nhật Bản khác đã trở nên vệ sĩ cho nhà vua. Năm 1628, đội quân đánh thuê người Nhật đã giúp vị Nhiếp Chính là Prasat Thong tiếm vương quyền của vị vua trẻ. Nhưng rồi Tướng Quân của miền Edo nước Nhật đã không cộng tác với vương quyền đó khiến cho Prasat Thong nổi giận, trả thù và giết các người Nhật và nhóm người này phải bỏ chạy qua Cambốt. Prasat Thong trị vì Thái Lan cho đến năm 1655, đã đặt ra độc quyền của hoàng gia theo đó mọi ngoại thương đều bị kiểm soát trực tiếp bởi nhà vua và do bộ Tài Chính đảm trách.

Từ năm 1641 người Hòa Lan lấn át được người Bồ Đào Nha tại Viễn Đông và 7 năm sau, họ đã biểu dương lực lượng hải quân trong vịnh Thái Lan để yêu cầu vua Thái Lan cho họ đặc quyền kinh tế. Con trai của vua Prasat Thong là vua Narai, trị vì từ năm 1656 tới năm 1688, đã hợp tác với người Anh để cân bằng ảnh hưởng của Hòa Lan nhưng sau đó cuộc phong tỏa của Hòa Lan tại cửa sông Chao Phya đã khiến cho Thái Lan phải dành cho người Hòa Lan độc quyền mua da thú vật và một số biệt đãi khác.

Tại Thái Lan, các giáo sĩ Dòng Tên người Pháp đã đến triều đình tại Ayutthaya vào năm 1665 và được phép mở một trung tâm thờ phượng. Cảm tình của nhà vua Thái Lan khiến cho các giáo sĩ kể trên tưởng rằng nhà vua muốn cải theo đạo Thiên Chúa. Do các báo cáo của các giáo sĩ người Pháp gửi về, vua Louis 14 đã gửi một bức thư tay tới vua Narai vào năm 1673.

Sự liên lạc giữa Thái Lan và Pháp lại được gia tăng khi xuất hiện một người Hy Lạp tên là Constantine Phaulkon. Anh này khởi đầu là một người dọn phòng của công ty Đông Ấn thuộc Anh. Phaulkon tới Thái Lan năm 1678 và do có năng khiếu về ngôn ngữ, sau hai năm học anh ta đã nói thông thạo tiếng Thái. Phaulkon được mướn làm người thông ngôn cho Bộ Trưởng Tài Chính Barcalon hay Phra Klang. Nhờ khôn khéo, Phaulkon đã leo lên các nấc thang của xã hội Thái, tới bậc Phya Vijayendra nên được thường xuyên gặp mặt vua Thái Narai. Sau khi bị thất sủng với công ty Đông Ấn, Phaulkon đã cải sang đạo Thiên Chúa La Mã để lấy một người đàn bà Nhật theo đạo đó. Do Phaulkon thường xuyên liên lạc với người Pháp nên nhờ vậy ảnh hưởng của Pháp đã gia tăng đối với vua Narai. Đã có các trao đổi đại sứ giữa triều đình của vua Loui 14 và vua Narai Thái Lan và do lời khuyên của Phaulkon, vua Thái Lan đã chấp thuận cho một đội quân tinh nhuệ Pháp gồm 500 người, dưới quyền chỉ huy của tướng Desfarges, được đổ bộ lên Thái Lan. Phaulkon vì thế được phong bá tước và hiệp sĩ của nước Pháp.

Ảnh hưởng của Phaulkon, một người Hy Lạp bên cạnh vua Thái, đã khiến cho một số vị quan cao cấp triều đình Thái lo ngại. Cách ăn xài hoang phí của Phaulkon cũng làm cho nhiều người tức giận. Dinh thự của Phaulkon tại Lop Buri đêm nào cũng đãi tiệc trên 40 thực khách, số rượu vang tiêu thụ rất lớn. Sự hiện diện của người Pháp và quân đội Pháp cùng với ý định xúi giục vua Thái cải sang đạo Thiên Chúa đã là những mối nghi ngờ. Vào năm 1688 khi vua Narai bị bệnh, một nhóm người quốc gia đã đứng lên, cầm đầu là Phra Phetracha, tư lệnh liên đoàn voi trận của hoàng gia. Vua Narai bị giữ trong lâu đài và Phaulkon bị bắt vì tội phản bội và bị hành quyết vào tháng 6 bên ngoài Lop Buri. Một tháng sau, vua Narai cũng băng hà. Phra Phetracha lên ngôi. Đòi hỏi đầu tiên của vị vua mới này là quân đội Pháp phải rút đi hết.

Nước Thái Lan dưới thời vua Narai được người Âu gọi là Xiêm La (Siam). Những người này đã so sánh kinh đô Ayutthaya đẹp như thành phố Venice của nước Ý và đã ca tụng đây là thành phố đẹp nhất của miền Viễn Đông. Các lâu đài hoàng gia cùng hàng trăm đền đài huy hoàng đã tụ tập bên trong bức tường thành được xây dựng trên hòn đảo lớn của kinh đô.

Các vị vua kế nghiệp vua Narai đã chấm dứt chính sách mở cửa. Các giáo sĩ ngoại quốc tuy còn được phép ở lại và việc buôn bán với nước ngoài vẫn được duy trì nhưng trong giới hạn. Thái Lan từ đây ở vào vị thế cô lập trong 150 năm và các nhà vua đã tập trung vào việc xây dựng nội bộ và tôn giáo. Hệ thống giao thông thủy lộ được phát triển.

Thời đại của vua Boromakot (1733- 1758) được coi là giai đoạn vàng son của kinh đô Ayutthaya. Văn sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ tập trung về triều đình; văn chương và nghệ thuật đã phát triển mạnh. Xứ Tích Lan (Ceylon) đã phải mời một phái đoàn sư tăng của Thái Lan qua đó để chấn chỉnh đạo pháp.

Vào năm 1758, con của vua Boromakot lên ngôi sau khi tranh giành ngôi báu rồi sau đó đã đam mê cung tần mỹ nữ. Vào thời kỳ này, đế quốc thứ ba của Miến Điện do vua Alaungpaya đã tấn công Thái Lan vào năm 1760 nhưng bị đẩy lui. Bẩy năm sau, con của vua Alaungpaya là Hsinbyushin mang quân vây hãm Ayutthaya trong 14 tháng và đã thành công. Người Miến khi rút ra vội vã, đã cướp đi tất cả tài sản, đốt sạch kinh đô Ayutthaya kể cả các ngôi chùa và bắt theo tất cả hoàng gia Thái cùng 90 ngàn người, dẫn về Miến Điện. Nền văn minh của Thái Lan trong 4 thế kỷ đã bị hủy diệt.

Kinh đô Bangkok.

Trong khi kinh đô Ayutthaya bị vây hãm, một vị tướng trẻ tên là Phya Taksin đã tụ tập được một số quân sĩ, phá vòng vây và chạy về Chantaburi ở bờ biển phía đông nam của vịnh Thái Lan. Bẩy tháng sau khi Ayutthaya thất thủ, Taksin đã đem quân về kinh đô và đánh đuổi được người Miến. Taksin đã kể cho mọi người nghe giấc mơ được gặp các vị tiên vương Thái Lan và được bảo nên dời kinh đô về một nơi mới.

Taksin đã thiết lập kinh đô mới tại Thonburi, bên bờ phía tây của dòng sông Chao Phya và lên ngôi vua. Sau khi thấy vương quốc Thái Lan sụp đổ, trách nhiệm của vua Taksin là thống nhất lại đất nước và chống trả cuộc xâm lăng của quân Miến Điện. Taksin đã trị vì tới năm 1782 nhưng trong 7 năm cuối, quyền uy được giao phó cho hai vị tướng tin cẩn và cũng là anh em, là Chao Phya Chakri và Chao Phya Sarisih. Hai vị tướng này đã chiếm lại Chiang Mai, mở mang bờ cõi Thái Lan tại phía bắc, tràn qua Cambốt và Lào ở phía đông. Chính trong chiến dịch tràn quân qua Lào mà đội quân Thái chiếm được bức tượng Phật Ngọc Bích (the Emerald Buddha) rất nổi tiếng. Tượng Phật này được tạc từ khối ngọc thạch lớn và thờ tại Chiang Ray vào năm 1436. Người Thái từ lâu đã coi bức tượng này là linh thiêng nhất và là biểu tượng cho nền độc lập và thịnh vượng của xứ sở.

Tại Thonburi, vua Taksin sau này trở nên bất thường và tàn bạo. Chứng bệnh hoang tưởng (paranoid), có lẽ do quá lo lắng về chiến trận, đã khiến nhà vua tưởng mình là một bồ tát trong khi đó lại hành hạ các sư tăng, các vị quan cao cấp cùng trẻ em, bắt buộc họ phải thú nhận phạm phải các tội giả tưởng.

Vào tháng 3 năm 1782, một cuộc nổi dậy đã xẩy ra khiến cho vua Taksin phải thoái vị và vào sống trong một tu viện. Vị tướng đảo chính đã mời Chao Phya Chakri làm vua sau chiến dịch tại Cambốt. Tướng Chakri đã lên ngôi vua vào ngày 6 tháng 4, lập nên triều đại Chakri và ngày nay người Thái Lan còn kỷ niệm ngày 6 tháng 4 này. Vua cũ Taksin vì bị coi là một nguồn đe dọa cho sự ổn định nội bộ Thái nên đã bị hành quyết theo tục lệ hoàng gia trước các giọt nước mắt đau buồn của vua mới Chakri.

Khi lên ngôi, vua Chakri lấy danh hiệu là Ramathibodi mà sau này người Thái gọi là vua Rama I, đã ngự trị Thái Lan từ 1782 tới năm 1809. Nhà vua đã dời kinh đô từ Thonburi qua một nơi rộng rãi hơn ở gần đó gọi là Bangkok.

Thời kì Rama ( từ Rama I-Rama IX)

Vua Rama V

Rama V, cũng được gọi là Chulalongkorn Đại đế (20 tháng 9 năm 1853 – 23 tháng 10 năm 1910) là vị vua thứ năm của nhà Chakri trong lịch sử Thái Lan. Ông được xem là một trong những ông vua kiệt xuất của vương quốc Xiêm La và cũng được thần dân gọi là “Đức vua vĩ đại kính yêu”.

Chulalongkorn sinh ngày 20 tháng 9 năm 1853 tại kinh đô Bangkok, là con trai trưởng của vua Mongkut (Rama IV) và hoàng hậu Debsirinda. Ông được vua cha cho học rộng, bao gồm cả học vấn từ những gia sư người châu Âu như Anna Leonowens.

Chulalongkorn kế vị cha mình ngày 1 tháng 10 năm 1868, nhưng thừa tướng Chao Praya Si Suriyawongse làm nhiếp chính vương trong 4 năm do Chulalongkorn vẫn còn quá trẻ để cai trị đất nước. Trong thời gian này, ông đã đi qua các thuộc địa phương tây, bao gồm Singapore, Java và Ấn Độ, để học chính trị, hành chính, lối sống và chính sách thực dân phương Tây. Sau này trong thời gian trị vì, ông cũng đi thăm châu Âu hai lần vào năm 1897 và 1907, là vua Xiêm đầu tiên viếng thăm châu Âu.

Ngày 16 tháng 11 năm 1873, ông đã lên ngôi lần thứ hai. Trong thời gian đi thăm các nước, ông đã học được nhiều chính sách cải cách để hiện đại hóa đất nước mình. Với sự giúp đỡ của một người Bỉ tên là Gustave Rolin-Jaequemyns, ông đã có thể giữ độc lập cho đất nước mình dù Pháp và Anh đang thuộc địa hóa phần lớn các nước Đông Nam Á và đế quốc Anh lúc đó đã tiếp tục chính sách đối nghịch và gây hấn trong quan hệ đối với Xiêm. Ông cũng đã phải nhượng một số lãnh thổ cho hai cường quốc thực dân này, đáng chú ý là các tuyên bố quyền ở nhiều khu vực ngày nay là Lào, Campuchia và một số khu vực phía bắc của Malaysia.

Chulalongkorn đã hiện đại hóa triều đình Xiêm thông qua việc du nhập một chế độ Nội các, và hệ thống hành chính tỉnh bán Phong kiến được đổi qua thành tỉnh (changwat) và huyện (amphoe) như ngày nay vẫn áp dụng. Ông đã tuyên bố ân xá cho tất cả tù nhân chính trị và dần bỏ chế độ nô lệ.

Sự giải phóng nô lệ này thường bị hiểu sai nhưng chủ ý của ông là giảm quyền lực của Bunnag, một gia đình quý tộc kiểm soát chặt chẽ triều Chakri vào lúc đó. Ngoài ra, động thái này cũng làm yếu đi các thủ hiến địa phương và trung lập hóa đất nước.

Tuyến đường sắt đầu tiên của Thái Lan đã được khai trương năm 1896 nối Bangkok với Ayutthaya. Trong thời kỳ trị vì của ông, lịch phương Tây đã thay thế âm lịch. Năm 1896, nhà ngoại giao người Anh là Alfred Mitchell-Innes đã được bổ nhiệm làm Cố vấn tài chính cho nhà vua trong 3 năm và ông này đã du nhập hệ thống giấy bạc cho Xiêm. Chulalongkorn cũng tuyên bố tự do tôn giáo, cho phép Ki-tô giáo và Hồi giáo được hành đạo trong vương quốc Phật giáo này.

Người ta thường hiểu nhầm rằng vua Chulalongkorn đã ban hành sắc lệnh năm 1909 trong thời kỳ trị vì của ông, bắt buộc một số lượng dân số người Thái gốc Hoa trên thực tế đồng hóa dân tộc khác vào xã hội Xiêm La và làm giảm căng thẳng dân tộc và tội phạm bạo động. Sắc lệnh này yêu cầu tất cả dân thường trú phải dùng họ Thái. Tuy nhiên, trên thực tế thì Đạo luật Họ được con trai ông là vua Rama VI ban hành năm 1913.

Vua Chulalongkorn có 4 hoàng hậu và phi (พระมเหสี), Hoàng hậu Saovabha Bhongsi, Hoàng hậu Savang Vadhana, Hoàng hậu Sunandha Kumariratana và Hoàng hậu Sukumalmarsri. Ông có ít nhất 77 người con, trong đó 33 con trai. Con trai thứ hai của ông, Vajiravudh, đã kế vị ông làm vua Rama VI. Ngày qua đời của ông, 23 tháng 10 năm 1910, được làm ngày nghỉ lễ trong năm của dân Thái Lan

Vua Rama IX

Bhumibol Adulyadej (sinh ngày 5 tháng 12 năm 1927), còn được gọi là Vua Rama IX, là vua Thái Lan đăng cơ ngày 9 tháng 6 năm 1946. Bhumibol Aduladej được xem là một trong số những vị quân vương trị vì lâu nhất thế giới. Mặc dù Thái Lan theo thể chế quân chủ đại nghị, vị quốc vương này đã vài lần can thiệp vào chính trường, gần đây nhất là trong cuộc khủng hoảng chính trị năm 2005 – 2006. Bhumibol Adulyadej được coi là có công lớn trong nỗ lực kiến tạo tiến trình chuyển đổi dân chủ ở Thái Lan trong thập niên 1990, mặc dù trong giai đoạn đầu của vương triều, ông đã ủng hộ các chính phủ quân sự. Ông sử dụng tài sản to lớn của mình để cung cấp tài chính cho nhiều đề án phát triển, đặc biệt là ở nông thôn. ông được người dân Thái Lan hết sức yêu kính. Đối với nhiều người dân Thái, nhà vua được sùng bái gần như một thần linh. Những người chỉ trích (hầu hết bên ngoài Thái Lan) xem điều này là hệ quả của chính sách đàn áp bất kỳ sự chỉ trích nào nhắm vào hoàng gia.

Bhumibol tham gia tích cực vào đời sống kinh tế và xã hội của đất nước, chủ yếu là qua một loạt các đề án phát triển kinh tế mà ông đề xuất, tổ chức và tài trợ. Mặt nam và tây của Điện Chitralada, hầm ủ, nhà máy và nông trang chế biến chỉ là phần nhỏ của chương trình phát triển gọi là “những đề án hoàng gia”, từ các đề án nghiên cứu (thường là thuộc lĩnh vực nông nghiệp), trường học xen ca, huấn nghiệp, bảo tồn nước đến các dự án phát triển điền địa (không thể liệt kê hết). Có hơn 3.000 đề án khởi xướng bởi quốc vương và được triển khai trên toàn quốc, nhắm vào mục tiêu cải thiện điều kiện sống của dân nghèo ở vùng nông thôn Thái Lan.

Hoạt động trong nhiều lĩnh vực từ giới thiệu giống cây trồng đến bảo tồn nước, từ thoát nước vùng đầm lầy đến bảo vệ rừng, trong mục tiêu phát triển bền vững, Dự án Phát triển Hoàng gia được chia thành tám thể loại phụ thuộc vào khu vực kinh tế mà nó nhắm vào: nông nghiệp, môi trường, y tế, huấn nghiệp, tài nguyên nước, truyền thông, phúc lợi xã hội và những lĩnh vực khác.

Advertisements

One thought on “Lịch sử Thái Lan

  1. 1. Sự hình thành Quốc gia Thái khá muộn và không rõ ràng. Thái lan, có thể do đặc thù địa lý và tổ chức xã hội thấp, đã không bị các đế quốc thời Trung Cổ là Trung Quốc và Mông Cổ ngó tới.
    2. Quá trình hình thành Quốc gia Thái cổ cũng gắn liền với các cuộc chiến xâm lược và chống ngoại xâm, có cả nội chiến.
    3. Tại sao Thái không bị các nước Phương Tây thôn tính là một dấu hỏi? Phải chăng người Thái dễ “quy hàng” hay là do khôn ngoan?

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s