Filed under Lịch sử Việt Nam

Nguyễn Công Trứ dẹp loạn Phan Bá Vành

Nguyễn Công Trứ dẹp loạn Phan Bá Vành

 Hồ Bạch Thảo Với một tướng lãnh võ biền, thì mục tiêu cuộc dẹp loạn là đánh tan loạn quân, rồi ca khúc khải hoàn, ăn mừng chiến thắng. Ðối với Nguyễn Công Trứ, một trí thức khoa bảng từng giữ chức lãnh đạo một trường đại học tại kinh đô (Tế tửu Quốc Tử … Tiếp tục đọc

Nhận xét về “An Nam đại quốc họa đồ”

Nhận xét về “An Nam đại quốc họa đồ”

Tóm tắt

An Nam đại quốc họa đồ do giám mục Taberd có những điểm đặc sắc sau:

– Cho đến thời điểm 1838, nước ta chưa có một bản đồ nào vẽ theo phươnng pháp bản đồ học của Tây phương, ghi chép khá đầy đủ địa danh và được in khổ lớn (40x80cm) như An Nam đại quốc họa đồ.

– Địa danh trên bản đồ được ghi bằng chữ Quốc ngữ hoặc tiếng Latinh, gồm cả địa danh hành chính và tục danh, có thêm những địa danh do người ngoại quốc đặt ra. Việc khảo sát địa danh cho thấy An Nam đại quốc họa đồ đã được tác giả soạn vẽ từ thời Gia Long.

– An Nam đại quốc họa đồ là một tài liệu khách quan, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông trong lịch sử.

          An Nam đại quốc họa đồ của Giám mục Taberd đích thực là một tài liệu có giá trị lịch sử mà không một bản đồ đương thời nào so sánh kịp. Tiếp tục đọc

Theo dấu chân chúa Nguyễn Ánh

Theo dấu chân chúa Nguyễn Ánh

Trần Minh Thương Từ sự thật lịch sử – chân dung Nguyễn Ánh Nguyễn Ánh tức Nguyễn Phước Ánh, còn có tên là Chủng và Noãn, sinh năm 1762, con thứ ba của Nguyễn Phước Luân. Luân  được triều Nguyễn truy tôn Hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế, mẹ Ánh là Hiếu Khang hoàng hậu, … Tiếp tục đọc

Núi xanh nay vẫn đó (biên khảo lịch sử)

Núi xanh nay vẫn đó (biên khảo lịch sử)

Tuy ngày nay cái tên Chiêm Thành chỉ còn trong sách vở, ảnh hưởng của văn hoá Champa còn tồn tại hầu như khắp mọi sinh hoạt, hiển hiện cũng có, lẩn khuất cũng có nơi một phần lớn văn hoá miền trung và miền nam. Ảnh hưởng đó ít ai để ý vì trong các nghiên cứu, chúng ta đặt nặng việc khai thác các tài liệu của người Việt (thường gọi là người Kinh) mà ít quan tâm đến văn minh và di sản của các dân tộc khác đã một thời sống chung trên cùng một mảnh đất.

Có tác giả cho rằng mặc dầu người Việt đã đồng hoá được nhiều dân tộc khác bằng tiếng nói nhưng ngược lại, trong khía cạnh sinh hoạt và văn hoá chúng ta lại thu nhập khá rộng rãi tập quán của nơi quê hương mới đến cư ngụ, biến đổi cho phù hợp thành tài sản của mình.

Gần đây, một số học giả trong nước cũng như ngoài nước đã bắt đầu những khảo sát tương đối khoa học hơn về vương quốc Champa, không chỉ giới hạn vào những công trình mỹ thuật còn tồn tại mà đào sâu vào văn hoá đặc thù của người Chăm để lượng định lại những đóng góp trong hơn 1000 năm lịch sử của h Tiếp tục đọc

Đã có bằng chứng để phân biệt: Đô đốc Đặng Tiến Đông, Đô đốc Đặng Tiến Giản với Đô đốc Long

Đã có bằng chứng để phân biệt: Đô đốc Đặng Tiến Đông, Đô đốc Đặng Tiến Giản với Đô đốc Long

Vài thập kỷ gần đây có nhiều tài liệu khác nhau trong giới sử học xung quanh ba nhân vật đời Tây Sơn: Đô đốc Đặng Tiến Đông,Đô đốc Đặng Tiến Giản và Đô đốc Long.Qua các tài liệu mới thu thập được xin nêu các tài liệu làm căn cứ để phân biệt về các nhân vật nêu trên”. Tiếp tục đọc

Hình tượng con nghê ở đền miếu

Hình tượng con nghê ở đền miếu

Con nghê đã trở nên rất đỗi thân quen trong đời sống tinh thần người Việt. Nguời ta gặp những con nghê hồ hởi trên các cổng làng, cổng xóm có khi cũng ở ngay trên cổng nhà, cổng chùa, trên lan can tay vịn các dinh thự, cung điện. Nghê cung kính đứng nơi đền miếu và lăng tẩm đã bao đời nay… Có loại nghê như những con chó cảnh, con sư tử nhỏ, lại có giống nghê như những con chó săn; trải qua nhiều thời kỳ, nghê cũng muôn hình vạn trạng. Bản thân chữ nghê trong tiếng Hán gồm bộ Cẩu (chó) và chữ Nhi (trẻ con) hợp thành.Thế nên, sẽ là hơi sớm khi chúng ta cứ đinh ninh rằng con nghê là của người Việt 3.

Nghê là tên gọi một linh vật xuất phát từ Trung Hoa. Trong thuyết rồng sinh chín con, một trong chín đứa con đó một con là con nghê, gọi là toan nghê nhưng thường chỉ gọi vắn tắt là nghê. Trong nghệ thuật trang trí phong kiến Trung Quốc và Việt Nam có nhiều đồ án nghê như lưỡng nghê chầu nhật, lưỡng nghê tranh châu, nghê hí cầu…

Người Trung Quốc cho rằng toan nghê là một cách gọi khác của sư tử. Ở Việt Nam vấn đề lại khác, nhiều người đã không đồng tình khi dịch nghê là lion. Vì Nghê ở Việt Nam mang dáng dấp của loài chó. Trong một số tài liệu nước ngoài, nghê được dịch là fo dog – cách chuyển ngữ này tương đối sát nghĩa. Khi nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam từ những so sánh với Trung Hoa, chúng ta luôn bắt gặp những hình tượng có nguồn gốc phương Bắc khi du nhập vào xứ ta có những thay đổi rất kỳ lạ. Hình ảnh những con nghê là như vậy.

Nghê đá chầu trước đền miếu có tự bao giờ ? Nó có ý nghĩa gì về tâm linh, giữ vai trò gì trong không gian tưởng niệm? Đó là những câu hỏi chưa có câu trả lời chính xác. Tiếp tục đọc