Việt Nam cuộc chiến cần thiết – Bài 3

Lý giải lại cuộc chiến thảm khốc nhất của Hoa Kỳ

Michael Lind

Trần Quang Nghĩa dịch

CHƯƠNG 2 : TẠI SAO ĐÔNG DƯƠNG LÀ QUAN TRỌNG

Uy tín của Mỹ và Chiến tranh Lạnh

Chiến tranh Việt Nam, giống như Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Afghanistan, Nội chiến Hy Lạp, khủng hoảng Đài Loan và một số cuộc xung đột khác, vừa là một cuộc nội chiến vừa và trận chiến ủy nhiệm trong Chiến tranh Lạnh. Trong Chiến tranh Lạnh, Đông Dương quan trọng – và nó cũng quan trọng đối với Liên Xô và Trung Quốc như đối với Hoa Kỳ. Xem xét chiến tranh Việt Nam trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh không nhất thiết phải biện minh cho nó. Thật vậy, một số người lập luận rằng mặc dù Hoa Kỳ cần phải tiến hành Chiến tranh Lạnh, nhưng thành công trong Chiến tranh Lạnh không đòi hỏi Hoa Kỳ phải thiết lập hoặc bảo vệ một chế độ bảo hộ đối với hầu hết Đông Dương. Đây là tuyên bố được đưa ra bởi một số “người theo chính trị thực dụng” của Mỹ vào thời điểm xảy ra cuộc xung đột ở Việt Nam và trong những thập kỷ tiếp theo. Chính trị thực dụng, hay realpolitik, là lý thuyết về quan hệ quốc tế nhấn mạnh tính ưu tiên và tính hợp pháp của các cuộc đấu tranh quyền lực trong chính trị thế giới. Một số nhà tư tưởng hiện thực nổi bật nhất của Mỹ – nhà ngoại giao George Kennan, nhà báo Walter Lippmann, và học giả Hans Morgenthau, trong số những người khác – đã chỉ trích Chiến tranh Việt Nam nói riêng, và trong một số trường hợp là Chiến tranh Lạnh nói chung, như một phản ứng không cần thiết hoặc không tương xứng đối với các mối đe dọa do chủ nghĩa bành trướng Liên Xô và chủ nghĩa cực đoan cách mạng của Trung Cộng. Trong chính phủ Hoa Kỳ vào những năm 1960, Thượng nghị sĩ William Fulbright, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, và Thứ trưởng Ngoại giao George Ball, một trong những chuyên gia về chính sách đối ngoại có ảnh hưởng nhất của đảng Dân chủ, cũng sử dụng ngôn ngữ của chính trị thực dụng chỉ trích những gì họ coi là một đại chiến lược quá tham vọng của Hoa Kỳ.

Sự phê phán hiện thực về Chiến tranh Việt Nam vẫn còn rất phổ biến cho đến ngày nay. Nó cho phép các cựu chiến binh đã già của những năm 60 còn sống, dù xấu hổ vì trước đây đã  ủng hộ chế độ độc tài xấu xa của Hồ Chí Minh, và lên tiếng tố cáo các tổng thống Mỹ là tội phạm chiến tranh hoặc trốn tránh quân dịch, vẫn huênh hoang tuyên bố rằng họ có quyền phản đối chiến tranh, ngay cả khi lý do cơ bản của họ là sai lầm. Sự phê phán theo chủ nghĩa hiện thực cho phép những người theo chủ nghĩa Mao trước đây tuyên bố rằng Chiến tranh Việt Nam, ngay cả khi nó không phải là một hành động tàn bạo vô đạo đức, thì cũng là một sai lầm chiến lược.

Cuối cùng, việc một số nhà hoạch định chính sách đóng vai trò trong cuộc chiến, như cựu Ngoại trưởng Robert McNamara, đã tuyên bố rằng đó là một sai lầm ngay từ đầu dường như củng cố sự phê phán của chủ nghĩa hiện thực (mặc dù các nhà hoạch định chính sách khác, chẳng hạn như cố vấn an ninh quốc gia trước đây Walt Rostow, tiếp tục lập luận rằng cuộc chiến Việt Nam có ý nghĩa về mặt chiến lược của Hoa Kỳ).

Dưới ánh sáng của tất cả những điều này, điều quan trọng cần nhớ là đã có, và đang có, một tình huống theo chủ nghĩa hiện thực ủng hộ Chiến tranh Việt Nam, cũng như một tình huống phản đối nó. Nếu một số người theo chủ nghĩa hiện thực như Lippmann, Kennan, và Morgenthau nghi ngờ tầm quan trọng của việc người Mỹ nhất quyết bỏ mặc Đông Dương cho khối cộng sản, thì những người khác, chẳng hạn như Walt và Eugene Rostow, Samuel P. Huntington, và John P. Roche, đã bị thuyết phục về tầm quan trọng của quyết định đó. Việc Hoa Kỳ bại trận ở Việt Nam không nhất thiết phải làm mất thể diện cho cái logic chiến lược đã truyền cảm hứng cho sự  cam kết của Hoa Kỳ đối với Miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia và các nước láng giềng Đông Nam Á. Sự thất bại trong chính sách của Mỹ ở Đông Dương có thể là kết quả của các chiến thuật quân sự không phù hợp, hoặc các đặc điểm của chính quyền, xã hội Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam hoặc sự hỗ trợ dành cho Hà Nội của Liên Xô và Trung Quốc, hoặc các đặc điểm của văn hóa chính trị Mỹ – hoặc một số kết hợp của tất cả các yếu tố này. Tính huống mà Đông Dương xứng đáng với một cuộc chiến tranh hạn chế nào đó của Mỹ, đặc biệt là trong hoàn cảnh của Chiến tranh Lạnh trong thập niên 1960, là rất thôi thúc dưới ánh sáng những gì chúng ta biết hiện nay về mô hình và kết quả của Chiến tranh Lạnh nói chung.

Tại sao chúng ta ở Việt Nam?

Những người chỉ trích chính quyền Johnson đương thời đã nói về “khoảng cách tín nhiệm” của nó liên quan đến Chiến tranh Việt Nam. Ngoài việc thổi phồng tiến độ của Hoa Kỳ và các đồng minh Miền Nam trong cuộc chiến, Johnson và các phụ tá của ông bị cáo buộc đã không giải thích rõ ràng mục tiêu của cuộc chiến cho công chúng Hoa Kỳ và thế giới. Tiêu biểu cho dòng phê bình này là một nhận xét vào năm 1968 của William R. Corson, một cựu đại tá Thủy quân Lục Chiến thủy tại Việt Nam, trong bài phê bình cuộc chiến, Sự phản bội: “Sự xuất hiện của khoảng cách tín nhiệm xuất phát từ những nỗ lực sai lầm của Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk nhằm biện minh cho cuộc chiến lần lượt là, trước hết, để bảo vệ tự do cho Việt Nam, sau đó là bảo vệ lợi ích quốc gia của chúng ta, và cuối cùng là bảo vệ thế giới khỏi hiểm họa da vàng.”

Thật vậy, Johnson và các quan chức trong chính quyền của ông đã đưa ra một số lý do hợp lý cho việc leo thang nỗ lực của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Johnson viện dẫn “cái bóng đen của Trung Quốc. Những người cầm quyền ở Hà Nội bị Bắc Kinh hối thúc.” Vào một dịp khác, ông nhấn mạnh sự cần thiết phải ngăn chặn chiến tranh du kích như một công cụ bành trướng của cộng sản “Sức mạnh của chúng ta buộc chúng ta phải có nghĩa vụ đảm bảo rằng kiểu xâm lược này sẽ không thành công.” Ngoại trưởng Dean Rusk nhấn mạnh những tác động tiềm tàng của kết cục thất bại bại trong chính sách của Mỹ ở Đông Nam Á đối với hệ thống liên minh toàn cầu của Mỹ, bao gồm cả “những đảm bảo của chúng ta đối với Berlin.”

Từ quan điểm ngày nay, chính quyền Johnson dường như không nhất quán hoặc thiếu trung thực hơn trong việc mô tả các mục tiêu của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ so với các chính quyền thời chiến khác của Hoa Kỳ. Trong Thế chiến II, chính quyền Roosevelt đôi khi biện minh cho nỗ lực của Hoa Kỳ là vì mặt an ninh của Hoa Kỳ và vào những thời điểm khác, tuyên bố rằng sự thất bại của các cường quốc phe Trục sẽ giúp thúc đẩy một thế giới lý tưởng được đặc trưng bởi “Bốn quyền tự do”. Trong thời gian chuẩn bị cho Chiến tranh vùng Vịnh, chính quyền Bush đã đưa ra một số lý do cơ bản, bao gồm sự tàn bạo của chế độ Saddam Hussein (một số trong đó đã được phóng đại) và tầm quan trọng của dầu mỏ Trung Đông đối với việc làm của người Mỹ. Tổng thống Clinton và các thành viên trong chính quyền của ông đã giải thích cuộc chiến của NATO do Hoa Kỳ lãnh đạo chống lại Serbia theo một số lý do khác nhau: mệnh lệnh đạo đức của việc ngăn chặn hoặc đảo ngược cuộc thanh trừng sắc tộc người Albania ở Kosovo bởi người Serb, sự cần thiết phải chứng minh uy tín quân sự của NATO và Hoa Kỳ, tầm quan trọng kinh tế của một châu Âu ổn định, và nguy cơ xung đột sẽ mở rộng và kéo theo Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Các quan chức chính phủ nói chuyện với các đối tượng khác nhau vào các dịp khác nhau với các mục đích khác nhau có thể nhấn mạnh các mục tiêu khác nhau của chính sách đối ngoại. Kết quả là tính không nhất quán rành rành không nhất thiết là bằng chứng về tính nước đôi chính thức hoặc nhầm lẫn chính thức. Sự kiện có một số mục tiêu chính thức bị sai lệch hoặc được nhấn mạnh quá mức không nhất thiết có nghĩa là các mục tiêu khác không đúng đắn.

Hơn nữa, khái niệm về “khoảng cách tín nhiệm” bỏ qua khả năng rằng trong việc leo thang Chiến tranh Việt Nam, chính quyền Johnson có nhiều mục đích chứ không chỉ một. Bằng cách bảo vệ thành công Miền Nam Việt Nam trước sự lật đổ của Miền Bắc, một tay chân của Liên Xô và Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể ngăn chặn Liên Xô, trấn an các đồng minh của họ, ngăn cản quân nổi dậy chống phương Tây áp dụng mô hình cách mạng “chiến tranh nhân dân” của Trung Quốc và Việt Nam ở các nước đang phát triển, và khuyến khích sự phát triển kinh tế và tự do hóa của Miền Nam Việt Nam cũng như của Hàn Quốc và Đài Loan, tất cả đều cùng một lúc.

Trong khi sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam phục vụ một số mục đích bổ sung cho nhau, thì có một thứ bậc giữa các mục tiêu của Hoa Kỳ. Chính quyền của Kennedy, Johnson và Nixon có thể đã không làm cho thứ bậc đó rõ ràng như giới trí thức mong muốn. Tuy nhiên, trong nhận thức muộn màng, có thể xác định thứ bậc được giao cho các mục tiêu khác nhau trong hệ thống phân cấp của ba vị tổng thống này và các phụ tá của họ. Mục đích chính của Hoa Kỳ tại Việt Nam là để chứng minh uy tín của Hoa Kỳ như một cường quốc quân sự và một đồng minh đáng tin cậy đối với kẻ thù và đồng minh của họ trên khắp thế giới. Nguy cơ là nếu Hoa Kỳ bị coi là thiếu năng lực quân sự, quyết tâm chính trị hoặc cả hai, thì Liên Xô và/hoặc Trung Quốc và các lực lượng ủy nhiệm của họ sẽ hành động hung hăng hơn, trong khi các đồng minh của Hoa Kỳ, bao gồm các nền dân chủ công nghiệp quan trọng như Tây Đức và Nhật Bản , sẽ có khuynh hướng xoa dịu các cường quốc cộng sản. Chính trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu này, việc ngăn chặn “những quân cờ domino đổ xuống” – dù ở Đông Nam Á hay ở các nước thuộc Thế giới thứ ba cách xa Việt Nam là rất quan trọng. Ít quan trọng nhất trong tất cả các mục đích của Hoa Kỳ khi can thiệp vào Việt Nam là thúc đẩy tự do, dân chủ, và thịnh vượng ở Miền Nam Việt Nam. Việc Bắc Việt thất bại trong nỗ lực thôn tính Miền Nam Việt Nam là điều kiện cần, nhưng chưa đủ, cho sự phát triển của chính quyền độc tài Miền Nam hướng tới chủ nghĩa tự do và dân chủ. Nhưng các mục tiêu chính trị của Mỹ ở Miền Nam là lệ thuộc và phụ thuộc một cách thích đáng vào các mục tiêu của Mỹ trong nền chính trị quyền lực ở Đông Nam Á, đến lượt chúng lại là lệ thuộc và phụ thuộc vào chiến lược toàn cầu của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ ba.

Con Cờ Domino Khu vực và Làn Sóng  Toàn Cầu

Một trong những huyền thoại về Chiến tranh Việt Nam là tuyên bố rằng lý do chính cho sự can thiệp của Hoa Kỳ là “thuyết domino”. Cái tên này bắt nguồn từ phép ẩn dụ được Tổng thống Eisenhower sử dụng để giải thích mối lo ngại của Hoa Kỳ về hậu quả của việc cộng sản tiếp quản ở Đông Dương: “Bạn có một hàng domino được dựng lên, bạn đánh đổ quân cờ đầu tiên, và điều gì sẽ xảy ra với quân cờ cuối cùng là chắc chắn nó sẽ đổ xuống rất nhanh. Vì vậy, một tan rã đầu tiên sẽ tác động các ảnh hưởng sâu sắc nhất.” Hiểm họa về việc đánh mất Đông Dương sẽ đưa đến việc đánh mất toàn bộ Đông Nam Á đối với khối Mỹ (“thế giới tự do”) đã được các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ nhấn mạnh vào những thời điểm khác nhau, thường là bằng những lời hoa mỹ dành cho công chúng Mỹ. “An ninh của toàn bộ Đông Nam Á sẽ lâm nguy nếu Lào đánh mất tinh trung lập,” Tổng thống Kennedy nói với nhân dân Mỹ trong một cuộc họp báo trên truyền hình vào ngày 23 tháng 3 năm 1961. Tổng thống Johnson, với phong cách cường điệu đặc trưng của mình, tuyên bố rằng nếu những người cộng sản không bị ngăn chặn ở Việt Nam thì Hoa Kỳ có thể phải chiến đấu với họ ở Waikiki [một bãi biển du lịch ở Hawaii.]

Nhưng phiên bản “khu vực” này của hiệu ứng domino không phải là cách lý giải duy nhất của phép ẩn dụ. Hãy xem xét các phát biểu và hành động của các chính khách và nhà bình luận Mỹ trong thời kỳ Việt Nam tiết lộ rằng cần phải tháo gỡ ba quan niệm ràng buộc trong ý tưởng về hiệu ứng domino. Vào những thời điểm khác nhau, hiệu ứng domino được dùng để chỉ hiệu ứng domino khu vực, hiệu ứng làn sóng cách mạng toàn cầu hoặc hiệu ứng đoàn tàu toàn cầu. Người ta sợ rằng việc mất Miền Nam Việt Nam vào tay quân nổi dậy cộng sản do Hà Nội bảo trợ sẽ dẫn đến việc cộng sản tiếp quản các nước láng giềng ở Đông Dương hoặc Đông Nam Á, hoặc phong trào bắt chước các cuộc cách mạng cộng sản hoặc chống phương Tây ở các khu vực khác của thế giới đang phát triển, hoặc dẫn đến việc ủng hộ hoặc nhân nhượng Liên Xô hoặc Trung Cộng bởi các đồng minh Hoa Kỳ và những nước trung lập  không chắc chắn về độ tin cậy của các đảm bảo an ninh của Hoa Kỳ. Trong trường hợp xấu nhất, cả ba hiệu ứng domino này đều có thể xảy ra. Sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam và một số quốc gia láng giềng có thể đồng thời truyền cảm hứng cho các cuộc cách mạng bắt chước ở những nơi khác ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh, đồng thời khiến các đồng minh của Hoa Kỳ sợ hãi phải nhân nhượng Moscow và/hoặc Bắc Kinh. Một khi vấn đề đã được làm rõ theo cách này, rõ ràng là để gạt bỏ những lo ngại của các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ về khả năng mất Đông Dương vào tay khối cộng sản, thì điều đó là không đủ để chứng minh rằng nỗi sợ hãi của họ về hiệu ứng domino trong khu vực ở Đông Nam Á đã bị phóng đại. Ngay cả khi họ nhầm về mức độ của hiệu ứng domino khu vực, họ có thể đã đúng về sự nguy hiểm của hai hiệu ứng domino khác – hiệu ứng làn sóng cách mạng và hiệu ứng đoàn tàu. Như đã xảy ra, sự sụp đổ của chỉ ba quân domino khu vực ở Đông Dương đã gây ra một làn sóng cách mạng trên toàn thế giới và một xu hướng thậm chí còn nguy hiểm hơn là hiệu ứng đoàn tàu trong việc ủng hộ Liên Xô trong nền chính trị thế giới.

Một trong những tuyên bố trọng tâm của những người phản đối Chiến tranh Việt Nam là khẳng định rằng các nhà hoạch định chính sách Mỹ đã tưởng tượng nhầm lẫn một cách thảm hại các phong trào dân tộc chủ nghĩa tự phát ở Việt Nam, Lào, Campuchia là bằng chứng về sự tồn tại âm mưu của cộng sản quốc tế. George McTurnan Kahin và John W. Lewis đã viết trong cuốn sách có ảnh hưởng của họ Hoa Kỳ ở Việt Nam: “Nơi nào chủ nghĩa cộng sản bén rễ ở châu Á, sức mạnh của nó phát sinh không phải do sự lật đổ được Trung Quốc hay Nga chỉ đạo, mà do các thành quả kinh tế, xã hội được tạo ra tại địa phương. và các yếu tố chính trị.” Chỉ cần nhìn vào bản đồ châu Á năm 1989 là đủ để bác bỏ lập luận này. Mọi cuộc nổi dậy thành công của cộng sản ở châu Á đều diễn ra ở quốc gia có chung biên giới với một hoặc nhiều quốc gia dưới sự cai trị của cộng sản, bắt đầu từ Trung Quốc, nơi những người cộng sản của Mao nhận viện trợ khổng lồ của Liên Xô qua biên giới Trung-Xô. Các cuộc nổi dậy của cộng sản đã bị đánh bại ở các quốc gia như Philippines và Malaysia không có biên giới với chế độ Mác-Lê. Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, không một phong trào cộng sản nào thành công ở một nước châu Á không có láng giềng cộng sản – không một nước nào.

Vậy thì hiệu ứng domino khu vực ở châu Á là có thật. Tuy nhiên, lý thuyết domino rộng hơn đã bị mất uy tín. Trong khi Nam Việt Nam, Lào và Campuchia được sáp nhập vào khối cộng sản (chính nó bị chia cắt bởi sự cạnh tranh Trung-Xô), Thái Lan, Indonesia và các quốc gia Đông Nam Á quan trọng khác thì không. Một số người bảo vệ nỗ lực của Hoa Kỳ đã thừa nhận kết quả này bằng cách đưa ra một phiên bản sửa đổi của lý thuyết domino. Cựu Cố vấn An ninh Quốc gia của chính quyền Johnson, Walt Rostow, đã lập luận rằng sự can thiệp của Hoa Kỳ, mặc dù cuối cùng không thành công ở Đông Dương, nhưng đã ngăn chặn hiệu ứng domino khu vực rộng lớn hơn vì nó giúp các chế độ phi cộng sản của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có thời gian củng cố quyền lực và tham gia vào tăng trưởng kinh tế thành công. Sau khi ông rời nhiệm sở, người tiền nhiệm của Rostow là Cố vấn An ninh ninh Quốc gia McGeorge Bundy cũng bày tỏ quan điểm tương tự rằng nỗ lực của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á, mặc dù ban đầu là hợp lý, nhưng đã “quá mức” sau năm 1965, khi “một chính phủ chống cộng mới lên nắm quyền ở Indonesia và tiêu diệt đảng cộng sản [Indonesia]”. 

Hiệu ứng làn sóng cách mạng do sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975 tạo ra có ý nghĩa hơn nhiều so với hiệu ứng domino khu vực ở Đông Nam Á. Nhà khoa học chính trị Mark N. Katz đã xác định “làn sóng cách mạng theo chủ nghĩa Mác – Lê” đạt đến đỉnh điểm vào những năm 1960 và 1970, cùng với “làn sóng cách mạng theo chủ nghĩa dân tộc Ả Rập” vào những năm 1950 và 1960 và một “Làn sóng cách mạng Hồi giáo” bắt đầu với Cách mạng Iran. Samuel P. Huntington đã xác định một “làn sóng dân chủ” bắt đầu từ sự thất bại của khối Xô Viết trong Chiến tranh Lạnh. Trong khi các làn sóng cách mạng Hồi giáo và dân tộc chủ nghĩa Ả Rập chỉ giới hạn ở các nước Ả Rập hoặc Hồi giáo, thì các làn sóng dân chủ và chủ nghĩa Mác-Lê là hiện tượng toàn cầu. Theo Katz, làn sóng cách mạng Mác-Lê 

bắt nguồn từ đầu những năm 1970, khi cuộc khủng hoảng niềm tin của Mỹ, do can thiệp quân sự vào Đông Dương không thành công, đang lên đến đỉnh điểm dẫn đến việc Mỹ phải rút quân hoàn toàn vào đầu những năm 1973, cũng như “hội chứng Việt Nam”, khiến chính phủ Hoa Kỳ không thể can thiệp quân sự quy mô lớn vào bất cứ nơi nào trong Thế giới thứ ba về mặt quân sự cho đến Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991.

Các làn sóng cách mạng Mác-Lê gắn liền với Chiến tranh Việt Nam chứng kiến “các cuộc cách mạng liên kết Mác-Lê” lên nắm quyền bên ngoài Đông Dương ở Congo (1964, 1968), Benin (1972), Ethiopia và Guinea-Bissau (1974), Madagascar, Cape Verde, Mozambique và Angola (1975), Afghanistan (1978), Grenada và Nicaragua (1979). Tất cả những cuộc cách mạng này được truyền cảm hứng một phần từ tấm gương đấu tranh thành công của những người cộng sản Đông Dương chống Mỹ. Cùng với những người cộng sản Cuba từng xuất khẩu cách mạng cho khối Xô Viết ở Châu Phi và Trung Đông, những người cộng sản Việt Nam đã xuất khẩu cách mạng thành công bằng cách xâm lược và chiếm đóng Lào và Campuchia. Nếu những quân cờ domino như Thái Lan và Indonesia không ngã đổ, thì những quân cờ domino khác ở xa Đông Nam Á, chẳng hạn như Nicaragua, Ăng-gô-la và Ê-ti-ô-pi-a đã ngã đổ và họ đã ngã gục trước làn sóng cách mạng một phần phát ra từ Đông Dương.

Vậy là chiến thắng của cộng sản ở Miền Nam Việt Nam được theo sau bởi một hiệu ứng domino nhỏ trong khu vực và một hiệu ứng làn sóng cách mạng lớn trên toàn cầu. Tuy nhiên, lập luận mạnh mẽ nhất cho sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam lại đến từ biến thể thứ ba của thuyết domino. Đối với Hoa Kỳ, điều chủ yếu bị đe dọa ở Việt Nam là danh tiếng toàn cầu của nước này với tư cách là một siêu cường quân sự và là một đồng minh đáng tin cậy – uy tín của nước này – chứ không phải tư cách thành viên liên minh hoặc hiến pháp như của Thái Lan, Indonesia và một số quốc gia khác, hay thậm chí là các chế độ Mác-Lê ở Nicaragua và Ethiopia thân với Moscow. Mối nguy hiểm chính mà Hoa Kỳ phải đối mặt là khả năng xảy ra việc, nếu Liên Xô và/hoặc Trung Cộng giúp một quốc gia ủy nhiệm tiêu diệt một quốc gia bảo hộ của Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Quốc sẽ được nước làm tới một cách nguy hiểm, trong khi các đồng minh yếu ớt của Mỹ và các nước trung lập trên khắp thế giới sẽ sợ hãi buộc phải hòa hoãn với một trong hai cường quốc cộng sản. Bằng cách nhấn mạnh lý thuyết domino khu vực hoặc hiệu ứng làn sóng cách mạng có thể xảy ra thay vì bảo vệ uy tín toàn cầu của Mỹ, các chính quyền tổng thống kế tiếp của Mỹ đã khiến công chúng bối rối, làm suy yếu tình thế của chính họ và cung cấp con tin dưới hình thức lập luận yếu ớt cho những người chỉ trích chiến lược Chiến tranh Lạnh của Mỹ . Đây là một bi kịch, bởi cam kết bảo vệ các nước lệ thuộc của Mỹ ở Đông Dương, cùng với các cam kết của Hoa Kỳ đối với Hàn Quốc và Đài Loan, được biện minh bằng việc Hoa Kỳ cần phải chứng tỏ uy tín của mình đối với cả kẻ thù lẫn các đồng minh và các  nước trung lập.

Chiến tranh Lạnh: Các Cuộc Bao Vây và Đấu Tay Đôi

Sự tín nhiệm, trong chính trị quyền lực, là danh tiếng của một quốc gia về khả năng quân sự kết hợp với quyết tâm chính trị sử dụng nó để thúc đẩy các mục tiêu của mình. Mối quan tâm của các chính khách về uy tín quốc gia đối với khả năng và quyết tâm quân sự cũng lâu đời như chính trị giữa các thành bang. Thủ lĩnh Thành Athen Pericles, trong một cuộc tranh luận khi bắt đầu Chiến tranh Peloponnesian, đã nói với người Athen tại sao họ nên chống lại yêu cầu của kẻ thù  họ, Sparta:

Họ ra lệnh cho chúng ta dỡ bỏ bao vây Potidaea, để Aegina được độc lập, thu hồi sắc lệnh Megara; và họ kết luận với tối hậu thư cảnh báo chúng ta để Hellenes độc lập. Tôi hy vọng không ai trong số các bạn nghĩ rằng chúng ta sẽ gây chiến vì một chuyện vặt vãnh nếu chúng ta từ chối thu hồi sắc lệnh Megara, sắc lệnh xuất hiện trước những lời phàn nàn của họ, và việc thu hồi sắc lệnh này là để cứu chúng ta khỏi chiến tranh, hoặc để bất kỳ cảm giác tự trách móc nào đọng lại trong tâm trí bạn, như thể bạn tham chiến vì một lý do nhỏ nhặt. Tại sao, vì chuyện tưởng như vặt vãnh này chứa toàn bộ con dấu và thử nghiệm quyết tâm của bạn. Nếu bạn nhường đường, bạn sẽ ngay lập tức phải gặp một số yêu cầu lớn hơn, vì đã sợ hãi khuất phục ngay từ đầu; trong khi một hành động khước từ kiên quyết sẽ khiến họ hiểu rõ rằng họ phải đối xử bình đẳng hơn với các bạn. Do đó, hãy đưa ra quyết định ngay lập tức, hoặc đầu hàng trước khi bạn bị tổn hại, hoặc nếu chúng ta tiến hành chiến tranh, như tôi cho rằng chúng ta nên làm như vậy, mà không cần quan tâm đến nguyên nhân bề ngoài là lớn hay nhỏ, kiên quyết không nhượng bộ hoặc đồng ý với vị thế chiếm hữu bấp bênh  của chúng ta.

Mối quan tâm tự nhiên của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đối với uy tín đã được nâng cao thành một thứ giống như nỗi ám ảnh bởi động lực đặc biệt của Chiến tranh Lạnh – một cuộc chiến tranh thế giới được tiến hành bằng bao vây và đấu tay đôi. Không giống như Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, cuộc xung đột toàn cầu thứ ba của thế kỷ XX diễn ra dưới hình thức một cuộc bao vây kéo dài nửa thế kỷ ở mặt trận châu Âu và các cuộc đấu tay đôi hoặc chiến tranh ủy nhiệm ở một số mặt trận khác. Việc triển khai quân đội Hoa Kỳ ở Trung Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc sau Chiến tranh Triều Tiên, cùng với những nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm duy trì ưu thế sức mạnh quy ước  và hạt nhân, đã tạo nên khía cạnh bao vây của Chiến tranh Lạnh. Về lâu dài, năng lực công nghiệp-quân sự vượt trội của Hoa Kỳ và các đồng minh giàu có của mình nhất định sẽ làm suy yếu nền tảng công nghiệp-quân sự của đế chế Liên Xô, miễn là hai điều kiện được đáp ứng. Điều kiện đầu tiên cho thành công của phương Tây trong Chiến tranh Lạnh là sự thống nhất của liên minh; liên minh của Hoa Kỳ, Tây Đức, Nhật Bản, Anh, Pháp và các nền dân chủ lớn khác không thể bị chia rẽ bởi chiến lược ngoại giao chia để trị của Liên Xô. Đáp ứng điều kiện này đòi hỏi phải có sự tái khẳng định định kỳ về sự thống nhất của liên minh, giống như việc NATO triển khai tên lửa Euromissile vào đầu những năm 1980 để đối phó với sự đe dọa của Liên Xô. Ngoài ra, khối Mỹ buộc phải sánh vai và vượt qua đế quốc Liên Xô trong cuộc chạy đua vũ trang. Bởi vì mục tiêu là khiến Liên Xô phá sản, chứ không chỉ đơn thuần là bảo vệ các đồng minh phương Tây chống lại một mối đe dọa xâm lược không chắc có, khối Mỹ không thể tích lũy đủ tên lửa hạt nhân và các loại vũ khí khác rồi rút lui. Cuộc chạy đua vũ trang là một cuộc đấu giá phải được tiếp tục cho đến khi một bên bỏ cuộc. 

Cuộc bao vây công nghiệp-quân sự đế chế Xô Viết mất nhiều thời gian hơn so với dự kiến ​​của các nhà lãnh đạo thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh như Truman và Eisenhower và các cố vấn của họ. Vào những năm 1950, Eisenhower hy vọng rằng quân đội Hoa Kỳ có thể rút khỏi châu Âu trong thập niên tới. Thay vào đó, cuộc bao vây kéo dài gần nửa thế kỷ. Trong khi quản lý các công sự bao vây ở Châu Âu và Đông Bắc Á, Hoa Kỳ cũng đã thể hiện quyết tâm của mình bằng cách đe dọa chiến tranh, hoặc, nếu mối đe dọa thất bại, bằng cách tiến hành chiến tranh hạn chế, với Liên Xô và/hoặc Trung Quốc và các lực lượng ủy nhiệm của họ ở các khu vực ngoại vi của các chiến trường chính  trong Chiến tranh Lạnh. Đôi khi Hoa Kỳ phải chiến đấu ở nơi bị kẻ thù thách thức, chứ không phải ở nơi mà họ muốn chiến đấu hơn. Bởi vì sức mạnh được nhận thức mới là sức mạnh (ngoại trừ trong thời chiến, khi sức mạnh thực tế được kiểm nghiệm), nguy cơ của việc rút lui chiến lược sẽ bị hiểu sai là bằng chứng của sự mất ý chí hoặc mất năng lực là hoàn toàn có thực. Từ chối đấu tay đôi là thua trận đấu tay đôi. 

Xác định như vậy, uy tín trở thành mối quan tâm chiến lược trung tâm của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Lạnh. Henry Kissinger đã mô tả lợi ích của Mỹ ở Đông Dương xét về mặt uy tín của Mỹ trong chính trị quyền lực toàn cầu: “Đối với Đông Dương, chúng ta không đánh đồng tầm quan trọng nội tại của từng khu vực trên thế giới, và chúng ta không nói rằng mỗi khu vực của thế giới đều có tầm quan trọng chiến lược như nhau đối với Hoa Kỳ  so với bất kỳ phần nào khác trên thế giới… Vấn đề viện trợ cho các đồng minh ở Đông Dương là vấn đề cơ bản về cách chúng ta được tất cả những người khác nhìn nhận như thế nào.” John Foster Dulles đã đưa ra cùng một quan điểm  trong việc kêu gọi Hoa Kỳ bảo vệ lực lượng chống cộng tàn dư của chế độ Quốc Dân Đảng Trung Quốc tại Đài Loan vào mùa xuân năm 1950: “Nếu chúng ta không hành động, mọi người sẽ hiểu rằng chúng ta đang rút lui vì chúng ta không dám mạo hiểm chiến tranh.”

Ai là khán giả dự định cho việc thể hiện uy tín của Mỹ? Những người hoạch định và bảo vệ chiến lược Chiến tranh Lạnh của Hoa Kỳ lập luận rằng Hoa Kỳ phải ngăn chặn kẻ thù của mình và đồng thời trấn an các đồng minh của mình. Trong một bài phát biểu tại Đại học Johns Hopkins ngày 7 tháng 4 năm 1965, Tổng thống Johnson đã viện dẫn hai lý do này để chứng tỏ uy tín trong bối cảnh chiến tranh ở Đông Dương. Đầu tiên, ông trích dẫn cần phải trấn an các đồng minh của Mỹ: “Trên khắp thế giới, từ Berlin đến Thái Lan, là những người mà hạnh phúc của họ một phần dựa vào niềm tin rằng họ có thể trông cậy vào chúng ta nếu họ bị tấn công. niềm tin của tất cả những người này vào giá trị cam kết của nước Mỹ, giá trị lời hứa của nước Mỹ.” Thứ hai, Tổng thống Johnson tìm cách làm nản lòng các kẻ thù của nước Mỹ: “Bài học trọng tâm của thời đại chúng ta là tính hiếu chiến không bao giờ được thỏa mãn. Rút khỏi một chiến trường chỉ có nghĩa là chuẩn bị cho chiến trường tiếp theo. Chúng ta phải nói ở Đông Nam Á, như chúng ta đã nói ở châu Âu, theo lời của Kinh thánh: Các ngươi đã đến tới đây, nhưng sẽ không xa hơn.'”

Sử dụng ngôn ngữ ít hoa mỹ hơn, cố vấn của Johnson, John McNaughton, trong một bản ghi nhớ ngày 25 tháng 3 năm 1965, đã nhấn mạnh uy tín của Hoa Kỳ trong việc liệt kê các mục tiêu của chính sách Hoa Kỳ tại Đông Dương:

  • 70%:- Để tránh một thất bại nhục nhã (đối với danh tiếng của chúng ta với tư cách là người bảo trợ)
  • 20%:- Giữ Miền Nam Việt Nam (và lãnh thổ lân cận) khỏi tay Trung Cộng 
  • 10%: – Để người dân miền Nam Việt Nam được hưởng một lối sống tốt hơn, tự do hơn.

Uy tín như là sự răn đe: Bài học của Munich

Cơ sở răn đe đối với các minh chứng về uy tín được minh họa bằng cái gọi là bài học Munich. Người ta lập luận rằng việc Anh và Pháp nhân nhượng Hitler tại Munich năm 1938 chỉ khuyến khích nhà độc tài Đức Quốc xã bằng cách thuyết phục ông ta rằng các nền dân chủ phương Tây yếu kém và thiếu quyết đoán. Áp dụng cho Việt Nam, bài học của Munich gợi ý rằng nếu Hoa Kỳ hy sinh Đông Dương cho khối cộng sản, thì khối cộng sản – dù do Liên Xô hay Trung Cộng – sẽ trở nên táo bạo hơn trong nỗ lực lật đổ và hù dọa thế giới không cộng sản (không chỉ là ở Đông Nam Á.) Những người chỉ trích Chiến tranh Việt Nam tuyên bố rằng các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ đã bị đánh lừa bởi những phép loại suy trong lịch sử. Ví dụ, James C. Thomson viết: “Những phép loại suy rất đáng ngờ từ kinh nghiệm của chúng ta ở những nơi khác – vụ bán tháo ‘Munich’ và ‘sự ngăn chặn’ từ châu Âu, cuộc nổi dậy của người Mã Lai và Chiến tranh Triều Tiên từ châu Á – đã được đưa vào để biện minh cho hành động của chúng ta.” Tương tự, Robert Cohen viết rằng Ngoại trưởng Dean Rusk phạm tội “nhầm lẫn gọi Hồ Chí Minh là Hitler, hiểu sai nội chiến Việt Nam thành chiến tranh xâm lược của nước ngoài, và phản ứng với cường quốc khu vực  Việt Nam như thể nó đại diện cho một số mối đe dọa toàn cầu kiểu phe trục.”

Không có sự tương tự nào là hoàn hảo. Nhưng dựa trên những gì hiện được biết về nhận thức và động cơ của các kẻ thù cộng sản của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh, có vẻ như các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đã viện dẫn những phép loại suy lịch sử một cách thông minh. 

Theo Yuen Foong Khong trong cuốn sách Analogies at War: Korea, Munich, Dien Bien Phu, and the Vietnam Decisions of 1962 (Các Phép Loại Suy về Chiến Trang: Triều Tiên, Munich, Điện Biên Phủ, và các Nghị quyết về Việt Nam 1962) (1992), cuộc xung đột ở Việt Nam trong những năm 1960 được các quan chức hàng đầu của Hoa Kỳ thường xuyên so sánh trong các bài phát biểu và đúc kết với “năm sự kiện lịch sử sau: Chiến tranh Triều Tiên, cuộc xâm lược của phát xít vào những năm 1930, cuộc khủng hoảng Hy Lạp năm 1947, cuộc nổi dậy ở Malaysia năm 1948–1960, và các cuộc khủng hoảng Berlin.” Đây chính xác là những phép loại suy mà người ta mong đợi các nhà hoạch định chính sách có đầy đủ thông tin sẽ sử dụng. Thật vậy, sự tinh vi của các quan chức Hoa Kỳ được bộc lộ qua thực tế là vào năm 1961, khi cuộc xung đột gần như là một cuộc nổi dậy thuần túy, Nam Việt Nam đã được so sánh thường xuyên nhất với Malaysia, Hy Lạp và Philippin, trong khi so sánh với Hàn Quốc trở nên thường xuyên hơn trong các cuộc tranh luận năm 1964-65, khi sự xâm nhập của lực lượng chính quy Bắc Việt Nam và tỷ lệ các trận chiến quy mô lớn với các đơn vị Việt Cộng ở miền nam ngày càng gia tăng . Tác giả Khong chỉ trích các nhà hoạch định chính sách của chính quyền Kennedy và Johnson đã bỏ qua phép loại suy được ủng hộ bởi những người cánh tả và những người theo chủ nghĩa tự do phản chiến, vốn cho rằng Hồ Chí Minh có thể là một “Tito châu Á”. Khi nhìn lại, rõ ràng là sự so sánh giữa Bắc Việt Nam và Bắc Triều Tiên chính xác hơn là so sánh Bắc Việt Nam với Nam Tư. Không có bằng chứng nào cho thấy tính trung lập kiểu Nam Tư từng được giới tinh hoa cộng sản Bắc Việt Nam xem xét, và chế độ chuyên chế hà khắc của chủ nghĩa Stalin ở Bắc Việt Nam giống chế độ của Bắc Triều Tiên, chứ không phải chủ nghĩa độc tài ôn hòa của Nam Tư. Hồ Chí Minh không phải là Tito châu Á; ông ấy là một Kim Nhật Thành Đông Nam Á.

Bài học Munich, áp dụng cho Chiến tranh Lạnh ở Đông Dương, không ghép song song giữa Bắc Việt Nam của Hồ Chí Minh và nước Đức của Hitler. Sự so sánh ngầm không phải là giữa Đức Quốc xã và Bắc Việt Nam, mà là giữa Đức Quốc xã và các cường quốc bảo trợ Bắc Việt Nam – Liên Xô và Trung Cộng, khi nước này mong muốn, vào giữa những năm 60, lãnh đạo phong trào chống phương Tây trên toàn thế giới. Hồ Chí Minh không được so sánh với Hitler mà với các đồng minh và tay chân của Hitler là Franco và Mussolini, những người mà thành công ở Tây Ban Nha và Ethiopia trong những năm 1930 là những chiến thắng quan trọng về tâm lý và địa chính trị cho khối phát xít. Việc so sánh Liên Xô hoặc Trung Quốc với Đức Quốc xã không vượt quá sự kiện  rằng cả ba đều là các nhà nước toàn trị muốn sửa đổi trật tự quốc tế theo hướng có lợi cho mình. Như Ngoại trưởng Rusk đã nói, sử dụng phép ẩn dụ về Hoa Kỳ với tư cách là cảnh sát của thế giới:

Có những người phản đối phép loại suy – rằng Mao Trạch Đông không phải là Hitler, rằng Hồ Chí Minh không phải là Mussolini. Tất nhiên không ai cho rằng họ như thế. Nhưng một tên cướp có thể tên là John Doe, một tên cướp khác có thể tên là Richard Doe – có thể có vô số sự khác biệt giữa hai tên này, nhưng điểm chung của chúng, cụ thể là hành vi cướp giật, là thứ đưa cả hai vào tù.

Bài học Munich cung cấp câu trả lời cho lập luận rằng sự cạnh tranh giữa Liên Xô và Trung Quốc trong những năm 1960 đã khiến chính sách kiềm chế khối cộng sản của Hoa Kỳ trở nên lỗi thời. Vào đầu và giữa những năm 60, chính quyền Kennedy-Johnson coi chủ nghĩa cực đoan chống phương Tây của Mao là mối đe dọa lớn hơn ở Đông Nam Á so với chính sách ôn hòa hơn của Liên Xô. Tuy nhiên, đến nửa cuối thập niên 1960, Liên Xô đã thay thế Trung Quốc trở thành nhà tài trợ chính cho Bắc Việt Nam – một vai trò mà nước này sẽ đóng cho đến khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Ngay cả khi Việt Nam chẳng là gì ngoài một cuộc chiến ủy nhiệm giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, việc Mỹ bảo vệ Đông Dương sẽ được biện minh bằng logic kiềm chế Liên Xô trên toàn thế giới. Thật vậy, việc bị một cường quốc quân sự hạng hai như Trung Quốc đánh bại trong một cuộc chiến tranh ủy nhiệm có thể gây tổn hại cho danh tiếng của Mỹ hơn là bởi siêu cường đối thủ. Trong trò chơi có tổng bằng không của Chiến tranh Lạnh, Liên Xô được hưởng lợi khi làm bẽ mặt Hoa Kỳ; nó cũng được hưởng lợi khi Trung Quốc hoặc OPEC hoặc Iran làm bẽ mặt Hoa Kỳ. Loại lập luận này không phụ thuộc vào các điều kiện như điều kiện của Chiến tranh Lạnh, và nó có giá trị đối với các cường quốc nhỏ hơn cũng như các siêu cường. Các quốc gia có quan điểm cứng rắn với kẻ thù yếu có thể đang gửi tín hiệu đến cả kẻ thù mạnh và đồng minh yếu. Vào cuối những năm 1930, Oliver Harvey, một quan chức Bộ Ngoại giao Anh, đã viết trong nhật ký của mình: “Chúng ta đã yếu thế trước Franco, và hệ quả trực tiếp là Nhật Bản đang bắt nạt chúng ta. Nếu chúng ta lại yếu thế trước Nhật Bản, chúng ta sẽ bị Hitler và Mussolini đánh bại tơi tả. Và, trên hết, nếu chúng ta yếu ớt trong việc giúp đỡ Trung Quốc của Tưởng, kẻ đang chiến đấu trong trận chiến của chúng ta, thì chúng ta sẽ thấy những đồng minh nhỏ bé của mình đang phản bội lại chính mình. Tại sao họ lại không làm như vậy?”

Nỗi sợ hãi của các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ cho rằng các nhà lãnh đạo khối cộng sản, đánh giá thấp khả năng quân sự và quyết tâm của Hoa Kỳ,  sẽ dễ khiến họ tham gia vào một  chiến  lược quyết đoán hơn đã được chứng minh nhiều lần trong Chiến tranh Lạnh. Vào cuối những năm 1940, Stalin hoài nghi về triển vọng thành công của Kim Nhật Thành ở bán đảo Triều Tiên. Ông nhận xét rằng người Mỹ sẽ quyết không chịu bị đuổi ra khỏi Hàn Quốc vì sợ mất “danh tiếng là một cường quốc.” Tuy nhiên, sau khi Hoa Kỳ không thể can thiệp để ngăn chặn chiến thắng của cộng sản ở Trung Quốc vào năm 1949, Stalin và Mao, theo nhà khoa học chính trị Douglas J. Macdonald, “đã khái quát hóa thất bại cụ thể của Hoa Kỳ ở Trung Quốc và cho rằng Hoa Kỳ sẽ không phản ứng”. trong phần còn lại của khu vực.” Do đó, Stalin ủy quyền cho Kim Nhật Thành tiến hành cuộc xâm lược Hàn Quốc; kết quả là Chiến tranh Triều Tiên. Macdonald kết luận: “Những tuyên bố thẳng thừng của các nhà phân tích như Ted Hopf cho rằng ‘không có bằng chứng’ nào cho thấy những người ra quyết định ‘suy diễn sự thiếu kiên quyết và yếu kém của đối phương từ các cuộc chạm trán ở ngoại vi’ là không chính xác trong trường hợp châu Á thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh.”

Ngay cả nỗ lực to lớn và bất ngờ của Hoa Kỳ tại Triều Tiên cũng không đủ để bác bỏ nhận thức của Stalin về sự yếu kém của Hoa Kỳ. “Mỹ không thể đánh bại Triều Tiên nhỏ bé,” Stalin nhận xét với Chu Ân Lai vào ngày 20 tháng 8 năm 1952, giữa lúc chiến tranh đang xảy ra. “Bọn Mỹ chỉ là con buôn. Người Đức đã chinh phục nước Pháp trong 20 ngày. Đã hai năm trôi qua mà  Mỹ vẫn chưa chinh phục được Triều Tiên bé nhỏ.” Hâm nóng chủ đề của mình, Stalin chế giễu cả khả năng quân sự và quyết tâm tập thể của Hoa Kỳ:

Không, người Mỹ không biết chiến đấu. Đặc biệt là sau Chiến tranh Triều Tiên, họ đã mất khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh quy mô lớn. Họ đang đặt hy vọng vào bom nguyên tử và sức mạnh không quân. Nhưng người ta không thể chiến thắng một cuộc chiến với điều đó. Phải cần bộ binh, và họ không có nhiều bộ binh; bộ binh họ có rất yếu. Họ đang chiến đấu với Hàn Quốc nhỏ bé, và dân chúng đang khóc ở Hoa Kỳ. Điều gì sẽ xảy ra nếu họ bắt đầu một cuộc chiến tranh quy mô lớn? Sau đó, có lẽ, tất cả mọi người sẽ khóc.

Khá bổ ích khi so sánh phân tích của Stalin về khả năng và ý chí của Mỹ với một phân tích tương tự về khả năng và ý chí của Hoa Kỳ trong một bức điện tín mà Joachim von Ribbentrop, ngoại trưởng của Quốc gia Xã Đức, gửi từ Berlin đến Tokyo vào ngày 25 tháng 8 năm 1941. Trong một nỗ lực để thuyết phục đồng minh Nhật Bản của Hitler đừng đếm xỉa đến triển vọng can thiệp của Mỹ vào Thế chiến II và cứ tiến hành tấn công Singapore và các tiền đồn khác của đế quốc Anh trong khu vực, Ribbentrop lập luận rằng sự đe dọa can thiệp của Mỹ vào Đông Nam Á là điều đáng nghi ngờ:

Thực tế là Hoa Kỳ đã phản ứng lại việc chiếm đóng Đông Dương của Nhật Bản chỉ bằng trừng phạt kinh tế, . . . thực tế là cuộc gặp gỡ Roosevelt- Churchill chỉ tạo ra lời nói, và thực tế là Hoa Kỳ đã thực hiện một nỗ lực vô vọng và gần như tuyệt vọng để ngăn chặn Nhật Bản bằng các phương tiện đàm phán không thành thật là những dấu hiệu rõ ràng về sự yếu kém của Hoa Kỳ, chứng tỏ rằng họ sẽ không mạo hiểm thực hiện bất kỳ hành động quân sự nghiêm trọng nào chống lại Nhật Bản. Không có gì mới đối với  chuyên gia quân sự này, vì từ lâu ông đã biết rằng lục quân và không quân Hoa Kỳ chưa sẵn sàng và hải quân của Hoa Kỳ vẫn thua kém hải quân Nhật. Hơn nữa, phần lớn người dân Mỹ phản đối chiến tranh.

Cả Stalin và Ribbentrop, với tư cách là những nhà hoạch định chính sách có kinh nghiệm, đã đo lường uy tín của nước ngoài đối với Mỹ bằng cách đánh giá khả năng quân sự và sự đồng thuận trong nước của Hoa Kỳ – theo cùng một thứ tự. Thứ nhất, khả năng quân sự của Hoa Kỳ: “Người ta cần bộ binh, và họ không có nhiều bộ binh; bộ binh họ có thì yếu” (Stalin); “Quân đội và lực lượng không quân của Hoa Kỳ vẫn chưa sẵn sàng và… hải quân của họ vẫn còn kém hơn so với hải quân Nhật Bản” (Ribbentrop). Yếu tố thứ hai mà họ coi là ý chí của người dân Mỹ: “Dân chúng đang khóc ở nước Mỹ” (Stalin); “Hơn nữa, phần lớn người dân Mỹ phản đối chiến tranh” (Ribbentrop).

Được khẳng định theo một cách hạn hẹp về tầm quan trọng của việc báo hiệu cho các đối thủ về quyết tâm của mình, bài học về Munich có thể tìm được sự hậu thuẫn từ các tình tiết trong Chiến tranh Lạnh liên quan đến Mao cũng như Stalin. Một là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan năm 1958. Vào tháng 7 năm 1958, trong khi Hoa Kỳ bị đánh lạc hướng  bởi sự can thiệp vào Liban, Mao nhìn thấy cơ hội để kiểm tra uy tín của Mỹ ở Đông Á tại một trong  điều ông ta gọi là “ba mặt trận” (Đài Loan, Hàn Quốc và Đông Dương). Vào ngày 23 tháng 8 năm 1958, các đơn vị duyên hải của quân đội Trung Quốc bắt đầu bắn phá đảo Kim Môn, do chính phủ Đài Loan kiểm soát. Chính quyền Eisenhower đã đáp lại cuộc thăm dò này bằng minh chứng rằng họ sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ siêu cường trong vai trò người bảo hộ Đài Loan. Eisenhower cử hải quân Hoa Kỳ đến eo biển Đài Loan, trong khi Hoa Kỳ và Trung Quốc đàm phán ở Warsaw. Cuộc khủng hoảng kết thúc vào ngày 6 tháng 10, khi một thông điệp do Mao soạn thảo kêu gọi giải quyết hòa bình sự chia cắt của Trung Quốc được gửi đến Đài Loan.

Trước đó, vào ngày 25 tháng 8 năm 1958, giữa cuộc đối đầu Trung-Mỹ về vấn đề Đài Loan, Mao đã giải thích lý do tấn công trước các thành viên của Bộ Chính trị: .. mục đích oanh tạc của chúng ta không phải là để thăm dò khả năng phòng thủ trên những hòn đảo này, mà là để thăm dò thái độ của người Mỹ ở Washington, thử thách quyết tâm của họ.”

Ngoài ấn tượng sai lầm về sự yếu kém của quân đội Hoa Kỳ và sự bất ổn chính trị đã khiến Stalin cho phép Chiến tranh Triều Tiên, có lẽ điều đáng chú ý nhất xác nhận giá trị của bài học Munich trong Chiến tranh Lạnh được tìm thấy trong bối cảnh của chính Chiến tranh Việt Nam. Các tài liệu lưu trữ mới được mở của Trung Quốc cho thấy rõ ràng rằng Trung Quốc và Bắc Việt đã leo thang chiến dịch do Hà Nội kiểm soát chống lại chế độ Sài Gòn vào đầu những năm 1960 một phần vì cả Mao lẫn Hồ và chính phủ của ông không ai tin Hoa Kỳ sẽ tham chiến.

Vào ngày 13 tháng 8 năm 1964, sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, Mao nói với Lê Duẩn của Bắc Việt Nam rằng “có vẻ như người Mỹ không muốn gây chiến, các bạn không muốn gây chiến và chúng tôi cũng không nhất thiết muốn gây chiến.” và do đó “sẽ không có chiến tranh.” Trong một cuộc họp với một phái đoàn Bắc Việt khác vào ngày 5 tháng 10 năm 1964, Mao lặp lại dự đoán của mình, dựa trên đánh giá về khả năng quân sự của Hoa Kỳ:

Hoa Kỳ không thể gửi nhiều quân đến miền Nam Việt Nam. Người Mỹ tổng cộng có 18 sư đoàn lục quân. Họ phải giữ một nửa số sư đoàn này, tức là 9 sư đoàn trong số đó, ở trong nước và có thể cử 9 sư đoàn khác ra nước ngoài. Trong số các bộ phận này, một nửa thuộc châu Âu và một nửa thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và họ đã bố trí nhiều sư đoàn hơn ở châu Á [so với những nơi khác trong khu vực], cụ thể là ba sư đoàn. Một ở Hàn Quốc, một ở Hawaii và sư đoàn thứ ba ở [bản gốc không rõ ràng]. Họ cũng đặt ít hơn một sư đoàn  thủy quân lục chiến tại Okinawa ở Nhật Bản.

Tầm quan trọng của những cuộc trò chuyện này khó có thể được phóng đại. Bây giờ chúng ta biết rằng cơn ác mộng của các chiến lược gia Mỹ đã trở thành sự thật vào mùa hè và mùa thu năm 1964. Bài học về Munich dựa trên mối nguy hiểm mà kẻ thù của một quốc gia. sẽ hành động quyết đoán vì họ đã đánh giá thấp thực lực và ý chí quân sự của quốc gia. Việc Trung Quốc khuyến khích Bắc Việt Nam leo thang chiến tranh với Nam Việt Nam dựa trên sự đánh giá thấp kiểu Munich cổ điển về sức mạnh của Mỹ và đánh giá thấp ý chí của Johnson rằng chính quyền miễn cưỡng điều chỉnh, bằng cách leo thang nỗ lực quân sự của Mỹ tại Việt Nam.

Nhiều năm sau, Mao thừa nhận đã choáng váng trước sự thật rằng Hoa Kỳ đã thực sự tham chiến để bảo tồn miền Nam Việt Nam. Ông nói với Phạm Văn Đồng vào ngày 17 tháng 11 năm 1968: “Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng họ sẽ tấn công miền Bắc Việt Nam. Nhưng dự đoán của tôi đã sai khi họ ném bom miền Bắc.” Giống như Stalin, người đã bị sốc khi Harry Truman tham chiến Hàn Quốc, và giống như Saddam Hussein, người không mong đợi George Bush gây chiến với Kuwait, Mao đã đánh giá thấp quyết tâm của giới lãnh đạo Mỹ. Do đó, bằng chứng lưu trữ mới xác nhận sự thận trọng của Johnson, người đã nói với phụ tá của mình là Bill Moyers rằng nếu Hoa Kỳ không hành động để bảo vệ Nam Việt Nam ” ‘họ sẽ nghĩ chúng ta nhát gan và chỉ nói mà không dám làm.’ ‘Ai?’ ‘Bọn Trung Quốc. Những gã ở điện Kremlin. Họ đang đo lường chúng ta.’ “

Khi Chiến tranh Việt Nam đang diễn ra trên quy mô lớn, Mao tiếp tục đánh giá mối đe dọa của Mỹ dựa trên tính toán về khả năng quân sự và quyết tâm chính trị. Nhiều lần, trong các cuộc trò chuyện với các đồng minh Bắc Việt Nam và những người khác, Mao nhấn mạnh hai điểm – lực lượng quân sự Mỹ đang mở rộng quá mức, làm suy yếu uy tín của Hoa Kỳ; và sự chia rẽ nội bộ trong xã hội Mỹ đã làm suy yếu quyết tâm của Hoa Kỳ. “Các đồng chí gọi đó là chiến tranh đặc biệt, chiến tranh hạn chế, nhưng đối với Mỹ, họ tập trung toàn bộ lực lượng vào đó,” Mao nhắc Phạm Văn Đồng trong cuộc nói chuyện ngày 17 tháng 11 năm 1968 đã ghi ở trên. “Hiện tại, các đồng minh của họ ở châu Âu đang phàn nàn rất nhiều, nói rằng [Mỹ] giảm quân số [ở châu Âu] và rút quân có kinh nghiệm chiến đấu cũng như trang thiết bị tốt [khỏi châu Âu], chưa kể đến việc rút quân khỏi Hàn Quốc và Hawaii.” Hơn nữa, theo Mao, “Mỹ có dân số 200 triệu người nhưng nó không thể chịu đựng chiến tranh.”

Giống như Stalin trong Chiến tranh Triều Tiên, Mao lập luận rằng công chúng Mỹ sẽ không chịu đựng được nhiều thương vong. “Người Mỹ không có đủ nhân lực để phân bổ trên thế giới, vì họ đã phải làm việc quá sức rồi,” Mao nói với Lê Duẩn vào ngày 11 tháng 5 năm 1970. “Vì vậy, khi người dân của họ bị giết, trái tim của họ tan nát. Cái chết của vài chục nghìn người là một vấn đề lớn đối với họ.”

Do đó, bằng chứng lưu trữ mới được công bố cho thấy rõ ràng rằng các nhà lãnh đạo cộng sản như Stalin và Mao, trong nhiều trường hợp, đã thực sự coi sự kiềm chế của Mỹ là bằng chứng của sự bất lực về quân sự hoặc thiếu quyết tâm chính trị của Mỹ đúng như những gì các nhà lãnh đạo của liên minh phe Trục đã làm một thế hệ trước đó. Như bài học của Munich đã dự đoán, việc Hoa Kỳ mất quyền ở Đông Dương từ năm 1968 đến năm 1975 đã khuyến khích các nhà lãnh đạo Liên Xô tham gia vào chủ nghĩa đế quốc quyết đoán và liều lĩnh hơn trên khắp thế giới, với nỗi sợ đối đầu với Hoa Kỳ đã giảm đi rất nhiều. Nhà sử học Nga Ilya Gaiduk viết trong cuốn The Soviet Union và Việt Nam (1996): “Lấy cảm hứng từ những thành tựu đạt được và sự suy giảm uy tín của Hoa Kỳ do Việt Nam và những biến động trong nước, giới lãnh đạo Liên Xô đã áp dụng một chính sách đối ngoại hung hăng và cứng rắn hơn, đặc biệt là ở thế giới thứ ba”. Dựa trên những kết luận của mình về các tài liệu lưu trữ bí mật trước đây của Liên Xô, Gaiduk kết luận: “Những bài học về Việt Nam có tác động hoàn toàn ngược lại ở Moscow” so với ở Hoa Kỳ. Các chuyên gia khác về chính sách đối ngoại của Liên Xô nhất trí.  Theo William Curti Wohlforth, “Điều có thể nhận thấy rõ trong các bài phát biểu của Brezhnev và các thành viên Bộ Chính trị khác trong những năm từ 1972 đến 1979 là một kỳ vọng thận trọng về hai quá trình: xu hướng của một số chế độ dân tộc chủ nghĩa ‘không liên kết’ của Thế giới thứ ba đi theo lập trường của Liên Xô trong các vấn đề thế giới… và sự gia tăng số lượng các nước thứ ba ‘cách mạng’

Giới tinh hoa Liên Xô coi chiến thắng của các tay chân của họ ở Đông Dương là thắng lợi đầu tiên trong một loạt thắng lợi, bao gồm sự trỗi dậy quyền lực của các chế độ thân Liên Xô ở Angola, Mozambique, Guinea-Bissau, Ethiopia, Nicaragua và Afghanistan. Wohlforth viết: “Sự kiện quan trọng làm dấy lên sự lạc quan về cuộc cạnh tranh ảnh hưởng trong Thế giới thứ ba là cuộc chiến tranh ở Việt Nam.”

Các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đã lo sợ rằng việc Hoa Kỳ từ bỏ Đông Dương sẽ thuyết phục các đối thủ trong khối cộng sản về sự bất lực về quân sự và chính trị của Hoa Kỳ về chính trị, hoặc không sẵn sàng tham gia các cuộc chiến tranh ủy nhiệm có giới hạn ở Thế giới thứ ba, và do đó khuyến khích họ mạnh dạn hơn và quyết đoán hơn ở những nơi khác, có lẽ đến mức mạo hiểm đối đầu trực tiếp với các siêu cường. Tất cả những hậu quả này xảy ra sau khi Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam. Trong khi Trung Quốc liên kết với Hoa Kỳ, thì đối thủ chính của Hoa Kỳ, Liên Xô, ngày càng trở nên táo bạo hơn trong chủ nghĩa đế quốc của họ – đưa lính đánh thuê Cuba đến chiến đấu trong các cuộc chiến tranh ủy nhiệm ở Angola và Ethiopia, đưa quân đội của chính họ vào Afghanistan. Kết quả là vào đầu những năm 1980, một cuộc khủng hoảng trong quan hệ giữa các siêu cường đã trở nên nghiêm trọng hơn bất kỳ cuộc khủng hoảng nào kể từ cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba – một cuộc đối đầu nguy hiểm đến nỗi phần lớn dân chúng có học thức ở châu Âu và Bắc Mỹ tin rằng chiến tranh hạt nhân sắp xảy ra. Tổng thống Johnson đã lập luận rằng “chúng ta đã học được từ Hitler tại Munich rằng thành công chỉ nuôi dưỡng ham muốn xâm lược. Trận chiến sẽ được nối lại ở quốc gia này rồi đến quốc gia khác, kéo theo xung đột có lẽ còn lớn hơn và tàn khốc hơn, như chúng ta đã học được từ những bài học lịch sử”. Tiếp sau cuộc rút lui của người Mỹ khỏi Việt Nam, trận chiến đúng ra được làm mới lại như Johnson và các cố vấn của ông đã lo sợ  “ở quốc gia này rồi đến quốc gia khác” – Angola, Ethiopia, Nicaragua, Afghanistan.. Và những cuộc chiến tranh ủy nhiệm này lại dẫn đến một “cuộc xung đột thậm chí còn lớn hơn và tàn khốc hơn” – Chiến tranh Lạnh lần thứ hai đầy nguy hiểm và tốn kém vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980.

Uy tín như một sự Đảm Bảo: Hiệu ứng Đoàn tàu

Khi đó, lý do chính cho việc biểu dương uy tín của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh là tác dụng của nó trong việc ngăn chặn kẻ thù của Mỹ. Đồng thời, các nhà hoạch định chính sách thời Chiến tranh Lạnh trong chính phủ Hoa Kỳ tin rằng việc thể hiện uy tín của Hoa Kỳ là cần thiết để trấn an các đồng minh và phe trung lập của Hoa Kỳ, nếu không, họ có thể bị đe dọa phải nhân nhượng  Liên Xô hoặc Trung Quốc.

Theo biệt ngữ của lý thuyết quan hệ quốc tế, “lấy cân bằng” đề cập đến xu hướng các quốc gia hợp tác nhau để ngăn chặn bất kỳ quốc gia đơn lẻ nào muốn thống trị hệ thống quốc tế, trong khi “theo đoàn tàu” là một phép ẩn dụ mô tả xu hướng của các quốc gia nối đuôi xoa dịu một cường quốc quân sự có tiềm năng năng thống trị. Một cụm từ khác cho hiệu ứng đoàn tàu, được nhà sử học John Lewis Gaddis sử dụng, là “hiệu ứng domino tâm lý”. Nếu các quân domino trong hiệu ứng domino khu vực là những xứ ở Đông Nam Á tiếp giáp với các chế độ cộng sản Trung Quốc và Bắc Việt Nam, và quân domino của hiệu ứng làn sóng cách mạng là các xứ không ổn định bị đe dọa bởi các cuộc nổi dậy của cộng sản ở xa Đông Nam Á, chẳng hạn như Nicaragua và Ăng-gô-la và Ethiopia và Afghanistan, thì quân domino của lý thuyết đoàn tàu là các nước phụ thuộc của Mỹ như Nhật Bản và Tây Đức có thể đáp lại sự yếu kém và không đáng tin cậy của Mỹ bằng cách xoa dịu đế chế Liên Xô hoặc Trung Quốc.

Cái gọi là “những người theo chủ nghĩa hiện thực tối thiểu” tin rằng trong hầu hết các hệ thống của các quốc gia cạnh tranh, hành vi lấy cân bằng phổ biến hơn hành vi theo đoàn tàu.

Theo chủ nghĩa hiện thực tối thiểu, bất kỳ quốc gia nào tích lũy quá nhiều hoặc tìm kiếm quyền lực sẽ ít tự động kích động một liên minh cân bằng gồm các quốc gia khác đang tìm cách kiềm chế sự mở rộng ảnh hưởng của nó. Theo đó, một cường quốc có thể thua trong nhiều cuộc đấu tranh ngoại vi mà ít hoặc không gây nguy hiểm cho danh tiếng là một cường quốc của mình. Thật vậy, một cường quốc duy lý sẽ áp đặt các giới hạn cho sự bành trướng của mình, thậm chí giảm bớt sức mạnh và ảnh hưởng của chính mình, để tránh chọc giận các quốc gia khác (một chiến lược có thể so sánh với việc cho đi nhiều tiền của mình với hy vọng đảm bảo rằng mình sẽ không bị cướp).

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, các giả định về chủ nghĩa hiện thực tối thiểu đã khiến các nhà tư tưởng hiện thực nổi tiếng của Mỹ như nhà ngoại giao và học giả George Kennan và nhà báo Walter Lippmann lập luận rằng Hoa Kỳ đã phóng đại quá mức mối đe dọa của Liên Xô đối với lợi ích của Mỹ. Trường phái Kennan-Lippmann ủng hộ chính sách đối ngoại “ngăn chặn hữu hạn” của người Mỹ sẽ hạn chế các đảm bảo an ninh của Mỹ đối với một số quốc gia và khu vực chủ chốt – Tây Âu, Nhật Bản và có lẽ cả các quốc gia sản xuất dầu mỏ ở Trung Đông. Nếu Hoa Kỳ hành động ít hơn, các quốc gia khác có thể được trông cậy sẽ hành động nhiều hơn để cân bằng với Moscow. Nhà khoa học chính trị Stephen Walt biện minh cho việc ngăn chặn hữu hạn bằng cách viện dẫn rằng “hành vi cân bằng chiếm ưu thế trong chính trị quốc tế.”

Những người ủng hộ cái được gọi là “chủ nghĩa hiện thực tối đa” có một cái nhìn hoàn toàn khác về các xu hướng cơ bản của chính trị thế giới. Hai trường phái chia sẻ sự nhấn mạnh vào tính ưu việt của quyền lực và lợi ích trong các hệ thống nhà nước cạnh tranh. Nhưng những người theo chủ nghĩa hiện thực tối đa có nhiều khả năng nhận ra rằng các hệ thống nhà nước là những ngoại lệ, không phải là quy tắc, trong lịch sử. Khi các hệ thống gồm nhiều cường quốc xuất hiện, chúng thường được hấp thụ, sau một vài thế kỷ hoặc thậm chí vài thế hệ, thành “đế chế đại đồng” – đó là, các thực thể đế quốc kết hợp hầu hết hoặc tất cả các dân tộc và lãnh thổ của một khu vực cụ thể, hoặc có lẽ, trong tương lai, của toàn bộ hành tinh.

Những người theo chủ nghĩa hiện thực tối đa cũng nhấn mạnh mức độ mà thế giới chính trị giữa các quốc gia được tổ chức như một hệ thống phân cấp quyền lực và chức năng. Theo nhà khoa học chính trị William Curti Wohlforth, “Sự hiểu biết theo thứ bậc về sự cân bằng quyền lực [ngược lại với mô hình cân bằng quyền lực của chủ nghĩa hiện thực tối thiểu] làm nổi bật một bộ luật và quy luật khác nhau trong chính trị thế giới: các phân phối tập trung, bá quyền hơn là cân bằng; khả năng dịch chuyển quyền lực thành ưu thế chính trị; một xu hướng lớn hơn đi đến hiệu ứng đoàn tàu; và một cuộc đấu tranh không ngừng giữa các quốc gia hàng đầu để giành quyền kiểm soát hệ thống.” Việc có một hệ thống để các quốc gia hàng đầu kiểm soát là kết quả của xu hướng hệ thống phân cấp quyền lực đi kèm với sự phân công lao động theo chiều dọc giữa các quốc gia. Nhà nước đứng đầu trật tự phân hạng quốc tế, đế chế hoặc bá quyền, chuyên đảm bảo an ninh quân sự cho các quốc gia yếu hơn, hoặc sử dụng sức mạnh quân sự của mình để tống tiền (sự khác biệt có thể mờ nhạt trong một số trường hợp). Nếu là một cường quốc kinh tế đồng thời cường quốc quân sự, nhà nước hàng đầu cũng có thể kiểm soát đầu tư và tài chính quốc tế, như nước Anh đã làm trong thế kỷ 19 và như Hoa Kỳ đã làm trong thế kỷ 20. Được các nước hùng mạnh đảm bảo bảo vệ, các quốc gia yếu hơn có thể cắt giảm chi tiêu quốc phòng và tập trung vào một phân khúc cụ thể trong hệ thống phân cấp – ví dụ, bằng cách trở thành các địa điểm dành cho các chức năng chuyên biệt trong nền kinh tế quốc tế (ốc đảo thuế hoặc lãnh thổ sản xuất dầu mỏ, chẳng hạn), hoặc bằng cách xuất khẩu lính đánh thuê để các cường quốc sử dụng (như các bang Thụy Sĩ thời tiền hiện đại và các công quốc Đức và Cuba cộng sản của Castro đều đã làm).

Do đó, những người theo chủ nghĩa hiện thực tối đa tin rằng không chỉ có thể mà còn có khả năng một liên minh siêu cường hoặc siêu cường duy nhất sẽ thống trị hệ thống toàn cầu chuyên biệt, có thứ bậc. Một khi một quốc gia chuyên sử dụng sự cưỡng chế tích lũy dư thừa sức mạnh quân sự hù dọa, thì nhiều, có lẽ hầu hết, các quốc gia khác trên thế giới sẽ hùa theo quốc gia đó thay vì quân sự hóa xã hội của chính mình hoặc liên kết với các quốc gia yếu kém khác để thách thức sự thống trị. quyền lực. Theo quan điểm này, chính trị thế giới giống như chính trị của bầy chó. Con chó hàng đầu có thể dễ dàng bị đánh bại bởi sự kết hợp của những con chó yếu hơn. Nhưng phần lớn đàn, đã quen với những vị trí cấp dưới của chúng trong hệ thống phân cấp, sẽ tuân theo từng con chó đầu đàn. Con chó đầu đàn chỉ cần đánh bại kẻ thách thức đáng tin cậy nhất của mình để cả đàn xếp hàng. Tương tự như vậy, con chó đầu đàn chỉ cần bị đánh bại bởi một kẻ thách thức mạnh mẽ, chỉ trong một hoặc một vài trận chiến mà những con còn lại quan sát được, sẽ bị cả bầy bỏ rơi, những thành viên của chúng sẽ hợp sức với con chó đầu đàn mới.

Hiệu ứng đoàn tàu được nhấn mạnh bởi chủ nghĩa hiện thực tối đa cung cấp câu trả lời cho câu hỏi: Bằng cách nào mà sự sỉ nhục mà Hoa Kỳ nhận được trong Chiến tranh Việt Nam hoặc một cuộc xung đột tương tự đã khiến Hoa Kỳ thua cuộc trong Chiến tranh Lạnh – hoặc ít nhất khiến thất bại của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh đến gần hơn?

Trong suy nghĩ của công chúng phương Tây, ý tưởng thất bại trong Chiến tranh Lạnh gắn liền với vũ khí hạt nhân. Nhưng sự thất bại của Hoa Kỳ trong cuộc đấu tranh toàn cầu có thể là kết quả của việc Hoa Kỳ lùi bước trong các cuộc đối đầu liên quan đến Berlin, hoặc Triều Tiên, hoặc Đài Loan, hoặc Đông Dương, hoặc Cuba, hoặc các khu vực tranh chấp tương tự do sự cạnh tranh của các siêu cường gây ra. Sau thất bại hoặc rút lui lớn đầu tiên, hoặc có thể là lần thứ hai hoặc thứ ba hoặc thứ tư liên tiếp, niềm tin vào khả năng quân sự, quyết tâm sử dụng nó của Mỹ, hẳn sẽ sụp đổ. Tại thời điểm đó, một điều gì đó tương tự như sự hoảng loạn trên thị trường chứng khoán sẽ xảy ra sau đó. Trong một khoảng thời gian ngắn đáng kể – một vài năm, thậm chí có thể là vài tháng – hệ thống liên minh toàn cầu của Mỹ sẽ bị phá vỡ, khi các quốc gia châu Âu, châu Á, Trung Đông, châu Phi và châu Mỹ Latinh vội vàng thực hiện các giao dịch với Moscow. Nhờ chạy trốn theo nhóm, Hoa Kỳ sẽ thấy mình bị gạt ra ngoài lề trong một thế giới hiện đang xoay quanh Liên Xô (không có cường quốc quân sự nào khác có tầm hoạt động toàn cầu và tham vọng toàn cầu vào thời điểm đó). Liên Xô có thể đã không phải nổ một phát súng trong sự tức giận.

Không cần phải có bất kỳ cuộc cách mạng bổ sung. Những người cộng sản cùng giới tinh hoa thậm chí có thể vẫn nắm quyền ở cùng các thủ đô trên khắp thế giới. Thật vậy, các liên minh của Mỹ như NATO và liên minh Mỹ-Nhật có thể đã chính thức tồn tại thêm vài năm nữa, mặc dù sắp chết. Nhưng Moscow sẽ thay thế Washington ở đỉnh cao của hệ thống phân cấp quân sự toàn cầu, và mọi người hẳn đã biết điều đó.

Hiệu ứng đoàn tàu là lý do tại sao thật sai lầm khi lập luận rằng đế chế Xô Viết chắc chắn sẽ sụp đổ vì bành trướng quá mức. Quyền lực trên trường quốc tế là tương đối, không tuyệt đối. Nếu Liên Xô đã quản lý, bằng các biện pháp đe dọa quân sự, để chia rẽ liên minh của Hoa Kỳ, Tây Âu và Nhật Bản, hoặc khiến Hoa Kỳ sợ hãi rơi vào chủ nghĩa cô lập và nhân nhượng, thì họ có thể đã đạt được và duy trì vị thế là cường quốc quân sự hàng đầu thế giới về mặt tương đối ngay cả khi nước này giảm chi tiêu cho quân đội. Theo cách tương tự, việc giảm bớt thách thức của Liên Xô đã cho phép Hoa Kỳ trở nên tương đối mạnh hơn trên chính trường thế giới vào những năm 1990, ngay cả khi nước này cắt giảm chi tiêu quốc phòng và triển khai quân đội ở nước ngoài.

Đã khiến kẻ yếu sợ hãi và đã chia rẻ các nền dân chủ công nghiệp để đi theo nó, một Liên Xô đã thắng Chiến tranh Lạnh bằng sự đe dọa sẽ gặp khó khăn trong việc giữ cho đế chế của mình nguyên vẹn. Năm 1967, nhà tư tưởng hiện thực tối thiểu hàng đầu George Kennan đã viết rằng “người ta không nên quá sợ hãi những kẻ khao khát thống trị thế giới” bởi vì “tính thích đáng liên tục và không hề suy giảm trong thế giới hiện đại trong lời khẳng định của Gibbon cho rằng ‘không có gì trái ngược với tự nhiên hơn là cố gắng kềm giữ sự phục tùng ở các tỉnh lỵ xa xôi.’ ” Trên thực tế, chinh phục có thể mang lại lợi nhuận, nếu chi phí đàn áp những người bị chinh phục kém xa so với trị giá các chiến lợi phẩm của kẻ chinh phục. Trong Chinh Phục Có Lợi Không? Việc Bóc Lột các Xã Hội Kỹ Nghệ bị Chiếm Đóng (1996), nhà khoa học chính trị Peter Liberman chứng minh rằng lợi ích kinh tế đối với Liên Xô khi kiểm soát Đông Âu từ năm 1945-89 vượt xa chi phí tương đối thấp của việc đàn áp người Đông Âu năm 1953 (Đông Đức ), 1956 (Hungary), 1968 (Tiệp Khắc), và 1981 (Ba Lan). Nếu không có nguồn tài nguyên của Đông Âu, có lẽ đế chế Xô Viết đã sớm bị phá sản trước cuộc cạnh tranh quân sự với phương Tây; và không có khả năng chuyển hướng chi tiêu quân sự của phương Tây để đối phó với các mối đe dọa ở châu Á, Trung Đông và Mỹ Latinh, Moscow có thể phải đối mặt với thách thức quân sự phương Tây lớn hơn nhiều trong khu vực cốt lõi của mình. Trong trường hợp của Cuba, Liên Xô đã có được một đồng minh có giá trị chiến lược và nguồn cung cấp lính đánh thuê mà nước này có thể sử dụng ở châu Phi. Chiến thắng của các đàn em Việt Nam của Moscow đã mang lại cho chế độ Xô Viết đang suy tàn một sự thúc đẩy về uy tín và tinh thần trong gần một thập kỷ.

Chính Kennan đã thừa nhận tính hợp pháp của những lo ngại về việc lôi kéo theo nhóm trong chính trị thế giới và khả năng Liên Xô trở thành bá chủ là kết quả của sự đe dọa hơn là chiến tranh. Vào cuối những năm 1940, Kennan tóm tắt ý tưởng về hiệu ứng đoàn tàu với tài hùng biện đặc trưng:

Một trong những sự thật quan trọng cần ghi nhớ về phong trào cộng sản quốc tế ở các khu vực của châu Âu chưa nằm dưới sự kiểm soát của quân đội và cảnh sát Liên Xô là đặc điểm “đoàn tàu” rõ rệt mà phong trào đó mang lại. Ý tôi muốn nói thực tế có một tỷ lệ nhất định những người ủng hộ phong trào bị lôi cuốn vào nó không phải bởi sự nhiệt tình về ý thức hệ… mà chủ yếu bởi niềm tin rằng đó là điều sắp đến, phong trào của tương lai… và rằng những người hy vọng được sống sót – nói chi đến phát triển –  trong những ngày tới sẽ là những người có tầm nhìn xa và leo lên đoàn tàu khi nó vẫn còn là phong trào của tương lai.

Vào những năm 1970, khi lập luận chống lại chính sách Chiến tranh Lạnh của Hoa Kỳ từ quan điểm “chủ nghĩa biệt lập” mà sau này ông tự mô tả, Kennan đã đủ trung thực để thừa nhận rằng chiến lược của Liên Xô nhằm giành vị trí bá chủ toàn cầu bằng đe dọa ngắn hạn trong chiến tranh là có ý nghĩa, theo quan điểm của Moscow: “Chắc chắn là, nếu tất cả những điều này có thể đạt được một cách không đổ máu, mà không gây ra những hậu quả trong nước và gia tăng trách nhiệm đối với Liên Xô, thì giới lãnh đạo của quốc gia đó chắc chắn sẽ hài lòng – nhưng chỉ trong giới hạn – khi nhìn thấy phương Tây bỏ rơi vị thế ở Berlin, một cuộc leo thang quân sự rõ ràng của Liên Xô từ Đại Tây Dương đến biên giới Trung Quốc, và nâng cao uy tín Liên Xô trên toàn thế giới.”

Khi đó, Chiến tranh Lạnh rất có thể sẽ kết thúc với một sự tái tổ chức ngoại giao toàn cầu nhanh chóng và ít nhiều không gây đổ máu để ủng hộ siêu cường được cho là có sức mạnh quân sự mạnh nhất và kiên quyết nhất về mặt chính trị. Chúng ta biết rằng đây là cách Chiến tranh Lạnh sẽ kết thúc nếu Hoa Kỳ thua trận, bởi vì đây là cách Chiến tranh Lạnh kết thúc khi Liên Xô thua cuộc.

Hiệu ứng Đoàn tàu trong Chiến tranh Lạnh: Phép thử của Lịch sử

Năm 1961, thủ tướng Liên Xô Nikita Khrushchev đã mô tả cơn ác mộng chiến lược của các nhà hoạch định chính sách Liên Xô, một cơn ác mộng trong đó việc Liên Xô không chứng minh được uy tín của mình trong một cuộc khủng hoảng chủ yếu mang tính biểu tượng tại một điểm nóng chủ yếu mang tính biểu tượng sẽ dẫn đến áp lực lớn hơn của Mỹ, sự tan rã của Liên Xô. liên minh, và cuối cùng là lật đổ chủ nghĩa cộng sản:

Vấn đề tiếp cận Tây Berlin và toàn bộ vấn đề về hiệp ước hòa bình đối với [các cường quốc phương Tây] chỉ là cái cớ. Nếu chúng ta từ bỏ ý định ký kết một hiệp ước hòa bình, họ sẽ coi đây là một bước đột phá chiến lược và sẽ nhanh chóng mở rộng phạm vi yêu cầu của họ. Họ sẽ yêu cầu xóa bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Cộng hòa Dân Chủ Đức. Và nếu các cường quốc phương Tây đạt được tất cả những điều này, họ sẽ đưa ra yêu cầu chính của họ – rằng hệ thống xã hội chủ nghĩa phải bị xóa bỏ ở tất cả các nước theo phe xã hội chủ nghĩa.

Cơn ác mộng của Khrushchev rất giống với những gì đã thực sự xảy ra với khối Xô Viết dưới thời người kế nhiệm ông là Mikhail Gorbachev.

Trong suốt Chiến tranh Lạnh, Moscow cũng lo lắng như Washington về mối đe dọa gây ra cho khối của mình chạy đi do hiệu ứng đoàn tàu. Nỗi sợ hãi về hiệu ứng đoàn tàu đã khiến giới lãnh đạo Liên Xô tin – có lẽ chính xác – rằng việc lật đổ chủ nghĩa cộng sản ở Afghanistan sẽ gây nguy hiểm cho sự kiểm soát của Moscow đối với các nước cộng hòa Trung Á và làm suy yếu uy tín tổng thể của nó trong khối cộng sản và trên thế giới. Liên Xô đã ngăn chặn mối đe dọa đó bằng cách xâm lược Afghanistan vào năm 1979. Tuy nhiên, quyết định không xâm lược Đông Âu của Gorbachev để củng cố chế độ cộng sản ở đó đã tạo ra một chuỗi sự kiện dẫn đến sự tan rã không chỉ của đế chế bên ngoài mà còn của chính Liên Xô. Với những gì đã xảy ra vào năm 1989-91, có vẻ như đế chế Xô Viết ở châu Âu, và có lẽ chính Liên Xô, có thể đã tan rã vào năm 1953 hoặc 1956 hoặc năm 1968, nếu Liên Xô không nhanh chóng và tàn nhẫn nghiền nát Đông Đức, Hungary và Tiệp Khắc.

Bằng chứng về tầm quan trọng của hiệu ứng đoàn tàu trong chính trị thế giới không chỉ giới hạn ở trường hợp đơn lẻ về sự tan rã của đế chế Xô Viết. Lịch sử rộng lớn hơn của Chiến tranh Lạnh cũng ủng hộ điều đó. Lý thuyết đoàn tàu dự đoán rằng các quốc gia yếu trên thế giới có nhiều khả năng sẽ hợp tác với Liên Xô khi sức mạnh tương đối của nước này so với Hoa Kỳ tăng lên – và rằng họ có thể sẽ xa rời Liên Xô khi sức mạnh tương đối của nước này suy giảm. Đây chính xác là kiểu dáng mà một cuộc kiểm tra hồ sơ lịch sử tiết lộ. Vào giữa những năm 1950 và cuối những năm 1980, khi Liên Xô tương đối yếu, Liên Xô có ít đồng minh. Vào giữa những năm 70, khi sức mạnh quân sự của Liên Xô đạt đến đỉnh cao so với Hoa Kỳ, hệ thống liên minh của Liên Xô đã đạt đến mức độ lớn nhất của nó. Mô hình này mâu thuẫn với những dự đoán của lý thuyết cân bằng quyền lực – nhưng nó hoàn toàn phù hợp với những dự đoán của lý thuyết đoàn tàu. Thực tế là Hoa Kỳ có số lượng đồng minh lớn nhất vào đầu Chiến tranh Lạnh (khi Liên Xô vẫn còn bị tàn phá bởi Thế chiến II) và vào cuối Chiến tranh Lạnh  (khi các vệ tinh cũ của Liên Xô cũng như các đồng minh cũ và những nước trung lập đã rời bỏ Moscow để tìm kiếm sự ủng hộ của Washington).

Đại hội đồng Liên Hiêp Quốc cũng cấp một thử nghiệm thứ ba về lý thuyết hiệu ứng đoàn tàu. Khi sức mạnh quân sự của Mỹ ở đỉnh cao tương đối vào đầu những năm 1950, các quốc gia thuộc Thế giới thứ ba nghiêng về phía Mỹ. Khi sức mạnh của Liên Xô tăng lên, nhiều người trở nên trung lập hơn; cuối cùng, khi sức mạnh quân sự của Liên Xô đạt đến đỉnh cao vào những năm 1970, đã có một khuynh hướng ủng hộ Liên Xô mạnh mẽ trong Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. “Người ta thấy Hoa Kỳ đang quay cuồng trong thất bại nặng nề, không có khả năng đáp trả, thậm chí không muốn nghĩ đến việc trả đũa,” cựu đại sứ Hoa Kỳ tại LHQ Daniel Patrick Moynihan nhớ lại. Theo Moynihan, vào giữa những năm 1970 “Các đại hội đồng Liên Hiệp Quốc gần như hoàn toàn giành chỗ cho việc tấn công vào các vị trí  phương Tây bởi sự kết hợp của các khối Cộng sản và Thế giới thứ ba.” chứ không phải cho một số yếu tố khác, như chủ nghĩa tự do hậu thuộc địa hoặc sự hấp dẫn của mô hình Xô Viết, rõ ràng là sự đảo ngược thái độ đáng kinh ngạc của Thế giới thứ ba đối với Hoa Kỳ trong Liên Hiệp Quốc sau sự sụp đổ của Liên Xô – một sự đảo ngược định hướng chính sách đối ngoại của nhiều người trong số những người ưu tú đã từng thân Liên Xô chỉ vài năm trước đó.

Ngay cả những người ủng hộ chủ nghĩa hiện thực tối thiểu cũng thừa nhận rằng các nước yếu có xu hướng hùa theo các cường quốc đe dọa hơn là cố gắng cân bằng chúng. Stephen M. Walt viết rằng “nói chung, quốc gia càng yếu thì càng có nhiều khả năng đi theo khuynh hướng đang thắng thế thay vì cân bằng.” Nếu Tây Đức và Nhật Bản, bất chấp sự giàu có của họ, được coi là những quốc gia yếu kém trong Chiến tranh Lạnh, trong đó các siêu cường quân sự duy nhất là Hoa Kỳ và Liên Xô, thì bản thân lý thuyết hiện thực tối thiểu sẽ dự đoán rằng người Tây Đức và người Nhật sẽ sẵn sàng chấp nhận Liên Xô nếu họ tin rằng họ không thể dựa vào Hoa Kỳ để bảo vệ không chỉ lãnh thổ mà cả lợi ích khu vực và trật tự thế giới của họ.

Việc các nhà lãnh đạo Tây Đức và Nhật Bản thường phàn nàn rằng Chiến tranh Việt Nam đang làm chệch hướng các nguồn lực và sự chú ý ra khỏi công cuộc quốc phòng của họ chỉ đơn thuần thể hiện mức độ lo lắng của họ về mối đe dọa của Liên Xô và niềm tin nông cạn của họ vào uy tín của Mỹ. Trong trường hợp của Tây Đức, tài liệu chứng minh rằng xu hướng xoa dịu Liên Xô đã lên xuống đồng bộ với nhận thức về uy tín của Hoa Kỳ. Khi chính quyền Kennedy lùi bước trong cuộc khủng hoảng Berlin vào tháng 8 năm 1961, chính sách cứng rắn của Thủ tướng Konrad Adenauer yêu cầu thống nhất nước Đức như một điều kiện tiên quyết để Đức hòa hoãn với khối Xô Viết đã sụp đổ. “Tôi đã nói sau đó vào tháng 8 năm 1961, rằng một bức màn đã được kéo sang một bên để lộ ra một sân khấu trống rỗng,” nhà lãnh đạo Đảng Dân chủ Xã hội Đức Willy Brandt viết vào năm 1976. “[Nhà độc tài Đông Đức Walter] Ulbricht đã được phép vung nắm đấm vào siêu cường phương Tây, và Hoa Kỳ chỉ nhăn mặt khó chịu. Những cân nhắc chính trị của tôi sau đó đã bị ảnh hưởng đáng kể bởi trải nghiệm ngày đó, và chính trên bối cảnh này mà cái gọi là Ostpolitik (Chính sách hướng Đông) của tôi – sự khởi đầu hòa hoãn đã hình thành.” Tin rằng tính yếu đuối và dao động của người bảo vệ Mỹ khiến cho chính sách đối đầu của Tây Đức không thể thành hiện thực, người Tây Đức hy vọng rằng việc tự do hóa khối Xô viết có thể dẫn đến sự thống nhất nước Đức. Thậm chí hy vọng dè dặt này cũng bị nghiền nát khi khối Xô Viết xâm lược Tiệp Khắc vào năm 1968 để phục hồi quyền lãnh đạo Đông Âu của Liên Xô, kể cả Đông Đức.

Ostpolitik (chính sách hướng Đông) mà Tây Đức theo đuổi sau năm 1968 là một chính sách nhân nhượng dựa trên sự công nhận của giới lãnh đạo Tây Đức đã vỡ mộng về quyết tâm của Liên Xô và sự thiếu kiên quyết của Hoa Kỳ. Không phải ngẫu nhiên mà Tây Đức và các quốc gia Tây Âu khác đã hợp pháp hóa đế chế Liên Xô ở Đông Âu bằng cách phê chuẩn Hiệp định Helsinki vào đúng thời điểm những năm 1970 khi sức mạnh quân sự của Liên Xô đạt đến đỉnh cao. Bộ trưởng Ngoại giao Tây Đức Egon Bahr đã thẳng thắn biện minh cho chính sách hòa dịu của Đức với khối Xô Viết bằng cách mô tả phản ứng của nó đối với mối nghi ngờ của Đức về hiệu lực lời cam kết của đồng minh Mỹ: “Liệu Mỹ có đáp trả bằng tên lửa hạt nhân nếu người Nga chiếm Hamburg không? Câu trả lời [là] không. Vì vậy, hòa hoãn là lựa chọn duy nhất của chúng tôi.” Hoa Kỳ vào những năm 1970, bối cảnh bao gồm việc Hoa Kỳ rút quân khỏi Đông Dương, tiếp theo là các kế hoạch dự kiến ​​của Tổng thống Carter nhằm rút quân đội Hoa Kỳ không chỉ ra khỏi Hàn Quốc mà còn ra khỏi chính Tây Âu. Do đó, lịch sử chính sách đối ngoại của Tây Đức trong Chiến tranh Lạnh là một minh chứng hùng hồn cho tính trung tâm của hiệu ứng đoàn tàu. Nhà khoa học chính trị John Orme viết: “Các chất xúc tác cho sự phát triển chính sách này của Đức, như hồ sơ cho thấy rõ ràng, là hai cách sử dụng vũ lực tàn bạo nhưng có sức thuyết phục mạnh mẽ của Moscow – việc xây dựng Bức tường ở Berlin và phá hủy tự do ở Praha” – hai lần Liên Xô thể hiện sức mạnh và quyết tâm mà Hoa Kỳ phản ứng quá yếu ớt.

Tương tự như vậy, trong Chiến tranh Lạnh, có khả năng thực sự là Nhật Bản sẽ xa rời Hoa Kỳ nếu lãnh đạo đất nước bảo thủ và thân Mỹ sợ rằng Washington không còn có thể bảo vệ Nhật Bản hoặc các lợi ích khu vực và toàn cầu của nước này. Giới tinh hoa Nhật Bản không phản đối việc sử dụng chủ nghĩa trung lập  hoặc việc đào tẩu khỏi khối Thế giới Tự do do Mỹ lãnh đạo nhằm đe dọa Mỹ với hy vọng giành được sự nhượng bộ từ người bảo hộ hùng mạnh của mình. Năm 1966, để đáp lại những nỗ lực của Mỹ nhằm giúp Texas Instruments thâm nhập thị trường Nhật được bảo hộ, nhật báo kinh doanh hàng đầu của Nhật Bản đã cảnh báo rằng “Việc Mỹ không ‘hiểu’ cách đối xử của Nhật Bản đối với Texas Instruments và các trường hợp đầu tư trực tiếp nước ngoài tương tự có thể gây nguy hiểm cho sự hỗ trợ của Nhật Bản đối với chính sách an ninh của Mỹ..” Vào đỉnh điểm của cái gọi là Chiến tranh Lạnh lần thứ hai vào năm 1982, Trưởng Cục Chính sách Thương mại của Bộ Thương mại và Công nghiệp Quốc tế cảnh báo rằng áp lực của Mỹ đối với việc mở cửa thị trường Nhật Bản có thể buộc Nhật Bản phải gia nhập khối cộng sản. Những lời đe dọa này có thể không đáng tin cậy, nhưng thực tế là chúng đã  được đưa ra là đều đáng kể.

Hiệu ứng đoàn tàu sau Chiến tranh Lạnh – và trước đó

Khi đế chế Xô Viết sụp đổ vào cuối những năm 1980, đế chế trí tuệ của thuyết hiện thực tối thiểu cũng sụp đổ theo. Trong nhiều thập kỷ, những người theo chủ nghĩa hiện thực tối thiểu của Mỹ trong học viện và báo chí đã chế giễu những người theo chủ nghĩa hiện thực tối đa, những người đã tuyên bố rằng sự mất mát danh tiếng quân sự của siêu cường có thể gây ra sự tan rã đột ngột của đế chế không chính thức của nó. Hầu hết những người theo chủ nghĩa hiện thực tối thiểu đều hình dung ra sự suy tàn dần dần của cả Hoa Kỳ và Liên Xô, kèm theo sự xuất hiện của các siêu cường mới – Nhật Bản tái vũ trang, một Châu Âu thống nhất, Trung Quốc. Những người theo chủ nghĩa hiện thực của “trường phái thanh toán nợ” và “những người theo chủ nghĩa tự do về trật tự thế giới” của những năm 1970 và 1980 không bao giờ tưởng tượng được rằng đế chế Xô Viết sẽ nhanh chóng sụp đổ, sau một vài thất bại mang tính biểu tượng trước phương Tây ở Afghanistan và Châu Âu. Họ cũng không tưởng tượng rằng tính lưỡng cực của Chiến tranh Lạnh sẽ đột ngột nhường chỗ cho tính đơn cực của một trật tự thế giới do Hoa Kỳ chi phối.  Tập hợp các kịch tính như vậy lẽ ra không thể xảy ra trong một thế giới cân bằng quyền lực.

Tuy nhiên, hiệu ứng đoàn tàu đã xảy ra. Và nó đã xảy ra hai lần.

Động lực của nền chính trị cường quốc Trung Đông sau chiến thắng của liên minh do Hoa Kỳ lãnh đạo trước Iraq của Saddam Hussein năm 1991 đã được đúc kết lại, ở dạng thu nhỏ, động lực của chính trị thế giới sau chiến thắng của khối Mỹ trước đế chế Liên Xô. Ngay khi rõ ràng là sẽ chỉ có một siêu cường trong khi gần đây đã có hai, các chế độ thuộc Thế giới thứ ba trước đây trung lập hoặc thân Liên Xô cố gắng cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ. Do đó, với một sự vội vàng vô cớ, mọi chế độ ở Trung Đông (ngoại trừ Iraq, Libya và Iran đã bị đánh bại, khi đó đang trong một giai đoạn của cuộc cách mạng nội bộ của giáo Shia) đã phát hiện ra rằng họ muốn có quan hệ tốt với Hoa Kỳ, một khi Hoa Kỳ đã thể hiện sự sẵn sàng tham chiến để trở thành và duy trì quyền bá chủ quân sự ở Vịnh Ba Tư.

Nếu lý thuyết cân bằng quyền lực là đúng, thì những điều này đã không xảy ra. Sự suy tàn của Liên Xô lẽ ra phải khiến các quốc gia trên thế giới liên kết với nhau để cắt giảm sức mạnh của Hoa Kỳ xuống. Không cần phải nói, không có liên minh chống Mỹ toàn cầu nào được thành lập. Ngược lại, hầu hết các quốc gia tỏ ra hòa hoãn với một Hoa Kỳ hiện bất khả xâm phạm. Ở Trung Đông sau Chiến tranh vùng Vịnh, cũng như trên thế giới sau Chiến tranh Lạnh, không có liên minh chống Mỹ nào thành hiện thực. Các hành động trục xuất Hoa Kỳ khỏi khu vực được thực hiện bởi những kẻ khủng bố không quốc tịch có trụ sở tại một số quốc gia cận biên như Afghanistan và Sudan đã nhấn mạnh quan điểm này.

Rất lâu trước khi Chiến tranh Lạnh và Chiến tranh vùng Vịnh kết thúc, một ví dụ sớm hơn về tầm quan trọng của động lực đoàn tàu trong chính trị thế giới được cung cấp bởi sự thành công đáng kể của nước Đức dưới thời Hitler trong những năm 1930 và đầu những năm 1940. Chưa bao giờ một cường quốc lại tiến gần đến sự thống trị thế giới như vậy bằng cách tận dụng một trường hợp kinh điển của hiệu ứng đoàn tàu. Vào đầu những năm 1930, Đức là một quốc gia bị tước bỏ vũ khí. Vào cuối thập niên này, ngay cả trước khi liên minh Xô-Đức phát động cuộc tổng chiến tranh, Đức đã thống trị lục địa châu Âu. Hitler đã sử dụng vũ lực và đe dọa thành công để ngăn cản hoặc phá vỡ các liên minh chống Đức. Đế chế thứ ba càng lớn mạnh và càng trở nên nguy hiểm thì các nước láng giềng sợ hãi của nó càng ít sẵn sàng đối đầu với nó và họ càng sẵn sàng xoa dịu nó. Thay vì thành lập một liên minh để kiềm chế Đức vào giữa những năm 1930, Anh, Pháp và Liên Xô đã cạnh tranh để xoa dịu chế độ Quốc xã hiếu chiến và bành trướng. Thật vậy, Liên Xô đã tìm cách tự bảo vệ mình bằng cách tham gia liên minh với Hitler vào năm 1939. Hitler hy vọng sẽ đe dọa nước Anh để tham gia vào một liên minh tương tự, điều này sẽ cho phép ông ta chinh phục Liên Xô và chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh toàn cầu cuối cùng giữa Berlin và Washington mà ông tin rằng sẽ xảy ra vào cuối thế kỷ XX. Nếu Anh đã xoa dịu Đức hoặc đã thất bại trước khi  Hoa Kỳ tham gia Thế chiến thứ hai, Hitler lẽ ra đã thành công trong việc sử dụng chính sách ngoại giao cưỡng chế và một loạt cuộc chiến tranh nhỏ (cùng với cuộc chiến tranh ủy nhiệm kiểu Triều Tiên/Việt Nam ở Tây Ban Nha) để tìm đường trở thành bá chủ toàn cầu vào đầu những năm 1940.

Một khi đế chế Đức và Nhật Bản tan vỡ trong Thế chiến thứ hai, và sự yếu kém sau chiến tranh của Anh trở nên rõ ràng, thì Hoa Kỳ có lẽ đã trở thành bá chủ toàn cầu vào cuối những năm 1940 – nếu không có sự thách thức của Liên Xô. Thực tế là rất ít quốc gia phản đối đề xuất đặt Liên Hiệp Quốc tại New York hoặc San Francisco nói lên hùng hồn điều đó. Nếu Liên Xô hài lòng với vị thế của một cường quốc khu vực Á-Âu sau năm 1945, thì kiểu thế giới đơn cực lấy Washington làm trung tâm xuất hiện vào những năm 1990 có thể đã phát triển vào những năm 1950, do hiệu ứng đoàn tàu toàn cầu thân Mỹ.

Việc thay thế trật tự thế giới lưỡng cực của Chiến tranh Lạnh bằng trật tự thế giới đơn cực vào những năm 1990 không gây ngạc nhiên đối với những người theo chủ nghĩa hiện thực tối đa, những người tin rằng quyền lực có xu hướng tập trung vào một liên minh hoặc một quốc gia duy nhất – trong trường hợp này là Hoa Kỳ. Nếu thế giới trở nên phi tập trung hơn theo thời gian do sự giàu có và sức mạnh quân sự của các quốc gia khác ngoài Hoa Kỳ trở nên phổ biến, điều này sẽ không chứng minh được rằng mô hình cân bằng quyền lực của chủ nghĩa hiện thực tối thiểu rốt cuộc là đúng. Không nên nhầm lẫn lý thuyết cân bằng quyền lực với “quy luật tăng trưởng không đồng đều” của các nền kinh tế quốc gia, những thay đổi về phần đóng góp tương đối  trong dân số thế giới do các tỷ lệ sinh khác nhau. Để lý thuyết cân bằng quyền lực là đúng, thì việc Trung Quốc và Ấn Độ trở nên quan trọng hơn một cách tương đối, và Hoa Kỳ ít quan trọng hơn một cách tương đối là chưa đủ, do tốc độ tăng trưởng năng suất hoặc dân số không đồng đều. Để lý thuyết cân bằng quyền lực được minh chứng, Hoa Kỳ phải bị cắt giảm quy mô một cách có chủ ý bởi một liên minh gồm các cường quốc khác đã thống nhất vì mục đích cụ thể đó. Không có dấu hiệu điều này xảy ra hiện nay.

Một quốc gia nhỏ bên rìa nơi chốn xa xôi”

Có thể lập luận rằng ngay cả khi Liên Xô và Trung Quốc coi số phận của Đông Dương là quan trọng, Hoa Kỳ có thể nhượng lại khu vực này cho một hoặc cả hai cường quốc cộng sản mà ít hoặc không gây thiệt hại cho chính sách đối ngoại của mình. Trong Chiến tranh Lạnh, những người theo chủ nghĩa hiện thực tối thiểu như George Ball, George Kennan và Walter Lippmann đã chủ trương một chiến lược ngăn chặn hữu hạn chỉ giới hạn ở Bắc Đại Tây Dương và Bắc Thái Bình Dương như một giải pháp thay thế cho chính sách ngăn chặn toàn cầu mà Hoa Kỳ thực sự theo đuổi. Ball đã viết rằng chiến lược của Hoa Kỳ nên tập trung vào “các quốc gia chính ở Đại Tây Dương.” Khu vực duy nhất của thế giới ngoài châu Âu nào có tầm quan trọng, ngoài Nhật Bản, chính là Trung Đông, vì trữ lượng dầu mỏ của nó. Chiến tranh Việt Nam (và có lẽ là Chiến tranh Triều Tiên) dựa trên việc đánh đồng sai lầm một cam kết “trong rừng và cánh đồng lúa của một quốc gia nhỏ ở rìa nơi chốn xa xôi với các hiệp ước quan trọng nhất của chúng ta cam kết bảo vệ các đồng minh phương Tây chúng ta ở trung tâm Châu Âu – trung tâm quyền lực thế giới và do đó là trung tâm của hiểm họa.” Giống như những người theo chủ nghĩa hiện thực tối thiểu khác, Ball thấy rất ít lý do để Hoa Kỳ kình chống lại những thành tựu của đế quốc Liên Xô ở bất kỳ đâu bên ngoài biên giới tưởng tượng bao quanh Bắc Mỹ, Tây Âu và Trung Đông. Ngay cả các quốc gia lân cận ở vùng Caribê và Trung Mỹ cũng nên “được tự do tạo ra các phiên bản hỗn loạn của riêng họ.” George Kennan ủng hộ mức độ cắt giảm thậm chí còn lớn hơn của Mỹ. Trong The Cloud of Danger (Đám Mây Hiểm Họa) (1977), Kennan gợi ý rằng người châu Âu đang tưởng tượng về mối đe dọa của Liên Xô: “Về mặt này, chúng ta phải đối xử với những người bạn châu Âu của mình như một dạng bệnh nhân tâm thần hoang tưởng”. Trong một cuộc phỏng vấn với George Urban trong Encounter vào tháng 9 năm 1976, Kennan. tự mô tả mình là một “người theo chủ nghĩa cô lập”. Đúng là một bài toán khó khăn liên quan đến việc vạch ra ranh giới xung quanh các khu vực mà Hoa Kỳ phải cam kết.

Ngay cả khi những tiền đề hiện thực tối đa làm nền tảng cho đại chiến lược của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh là hợp lý, thì việc áp dụng chiến lược đó ở Đông Dương (hoặc ở Hàn Quốc hay Đài Loan) có thể đã sai lầm. Có thể lập luận rằng “ba mặt trận” Hàn Quốc, Đài Loan và Đông Dương không quan trọng trong chính trị quyền lực thời Chiến tranh Lạnh như các tổng thống Mỹ từ Truman đến Nixon tin tưởng. Vấn đề liệu một quốc gia hoặc khu vực nhất định có tính chiến lược hay không có thể được tiếp cận thông qua một câu hỏi đơn giản: Các cường quốc tại một thời đại nhất định có cho rằng quốc gia hay khu vực đó có đáng để chiến đấu không?

Tầm quan trọng mà các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ đặt trên Đông Dương có trước Chiến tranh Lạnh. Không lâu trước trận Trân Châu Cảng, Bộ trưởng Chiến tranh Henry Stimson đã gợi ý với Tổng thống Roosevelt rằng “một cuộc tấn công mà không cần cảnh báo thêm” chống lại đế quốc Nhật Bản có thể là lợi ích của Mỹ nếu Nhật Bản tiến về Thái Lan. Vào ngày 6 tháng 12 năm 1941, FD Roosevelt soạn thảo một bức thư cho hoàng đế Nhật Bản, cảnh báo về hậu quả của việc Nhật Bản bành trướng ở Đông Dương. Ngay cả trước sự kiện Trân Châu Cảng, chính quyền Roosevelt đã coi Đông Nam Á lục địa là rất quan trọng đối với chiến lược toàn cầu và toàn bộ châu Á của Mỹ đến mức phải ngăn chặn sự kiểm soát của khối Trục thù địch.

Hơn nữa, từ năm 1946 đến 1989, mọi cường quốc quân sự trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh – Hoa Kỳ, Trung Quốc, Pháp, Liên Xô và Khối thịnh vượng chung Anh – đã gửi ít nhất một số binh sĩ tham chiến ở Đông Dương hoặc các quốc gia lân cận ở Đông Nam Á. Nếu Đông Dương là một khu vực ngoại vi không có tầm quan trọng chiến lược trong chính trị thế giới, thì thật lạ là thực tế này lại không được các nhà hoạch định chính sách ở Washington, Moscow, Bắc Kinh, Paris và London chú ý.

Nếu Đông Dương là một khu vực chiến lược quan trọng trong Chiến tranh Lạnh mà hai siêu cường sẵn sàng chiến đấu, trực tiếp hoặc gián tiếp, thì tại sao nó lại có tầm quan trọng chiến lược như thế? Câu trả lời ít liên quan đến các tuyến đường biển hơn là đến tính biểu tượng. Ý nghĩa biểu tượng của Đông Dương trong cuộc cạnh tranh toàn cầu để giành vị trí bá chủ thế giới giữa khối Mỹ và khối cộng sản, và trong cuộc cạnh tranh đồng thời trong khối cộng sản giữa Liên Xô và Trung Quốc, xuất phát từ thực tế rằng Chiến tranh Lạnh là một cuộc chiến ý thức hệ cũng như một cuộc đấu tranh quyền lực.

Sự tương tác giữa hệ tư tưởng và quyền lực trong Chiến tranh Lạnh đã bị hiểu lầm bởi hai nhóm: những người chống cộng bảo thủ và những người theo chủ nghĩa hiện thực tối thiểu. Phe chống cộng bảo thủ đã lầm khi họ giải thích Chiến tranh Lạnh là trận chiến giữa chủ nghĩa cộng sản và “nền văn minh Tây phương.” Chiến tranh Lạnh bắt đầu vào năm 1946, không phải vào năm 1917. Những nỗ lực của Liên Xô nhằm truyền bá chủ nghĩa cộng sản trên thế giới bằng các biện pháp lật đổ và các cuộc chiến ủy nhiệm như Nội chiến Tây Ban Nha trong những năm giữa cuộc đảo chính Bolshevik năm 1917 và Chiến tranh thế giới thứ hai là những thất bại thảm hại. Vị thế của Liên Xô với tư cách là một trong hai siêu cường quân sự – kết quả của cuộc phiêu lưu tự sát của Đức trong Thế chiến II – là điều kiện cần thiết cho những thành tựu chính trị và quân sự của chủ nghĩa Mác-Lê bên ngoài Liên Xô và Ngoại Mông, bắt đầu từ thắng lợi của cộng sản Trung Quốc do Liên Xô hỗ trợ vào năm 1949. Hơn nữa, Chiến tranh Lạnh kết thúc với sự sụp đổ khả năng và quyết tâm của Liên Xô trong việc thách thức ưu thế toàn cầu của Mỹ, mặc dù chế độ Mác-Lê vẫn sống sót ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Đông Dương và Cuba.

Nếu phe chống cộng đã phóng đại khía cạnh ý thức hệ của Chiến tranh Lạnh, thì những người theo chủ nghĩa hiện thực tối thiểu có xu hướng hoàn toàn bỏ qua khía cạnh đó. Học giả người Mỹ Stephen Walt đã tuyên bố vào năm 1989 rằng “khi lịch sử của chủ nghĩa cộng sản quốc tế được tiết lộ (ví dụ như những cuộc tranh cãi giữa Stalin và Tito, Khrushchev và Mao, và cuộc xung đột huynh đệ tương tàn giữa Campuchia, Việt Nam và Trung Quốc), thì hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác đã là một động cơ tương đối yếu cho sự liên kết”. Nhiều người theo chủ nghĩa hiện thực trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, chẳng hạn như George Kennan, có  thói quen sử dụng “Xô Viết” và “Nga” hoán đổi lẫn nhau, như thể Liên bang Xô Viết là nước Nga Sa hoàng bên dưới bộ y phục  Mác-Lê.

Những người theo chủ nghĩa hiện thực tối đa phức tạp hơn coi chủ nghĩa Mác-Lê là một tôn giáo thế tục chiến đấu một cách nghiêm túc. Dean Acheson, suy nghĩ vào cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950, đã viết rằng “đối với tôi, mối đe dọa đối với Tây Âu dường như giống  mối đe dọa mà Hồi giáo đã đặt ra vài thế kỷ trước, với sự kết hợp giữa nhiệt tình ý thức hệ và sức mạnh chiến đấu.” Trong những năm 1950, nhà khoa học chính trị người Anh Martin Wight cũng đưa ra so sánh tương tự: “Những người Jacobins của Cách mạng Pháp, và những người Cộng sản (song song với Hồi giáo), chia thế giới thành Dar-al-Islam và Daral- Harb❞—tức là, “Nơi ở của Hòa bình” và “Nơi ở của Chiến tranh.”

Bertrand Russell (người đã trở thành một nhà phê bình gay gắt về Chiến tranh Lạnh khi đã về già) đã viết ngay từ năm 1921: “Chủ nghĩa Bôn-sê-vích kết hợp những đặc điểm của Cách mạng Pháp với những đặc điểm của sự trỗi dậy của đạo Hồi… Trong số các tôn giáo, chủ nghĩa Bôn-sê-vích giống với chủ nghĩa Mô ha mét hơn  là Cơ đốc giáo và Phật giáo. Cơ đốc giáo và Phật giáo chủ yếu là tôn giáo có tính cá nhân, với các học thuyết thần bí và  yêu chuộng chiêm nghiệm. Còn chủ nghĩa Bôn-sê-vích mang tính thực tế, xã hội, phi tinh thần, quan tâm đến việc giành lấy đế chế trên thế giới này.” Về vấn đề này, điều đáng chú ý là thuật ngữ “chiến tranh lạnh”- guerra fría – được sử dụng lần đầu tiên vào thế kỷ thứ mười ba liên quan đến cuộc chiến biên giới cấp độ thấp ở Tây Ban Nha giữa các nền văn minh tôn giáo đối địch là Cơ đốc giáo Latinh và Hồi giáo.

Việc loại bỏ yếu tố ý thức hệ trong chính sách đối ngoại của các quốc gia cộng sản rõ ràng là một sai lầm. Sau Thế chiến II, một chế độ Nga phi cộng sản có thể đã tìm kiếm một phạm vi ảnh hưởng của Nga ở Đông Âu, nhưng sẽ không áp đặt một trật tự xã hội toàn trị trên Ba Lan, Tiệp Khắc, hoặc các nước khác. Nếu chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch còn tồn tại, chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong những năm 1950 và 1960 sẽ hoàn toàn khác với chính sách của Mao. Mặc dù những người kế nhiệm Mao bắt đầu suy nghĩ giống như Bismarck Metternich, nhưng chinhs Mao lại suy nghĩ giống như Lenin hoặc Robespierre hoặc Khomeini. Trong trường hợp của cả cuộc cách mạng cộng sản Trung Quốc và cuộc cách mạng Hồi giáo Shia ở Iran, các chế độ cách mạng phải mất cả thế hệ mới có dấu hiệu ôn hòa và cân nhắc việc nối lại quan hệ với Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác. (Sự bùng nổ cuối cùng của chủ nghĩa cực đoan Mao-it diễn ra vào những năm 1970 ở Campuchia, nơi Pol Pot cố gắng tạo ra một phiên bản của những gì ông ta đã thấy ở Trung Quốc trong Cách mạng Văn hóa một thập kỷ trước đó.)

Ngay cả nhà lãnh đạo Liên Xô tương đối ôn hòa Nikita Khrushchev cũng nhấn mạnh rằng sự ủng hộ của Moscow đối với các nhà cách mạng cộng sản ở châu Á không lấy cảm hứng từ “lợi ích quốc gia” của “Nga” mà từ ý thức hệ của chế độ Xô viết: “Không một người Cộng sản chân chính nào có thể ngăn cản Kim Nhật Thành trong khao khát mãnh liệt phải giải phóng Hàn Quốc khỏi Lý Thừa Vãn và khỏi ảnh hưởng phản động của Mỹ. Làm như vậy sẽ mâu thuẫn với quan điểm của Cộng sản về thế giới.” Liên Xô không chỉ là một siêu cường mà còn là trụ sở của một tôn giáo toàn cầu Mác-Lê với những tín đồ cuồng nhiệt ở hàng chục quốc gia không chỉ hướng về Moscow để được hỗ trợ quân sự và kinh tế mà còn để được hướng dẫn về ý thức hệ. Mao và các đồng chí của ông cũng xem việc hỗ trợ những người cộng sản nước ngoài là một phép thử sự trung thành của họ đối với chủ nghĩa Lênin. Chu Ân Lai bảo với các lãnh đạo Bắc Việt vào năm 1971, “Không ủng hộ cách mạng của nhân dân Việt Nam chẳng khác gì phản bội cách mạng.” Quan điểm này có thể được so sánh mang tính hướng dẫn với mô tả gần đây về chính sách đối ngoại của người dòng Shii ở Iran: “Bởi vì Iran đôi khi thể hiện mình là người bảo vệ tín đồ Shii trên toàn thế giới, các chuyên gia trong khu vực hiện nay cho biết rằng Iran có thể thấy buộc phải đáp trả bằng vũ lực nếu có thể chứng minh được rằng tín đồ người Shii [ở Afghanistan] bị tấn công vì lý do đức tin tôn giáo.”

Liên minh toàn cầu do Hoa Kỳ lãnh đạo trong Chiến tranh Lạnh đa dạng hơn nhiều so với khối cộng sản; nó bao gồm các nền dân chủ tự do, các chế độ độc tài quân sự, và các nền thần quyền Hồi giáo vốn chỉ chia sẻ  nỗi sợ hãi chung về quyền lực và ảnh hưởng của Liên Xô. Trước sự thất vọng của những người Mỹ muốn Hoa Kỳ tiến hành cuộc thập tự chinh “cách mạng dân chủ toàn cầu”, các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ đã hạn chế một cách thích đáng mục tiêu trong chiến lược hoành tráng của Mỹ xuống còn mục tiêu tiêu cực là ngăn chặn các cường quốc thù địch giành được quyền bá chủ quân sự đối với châu Âu, châu Á hoặc siêu lục địa Âu-Á  nói chung. Làn sóng dân chủ của những năm 1990 là phó phẩm của thắng lợi Chiến tranh Lạnh của Mỹ, không phải là mục tiêu của chiến lược Chiến tranh Lạnh của Mỹ. Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ chỉ nên chống cộng một cách hạn hẹp vì một chính sách đối ngoại ủng hộ dân chủ sẽ ngăn cản Hoa Kỳ có nhiều đồng minh bên ngoài Tây Âu, nơi hầu hết các nền dân chủ áp đảo trên thế giới có mặt trong Chiến tranh Lạnh.

Biên giới Biểu tượng 

Khía cạnh ý thức hệ quan trọng của Chiến tranh Lạnh đã mang lại cho các cuộc đấu tranh ở một số quốc gia một ý nghĩa quan trọng ngoài ý nghĩa mà họ có thể sở hữu nếu chỉ là đối tượng của sự cạnh tranh giữa các cường quốc. Các khu vực bên ngoài Bắc Đại Tây Dương/Nhật Bản của khối Mỹ thời Chiến tranh Lạnh có tầm quan trọng nhất về mặt biểu tượng ý thức hệ là Hàn Quốc, Đài Loan và Đông Dương. Giống như Đức, những khu vực này được phân chia giữa khối cộng sản và khối Mỹ. Không giống như Tây Đức, vốn là một “cốt lõi” công nghiệp, và giống như Tây Berlin, cả Hàn Quốc, Đài Loan hay Đông Dương đều không có bất kỳ giá trị chiến lược nội tại nào đối với Hoa Kỳ. Thật vậy, vào những năm 1940, chính phủ Hoa Kỳ đã cân nhắc việc hy sinh cả ba khu vực khó phòng thủ này cho liên minh cộng sản. Tuy nhiên, khi Bắc Triều Tiên xâm lược Nam Triều Tiên vào năm 1950, chính quyền Truman đã gửi Hạm đội thứ bảy để ngăn chặn người cộng sản Trung Quốc chiếm lấy Đài Loan, và ném sức nặng của Mỹ vào nỗ lực của Pháp để giứ lại Đông Dương khỏi tay người cộng sản của Hồ Chi Minh được Liên Xô và Trung Quốc bảo trợ. Chiến tranh Triều Tiên kết thúc đã dựng lên “dây bẫy” chia đôi Triều Tiên tại Vĩ tuyến 38. Việc người Pháp rút khỏi Đông Dương dẫn đến một biên giới khác giữa khối cộng sản và khối Thế giới Tự do dọc theo Vĩ tuyến 17, ngăn cách Bắc Việt Nam với Nam Việt Nam, Lào và Campuchia không cộng sản. Tuy nhiên, một sợi dây vô hình thứ ba đã ngăn cách Đài Loan với Trung Quốc đại lục thuộc cộng sản.

Do đó, vị trí của những dây bẫy này là kết quả của một số sự kiện ngẫu nhiên, trong đó quan trọng nhất là chiến thắng của cộng sản Trung Quốc vào năm 1949.

Nếu lịch sử đầu những năm 1940 và đầu những năm 1950 rẽ sang một hướng khác, có thể không có các quốc gia bị chia rẽ ở Đông Á – trong khi có thể có những sợi dây bẫy chạy giữa các khu vực cộng sản và thân phương Tây của một  nước Áo bị chia cắt, một nước Hy Lạp bị chia cắt, hoặc một nước Ý bị chia cắt, hoặc một Nam Tư bị chia cắt. Các cuộc xung đột ủy nhiệm lớn như chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam có thể đã xảy ra giữa các khối đối địch ở các khu vực cách xa Triều Tiên và Việt Nam, và các nhà sử học chống Chiến tranh Lạnh ngày nay có thể viết rằng Hoa Kỳ “đã đánh mất sự ngây thơ” hoặc “đã quá lún sâu”trong “thảm bại của Ý” những năm 1940 hay “thảm kịch Balkan” những năm 1950. Nhưng sự việc đã xảy ra ở Hàn Quốc, Đài Loan và Đông Dương là nơi mà Mao gọi là “ba mặt trận” ở châu Á – ba nơi mà khối cộng sản có biên giới với liên minh chống cộng. Ba khu vực này bị tranh chấp không phải vì bản thân chúng rất quan trọng. Chúng quan trọng vì chúng đã bị tranh chấp. 

Một cuộc chiến tranh ủy nhiệm không thể diễn ra ở Tây Đức hoặc Tây Berlin mà không có rủi ro khiến Hoa Kỳ và Liên Xô tham gia vào một cuộc chiến tranh toàn diện. Bế tắc trên mặt trận chính của Chiến tranh Lạnh, châu Âu, có nghĩa là những thử thách lớn về sức mạnh và ý chí phải diễn ra dọc theo mặt trận thứ hai ở châu Á – đặc biệt là ở các quốc gia châu Á nơi biên giới ẩn dụ giữa cái gọi là thế giới tự do và thế giới cộng sản là một biên giới thực tế. Chính logic này, logic danh tiếng của chính trị quyền lực, kết hợp với logic biểu tượng của chính trị ý thức hệ, chịu trách nhiệm cho hầu hết các cuộc khủng hoảng trong Chiến tranh Lạnh – chứ không phải logic lãnh thổ của địa chính trị kiểu cũ.

Hoa Kỳ đã đi đến bờ vực chiến tranh với Liên Xô về Tây Berlin. Tại sao? Liên Xô đã tham gia vào cuộc không vận lớn nhất kể từ Thế chiến thứ hai để tiếp tế cho quân đội Bắc Việt Nam và cộng sản Lào trong cuộc khủng hoảng Lào đầu những năm 1960. Tại sao? Hoa Kỳ đã đẩy lùi một cuộc xâm lược quy ước vào Hàn Quốc và can thiệp để ngăn chặn cuộc nổi dậy được củng cố bởi một cuộc xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Tại sao? Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ các cuộc chiến do Triều Tiên và Bắc Việt tiến hành, ngăn chặn sự leo thang của Mỹ bằng các lời đe dọa, và thậm chí gửi quân đội của chính họ tham gia chiến đấu. Tại sao? Liên Xô tham chiến ở Afghanistan để ủng hộ chế độ cộng sản ở đó, trong khi Hoa Kỳ và Trung Quốc trang bị vũ khí cho kẻ thù của nó. Tại sao? Hầu hết nếu không muốn nói là tất cả những hành động này chẳng có ý nghĩa gì về mặt khái niệm địa chính trị cổ xưa về “các vùng ảnh hưởng” và “lợi ích sống còn”. Nhưng tất cả các chiến dịch này của cả hai bên đều hoàn toàn có thể hiểu được theo logic chính trị quyền lực của kẻ đấu tay đôi và logic của cuộc chiến tranh ý thức hệ của quân thập tự chinh. Về bản chất, những cuộc đấu tranh này là những trận chiến căng thẳng dọc theo ranh giới biểu tượng  giữa hai khối Chiến tranh Lạnh – một biên giới mang tính biểu tượng chạy qua thành phố Berlin và xuống giữa eo biển Đài Loan và chia đôi lãnh thổ quốc gia của Hàn Quốc và Việt Nam.

Hàn Quốc, Đài Loan và Nam Việt Nam cũng quan trọng đối với đế chế Chiến tranh Lạnh không chính thức của Mỹ như, coi nào, như Puerto Rico, Guam và Hawaii đối với đế quốc hàng hải Mỹ những năm 1898-1941. Cần nhớ rằng sự tham gia của Hoa Kỳ vào Thế chiến thứ hai bắt đầu bằng cuộc tấn công của Nhật Bản vào Hawaii và các lãnh thổ Thái Bình Dương khác của Mỹ – lãnh thổ xa xôi và xa lạ với hầu hết người Mỹ vào năm 1941 cũng như Hàn Quốc vào năm 1950 và Nam Việt Nam vào năm 1965. Mô tả các cuộc chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam, cùng với các cuộc đối đầu ở Đài Loan, như những cuộc tranh giành ảnh hưởng đơn thuần trong Thế giới thứ ba, như vậy là không chính xác và gây lạc hướng. Nam Việt Nam, Hàn Quốc và Đài Loan không chỉ là ba quốc gia đang phát triển trong số hàng tá quốc gia. Họ còn là các quốc gia tiền tuyến trong một cuộc chiến tranh thế giới và họ là nước bảo hộ của Hoa Kỳ.

Mối liên hệ giữa việc Hoa Kỳ bảo vệ Đài Loan và việc Hoa Kỳ bảo vệ Đông Dương đã được Chu Ân Lai của Trung Quốc coi là đương nhiên, người đã nói với các quan chức Việt Nam tại Bắc Kinh vào ngày 16 tháng 5 năm 1965, “Bởi vì [người Mỹ] không muốn rút khỏi Đài Loan, điều đó cũng có nghĩa là họ không muốn rút khỏi miền Nam Việt Nam, nhân dân Đài Loan chưa vùng lên như ở Nam Việt Nam, chúng ta phải tự kiểm điểm những khuyết điểm của mình vì  không lãnh đạo họ đứng lên’.” Giống như Đài Loan, Hàn Quốc liên kết với Nam Việt Nam trong cùng một chuỗi chiến lược. Nhiều nhà phê bình hiện thực của Chiến tranh Việt Nam đã tìm cách phân biệt giữa Triều Tiên, một “lợi ích sống còn” của Hoa Kỳ, và Đông Dương, nơi được cho là chưa bao giờ là một lợi ích sống còn, bất chấp niềm tin đầy “bi kịch” ngược lại của các nhà hoạch định chính sách Mỹ. 

Yếu tố Thời cơ

Thời điểm can thiệp quy mô lớn của Hoa Kỳ vào Đông Dương là một yếu tố khác mà những người theo chủ nghĩa hiện thực Mỹ thuộc hai trường phái đối địch sẽ đánh giá theo những cách khác nhau. Những người theo chủ nghĩa hiện thực tối thiểu đã lập luận rằng mối đe dọa của Liên Xô – được định nghĩa trong phạm vi hẹp là mối đe dọa xâm lược thực sự vào Tây Âu hoặc Nhật Bản – lên đến đỉnh điểm vào cuối những năm 1940, khi Hồng quân vẫn còn hùng mạnh đe dọa một Tây Âu bị đổ nát và một Nhật Bản bại trận. Một khi các nền kinh tế Tây Âu và Nhật Bản đã phục hồi, đằng sau là bức tường lực lượng quân sự Mỹ, mối nguy hiểm đã qua. Theo quan điểm này, vào những năm 1970 – có lẽ thậm chí vào những năm 1960 – chiến lược Chiến tranh Lạnh của Mỹ đã lỗi thời.

Logic của chủ nghĩa hiện thực tối đa dẫn đến một kết luận hoàn toàn khác. Mối nguy hiểm không phải là việc Liên Xô sẽ tràn ngập và chiếm đóng Tây Âu hay Nhật Bản, mà là những người Tây Âu và Nhật Bản, những người phải tự lo cho chính mình, sợ hãi trước sự tăng cường quân sự  và thái độ hiếu chiến của Liên Xô để phải xoa dịu Liên Xô (điều này được gọi là “Phần Lan hóa”, theo cách Phần Lan giành được chủ quyền nội bộ của mình sau năm 1945 bằng cách xoa dịu Liên Xô trong chính sách đối ngoại). Những người theo chủ nghĩa hiện thực tối đa không thấy ấn tượng bằng những người theo chủ nghĩa hiện thực tối thiểu trước sự tăng trưởng sau chiến tranh của các nền kinh tế Tây Âu và Nhật Bản. Bản thân GDP không chuyển thành sức mạnh quân sự. Các xã hội dân sự, theo chủ nghĩa tiêu dùng như Tây Âu và Nhật Bản (và Bắc Mỹ) có thể lựa chọn xoa dịu một đế chế tương đối nghèo nhưng quân phiệt như khối Xô Viết hơn là chuyển chi tiêu từ tiêu dùng sang quốc phòng. Liên minh phương Tây có thể dễ dàng khiến Liên Xô phá sản một thế hệ trước năm 1989; điều này đã không xảy ra vì những hạn chế do áp lực của công luận trong các nền dân chủ tự do. (Các nhà lãnh đạo của khối Xô Viết ít bị hạn chế hơn nhiều bởi ý muốn của  người dân mà họ cai trị.)

Chủ nghĩa hiện thực tối đa cho rằng mối nguy hiểm lớn nhất đối với sự thống trị toàn cầu của Liên Xô không đến vào cuối những năm 1940 mà là vào những năm 1960 và 1970. Vào thời điểm đó, sức mạnh quân sự của Liên Xô là lớn hơn so với Hoa Kỳ, làm tăng nguy cơ các quốc gia yếu kém, bao gồm cả các quốc gia giàu có nhưng yếu ớt về quân sự như Tây Âu và Nhật Bản, có thể bị đe dọa phải theo đường lối trung lập hoặc ngã về phía Moscow.

Nguy cơ nhân nhượng càng gia tăng bởi sự thành công của Liên Xô trong việc thoát ra khỏi vòng ngăn chặn và tài trợ cho các quốc gia bảo hộ mới cũng như các phong trào cách mạng ở Châu Á, Châu Phi, Trung Đông và Châu Mỹ.

Theo quan điểm của những người theo chủ nghĩa hiện thực tối đa, không nên phóng đại ý nghĩa địa chính trị của sự chia rẽ Trung-Xô. Arthur M. Schlesinger, Jr., nêu quan điểm của nhiều nhà phê bình hiện thực tối thiểu về chiến lược Chiến tranh Lạnh của Hoa Kỳ, đã viết rằng các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đã mắc sai lầm trong những năm 1960 khi coi “chủ nghĩa cộng sản là một phong trào thế giới tương đối thống nhất được chỉ đạo từ một trung tâm duy nhất.” Trên thực tế, sau một thời gian chỉ vài năm vào giữa những năm 60 khi Trung Quốc tranh chấp với Liên Xô để giành quyền lãnh đạo khối cộng sản và các phong trào chống phương Tây của Thế giới thứ ba, Moscow đã lấy lại vai trò của mình là người bảo trợ và tài trợ quan trọng duy nhất của các cuộc nổi dậy và chính phủ cộng sản trên khắp thế giới – và thực hiện vai trò đó từ cuối những năm 1960 cho đến cuối những năm 1980. Ngoài Trung Quốc, các chế độ cộng sản đã đoạn tuyệt với Liên Xô, chẳng hạn như Nam Tư và Albania, có trọng lượng không đáng kể trong quy mô của chính trị thế giới.

Nếu phân tích hiện thực tối đa của Chiến tranh Lạnh là đúng, thế thì những năm 1960 là thời điểm thực sự nguy hiểm đối với Hoa Kỳ và đồng minh. Vào giữa những năm 60, Hoa Kỳ đã rút lui trên mọi mặt trận. Khrushchev đã làm bẽ mặt Hoa Kỳ và đe dọa các đồng minh châu Âu của Hoa Kỳ bằng cách phê chuẩn việc xây dựng Bức tường Berlin. Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, mà những người biện hộ cho chính quyền  Kennedy đã giả vờ là một chiến thắng của Hoa Kỳ, đã dẫn đến thất bại cuối cùng của Hoa Kỳ trong việc giữ cho Cuba, quốc gia chiến lược quan trọng nhất ở Caribe, không trở thành một vệ tinh của Liên Xô. Chính sách duy trì tính phi cộng sản của Hoa Kỳ đối với chế độ miền Nam Việt Nam, Lào, và Campuchia – mối liên kết quan trọng trong Vành đai Đông Dương – Đài Loan – Triều Tiên của Mỹ trên mặt trận châu Á trong chiến tranh thế giới thứ ba- đang trên bờ vực phá sản. Theo William Bundy, trợ lý ngoại trưởng phụ trách Đông Nam Á: “Quyết định thỏa hiệp ở Lào khiến cho việc truyền đạt bằng lời nói và hành động rằng Hoa Kỳ sẽ đứng vững ở Nam Việt Nam và phần còn lại của Đông Nam Á là điều cần thiết.” Trong  những trường hợp này, thật hợp lý khi chính quyền Johnson quyết định rằng việc leo thang cam kết của Hoa Kỳ đối với Nam Việt Nam là điều ít tệ hơn trong hai điều xấu, so với việc từ bỏ toàn bộ khu vực cho Trung Quốc hoặc Liên Xô thống trị. Điều đáng chú ý là Anh đã gửi 50.000 quân để bảo vệ những người trông cậy mình ở Malaysia chống lại cuộc nổi dậy của cộng sản do Indonesia tài trợ vào đầu những năm 1960. Liệu Nam Việt Nam, Lào và Campuchia có thực sự chỉ xứng đáng với một cam kết nhỏ hơn của Hoa Kỳ so với giá trị của riêng Malaysia đối với Anh, trong hoàn cảnh của năm 1965?

Sự sụp đổ của Đông Dương năm 1975 đã dẫn đến một thảm họa địa chính trị đối với Hoa Kỳ – một làn sóng cách mạng theo chủ nghĩa Mác-Lê trên toàn thế giới, và sự hợp tác rõ ràng với Liên Xô của các đồng minh và phe trung lập thân Mỹ đang sợ hãi vào giữa những năm 1970. Hậu quả toàn cầu là nghiêm trọng như thế, nhưng chúng có thể đã lớn hơn nhiều nếu Hoa Kỳ từ bỏ Đông Dương mà không đánh nhau vào giữa thập niên 1960, thay vì đánh rồi rút vào đầu thập niên 1970. Năm 1965, Mao đang cố gắng đổi mới cuộc cách mạng cộng sản trong nước và xuất khẩu nó ra khắp Đông Nam Á và thế giới; vào năm 1975, cơn co thắt cách mạng cuối cùng của Mao sẽ diễn ra sau một thập kỷ nữa, và Trung Quốc là đồng minh trên thực tế của Hoa Kỳ chống lại Liên Xô. Ở Đông Nam Á, cuộc đảo chính đẫm máu ở Indonesia đã loại bỏ mọi khả năng xảy ra một cuộc cách mạng cộng sản ở quốc gia lớn nhất trong khu vực, trong khi nỗ lực của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã câu giờ cho các quốc gia không cộng sản trong khu vực  đạt được một mức độ ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng.

Cuối tháng 3 năm 1971, Lê Duẩn nói với Chu Ân Lai, “Chính phủ Thái Lan rất sợ các lực lượng vũ trang của Đảng Cộng sản Thái Lan. Họ biết rằng vũ khí cho các lực lượng vũ trang ĐCSTL được vận chuyển qua Việt Nam và Lào. Họ cũng biết rằng Trung Quốc có một con đường chạy đến biên giới Trung-Lào. Do đó, [Thái Lan] đối mặt với nguy cơ chiến tranh mở rộng khắp Đông Nam Á.” Lê Duẩn nói tiếp: “Chúng tôi muốn đập tan liên minh Mỹ – Nhật cũng như liên minh giữa Mỹ, Nhật và giai cấp tư sản khu vực. Chúng ta phải thành lập một mặt trận thế giới trước tiên do một số nước nòng cốt xây dựng, sau đó mở rộng ra bao gồm các nước châu Phi và châu Mỹ Latinh.” Lê Duẩn đề xuất một “hội nghị nhân dân thế giới” tại Trung Quốc để “cô lập Mỹ hơn nữa, làm suy yếu liên minh Mỹ-Nhật và làm lung lay giai cấp tư sản Đông Nam Á, từ đó góp phần đánh bại chiến lược toàn cầu của Mỹ.” Người ta khó có thể tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra ở Đông Nam Á và những nơi khác trong thế giới đang phát triển, nếu vào năm 1965 những người cộng sản có thái độ này đã lên nắm quyền ở Đông Dương, gây bất ổn các nước láng giềng bằng cách gửi hàng triệu người tị nạn chạy qua các biên giới và tài trợ  cuộc nổi dậy của cộng sản ở Thái Lan, vào thời điểm mà Sukarno ở phía Tây vẫn còn nắm quyền và Mao đang chủ trì Cách mạng Văn hóa. Cuối tháng 5 năm 1970, Mao nói với Lê Duẩn, “Theo tôi, Stalin đã sống lại. Xu hướng chính trên thế giới ngày nay là cách mạng, bao gồm cả thế giới.”

Có thể lập luận rằng thời điểm tốt nhất để “nhượng bộ” Đông Dương cho khối cộng sản là năm 1954, chứ không phải năm 1965. Nhưng một lần nữa, trong bối cảnh tranh giành quyền lực toàn cầu trong Chiến tranh Lạnh, một sự “nhượng bộ” như vậy sẽ không có lợi cho lợi ích của Hoa Kỳ hoặc liên minh chống cộng toàn cầu mà nó lãnh đạo. Sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với Hoa Kỳ, đã mất 56.000 sinh mạng để ngăn chặn khối Trung-Xô sáp nhập toàn bộ bán đảo Triều Tiên, lại cho phép cùng một liên minh kẻ thù chiếm lấy bán đảo Đông Dương đang tranh chấp. Để có một ví dụ tương tự, hãy tưởng tượng Tổng thống George Bush, sau khi đẩy lùi Iraq khỏi Kuwait, đã cho phép Iraq chinh phục một số tiểu vương quốc khác ở Vịnh Ba Tư như một hành động bồi thường.

Ý tưởng cho rằng Hoa Kỳ có thể đơn giản nhượng lại toàn bộ lục địa và tiểu lục địa cho Liên Xô hoặc Trung Cộng và các tay sai của họ mà không tổn thất nghiêm trọng về uy tín tín của mình cho thấy sự thiếu hiểu biết về bản chất của Chiến tranh Lạnh. . Đây không phải là một cuộc  tranh chấp giữa các triều đại châu Âu thế kỷ mười tám, vốn có thể giải quyết những khác biệt của họ một cách thân thiện bằng cách phân chia các quốc gia và trao đổi lãnh thổ. Đây là một cuộc chiến tranh thế giới, một cuộc chiến tranh bá quyền, trong đó quyền cai trị tương lai của hệ thống quốc tế đang bị đe dọa, và trong đó các cường quốc chống lại Hoa Kỳ và các đồng minh của Hoa Kỳ là những kẻ về mặt đạo đức tương đương với Đức Quốc xã.

Ngay cả khi không có tranh chấp bá quyền, các cường quốc quân sự thường miễn cưỡng nhường lãnh thổ cho kẻ thù của họ. Nguy cơ của việc một cường quốc hoặc một khối tự nguyện nhượng lại lãnh thổ cho một cường quốc hoặc một khối khác sẽ bị hiểu, không phải là bằng chứng của sự thận trọng, mà là bằng chứng của sự yếu kém quân sự hoặc thiếu quyết tâm chính trị, là điều rất thực tế. Ralph Hawtrey nhận xét:

Uy tín không hoàn toàn là vấn đề tính toán mà một phần là do suy luận gián tiếp. Trong một cuộc xung đột ngoại giao, quốc gia nhượng bộ có thể sẽ bị ảnh hưởng về mặt uy tín vì phần còn lại của thế giới coi việc nhượng bộ là bằng chứng của sự yếu kém có ý thức. Các thành phần hữu hình của quyền lực không nói lên toàn bộ câu chuyện và không ai có thể đánh giá về các thành phần vô hình tốt hơn chính quyền cai trị chính đất nước đó. Nếu họ tỏ ra thiếu tự tin, mọi người sẽ suy luận rằng có một nguồn lực yếu kém  nào đó bị che giấu

Hawtrey kết luận:

Do đó, sự suy giảm uy tín là một chấn thương đáng sợ. Nhưng cuối cùng, uy tín có nghĩa là danh tiếng về sức mạnh trong chiến tranh, và những nghi ngờ về chủ đề này chỉ có thể được giải quyết bằng chính chiến tranh.

Tin rằng Hàn Quốc là một lợi ích sống còn và Đông Dương một lợi ích bên lề có thể giúp người Mỹ cảm thấy tốt hơn về  thắng lợi của Mỹ ở Triều Tiên và thất bại ở Đông Dương. Tuy nhiên, nó vẫn chỉ là một cách lý giải một sự kiện đã rồi. Từ tài liệu lịch sử, rõ ràng là Hoa Kỳ đã tham chiến ở Triều Tiên vì cùng một lý do mà sau đó họ đã tham chiến ở Đông Dương: để duy trì uy tín ngoại giao và quân sự của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Lạnh toàn cầu.

Vào ngày 29 tháng 4 năm 1947, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân tuyên bố rằng lý do chính khiến Hoa Kỳ can dự vào Triều Tiên là thực tế rằng “đây là quốc gia duy nhất mà chúng ta đã tiến hành chiến tranh ý thức hệ trong gần hai năm khi tiếp xúc trực tiếp với các đối thủ của chúng ta, vì vậy để thua trận này sẽ gây bất lợi nghiêm trọng cho uy tín của Hoa Kỳ, và do đó an ninh thế giới.” Trong hồi ký của mình, Harry Truman ghi nhận thỏa thuận của ông với giới quân sự rằng bán đảo Triều Tiên có rất ít hoặc không có giá trị quân sự nội tại đối với Hoa Kỳ. Truman giải thích cuộc xâm lược Triều Tiên do Liên Xô tài trợ là “sự lặp lại một quy mô lớn hơn của những gì đã xảy ra ở Berlin. Quỷ đỏ đang thăm dò những điểm yếu trong thiết giáp của chúng ta.” (Điều đáng ngạc nhiên là cả hai cuộc chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam đều diễn ra sau các cuộc đối đầu giữa Liên Xô và Mỹ về Berlin bị chia cắt.) Nhà khoa học chính trị và nhà sử học Robert A. Pape thẳng thắn nói rằng sự can thiệp của Hoa Kỳ vào chiến tranh Triều Tiên “được thúc đẩy bởi tiếng tăm hơn là các mối quan tâm chiến lược.” Mặc dù hoàn cảnh của Chiến tranh Lạnh đã phóng đại tầm quan trọng của việc thể hiện uy tín của Hoa Kỳ trong các cuộc khủng hoảng liên quan đến Berlin, Hàn Quốc, Đài Loan, Cuba và Nam Việt Nam, nhưng nhu cầu chứng minh uy tín của Hoa Kỳ đã không kết thúc sau khi lực lượng thách thức vị thế bá quyền toàn cầu của Mỹ là Liên Xô đã sụp đổ. Chiến tranh vùng Vịnh được biện minh không chỉ bởi nhu cầu tiếp cận không hạn chế tới dầu mỏ ở vùng Vịnh Ba Tư hay nguy cơ Iraq sẽ phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt, mà còn bởi nhu cầu của Hoa Kỳ muốn chứng minh cho các đồng minh và đồng minh của mình ở châu Âu và Đông Á rằng họ có thể và sẵn sàng lâm chiến để bảo vệ nguồn tài nguyên quan trọng mà các quốc gia công nghiệp phụ thuộc vào.

Uy tín thậm chí còn quan trọng hơn khi là một yếu tố dẫn đến quyết định của Hoa Kỳ tham chiến cùng với các đồng minh NATO chống lại Nam Tư vào mùa xuân năm 1999. Nhà bình luận George Will nhận xét rằng “NATO tham chiến để bảo vệ hai thứ – người Kosovo và uy tín của chính mình.” Ngoài lập luận rằng sự can thiệp của NATO là cần thiết để trừng phạt, nếu không muốn nói là ngăn chặn, hành động tàn bạo của Serbia ở Kosovo, chính quyền Clinton tuyên bố rằng Hoa Kỳ và NATO không thể để mất mặt bằng cách lùi bước trong cuộc đối đầu với chế độ Slobodan Milosevic. Ngoại trưởng Madeleine K. Albright nói với Ủy ban Đối ngoại Thượng viện rằng “Các hành động của Belgrade cấu thành một phép thử quan trọng đối với NATO, tổ chức mà sức mạnh và uy tín của nó đã bảo vệ tự do và đảm bảo an ninh của chúng ta trong 5 thập niên.” Điều trần trước Hạ viện của một tiểu ban vào ngày 21 tháng 4, năm 1999, Bộ trưởng Quốc phòng William Cohen tuyên bố, “Chà, tôi… không phải là loại Bộ trưởng [Quốc phòng] bỏ đi tầm quan trọng của lời hứa của chúng ta. Bạn đã đặt câu hỏi, lời hứa của chúng ta có giá trị gì? Rất nhiều. Đến mức độ mà nếu Hoa Kỳ không làm theo lời hứa của mình, thì tôi nghĩ rằng điều đó sẽ gửi đi một tín hiệu mời gọi nhiều rắc rối hơn.”

Một số thành viên của Quốc hội và cựu quan chức chính phủ Hoa Kỳ, một số người trong số họ chỉ trích chiến thuật của NATO trong chiến tranh, đã đồng ý về tầm quan trọng của việc duy trì uy tín quân sự. Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman của Connecticut lập luận rằng việc đánh bại Serbia là “quan trọng đối với an ninh của chúng ta và đối với uy tín của NATO.” Theo cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Zbigniew Brzezinski, “Không quá lời khi nói rằng thất bại của NATO đồng nghĩa với sự kết thúc của NATO. như một liên minh đáng tin cậy và sự phá hoại vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ.” Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger đồng ý rằng “NATO không thể tồn tại” nếu rút lui khỏi cuộc đối đầu với Milosevic. Theo Kissinger, việc sử dụng bộ binh NATO “sẽ phải được cân nhắc để duy trì uy tín của NATO.” Thượng nghị sĩ John McCain của Arizona thì tuyên bố:

Đối với tôi, bề ngoài thì có vẻ hiển nhiên là sau khi hai đời tổng thống Mỹ khác nhau cảnh báo Milosevic rằng Hoa Kỳ sẽ không dung thứ cho sự xâm lược của người Serb đối với Kosovo, và sau khi Tổng thống Clinton hai lần đưa ra tối hậu thư yêu cầu Milosevic đi đến các điều khoản, rằng việc không làm tốt những mối đe dọa đó sẽ tàn phá uy tín của chúng ta mọi nơi. Và điều đó tôi không muốn nói là uy tín của Tổng thống Clinton hay uy tín của Bộ trưởng Albright hay của bất kỳ cá nhân nào khác. Ý tôi là uy tín của chúng ta – uy tín  của nước Mỹ.

McCain, cựu phi công Hải quân Hoa Kỳ và là tù binh trong Chiến tranh Việt Nam, đã cung cấp một bản tóm tắt ngắn gọn và hùng hồn về logic của uy tín quân sự trong các vấn đề quốc tế:

Bạn bè cũng như kẻ thù đều coi khoảng cách giữa lời nói hùng biện và hành động của một cường quốc là điểm yếu. Tất nhiên, kẻ thù của chúng ta sẽ sớm kiểm tra quyết tâm của chúng ta bằng những cách  khác nhau để xác định xem chúng có thể khai thác sự yếu kém của chúng ta đến mức nào. Bạn bè của chúng ta sẽ tìm kiếm sự sắp xếp mới để bù đắp cho những gì họ cho là không đáng tin cậy của chúng ta.  Do đó, cho dù chúng ta có lợi ích chiến lược ở Balkan hay không thì chúng ta cũng có được lợi ích đó vào thời điểm chúng ta đe dọa dùng vũ lực. Sự tín nhiệm là một tài sản chiến lược ở mức cao nhất, và rất đáng để duy trì.

Nhìn lại, chiến lược dây bẫy trong Chiến tranh Lạnh của Mỹ đối với ba mặt trận ở châu Á là các phần của một mảnh ghép. Một khi dây bẫy đã được các chính quyền Truman và Eisenhower đặt xuống, các mệnh lệnh của chiến lược ngăn chặn toàn cầu hợp lý và cuối cùng đã được bào chữa trong Chiến tranh Lạnh của Hoa Kỳ đòi hỏi Hoa Kỳ phải tiến hành các cuộc chiến tranh hạn chế nhằm ngăn chặn Đài Loan, Hàn Quốc, và Nam Việt Nam, cùng với Lào và Campuchia, khỏi bị sáp nhập vào khối cộng sản bằng xâm lược hoặc lật đổ. Điều đáng ngạc nhiên duy nhất về Chiến tranh Lạnh ở châu Á là thực tế nó đã kết thúc mà không có cuộc chiến tranh nào của Mỹ đối với Đài Loan ngoài các cuộc chiến tranh của Mỹ đối với Hàn Quốc và Nam Việt Nam.

Bình luận về bài viết này