Nam Việt, Việt Nam

Hồ Bạch Thảo

Một số nhà nghiên cứu sử nước ta coi Triệu Đà Vua nước Nam Việt là người ngoại quốc và đòi hỏi Vua nước Việt phải là người Việt. Xét về lý lịch, Triệu Đà tương tự như George Washington, Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ. Cố nội của Washington là người Anh di cư sang Mỹ năm 1656, bản thân Washington cũng đã từng làm việc cho nhà cầm quyền Anh; nhưng cuối cùng thoát Anh, dành độc lập cho Mỹ. Triệu Đà tuy quê quán tại Chân Định, Trung Quốc, nhưng đã tạo dựng một nước Nam Việt độc lập, mà nước Việt Nam cũ là một thành viên. Hán Thư (1) chép về trường hợp dựng nước của Triệu Đà như sau:

“…Nhà Tần thôn tính thiên hạ, xâm lược bình định đất Dương Việt đặt ra Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận; dời dân đến sống chung đã được 13 năm. Đến đời Nhị Thế, Nam Hải uý Nhâm Ngao cai trị đất này bệnh sắp chết, triệu Long Xuyên lệnh Triệu Đà đến bảo rằng:

 “Nghe tin bọn Trần Thắng nỗi loạn, hào kiệt phản Tần dấy lên, đất Nam Việt xa xôi, sợ giặc cướp đến nơi này. Ta định mang quân ngăn những con đường mới lập, tự phòng bị, chờ cho chư hầu biến, nhưng bị đau nặng. Vả lại đất Phiên Ngung dựa vào núi hiểm trở, từ nam chí bắc, đông sang tây đến mấy ngàn dặm; lại có dân Trung Quốc phụ giúp; là nơi làm chủ một châu, có thể xây dựng nước. Trưởng lại trong quận không ai đủ khả năng để mưu việc này, nên ta gọi ông đến báo cho biết.”

Bèn làm giấy tờ cho Đà, giữ chức Nam Hải uý. Ngao mất, Đà gửi hịch đến các quan ải Hoành Phố [Thiều Quan thị, Shaoguan, Quảng Đông], Dương Sơn [huyện Dương Sơn, Yangshan, tỉnh Quảng Đông], Hoàng Khê [huyện Lan Sơn, Lanshan, tại biên giới Hồ Nam, Quảng Đông]  rằng:

 “Giặc cướp sắp tới, gấp chẹn đường, tụ tập quân lính tự thủ.”

Nhân dùng pháp luật giết những quan lại do nhà Tần đặt ra, đem người tay chân lo việc cai trị…”

Như vậy nếu lịch sử công nhận George Washington là Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ; ắt phải công nhận Triệu Đà là Vua đầu tiên

 nước Nam Viêt.

Xét lịch sử Việt Nam, các lãnh tụ như Hồ Quí Ly, Nguyễn Huệ đều thuộc họ Hồ; ngay cả Hồ Chí Minh, nhiều nhà nghiên cứu đáng tin cậy cũng cho là gốc họ Hồ. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép họ Hồ tại nước Đại Việt khởi đầu bởi cụ Hồ Hưng Dật người tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc; sang làm quan dưới thời Ngũ Đại, rồi định cư tại nước ta. Gia phả họ Hồ lại ghi “Đại Nam nhất Hồ”; nghĩa là người họ Hồ nước Đại Nam chỉ có một  thủy tổ là cụ Hồ Hưng Dật mà thôi. Như vậy ba lãnh tụ nêu trên đều có nguồn gốc xa từ Trung Quốc, nhưng lịch sử nước ta không dị nghị điều đó; vậy cớ sao lại đòi hỏi Triệu Đà phải là người gốc Việt?

Sử liệu trong Hán Thư nêu trên chép “Nhân dùng pháp luật giết những quan lại do nhà Tần đặt ra, đem người tay chân lo việc cai trị…”. Sử Ký, Tư Mã Thiên (2) cũng ghi việc Triệu Đà đón tiếp sứ giả nhà Hán là Lục Giả như sau:

“…Lục Giả đến, Uý Đà búi tóc, ngồi xổm tiếp Lục Giả. Nhân cơ hội, Lục Giả đem lời thuyết phục:

 “Túc hạ là người Trung Quốc, bà con anh em đều ở tại Chân Định. Nay túc hạ bỏ tính trời, dẹp khăn đầu dải áo, muốn đem nước Việt nhỏ nhoi tranh hoành cùng Thiên tử, hoạ sẽ đến thân mà thôi….”

Gộp hai nguồn,  Triệu Đà giết quan lại nhà Tần, từ bỏ y phục Trung Quốc; chứng tỏ muốn thoát Trung, nhắm xây dựng nước Nam Việt độc lập.

Việc Triệu Đà và các Vua họ Triệu kế tiếp, triều cống Trung Quốc, chỉ là cách giao thiệp khôn khéo của nước nhỏ thời xưa đối với nước lớn; mong tránh nạn chiến tranh, để đất nước sống trong cảnh hóa bình. Ngay tại nước ta thời tự chủ, từ Khúc Tiên Chúa Thừa Dụ cho đến triều Nguyễn; ngoại trừ nhà Ngô ngắn ngủi không thấy ghi, tất cả các đời Vua còn lại đều sai sứ triều cống Trung Quốc.

Tình hình nước Nam Việt sau khi Hán Vũ Đế sai quân tấn cống, tướng Lữ Gia bị giết, nhà  Triệu trên đà sụp đổ; lúc bấy giờ viên Giám Quế  Lâm [Guilin, Quảng Tây] của Nam Việt dụ Âu Lạc nội thuộc Hán, nên được phong hầu:

Mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ 6 [-111 BC], Tướng quân lâu thuyền mang tinh binh đánh chiếm Tầm Hiệp [từ Anh Đức, Yingde, Quảng Đông tới Thanh Viễn, Quingyuan, Quảng Đông] , phá Thạch Môn [bắc Quảng Châu] , lấy được thuyền chở gạo của quân Việt. Nhân tiến đánh, bẻ gãy quân tiên phong Việt, cùng mấy vạn quân đợi Phục Ba. Phục Ba tướng quân mang cả tội nhân, vì đường xa nên đi sau; khi gặp lâu thuyền quân số chỉ hơn 1.000, rồi cùng tiến. Cánh quân lâu thuyền tiến trước đến Phiên Ngung [Quảng Châu]; Kiến Đức và Lữ Gia phòng thủ trong thành. Lâu thuyền chọn chỗ tiện nghi, đóng tại phía đông nam, Phục Ba đóng tại phía tây bắc. Vào lúc chiều tối, lâu thuyền đánh bại quân Việt, phóng lửa đốt thành. Quân Việt vốn biết tiếng Phục Ba, nhưng gặp trời chiều tối không biết quân nhiều hay ít; Phục Ba cho đóng trại, rồi sai sứ giả chiêu hàng, hứa ban ấn. Lâu thuyền ra sức đánh, quân bại trận bèn chạy ngược sang doanh Phục Ba; đến mờ sáng thì quân trong thành đều hàng Phục Ba. Lữ Gia và Kiến Đức nhân ban đêm, cùng vài trăm thuộc hạ chạy ra biển. Phục Ba hỏi những người xin hàng, biết được nơi Lữ Gia đến, bèn sai người truy kích; nguyên Hiệu uý tư mã Tô Hoằng bắt được Kiến Đức được phong Hải thường hầu; Việt lang Đô Kê bắt Gia, được phong Lâm Thái hầu.

Thương Ngô vương là Triệu Quang cùng họ với vương Nam Việt, nghe tin quân Hán tới bèn xin hàng, được phong Tuỳ Đào hầu; viên lệnh Yết Dương [Jieyang, Quảng Đông]  của Nam Việt là Định cũng hàng Hán, được phong An Đạo hầu. Viên giám Quế Lâm [Guilin, Quảng Tây] của Nam Việt  dụ hơn 40 vạn Âu Lạc hàng Hán, được phong Tương Thành hầu.” (3)

Sử liệu này cho biết dưới thời nước Nam Việt tồn tại; Âu Lạc, vốn dĩ là chính quyền kế tục sự nghiệp nước Văn Lang của các vua Hùng, trở thành một thành viên, hay một bang trong cộng đồng Nam Việt, có quan lại dưới quyền, lực lượng trên 40 vạn người. Lại cho biết thêm sau khi quân của Hán Vũ Đế tấn công Nam Việt, Âu Lạc vẫn kiên cường chiến đấu đến cùng; rốt cuộc không phải vì thua trận, mà do viên Giám Quế Lâm của Nam Việt  đã đầu hàng trước đó khuyên bảo nên hàng. Điều này chứng tỏ dân Âu Lạc thời đó coi nước Nam Việt là nước mình, trung thành với nhà Triệu; như vậy có đủ bằng chứng coi nước Nam Việt là tiền thân của nước Việt Nam.

Căn cứ Hán Thư quyển thứ 28, mục Địa Lý Chí, lãnh thổ nước Nam Việt như sau:

粵地,牽牛、婺女之分野也。今之蒼梧、鬱林、合浦、交阯、九真、南海、日南,皆粵分也。Việt địa, Khiên Ngưu, Vụ Nữ phân dã dã . Kim chi Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam Hải,  Nhật Nam giai Việt phân dã.”

Dịch:

Đất Việt xưa phân dã bởi sao Khiên Ngưu, Vụ Nữ; nay là Thương Ngô [huyện Ngô Châu,  Quảng Tây], Uất Lâm [ Quế Lâm thị, Quảng Tây], Hợp Phố [Bắc Hải thị, Beihai, Quảng Tây], Nam Hải [Quảng Đông], Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.

Theo tư liệu nêu trên có thể hiểu rằng Âu Lạc tức 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam nằm tại phía nam các huyện Ngô Châu, và  Bắc Hải thị tỉnh Quảng Tây. Cũng tại mục Địa Lý Chí quyển thứ 28, Hán Thư ghi chi tiết 3 quận như sau:

-Quận Giao Chỉ gồm 10 huyện: Liên Lâu, An Định, Câu Lậu, Mê Linh, Khúc Dương, Bắc Đái, Kê Từ, Tây Vu, Long Biên, Chu Diên.

-Quận Cửu Chân gồm 7 huyện:Tư Phố, Cư Phong, Đô Lung, Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết, vô Biên.

-Quận Nhật Nam gồm  5 huyện: Chu Ngô, Tỷ Ảnh, Lô Dung, Tây Quyển, Tượng Lâm.

Học giả Đào Duy Anh trong Đất nước Việt Nam qua các đời (4) chiếu theo Hán Thư rồi nghiên cứu thêm, đã vẽ bản đồ 3 quận với nội dung: Lãnh thổ Giao Chỉ từ phía nam tỉnh Quảng Tây cho đến tỉnh Ninh Bình; Cửu Chân từ Thanh Hóa đến dải Hoành Sơn giáp giới tỉnh Quảng Bình; Nhật Nam từ phía nam Hoành Sơn đến tỉnh Quảng Nam.

Sau đây là bản đồ Đào Duy Anh:                                           

Vào năm 1803 Vua Gia Long muốn phục hồi tên nước cũ  Nam Việt, bèn sai sứ sang nhà Thanh xin phong. Vua Gia Khánh cực lực phản đối; lại sợ nước ta đòi lại hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của nước Nam Việt xưa, bèn cấp tốc ra lệnh phải lưu tâm phòng bị vùng biển cùng biên giới:

Ngày 20 tháng Chạp năm Gia Khánh thứ 7 [13/1/1803]. Dụ các Quân Cơ Đại Thần:

Hôm qua Tuần phủ Quảng Tây Tôn Ngọc Đình tấu dâng biểu văn thỉnh phong của Nguyễn Phúc Ánh, Trẫm đã duyệt đọc kỹ; việc xin phong tên nước hai chữ “Nam Việt” không thể chấp nhận được. Địa danh “Nam Việt” bao hàm rất lớn, khảo sử xưa hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây đều nằm ở trong đó. Nguyễn Phúc Ánh là tiểu Di nơi biên giới, tuy hiện nay có được toàn đất An Nam, bất quá lãnh thổ bằng đất Giao Chỉ xưa là cùng, làm sao lại được xưng là “Nam Việt”. Biết đâu đây không phải là ý muốn khoe khoang tự thị của ngoại Di, xin thay đổi quốc hiệu, để thử bụng [thiên triều] trước, đương nhiên đáng bác đi. Đã ra lệnh cho Quân Cơ Đại thần soạn thay một tờ hịch dụ, cùng mang nguyên biểu giao cho Tôn Ngọc Đình trả lại; để xem sau khi nhận được chúng sẽ bẩm báo phúc đáp ra sao, rồi đợi chiếu chỉ mà liệu biện. Ngoài ra Nguyễn Phúc Ánh cầu phong quốc hiệu “Nam Việt”, rõ ràng tự thị võ công muốn đòi xin thêm đất. Sợ bọn chúng âm mưu bất trắc, nên lệnh truyền các quan địa phương tại hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây lưu tâm phòng bị vùng biển cùng biên giới, quan ải; không được trể nãi lơ là. Nay truyền dụ các nơi để hay biết.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 106, trang 428)

Sau đó muốn mọi việc êm xuôi để nhận sắc phong;  Vua Gia Long khéo léo giải thích rằng trước kia có đất Việt Thường, nay lấy thêm đất An Nam của Tây Sơn bèn dùng tên cũ Nam Việt. Vua Gia Khánh cũng thể theo ý đó cho dùng hai chữ “Việt Nam”; lấy chữ “Việt” để đằng trước tượng trưng cương vực thời xưa; dùng chữ “Nam” để đằng sau, biểu tượng vùng đất mới chiếm được:

Ngày 6 tháng 4 năm Gia Khánh thứ 8 [26/5/1803]. Dụ các Quân Cơ Đại thần:

Tôn Ngọc Đình dâng tấu triệp xin chiếu chỉ để tuân hành về việc tờ bẩm phúc đáp của Nguyễn Phúc Ánh. Trẫm đã đọc kỹ, Nguyễn Phúc Ánh cho rằng lời dụ lần trước là ý kiến riêng của Tôn Ngọc Đình, biểu văn của y chưa tấu lên trên để được nghe quyết định [của Hoàng đế], nên lần này vẫn thỉnh phong quốc hiệu Nam Việt và khẩn xin tấu thay. Trẫm duyệt biểu văn, lời và ý rất mềm dẻo, hết sức cung thuận. Xưng rằng nước y trước kia có đất Việt Thường, nay lấy thêm đất An Nam [của Tây Sơn]; không dám quên gốc đã giữ đời nối đời, bèn dùng tên cũ Nam Việt, đấy là tình thực. Tôn Ngọc Đình hãy truyền hịch cho viên Quốc trưởng rằng:

“Lần trước đến xin thỉnh phong quốc hiệu, danh nghĩa chưa hợp, nên không dám mạo muội tấu đầy đủ. Nay nhận được biểu phúc đáp, tường thuật đầu đuôi việc dựng nước, xin được phong tên mới, đã thể theo thực tình tâu lên đại Hoàng đế. Nay nhận được chỉ dụ rằng:

“Viên Quốc trưởng có lòng thành, lần trước cung kính giao nạp sắc ấn trước đây ban cho [An Nam] bị Nguyễn Quang Toản bỏ lại, cùng trói giải bọn giặc cướp ngoài biển; lại cung kính thỉnh mệnh, nên được soi xét kỹ tấm lòng thành. Việc cầu phong và dâng biểu cống; đặc dụ chấp thuận. Đến việc xin đặt tên nước là Nam Việt, thì nước này trước đây có đất cũ Việt Thường, sau lại được toàn lãnh thổ An Nam; vậy Thiên triều phong quốc hiệu cho dùng hai chữ “Việt Nam”; lấy chữ “Việt” để đằng trước tượng trưng cương vực thời xưa; dùng chữ “Nam” để đằng sau, biểu tượng đất mới được phong. Lại còn có nghĩa là phía nam của Bách Việt; không lẫn lộn với tên nước cũ “Nam Việt”. Một khi tên nước đã chính, nghĩa của chữ cũng tốt lành; vĩnh viễn thừa hưởng ân trạch của Thiên triều. Hiện đã ra lệnh Bồi thần đến kinh khuyết xin thỉnh phong, sắc ấn ban cho sẽ lấy hai chữ đó làm tên. Nước ngươi được ban tên đẹp, xếp vào nước ngoại phiên thần phục, càng đầy đủ sự vinh hiển.”Nhân Tông Thực Lục quyển 111, trang 480 481)

Cuối cùng Vua Gia Long chấp thuận quốc hiệu là Việt Nam.


Chú thích:

1.Hán Thư, Ban Cố, quyển 95, …Nam Việt vương Triệu Đà…

2.Sử Ký, Tư Mã Thiên, quyển 95, …Lục Giả.

  1. Hán Thư, sdd, quyễn 95…. Nam Việt Vương Triệu Đà.

4.Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh, NXB Thuận Hóa, 1994, trang 72.

 

 

Bình luận về bài viết này