
Hồ Bạch Thảo
Qua bài nghiên cứu kỳ trước, xác nhận Giả vương Quang Trung là Phạm Công Trị sẽ đến chiêm bái Vua Càn Long. Xét về chuyến đi của Giả vương hai bên đều có lợi: Phía Tây Sơn sau khi chiến thắng quân Thanh, có thể nhờ đó dập tắt hấn khích, không phải lo nước lớn trả thù. Về phía Vua Càn Long, giả hay thực không quan trọng, chỉ cần một người nhân danh Quang Trung đến qui phụ; để Càn Long từ kẻ bại trận thành người chiến thắng rồi trắng trợn ghi thành tích “Càn Long ngũ thập tứ niên An Nam chi dịch” [乾隆五十四年安南之役(1789年]; chiến dịch tại An Nam vào năm Càn Long thứ 54] trong Thập Toàn Vũ Công [十全武功]và tự xưng là Thập Toàn Lão Nhân [十全老人]. Bởi vậy hai bên thông đồng, nhất trí ngậm miệng đóng kịch cho mọi việc êm xuôi.
Theo lịch trình phía An Nam cho biết ngày khởi hành, và ngày đến quan ải; những nhân vật quan trong tháp tùng, như con trai Vua Quang Trung Nguyễn Văn Thùy và Bồi thần Ngô Văn Sở. Vua Càn Long nhận được tin hứa phong Nguyễn Quang Thùy làm Thế tử và gửi tặng những đồ vua dùng để tỏ lòng sủng ái:
“Ngày 23 tháng 4 năm Càn Long thứ 55 [5/6/1790]. Sắc dụ Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình: Theo lời Hiệp Biện Đại Học sĩ Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An tâu rằng Quốc vương khởi hành vào ngày 29 tháng 3 [12/5/1790], đến ngày 15 tháng 4 [28/5/1790] đến quan ải; mang con trai Nguyễn Quang Thùy, Bồi thần là bọn Ngô Văn Sở cùng đến chiêm cận, lại tiến trình biểu tạ ơn. Trẫm xem biểu văn, lời lẽ ân cần, kính yêu chân thành, mở ra xem xong tâm tắc khen chuộng! Đặc cách phê đáp ngay trong biểu văn:
‘Quốc vương nhận được tước phong, hưởng ân sủng đầy đủ; nhân tháng 8 năm nay Trẫm mừng thọ 80 tuổi, bèn đem con trai và bọn Bồi thần vượt qua vạn dặm đến chúc mừng. Trong biểu văn lại coi Trẫm như thầy, như cha; mong đợi sự thành toàn. Xét bụng dạ chân thành của Vương như tình cha con trong nhà; Vương đã coi Trẫm như cha, Trẫm lẽ nào không coi Vương như con. Con trai Vương vừa đến tuổi để trái đào (1), lòng mong muốn đến kinh khuyết chiêm cận, chứng tỏ được giáo dục đúng đắn, vun bồi tận gốc; riêng phong cho con Vương Nguyễn Quang Thùy là Thế tử; khi nào làm lễ chiêm cận sẽ được ban sắc thư cùng mũ áo.
Nay ban trước cho Vương đồ Ngự dụng gồm 1 đôi hà bao lớn, 3 đôi hà bao nhỏ, 6 hộp hương khí; ban cho con trai Vương đồ Ngự dụng 1 đôi hà bao lớn, 2 đôi hà bao nhỏ, 4 hộp hương khí để đặc biệt chứng tỏ lòng sủng ái. Giờ này Quốc vương đang trên đường, ngày gặp gỡ không xa; chiếu chỉ khuyên gắng sức, để phụng thừa ân sủng. Khâm tai! Chỉ dụ đặc biệt.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1353, trang 29-30)
Giả vương sai Nguyễn Quang Thùy và bầy tôi đến quan ải vào ngày13 tháng 4 [26/5/1790], sau đó Tổng đốc Phúc Khang An lấy cớ Thùy bị bệnh cho trở về nước; Vua Càn Long bèn phong cho Thùy làm Thế tử:
“Ngày 2 tháng 5 năm Càn Long thứ 55 [14/6/1790]. Dụ Quân Cơ Đại thần: Bọn Phúc Khang An tâu rằng:
‘Nguyễn Quang Bình đến Lạng Sơn, đem con và bầy tôi đến quan ải vào ngày 13 [26/5/1790] . Phúc Khang An lập tức đem chỉ dụ ra hiểu thị; Nguyễn Quang Bình khấu đầu tạ ơn, xưng rằng được thưởng đai vàng, hiểu được ơn Thiên tử rất nặng, lại cho làm lễ bảo kiến (2), càng thấy được sự ưu đãi to lớn đặc biệt hơn, nên không dám nhận ơn này, sẽ dâng biểu tạ từ. Con y là Nguyễn Quang Thùy bị nhuốm bệnh dọc đường, bọn Phúc Khang An cho về nước để điều trị và sai người hộ tống ra khỏi quan ải, lại gửi biểu tạ ơn và khánh chúc của Nguyễn Quang Bình tiến trình.v.v..”
Mọi việc liệu biện tốt! Trẫm xem những biểu văn của viên Quốc vương tiến trình, lời thành khẩn tha thiết, đặc cách dùng bút son phê rõ ràng. Còn con y Nguyễn Quang Thùy vướng chút bệnh nhỏ, viên Quốc vương xin cho trở về điều trị, nên chấp thuận lời xin. Nay đặc thưởng Nguyễn Quang Thùy một viên ngọc Như Ý, Phúc Khang An hãy gặp mặt viên Quốc vương trao tận tay cùng biểu văn được châu phê, để kính cẩn lãnh nhận. Lại nói thêm cho viên Quốc vương biết rằng, con trai Vương vừa tuổi để trái đào [thiếu niên], thông minh chí thành, thiết tha muốn chiêm cận Thiên tử, Đại Hoàng đế gia ân ngoại lệ phong chức Thế tử (3). Nay tuy vướng chút bệnh nhỏ phải trở về nước; tuy chưa thể cùng đến chiêm cận, nhưng biểu hiện lòng trung ái tôn thờ, Đại Hoàng đế khen lao vô cùng và đặc cách ban cho Thế tử một viên ngọc Như Ý, để làm điềm tốt cho sự an lành may mắn, tức bệnh sẽ thuyên giảm. Còn việc Quốc vương từ tạ hành lễ bảo kiến lúc thỉnh an, biểu văn khiêm cẩn, Đại Hoàng đế xem đến thấy được tấm lòng thành. Quốc vương nên tuân theo lời dụ ban ơn, không nên từ tạ nữa.
Hãy cáo tri một cách rõ ràng như vậy, khiến cõi lòng viên Quốc vương càng thêm hoan hân việc triều cận. Lại thưởng Phúc Khang An, Nguyễn Quang Bình bản khắc bài tựa Thạch Cổ Thi trong tập thơ Ngự Chế. Hãy phát cho mỗi người một bản, để cung kính lãnh nhận.”(Cao Tông Thực Lục quyển 1354, trang 2-3)
Ngày 15 tháng 4 năm Càn Long thứ 55 [28/5/1790], phái đoàn vua Quang Trung giả gồm 60 người, vượt ải Nam Quan vào đất Trung Quốc. Về sự kiện này, danh sĩ Phan Huy Ích từng tham dự phái đoàn, nhân cuộc hành trình soạn tập thơ nhan đề Tinh Tra Kỷ Hành [星槎紀行]; hai chữ “tinh tra” có nghĩa là thuyền bè; vậy đây là tập thơ ghi chép cuộc hành trình phần lớn bằng đường thủy. Qua bài Xuất Quan Phan Huy Ích chú thích như sau “Giờ Tỵ ngày 15 tháng 4 mở cửa ải, phụng mệnh đến làm lễ ở đài Chiêu Đức [tỉnh Lạng Sơn], tức vào quan ải vào khoảng 9 giờ sáng ngày 28/5/1790. Từ ải nam quan dùng đường bộ hơn 20 cây số đến sông Minh Giang, thuộc châu Ninh Minh. Tại đây phái đoàn bắt đầu xuống thuyền, Thanh Thực Lục xác nhận khởi hành bằng đường thủy, tại sông Minh Giang [Mingjiang]:
“Ngày 10 tháng 6 năm Càn Long thứ 55 [21/7/1790]….Theo lời tâu thì phái đoàn Nguyễn Quang Bình từ châu Ninh Minh tỉnh Quảng Tây đáp thuyền đi; cấp cho gạo thịt, các vật dụng v.v..lệnh cho họ tự nấu lấy…” (Cao Tông Thực Lục quyển 1356, trang 21-24)
Thuyền xuôi dòng sông Minh Giang, rồi nhập vào sông Tả giang [zuojiang]; đến gần Nam Ninh tỉnh Quảng Tây, sông Tả Giang hợp với sông Hữu Giang thành sông lớn Uất Giang [Yongjiang]. Tại hạ nguồn sông Uất Giang, có sự thay đổi; đáng lý ra theo thông lệ sứ đoàn Việt Nam phải đi ngược lên Quế Lâm, rồi theo sông đến Động Đình Hồ, qua Hồ Nam, Hồ Bắc. Nhưng lúc đó dân tộc Mèo tại các tỉnh Quí Châu và phía nam Hồ Nam nỗi dậy, đường sá không an ninh; nên buộc phải chọn con đường đi qua tỉnh Giang Tây xa hơn. Sự việc được Thanh Thực Lục xác nhận qua đạo dụ vua Càn Long căn dặn viên Đại thần Tất Nguyên phụ trách về tiếp đãi như sau:
“Ngày 10 tháng 6 năm Càn Long thứ 55 [21/7/1790]. Bọn Tất Nguyên cần cáo tri cho Thang Hùng Nghiệp, Thành Lâm biết rằng:
“Con đường qua tỉnh Giang Tây không phải là đường chính cho các ngoại phiên đến chiêm cận đi qua, nên việc cung ứng không theo một chương trình nhất định. Còn ba tỉnh Hồ Quảng, Hà Nam, Trực Lệ là đường thông cù cho các nước phương nam triều cống dùng, mọi việc đều có qui chế, không thể theo ngoại lệ ưu đãi.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1356, trang 25-26)
Theo hành trình mới, đoàn thuyền của phái đoàn tiếp tục xuôi dòng đến Ngô Châu [Wuzhou] để nhập vào con sông lớn hơn, tức Tây Giang [Xijiang].Tại Ngô Châu, nơi đô hội thuyền bè san sát, danh sĩ Phan Huy Ích tức cảnh một bài thơ nhan đề Thương Ngô Giang Thứ [Trú bên sông Thương Ngô].
Trên đường đi, Tổng đốc Phúc Khang An tâu rằng theo thông lệ đã kiểm duyệt 3 lá thư không dán phong bì của Giả vương gửi về nước; Vua Càn Long muốn chứng tỏ tin tưởng Vương An Nam, bỏ lệ kiểm duyệt, cho dán phong bì trước khi gửi thư đi:
“Ngày 11 tháng 5 năm Càn Long thứ 55 [23/6/1790]. Lại dụ: Phúc Khang An gửi tấu triệp về việc hướng dẫn bọn Nguyễn Quang Bình trên đường đến kinh đô, cùng sao lục 3 phong thư của viên Quốc vương này gửi về thành Thăng Long, sự liệu biện rất tốt.
Nguyễn Quang Bình mấy lần được hưởng đặc ân, thành tâm cảm khích, sau khi vào quan ải được chiêm ngưỡng đất nước Thiên triều ngang dọc rộng lớn, thanh giáo phô bày, ngoài sự hâm mộ còn kinh ngạc khâm phục. Được gia tăng thể tuất, lòng hân hoan cảm khích phát ra bởi tấm lòng thành. Còn việc gửi thư về nước, không dán phong bì, thấy được viên Quốc vương cẩn thận hiểu việc; mà trong thư những lời phân xử việc nước rõ ràng có cách thức; lại tường thuật sự việc được Thiên triều ưu đãi, không nhắm để khoe khoang với thần dân, mà chỉ muốn nhờ đó lòng người càng thêm yên ổn thần phục . Xem ra Nguyễn Quang Bình dụng tâm chu đáo, đủ sức để cai trị lâu dài; nhận ơn sâu của Trẫm để đi đến chỗ tốt đẹp.
Tuy nhiên viên Quốc vương đến chiêm cận và chúc thọ; đi về lâu đến tám, chín tháng trời, cần phải có thư từ vãng lai thương thảo; nếu cứ nhất luật không dán phong bì, thì không phải cách tin tưởng người ở xa. Nay truyền dụ Phúc Khang An, nhân tiện trên đường đi, nói với viên Quốc vương biết rằng thể chế của Thiên triều có lệ ngoại phiên gửi thư qua lại không được dán phong bì. Nay Quốc vương được phong tước phiên bang, thành tâm vào chiêm cận, Đại Hoàng đế xét chung một lòng nhân, không phân biệt trong ngoài; từ nay trở về sau thư từ qua lại không theo lệ cũ, được dán phong bì. Hãy dụ một cách tường tận như vậy, họ sẽ gia tăng hân hoan cảm động, cởi bỏ mọi nghi ngờ.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1354, trang 17-18).
Phái đoàn tiếp tục xuôi dòng Tây Giang [Xijiang], đến khu Tam Thủy tỉnh Quảng Đông, đáng lý phải ngược sông Bắc Giang [Beijiang]; phái đoàn lại ghé vào thành Quảng Châu[Guangzhou], thăm kinh đô cũ nước Nam Việt của Triệu Đà; tại nơi này tác giả Tinh Tra Kỷ Hành cảm hoài với bài thơ Quảng Thành Công Quán. Rồi đoàn thuyền chở phái đoàn quay mũi, trở lại khu Tam Thủy, để ngược dòng sông Bắc Giang. Đến huyện lỵ Thanh Viễn [Qingyuan, Quảng Đông] sát bờ sông, vua Quang Trung giả nhận được chiếu chỉ của vua Càn Long phong cho Nguyễn Quang Thùy làm Thế tử, nhưng từ chối vì Quang Thùy là con thứ, sự việc ghi tại văn bản sau đây:
“Ngày 2 tháng 6 năm Càn Long thứ 55 [13/7/1790]. Dụ Quân Cơ Đại thần. Phúc Khang An tâu rằng:
‘Trên đường qua huyện Thanh Viễn đã hướng dẫn Nguyễn Quang Bình quì nhận chỉ dụ về việc tấn phong Nguyễn Quang Thùy làm Thế tử, cùng được ban ơn cho các vật dụng như bao sen, hương khí v.v… Viên Phiên thần cung kính hân hạnh, hành lễ cúi đầu xuống tận đất, xưng rằng còn có con trưởng là Quang Toản hiện đang lo việc quốc sự trong nước; Quang Thùy chỉ là con thứ được ban ân tấn phong Thế tử nên không dám nhận, xin dâng biểu tạ từ.’
Trẫm sau khi xem biểu văn, khen ngợi vô cùng! Đặc cách dùng bút son phê ngay trên biểu để tỏ lòng sủng ái. Nay đem biểu văn giao cho Phúc Khang An, để chuyển cho Nguyễn Quang Bình xem, và nói cho y biết rằng Đại Hoàng đế xem biểu văn tạ ơn mới biết rằng Nguyễn Quang Thùy là con thứ; Quốc vương tâu rõ sự thực, không che dấu mảy may, hiểu rất sâu đại nghĩa. Đại Hoàng đế ra lệnh các quan trong nội các thay đổi sắc văn, phong cho con trưởng của Vương, Nguyễn Quang Toản làm Thế tử. Những đồ tặng thưởng trước đây vẫn cấp cho Nguyễn Quang Thùy; lại thưởng cho Thế tử của Vương, Nguyễn Quang Toản, 1 viên ngọc Như ý, một đôi túi bao sen lớn, hai đôi bao sen nhỏ, 4 tấm sa, 2 hộp trà, 1 hộp quạt, 7 hộp hương khí, 20 đỉnh thuốc để được cùng thấm nhuần đầy đủ ân sủng. (Cao Tông Thực Lục quyển 1356, trang 3-4)”
Từ Thanh Viễn ngược dòng Bắc Giang trên 50 km. đến Thiều Châu [Shaoguan, Quảng Đông]; tại nơi này phái đoàn từ giả viên Án sát Quảng Đông để chuẩn bị đường bộ qua lãnh Đại Dữu; dịp này danh sĩ Phan Huy Ích có bài thơ Thiều Châu Giang Thứ Phụng Tiễn Quảng Đông Trương Niết Đài Hồi Trị [Tại chỗ đậu trên sông Thiều Châu, tiễn đưa quan Án sát Quảng Đông họ Trương trở về trị sở].
Qua lãnh Đại Dữu phái đoàn lại đi thuyền xuôi dòng sông Cám [Gan Jiang] tỉnh Giang Tây.Tại thời điểm này Vua Càn Long ban sắc phong cho Nguyễn Quang Toản làm Thế tử:
“Ngày 7 Bính Thìn tháng 6 năm Càn Long thứ 54 [18/7/1790]. Sắc phong cho Nguyễn Quang Toản, con trưởng của Nguyễn Quang Bình, chức Thế tử. Sắc rằng:
‘Trẫm một mình ở trong nhà vắng, nhưng thống ngự nơi cõi ngoài, ban phong cho thuộc quốc. Ngươi theo điển lệ thừa kế, mở mang sự nghiệp nhà. Hàng đêm vâng mệnh rèn cặp nghĩa phươngđúng theo điều nghĩa, giữ đạo tôn thân; hiểu đức lớn, với đứng sinh thành, một lòng tôn kính. Nhắm khuyến thưởng dòng dõi Phiên vương, đặc cách ban ơn rộng rãi.
Duy An Nam là nước nơi hoang nóng xa xôi, nhưng Quốc vương kính cẩn tuân giữ chức phận thần tử. Phiên bang mới lập, con trưởng coi việc nhà; Tước lớn mới được ban, dốc tâm theo điều phúc đến chiêm bái. Biểu văn khẩn khoản, dâng hiến tình ân. Khắp dưới trời khánh thọ vui mừng, nơi biển rộng hân hoan xưng tụng. Sảng khoái hoàng phong, khá khen phẩm hạnh tượng hiền, vui thay giữ thành nối dõi. Ngươi Nguyễn Quang Toản là con trưởng Quốc vương Nguyễn Quang Bình, bẩm tính ôn lương, tư chất khôi vỉ; nghe tiếng hạc hòa âm, bút tô vẽ lan ngọc, nhận lời dạy qua thư (4), mầm non nảy lá…
Nay phong ngươi làm Thế tử của Quốc vương An Nam, ban cho sắc mệnh. Ý hy! Nghi văn rực rỡ vinh quang, điển sách thỏa lòng ân sủng; đối với nhà lo hiếu, với nước lo trung, mài dũa lòng ngươi không dứt, học làm bầy tôi, học làm con, tu nghiệp không lỗi lầm. Thành thực không làm mất tiếng tốt, cùng thừa hưởng nhiều phước lành. Khâm tai! Trẫm mệnh không thay thế!” (Cao Tông Thực Lục quyển 1356, trang 13-14)
Phái đoàn qua huyện Cát An [Ji’an, Giang Tây], quê hương của Trạng nguyên Tễ tướng Nam Tống Văn Thiên Tường, tác giả thiên tuyệt tác Chính Khí Ca; danh sĩ Phan Huy Ích cảm hoài vị trung thần với bài thơ Kinh Cát Thủy, Vãn Văn Thừa Tướng [Qua huyện Cát Thủy, viếng Văn Thừa tướng].
Thuyền chở phái đoàn tiếp tục theo dòng sông Cám trên 100 km. đến Nam Xương [Nanchang] thủ phủ của tỉnh Giang Tây vào ngày 8 tháng 6 [19/7/1790]. Vua Càn Long ước tính hành trình đến Nhiệt Hà còn hơn 4000 dặm, sợ không đến kịp vào ngày mồng 8 tháng sau; nên cho thêm 2 cuộc hẹn mới:
“Ngày 21 tháng 6 năm Càn Long thứ 55 [1/8/1790]. Lại dụ: Hôm qua Phúc Khang An tấu:
‘Vào ngày mồng 8 tháng 6 [19/7/1790] đến Nam Xương, tiếp tục đi thẳng.’
Từ Nam Xương tỉnh Giang Tây đến Nhiệt Hà hành trình còn hơn 4000 dặm, còn thời gian từ hôm nay cho đến ngày mở yến tiệc thì không đầy một tháng. Đã giáng chỉ dụ ngày mồng 8 tháng 7 [17/8/1790] đến Nhiệt Hà, để tiện cho ngày mồng 9 [18/8/1790] chiêm cận. Nay khí trời nóng nực, dọc đường có lúc gặp mưa, sợ khó có thể đi nhanh được; viên Phiên vương nặng tình chiêm cận, lòng thành đáng khen; không thể không biểu lộ tấm lòng thể tuất. Nay truyền lệnh cho Phúc Khang An hãy ước lượng tình hình dọc đường, nếu như ngày mồng 8 có thể đến được Nhiệt Hà thì đó là điều rất tốt, nếu có sự trì trệ thì có thể đến vào ngày mồng 10, để ngày 12 chiêm cận tại Huệ Địch Cát Môn; nếu lại còn không đến kịp thì có thể đến vào ngày 12 hoặc 13; để khỏi lỡ ngày 14 kỳ diên yến. Trên đường Phúc Khang An vốn không thể tự ý trì hoãn, nhưng cũng không nên thúc dục đi quá nhanh, để đến nỗi mệt nhọc.” (Cao Tông Thực Lục, quyển 1357, trang 11-12)
Thuyền tiếp tục xuôi dòng sông Cám, vượt hồ Bà Dương [Poyang lake] đến Cửu Giang [Jiujiang] đến chỗ tụ hội với sông Trường Giang. Nhân dịp phái đoàn qua sông Tầm Dương chiêm ngưỡng đình Tỳ Bà [Xunyang district], nơi kỷ niệm Thi hào Bạch Cư Dị, tác giả Tinh Tra Kỷ Hành cảm khái với bài thơ Độ Tầm Dương Vọng Tỳ Bà Đình.
Nhận được chiếu chỉ phải đi gấp, để kịp đến ngày 9 tháng 7 [18/8/1790] chiêm cận tại hành cung Nhiệt Hà; Phúc Khang An tâu ngày 15 tháng 6 đến Hoàng Cương, phía nam tỉnh thành Vũ Hán, Hồ Bắc:
“Ngày 24 tháng 6 năm Càn Long thứ 55 [4/8/1790]. Dụ: ngày hôm qua Phúc Khang An tâu:
‘Vào ngày 15 tháng 6 [26/7/1790] đến Hoàng Cương tỉnh Hồ Bắc, vào ngày 16 có thể đến Vũ Xương, hiện nay đang đi gấp v.v..” Lại đem biểu văn của Nguyễn Quang Bình cung tạ việc sắc phong Nguyễn Quang Toản làm Thế tử tiến trình….”(Cao Tông Thực Lục quyển 1357, trang 18)
Từ tỉnh Hồ Bắc, qua Hà Nam, rồi đến Hà Bắc; trên con đường dài đến kinh sư, phái đoàn di chuyển bằng xe; Phan Huy Ích tác giả Tinh Tra Kỷ Sự mô tả đường qua tỉnh Hà Nam với 2 thiên thất ngôn bát cú nhan đề Hà Nam Đạo Trung. Riêng Tổng đốc Phúc Khang An tâu đã đến phía bắc tỉnh Hà Nam, bèn bớt tùy tòng cho đến sau, để phái đoàn đi nhanh hơn:
“Ngày 2 tháng 7 năm Càn Long thứ 55 [11/8/1790]. Dụ Quân Cơ Đại thần: Phúc Khang An tấu rằng:
‘Ngày 24 tháng 6 [4/8/1790] đưa Nguyễn Quang Bình đến Hứa Châu [bắc Hà Nam], ước lượng vào ngày 8 tháng 7 [17/8/1790] sẽ tới nơi. Đã tuân theo chiếu chỉ giảm nhân số tùy tòng đi theo viên Quốc vương; lệnh số còn lại đi từ từ phía sau, cho Ủy viên dẫn đến kinh đô. Lại biên thư dặn Kim Giản để nhóm này đến cư trú tại căn nhà dành riêng cho Nguyễn Quang Bình..’
Sự liệu biện đều thỏa đáng, đã phê rõ ràng trong tấu triệp. Nguyễn Quang Bình nặng tình đến chiêm cận, hăng hái hân hoan, dọc đường phải đi gấp nhưng không nề gian lao, biểu lộ tấm lòng chí thành. Từ Hứa Châu đến Nhiệt Hà hành trình hơn 2000 dặm, nếu tính mỗi ngày đi được 200 dặm, thì khoảng ngày mồng 8 tháng này có thể tới Nhiệt Hà; để sớm toại lòng chiêm cận Thiên tử, đó là việc tốt. Phúc Khang An tháp tùng và lo liệu công việc, mọi điều đều thích hợp….”(Cao Tông Thực Lục quyển 1358, trang 4-5)
Đến đầu tháng 7 phái đoàn tới tỉnh Trực Lệ [Hà Bắc]; vùng này trời mưa liên miên, nên Vua Càn Long cho hoãn, có thể đến trước hoặc sau ngày mồng 10:
“Ngày 5 tháng 7 năm Càn Long thứ 55 [14/8/1790]. Dụ Quân Cơ Đại thần: Phúc Khang An tấu:
‘Vào ngày mồng 1 tháng 7 [10/8/1790] dẫn phái đoàn Nguyễn Quang Bình đến Từ Châu, tỉnh Trực Lệ, hiện tìm cách đi nhanh không kể sáng tối. Nếu như vào ngày mồng 8 đến nơi được thì tốt, nếu không được thì ngày mồng 9 sẽ đến Nhiệt Hà chiêm cận.”
Từ Từ Châu đến Nhiệt Hà còn hơn 1500 dặm đường; hạ tuần tháng trước tại tỉnh Trực Lệ, kinh thành cùng Nhiệt Hà mưa liên miên, đường sá lầy lội; hiện nay tuy đã tạnh mưa hơn một tuần, nhưng đường sá cũng chưa khô ráo hẳn; nếu đi gấp không khỏi mệt nhọc. Phiên thần từ vạn dặm đến sân đình, nay cách chốn kinh kỳ không xa; càng nên gia tăng lòng thể tuất. Nay ra lệnh Phúc Khang An tuân theo chi tiết lời dụ sau đây: Nếu như ngày mồng 8 không thể đến được, thì hãy đến trước hoặc sau ngày mồng 10 cũng không chậm trễ; tóm lại đừng để lỡ kỳ yến hội vào ngày 14 là quan trọng. Nay truyền dụ để hiểu rõ.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1358, trang 6 )
Trong khi phái đoàn Giả vương trên đường đến chiêm bái, viên Tuần phủ đạo Nhiệt Hà nhận được tin các tỉnh dọc đường cung đốn ăn ở tốn khoảng 4000 lạng bạc một ngày; bèn đem sự việc ra hỏi:
“Ngày 10 tháng 6 năm Càn Long thứ 55 [21/7/1790]. Lại dụ: Hôm qua viên Tuần phủ đạo Nhiệt Hà đến bẩm với Quân Cơ Đại thần rằng:
‘Nhận được giấy tờ loan báo gửi đi từ dọc đường, cho biết việc cung ứng phái đoàn Nguyễn Quang Bình một ngày ăn ở tốn khoảng 4000 lạng bạc; vậy sau khi Nguyễn Quang Bình đến Nhiệt Hà, mọi sự chi tiêu cung phụng có hoặc không nên theo cách tiếp đãi dọc đường?”…. (Cao Tông Thực Lục quyển 1356, trang 21-24)
Vua Càn Long bèn cho mở cuộc điều tra sâu rộng, thì các tỉnh dọc đường từ Hà Nam trở về phía nam đều phủ nhận việc cung ứng hết 4000 lượng bạc một ngày. Chỉ còn một tỉnh cuối cùng là Trực Lệ chưa tâu báo, nên nhà Vua bắt viên Tổng đốc Lương Khẳng Đường phải điều tra tận gốc:
“Ngày 26 tháng 6 năm Càn Long thứ 55 [7/8/1790]. Dụ rằng: Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình vào triều chiêm cận, cung ứng dọc đường tiêu phí nhiều. Về việc này, hôm qua đã giáng chỉ ra lệnh Lương Khẳng Đường cứ thực tình điều tra và tâu lên các loại truyền đơn đã in ra, do xứ nào chuyển đến Trực Lệ. Cứ lời tâu hôm nay của Diêu Phần [Tuần phủ tỉnh Giang Tây] :
‘Đã đốc suất các ty, đạo, tề tựu tại tỉnh; cùng điều tra các phủ huyện đều khẳng định chưa từng thấy loại truyền đơn này. Các huyện đã đi qua cũng không có việc tốn mỗi ngày 4000 lượng; các nơi ăn chốn ở chỉ tốn mỗi ngày hết hơn 200 lượng; công việc giao cho viên Bố chánh Thác Luân trông coi; Tuần phủ tiền nhiệm Hà Dụ Thành cũng không để lại chương trình dự định nào cả v.v..’.
Quảng Đông, Quảng Tây đã viết đơn trình xem dự định cung ứng vật thực hàng ngày. Như vậy bản khắc in truyền đơn không phải đã hỏi ý kiến từ Giang Tây để làm; còn Hà Nam, Hồ Quảng cũng xưng là không biết. Theo lời tâu của Phúc Khang An ngày hôm qua về việc cung ứng, thì càng ngày càng tiết giảm, có ghi trên bản văn thư để dọc đường lo liệu, lời nói chắc không tự đặt ra. Như vậy truyền đơn này chưa tìm ra xuất xứ; Trẫm há chịu để mập mờ không tra cứu cho rõ ràng ư! Nay lại truyền dụ cho Lương Khẳng Đường, hãy tuân theo chiếu chỉ trước, điều tra tận gốc để xem truyền đơn này phỏng theo xứ nào mà làm, hoặc do Trực Lệ tự khắc in ra; hãy phúc trình thành thực, không thể để tình trạng mập mờ, sẽ bị can tội.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1357, trang 22-23)
Cuối cùng thì viên Tổng đốc Trực Lệ đành phải quanh co nhận tội, vua Càn Long lại hạ bút tìm lời che chở “Lương Khẳng Đường cho rằng Phiên vương họ Nguyễn nặng tình chiêm cận, từ nơi vạn dặm đến sân đình, nên trù liệu điều khoản nghênh tiếp quá ư phung phí; sai lầm này do ý nghĩ tốt mà ra.” Qua luận điệu này chứng tỏ việc cung phụng này hợp ý Vua, nhưng chỉ vì viên Tuần phủ đạo Nhiệt Hà hỏi công khai việc này ra, nên Càn Long buộc phải làm cuộc điều tra:
“Ngày 6 tháng 7 năm Càn Long thứ 55 [15/8/1790]. Dụ Quân Cơ Đại thần: Lương Khẳng Đường phúc tấu:
“Để đón tiếp Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình quá cảnh, đã thông sức các ty, đạo, bàn bạc chương trình quyên tiền dưỡng liêm 4000 lạng bạc để chuẩn bị cung cấp dọc đường; chứ không phải mỗi ngày tốn hết 4000 lượng. Những điều khoản bàn bạc, sợ hành văn sao chép sai lạc, nên được cho in theo lối hoạt tự bản (5) để tiện dùng; thực ra không tham khảo bản khắc nào và cũng không mô phỏng truyền đơn từ tỉnh khác.”
Đạo phủ Nhiệt Hà đã trình xuất truyền đơn in theo lối khắc bản (6) nội dung kê rõ mỗi ngày cấp phát cho trạm ngủ 2000 lượng, trạm ăn 1000 lượng, cấp thêm cho trạm Từ Châu 500 lượng, trạm Thanh Uyển 500 lượng; số tiền cấp phát tổng cộng là 37,500 lượng. Nay viên Tổng đốc chỉ xưng dọc đường cung ứng tổng cộng là 4,000 lượng để mong bào chữa cho lời tâu trước đây; cái việc làm mà người quân tử cho là đáng khinh về đạo đức, há lẽ Lương Khẳng Đường trước sau vẫn còn bao che ư!
Căn cứ vào các bản phúc tấu của các tỉnh Giang Tây, Hồ Quảng, Hà Nam đều xưng Phúc Khang An đã truyền lệnh dọc đường cung ứng dung hòa giữa phong phú và tiết kiệm, không được làm lớn chuyện, nên các tỉnh không đến nỗi quá phí. Qua mấy lần Trẫm nghiêm khắc hạch hỏi, Lương Khẳng Đường tự biết không thể chối được, bắt đầu nhận rằng truyền đơn này xướng xuất tại tỉnh Trực Lệ, không hề mô phỏng tỉnh khác; dùng lời ngụy biện cuối cùng cũng không thể biện hộ được!
Lương Khẳng Đường cho rằng Phiên vương họ Nguyễn nặng tình chiêm cận, từ nơi vạn dặm đến sân đình, nên trù liệu điều khoản nghênh tiếp quá ư phung phí; sai lầm này do ý nghĩ tốt mà ra. ….cũng không đáng truy vấn thêm. Nay truyền dụ này để hay biết.”(Cao Tông Thực Lục quyển 1358, trang 7-8)
Về số phận của đám cựu thần Lê Quýnh quyết không chịu cạo đầu dóc tóc theo tập tục Mãn Thanh, lại đòi hỏi về nước phục quốc, bị áp giải đến kinh đô Bắc Kinh. Trên đường đi, đám quan quân gặp xa giá Vua Càn Long nơi hành tại tỉnh Sơn Đông; Nhà Vua sai Quân cơ đại thần thẩm vấn, nhưng Lê quýnh vẫn không đổi ý, bèn chuyển giao cho bộ Hình giam cấm:
“Ngày 5 tháng 3 năm Càn Long thứ 55 [19/4/1790]. Dụ Quân Cơ Đại thần: Bọn Lê Quýnh được giải tới hành tại, truyền chỉ mệnh Quân Cơ Đại thần thẩm vấn và mở đường cho y; hai, ba lần lệnh cho y được đến kinh đô cư trú với Lê Duy Kỳ, để toại lòng trung với chủ. Nhưng bọn Lê Quýnh khăng khăng xưng là cựu thần nhà Lê, muốn cử sự phục thù, không tình nguyện tỵ nạn tại nội địa, chỉ muốn lấy lại đất đai cũ của nhà Lê, liều thân tuẫn tiết v.v..
Bọn Lê Quýnh mượn danh trung nghĩa, đưa lời kiên quyết chấp nê, nếu cho trở về An Nam sẽ tung tin đồn nhảm, gây cớ để nỗi dậy làm loạn . Vốn đã không có ích lợi gì cho Nguyễn Quang Bình, mà Nguyễn Quang Bình thấy bọn này bất trắc, tất sẽ tru lục không thể dung thứ được; lòng Trẫm không nỡ nên ra lệnh tạm chuyển giao cho bộ Hình giam cấm. Nay đem sự tình dụ cho Phúc Khang An biết; tương lai khi Nguyễn Quang Bình đến quan ải, gặp mặt kể cho y hay, cũng không có hại gì, rằng ‘Thiên triều đã lưu giữ Lê Quýnh tại kinh đô, không để cho y có hành vi phiến động làm mê hoặc lòng người, nhắm tuyệt mối hậu hoạn’. Viên Quốc vương nghe được, càng gia tăng hân hoan cảm động, không còn lo lắng gì nữa.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1350, trang 5-6)
Riêng Cựu hoàng Lê Chiêu Thống và đám tùy tòng được biên chế thành một tá lãnh, cho Cựu hoàng hàm Tam phẩm, Phan Khải Đức hàm Tứ phẩm:
“Ngày 20 Canh Tý tháng 5 năm Càn Long thứ 45 [2/7/1790]. Nhân Kim Giản dâng bản tâu về việc an trí Lê Duy Kỳ và thân thuộc của y; dụ rằng:
‘Lê Duy Kỳ tuy nhu nhược thiếu khả năng, không giữ được đất đai, nhưng nghĩ đến họ Lê triều cống trên 100 năm nay, hết sức cung thuận, nên đặc cách ban cho chức Tá lãnh, lương cấp cho bản thân và gia đình, vĩnh viễn được liệt vào hàng quan lại, bà con trong chi họ được đoàn tụ; đây là ngoại lệ ban ơn. Nay Lê Duy Kỳ đưa những gia nhân từ Quảng Tây mới đến kinh thành, nhà cửa mới định, những đồ dùng không khỏi còn thiếu thốn; lúc này đã qua mùa xuân, các thứ tiền lương và gạo hãy cấp bổ sung, lại thưởng thêm 200 lượng bạc để cung đốn.
Còn Phan Khải Ðức ban cho hàm Ðô ty, bổ làm Phiêu kỵ hiệu, đeo mũ đỉnh đái (7) hàng tứ phẩm, cũng với đỉnh đái của Lê Duy Kỳ bằng nhau, như vậy không phân biệt được đẳng cấp; nay tái gia ơn cho Lê Duy Kỳ chức hàm tam phẩm, để chứng tỏ sự phân biệt.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1355, trang 6 )
Tại miền Nam vào tháng 4 [14/5-12/6/1790] Nguyễn vương sai chưởng Tiền quân Lê Văn Quân lãnh quân thủy quân bộ hơn 6.000 người tiến đánh Bình Thuận. Sai Tiên phong dinh Võ Tánh đem binh thuyền sở bộ đi trước, Nguyễn Văn Thành làm phó, theo sự tiết chế của Quân. Lại lấy Hàn lâm Chiêu [không rõ họ] làm Khâm sai tán lý Tiền quân. Vương lại nghĩ Quân với Tánh không ưa nhau, có thể lỡ việc, bèn vời Thành dặn rằng : “Hai người này nếu có chuyện dị đồng thì nên khéo điều đình, công và lỗi của ngươi cũng giống như Quân đó”; Thành vâng mệnh.
Sai Cai cơ quản Ban trực tả là Phạm Văn Nhân và Cai đội quản Ban trực tiền là Tôn Thất Huyên đem quân giữ Bà Rịa.
Lấy Khâm sai cai cơ Tiền quân là Lê Văn Lân giữ đạo Hưng Phước [Bà Rịa], Cao Văn Cửu giữ đạo Đồng Môn [Long Thành, Đồng Nai], Đặng Văn Trinh giữ cửa biển Tắc Khái, Vũ Văn Kế giữ thượng đạo Hưng Phước, Đỗ Văn Thịnh giữ hai đạo Lý Lê và Xích Lam [Hàm Tân, Bình Thuận], Tạ Văn Nhuệ giữ đạo Vũng Tàu.
Quân ta tiến đánh được Phan Rí [huyện Tuy Phong, Bình Thuận]. Lê Văn Quân mới đến, khiến Nguyễn Văn Thành đem quân tiến trước đến Húc Trâm [tên đất] để chặn đường giặc chạy, rồi cùng Võ Tánh chia đường đánh giặc. Đô đốc giặc là Đào Văn Hổ rút lui. Thành đón đánh được, bèn thu phục được Bình Thuận. Nghe tin thắng trận, Vương dụ rằng : “Quân ta mới đánh một lần giặc đã lui chạy, thực đáng khen. Nhưng đạo làm tướng chớ cậy được mà khinh giặc. Cần phải đánh giữ cho đúng thì mới giỏi. Phủ Bình Thuận đã thu phục được, nên xem đất cắm đồn, chiêu an dân, để thỏa lòng ta”.
Tháng 5 [13/6-11/7/1790] Lê Văn Quân đã lấy lại Bình Thuận, bàn muốn sai Nguyễn Văn Thành tiến lấy Diên Khánh, Võ Tánh đóng ở Ba Ngòi [Cam Ranh] để tiếp ứng. Thành cho rằng thế chưa làm được, cãi lại. Quân giận nói : “Trái lệnh thì chém”. Thành nói : “Thành bại ở trong quân, Thành cũng dự phần trách nhiệm, dù chết cũng không dám nghe lệnh”. Quân bất đắc dĩ sai Thành giữ Chợ Mơ [Mai Thị], Tánh giữ Phan Rí, mà tự dẫn quân dời đóng ở Phan Rang, chia sai thuộc tướng đặt ba đồn ở Nha Phân, Mai Nương [đều là tên đất] để giữ.
Tháng 6 [12/7-9/8/1790], tướng Tây Sơn là bọn Đô đốc Hồ Văn Tự, Nguyễn Công Thái và Tham tán Từ Văn Tú từ Diên Khánh [Khánh Hòa] điều hơn 9.000 quân, thủy binh đậu ở cửa biển Phan Rang, bộ binh đánh hãm Nha Phân và Mai Nương [huyện Ninh Phước, Ninh Thuận]. Lê Văn Quân ít binh không địch nổi, tướng sĩ chết và bị thương rất nhiều, bèn vỡ tan. Quân lùi về Ỷ Na [Ninh Thuận] đưa thư cáo cấp. Trước đó Vương thấy Bình Thuận đã lấy lại được, bèn bảo Võ Tánh và Nguyễn Văn Thành đem binh thuyền về, để Quân ở lại giữ. Giữa đường Thành nghe tin Quân thua, kéo Tánh cùng trở lại, nhưng Tánh không quay lại. Kịp tin báo đến, vua tức thì dụ cho Nguyễn Văn Thành đem quân trở lại cứu ứng, lấy Phạm Văn Nhân làm Phó tiên phong dinh, hiệp với Võ Tánh đem quân tiến theo; và dụ Quân rằng : “Được thua là việc thường của nhà binh, khanh nên khuyến khích sĩ tốt, bèn giữ lấy thành để đợi, viện binh sẽ tới. Đừng vì một trận thua mà nhụt chí để phụ danh đại tướng”.
Vương thân đem thủy quân ra cửa biển Tắc Khái, sai bọn Tôn Thất Huy, Tôn Thất Hội và Tống Phước Đạm ở lại giữ Gia Định.
Chú thích:
1.Trái đào: Do thành ngữ “thùy điều chi niên” nghĩa là tuổi để tóc như hai trái đào, khoảng ngoài 10 tuổi.
2.Lễ bảo kiến: Ôm nhau lúc gặp mặt để tỏ tình thân yêu.
3.Con nối dõi của các Vương được gọi là Thế tử.
4.Ý nói bấy giờ Nguyễn Quang Bình tại Trung Quốc, phải dạy con qua thư.
5.Hoạt tự bản: Lối in tương đối mới, lấy mỗi chữ rời từ hộp để chữ, sắp chữ thành bản; in xong, lại mang chữ vào hộp. Vì phải di chuyển chữ, nên lối in này được gọi là hoạt tự bản.
6.Khắc bản: Khắc chữ trên ván. Theo Tống Sử, Nghệ Văn Chí: Khắc bản có bắt đầu từ đời nhà Chu.
7.Đỉnh đái: Loại mũ thuộc đời nhà Thanh, có tua trên chóp, dùng để ban cho người có công.