Lê Chiêu Thống [1787-1789]
Hồ Bạch Thảo
Vào tháng trước, Vua Càn Long có ý định dùng Đề đốc Hứa Thế Hanh đôn đốc bọn Phan Khải Đức và phu mỏ tiến chiếm thành Thăng Long, Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị đóng tại quan ải yểm trợ. Nay thay đổi, chấp nhận Tôn sĩ Nghị đảm nhận trọng trách, đích thân chỉ huy quan quân đánh dẹp:
“Ngày 3 tháng 10 năm Càn Long thứ 53 [31/10/1788]
…..Tôn Sĩ Nghị cho rằng dùng quan binh tại quan ải cùng lực lượng đồn trú tại biên giới, truyền ngôn bán chính thức rằng họ Lê đài thọ phí tổn tiền lương để nhờ quan quân hộ tống quyến thuộc Tự tôn về nước; không bằng phất cờ gióng trống, xuất quân tiến thảo, phá tan sào huyệt bắt những tên đầu sỏ; cách nhìn này rất đúng.
Tôn Sĩ Nghị trong bụng đầy chữ nghĩa, đảm nhận trọng trách, tự xin xuất quan dẹp giặc, thì việc này nên giao cho viên Tổng đốc một tay lo liệu, để việc hô ứng thêm linh nghiệm, thành công được mau chóng. Xứ này hiện có Phan Khải Đức tụ tập dân chúng mưu đồ khôi phục; còn Trần Danh Bính là người được cử đi đánh Lạng Sơn cũng sợ xin đầu thuận; lại theo lời Phú Cương [Tổng đốc Vân Nam và Quí Châu] tâu Thổ mục hai xứ Đô Long (1) và Bảo Thắng [huyện Bảo Thắng, Lao Kai] hiện tụ tập binh lương hiệp đồng đánh giặc; xem thế có thể thấy lòng người vẫn hướng về nhà Lê. Nay thấy Tổng đốc đích thân đem binh tiến đánh, thanh thế mạnh mẽ, tự họ sẽ hăng hái vươn lên, hiệp đồng với quan binh tiến thẳng tới thành nhà Lê, công việc liệu tính dễ dàng; chỉ còn trông chờ tin chiến thắng tới.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1314, trang 56)
Tôn Sĩ Nghị tâu sẽ xuất quân vào trung tuần tháng mười, Vua Càn Long vui vẻ chấp thuận, cho rằng hợp với thời tiết. Nhân dịp nhà Vua trù tính nhất cử lưỡng tiện; tương lai có mặt Tôn Sĩ Nghị tại thành Thăng Long, Sĩ Nghị là đại quan, có thể sách phong cho Vua Lê Chiêu Thống, tránh khỏi việc Sứ thần phải mất công qua lại, thủ tục rờm rà:
“Ngày 12 tháng 10 năm Càn Long thứ 53 [9/11/1788].
Dụ: Theo lời tâu của Sĩ Nghị tự hối về việc truyền hịch và xuất quân chậm trễ; xét ra sự chậm trễ này là do hoàn cảnh khách quan, chứ không phải là không muốn nhanh. Vùng phụ cận biên giới mùa thu này mưa quá nhiều, đường sá không khỏi bị cản trở; nếu điều động quan quân ra khỏi quan ải sớm, cũng không thể tiếp tục tiến để chinh phạt được. Hiện nay trung tuần tháng mười, xứ đó trời quang mây tạnh đã lâu, nhân cơ hội này quan quân tiến gấp, thật hợp thời cơ….
Còn về viên tự tôn Lê Duy Kỳ, tuy có sai người đưa tin, nhưng theo lời bọn Nguyễn Thời Kiệt thì viên này hiện trú tại nhà dân tại xã Xuân Lan [huyện Lương Tài. Bắc Ninh], tùy tùng chỉ có ba người; xét ra Lê Duy Kỳ thuộc loại người không có khả năng. Tương lai Tôn Sĩ Nghị mang quân rời quan ải, tiến thẳng tới thành nhà Lê, rồi đợi cho viên tự tôn này làm thủ tục cầu phong (2); chi bằng sau khi chiếm được thành, bèn truyền chỉ phong Lê Duy Kỳ làm An Nam Quốc vương, khiến cho y được phục quốc sớm. Nay giao cho Nội Các soạn sắc văn, ra lệnh bộ Lễ đúc ấn; công việc hoàn tất kíp gửi ra ngoài. Tôn sĩ Nghị sau khi đến thành nhà Lê, truyền chỉ dụ cho con cháu nhà Lê biết rằng: ‘Thiên triều thống lãnh đại binh để giúp phục quốc, hiện tại đã chiếm lại được Lê thành, con cháu nhà Lê cần làm lễ cầu phong. Nhưng nghĩ rằng nước ngươi sau cơn binh hỏa; nếu như theo lệ thường tấu thỉnh phong, phải sai bồi thần nạp cống; tình trạng các ngươi như con bệnh bị mụn nhọt mới phục hồi, thực khó lo liệu chu toàn. Chi bằng nhân lúc này, làm lễ sách phong phục quốc, giảm bỏ việc dâng biểu nạp cống. Hơn nữa việc Thiên sứ sách phong, phẩm hàm thấp; không bằng Tổng đốc của Thiên triều mang quân chinh phục quốc đô, rồi phong tước hiệu, uy danh càng lớn, đủ để trấn phục nhân tâm, kêu gọi bọn phản nghịch trở về.’ Lời dụ cặn kẽ rõ ràng nói lên sự khoan tuất của triều đình, con cháu nhà Lê sẽ hết sức cảm khích, vĩnh viễn qui thuận. Còn như ấn tín xưa truyền đi đã bị Nguyễn Huệ cướp mất, nay đúc ấn mới; nếu như sau này tìm được ấn cũ, thì nó cũng là vật bất tường (5) không nên dùng, hãy mang về kinh cho tiêu hủy.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục, quyển 1314, trang 34-38)
Thông thường quân số cần phải bảo mật, nói đúng thực số sợ xôn xao dư luận, nhưng Vua Càn Long trong văn bản dưới tuyên bố số quân đã điều là 1 vạn, thì quả là vô lý.
Chỉ căn cứ vào tư liệu trong bộ Thanh Thực Lục này, thì một vạn quân cũng không đúng, vì không kể đến:
-Đạo quân Vân Nam, khai là 5000, nhưng căn cứ vào lương thực mang đi cho 3 tháng, là 2 vạn 4 ngàn thạch lương, mỗi thạch tương đương 60kg, mỗi người lính mỗi tháng ăn khoảng 20 kg, có thể suy ra quân số 2 vạn 4 ngàn tên: 24000.60:3:20kg. = 24000 tên.
-Cũng căn cứ vào lương thực có thể suy ra quân số; phu mỏ có võ trang được ban phát 3 vạn thạch lương, thì cũng cần 6 vạn người mới khiêng vác nỗi số lượng này30000.60: 30kg. = 60000 tên.
-Đạo quân do Sầm Nghi Đống chỉ huy, được Càn Long xác nhận trong đạo dụ ngày 1 tháng 3 năm Càn Long thứ 54 [27/3/1789] rằng không biết đạo quân này có bao nhiêu người.
Với những chứng liệu đã đề cập, thì con số mà sử Việt Nam nêu lên rằng tổng số quân Thanh gồm cả dân phu là 29 vạn người, hợp với sự thực:
“Ngày 13 tháng 10 năm Càn Long thứ 53 [10/11/1788].
Theo lời tâu: Tôn Vĩnh Thanh đã ban hịch tại Tầm Châu, Ngô Châu, Liễu Châu vùng phụ cận phủ Thái Bình; cùng vận chuyển 3 vạn thạch (3) gạo đến các vùng Ninh Minh, Thái Bình, Long Châu để tồn trữ, chờ ngày ban cấp. Lại gặp Tổng đốc Tôn sĩ Nghị bàn bạc thêm, định thưởng ba bốn vạn thạch cho xưởng dân trong trại, số này sẽ tiếp tục chuyển đến. Trước đây truyền hịch trong nước số quân điều động chỉ có 4 ngàn, lại chưa tâu rõ sau khi ra khỏi quan ải sẽ liệu lý như thế nào. Hiện tại Tôn Sĩ Nghị tiếp tục điều động thêm 5 ngàn lính Quảng Đông, 1 ngàn lính Quảng Tây; dùng 8 ngàn tên đánh thành nhà Lê, 2 ngàn đồn trú tại Lạng Sơn, cộng số quân đã điều là 1 vạn, quân số tăng lên gấp bội. Hiện nay viên Đốc mang quân xuất quan, thanh thế mạnh mẽ, công việc sẽ không khó để đạt được thành công đúng hẹn. Nhưng lính đi, lương phải vận chuyển kèm theo, mọi việc do Tôn sĩ Nghị và Tôn Vĩnh Thanh bàn bạc lo liệu cho kỹ.
….Nếu sau khi ra khỏi quan ải, tiến thẳng đến thành nhà Lê; tiếng trống thúc quân dấy lên, bắt sống được Nguyễn Huệ, thì đó là điều hay nhất. Nếu lần lữa ngày tháng, số lương thực mang đi không đủ, tại xứ đó lại khó thu mua, tất phải cần phương tiện vận chuyển từ trong nội địa. Vận chuyển như thế nào, dọc đường lập đài xây trạm ra sao, các viên Tổng đốc, Tuần phủ đã tính đến chưa, tại sao chưa tâu trình rõ ràng? Nay truyền Tôn Sĩ Nghị, Tôn Vĩnh Thanh sau khi đem quân ra khỏi quan ải, vấn đề lương thực trù biện như thế nào, phải cấp tốc tấu rõ ràng.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục, quyển 1314, trang 40-41)
Ngoài việc điều động cánh quân của Tôn Sĩ Nghị xuất phát từ tỉnh Quảng Tây; nhân vùng biên giới phía tây bắc các thổ mục như Nguyễn Đình Mai, Hoàng Văn Đồng chống lại Tây Sơn; Vua Thanh bèn phái phái Đề đốc Ô Đại Kinh tại Vân Nam mang quân ra khỏi quan ải, đôn đốc các thổ mục đồng long đánh dẹp. Lại dùng sách lược “cây gậy” và “củ cà rốt”; phía Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị làm “cây gậy” đánh mạnh quyết không tha; riêng Ô Đại Kinh đóng vai “củ cà rốt” dụ dỗ Tây Sơn đầu hàng:
“Ngày 14 Nhâm Dần tháng 10 năm Càn Long thứ 53 [11/11/1788]
…..Hiện nay đã đến trung tuần tháng 10, số quân lính Tôn sĩ Nghị mới điều, chắc đang lục tục tề tựu, mà những lời tâu của viên Đốc đều hợp thời cơ; gần ngày mang quân ra khỏi quan ải, mong tin chiến thắng mau tới, Tôn Sĩ Nghị hãy gắng lên, đạt thành công mau để đón nhận ơn mưa móc. Còn Nguyễn Đình Mai (4) tình nguyện hội họp các Thổ mục vùng phụ cận, tụ tập binh lính đánh chiếm vùng Tuyên Quang, Hưng Hóa; không những chia lực lượng của giặc, mà lại còn làm thế thanh viện từ xa cho cánh quân Quảng Tây. Phú Cương [Tổng đốc Vân Quí] đã cấp ấn dụ để cổ súy, lại sai Hoàng Văn Đồng (5) đi đánh bắt các cơ sở giặc trong vùng. Lo liệu như vậy là phải, tuy nhiên Vân Nam và Quảng Tây đều tiếp giáp An Nam, trước đây đã ra lệnh cho hai tỉnh phái thêm binh lính tăng cường các quan ải để làm mạnh thanh thế; nay con đường từ Quảng Tây đã có Tôn Sĩ Nghị mang quân tiến thẳng, còn con đường Vân Nam nếu chỉ sai các Thổ mục ra sức đánh giặc, thì bọn này thấy quân trong nước án binh bất động không có chỗ nương dựa, nên không khỏi có tâm tính trông chờ, như bọn Phan Khải Đức trước kia vậy. Bởi vậy lộ Vân Nam cũng không thể không tiến binh. Nhưng xét về mặt quân sự Phú Cương không có kinh nghiệm bằng Ô Đại Kinh; nên viên Tổng đốc này chỉ nên đóng tại vùng biên giới ra tay đàn áp, kiểm tra, lo liệu và tiếp tế lương thực, nhận được tin tức từ An Nam thì kịp thời tâu trình. Nay phái Đề đốc Ô Đại Kinh mang 3 ngàn quân xuất quan tiền tiến, lại cổ võ các thổ mục đồng lòng dẹp giặc. Nếu có thể tiến xa vào sâu, kết hợp được với đạo quân của Tôn sĩ Nghị thì đó là điều hay nhất; nếu đường sá xa xôi không thể kết hợp được, thì cũng làm được thế ỷ dốc (6) khiên chế, khiến tiền quân và hậu quân của giặc không rảnh yểm trợ cho nhau, đánh bắt chúng dễ hơn. Ô Đại Kinh hãy truyền hịch cho bọn Nguyễn Huệ rằng Tôn Tổng đốc hiện thống suất đại binh tiến đánh, bắt được sẽ không tha mạng; nếu đến đầu hàng với bản Đề đốc, bó thân qui thuận, sẽ làm lời tấu thay để xin tha. Lúc này Tôn Sĩ Nghị chuyên tâm về việc đánh mạnh, hết sức nghiêm cách, khiến bọn Nguyễn Huệ thế cùng lực tận không còn đường sinh lộ, lại tiếp được hịch dụ của Ô Đại Kinh, tất nhiên sẽ đến qui hàng, điều này có thể lý giải được. (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1314, trang 45-47)
Ngoài việc điều động hai đạo quân từ Quảng Tây và Vân Nam; Vua Càn Long cho soạn sẵn văn sách ban phong, chờ khi đến thành Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị sẽ chủ trì lễ sách phong cho Vua Lê Chiêu Thống. Trong sách phong với lời đường mật hoa mỹ như “niệm tổ tông ngươi với dư đồ mười ba đạo, nhưng Thiên triều không mong lợi về đất đai. Dùng chính sách “nhu viễn” không thích bành trướng bên ngoài”. Nhưng thực chất việc xâm lăng An Nam được Càn Long hãnh diện ghi trong “Thập toàn vũ công 十全武功” và Càn Long mệnh danh là “Thập toàn lão nhân 十全老人”:
“Ngày 28 tháng 10 năm Càn Long thứ 53 [25/11/1788].
Dụ quân cơ Đại thần: Tôn Sĩ Nghị tâu mọi việc trù hoạch đều ổn thỏa, nhân tâm nước này còn nhớ triều xưa, Lê Duy Kỳ đi đến đâu cũng được dân chúng ra sức bảo hộ; đại binh tới chắc sẽ có nhiều kẻ tình nguyện làm nội ứng, công việc sẽ thành công đúng hẹn không mấy khó khăn. Còn về ấn tín của Quốc vương thì Trẫm đã từng ra chỉ dụ nếu đợi con cháu nhà Lê sai Bồi thần xin thỉnh phong, chi bằng sau khi chiếm được thành nhà Lê sẽ truyền chỉ sắc phong ngay cho Lê Duy Kỳ để sớm phục quốc. Hơn nữa nếu theo lệ Thiên sứ sang sách phong, thì phẩm hàm thấp, nay Tôn Sĩ Nghị giữ chức Tổng đốc, mang quân thu phục thành nhà Lê, ban chỉ dụ sách phong, việc làm long trọng đủ để trấn phục nhân tâm. Chắc viên Đốc chưa nhận được chỉ dụ trước nên mới tâu trình như vậy; hiện Trẫm đã sức các nha môn tức tốc đúc ấn, soạn sách văn; rồi cho phát vãng, viên Đốc sẽ nhận được sau đó. Sách văn như sau:
“Trẫm phủ ngự trong ngoài, yên ổn chốn xa gần. Nghĩa không gì lớn bằng dẹp loạn để trị, cứu nguy thành an; đạo không gì thịnh bằng phục hưng họ bị diệt, nối dòng bị đứt. Họ này sớm nhận triều mệnh, đời đời được sắc phong; nay gặp lúc đất nước lắm nỗi khó khăn, con dân không trung thuận. Nên phải dẹp bọn giặc cỏ, cứu vớt kẻ ngả nghiêng; trở về với lễ nhạc quan chiêm, xứng với chức phiên bang làm phên dậu.
Ngươi tự tôn nước An Nam Lê Duy Kỳ, được tắm gội phong hóa, nối dõi kế thừa. Ngày nội tổ [Vua Lê Hiển Tông] ngươi trút hơi thở cuối cùng, cũng chính là lúc giặc Nguyễn [Tây Sơn] gây loạn, rồi mối họa phát tự trong cung, khiến mất cả phù ấn. Thân côi trốn tránh, rời nhà lưu ly, bỏ cả cố đô, nương nhờ thượng quốc. Nghĩ đến trăm năm mươi năm triều cống, niệm tổ tông ngươi với dư đồ mười ba đạo, nhưng Thiên triều không mong lợi về đất đai. Dùng chính sách “nhu viễn” (7) không thích bành trướng bên ngoài; dẹp yên giặc nhưng không muốn đóng lâu, thể theo lời cảnh tỉnh. Nhắm giúp các ngươi yên cửa nhà, họ hàng đoàn tụ, cùng khuyến khích thần dân diệt kẻ thù chung. Đặc sai viên đại lại thân chinh, cầm vương sư tiến đánh, mới nghe danh giặc đà khiếp vía, tên đầu sỏ bôn đào; nội nạn được yên, dân tình thêm phụ. Thoát khỏi cảnh lưu ly khốn khổ, là nhờ ơn cốt nhục tử sinh, cựu lệ nếp xưa, vận hội mới càng thêm rực rỡ. Nay phong ngươi chức An Nam Quốc vương, ban cho ấn mới.
Vương hãy thận trọng tu sửa kỷ cương, thừa phụng uy linh, tập hợp nhân dân, giữ gìn cương vực. Chớ hoang chơi mà bỏ việc, đừng cầu an để bại danh; đội ơn Thiên triều lòng nhân tái tạo, càng tăng phúc cho vận nước trùng hưng. Khâm thử, Trẫm mệnh vĩnh viễn không thay thế!” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1315, trang 27-28)
Bấy giờ viên Tổng đốc Vân Quí Phú Cương muốn lập công, tìm cách chiêu hàng quân Tây Sơn; Vua Càn Long biết khả năng viên này hạn chế, nên chỉ chấp nhận làm như vậy thôi, không muốn y dấn thân thêm, làm lỡ việc:
“Ngày 30 tháng 10 năm Càn Long thứ 53 [27/11/1788].
Tổng đốc Vân Nam và Quí Châu Phú Cương tâu rằng tên đầu đảng nghịch tại An Nam là Nguyễn Huệ chạy về sào huyệt cũ, bị quân Lưỡng Quảng đánh đuổi, tương lai cùng quẫn không có đường lui, thế tất phải gõ cửa quan xin tha mạng. Nghe rằng tên giặc trốn tại Phú Xuân [Huế], phía nam thành nhà Lê. Hiện tại đại binh từ vùng Cao Bằng, Lạng Sơn tiến đánh ; như vậy phía đông bắc đã bị quan binh ngăn cản. Phía tây bắc nước này tiếp giáp với nước Nam Chướng, Nam Chướng lại tiếp giáp với phủ Phổ Nhĩ, tỉnh Vân Nam, nên đã ra chỉ thị mật cho Trấn đạo Phổ Nhĩ đưa người thám thính, nếu tên nghịch chạy về phía đó thì tìm cách chiêu hàng; ngoài ra còn cho các Trấn tướng mang quân tuần tra biên giới một cách nghiêm nhặt.
Chiếu chỉ phê: tốt; khả năng ngươi chỉ nên làm như vậy thôi, đừng tham công rồi sự việc rối ren, nẩy sinh ra cành lá!” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1315, trang 32)
Quả thực Tổng đốc Phú Cương lắm tham vọng, y xin cùng với Ô Đại Kinh mang quân xuất quan để tranh dành ảnh hưởng với Tôn Sĩ Nghị, nhưng bị Vua Càn Long bác. Ý nhà Vua muốn hai đạo quân Quảng Tây, Vân Nam giữ thế ỷ dốc yểm trợ lẫn nhau:
“Ngày 15 tháng Một năm Càn Long thứ 53 [12/12/1788].
Phép hành quân, đề phòng bị đánh bất ngờ phía sau là điều hết sức quan trọng. Theo lời tâu của Phú Cương xin đem 5000 quân mới đủ dùng, xét điều xin chuẩn cho mang 5000 quân xuất quan; còn việc xin cùng với Ô Đại Kinh mang quân xuất quan thì không chấp thuận. Có lẽ Phú Cương nghĩ rằng y và Tôn Sĩ Nghị đều là Tổng đốc, Phú Cương lại là người Mãn Châu; thấy Sĩ Nghị mang quân xuất quan, y cũng tấu xin được làm như vậy. Phú Cương không biết rằng nếu tài y có thể đảm đương trọng trách một cách thỏa đáng, y lại là Tổng đốc người Mãn Châu, Trẫm đã sớm mang công việc này giao cho y rồi! Theo Trẫm thấy Phú Cương lo tính công việc hàng ngày không bằng Tôn Sĩ Nghị, bởi vậy việc đánh dẹp tại An Nam Trẫm giao cho Tôn Sĩ Nghị cáng đáng. Huống đạo hành quân quyền lực quí ở chỗ chuyên nhất; Ô Đại Kinh với chức Đề đốc cầm quân, dễ dàng cho Tôn Sĩ Nghị tiết chế; nếu Phú Cương đi, hai bên đều là Tổng đốc, không tiện cho Tôn Sĩ Nghị chỉ huy; đi đến chỗ quyền lực không qui vào một mối; rồi công việc đến, hai bên nhìn nhau không ai chịu dưới quyền! Việc binh hết sức quan trọng, nay Trẫm giao cho Tôn sĩ Nghị một tay kinh lý; thành công được đặc biệt gia thưởng, nếu điều hành không ổn thỏa thì một mình Tôn Sĩ Nghị chịu trách nhiệm. Phú Cương hãy tuân theo chiếu chỉ trước, với phần vụ đàn áp kiểm tra tại vùng biên giới, lo liệu và chuyển vận lương thực, nhận được tin tức về nước này, hãy kịp thời tâu trình. Số quân điều đi 5000 tên giao cho Ô Đại Kinh chỉ huy, chịu dưới quyền điều độ tiết chế của Tôn Sĩ Nghị để đánh dẹp tại An Nam. Từ nay dùng quân Quảng Tây làm chính binh [lực lượng chính], quân Vân Nam làm thiên binh [lực lượng phụ], hai bên giữ thế ỷ dốc. Ô Đại Kinh sau khi xuất quan có thể đốc suất Thổ mục chiếm các tỉnh Tuyên Quang, Hưng Hóa, rồi hội với quân Quảng Tây thì rất tốt; nếu không làm được như vậy, thì cũng duy trì thế thanh viện đằng xa, để chia thực lực của giặc. Không nên tiến quá sâu, nghe tình hình quân Tôn Sĩ Nghị để tiến hoặc dừng đúng lúc. Theo Tôn Vĩnh Thanh tâu, Tôn Sĩ Nghị mang quân xuất quan vào ngày 28 tháng 10 [25/11/1788], trời quang mây tạnh, đội ngũ chỉnh tề, đó là điềm tốt báo sự thành công, chỉ đợi tin chiến thắng mau tới.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1316, trang 27-29)
Quân Thanh rời ải Nam Quan vào ngày 28 tháng 10 [25/11/1788], đến ải Chi Lăng vào ngày 7 tháng một [4/12/1788]; giữa giai đoạn này có một sự kiện xãy ra, đó là việc phía Tây Sơn sai viên Thông sự đem trả vài quan quân nhà Thanh bị tai nạn trên biển, trong đó có viên võ quan cấp thấp là Bả tổng Hứa Xương Nghĩa. Thời gian Vua Càn Long nhận tin này vào ngày 24 tháng một, thông thường lính chạy trạm theo lối hỏa tốc về kinh mất khoảng 22 ngày, như vậy sự việc xãy ra có thể vào ngày 2 tháng một năm Càn Long thứ 53 [29/11/1788], địa điểm ước tính tại thành Lạng Sơn, hoặc vùng phụ cận. Qua sự kiện Tây Sơn ung dung trả người bị nạn, và tin tức mới nhận về Trần Danh Bính chỉ trá hàng, khiến Vua Càn Long biết rằng việc An Nam không đơn giản; đóng quân lâu tại đó chắc phải sa lầy; do đó trong lòng sinh do dự, muốn thay đổi chính sách, trù tính đến giải pháp rút lui khi thời cơ không thuận lợi:
“Ngày 24 tháng Một năm Càn Long thứ 53 [21/12/1788].
Hành quân phải luôn luôn lưu ý ở mặt sau, đó là điều hết sức quan trọng. Theo Phan Khải Đức tâu rằng viên quan tại xứ Bắc [Kinh Bắc] tên là Trần Danh Bính ngầm xin hàng, nay lại liên lạc với ngụy quan Ngô Sở [Ngô Văn Sở] tiếp tục theo giặc, đóng đồn cố thủ. Bọn man di phản phúc thực đáng hận. Tuy nhiên duyệt qua bản đồ tiến quân, thì đại binh vẫn chưa đi qua xứ Bắc. Tương lai tiến đến nơi, nếu tên Trần Danh Bính mang quân ra kháng cự, quân ta quyết xông lên phấn kích bắt sống tên này chém đầu. Nếu sau khi tiến quân, Danh Bính lại ra xin hàng thì phải đề phòng bắt chém ngay. Bọn giặc ngụy trá nhiều cách, thường đột kích phía sau, Tôn Sĩ Nghị phải kịp thời lưu tâm đừng để sơ hở.
Còn việc số quân Tôn Sĩ Nghị mang đi, ngoại trừ lực lượng đóng đồn phòng thủ dọc đường, còn lại khoảng ngàn mấy trăm người, xét ra có phần đơn lẻ thiếu hụt; hãy đợi quan binh tới đầy đủ rồi tiến một lượt. Đạo quân Quảng Đông nội trong một hai ngày sẽ tới đầy đủ, lại giáng chỉ thúc dục Ô Đại Kinh từ Khai Hóa [Vân Nam] cấp tốc hội tiễu. Nếu Nguyễn Huệ hiện ở tại thành nhà Lê tức nằm trong lồng của ta rồi! Tôn Sĩ Nghị và Ô Đại Kinh hai mặt giáp công, bắt sống thủ phạm là việc gọn nhất.
Nguyễn Huệ cho người đưa dân bị gió bão trôi dạt trở về, Bả tổng (8) Hứa Xương Nghĩa tâu bọn chúng ngụy xưng rằng Lê Duy Cẩn là con của cố Quốc vương Lê Duy Diêu, theo thứ tự đáng lập; Lê Duy Kỳ [vua Lê Chiêu Thống] không biết hiện nay ở đâu, xin đem quyến thuộc y về nước và cầu xin Thiên triều bãi binh. Tôn Sĩ Nghị đem việc này hỏi viên Bồi thần Lê Quýnh được biết Duy Cẩn là người si ngốc nên bọn Nguyễn Huệ dễ bề lừa dối, bèn lấy danh nghĩa y gọi quyến thuộc Lê Duy Kỳ trở về để giết hại. Tôn Sĩ Nghị quở mắng tên Thông sự (9) rất nặng nề, danh chính nghĩa trực, đủ cho bọn tặc phỉ sợ hãi vở mật, đối xử như vậy rất hợp cách.
Duy Hứa Xương Nghĩa cho biết tại sông Phú Lương địch tạo thuyền lớn có gắn nhiều mái chèo hai bên, đặt hai ba chục cổ pháo. Đây là do bọn Nguyễn Huệ bày mưu mượn lời những người trở về để khoe khoang thực lực, ý đồ dùng kế hoãn binh. Tin này không tiện tuyên bố cho mọi người, vì phép hành quân cần tinh thần cao, sợ quân ta không xét hư thực tinh thần suy sụp, sao Tôn Sĩ Nghị không nghĩ tới việc này? Từ nay trở về sau nếu có tin tương tự về giặc phỉ, được xếp vào loại tối mật, không tuyên bố cho công chúng, những kẻ đưa tin phải giữ riêng, không để những lời thất thiệt làm mê hoặc lòng người.
Về việc nội loạn tại An Nam, nhân nước này thần phục Thiên triều đã lâu, hết sức cung thuận, nên không thể không can thiệp. Nguyễn Huệ là tên Thổ tù cậy mạnh chiếm đoạt, Lê Duy Kỳ lại không tự phấn chấn được, nên Tôn Sĩ Nghị xin mang quân xuất quan dẹp giặc. Duyệt các lời tâu cũng đều nhất trí nên gánh vác công việc diệt Nguyễn phù Lê, ý kiến rất chính đáng; nhưng phương thức lo liệu vẫn còn lo có sự khó khăn, mà công việc trù hoạch đòi hỏi sự vẹn toàn. Lần này nếu có thể phá sào huyệt, bắt đầu sỏ, tóm trọn Nguyễn Huệ cùng toàn bộ bè đảng, tảo thanh hậu hoạn cho nước này, đó là điều đẹp nhất. Chỉ lo bọn Nguyễn Huệ biết tội của chúng không thể tha được, thấy đại binh hùng mạnh bèn trốn tránh nơi xa xôi, cần tốn thời gian mới bắt được; mà đất An Nam đầy chướng khí, không đáng để Trung Quốc đem tiền lương binh lực, đóng nơi nóng bức hoang dã để phòng giặc cho thuộc quốc! Tôn Sĩ Nghị nên đợi thu phục thành nhà Lê xong, tuân theo chỉ dụ sắc phong cho Lê Duy Kỳ, bảo phải cố gắng tự cường, chọn các Thổ mục tin cậy cho giữ các ải quan trọng, ra lệnh cho các quan Trấn Mục đồng lòng cố thủ, vạch phương lược chống cự. Tôn Sĩ Nghị có thể triệt binh về nội địa, không nên đóng tại An Nam lâu. Nói tóm lại viên Tổng đốc mang quân đi lần này bắt sống được bọn Nguyễn Huệ đó là thượng sách; nếu không thì sau khi lấy được thành nhà Lê, khiến Lê Duy Kỳ thu phục được đất đai, không làm sai cái ý muốn “vỗ về nước nhỏ, nối dòng kế vị bị đứt” của Thiên triều đó là trung sách. Xem ra việc thu phục thành nhà Lê thì dễ thực hiện, còn việc bắt sống Nguyễn Huệ, hoặc để nó có thể chạy trốn nơi xa xôi; nếu Tôn sĩ Nghị cố gắng làm được việc trước, thì không phải lâm vào cảnh trở ngại phải lo liệu việc sau. Nếu tình thế không lo nổi thì hãy tâu ngay. Trẫm trăn trở tư duy, nếu hợp lý thì không do dự, sẽ cho chỉ thị rút lui đúng lúc, không phải lao vào chỗ nguy hiểm lâu ngày. Tưởng viên Tổng đốc là người hiểu việc, nếu thấy rằng việc đánh bắt Nguyễn Huệ cũng không đến nỗi khó, thì cũng không nên câu nệ chỉ dụ này, hãy làm cho xong việc. Nếu ngược lại có chỗ bó buộc, khó làm, thì cũng không ngại, đợi thu phục thành nhà Lê xong, cho Lê Duy Kỳ phục quốc; nếu quả Nguyễn Huệ chạy xa khó mà bắt sống, thì cứ sự thực tâu rõ, rồi mang binh về Lưỡng Quảng theo kế hoạch mà viên Đốc cho tốt; ý Trẫm chỉ muốn toàn vẹn mọi việc mà thôi.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục, quyển 1317, trang 13-17)
Đạo quân Vân Nam, khai là 5000, nhưng căn cứ vào lương thực mang đi cho 3 tháng, là 2 vạn 4 ngàn thạch lương, mỗi thạch tương đương 60kg, mỗi người lính mỗi tháng ăn khoảng 20 kg, có thể suy ra quân số là 2vạn 4 ngàn tên: 24000.60:3:20kg. = 24000 tên. Đạo quân này xuất phát tại Mã Bạch, thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam [bắc tỉnh Hà Giang]; theo dòng sông Lô, qua Tuyên Quang để đến thành Thăng Long. Đề đốc Ô Đại Kinh trực tiếp chỉ huy, Tổng đốc Phú cương đóng tại biên giới, lo lương hướng và yểm trợ:
“Ngày 27 Ất Dậu tháng Một năm Càn Long thứ 53 [24/12/1788].
Dụ quân cơ Đại thần: Trước đây Phú Cương [Tổng đốc Vân Nam và Quí Châu] khẩn khoản xin cùng với Ô Đại Kinh mang quân ra ngoài quan ải; đã xuống chỉ dụ ra lệnh làm công việc đàn áp kiểm tra tại biên giới, không được đích thân tiến sâu. Chắc Phú Cương chưa nhận được chỉ dụ, nên lại dâng tờ tâu này. Trẫm nghĩ rằng phép tắc hành quân, quyền lực tùy thuộc một người. Nay việc tiễu trừ giặc tại An Nam giao cho Tôn Sĩ Nghị chuyên quyền đảm trách, nếu Phú Cương mang quân xuất quan, thì cả hai cùng là Tổng đốc, chức vụ ngang nhau không ai chịu dưới quyền, không bằng Ô Đại Kinh với chức vụ Đề đốc cầm quân, dễ cho Tôn Sĩ Nghị điều khiển tiết chế. Việc quân hết sức quan trọng, Phú Cương hiện tại không nên tiến quân, nhận được chỉ dụ này tại bất cứ nơi nào, thì hãy rút về nơi gần biên giới để lo liệu công việc. Hiện tại số lương ăn cho lính viên Tổng đốc đã phát ra 2 vạn 4 ngàn thạch, giao cho các phu trạm vận tống để đủ ăn trong 3 tháng; nhưng từ Mã Bạch đến Tuyên Quang đường sá xa xôi, cần phải tiếp tế cho đều đặn đủ cho quân ăn, việc này Phú Cương phải đích thân đốc biện; nếu có sự chậm trễ thiếu sót viên Tổng đốc sẽ bị hỏi tội. Phú Cương đã mấy lần khẩn khoản xin mang quân đi, sợ Đàm Thượng Trung [Tuần phủ Vân Nam] nghe được tin này, bèn đến Khai Hóa để lo lo liệu về lương hướng. Như vậy, tỉnh lỵ là nơi tối quan yếu, Tổng đốc và Tuần phủ đều vắng mặt đi xa; công vụ tại địa phương không có ai lo liệu, việc lớn việc nhỏ đều làm không hợp cách. Nay truyền cho Đàm Thượng Trung không vì lý do Phú Cương xin mang quân ra khỏi quan ải, rồi tự tiện rời khỏi tỉnh lỵ, khiến công việc trở nên sai sót. Lại truyền cho Ô Đại Kinh hăng hái đôn đốc quan quân cùng các Hào mục tìm nơi đồn trú của bọn giặc để ra sức tiêu diệt, cùng tảo thanh đường sá, tiến thẳng đuổi dài, nhưng nhớ cẩn thận đề phòng mặt sau; phối hợp với Tôn Sĩ Nghị để hợp đồng công kích, một lần ra tay được thành công mỹ mãn.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục, quyển 1317, trang 23-24)
Ngày mồng 7 tháng 11 [4/12/1788] quân Thanh đến vùng Chi Lăng, mạn xuôi tỉnh Lạng Sơn, hầu như không gặp sự chống cự nào. Tuy nhiên do viên Bả Tổng Hứa Xương Nghĩa khai rằng có thuyền pháo phòng bị tại sông Hồng, nên Vua Càn Long góp ý với Tôn Sĩ Nghị về kế hoạch vượt sông này theo chiến thuật “ám độ”, tức tìm nơi sơ hở không phòng bị để vượt sông:
“Ngày 29 tháng một năm Càn Long thứ 53 [26/12/1788].
Dụ quân cơ Đại thần: cứ lời tâu của Tôn Sĩ Nghị mới đây cho biết ngày mồng 7 tháng 11 [4/12/1788] đại quân tới Chi Lâm [Chi Lăng], có để quân phòng giữ mặt sau; thế quân có phần cô đơn nên đợi quân Quảng Đông khoảng một hai ngàn tên tới tăng cường, sẽ chia đường tiến đánh. Viên Đốc tính liệu như vậy rất hợp cách, Trẫm không có gì phải lo lắng thêm. Trong vòng một vài ngày, quân Quảng Đông tới đầy đủ, Tôn Sĩ Nghị tập trung binh lực hùng hậu, đốc suất tiến đánh. Chỉ lo Nguyễn Huệ thấy quan binh thế mạnh, bèn trốn tránh nơi xa xôi, dựa vào đất hiểm để tử thủ; nếu tiến binh vây ngặt, bọn chúng như thú ở đường cùng chỉ biết chống lại mà thôi; khó ước định được ngày nào giải quyết xong công việc; thực không đáng giá để binh lực Thiên triều vì thuộc quốc lo tầm nã kẻ trốn tránh, phí phạm ngày giờ. Tôn Sĩ Nghị cần tuân thủ chiếu chỉ trước, sau khi thu phục thành nhà Lê xong, sắc phong cho Lê Duy Kỳ, rồi thu xếp ổn thỏa để triệt binh về Lưỡng Quảng.
Khi đại binh tiến đến thành nhà Lê phải vượt qua sông Phú Lương [Hồng Hà]; sông này giáp với thành nhà Lê, là khu vực hiểm yếu của nước này. Trước đây những người bị bão trôi dạt được đưa trở về, Bả tổng Hứa Xương Nghĩa khai rằng bọn Nguyễn Huệ dàn thuyền có gắn nhiều mái chèo dọc bờ sông, đặt mấy chục khẩu pháo để thị uy; việc này do bọn giặc hư trương thanh thế để làm kế hoãn binh, thực không đáng tin. Tuy nhiên sông Phú Lương là nơi hiểm yếu, bọn Nguyễn Huệ sợ đại binh đến đánh tất phải phòng bị chỗ này, đại quân khó có thể vượt sông theo hướng trực diện. Theo Trẫm nghĩ sông Phú Lương dài rộng, Nguyễn Huệ không thể dàn binh khắp mọi nơi. Khi Tôn Sĩ Nghị đem quân đến chốn này, nếu như giặc dàn binh bờ bên kia để chống cự, viên Tổng đốc nên đốc suất quân lính làm ra vẻ tấn công, để lôi kéo quân giặc dồn nỗ lực vào. Cùng lúc cho Hứa Thế Hanh mang một đạo binh đi vòng theo hướng hạ lưu, hay thượng lưu; nhắm chỗ giặc không phòng bị cấp tốc vượt sông, khiến giặc kinh ngạc coi như quan binh như từ trên trời hạ xuống; các đồn trại giặc dọc bờ sông sẽ tan vỡ bỏ chạy. Chiến thuật này sử sách gọi là “ám độ”, thực hành sẽ thấy hữu hiệu. Tôn Sĩ Nghị chắc đã lập kế hoạch như vậy; Trẫm tình cờ nghĩ đến bèn bảo cho hay để liệu tính tốt đẹp, xứng với sự ủy nhiệm.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục, quyển 1317, trang 25-28)
Sau đó không lâu quân Thanh vượt sông Thương [Bắc Giang] cũng không bị quân Tây Sơn chống cự đáng kể. Tôn Sĩ Nghi mang đại quân đến đóng tại núi Tam Tằng [huyện Việt Yên, Bắc Giang], lập kế sách vượt sông Cầu để tiến tới thành Thăng Long:
“Ngày 29 tháng Một năm Càn Long thứ 53 [26/12/1788].
Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị tâu rằng đại binh tiến quân tiễu trừ giặc, thế rất dũng mạnh. Giặc phòng thủ cẩn mật tại hai sông Thị Cầu [sông Cầu] và Phú Lương [sông Hồng], đang lập kế hoạch để vượt sông, một khi thành công thì thành nhà Lê không cần đánh cũng có thể phá được. Đại binh đã vượt qua sông Thọ Xương [sông Thương], hiện điều động 500 quân đóng đồn tại đây để phòng thủ. Quân hiện cách sông Thị Cầu không xa, lệnh quan binh cấp tốc tiến thẳng.
Chiếu chỉ phê: tốt, đang đợi cờ hồng báo tin chiến thắng, hãy rán lên!” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục, quyển 1317, trang 28
Chú thích:
1.Đô Long: trước kia thuộc Việt Nam, sau hoà ước Pháp Thanh sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc, hiện nay là thị xã Đô Long thuộc huyện Mã Quan, Vân Nam.
- Thủ tục cầu phong: phải cử Bồi thần sang kinh đô nhà Thanh tại Bắc Kinh dâng lễ vật để thỉnh phong, sau khi được chấp nhận, nhà Thanh cử Sứ thần sang phong; thủ tục nầy tốn rất nhiều thời gian.
3.Thạch: tương đương 120 cân, khoảng 60 kg.
4.Nguyễn Đình Mai: viên quan của Lê Chiêu Thống được cử đến gặp Tôn Sĩ Nghị. (Theo Hoàng Lê nhất Thống Chí trang 169)
5.Hoàng Văn Đồng: Phiên mục đóng tại Đô Long tỉnh Tuyên Quang, trước đây chống với chúa Trịnh.
6.Ỷ giác hay ỷ dốc: lối đóng quân ở hai địa điểm gần, có thể yểm trợ cho nhau được.
7.Nhu viễn: Kinh Thư, Thuấn Điển “Nhu viễn năng nhĩ” ý nói mềm dẻo nơi xa, để yên nơi gần.
8.Bả tổng: chức võ quan cấp nhỏ dưới thời nhà Minh, nhà Thanh.
9.Thông sự: viên thông dịch, liên lạc.