Lê Chiêu Thống [1787-1789]

Hồ Bạch Thảo
Tháng 2 năm Chiêu Thống thứ nhất [19/3-17/4/1787]. (Thanh, năm Càn Long thứ 52). Vua Lê dùng Phan Lê Phiên làm Bình chương sự; Trương Đăng Quỹ, Uông Sĩ Điển và Trần Công Xán làm Đồng bình chương sự; Phạm Đình Dữ và Nguyễn Huy Trạc làm Tham tri chính sự; Nguyễn Đình Giản làm Phó đô ngự sử. Nguyễn Hữu Chỉnh, sau khi trở lại thành Thăng Long nắm trọn guồng máy cai trị, nên đối với những việc bổ nhiệm quan chức và sắp đặt chính sự, phần nhiều cũng chiều theo ý của Chỉnh.
Nhà Vua bí mật bàn với bọn Nội hàn Ngô Vi Quý; định vời Chỉnh vào hầu nơi điện riêng bàn việc, rồi nhân dịp, đánh thuốc độc để giết đi. Một hôm Vũ Trinh vào, được nhà vua cho biết về việc này; Trinh cả sợ, nói: “Ai bày chước này cho bệ hạ thế? Tôi trộm lấy làm nguy đấy! Vì nay cường địch đang bức bách lăng loàn, những tin báo động ở nơi biên cương còn đang dồn dập gấp rút, triều đình chưa được hòa thuận, lòng người chưa được yên. Đáng lý ra bệ hạ nên dựa vào Chỉnh, dùng làm nanh vuốt, chứ sao lại bắt bóng dè chừng, chưa thấy hành tích lộ liễu, đã chực vội giết cường thần. Muôn một những kẻ dưới quyền của Chỉnh nỗi lên gây biến thì xã tắc sẽ ra sao?”. Nhà vua bừng tỉnh bỏ ý định; Chỉnh mong manh biết chuyện, từ đó bỏ luôn cả lễ triều yết nhà vua, buông thả cho những kẻ môn hạ muốn làm gì thì làm, hào kiệt bốn phương hết sức thất vọng.
Tháng 3 [18/4-16/5/1787] Nguyễn Hữu Chỉnh tâu xin nhà Vua phỏng theo lối thi đời Tống, đặc cách mở chế khoa. Bấy giờ có đến vài trăm người ứng thí, Trần Bá Lãm và Nguyễn Gia Cát đỗ Chế khoa xuất thân, cũng ngang như Tiến sĩ. Vua rất yêu chuộng văn học: cứ sáu ngày một lần cho giảng sách ở tòa Kinh Diên, mỗi ngày một lần cho làm giảng sách ở viện Nội Hàn.
Tháng 4 [17/5-14/6/1787] Nguyễn Nhạc tự xưng là Hoàng đế, đóng đô ở Quy Nhơn, phong cho em Nguyễn Lữ làm Đông định vương giữ Gia Định. Trước kia Nguyễn Nhạc về Nam, để tướng Nguyễn Duệ ở lại trấn giữ Nghệ An. Kịp khi Bình định vương Nguyễn Huệ có hiềm khích với Nguyễn Nhạc, dùng binh đánh lẫn nhau; Duệ cho mình là tướng cũ của Nhạc, e bị Nguyễn Huệ làm hại nên ngầm cấu kết với cựu Tham nghị Nguyễn Đình Viện, sai lén tư thông với Nguyễn Hữu Chỉnh, hẹn cùng nhau chung sức để đánh Nguyễn Huệ. Đình Viện đến kinh đô, nói ý đó với Hữu Chỉnh; Chỉnh chần chừ không trả lời. Duệ sợ mưu ấy tiết lộ, bèn dặn Đình Viện đóng giữ Nghệ An, còn mình thì đi đường tắt trốn về Qui Nhơn với Nguyễn Nhạc. Nguyễn Thuyên bộ tướng của Duệ không theo, đánh lại Đình Viện. Viện cô thế, cùng các con và rễ chiến đấu, đều chết. Lúc Nguyễn Huệ thôi vây Nguyễn Nhạc kéo quân về Phú Xuân, bèn sai người vời Hữu Chỉnh, nhưng Chỉnh từ chối không đến, lấy cớ rằng bốn trấn chưa yên. Văn Huệ cả giận, sai Vũ Văn Nhậm tiết chế các quân thủy và bộ, kéo ra đóng giữ Nghệ An; mộ binh lính, thu lương thực tính việc lấy Bắc Hà.
Nhân anh em Nhạc, Huệ bất hòa, Vua Chiêu Thống bèn sai Hoàng thân Lê Duy Hiên [ông chú Vua], cùng Đồng bình chương sự Trần Công Xán, Hộ khoa cấp sự trung Ngô Nho mang thư đi sứ Tây Sơn, lấy cớ Nghệ An là đất căn bản trung hưng, xin thu phục đất này. Trần Công Xán, trước kia là thầy học của Nguyễn Hữu Chỉnh, khi Nguyễn Huệ đến Thăng Long, Chỉnh dẫn Công Xán đến yết kiến, khi nói chuyện Nguyễn Huệ rất vừa ý. Nay Công Xán xin đi, Ngô Nho được cử đi cùng. Khi đến nơi, Bắc bình vương Nguyễn Huệ xem thư, rất giận; bèn giam bọn Duy Hiên và Công Xán vào ngục, sau đó ra lệnh cho ngâm xuống sông, rồi báo rằng khi sứ bộ trở về thuyền bị đắm, chết đuối.
Tháng 5 [15/6-14/7/1787], Dương Trọng Khiêm bị giết. Trước kia, Trọng Khiêm theo Trịnh Bồng sang Kinh Bắc, rồi cùng với cháu là Dương Vân và môn sinh là Nguyễn Mậu Nễ mộ quân đóng ở Gia Lâm [Bắc Ninh], đắp lũy từ Như Kinh đến Phú Thị. Trọng Khiêm lại truyền hịch đi các huyện hẹn nhau khôi phục cơ nghiệp Chúa Trịnh. Nguyễn Hữu Chỉnh sai tướng là bọn Hoàng Viết Tuyển đi đánh; Viết Tuyển xua quân rầm rộ tiến lên, bốn mặt cùng bắn gấp. Bị bại trận, Trọng Khiêm đang đêm lẫn trốn, bị dân xã Ngọc Xá [huyện Cẩm Giàng, Hải Dương] bắt được, giải đến kinh đô. Nhà Vua hạ chiếu kể tội Trọng Khiêm, giết chết ở nhà Thái học.
Tháng 8 [12/9-10/10/1787], Hoàng Phùng Cơ ở Sơn Tây, mưu toan mang quân vào bảo vệ kinh thành, bèn truyền hịch đi các lộ Quảng Oai, Quốc Oai, nêu rõ danh nghĩa dấy quân để giết Nguyễn Hữu Chỉnh. Hữu Chỉnh sai tướng là Nguyễn Duật đón đánh ở xã Đại Phùng [huyện Đan Phượng, Sơn Tây], tự mình điều đại quân tiếp chiến. Phùng Cơ giao phong với Nguyễn Duật, Duật kéo quân rút lui. Con Phùng Cơ là Gia, khuyên Phùng Cơ nên nhân đà thắng lợi, ruổi thẳng đến kinh thành; nhưng Phùng Cơ không nghe, nói: “Việc bắt Hữu Chỉnh, ta coi cũng như bắt một con nít thôi. Hãy tạm nghĩ, rồi đuổi cũng chưa muộn “. Duật ngoái nhìn không thấy quân Phùng Cơ đuổi theo, liền dàn thành trận thế tiến lên phía trước. Quân Phùng Cơ đương ăn, không kịp trở tay tan chạy. Phùng Cơ cùng với con trai, trơ trọi trên mình voi, cố sức chiến đấu, bị quân của Duật bao vây bốn mặt. Hữu Chỉnh lại ập đến, phất cờ thúc quân Thiết đột bắn tập trung vào Phùng Cơ. Từ trên bành voi nhào xuống, Phùng Cơ bị bắt và điệu về kinh đô. Khi sắp đem chém, nhà Vua cho rằng Phùng Cơ trước kia, có công đánh lui Mậu Nễ, nên cho Phùng Cơ uống thuốc độc chết.
Trước đây, Trịnh Bồng chạy đến Quế Ổ [Bắc Ninh], Nguyễn Hữu Chỉnh sai bọn Nguyễn Như Thái đi đánh; Bồng thua, chạy đi Hải Dương. Đinh Tích Nhưỡng đưa Bồng lên làm bù nhìn; mộ quân ở miền ven biển như Vân Đồn [Quảng Ninh], và Đồ Sơn [Hải Phòng], được đến vài vạn người và hơn trăm chiếc thuyền, tiến đóng ở Bác Trạch [huyện Kiến Xương, Thái Bình] thuộc Sơn Nam. Bấy giờ Lân Dương hầu Phạm Đình Thiện cũng mưu tính đón Bồng để hiệu triệu hào mục, cùng dấy quân đánh Hữu Chỉnh.
Hữu Chỉnh sai Hoàng Viết Tuyển, trấn thủ Sơn Nam, đem nhiều quân và chiến thuyền đi đánh. Khi Viết Tuyển kéo đến sông Ngô Đồng [huyện Đông Hưng, Thái Bình], thì Đình Thiện và Tích Nhưỡng đem các thuyền biển ra nghinh chiến. Bấy giờ gió đông nam thổi lộng, bọn Đình Thiện đổ bộ, muốn nhân chiều gió xuôi để giao chiến, nhưng quân lính đều ô hợp, không có tinh thần chiến đấu. Khi đã lên cạn, quân lính tranh cướp lấy đường mà chạy, do đó quân đều tan vỡ. Viết Tuyển nhân đó đánh bại được; Tích Nhưỡng chỉ chạy được thoát thân. Đình Thiện đem Bồng chạy đi Đông Quan [huyện Đông Hưng, Thái Bình]; có hào mục vùng này là Trần Mạnh Khuông họp quân lại để tiếp ứng Bồng, rồi đem Bồng vào đóng đồn ở Bái Hạ [huyện Thái Thụy, Thái Bình], đắp lũy, đào hào, làm kế tử thủ. Bọn Viết Tuyển đi đánh vài tháng không hạ được, tình hình trong quân hơi nao núng. Đến đây, nhà Vua bàn với Hữu Chỉnh: “Nay ta diệt trừ nạn lớn, dẹp yên được cả những bọn tiếm loạn, riêng còn Mạnh Khuông chiếm giữ thành lũy trơ trọi, ngang ngạnh chống cự. Các trấn tướng khác đều nhìn vào đó mà cân nhắc hơn kém đấy. Nếu chưa phá được huyện Đông Quan thì không lấy gì để khống chế và thu phục được thiên hạ“. Nhà vua bèn sai hoàng đệ Duy Trù đem thân quân cấm vệ đi đốc chiến và dùng Nội hàn Bùi Dương Lịch làm tham tán việc quân. Bọn Viết Tuyển hay tin Duy Trù sắp đến, e công lao sẽ không về mình, bèn cùng Nguyễn Như Thái hợp quân đánh kẹp lại, xông vào lũy; Mạnh Khuông phải chạy đi Tứ Kỳ [Hải Dương]. Viết Tuyền tung quân ra đốt và cướp, khiến cho một dãy ven sông huyện Đông Quan trở thành đất trọc. Trịnh Bồng chạy đi Yên Quảng, rồi ở đậu tại Lạng Sơn bị thổ dân xua đuổi, bèn trốn về Hữu Lũng [huyện Lạng Giang, Bắc Giang]; sau không rõ chung cục ra sao.
Tháng 10 [10/11-8/12/1787] Lưu Tiệp, Đốc trấn Cao Bằng, giết Đốc đồng Nguyễn Hàn và gia quyến. Trước kia, Nguyễn Hàn nhận lãnh mật chỉ của nhà Vua, chiêu dụ phiên mục ở trấn Cao Bằng; Lưu Tiệp lại vâng mệnh lệnh Chúa Trịnh Bồng, mộ sẵn quân lính, đợi để cử sự. Do đấy, trong một trấn chia làm hai đảng, coi nhau như thù địch. Tiệp ngầm sai kẻ phiên thuộc giả vờ làm phản theo phe Nguyễn Hàn, rồi đích thân đem quân vây đánh doanh trại của Hàn. Hàn sai chạy ngựa trạm đưa thư cấp báo với triều đình về những biến cố đã xảy; Tiệp cũng tâu trình rằng Nguyễn Hàn làm phản. Triều đình bàn xin dùng Xu viện Nguyễn Đình Tố và Nguyễn Huy Túc lên thay, và gọi bọn Tiệp về triều. Nhưng khi Tố chưa đến trấn Cao Bằng thì Hàn đã bị Tiệp giết chết, cả nhà Hàn đều bị hại. Sau đó, Tiệp đến kinh đô; nhân gặp lúc đang loạn, nên việc này bỏ qua, không xét hỏi đến.
Tháng 11 [9/12/1787-7/1/1788] Bắc bình vương Nguyễn Huệ lại sai tướng Ngô Văn Sở hiệp sức với Vũ Văn Nhậm cùng ra đánh Bắc Hà. Văn Nhậm khi qua Thổ Sơn [huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa], Nguyễn Duật Trấn thủ Thanh Hóa không dám chống cự, phải lui giữ sông Trinh Sơn [huyện Hà Trung, Thanh Hóa]. Văn Nhậm tiến quân đóng ở bờ phía nam, trước đó sai Văn Sở do đường sơn cước, lén qua sông Mã, đánh úp phía sau quân của Duật; Duật bại trận, bị giết. Văn Nhậm thừa thắng, qua đèo Ba Dội [giáp giới Thanh Hóa, Ninh Bình], thẳng tiến đến bến đò Gián [huyện Gia Viễn, Ninh Bình] .
Nguyễn Hữu Chỉnh bèn điều bát hơn hai vạn quân ở các đạo, sai Nguyễn Như Thái làm tướng chỉ huy. Như Thái sai tướng khác giữ bến đò Gián, còn chính mình thì tự kéo đại quân đo đường tắt ra bến Nghệ [huyện Gia Viễn, Ninh Bình], đánh úp vào phía sau. Bấy giờ Như Thái gặp tướng giặc là Quỳnh ở Điểm Xá [huyện Gia Viễn, Ninh Bình], cùng nhau giao chiến, Như Thái bị đại bại phải chạy đi Sơn Miêng, sau bị quân địch bắt được, giết chết. Quân Tây Sơn tiến đến sông Thanh Quyết [huyện Gia Viễn, Ninh Bình].
Tin báo về, kinh thành hoang mang; Hữu Chỉnh vội vàng xin xuất quân để chống cự. Nhà vua ngự ở trong điện, trao cờ tiết mao và cây phủ việt cho Chỉnh và bảo Chỉnh rằng: “Khanh đi chuyến này là quan hệ đến sự an nguy của xã tắc. Khanh gắng sớm lập được công lớn để yên ủi lòng trẫm“. Hữu Chỉnh thưa: “Văn Nhậm không phải là tay địch thủ với thần. Thần chỉ xin đứng đốc chiến, sai một tì tướng đi hạ Văn Nhậm cũng đủ rồi“. Bấy giờ điều bát hết quân lính thành Thăng Long và các đạo khác, đều thuộc quyền Nguyễn Hữu Chỉnh, tất cả hơn 30.000 người, đóng ở bờ sông Thanh Quyết [huyện Gia Viễn, Ninh Bình], đắp lũy ven sông làm kế cố thủ. Lại sai Hữu Du đem hơn 50 chiếc chiến thuyền chở hết các chiến cụ như đại pháo và hỏa khí đỗ ở cửa sông đối diện với địch. Hữu Du dựa vào ven bờ đỗ thuyền, không phòng bị. Quân địch ban đêm, ngầm bơi sang, dùng thừng chão dài buộc thuyền quân Hữu Du kéo qua bờ phía nam; mọi người trong thuyền sợ hãi, họ tranh nhau nhảy xuống nước để chạy trốn; số đại pháo trong thuyền đều bị địch tước hết. Hữu Chỉnh bàn với các tướng, lui về giữ Châu Cầu [Hà Nam]. Nữa đêm, nổi trống thu quân; các quân hoảng sợ, do đấy đỗ vỡ tan tành, tranh nhau chạy, dẫm đạp lẫn nhau; khí giới nghi trượng quăng bỏ đầy đường. Hữu Chỉnh và Hữu Du chỉ kịp đem vài trăm quân chạy về thành Thăng Long.
Tháng 12 [8/1-6/2/1788], nửa đêm Nguyễn Hữu Chỉnh từ Thanh Quyết về. Nhà vua sai vời đến mấy lần, nhưng Hữu Chỉnh không đến, chỉ bí mật ủy thác cho Tham tri chính sự Nguyễn Khuê vào tâu, mời nhà vua đi sang Kinh Bắc và nói: “Nguyễn Cảnh Thước ở Kinh Bắc là người hùng mạnh và có mưu lược, đáng tin cậy, ta hãy giữ lấy Kinh Bắc làm thế thủ, vì tại đó có thành bền vững, có sông Cái ngăn cách. Rồi kịp kêu gọi lấy quân Cần Vương thì có thể bắt thông khí mạch với các xứ: trên từ Thái Nguyên, Sơn Tây, dưới đến Hải Dương và Sơn Nam, chẳng bao lâu đại binh có thể tập hợp lại, rồi sau ta sẽ liệu thời cơ mà hành động, bấy giờ mới phục hưng được“. Nhà Vua nghe theo, sáng hôm sau sai hoàng đệ Duy Trù, Duy Chi hộ tống Hoàng thái hậu, hoàng phi, cùng gia quyến đi trước lên Cao Bằng. Bấy giờ các bầy tôi thị vệ đều lén tản đi, Vua lo sợ, chưa biết tính ra sao; Thị thần Bùi Dương Lịch tâu rằng: “Hữu Chỉnh dẫu thua trận, vỡ quân, nhưng thủ hạ còn nhiều, người ta còn biết sợ; vậy xin nhà vua truyền chỉ dụ, sang bên nhà Chỉnh, ép Chỉnh đi theo hộ giá, rồi lâm thời sẽ kêu gọi mọi người, chắc rằng còn chưa đến nỗi đơn chiếc trơ trọi“. Nhà vua cho là phải, cùng bọn nội thần là Nguyễn Quốc Đống và Nguyễn Khải đi đến nhà Hữu Chỉnh. Nhà Vua vào, dụ bảo Chỉnh đi theo hộ giá, Chỉnh thu lượm được vài nghìn tàn quân, hộ vệ nhà Vua qua sông. Lúc chiều tà, Vũ Văn Nhậm xua quân vào chiếm cứ thành Thăng Long.
Vua đến Kinh Bắc, Trấn thủ Nguyễn Cảnh Thước, trước đó, đã bí mật theo Tây Sơn; đến nay đóng cửa thành, cáo bệnh không ra đón tiếp. Nhà vua và Hữu Chỉnh bối rối, vội qua đò sông Nguyệt Đức [sông Cà Lồ]; đi theo nhà vua chỉ còn 6, 7 người văn thần là bọn Nguyễn Đình Giản, Phạm Đình Dữ, Chu Doãn Lệ, Trương Đăng Quỹ và Vũ Trinh mà thôi. Cảnh Thước tung thủ hạ ra chặn đường, cướp bóc những kẻ đi theo ngự giá, chúng lại đuổi theo để cướp áo bào; nhà Vua rớt nước mắt, phải cởi ra, trao áo cho chúng. Khi nhà Vua qua huyện Yên Dũng [Bắc Giang], Nguyễn Thảng, tri huyện huyện ấy, tuổi đã 60, đem binh dân hộ giá, xin giữ sông Xương Giang làm căn cứ bền vững, lại xin giết Cảnh Thước và giữ lấy Kinh Bắc để toan tính công cuộc khôi phục. Nhà vua khen là hăng hái, phong Thảng là Lại khoa cấp sự trung.
Nhà Vua đến Yên Thế [Bắc Giang], Dương Đình Tuấn, thổ hào Mục Sơn [huyện Yên Thế, Bắc Giang], đem quân và dân đi lạy đón nhà Vua ở bên đường. Trước kia, Đình Tuấn là tay hào phú, nổi lên làm đầu sỏ lộ Lạng Giang; những kẻ trốn tránh đều dựa vào Đình Tuấn lấy đó làm tổ ẩn núp; triều đình bỏ qua, không xét hỏi. Đến đây, có chiếu chỉ cần vương. Đình Tuấn lấy làm cảm kích, vâng mệnh lệnh đến trước để bảo vệ, được nhà vua đặc cách phong là Bình khấu tướng quân.
Nhà vua đóng ở Mục Sơn, Nguyễn Văn Hòa, bộ tướng Tây Sơn đuổi kịp. Vua thân chinh cầm quân cự chiến; Dương Đình Tuấn giữ ở bên tả núi, Nguyễn Hữu Chỉnh giữ ở bên hữu núi, quân địch dàn trận tại cánh đồng ở giữa. Đình Tuấn xuống núi để xung kích, Văn Hòa bí mật chia một toán quân cho đi vòng ra phía sau núi, đánh úp, quân Hữu Chỉnh rối loạn, tự tan vỡ, Hữu Chỉnh bị bắt. Đình Tuấn thua chạy, hai con đều chết ở trận. Thị sư Nguyễn Khuê cũng các quân còn sót lại, hộ vệ nhà Vua chạy đến sơn trại Bảo Lộc [huyện Lạng Giang, Bắc Giang]. Nguyễn Văn Hòa điệu Nguyễn Hữu Chỉnh về Thăng Long; Vũ Văn Nhậm kể tội Hữu Chỉnh là kẻ bất trung, sai xé xác Hữu Chỉnh ở cửa thành để rao cho mọi người biết.
Sau khi Nguyễn Hữu Chỉnh đã thua, thuộc tướng là Hoàng Viết Tuyển vì có vợ con để ở phần đất Tây Sơn, nên đóng quân yên một chỗ, không hành động; định tâm đợi Nguyễn Huệ đến, sẽ xin đầu hàng. Nguyễn Viết Khang, trấn thủ Yên Quảng, được tin Thăng Long thất thủ, bèn đem thủy quân đến Sơn Nam hội với Viết Tuyển, tôn viết Tuyển làm Thống soái, họp quân lại để đánh Tây Sơn. Viết Tuyển chần chừ, không quả quyết, Viết Khang rút gươm, gào khóc, nói: “Kinh thành thì thất thủ, vua cha thì lặn lội trong đám bụi trần: ấy là lỗi ai? Hiện nay, dưới quyền tướng quân, những người bộ hạ đều có lòng hăng hái, vậy không đánh còn đợi gì?” Tướng tá của Viết Tuyển cũng hầm hầm trừng mắt nhìn. Bất đắc dĩ, Viết Tuyển bèn cùng Viết Khang kéo quân từ Vị Hoàng [thị xã Nam Định] đến cửa sông Luộc [huyện Tiên Lữ, Hưng Yên]. Bấy giờ, tướng Tây Sơn tên là Quỳnh, đóng giữ Hiến Doanh [huyện Tiên Lữ, Hưng Yên] (1), được tin quân Viết Tuyển sắp kéo đến, bèn đem hơn 200 chiếc vừa chiến thuyền vừa thương thuyền, đưa hết bộ binh xuống thuyền để nghênh chiến. Bọn Viết Tuyển chia thuyền biển làm mười hàng, đầu thuyền đặt khẩu pháo lớn luân chuyển lần lượt cùng bắn ra, phá hoại luôn được hơn mười chiếc thuyền địch. Viết Khang nhân chiều gió thuận, buồm giương căng, xông thẳng sang; thuyền địch nhỏ đỗ vỡ tan tành, quân địch bỏ hết thuyền bè và khí giới, nhào xuống nước lẫn trốn. Quỳnh chỉ kịp chạy thoát thân, về Hiến Doanh đóng cửa lũy cố thủ. Bọn Viết Tuyển chia quân ra đánh, thanh thế quân sĩ rất lừng lẫy. Ở Sơn Nam nhiều hào kiệt hưởng ứng; dân chúng đều cung đốn tiền của, lương thực giúp vào việc quân. Văn Nhậm được tin Quỳnh thua, kéo đại binh ở Thăng Long đến cứu viện, đắp thêm lũy ở đê sông Nhị, hồ Bán Nguyệt [huyện Kim Động, Hưng Yên] để phòng thủ; Viết Tuyển vây đánh mãi không hạ được.
Bấy giờ Vũ Văn Nhậm sai một tướng khác từ Thăng Long, do đường bộ Châu Cầu [Hà Nam] đi tắt xuống Vị Hoàng để vây phía sau quân Viết Tuyển. Lại sai Chiêu viễn tướng quân Nguyễn Dũng đem quân từ Hải Dương đánh chiếm lấy phủ Thái Bình. Viết Tuyển sợ rằng một khi đường bộ mất, thì thủy quân khó lòng giữ vững một mình, bèn rút quân về Vị Hoàng [thị xã Nam Định] lo cầm cự.
Năm ngoái lúc Vua Lê Chiêu Thống lên ngôi; có những việc bất thường xãy ra như quốc ấn bị mất, ông nội nhà Vua qua đời. Sự việc tâu sang triều Thanh, Vua Càn Long sai Quân cơ đại thần soạn văn thư thay cho Tổng đốc Lưỡng Quảng vặn hỏi mấy điều như: Quốc ấn mất, phải chăng do thổ hào làm loạn rồi nhất thời hoảng hốt để mất hoặc do có kẻ đoạt rồi cất dấu; quốc ấn tại sao không do Quốc vương nắm giữ, lại ở nơi Trịnh Tông:
“Ngày 23 Kỷ Sửu tháng 5 năm Càn Long thứ 52 [7/7/1787]. Dụ các Quân cơ đại thần:
Bọn Tôn Sĩ Nghị tâu: Tiếp nhận được văn thư của Lê Duy Kỳ,cháu Quốc vương An Nam Lê Duy Diêu, xưng viên Phụ chính nước này tên Trịnh Đống [Trịnh Khải] (2), tự tiện ra uy tác phúc. Vào tháng 5 năm ngoái có Thổ hào đất Tây Sơn [Nguyễn Huệ] xâm nhập đô thành, Trịnh Tông bỏ chạy bị bắt, mất cả quốc ấn. Rồi ông nội y là Lê Duy Diêu [Vua Lê Hiển Tông] bị bệnh mất, cha y mất sớm; duy y là Lê Duy Kỳ, cháu đích tôn, tạm quyền coi việc nước. Nay gửi văn thư xin tạm cấp vật làm tin, từ nay trở về sau gặp việc đề tấu, dùng để làm bằng. Nhân trong văn thư có nhiều điểm nghi hoặc, nên không tiện y theo điều xin; hiện đã soạn bản thảo tờ hịch để cật vấn.
Trước hết đáng làm như vậy. An Nam đời đời là nước Phiên thần phục rất cung thuận, nước này có việc bị Thổ hào xâm nhiễu, làm mất ấn tín; bấy giờ Quốc vương Lê Duy Diêu còn sống, tại sao không gửi văn thư sang xin, lại đợi đến bấy giờ mới báo? Huống ấn tín do Quốc vương nắm, tại sao không ở chỗ Quốc vương, lại chuyển cho Trịnh Tông quản lý; để đến lúc Thổ hào xâm lược, Trịnh Tông xuất bôn bị bắt, rồi mất quốc ấn; trong đó sợ còn những tình tiết riêng, đáng phải truyền hịch tra hỏi, đợi phúc đáp rồi mới ước lượng biện lý. Còn việc Lê Duy Diêu bị bệnh mất, nước này chưa có văn thư xin đề đạt lên, nên trong hịch văn lần này viên Tổng đốc không nên đề cập đến việc thay mặt tâu dùm. Hiện nay đã ra lệnh cho Quân cơ đại thần đưa bản thảo ra sửa, rồi qua Trẫm cải định như sau:
‘ Hiện cứ người cháu nối dõi nước này là Lê Duy Kỳ gửi văn thư cho biết Phụ chính Trịnh Tông chuyên quyền tự ban uy phúc, vào tháng 5 năm Càn Long thứ 51 [1786] Thổ hào Tây Sơn xâm nhập đô thành, Trịnh Tông xuất bôn bị bắt, làm mất quốc ấn. Vào ngày 17 tháng 7 [10/8/1786] năm đó ông nội Kỳ mất, cha của Kỳ thì mất sớm, Kỳ là cháu nối dõi tạm quyền lo việc nước; chưa từng đưa chuyên viên đến kinh khuyết cáo ai xin mệnh. Nay gửi văn thư xin chuyển đạt lên Thiên tử và xin tạm cấp tín vật làm bằng, để bản quốc từ nay trở về sau, gặp việc đề tấu, có thể dùng đó để xét nghiệm.
Căn cứ vào tình trạng như vậy tra xét rằng ông ngươi thờ Thiên triều hết sức cung thuận, đại Hoàng đế cúi xuống xét lòng thành, từng ban thêm ơn; nay hốt nhiên bị bệnh mất, nếu có lời tâu đến tất nhiên đại Hoàng đế sẽ ban nhiều ân vinh. Nhưng theo lời tâu của ngươi thì vào tháng 7 năm ngoái ông ngươi bị bệnh mất, lúc đó đáng gửi văn thư sang để được phúc chuẩn cho gửi Bồi thần đến kinh khuyết cáo ai, xin được phong cho người thừa tập, ngõ hầu không mất huân công, đời đời giữ nước; lại làm sáng tỏ ơn trạch của Thiên triều. Cớ sao trãi qua 1 năm, đến hôm nay mới có văn thư xin nhờ tâu dùm! Lại cứ theo văn thư gửi đến cho biết Phụ chính Trịnh Tông tự ban uy phúc, để cho Thổ hào Tây Sơn xâm nhập đô thành, rồi Trịnh Tông xuất bôn bị bắt; bị phe nọ phe kia hiềm ghét thù giết. Nhưng ấn tín nước ngươi, đáng phải do ông ngươi cầm giữ, tại sao lại để nơi Trịnh Tông rồi thì đánh mất, điều đó do kỷ cương nước ngươi không được rõ ràng. Vả lại tháng 5 năm ngoái ông ngươi lúc đó vẫn còn, tại sao không lập tức đem nguyên do việc mất ấn cứ theo sự thực đề báo. Lại nghĩ rằng ngươi, tự tôn, chưa dâng bản cáo ai, chưa phụng chỉ kế thừa, lại xin cấp tín vật để làm bằng, thực không có thể chế như vậy; nên ta, Ðại thần được phong đất, không dám tự tiện làm việc này.
‘ Vả lại việc nước ngươi đánh mất quốc ấn, phải chăng do thổ hào gây loạn rồi nhất thời hoảng hốt để mất? Hoặc do có kẻ đoạt rồi cất dấu, nước ngươi cần làm áp lực để bắt nạp? Quốc ấn tại sao không do ông ngươi nắm giữ, lại ở nơi Trịnh Tông? Trong văn thư chưa phân tích minh bạch. Nếu tâu lên đại Hoàng đế, bị hỏi đầu đuôi căn do, không có bằng chứng để phúc đáp, thì chịu tội không nhỏ, như vậy làm sao dám tâu lên một cách khinh suất để xin ơn. Sự việc mất quốc ấn cần phải điều tra thêm, nên viết hịch này để dụ tự tôn nước này tuân theo, khi văn thư đến lập tức tâu rõ ràng đầu đuôi việc ấn đã mất hay còn, hoặc đang tìm, hoặc đang còn truy bức bắt nạp để giữ đời đời; mới có thể chiếu theo sự tình tâu dùm, để lãnh chiếu chỉ tuân hành.’
Viên Tổng đốc hãy tuân theo trên mà truyền hịch ban hành.” ( Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục 1281 trang 16-18)
Sau khi phía Vua Lê thành thực trả lời, Vua Càn Long tỏ vẻ bằng lòng, bèn mở đường bằng cách cho đem 2 việc xin phong và cấp ấn gộp làm một, rồi chọn Bồi thần dâng bản đề đạt lên, để được chấp thuận:
“Ngày 19 Quí Mùi tháng 9 năm Càn Long thứ 52 [29/10/1787]. Dụ các Quân cơ đại thần:
Duy Kỳ về việc mất quốc ấn. Nhân nội dung của tờ trình không đề cập đến việc sai Bồi thần đưa bản trần tình thỉnh phong, nên chưa tiện chấp thuận theo lời xin; cùng đem bản thảo hịch dụ An Nam trình lên. Việc làm đúng, tuy nhiên Tôn Sĩ Nghị liệu biện việc này chưa hoàn toàn chu đáo. Nước này xin cấp ấn tín, cần phải cung kính sai Bồi thần dâng bản trần tình mới phù hợp với thể chế. Tuy nhiên nghĩ rằng nước này thần phục triều ta hết sức cung thuận, Lê Duy Diêu bị bệnh mất, cháu của y tất phải xin phong; nếu sai quan đến xin cấp quốc ấn, lại tiếp dâng bản trần tình xin phong, không khỏi phải lặn lội đi về mấy lần. Như vậy đáng đem 2 việc xin phong và cấp ấn, sai quan trần tình 1 lần; làm như vậy biểu thị tấm lòng thể tuất nước phiên xa xôi. Nay lệnh Quân cơ đại thần đưa dụ văn sửa lại, để viên Tổng đốc gửi cho Lê Duy Kỳ [Lê Chiêu Thống] dụ rằng:
‘Chuẩn nhận lời phúc tấu của viên Tự tôn Lê Duy Kỳ được biết rằng Quốc vương ông của ngươi, cuối đời già yếu; họ Trịnh lộng quyền lấy ấn giữ riêng. Rồi Tây Sơn xâm nhiễu, trong cơn binh lửa, không biết quốc ấn đã thất lạc tại nơi nào; cũng không phải có người lấy trộm riêng, nhưng đã cho tìm kiếm bốn phương nhưng không gặp. Rồi mấy chục ngày sau, ông ngươi bị bệnh nặng, Tây Sơn mang binh rút lui, mối nghiệt họ Trịnh thừa lúc không hư mà dấy lên, mấy tháng sau mối loạn mới bắt đầu yên. Việc mất ấn tại nước ngươi không tìm ra, rồi ông ngươi bệnh mất, việc tấu báo trì trệ, duyên do thì ta đã hiểu rõ. Nhưng nghĩ rằng ông ngươi bị bệnh mất, nước ngươi chưa sai người sang cáo ai, do đó đại Hoàng đế chưa từng nghe biết việc thừa tập, như vậy làm sao ta có thể thay mặt mà cầu xin. Vả lại ngươi Tự tôn, chưa được phong nối chức, danh hiệu chưa định; lấy văn bản tự dạng nào để làm bằng chứng, sự lý chưa thuận, trở ngại khó mà trình tâu. Ngươi Tự tôn đáng một mặt cung kính sai Bồi thần đến kinh khuyết cáo ai, trong văn bản trình bày duyên cớ bị trì trệ, xin đại Hoàng đế rũ lòng xem xét, một mặt xin ân mệnh chuẩn cho ngươi Tự tôn kế tục làm ngoại phiên, vĩnh viễn nối dòng; lại đem đầu đuôi sự thực việc mất ấn trình bày, đại Hoàng đế sẽ nghĩ đến việc tổ tiên ngươi làm bầy tôi hết sức cung thuận, tất sẽ ban ơn cho nối dõi, sắc cho bộ cấp triện ấn để làm sáng rõ, đời đời giữ lấy. Phàm cáo ai cầu phong, là việc đại sự của nước ngươi; mất ấn xin đúc bù vào là việc quan trọng thứ hai thuộc vào loại ân sủng lớn phi thường; làm sao Bản bộ viện (3) dám cầu xin thay! Huống Quốc vương ông ngươi đã bị bệnh mất, ngươi Tự tôn Lê Duy Kỳ thì chưa xin phong, tất phải cung kính sai Bồi thần thành khẩn tâu lên; nếu như sau khi sai quan xin cấp quốc ấn, lại sai người dâng bản trần tình xin phong, không khỏi phải lặn lội đi về, trái với lòng Thiên triều thể tuất nước phiên xa xôi. Ngươi Tự tôn đáng phải đem 2 việc xin phong và cấp ấn gộp làm một, rồi chọn Bồi thần dâng bản đề đạt lên, ngõ hầu được ơn quyến luyến, không làm mất huân công trước.’
Viên Tổng đốc hãy tuân theo, chép rành rẽ rồi đem truyền cho hay biết.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông thực Lục quyển 1289, trang 6-8)
Phía nhà Thanh cẩn thận tìm cách vô hiệu hóa ấn cũ; Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị đề xuất khắc thêm 2 chữ “Bổ cấp” vào ấn mới, nhưng triều đình cho rằng không hợp thể chế. Bèn quyết định rằng nếu ấn cũ đã khắc “An Nam vương chi ấn” thì bỏ chữ “chi” đi; nếu ấn cũ khắc“An Nam vương ấn” thì thêm chữ “chi”vào; lại thành ra“An Nam vương chi ấn”:
“Ngày Canh Thân tháng 10 năm Càn Long thứ 52 [5/12/1787]. Lại dụ: cứ theo lời tâu của Tôn Sĩ Nghị rằng Quốc vương An Nam bị mất ấn tín, nên xin cấp cho viên Tự tôn ấn triện, lại xin khắc thêm chữ “bổ cấp” để làm bằng.
An Nam thần phục triều ta hết sức cung thuận, nay bị mất ấn tín, đáng đúc ấn mới để cấp bù. Viên Ðốc xưng rằng họ Nguyễn đất Tây Sơn cùng họ Trịnh thù giết nhau, rồi ấn tín bị mất; hoặc có thể họ Nguyễn ngầm tàng trử, tương lai có thể đem ra dùng riêng, gây mối tệ giả mạo thay trắng đổi đen; vậy khi đúc ấn mới, đáng phải khu biệt với ấn cũ, khiến quan lại tại Lưỡng Quảng khi có việc giao thiệp với nước này, xem qua ấn tín, một lần nhìn thấy rõ ràng, biện biệt được chân ngụy. Nhưng điều xin khắc thêm chữ “ bổ cấp” xét về thể chế thì không hợp, Tôn sĩ Nghị chưa hoàn toàn châm chước để được chu đáo hơn. Nay chỉ cần tra rõ lời văn ghi trên ấn, nếu như đã khắc “An Nam vương chi ấn”, thì tại ấn mới bỏ chữ “chi” đi; còn nếu ấn cũ khắc “An Nam vương ấn”, ắt tại ấn mới thêm chữ “chi” vào. Như vậy nhìn vào phân biệt được, có thể ngăn ngừa mối tệ giả mạo của họ Nguyễn, mà các quan tại Lưỡng Quảng gặp các viên chức nước này đệ tống tư trình, cũng không khó trong việc biện biệt thực giả; ngoài ra việc làm hợp với thể chế.
Nay truyền dụ Tôn Sĩ Nghị rằng khi Tự tôn nước này sai Bồi thần khẩn khoản xin phong và cấp ấn, hãy dụ rõ ràng với những lời rằng:
‘Thiên triều nhân việc nước ngươi gặp sự cố, mới được yên ỗn; nếu cấp thêm ấn mới, mà ấn cũ vẫn chưa bị tiêu hủy, hoặc bọn giặc phỉ giữ riêng để dùng bậy, giả mạo danh hiệu nước ngươi, trình những điều sai lên Thiên triều, hậu quả đối với nước ngươi có hại mà không có ích. Nay lời văn trên ấn mới, so với ấn cũ không giống, để cho các quan văn võ tại quan ải có căn cứ mà khảo nghiệm, không đến nỗi giả thực lẫn lộn. Thiên triều chu đáo chiếu cố, nước ngươi đáng kính tuân, cẩn trọng giữ chức phận, để mãi mãi được ơn trời đoái đến.’
Tôn Sĩ Nghị hãy ghi nhớ, để khi nước này xin cấp ấn, thì tuân theo đó mà liệu biện.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục, quyển 1291, trang 35)
Tại miền Nam vào tháng giêng [18/2-18/3/1787] Nguyễn vương trú ở hành tại Vọng Các. Một sĩ quan người nước Bồ Đào Nha [Portugal] tên là Antonio Vincente de Rosa đưa quốc thư cùng vải tây, súng tay đến dâng, nói rằng Hoàng tử Cảnh cầu nước ấy giúp quân, hiện đã có 56 chiếc thuyền tại thành Goa [Goa, thuộc địa của Bồ Đào Nha ở ấn Độ] sẵn sàng. Lại đem lễ vật biếu vua Xiêm, và xin đón Vương sang nước mình; Vua Xiêm thấy giúp quân cho ta, không bằng lòng, Nguyễn vương bảo riêng Antonio hãy về.
Tháng 2 [19/3-17/4/1787], giám quân Tống Phước Đạm, Thị giảng Nguyễn Đô, Cai cơ Tống Phước Ngọc, Cai bạ Nguyễn Văn Thiệm đến hành tại Vọng Các bái yết. Phước Đạm nói : “Anh em giặc Tây Sơn giao binh chém giết lẫn nhau, Đô úy giặc là Đặng Văn Trấn đã từ Gia Định đem hết quân bộ thuộc về cứu viện Quy Nhơn, Gia Định đơn yếu, có thể thừa thế đánh được, xin hồi loan để tính việc khôi phục”. Nguyễn vương lấy làm phải; Phước Đạm trình bày việc võ bị, Vương tin dùng lắm.
Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Lữ giữ Gia Định, xưng là Đông Định Vương; sai Thái bảo Phạm Văn Tham trợ giúp.
Vào đầu tháng 5/1787, Hoàng tử Cảnh và Giám mục Bá Đa Lộc yết kiến Pháp hoàng Louis 16, có Thượng thư ngoại giao De Montmorin và Thượng thư bộ hải quân Nguyên soái De Castries tham dự. Pháp đình lấy Vương lễ đãi Hoàng tử; trong buổi gặp Giám mục Bá Đa Lộc cố thuyết phục rằng việc giúp Nguyễn vương dễ thành công, cùng lợi ích của Pháp về thương mại do những đặc quyền Nguyễn vương thuận nhượng.
Ngày 28/11/1787 Thượng thư ngoại giao De Montmorin thay mặt Pháp hoàng, Giám mục Bá Đa Lộc thay mặt Nguyễn vương ký hiệp ước gồm 10 điều khoản, có những điểm chính như sau:
-Phía Pháp cung cấp 4 chiếc tàu chiến, một đạo binh 1200 người, 200 pháo binh, 250 lính da đen, trang bị khí giới đầy đủ.
-Pháp và An Nam cộng đồng sở hữu hải cảng Hội Nan, người Âu Châu gọi là Touron. Pháp có quyền thống trị đảo Poulo-Condore [Côn Lôn]; người nước Pháp được độc quyền buôn bán trong lãnh thổ An Nam.
Tháng 5/1788, phái đoàn Bá Đa Lộc đáp tàu trở về Pondichéry, Ấn Độ; gặp Bá tước De Coway; De Coway chống lại hiệp ước đã ký. Tháng 10/1789, việc giúp An Nam được trình lên Tham chính viện Pháp xét, viện này bác thoả ước với Giám mục Bá Đa Lộc; hiệp ước 10 gồm điều khoản chính thức hủy bỏ.
Ngày Bính Dần tháng 7 [13/8/1787], Nguyễn vương tự nước Xiêm, trở về trú ở Hòn Tre [Kiên Giang]. Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm Giáp Thìn [1784], miệng tuy nói khoác mà lòng thì sợ Tây Sơn như cọp, Vương thầm tính họ không thể giúp mình được. Bởi thế Vương quyết chí trở về nước, sai Phạm Văn Nhân về Hòn Tre chỉnh bị thuyền ghe để đợi. Vương lại nghĩ rằng nếu nói rõ cho người Xiêm biết, thì họ sẽ tìm cách ngăn đón, bèn nhân đêm viết thư tạ ơn để ở hành tại, rồi rước quốc mẫu và cung quyến xuống thuyền, vẫy quân chèo mau ra cửa biển. Đến tang tảng sáng, Vua thứ hai nước Xiêm biết, đi thuyền thoi nhẹ đuổi theo nhưng không kịp, phải trở về. Khi thuyền Vương đến đảo Cô Cốt [Kokut, Campuchia], người Thanh là Hà Hỷ Văn tự xưng thuộc Thiên Địa Hội, đem binh thuyền xin theo.
Thuyền Nguyễn vương đến Hòn Tre; sai Võ Di Nguy và Phạm Văn Nhân bảo vệ mẹ và cung quyến ở tại đảo Phú Quốc. Vương mang quân đến Long Xuyên [Cà Mâu], Nguyễn Văn Trương đem binh thuyền đến xin theo. Văn Trương là người huyện Lễ Dương dinh Quảng Nam, tài lược hơn người; lúc đầu theo Tây Sơn làm Chưởng cơ. Bấy giờ trấn giữ Long Xuyên, nghe tin Vương đã về, bèn sai thuộc hạ là Hoàng Văn Điểm ra đón ở ngoài biển, rồi tự đem hơn 300 quân tinh nhuệ và 15 chiến thuyền bái yết. Vua rất vui lòng, trao cho chức Khâm sai chưởng cơ, quản đạo tiên phong của Thủy dinh thuộc Trung quân; thuộc hạ đều được trao các chức Cai cơ, Cai đội.
Tháng 8 [12/9-10/10/1787], sai Cai cơ Ngô Công Quý giữ đạo Long Xuyên; Nguyễn Văn Trương tiến đánh phá vỡ đồn Trà Ôn [Vĩnh Long].
Tháng 9 [11/10-9/11/1787], quân Nguyễn vương tiến đến cửa biển Cần Giờ [Gia Định]; nghĩa quân bốn phương kéo lại hưởng ứng, quân uy lừng lẫy. Nguyễn Lữ nghe tin, dẫn quân lánh đi Lạng Phụ [Biên Hòa], đắp lũy đất phòng thủ. Thái bảo Phạm Văn Tham tại Sài Gòn đóng thành giữ vững, quan quân đánh mãi không hạ được.
Vương dùng kế để phá; nhân bắt được một chiếc thuyền mui vàng lớn của giặc và một tờ bằng sắc; lại dong thuyền bắt được Thị Lộc là vợ lẽ yêu của Hộ đốc Lý, bèn không giết lại đối xử hậu. Rồi theo tự dạng ấn triện ở tờ bằng sắc ấy mà giả làm bức thư kín của Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc nói Tham là người kiêu ngạo ngang ngược sai Lữ thiết kế giết đi. Cho Thị Lộc cầm thư đến cáo với Tham. Tham xem thư sợ quá, tức thì giả kéo cờ trắng, rồi đem thủy quân thẳng tới Lạng Phụ. Lữ ngờ là Tham đã đầu hàng, bèn chạy về Quy Nhơn, rồi chết; Tham ở lại đóng giữ Sài Gòn.
Vương sai các tướng đem quân về Hổ Châu [đồn Uy Viễn huyện Trà Ôn, Vĩnh Long]; đến sông Ba Việt [Trà Vinh], Điều bát Tây Sơn là Nguyễn Kế Nhuận đem hơn 10 chiến thuyền đến đầu hàng; Vương trao cho chức Hữu quân dinh khâm sai bình tây đô đốc.
Lê Văn Quân đánh phá địch ở sông Ba Lai [Kiến Hòa, Bến Tre]. Bấy giờ Ngự úy Tây Sơn là Nguyễn Văn đóng quân ở Ba Lai, bày chiến thuyền ngăn chặn cửa sông. Sai Hồ Văn Bôi, Nguyễn Văn Trị, Trương Phước Giáo và Nguyễn Văn Tồn cùng đi với Quân, đến ngoài đồn địch, nấp ở dưới gầm cầu. Gặp lúc trời tối, có vài quân địch đi lấy nước, Quân bắt lấy hỏi, biết được tên họ và mật khẩu; bèn giết đi, rồi dùng mật khẩu vào đồn. Tại đồn phóng lửa đốt, quân địch rối loạn, Quân chém được Ngự úy Văn; rồi binh ập đến đánh địch tan vỡ, xác chết đầy sông. Quan quân thu được ghe thuyền khí giới rất nhiều, bèn thừa thắng tiến đóng ở Mỹ Tho.
Thái bảo Tây Sơn Phạm Văn Tham xâm phạm Mỹ Tho [Tiền Giang]; quân Nguyễn thua, Cai cơ Nguyễn Đăng Vân chết.
Vương trú ở Hổ Châu [đồn Uy Viễn, huyện Trà Ôn, Vĩnh Long], thu họp tướng sĩ hơn 300 người, chiến thuyền hơn 20 chiếc, sai Nguyễn Văn Tồn chiêu tập dân Miên hai xứ Trà Vinh và Mân Thít [Vĩnh Long] được vài nghìn người, biên bổ làm lính, gọi là đồn Xiêm binh, cho Tồn làm Thuộc nội cai đội để cai quản.
Tháng 10 [10/11-8/12/1787], sai Hồ Văn Lân đánh quân Tây Sơn ở sông Lương Phú [Bến Tre]; Chưởng cơ Châu và Hữu hiệu Huấn đem binh thuyền đến đầu hàng, Vương cho làm tiên phong. Lại sai Nguyễn Văn Trương và Đỗ Văn Hựu làm hậu tập đi đánh Chưởng cơ Trì ở sông Mỹ Lung [Mỹ Lồng, Bến Tre]. Trì bỏ trại chạy, quân lính đều hàng. Bắt được vài chục thuyền giặc.
Vương tiến đóng ở Mỹ Lung, sai Tả quân dinh thiếu phó quân công Tôn Thất Huy và Tiền quân dinh khâm sai tổng nhung chưởng cơ Lê Văn Quân đắp đồn phòng thủ, sai Hậu quân dinh khâm sai đốc chiến chưởng cơ Tôn Thất Hội lãnh quân đi Ba Giồng [Tiền Giang] để tiếp ứng. Thái bảo giặc Phạm Văn Tham nghe tin Trì thua, liền đem hết quân đến đánh Mỹ Lung. Các tướng đóng chặt thành để giữ. Tham đánh không được, lui giữ Ba Lai [Kiến Hòa, Bến Tre], vừa lúc Thái úy Tây Sơn là Nguyễn Văn Hưng từ Quy Nhơn đem thuyền vận tải 30 chiếc đến, hợp với quân Tham ra sức đánh. Các tướng đều lấy làm lo. Vương nói : “Bộ khúc (4) của Hưng dẫu nhiều, nhưng chỉ lo việc vận tải không dự việc chiến đấu, há lại chịu vì Tham mà gắng sức ư ? Nay hãy ra lệnh cho các đạo cứ đóng quân cố giữ. Hưng bất quá vài tháng chở đầy thuyền thì về. Hưng đã về thì Tham cô thế, phá rất dễ”. Không bao lâu Hưng quả đem quân đi. Tham lui về sông Mỹ Tho, bị đánh thua luôn, lại quay về giữ Sài Gòn; các tướng đều phục Vương tính toán thần diệu.
Vương tiến đóng ở Hồi Oa [ngã ba sông Long Hồ, Vĩnh Long] (5), sai các tướng đắp thành đất, Hoàng Văn Khánh và Tống Phước Ngạn đóng bên tả, Nguyễn Văn Trương và Tô Văn Đoài đóng bên hữu, đối lũy với giặc, đánh vất vả luôn mấy ngày. Bèn sai chế thêm súng gỗ và kết hột cau khô làm đạn dùng để đánh; địch phải rút lui.
Tháng 12 [8/1-6/2/1788], Ốc Nha Long người Chân Lạp theo Tây Sơn chiếm giữ đồn Cần Thơ, bày chiến thuyền để chống cự quan quân. Vương tự đem quân đi đánh, bắt hết được thuyền, Ốc Nha Long chỉ thoát được thân; Vương lại trở về Hồi Oa. Lấy Cai cơ Hà Văn Lộc làm Chưởng cơ giữ đồn Tinh Phụ [Giồng Sao], Lộc đánh nhau với địch ở Sầm Phụ [Giồng Gầm] tử trận.
Chú thích:
1.Hiến Doanh: Lỵ sở của ty Hiến sát sứ Sơn Nam; thuộc xã Nễ Châu, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
2.Trịnh Đống: Thanh Thực Lục ghi Trịnh Đống là lầm, Chúa Trịnh bấy giờ là Trịnh Tông, còn có tên là Khải.
3.Bản bộ viện: Quan cao có thẩm quyền, thường tự xưng là Bản bộ viện, hay Bản bộ đường.
4.Bộ khúc: Binh chế nhà Hán, dinh quân chia làm bộ, dưới bộ có khúc; nghĩa rộng là quân lính.
5.Hồi Oa: Chỗ giáp nước tại ngả ba sông Long Hồ tỉnh Vĩnh Long; một nhánh chảy vào Tiền Giang, một nhánh chảy vào Hậu Giang.