Jerusalem: Những thăng trầm lịch sử – Phần 9

jerusalem-david-roberts

Simon Sebag Montefiore

 Trần Quang Nghĩa dịch

  PHẦN 8: ĐẾ CHẾ

 Anh ước muốn làm sao được đến thăm Jerusalem một ngày nào đó.

Abraham Lincoln, trò chuyện với vợ

Sân khấu diễn ra những sự kiện đáng nhớ và nghiêm trọng nhất trong niên giám thế giới. 

James Barclay, Thành Phố của Vị Vua Vĩ Đại

Không nơi đâu có vòm trời tinh khôi hơn, dữ dội hơn và quang đãng hơn bên trên đỉnh cao kiêu hãnh Zion. Cho dù khách du có thể quên là mình đang giẫm đạp lên nấm mồ của những người từ đó tôn giáo này vươn lên, chắc chắn không có thành phố nào y muốn bỏ đi sớm hơn.

H. Bartlett, Tản bộ

Vâng, tôi là người Do Thái và khi tổ tiên của Quý Ngài Đáng Kính đang sống hoang dã trên một hòn đảo vô danh, thì tổ tiên của tôi là các giáo sĩ trong Đền Thờ Solomon.

Benjamin Disraeli, diễn văn đọc trước Viện Thứ dân

Hãy xem họ đã làm gì ở đây nhân danh tôn giáo!

Harriet Martineau, Lối Sống Đông Phương

CHƯƠNG 34- NAPOLEON Ở MIỀN ĐẤT THÁNH (1799–1806)

TÊN RÂU XANH Ở ACRE

Không có trở ngại nào giữa Napoleon và việc chinh phục Jerusalem – trừ Tên Đồ Tể, Ahmet Jazzar Pasha, chỉ huy vùng Palestine của đế chế Ottoman. Y nhìn nhận danh hiệu Jazza – Đồ Tể – ngay khi còn trẻ và đã tạo dựng sự nghiệp trên nguyên tắc chỉ có sự sợ hãi mới tạo động lực cho con người hơn bất cứ điều gì khác.

Tên Đồ Tể gieo rắc khủng bố trên lãnh thổ của mình bằng cách gây tàn tật cho bất kỳ ai bị nghi là có hành vi bất trung dù là nhỏ nhất. Một người Anh từng đến thăm thủ phủ của y ở Acre chú ý thấy ‘bao quanh y là những người thương tật và dị dạng. Những viên chức hành chính hoặc nhân viên gác cửa tất cả đều mất một chi, bị xẻo mũi, cắt tai hoặc móc mắt. Vị bộ trưởng Do Thái của y, Haim Farhi, ‘đã mất một tai và một mắt’ cho chắc ăn. ‘Số người có bộ mặt thiếu mũi hay tai đập vào mắt mọi người đến thăm vùng đất thuộc Syria này.’ Đồ Tể gọi họ là ‘những người bị đánh dấu’ của mình. Thỉnh thoảng ông đóng móng ngựa vào chân nạn nhân của mình. Ông đã nhốt một số giáo dân Cơ đốc địa phương trong xà lim pour encourager les autres (tiếng Pháp trong nguyên bản, nghĩa là ‘để khuyến khích người khác’: ND) và có lần gom lại 50 viên chức tham nhũng, bảo họ tự lột truồng, và ra lệnh cho binh sĩ chặt chém họ ra từng mảnh. Khi y nghi ngờ có phản bội trong cung cấm, y giết một hơi 7 bà vợ của mình. Y trở thành khét tiếng là ‘kẻ độc tài thành Acre, Herod của thời đại, nổi khủng khiếp của các lân bang, câu chuyện về Quỷ Râu Xanh được biết đến’.

Đồ Tể gây ấn tượng cho người Âu với bộ râu bạc, y phục giản dị, dao trủy thủ đính ngọc vắt ở dây nịt và có thói quen khá tao nhã  là cắt giấy ra hình bông hoa và đem tặng làm quà. Y toả ra một nét duyên dáng rùng rợn, nói với khách viếng với nụ cười hơi điệu đàng: ‘Ta tin là ngươi đã biết danh ta được mọi người kính trọng, thậm chí yêu quí, cho dù ta có nghiêm khắc.’ Ban đêm, y khóa mình trong cung với 18 kiều nữ tóc vàng gốc Slave.* Lão già này giờ đang đối mặt với Napoleon đang trong thời sung mãn. Quân Pháp bao vây Jaffa, một cảng của Jerusalem, chỉ cách Jerusalem 20 dặm. Jerusalem trở nên hoảng loạn: các Đại gia trang bị vũ khí cho người Jerusalem; một đám đông ùa vào cướp bóc các tu viện Cơ đốc; các thầy tu phải bị tống vào ngục để đảm bảo an toàn cho họ. Bên ngoài tường thành, Tướng Damas xin phép Bonaparte cho tấn kích Thành phố Thánh.

* Y là một gã nô lệ từ xứ Bosnia, trốn thoát sau một vụ sát nhân, tự bán mình tại một chợ nô lệ ở Istanbul. Tại đó y được một nhà cai trị Ai Cập mua và cải đạo y sang Hồi giáo và sử dụng y làm trưởng đao phủ và sát thủ. Y bắt đầu nổi lên voi chức thống đốc Cairo và tạo được tên tuổi khi bảo vệ được Beyrut chống lại hải quân của Catherine Đại Đế. Beirut được giao cho Nga trong danh dự sau một thời gian dài bị vây hãm và vị sultan ban thưởng Đồ Tể chức Thống đốc Sidon, và thỉnh thoảng chức Thống đốc Damascus.

NAPOLEON: ‘BỘ TỔNG THAM MƯU, JERUSALEM’

Napoleon trả lời rằng ông phải trước tiên chinh phục Acre và sau đó :’đích thân tiến vào và trồng cây Tự Do ngay chính vị trí mà Christ đã chịu khổ não, và quân nhân Pháp đầu tiên ngã xuống trong trận tiến công sẽ được an táng trong Mộ Thánh’. Bonaparte và binh sĩ rõ ràng coi cuộc viễn chính của mình chống người Hồi giáo là nằm bên ngoài qui luật đối xử văn minh. Khi ông tràn vào Jaffa, ‘binh lính ông phân thây ra từng miếng đàn ông và phụ nữ – cảnh tượng thật là khủng khiếp’, một nhà khoa học Pháp thuật lại, bị sốc trước ‘tiếng súng bắn, tiếng hét thất thanh của các bà, các ông bố, hàng đống thây người, một cô con gái bị hiếp dâm ngay trên thi thể của mẹ mình, mùi máu, tiếng rên siết của kẻ bị thương, tiếng la hét cãi nhau của kẻ chiến thắng khi tranh giành chiến lợi phẩm’. Cuối cùng quân Pháp cũng ngồi nghỉ mệt, ‘no say máu người và vàng bạc, trên đống xác chết’.

Trước khi ông hành quân đến Acre, Bonaparte ra lệnh cuộc tàn sát máu lạnh ít nhất 2,440 nhưng có thể đến 4,000 binh lính của Đồ Tể, giết họ từng tốp 600 người mỗi ngày. Vào ngày 18/3/1799, ông bao vây Acre, còn nằm dưới sự chỉ huy của Đồ Tể, người mà Bonaparte gọi xấc xược là ‘một lão già mà ta không biết tên’. Vậy mà 4,000 quân người Afghan, Albania và Moor vẫn kháng cự kiên cường.

Vào ngày 16/4, Napoleon đánh bại kỵ binh của Đồ Tể và một quân đoàn Ottoman tại Trận Núi Tabor. Sau đó, thấy mình đang ở Ramla, cách Jerusalem 25 dặm, ông bèn ban hành ‘Tuyên cáo gởi dân Do Thái’ ghi dối ngày tháng, ‘Bộ Tổng Tham mưu, Jerusalem, ngày 20/4/1799’.

Bonaparte, Tổng Tư lệnh các Quân đoàn của Cộng hòa Pháp ở châu Âu và châu Á, gởi đến người thừa kế chính đáng Palestine – quốc gia duy nhất của người Do Thái đã bị tước đoạt đất đai của ông cha họ bởi hàng ngàn năm tham vọng chinh phục và độc tài. Nào hãy hân hoan đứng dậy, những người bị lưu đày, và tự giành lại tổ quốc Israel. Đạo quân trẻ tuổi đã lấy Jerusalem làm bộ chỉ huy của tôi và trong ít ngày tới sẽ chuyển đến Damascus để các bạn có thể đến đó (Jerusalem) và cai trị.

Tờ báo Pháp chính thức, Le Moniteur, tuyên bố rằng Napoleon ‘đã vũ trang một số lớn người Do Thái để tái lập Jerusalem cổ đại’, nhưng Napoleon không thể chiếm được Zion nếu Acre chưa thuộc về ông và giờ đây Đồ Tể được hai đại chiến thuyền của Hải quân Hoàng gia Anh dưới quyền chỉ huy của thiếu tướng Anh đến yểm trợ.

SIR SIDNEY SMITH – ‘HIỆP SĨ XUẤT SẮC NHẤT’

Sidney Smith, con trai của một nữ thừa kế bỏ chồng, là kẻ mạo hiểm, là ‘người có gương mặt khả ái với hàm râu mép dày và cặp mắt đen sắc bén’. Ông gia nhập hải quân lúc lên 13, đánh nhau với người Mỹ nổi dậy và rồi, khi ông được chuyển công tác đến hải quân Thụy Điển, Vua Thụy Điển phong ông chức hiệp sĩ, thành ra các đối thủ người Anh của ông chế giễu ông là ‘Hiệp sĩ Thụy Điển’. Sau Cách mạng Pháp, Smith đánh phá nước Pháp, nhưng bị bắt và bị giam trong Temple de Paris đáng sợ (Đây là pháo đài do Hiệp sĩ Đền Thánh xây dựng, được sử dụng làm nhà tù trong thời Cách mạng Pháp: ND). Ông  trốn thoát chớp nhoáng, thoá mạ Bonaparte, người mà ông đặc biệt khinh bỉ, trong một loạt thư xuất hiện công khai. Không phải ai cũng tin lời Smith: theo một nhà quan sát, ông là ‘một người nhiệt tình, luôn năng nổ, viễn vông không có mục tiêu nhất định nào trừ mục tiêu thuyết phục với nhân loại rằng Sidney Smith là hiệp sĩ tài ba nhất’. Nhưng nếu ông hợm hĩnh trong đời thường, thì trong thời khủng hoảng ông là một người hùng.

Smith và Đồ Tể bắt tay nhau. Khi người Anh ngưỡng mộ thanh gươm Damascene sáng loáng mà Đồ Tể luôn mang bên minh, Jazzar khoác lác, ‘Thanh gươm này không biết thất bại là gì. Nó đã lấy hàng tá thủ cấp.’ Smith muốn có chứng cứ. Đồ Tể liền bảo bộ hạ dẫn đến một con bò đực. Y liền vung tay chặt đầu nó với một nhát kiếm duy nhất. Smith cho nhập vào lực lượng đồn trú đa quốc gia của Đồ Tể 88 thủy thủ của mình. Bonaparte mở ba cuộc tấn công vào Acre nhưng Smith và Đồ Tể đẩy lùi cả ba. Khi viện quân Ottoman đến gần và cuộc vây hãm đã kéo dài đến tháng thứ ba, các tướng Pháp trở nên bực bội.

Vào ngày 31/5/1799, với 1,200 binh sĩ thiệt mạng và 2,300 người bị bệnh hoặc bị thương, Napoleon rút quân về Ai Cập. Tuy nhiên, còn 800 lính Pháp nằm dưỡng bệnh ở Jaffa. Vì họ sẽ làm chậm trễ việc chuyển quân, Napoleon ra lệnh cho các bác sĩ quân y giết những binh lính bị thương. Khi các y sĩ từ chối, một thầy thuốc Thổ lãnh việc bất nhân này bằng những liệu độc dược chết người chứa cồn thuốc phiện. Không ngạc nhiên khi tướng Pháp Jean-Baptiste Kléber suy nghĩ, ‘Chúng ta phạm những tội lỗi tày trời và những trò thậm ngu xuẩn nơi Miền Đất Thánh.’ Hai ngàn kỵ sĩ Jerusalem dưới quyền chỉ huy của thống đốc thành phố truy đuổi và quấy nhiễu binh lính Pháp đang rút quân. Khi các binh lính nông dân ở Nablus đột nhập vào Jaffa, Smith xoay sở để ngăn cản một trận tàn sát người Cơ đốc bằng cách kêu gọi người Jerusalem đến vãn hồi trật tự.

Ở Ai Cập, Napoleon, đối mặt với thực tế thảm họa của chiến dịch mà chỉ có thể cứu được bằng cách bóp méo sự thật một cách trơ trẽn, bỏ rơi binh sĩ của mình và giong buồm về nhà. Tướng Kleber, ở lại Ai Cập nắm quyền chỉ huy, nguyền rủa Napoleon: ‘Tên chó chết đó đã bỏ rơi chúng ta với đũng quần đầy phân.’ Nhưng ở Pháp Napoleon được chào đón như một nhà chinh phục trở về, chẳng bao lâu chiếm quyền lực từ Hội đồng Đốc chính lên làm đệ nhất tổng tài,* và một bài hát lãng mạn về cuộc viễn chinh của ông – ‘Ra đi vì Syria’ – trở thành quốc ca thời Bonaparte.

* Napoleon đổ lỗi thất bại của minh là do Smith, nhưng ông để lại một di sản của mình tại Jerusalem. Khi đánh chiếm Jaffa, các binh lính bị thương của ông (mà sau đó ông giết) được các thầy tu Armenia săn sóc, và ông cảm ơn bằng cách gởi tặng họ chiếc lều của mình. Người Armenia biến nó thành các áo lễ, giờ được sử dụng o Thánh đường St Jameses trong Khu Amenia của Jerusalem.

Những người Cơ đốc ở Jerusalem, đặc biệt người Thiên chúa, lâm vào cảnh nguy khốn từ những cuộc trả thù của người Hồi. Mê say những hành vi khoa trương, Smith quyết định rằng chỉ cần một xô trình diễn mang tính máu lạnh kiểu Anh là có thể cứu được đồng đạo của mình. Được phép của Đồ Tể và vị sultan, ông cho thủy thủ mặc lễ phục diễu hành trong tiếng trống bập bùng từ Jaffa đến Jerusalem. Diễu hành qua các đường phố, ông kéo cờ Anh lên trên Tu viện St Saviour, và vị giáo sĩ cao cấp tại đó phát biểu rằng ‘mỗi người Cơ đốc ở Jerusalem phải có nghĩa vụ cao nhất đối với quốc gia Anh và đặc biệt với ngài Smith mà nhờ họ người Cơ đốc đã được bảo vệ khỏi bàn tay nhẫn tâm của Bonaparte’. Thật ra chính người Hồi mới khiến họ sợ hãi. Smith và thủy thủ đoàn cầu nguyện tại Mộ Thánh, những binh sĩ Pháp đầu tiên bước vào Jerusalem kể từ năm 1244.

Sultan Selim III trút vinh dự như mưa lên Đồ Tể, bổ nhiệm y chức pasha (tương đương thống đốc) của quê nhà Bosnia ông cũng như của Ai Cập và Damascus. Sau một cuộc chiến ngắn ngủi với vị pasha của Gaza, y một lần nữa thống trị Jerusalem và Palestine. Nhưng y vẫn chưa mềm lòng, vì ông xẻo mũi vị thủ tướng của mình để tàn phá một gương mặt đã mất một tai và một mắt. Khi y mất vào năm 1804, Palestine rơi vào cơn hỗn loạn.

Tuy vậy Napoleon và Smith đã khiến cho vùng Levant trở nên thời thượng. Trong số những kẻ phiêu lưu giờ đang đua nhau khám phá phương Đông rồi kể lại những kỳ công của họ trong những sách bán chạy nhất làm khuây khỏa phương Tây, tác giả gây ảnh hưởng nhất là một tử tước Pháp mà năm 1806 đã tìm thấy Jerusalem bị hành hạ vì hoả hoạn, loạn lạc và cướp bóc, ở mức độ thấp nhất kể từ đại nạn Mông Cổ.

  CHƯƠNG 35 : TRƯỜNG PHÁI TÂN LÃNG MẠN: CHATEAUBRIAND VÀ DISRAELI (1806–1830)

TỬ TƯỚC VỚI HUY CHƯƠNG MỘ THÁNH

‘Jerusalem khiến tôi quá đỗi kính sợ’ François-René, Vicomte de Chateaubriand phát biểu, cho dù ‘thành phố giết chúa’ này là ‘một đống rác’ với ‘những đền kỷ niệm rối rắm của một nghĩa địa ở giữa một sa mạc’. Gã quí tộc tóc bồng theo đạo Thiên chúa này ôm lấy quan điểm lãng mạn của một Jerusalem Gô-tich xập xệ đang đợi một ‘bậc kỳ tài của đạo Cơ đốc giải cứu. Đối với ông, Jerusalem càng khốn khổ, nó càng trở nên linh thiêng và thi vị hơn – và thành phố giờ đây đang tuyệt vọng.

Các thống đốc làm loạn cùng bè lũ nông dân Palestine cứ thay phiên nổi dậy và chiếm lấy Jerusalem bị Chúa ruồng bỏ. Tử tước đến để tìm thấy thống đốc Damascus hạ trại bên ngoài Cổng Jaffa trong khi 3,000 binh lính của y đe đọa dân chúng. Khi Chateaubriand cư ngụ tại Tu viện St Saviour, nó bị chiếm đóng bởi những tên vô lại moi tiền các thầy dòng. Ông đi khệnh khạng trên đường phố, vũ trang vài khẩu súng lục nhưng ở tu viện, một tên trong bọn thừa lúc ông không cảnh giác ra tay giết ông: ông chỉ sống được nhờ chẹn họng tên Thổ. Trong đường phố, ‘chúng tôi không gặp bóng người nào! Thật thê lương vì hầu hết dân cư đã chuồn ra vùng núi. Các cửa hiệu đóng cửa, dân chúng rút vào hầm hoặc ra vùng núi.’ Khi thống đốc bỏ đi, lực lượng đồn trú ở Tháp David chỉ chừng một tá và thành phố trông càng ma quái hơn: ‘Âm thanh duy nhất là tiếng vó ngựa trên sa mạc – đó là một lính bộ binh Ottoman mang về thủ cấp của một gã Bedouin hoặc trở về sau khi đã cướp bóc đám nông dân nghèo khổ.

Giờ nhân vật Pháp có thể thích thú tìm hiểu những bí ẩn linh thiêng bẩn thỉu của các điện thờ. Con người sành ăn này, mà tên của ông được đặt cho một loại bít tết chế biến theo gu của ông (Chateaubriand là tên một món bít tết rất phổ biến trong thực đơn Pháp:;ND), thưởng thức các bữa tiệc mà ông chia sẻ với các gia chủ Francis có tiếng là  phúng phính của mình, thỏa thuê chén các thực đơn gồm ‘súp đậu lăng, thịt bê hầm với dưa chuột và củ hành, dê tơ nướng với gạo, chim bồ câu, gà gô, thịt săn, rượu vang tuyệt hảo.’ Trang bị vài khẩu súng lục, ông đi lại con đường khổ não của Jesus trong khi chế giễu những đài tưởng niệm Ottoman (‘không đáng chú ý’) và người Do Thái ‘ăn mặc rách rưới, nêm cứng trong bụi bặm của Zion, với sâu mọt gậm nhấm họ’. Chateaubriand kinh ngạc ‘khi thấy những ông chủ thực sự của Judaea này lại sống như nô lệ và kẻ xa lạ ngay trên xứ sở của mình’.

Trong Mộ Thánh ông quì gối cầu nguyện nửa giờ, cặp mắt của ông ‘xoáy vào tảng đá’ của nhà mộ Jesus, chóng mặt vì khói hương, tiếng đập chập chả của người Ethiopia và tiếng đọc kinh của người Hy Lạp, trước khi quì tại lăng mộ của Godfrey và Baldwin, những chiến sĩ Pháp đấu tranh đã đánh bại đạo Hồi, ‘một tôn giáo thù địch với văn minh và hậu thuẫn một cách có hệ thống cho sự dốt nát, độc tài và nô dịch’.

Dòng Francis ban thưởng cho Chateaubriand Huân chương Mộ Thánh trong một buổi lễ trang trọng. Khi họ bao quanh tử tước đang quì gối, gắn đinh thúc ngựa vào gót giày của ông và phong chức hiệp sĩ cho ông bằng thanh gươm Thập Tự quân, ông trải nghiệm một niềm vui sướng gần như là xuất thần:

Nếu xét việc tôi ở Jerusalem, trong Nhà Thờ Calvary, chỉ cách nhà mộ Jesus chục bước chân và cách mộ  Godfrey de Bouillon ba mươi bước chân, rằng tôi được trang bị đinh thúc ngựa của Người Giải phóng Mộ Thánh; và đã chạm vào thanh gươm đó, vừa dài vừa to bản, quá cao quí và quả cảm thay cánh tay đã từng một lần giữ chặt nó, đến nỗi tôi không sao cầm được xúc động.

Vào ngày 12/10/1808, người Armenia giữ đồ thánh trong nhà thờ ngủ quên bên bếp lò trong phòng Armenia trên tầng hai của Nhà Thờ Mộ Thánh. Lò bếp bắt lửa, thiêu cháy y và sau đó lan ra. Nhà mộ Jesus bị phá hủy. Trong cơn hoảng loạn xảy ra sau đó, người Cơ đốc mời Hassan al-Husseini, vị  mufti (thủ lĩnh Hồi giáo) hạ trại trong sân Nhà Thờ để đề phòng trộm vặt. Người Hy Lạp lên án người Armenia đã phóng hỏa. Anh và Áo đang chiến đấu để chống lại Hoàng đế Napoleon bất bại vì thế người Hy Lạp, được người Nga hậu thuẫn, có thể củng cố quyền kiểm soát Nhà Thờ của họ. Họ xây dựng một điện thờ nhỏ quanh vị trí Nhà Mộ đã bị phá hủy, đến nay vẫn còn. Họ chào mừng bằng cách đập nát những ngôi mộ của các nhà vua Thập Tự Chinh: Chateaubriand, giờ đã trở lại Pháp, là người ngoài cuộc nhìn thấy chúng lần cuối cùng. Một đám đông người Hồi tấn công thợ xây dựng đang phục hồi Nhà Thờ; quân đồn trú nổi loạn, và người kế vị Đồ Tể cũng là con rể y, Suleiman Pasha – được biết với danh hiệu Người Công Chính (mặc dù không ai bỏ qua cho người tiền nhiệm của ông) – đánh chiếm thành phố; 46 tên phản loạn bị hành hình, thủ cấp của chúng trang trí cho cổng vào.

Khi Jerusalem bằng xương bằng thịt phân hủy, Jerusalem trong tưởng tượng  đốt cháy những giấc mơ Tây phương, được cuộc chiến Trung Đông nhỏ bẩn thỉu của Napoleon và sự suy thoái của triều đại Ottoman cổ vũ – và có cả quyển sách mà Chateaubriand viết sau khi về nhà. Nhật ký hành trình của ông từ Paris đến Jerusalem tạo giọng điệu cho thái độ của người Âu đối với phương Đông dưới ách cai trị tàn bạo nhưng yếu kém của người Thổ, người Do Thái kêu khóc, và người Ả Rập sơ khai nhưng dữ tợn. Cuốn sách bán chạy nhất đến nỗi nó khởi động một thể loại mới và ngay cả người hầu của ông, Julien, cũng viết hồi ký về chuyến đi của mình. Ở London, Sir Sidney Smith khoác lác về những kỳ tích của mình trong vùng Levant kích thích óc tưởng tượng của nhân tình hoàng gia của ông – và tạo cảm hứng cho chuyến du lịch hoàng gia phi lý nhất. 

CAROLINE XỨ BRUNSWICK VÀ HESTER STANHOPE: HOÀNG HẬU ANH VÀ HOÀNG HẬU SA MAC

Công nương Caroline, người vợ bị ghẻ lạnh của Hoàng thân Nhiếp chính Anh (sau này là Vua George IV), bị thu hút với ngài Smith sôi nổi,và đều đặn mời em họ của ông, Lady   Hester Stanhope, cháu gái của  Thủ tướng William Pitt the Younger, làm bình phong che giấu sự dan díu vụng trộm trơ tráo của họ.

Lady Hester ghê tởm Công nương Caroline sỗ sàng, dối trá và dâm đãng, dám phô trương mình trước mặt Smith bằng cách ‘nhảy nhót, phơi bày thân thể, như một ả đào hát’: ‘một ả trơ tráo, một con điếm chính cống! Quá hèn hạ! Quá thô bỉ!’ Cuộc hôn nhân của Caroline với Hoàng thân Nhiếp chính đã là một thảm hoạ và cái gọi là ‘Cuộc Điều Tra Tế Nhị’ vào cuộc sống tình ái của bà sau đó phát hiện ra là bà có ít nhất năm người tình trong đó có Smith, Lord Hood, hoạ sĩ Thomas Lawrence và hai tên gia nhân. Nhưng những câu chuyện của Smith về Acre và Jerusalem it nhất đã tìm thấy mục tiêu: cả hai phụ nữ đều quyết định riêng lẻ đi du lịch về phương Đông.

Lady Hester có sứ mạng riêng ở Jerusalem. Richard Brothers, một cựu thủy thủ và một người theo giáo phái Can-vin, đã tự xưng là hậu duệ của Vua David, sẽ là Người Cai Trị Thế Giới cho đến khi Christ xuất hiện lần hai. Quyển sách của ông Kế Hoạch cho Tân Jerusalem tiết lộ rằng Chúa đã ‘định trước cho tôi là Vua và Người Phục hồi nước Do Thái’, và các Brothers cũng xác minh rằng dân tộc Anh là dòng dõi của các Bộ tộc Thất lạc: ông sẽ dẫn dắt họ trở lại Jerusalem. Ông thiết kế hoa viên và cung điện cho Núi Đền, đồng phục và quốc kỳ cho Israelite mới, nhưng rồi sau đó ông bị tống vào ngục vì cho là điên. Tầm nhìn Anh-Do Thái này là một tầm nhìn  lập dị. Vậy mà trong vòng 30 năm niềm tin vào sự trở về linh thiêng của người Do Thái gần như là một chính sách của chính quyền Anh.

Các đồng đạo ngóng chờ một phu nhân thánh thiện để hỗ trợ cho sự nghiệp này và chọn Lady Hester Stanhope làm ‘Nữ hoàng Do Thái’ của ông. Khi bà đến thăm ông trong Nhà Tù Newgate, ông tiên đoán là  ‘một ngày bà sẽ đến Jerusalem và dẫn dắt Những Người Được Chọn trở về!’  Stanhope có đến thăm Jerusalem vào năm 1812, ăn mặc duyên dáng trong sắc phục Ottoman , nhưng các tiên đoán của đồng đạo không hiện thực. Bà ở lại phương Đông – và tiếng tăm bà giúp xiển dương sự quan tâm của châu Âu. Mãn nguyện hơn hết, bà vượt qua mặt ả Caroline đáng khinh bỉ  khi đến Jerusalem trước ba năm.

Vào ngày 9/8/1814, công nương, ở tuổi 46, lên đường trên một chuyến đi Địa Trung Hải đầy tai tiếng. Lấy cảm hứng từ Smith, Stanhope và những khách hành hương là hậu duệ các thập tự quân xưa kia, Caroline tuyên bố rằng ‘Jerusalem là tham vọng lớn của tôi’.

Tại Acre, công nương được thủ tướng của Suleiman the Just đón tiếp. Ông Haim Farhi này từng là cố vấn của Đồ Tể tiền nhiệm, là người Do Thái muốn có lại một mắt, một tai, một mũi. Mười năm sau khi Đồ Tể chết, các quan triều tháp tùng Caroline ngạc nhiên khi thấy trên đường phố có nhiều người mất mũi, trong khi công nương thì thích thú trước sự long trọng hoang dã của tập quán đông phương. Bà đem theo đoàn tùy tùng 26 người trong đó có một đứa trẻ bị bỏ rơi, Willie Austin, mà bà đã nhận làm con nuôi (người ta đồn đó có thể là con riêng của bà), và người tình mới nhất của bà, một quân nhân Ý có tên Bartholomeo Pergami, nhỏ hơn bà 16 tuổi. Giờ đây là một nam tước và là quản gia của bà, gã là ‘một người cao 6 bộ với mái tóc đen, nước da sáng và râu mép dài ngoằn. Lúc mà Caroline khởi hành đi Jerusalem, đoàn tùy tùng của bà gồm 200 người trông như một đạo quân.

Bà bước vào Jerusalem trên lưng lừa như Jesus, nhưng bà khá béo nên phải cần người hầu đỡ lên. Các thầy tu Francis hộ tống bà trên lưng lừa đến St Saviour. ‘Không sao vẽ nên bức tranh của cảnh tượng,’ một quan triều trong đoàn nhớ lại. ‘Đàn ông, đàn bà và trẻ em, người Do Thái và Ả Rập, Armenia, Hy Lạp, Cơ đốc và ngoại giáo tất cả đều chào đón chúng tôi. “Ben venute!” (tiếng Ý, có nghĩa Xin chào mừng) họ reo lên!’ Dưới ánh sáng của các ngọn đuốc, nhiều ngón tay chỉ chỏ đoàn hành hương hoàng gia cùng tiếng kêu ‘Bà ấy đó!’ Không có gì ngạc nhiên: Caroline thường ‘đội tóc giả, đeo lông mày giả (trời không cho bà lông mày nào) và hàm răng giả’, với y phục màu tía, cắt rất thấp trước ngực cũng như sau lưng và lại quá ngắn không đủ che ‘cái bụng lớn nhô ra’. Một quan triều phải công nhận rằng việc bà đi vào ‘vừa trang trọng vừa có lẽ buồn cười’.

Tự hào là công nương Cơ đốc đầu tiên sau 6 thế kỷ đến thăm, Caroline thành khẩn mong mỏi để lại ‘một cảm nhận  thích đáng về vị thế đang lên cao của mình’, vì thế bà sáng lập Huân chương St Caroline với cờ hiệu riêng – một thập giá đỏ với dây ruy băng hình hoa tử đinh hương. Người tình của bà Pergami là ‘Grand Master’ đầu tiên (và cuối cùng) của Huân chương. Khi bà trở về, bà ủy thác vẽ một bức hoạ về chuyến hành hương của mình tựa đề: Bà Hoàng Caroline Vào Jerusalem.

Bà hoàng tương lai của nước Anh phân phát hào phóng quà biếu cho các thầy tu Francis và vào ngày 17/7/1815 (ba tuần sau trận thảm bại cuối cùng của  Napoleon tại Warterloo) ‘rời Jerusalem giữa những lời cảm tạ và luyến tiếc của mọi chức tước và cấp bậc’ – điều không mấy ngạc nhiên.

Khi Damascus nâng thuế vào năm 1819, thành phố lại nổi dậy lần nữa. Lần này, Abdullah Pasha, chủ nhân của Palestine, cháu nội của Đồ Tể, tấn công Jerusalem và khi nó bị đánh chiếm, thống đốc thành phố đích thân xiết cổ 28 tên nổi dậy – số còn lại bị bêu đầu vào ngày hôm sau, tất cả thi thể xếp chồng hàng bên ngoài Cổng Jaffa. Năm 1824, những vụ cướp phá dã man của  thống đốc Ottoman được biết dưới tên Mustafa Kẻ Tội Phạm đưa đến vụ nổi dậy của nông dân. Jerusalem có được độc lập trong vài tháng cho đến khi Abdullah pháo kích nó từ Núi Olives. Vào những năm cuối thập niên 1820, Jerusalem bị ‘thất thủ, hoang vắng và khốn cùng’, theo lời  một khách du lịch Anh gan dạ, Judith Montefiore, cùng đi với người chồng giàu có, Moses. ‘Không một thánh tích nào còn lại ở thành phố từng là niềm vui của toàn thế giới’.

Nhà Montefiore là người đầu tiên thuộc dòng dõi mới những người Do Thái Âu châu có thế lực và kiêu hãnh, quyết tâm sẽ giúp đỡ những người anh em lạc hậu của mình ở Jerusalem. Họ được thống đốc thành phố khoản đãi nhưng cư trú với một nhà buôn bán nô lệ trước kia người Ma-rốc bên trong tường thành và bắt đầu công việc mạnh thường quân của mình bằng cách phục hồi Lăng mộ của Rachel gần Bethlehem, điện thờ linh thiêng thứ ba của Do Thái giáo sau Điện Thờ và các Lăng mộ của Tổ phụ ở Hebron. Nhà Montefiore không có con cái và Lăng mộ Rachel được nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn đến cầu tự. Người Do Thái ở Jerusalem chào đón họ ‘gần như đón Đấng Cứu Thế’, nhưng khẩn khoản xin họ đừng cho quá nhiều vì người Thổ sẽ đơn giản làm họ lụn bại hơn bằng cách tăng thuế cao hơn sau khi các mạnh thường quân đã đi rồi.

Moses Montefiore đến như một quí ông người Anh tự lập, gốc Ý và như một nhà tài chính quốc tế, anh rể của  Nathaniel Rothschild, nhưng ông không đặc biệt mộ đạo. Chuyến đi đến Jerusalem đã thay đổi đời ông. Ông rời đó đi như một người Do Thái tái sinh, sau khi đã cầu nguyện suốt đêm ở đó. Đối với ông, Jerusalem chỉ đơn giản là ‘thành phố của tổ tiên chúng ta, mục tiêu vĩ đại và luôn được khao khát và hành trình của chúng ta’. Ông tin tưởng nghĩa vụ của mỗi người Do Thái là phải đi hành hương: ‘Tôi cúi đầu cầu nguyện Chúa Trời của tổ tiên tôi là từ đây về sau tôi sẽ trở nên một người Do Thái công chính hơn và tốt đẹp hơn.’ * Ông sẽ trở lại Thành phố Thánh nhiều lần và từ đây sẽ nỗ lực phối hợp cuộc sống của một người Anh quyền thế với cuộc sống của một người Do Thái chính thống.

* Trong chuyến về nhà, một cơn bão đáng sợ giáng xuống con thuyền chở Montefiore. Các thủy thủ sợ thuyền sẽ chìm. May mắn, Montefiore có mang theo bên mình, từ lễ Vượt Qua năm ngoái, một miếng matzah (bánh lễ Do Thái) không men để cầu may. Ông liền ném miếng bánh xuống mặt biển đang dậy sóng. Ngay lập tức biển lặng một cách kỳ diệu. Montefiore tin rằng mình được Chúa Trời ban phúc sau chuyến hành hương Jerusalem.

Không lâu sau khi Montefiore rời đi một con người kiểu cách  cưỡi ngựa vào thị trấn: cả hai người đều là người Do Thái Sephardic ở Anh thuộc dòng dõi Ý. Họ không quen biết nhau – nhưng một ngày cả hai đều sẽ xiển dương sự can thiệp của Anh vào Trung Đông.

DISRAELI: NHÂN VẬT LINH THIÊNG VÀ LÃNG MẠN

‘Bạn nên nhìn tôi trong y phục của một tên hải tặc Hy Lạp. Một áo sơ mi màu máu đỏ với các núm bạc to bằng đồng tiền, một khăn choàng lớn, một dây thắt lưng đầy súng lục và dao găm, một nón lưỡi trai đỏ, dép đỏ, áo chẽn và quần dài sọc xanh rộng. Hết sức tinh quái!’ Đây là cách thức Benjamin Disraeli, nhà viết tiểu thuyết 26 tuổi hợp thời trang (đã là tác giả  cuốn Vị Công Tước Trẻ), một nhà đầu cơ thất bại và chính trị gia nhiều khát vọng, ăn mặc cho chuyến đi Đông phương. Những cuộc đi chơi kiểu này là phiên bản mới của Grand Tour thế kỷ 18, kết hợp việc làm dáng lãng mạn, việc  ngắm cảnh Cổ điển, trò hút ống điếu, ăn chơi đàng điếm và thăm thú Istanbul và Jerusalem.

Disraeli đã được nuôi dưỡng như một người Do Thái nhưng được rửa tội lúc 13 tuổi. Ông tự xem mình, theo lời ông kể với Nữ Hoàng Victoria, là ‘trang giấy trắng giữa Cựu Ước và Tân Ước’. Ông trông đúng như vậy. Mảnh khảnh và xanh xao  với mái tóc đen và những lọn tóc quăn,  Disraeli cưỡi ngựa qua vùng đồi Judaea, trang bị vũ khí đầy đủ. Rồi ông trông thấy tường thành:

 Tôi như bị sét đánh. Tôi nhìn thấy trước mắt mình một thành phố lộng lẫy. Ở phia trước là thánh đường nguy nga xây dựng tại địa điểm của Đền Thờ với hoa viên tuyệt đẹp và các cổng tuyệt vời – các đa dạng vòm và tháp vươn cao. Không gì có thể mường tượng ra hoang dã hơn, khủng khiếp hơn và cằn cỗi hơn cảnh vật chung quanh.

 Tôi chưa hề thấy cảnh nào nổi bật đến như vậy. Ăn chiều trên mái ngói Tu viện Armenian, nơi ông lưu trú, Disraeli say sưa trôi theo lịch sử Do Thái lãng mạn khi ông ngắm nhìn ‘kinh đô đã mất của đấng Jehovah’ và tò mò muốn biết Chúa của đạo Hồi: tôi không thể cưỡng lại việc đến thăm Núi Đền. Một thầy thuốc Scotland và sau đó một phụ nữ Anh đều đã xâm nhập nơi mở rộng của Núi Đền – nhưng chỉ bằng cách hóa trang cẩn thận. Disraeli vụng về hơn: ‘Tôi bị theo dõi và vây quanh bởi một đám đông những người cuồng tín đội khăn xếp và thoát ra khỏi họ rất khó khăn!’ Ông coi người Do Thái và Ả Rập như một dân tộc – người Ả Rập chắc chắn là ‘người Do Thái trên lưng ngựa’ – ông hỏi những người Cơ đốc: ‘Đạo Cơ đốc của bạn ở đâu nếu bạn không tin Do Thái giáo?’

Chuyến thăm Jerusalem thuyết phục ông rằng nước Anh có một vai trò ở Trung Đông – và khiến ông mơ đến ngày trở về Zion. Trong cuốn tiểu thuyết của ông, cố vấn của vai chính David Alroy, phát biểu, ‘Ngài hỏi tôi muốn gì. Câu trả lời của tôi là sự tồn tại quốc gia. Ngài hỏi tôi muốn gì. Câu trả lời của tôi là Jerusalem.’ Vào năm 1851, Disraeli nhà chính trị đang lên suy nghĩ đến việc ‘đưa người Do Thái trở lại miền đất hứa bằng cách mua lại lãnh thổ từ người Ottoman, vừa là chính đáng vừa khả thi’.

Disraeli cho rằng cuộc phiêu lưu của Alroy là ‘tham vọng lý tưởng của mình’ nhưng thực sự ông quá nhiều tham vọng để có thể đánh liều sự nghiệp của mình cho bất cứ việc gì về Do Thái: ông muốn làm thủ tướng của đế chế lớn nhất trên mặt đất. Hơn 30 năm sau khi ông đã leo đến ‘đỉnh cột mỡ’, Disraeli đúng là có dẫn dắt quyền lực Anh bước vào vùng đất này bằng cách đạt được Cyprus và mua Kênh đào Suez.

Không lâu sau khi Disraeli trở về để lao vào sự nghiệp chính trị, một tướng quân Albania người đang cai trị Ai Cập đã chinh phục Jerusalem.

CHƯƠNG 36 :  CUỘC CHINH PHỤC CỦA NGƯỜI ALBANIA (1830–40)

IBRAHIM THE RED

Vào tháng 12 1831, quân đội Ai Cập hành quân qua thành phố khi người Jerusalem hạnh phúc và hớn hở chào mừng bằng ánh sáng, nhảy múa và âm nhạc trên mọi đường phố. Trong năm ngày người Hồi, Hy Lạp, Francis, Armenia  và thậm chí người Do Thái liên hoan. Nhưng người Hồi lo lắng trước cảnh binh lính Ai Cập ‘mặc quần dài bó sát, mang súng cầm tay đáng sợ, nhạc khí và diễu hành theo đội hình giống như châu Âu’.

Chủ nhân ông mới của Jerusalem là quân nhân Albania Mehmet Ali, người tạo ra một triều đại vẫn còn cai trị Ai Cập khi Nhà nước Israel được thành lập hơn một thế kỷ sau. Giờ bị quên lãng, ông khống chế chính sách quốc tế vùng Cận Đông trong 15 năm và gần như chinh phục toàn bộ đế chế Ottoman. Con trai của một nhà buôn thuốc lá, ông ra đời tại vùng đất ngày nay là Hy Lạp, cùng năm với Napoleon, người đương thời xem ông như một Bonaparte Đông phương: ‘Tương tự các thiên tài quân sự lừng danh, các cá tính của những thủ lĩnh này đều đậm nét tham vọng không hề chán chê, và năng động không ngừng nghỉ.’

Nhân vật Albania râu bạc này, giờ trong tuổi lục tuần, luôn ăn mặc giản dị với khăn xếp trắng, dép vàng và áo choàng xanh dương, luôn phì phà một ông điếu bằng vàng và bạc có cẩn kim cương, cao đến 7 bộ, ‘có gương mặt nét Tác-ta với gò má cao’, và một ‘đốm lửa hoang dã kỳ lạ’ trong ‘cặp mắt xám tối sáng rực nét thiên tài và thông minh’. Sức mạnh của ông dựa vào thanh kiếm cong luôn cặp kè bên mình. Ông đã đến Ai Cập đúng lúc để chỉ huy binh đoàn Albania vì lợi ích của Ottoman chống lại Napoleon. Khi người Pháp ra đi, ông lợi dụng chỗ trống quyền lực tiếp sau đó để chiếm lấy Ai Cập. Sau đó ông triệu tập người con trai tài năng của mình (có người nói là cháu ông), Ibrahim, đánh lừa nhóm ông lớn mamluk-Ottoman đến dự một buổi lễ quân sự rồi ra tay hạ sát họ. Người Albania sau đó cướp phá và hãm hiếp suốt đường đi qua Cairo, nhưng vị sultan bổ nhiệm Mehmet Ali làm thống đốc Ai Cập. Ông chỉ cần mỗi đêm ngủ bốn tiếng và tự nhận đã học đọc ở tuổi 45. Mỗi đêm, nàng hầu thiếp cưng của ông đọc cho ông nghe về Montesquieu hoặc Machiavelli, và con người cách tân nhẫn tâm này bắt đầu thành lập binh đoàn Âu châu, với quân số 90,000 người, và một hạm thuyền.

 Lúc đầu, vị sultan Ottoman Mahmoud II vui sướng lợi dụng được quyền lực đang lên này. Bối rối vì giáo phái Wahabi thuần khiết  đã chiếm lấy Mecca, * vị sultan yêu cầu Mehmet Ali yểm trợ. Quân Albania lấy lại Mecca như ý muốn và gửi thủ cấp của Abdullah al-Saud về Istanbul. Khi vào năm 1824 người Hy Lạp nổi dậy chống vị sultan, Mehmet Ali gửi lực lượng của mình, đàn áp dã man người Hy Lạp. Việc này báo động đến các Cường quốc Âu châu khiến vào năm 1827 người Anh, Pháp và Nga cùng nhau hợp tác tiêu diệt hạm thuyền của  Mehmet Ali tại Trận  Navarino và bảo trợ sự độc lập của Hy Lạp. Nhưng việc này không ngăn cản được người Albania lâu: được cổ vũ bởi vị khách đến Jerusalem trước đó, giờ đã là ngoại trưởng Pháp, Tử tước Chateaubriand, họ thèm muốn đế chế của riêng mình.

* Dòng Wahhabi là những người đi theo thầy giảng Salafi thuộc giáo phái cơ yếu vào thế kỷ 18 có tên Muhammad ibn Abdul Wahabi, người trong năm 1744 đã kết thân với nhà Saudi. Mặc dù họ dưới tay Mehmet Ali, nhà Saudi chẳng bao lâu cũng thành lập được một nhà nước nhỏ. Trong thế chiến I và thập niên 1920, thủ lĩnh của họ Abdul-Aziz ibn Saud, được Anh tài trợ và được sự hậu thuẫn của quân đội Wahabi cuồng tính, tái chiếm  Mecca và Arabia. Năm 1932, ông tự xưng là vua xứ Saudi Arabia, đến nay Hồi giáo dòng Wahabi còn cai trị. Ibn Saud là cha của ít nhất 70 đứa con và con trai của ông Abdullah lên ngôi vua năm 2005.

 Vào cuối năm 1831, Mehmet Ali chính phục vụ vùng đất ngày nay là Israel, Syria và hầu hết Thổ Nhĩ Kỳ, đánh bại mọi đạo quân mà vị sultan gửi tới. Chẳng bao lâu binh đoàn của họ chuẩn bị chiếm Istanbul. Cuối cùng vị sultan phải nhìn nhận Mehmet Ali là người cai trị Ai Cập, Ả Rập và Crete với Ibrahim là thống đốc Syria mở rộng. Đế chế này giờ thuộc về người Albania: ‘Giờ tôi đã chinh phục được xứ sở này bằng thanh gươm,’  Mehmet Ali tuyên bố, và ‘bằng thanh gươm tôi sẽ gìn giữ nó’. Thanh gươm của ông là vị thống soái của ông, Ibrahim, người đã chỉ huy những binh đoàn đầu tiên của ông và tổ chức những vụ tàn sát đầu tiên của ông ngày khi còn thiếu niên. Chính Ibrahim là người đã đánh bại quân Saudi, tàn phá Hy Lạp, chinh phục Jerusalem và Damascus và hành quân thắng lợi gần như đến trước cửa ngõ Istanbul.

Giờ đã là mùa xuân 1834, Ibrahim, được biết dưới danh hiệu The Red, và không chỉ là do màu đỏ của bộ râu, lập bộ chỉ huy tại phức hợp nguy nga của Lăng mộ David. Gây sốc người Hồi khi ngồi trên ngai vàng kiểu châu Âu thay vì trên gối và công khai uống rượu vang, ông tiến hành cải cách Jerusalem. Ông giảm nhẹ sự áp bức người Cơ đốc và Do Thái, hứa hẹn quyền bình đẳng dưới luật, và chấm dứt việc thu phí mà người hành hương phải trả khi đến Nhà  Thờ: giờ họ có thể mặc quần áo Hồi, cưỡi ngựa trên đường phố và không còn phải nộp thuế jizaya (thuế mà thần dân không phải người Hồi thường trú dưới chế độ Hồi giáo phái đóng)  lần đầu tiên sau 5 thế kỷ. Người Albania nói tiếng Thổ khinh bỉ người Ả Rập hơn ai hết: cha của Ibrahim gọi họ là ‘bọn dã thú’. Vào ngày 25/4,  Ibrahim gặp gỡ các lãnh đạo của Jerusalem và Nablus trên Núi Đền để ra lệnh giao nộp 200 thanh niên Jerusalem vào quân dịch. ‘Ta muốn lệnh này phải được thi hành ngay hôm nay không được chậm trễ, bắt đầu ngay ở đây tại Jerusalem,’ Ibrahim nói. Nhưng Jerusalem thách thức: ‘Chúng tôi thà chết hơn là giao con cái chúng tôi làm nô lệ vĩnh viễn,’ người Jerusalem đáp lại.

Vào ngày ⅗, thủ lĩnh Albania chủ tọa lễ Phục Sinh Chính thống giáo: 17,000 khách hành hương Cơ đốc tấp nập trong một thành phố sôi động như đứng trên bờ vực nổi loạn  bất cứ lúc nào. Vào ngày Thứ Sáu Tốt Lành, đám đông ken cứng Nhà Thờ Mộ Thánh sẵn sàng chờ Lửa Thánh. Một khách du lịch Anh Robert Curzon chứng kiến sự kiện, kể lại như sau:

Thái độ của khách hành hương cực kỳ điên loan. Tới một lúc, họ thi nhau chạy đua quanh Mộ Thánh và một số, gần như trần truồng, nhảy nhót với những cử chỉ điên cuồng, la hét như thế bị ma ám.’

Sáng hôm sau, Ibrahim bước vào Nhà Thờ để chứng kiến Lửa Thánh nhưng đám đông quá chật cứng đến nỗi các cận vệ phải dọn đường ‘bằng đầu mũi súng hoả mai và roi da’  trong khi ba thầy tu chơi vĩ cầm như điên và các bà thì bắt đầu vừa uốn éo vừa rít lên rất quái đản’.

IBRAHIM: LỬA THÁNH, CÁI CHẾT THÁNH

Ibrahim ngồi xuống. Bóng tối buông xuống. Giáo trưởng Hy Lạp, trong đám rước long trọng, bước vào điện thờ. Đám đông chờ đợi tia lửa thiêng bùng lên. Curzon trông thấy đốm lửa nhấp nháy rồi ngọn lửa của Phép Lạ được truyền đến ‘người khách hành hương đã trả số tiền cao nhất cho vinh dự này’, nhưng ‘một trận chiến dữ dội’ bùng phát vì Lửa Thánh; các khách hành hương ngã xuống nền nhà trong những cơn bất tỉnh xuất thần; khói mù mịt đầy ắp Nhà Thờ; ba khách hành hương ngã từ hành lang tầng trên xuống chết; một phụ nữ Armenia lớn tuổi nằm chết ngay trên ghế. Ibrahim cố hết sức ra khỏi Nhà Thờ nhưng không đi chuyển được. Đội cận vệ của ông, cố hết sự vạch một lối đi qua đám đông, bắt đầu buộc phải giẫm đạp. Vào thời điểm Curzon đến được chỗ Thánh Nữ Đồng Trinh đứng trong bục Đóng Đinh, đá đã lung lay dưới bàn chân ông.

Đúng là tôi thực sự phải giẫm lên một đống thân thể. Tất cả đều đã chết. Nhiều người mặt thâm tím vì ngạt thở và người khác thì toàn máu me và óc não và nội tạng phủ lên người, bị đám đông giẫm đạp ra từng mảnh. Binh lính với lưỡi lê phải giết một số người khốn khổ bất tỉnh, vách tường bê bết máu và óc não của người bị đốn ngã như bò trong lò sát sinh.

Vụ giẫm đạp điên cuồng trở thành một trận chiến tuyệt vọng và dã man để mong sống còn – Curzon chứng kiến người chết chung quanh ông. Ibrahim chỉ thoát được trong đường tơ kẽ tóc, bất tỉnh vài lần cho đến khi cận vệ phải rút gươm xả một con đường máu qua da thịt người.

Các thi thể nằm chất đống thậm chí trên Tấm Đá Xức Dầu ngay bên trong lối vào Mộ Thánh. Ibrahim đứng trong sân ra lệnh dọn dẹp thi thể và lôi người con sống ra. 400 khách hành hương thiệt mạng. Khi Curzon thoát ra được, nhiều thi thể người chết vẫn còn đứng.

IBRAHIM: VỤ NÔNG DÂN NỔI DẬY

Khi tin tức thảm họa lan truyền khắp một giáo quốc đang khủng hoảng, các Đại gia Jerusalem, Nablus và Hebron đứng lên nổi dậy. Vào ngày 8/5, 10,000 nông dân Ai Cập có vũ trang tấn công Jerusalem, nhưng bị binh sĩ Ibrahim đẩy lui. Ngày 19/5, trong một khung cảnh làm nhớ lại việc đánh chiếm Jerusalem của Vua David, dân làng Silwan, bên dưới Thành phố David, chỉ cho bọn nổi dậy một con đường hầm bí mật. Họ chui qua vào tận trong thành phố và mở Cổng Dung đặt ở bước tường phía nam. Nông dân tràn vào cướp bóc các tiệm tạp hóa, binh lính trấn áp họ, rồi hùa vào cướp bóc theo . Bimbashi – chỉ huy quân đồn trú – bắt giữ các lãnh đạo của các Đại gia ở Jerusalem, nhà Husseini và Khalidi. Nhưng 20,000 người giờ đây đang cướp phá đường phố và bao vây Tháp. Hai nhà truyền giáo Mỹ trẻ tuổi, William Thomson và người vợ có bầu của ông Eliza, núp trong hầm trú ẩn: ông bỏ bà ở lại để đi Jaffa tìm trợ giúp  trong khi bà nhốt mình trong phòng, giữa tiếng gầm rú của đại bác, tiếng tường đổ, tiếng hét thất thanh của người láng giềng, nỗi sợ chết khiếp của người hầu và thời khắc chờ đợi tử thần’. Bà hạ sinh một bé trai, nhưng đến lúc ông chồng trở lại Jerusalem thì bà đang hấp hối. Ông nhanh chóng thoát khỏi đất nước khốn khổ này.

Ibrahim, người đã rút quân về Jaffa, giờ đang chiến đấu qua các vùng đồi, mất đến 500 quân. Vào ngày 27/5, hạ trại trên Núi Zion, ông tấn công, giết 300 tên nổi loạn. Nhưng ông bị phục kích gần Hồ Solomon, và bị vây hãm trong Lăng mộ David. Phe nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Husseini và Abu Ghosh, lại vùng lên. Ibrahim phải gọi viện binh từ cha mình.

Chính Mehmet Ali đích thân dẫn 25,000 quân giong buồm đến Jaffa: ‘một ông già đẹp lão, khom người oai vệ trên chiến mã, chễm chệ, đường hoàng và rất phù hợp với phẩm chất của một con người vĩ đại’. Quân Albania đè bẹp phe nổi dậy và chiếm lại Jerusalem; nhà Husseini xứ Jerusalem bị lưu đày đến Ai Cập. Phe nổi loạn lại trỗi dậy lần nữa, nhưng Ibrahim the Red tàn sát họ bên ngoài Nablus, cướp phá Hebron và vùng quê, bêu đầu những tù binh – và tiến hành một ách cai trị khủng bố ở Jerusalem. Trở lại thành phố, ông bổ nhiệm tộc trưởng Jaber Abu Ghosh một tên săn trộm hoá người canh trộm làm thống đốc, và chặt đầu bất kỳ ai còn giấu vũ khí. Tường thành được trang trí bằng thủ cấp; các tù binh bị giam mục xương trong nhà tù mới ở Kishleh gần Cổng Jaffa, từ đó được người Ottoman, Anh và Israel sử dụng.

Người Albania là những người cách tân nhiệt tình, cần sự hậu thuẫn của người Anh nếu họ muốn chinh phục đế chế Ottoman. Ibrahim cho phép nhóm thiểu số sửa chữa những cơ ngơi đổ nát của họ: người Francis phục hồi St Saviour; người Do Thái dòng Sephardic bắt đầu xây lại Giáo đường Zakkai, một trong bốn giáo đường của Khu Do Thái; người Ashkenazis trở về Giáo đường Hurva, đã bị tàn phá vào năm 1720. Mặc dù Khu Do Thái giờ đây nghèo kiết xác, một ít người Do Thái gốc Nga, bị bức hại ở quê nhà, bắt đầu đến đó định cư.

1

Thống soái Albania râu đỏ Ibrahim Pasha chinh phục Syria vào năm 1831và suýt chiếm được Istanbul cho cha mình Mehmet Ali. Ông đập tan người Jerusalem nổi loạn một cách tàn bạo và mở cửa thành phố cho người Âu.

Năm 1839, Ibrahim thử thời vận ở Istanbul. Ông đập tan những binh đoàn Ottoman. Nước Pháp của Vua Louis Philippe hậu thuẫn người Albania, nhưng người Anh sợ ảnh hướng của Pháp và Nga nếu Ottoman thất thủ. Vị sultan và kình địch Ibrahim tranh thủ sự hậu thuẫn của phương Tây. Abdulmecid, vị sultan còn vị thành niên, ban hành một Huấn lệnh Cao quý hứa hẹn quyền bình đẳng cho nhóm thiểu số, trong khi Ibrahim mời các người Âu lập những lãnh sự quán ở Jerusalem – và, lần đầu tiên kể từ thời Thập Tự Chinh, cho phép rung chuông nhà thờ.

Năm 1839, phó lãnh sự đầu tiên của Anh, William Turner Young, đến Jerusalem không chỉ để đại diện cho quyền lực mới của London mà còn cải đạo cho người Do Thái để đẩy nhanh Sự Trở Lại (của Jesus).

david-roberts-church-of-the-holy-sepulchre-jerusalem-victorian-painting-postcard-98720-p

Mehmet Ali tiếp kiến hoạ sĩ người Tô Cách Lan  David Roberts trên đường đến Jerusalem: những bức họa ông vẽ phong cảnh phương Đông, như bức họa bên trong Mộ Thánh trên đây, đã ảnh hưởng đến quan điểm của châu Âu về Palestine.

CHƯƠNG 37:  NGƯỜI TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM (1840–1855)

PALMERSTON VÀ SHAFTESBURY: NGƯỜI ỦNG HỘ CHỦ NGHĨA ĐỂ QUỐC VÀ NGƯỜI TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM

Chính sách ngoại giao liên quan đến Jerusalem là tác phẩm của Lord Palmerston, ngoại trưởng, nhưng sứ mạng đạo giáo là thành tựu của người con rể riêng của vợ thuộc giáo phái Phúc âm, Bá tước xứ Shaftesbury. Palmerston, 55 tuổi, không phải là người hợm hĩnh kiểu thời Victoria hay mộ đạo như dòng Phúc âm. Mối quan tâm của ông về người Do Thái đều có tính thực tiễn: người Pháp tăng cường quyền lực bằng cách bảo vệ người Thiên chúa, người Nga bằng cách bảo vệ người Chính thống giáo, nhưng có ít người Tin Lành ở Jerusalem. Palmerston muốn giảm ảnh hưởng của Pháp và Nga, và nhận thấy rằng quyền lực của Anh có thể tăng lên bằng cách bảo vệ người Do Thái. Sứ mạng khác – cải đạo người Do Thái – là kết quả của quyết tâm có tính phúc âm của con rể ông ta.

Shaftesbury, 39 tuổi, tóc quăn và để râu mép, là hiện thân của một người Anh thời Victoria. Một nhà quý tộc có tấm lòng thuần khiết hiến dâng cho sự nghiệp cải thiện cuộc sống công nhân, trẻ em và người tâm thần, ông cũng là người theo trào lưu chính thống trong tôn giáo, tin rằng Kinh thánh ‘là lời của Chúa được viết ra ngay từ ký tự đầu cho đến ký tự cuối’. Ông tin chắc rằng Cơ đốc giáo năng động sẽ xiển dương một sự phục sinh đạo lý toàn cầu và nâng cao tính nhân bản. Ở Anh, Thanh giáo đã từ lâu bị lấn áp bởi chủ nghĩa duy lý của Sự Khai Sáng nhưng sống sót được trong nhóm người không theo quốc giáo. Giờ nước Anh trở về với trào lưu chính: Cách mạng Pháp với máy chém, và Cách mạng Kỹ nghệ với quần chúng công nhân, đã thành hình một tầng lớp trung lưu Anh mới trân trọng những niềm tin vững chắc vào lòng mộ đạo, vào giá trị đáng tôn kính và Kinh thánh, thuốc giải độc cho chủ nghĩa duy vật đang gào thét trong sự hưng thịnh thời Victoria.

Hiệp hội London Vận động người Do Thái vào Cơ đốc giáo, được biết dưới tên Hiệp hội Do Thái, được thành lập vào năm 1808, giờ đang nở rộ, nhờ một phần vào Shaftesbury. ‘Mọi thanh niên trẻ đều phát rồ vì tôn giáo,’ Lord Melbourne, thủ tướng tại thời điểm đăng quang của Nữ Hoàng Victoria vào năm 1837, càu nhàu. Tin tưởng rằng sự cứu rỗi vĩnh viễn sẽ đạt được qua trải nghiệm cá nhân của Jesus và tin lành của ngài (tiếng Hy Lạp là evangelion), những người theo dòng phúc âm này mong chờ Sự Trở Lại (của Jesus). Shaftesbury tin tưởng, như những người Thanh giáo hai thế kỷ trước, rằng sự trở lại và việc cải đạo người Do Thái sẽ tạo ra một Jerusalem thuộc giáo phái Anh và Vương quốc Thiên đường. Ông chuẩn bị một bản ghi nhớ cho Palmerston: ‘Tồn tại một xứ sở không có quốc gia và Chúa Trời trong sự minh triết và khoan dung của ngài sẽ chỉ đạo cho chúng ta đến một quốc gia không có xứ sở.’

Palmerston chỉ thị cho phó lãnh sự Young ở Jerusalem, ‘Một phần nghĩa vụ của ông là bảo vệ cho người Do Thái nói chung.’ Đồng thời ông bảo với vị đại sứ của mình tại Istanbul là ông ta nên ‘mạnh mẽ khuyến cáo với vị sultan là nên đưa ra mọi khuyến khích chính đáng cho người Do Thái Âu châu trở về Palestine’. Vào tháng 9 1839, Young thành lập chi nhánh Jerusalem của Hiệp hội Do Thái London. Shaftesbury hớn hở, ghi chép trong nhật ký của mình, ‘Thành phố cổ của dân tộc Chúa Trời sắp sửa chiếm một vị trí giữa các quốc gia. Tôi sẽ luôn nhớ rằng Chúa Trời đã gieo vào đầu óc tôi dự án vì Vinh hiển của Người, ban cho tôi ảnh hưởng để thuyết phục được Palmerston, và cung cấp một  người cho tình thế, có thể tái tạo Jerusalem trong vinh quang của nó.’ Shaftesbury mang chiếc nhẫn ấn có khắc cụm từ ‘Hãy cầu nguyện cho Jerusalem’, trong khi (như ta đã biết) một nhân vật thời Victoria nhiệt huyết khác cũng  gắn bó với Jerusalem  – Sir Moses Montefiore – thêm chữ Jerusalem vào tay áo mới của mình và khắc nó  trên xe ngựa, nhẫn ấn và ngày cả giường ngủ như vẽ bùa chú. Giờ, vào tháng 6 1839, Montefiore và vợ Judith trở lại Jerusalem, trang bị súng lục để bảo vệ số tiền họ đã quyên góp được ở London.

Jerusalem bị dịch bệnh hoành hành, vì thế Montefiore cắm trại bên ngoài Núi Olives nơi ông họp hành, đón tiếp hơn 300 khách. Khi bệnh dịch đã thuyên giảm, Montefiore đi vào thành phố trên lưng một con bạch mã được thống đốc cho mượn và bắt đầu nghe những lời thỉnh nguyện và phân phát quà từ thiện cho dân nghèo Do Thái. Vợ chồng ông được cả ba tôn giáo ở Jerusalem nghênh đón, nhưng trong khi họ đến thăm Điện Thờ ở Hebron ở phía nam, một đám đông Hồi giáo tấn công họ. Họ chỉ thoát chết nhờ binh lính Ottoman can thiệp. Montefiore vẫn không nản lòng. Khi ông rời nơi đó, nhân vật Do Thái tái sinh viết trong nhật ký: ‘Ôi Jerusalem, cầu mong thành phố sẽ sớm được tái tạo ngay trong thời đại chúng ta. Amen.’

Shaftesbury và Montefiore cả hai đều tin tưởng vào tính thiêng liêng của đế chế Anh và sự trở về Zion của dân Do Thái.  Sự chính đáng của nhiệt tình phúc âm và hồi sinh giấc mơ Do Thái về Jerusalem ăn khớp chỉn chu để trở thành một trong những nỗi ám ảnh thời Victoria, và vừa đúng lúc hoạ sĩ David Roberts từ Palestine trở về vào năm 1849 để triển lãm trước công chúng những hình ảnh lãng mạn rất được thưởng ngoạn về một Jerusalem Đông phương đầy sắc màu đang chín mùi cho văn minh Anh và việc phục hồi Do Thái. Người Do Thái đang cần khẩn thiết sự bảo hộ của chính quyền Anh vì những hứa hẹn khoan dung cạnh tranh nhau do vị sultan và người Albania ban hành xúi giục một sự giật lùi chết người.

JAMES FINN: VIÊN LÃNH SỰ PHÚC ÂM

Vào tháng 3 1840, bảy người Do Thái ở Damascus bị kết tội giết chết một thầy tu Cơ đốc và người hầu Hồi giáo để lấy máu hiến tế tại lễ Vượt Qua. Kịch bản tưởng tượng này là “sự vu khống máu’ đầy tai tiếng đã xuất hiện lần đầu tiên tại Oxford vào thời điểm Thập Tự Chinh Lần 2 vào thế kỷ 12. 63 trẻ em Do Thái bị bắt và tra tấn để buộc các bà mẹ chúng phải khai ra ‘chỗ cất giấu máu’.

Cho dù ông chỉ mới trở về London,  Sir Moses Montefiore, được nhà Rothschild hậu thuẫn, cầm đầu chiến dịch giải cứu người Do Thái ở Damascus khỏi bị bức hại kiểu trung cổ này. Tham gia lực lượng còn có luật sư Pháp Adolphe Cremieux, Montefiore vội vã đến Alexandria để vận động Mehmet Ali phóng thích các tù nhân. Nhưng chỉ vài tuần sau, lại xảy ra một ‘vụ  khống máu’ khác ở Rhodes.

 Montefiore lại giong buồm từ Alexandria đến Istanbul. Tại đó ông được vị sultan tiếp kiến và ông thuyết phục ông ta ban hành một sắc luật phủ định dứt khoát sự thật về ‘vụ vu khống máu’. Đó là thời khắc tốt đẹp nhất của Montefiore – nhưng thành tựu của ông có được là do quốc tịch của ông cũng như do chính sách ngoại giao có trọng lượng của mình. Đây là thời điểm tốt đẹp cho một người Anh ở Trung Đông.

Cả vị sultan và người Albania đều điên cuồng tranh nhau ân huệ của chính phủ Anh trong khi sự tồn vong của đế chế Ottoman đang treo lơ lửng. Jerusalem vẫn còn nằm dưới quyền của Ibrahim the Red đang cai trị phần lớn vùng Trung Đông. Trong khi Pháp ủng hộ người Albania, Anh ra sức thỏa mãn cơn thèm ăn của họ đồng thời duy trì người Ottoman. Họ dâng Palestine cũng như Ai Cập nếu Ibrahim rút quân khỏi Syria. Đó là một đề xuất tốt nhưng Mehmet Ali và Ibrahim khó thể cưỡng được phần thưởng tối cao: Istanbul. Ibrahim thách thức người Anh vì thế Palmerston thành lập một liên minh Anh-Áo-Ottoman và phái các pháo thuyền, dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Charles Napier, và đại bác khai hỏa. Ibrahim sụp đổ trước sức mạnh của quân Anh.

Ibrahim the Red đã mở cửa Jerusalem cho người Âu và thay đổi nó mãi mãi nhưng giờ đây, đáp lại quyền trị vì được kế thừa ở Ai Cập, ông phải bỏ Syria và Thành phố Thánh.* Người Pháp, bị bẽ mặt vì thắng lợi của Palmerston, xem xét một ‘Thành phố Tự do thuộc Cơ đốc tại Jerusalem’, một đề nghị đầu tiên cho một Zion có tính quốc tế. Vào ngày 20/10/1840, binh sĩ của sultan hành quân trở lại Jerusalem. Bên trong tường thành, một phần ba thành phố bị bỏ hoang, mọc đầy bụi rậm xương rồng, và chỉ còn lại 13,000 dân, nhưng trong số đó giờ có 5,000 người Do Thái, đông lên nhờ dân nhập cư đến từ Nga và dân tị nạn từ một vụ động đất đã giáng xuống Safed ở Galilee.

* Người Albania không hề nắm giữ Jerusalem lần nữa nhưng họ cai trị Ai Cập trong một thế kỷ, trước tiên như các vị khedive (phó vương Ottoman trên danh nghĩa nhưng thực ra có tính độc lập), rồi như các sultan Ai Cập và cuối cùng như vua. Khi Mehmet Ali lão suy, Ibrahim lên làm nhiếp chính cho ông nhưng lại chết trước cha vào năm 1848. Vị vua cuối cùng của triều đại Albania là Farouk, bị lật đổ vào năm 1952.

Cho dù sau đó Palmerston mất chức ngoại trưởng về tay Lord Aberdeen, người ra lệnh viên phó lãnh sự ngừng những kế hoạch Do Thái phúc âm, nhưng Young vẫn tiếp tục bất chấp. Khi Palmerston trở lại quyền lực ông ra lệnh lãnh sự Jerusalem ‘nhận tất cả người Do Thái Nga dưới sự bảo trợ của Anh nếu họ nộp đơn đến ông’.

Trong khi đó Shaftesbury đã thuyết phục tân thủ tướng, Robert Peel, hậu thuẫn cho việc thành lập giáo hội và tòa giám mục đầu tiên của giáo hội Anh ở Jerusalem. Năm 1841, Phổ (vị vua Phố đã đề xuất một Jerusalem quốc tế theo Cơ đốc) và Anh hợp tác bổ nhiệm giám mục Tin Lành đầu tiên, Michael Solomon Alexander, một người gốc Do Thái đã cải đạo. Các nhà truyền giáo Anh trở nên năng nổ hẳn lên trong sứ mệnh Do Thái. Năm 1841, tại buổi lễ khai mạc Giáo hội Christ English gần Cổng Jaffa, ba người Do Thái được rửa tội trước sự hiện diện của Lãnh sự Young. Nỗi cơ cực của người Do Thái ở Jerusalem thật đáng thương: họ sống ‘như lũ ruồi đã chiếm nơi cư trú  trong một đầu lâu’, nhà văn Mỹ Herman Melville đã viết như thế. Cộng đồng Do Thái đang phình ra sống trong cảnh nghèo khó gần như là kịch tính, không có chăm sóc y tế nào, nhưng họ nhận được sự chửa chạy của các bác sĩ tự nguyện do Hiệp hội Do Thái London cung cấp. Điều này khiến một ít người chịu cải đạo.

‘Tôi có thể vui sướng có Zion là thủ đô,’ Shaftesbury trầm ngâm, ‘có Jerusalem là nhà thờ và có Hebrew là một vị Vua!’ Jerusalem qua một đêm từ một nơi đổ nát chậm tiến bị một pasha tồi tệ sống trong một cung điện diêm dúa cai trị đến một thành phố với một bộ sậu đông đúc các nhà quyền thế đeo vàng và gắn trang sức. Đã không còn có giáo trưởng người Latinh kể từ thế kỷ 13 và giáo trưởng Chính thống giáo từ lâu đã cư ngụ tại Istanbul, nhưng giờ đây người Pháp và người Nga bảo trợ cho họ trở lại Jerusalem. Tuy nhiên, chính bảy vị lãnh sự, những viên chức nhỏ được bơm phồng lên đại diện cho những tham vọng đế quốc, là những người hiếm khi che giấu vẻ hống hách của mình. Được hộ tống bởi các cận vệ đồ sộ mặc đồng phục màu tía sáng, tay cầm kiếm và gậy vàng nặng gỏ trên đá sỏi để dọn đường, các lãnh sự diễu hành trang trọng qua thành phố, khao khát tìm bất kỳ  cớ nào để áp đặt ý muốn của mình lên các thống đốc Ottoman bị hành hạ. Binh sĩ Ottoman thậm chí phải đứng nghiêm với các con cái của lãnh sự. Thái độ của các lãnh sự Áo và Sardinia càng hống hách hơn vì các quốc vương của họ tuyên bố mình là vua của Jerusalem. Nhưng không ai xấc xược và nhỏ nhen hơn các lãnh sự Anh và Pháp.

Năm 1845, Young bị James Finn thay thế. Trong vòng 20 năm, ông này có quyền hành không kém các thống đốc Ottoman. Con người quấy rối tỏ ra mộ đạo này xúc phạm mọi người từ các ông lớn người Anh đến các pasha Ottoman đến mọi chính khách nước ngoài khác. Bất kể lệnh phát ra từ London, y đưa tay hỗ trợ người Do Thái gốc Nga nhưng không bao giờ thôi sứ mạng cải đạo họ. Khi người Ottoman cho phép người nước ngoài sở hữu đất đai, Finn mua và phát triển nông trại của mình ở Talbieh và rồi một nông trại khác ở  Abraham’s Vineyard, được một Cô Cook nào đó ở Cheltenham tài trợ, và được một nhóm các quý bà phúc âm Anh tận tình giúp đỡ, như một phương tiện nhằm cải đạo nhiều người Do Thái hơn bằng cách dạy họ niềm vui của một công việc lương thiện.

Finn coi mình là nơi giao thoa  giữa một phó lãnh sự đế chế, nhà truyền giáo thánh thiện và một đại điền chủ, mua đất đai và nhà cửa bừa bãi với một số lượng tiền lớn đáng ngờ. Y và bà vợ, cũng là một người phúc âm cuồng tín khác, học thông thạo tiếng Hebrew và tiếng Ladino thông dụng. Họ hăng say bảo vệ người Do Thái, vốn bị áp bức tàn tệ ở Jerusalem. Vậy mà cùng lúc họ thúc ép cải đạo người Do Thái khiến một số dân Do Thái chống đối dữ dội. Finn gọi các giáo sĩ đạo Do Thái là ‘kẻ cuồng tín’, nhưng ở chính nước Anh, ngài Montefiore, nghe tin người Do Thái bị quấy nhiễu, liền phái một bác sĩ Do Thái cùng dược phẩm đến Jerusalem để chia sẻ ảnh hưởng với Hiệp hội Do Thái bằng cách xây dựng một bệnh viện tại rìa Khu Do Thái.

Trong khi đó các lãnh sự được tiếp tay bởi một chính khách có lẽ là phi thường nhất trong lịch sử nước Mỹ.

WARDER CRESSON, LÃNH SỰ MỸ: NGƯỜI MỸ XA LẠ THẦN THÁNH

Vào ngày 4/10/1844, Warder Cresson đến Jerusalem nhậm chức lãnh sự toàn quyền của Hoa Kỳ ở Syria và Jerusalem – tiêu chuẩn bổ nhiệm chính của ông là do ông tin chắc là Sự Trở Lại sẽ xảy ra vào năm 1847. Cresson mang dáng dấp cao ngạo của các người đồng cấp Âu châu nâng lên một mức độ mới: ông phi ngựa quanh Jerusalem trong ‘đám bụi mù mịt’ vây quanh là ‘đạo quân nhỏ Mỹ’ gồm một ‘đội hiệp sĩ’ lấy ra từ tiểu thuyết của Walter Scott – ‘một đội kỵ sĩ vũ trang sáng loáng do một người Ả Rập dẫn đầu theo sau là hai vệ binh Thổ với mã tấu bạc lấp lánh dưới ánh mặt trời’.

Trong buổi yết kiến với vị pasha, Cresson giải thích là mình đến vì ngày Khải Huyền sắp tới và sự trở về của dân Do Thái. Ông là một địa chủ ở Philadelphia, đã trải qua 20 năm lăn lóc từ giáo phái khải huyền này đến giáo phái khải huyền khác. Sau khi viết tuyên ngôn đầu tiên của mình, Jerusalem, Trung tâm Niềm Vui của Toàn Thế giới, và bỏ lại vợ và sáu con, Cresson thuyết phục Ngoại trưởng John Calhoun hãy chỉ định ông làm lãnh sự: ‘Tôi bỏ lại mọi thứ thân thiết và gần gũi với tôi trên mặt đất để theo đuổi chân lý.’ Tổng thống Hoa Kỳ John Tyler ngay lập tức được các chính khách báo tin là viên lãnh sự đầu tiên của ông ở Jerusalem là một ‘tên cuồng tín và tâm thần’, nhưng Cresson đã có mặt ở Jerusalem. Và ông không phải là người độc nhất có quan điểm khải huyền: ông là một người Mỹ điển hình của thời đại mình.

Hiến pháp Hoa Kỳ mang tính thế tục, thận trọng không đề cập đến Christ và chia tách nhà nước với nhà thờ, vậy mà trên Đại Ấn, các Tổ phụ Lập quốc, Thomas Jefferson và Benjamin Franklin, đã mô tả Những Đứa Con của Israel được mây và lửa dẫn lối về Miền Đất Hứa. Cresson là hiện thân cách thức mây và lửa đó đang lôi kéo nhiều người Mỹ đến Jerusalem. Thực ra việc tách biệt Giáo hội và nhà nước đã giải phóng niềm tin Mỹ và làm sinh sôi những giáo phái mới và các tiên tri thiên niên kỷ còn tươi rói.

Những người Mỹ buổi đầu, kế thừa nhiệt huyết của các tín đồ Thanh giáo Anh, đã tận hưởng Sự Thức Tỉnh Lớn của niềm vui tôn giáo. Giờ đây, trong nửa đầu thế kỷ 19 Sự Thức Tỉnh Lớn Thứ Hai được năng lượng phúc âm của miền biên địa thúc đẩy. Năm 1776, có khoảng 10 phần trăm dân Mỹ đi nhà thờ đều đặn; đến năm 1815, con số là một phần tư; đến năm 1914, là phân nửa. Đạo Tin Lành hăng say có tính Mỹ về bản chất – cứng cỏi, hồ hởi và hung hăng. Ngay trong trung tâm của nó là niềm tin con người có thể tự cứu rỗi và đẩy nhanh Sự Trở Lại bằng những hành động công chính và niềm vui tâm hồn. Chính nước Mỹ là một sứ mạng được ngụy trang dưới hình thức một quốc gia, được Thượng Đế ban phước lành, không khác cách thức mà Shaftesbury và các nhà phúc âm Anh đã nhìn thấy ở đế chế Anh.

Trong những ngôi nhà thờ nhỏ bé bằng gỗ tại những thị trấn khai mỏ chỉ có xe một ngựa, những trại ấp trên những đồng cỏ bạt ngàn và những thành phố kỹ nghệ mới lấp lánh, những nhà truyền giáo trong Miền Đất Hứa Mới của Mỹ thuật lại những khải thị kinh thánh nguyên bản trong Cựu Ước. Tiến sĩ Edward Robinson, một học giả phúc âm, sau này trở thành người thành lập môn khảo cổ kinh thánh ở Jerusalem, phát biểu, ‘Không xứ nào Kinh thánh được hiểu tường tận như ở đây.’  Những nhà truyền giáo Mỹ đầu tiên tin rằng Thổ dân Hoa Kỳ là các Bộ tộc Bị Thất lạc của Israel và rằng mỗi người Cơ đốc phải thi hành những nghĩa vụ công chính ở Jerusalem và giúp Sự Trở Lại và Phục Dựng của người Do Thái: ‘Tôi thành tâm muốn người Do Thái trở về Judaea lần nữa trong một quốc gia độc lập,’ John Adams, Tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ, viết. Năm 1819, hai nhà truyền giáo trẻ ở Boston chuẩn bị biến việc này thành hành động: ‘Mỗi cặp mắt đều hướng về Jerusalem,’ Levi Parson giảng ở Boston, ‘đúng thực là trung tâm của thế giới.’ Cử toạ bật khóc khi Pliny Fisk tuyên bố : ‘Tâm trí tôi đã trói buộc với Jerusalem.’ Họ đã đến đó nhưng cái chết sớm sủa của  họ ở phương đông không làm nản lòng người khác vì như William Thomson, nhà truyền giáo Mỹ có người vợ đã mất trong cuộc nổi dậy năm 1834, đã nhấn mạnh, ‘Jerusalem là tài sản chung của toàn thế giới Cơ đốc.’

Lãnh sự Cresson đã cưỡi lên ngọn sóng của những lời tiên tri bừng nở này: ông đã từng là người Shaker, Millerite, Mormon và Campbellite trước khi một giáo sĩ Do Thái địa phương ở Pennsylvania thuyết phục ông rằng ‘sự cứu rỗi là của người Do Thái’ mà sự trở về của họ sẽ mang đến Sự Trở Lại (của Jesus).* Một trong những người đầu tiên đến Jerusalem là Harriet Livermore. Con gái và cháu gái của những đại biểu quốc hội New England, bà lên đường vào năm 1837, sau nhiều năm giảng đạo cho người Da Đỏ thuộc bộ tộc Sioux và Cheyenne rằng họ chính là Các Bộ tộc Bị Thất lạc của Israel, những người phải đồng hành cùng bà trở lại Zion. Bà thuê phòng ở Núi Zion để chuẩn bị lập giáo phái Pilgrim Strangers (Người Lạ Hành hương), cho Ngày Khải Huyền mà bà kỳ vọng là xảy ra vào năm 1847 – nhưng ngày ấy không đến và cuối cùng là bà đi xin ăn trên đường phố Jerusalem. Cùng thời gian đó, Joseph Smith, nhà tiên tri khải thị mới về Các Thánh Ngày Sau Này – giáo phái Mormons – gởi Tông đồ của mình đến Jerusalem: ông cho xây một áng thờ trên Oliver để sẵn sàng ‘phục dựng Israel với Jerusalem là kinh đô.

* William Miller là một trong những nhà tiên tri Mỹ mới  tiếng tăm nhất. Một cuu sĩ quan quân đội ở Massachusetts, ông tính rằng Christ sẽ trở lại Jerusalem vào năm 1843: 100,000 người Mỹ đã trở thành tín đồ giáo phái Millerite này. Ông căn cứ vào phán quyết trong Sách Daniel 8.14 rằng ‘điện thờ sẽ được tẩy uế’ trong ‘2,300 ngày’ mà theo ông một ngày trong tiên tri sẽ bằng một năm. Vậy là bắt đầu tính từ năm Vua Ba Tư Artaxerxes I ra lệnh phục hồi Điện Thờ là 457 TCN, vị chi là đến năm 1843. Khi không có gì xảy ra vào năm đó, ông lại đề nghị năm 1844. Những giáo phái kế tiếp Millerite như  Seventh Day Adventists và Nhân Chứng Jehovah vẫn còn có đến  14 triệu thành viên trên toàn thể giới.

Khoảng thời gian Cresson trở thành lãnh sự Mỹ, một số đông tăng dần các nhà phúc âm Mỹ viếng thăm Jerusalem để chuẩn bị cho Ngày Tận Thế. Chính quyền Mỹ cuối cùng bãi nhiệm ông, nhưng ông vẫn ương ngạnh tiếp tục cấp hộ chiếu bảo hộ cho người Do Thái có giá trị vài năm và rồi, đổi tên họ là Michael Boaz Israel, cải sang Do Thái giáo. Đối với bà vợ bị bỏ rơi điều này là một khải thị quá đáng. Bà kiện ông để tòa xử ông là người tâm thần, thuật lại những lần ông vung vẫy súng lục, những vụ hô hào ngoài đường phố, tình trạng mất khả năng tài chính, chủ nghĩa chiết trung về giáo phái, những kế hoạch tái thiết Điện Thờ Do Thái và biến thái tình dục. Ông giong buồm trở về từ Jerusalem để được Điều tra Tâm thần tại Philadelphia, một vụ án nổi tiếng, vì bà Cresson đang thách thức quyền hợp hiến của công dân Hoa Kỳ được tin tưởng theo sở thích cá nhân, tinh yếu của nền tự do kiểu Jefferson.

Tại phiên tòa Cresson được xử là bị tâm thần, nhưng ông kháng cáo và được cho phép xử lại. Bà Cresson phải ‘chối đấng Cứu Thế của mình hoặc Chồng mình’ trong khi ông phải chối ‘hoặc Đấng Thượng Đế Độc Nhất hoặc Vợ Mình’. Bà vợ thua phiên tòa thứ hai, khẳng định quyền tự do tín ngưỡng của Hoa Kỳ, và Cresson trở lại Jerusalem. Ông thành lập một trang trại kiểu mẫu Do Thái gần thành phố, nghiên cứu Kinh Torah, ly dị bà vợ Mỹ và lấy một thiếu nữ Do Thái, trong khi hoàn tất cuốn sách Chìa Khoá của David. Ông được người Do Thái địa phương vinh danh là ‘Người Mỹ Xa Lạ Thần Thánh’. Khi ông mất ông được chôn cất trong nghĩa địa Do Thái trên Núi Olives.

Jerusalem giờ đây tấp nập những người Mỹ mê khải huyền đến nỗi Tập san Tâm thần Hoa Kỳ so sánh hiện tượng điên cuồng đó với vụ Đổ Xô Tìm Vàng California. Khi Herman Melville đến thăm, ông thích thú nhưng ghê tởm trước sự lây lan của căn bệnh mê tín ngàn năm của người Cơ đốc Mỹ – ‘bệnh cuồng Do Thái lố bịch này’, ông gọi như thế, ‘nửa hoài cổ, nửa trò hề’. ‘Tôi phải xử sự ra sao khi bất kỳ công dân Mỹ điên rồ hoặc trầm cảm nào cũng có thể vào xứ này?’ Lãnh sự Mỹ ở Beyrut hỏi ngoại trưởng của ông ta. ‘Gần đây có một số người đến Jerusalem với những ý nghĩ kỳ lạ trong đầu là Đấng Cứu Thế của chúng ta sẽ đến trong năm nay.’ Nhưng Melville cho rằng những kỳ vọng chấn động địa cầu đó là điều bất khả thỏa mãn: ‘Không xứ sở nào làm tiêu tan những mong chờ lãng mạn đó nhanh chóng hơn Palestine, đặc biệt Jerusalem. Đối với một số người nỗi thất vọng thật là sầu não.’

Jerusalem là thiết yếu đối với tầm nhìn phúc âm của Anh và Mỹ về Sự Trở Lại. Nhưng mà thậm chí tính cấp bách của nó bị thui chột bởi nhiệt tình của Nga về Jerusalem. Giờ trong những năm của thập niên 1840, những tham vọng gây hấn của Hoàng đế Nga sắp sửa đặt Jerusalem vào vị trí mà một du khách Anh gọi là ‘trung tâm của lịch sử đã qua và sắp tới của thế giới’ và đốt lên cuộc chiến Âu châu.

TÊN SEN ĐẦM CỦA CHÂU ÂU VÀ VỤ NỔ SÚNG TRONG MỘ THÁNH: VÀNG CỦA NGA Ở JERUSALEM

Vào ngày Thứ Sáu Tốt Lành, 10/4/1846, thống đốc Ottoman và binh lính đang trong tình trạng ứng chiến tại Nhà Thờ. Năm đó thật bất thường khi lễ Phục Sinh của Chính thống và Cơ đốc giáo rơi cùng ngày. Các thầy tu không những bơm dầu vào lò đốt hương: họ còn tuồn súng lục và dao găm, giấu chúng phía sau các cột và dưới lớp áo. Phe nào sẽ được khai lễ đầu tiên? Người Hy Lạp thắng cuộc đua đặt được khăn trải của mình lên áng thờ Calvary. Người Thiên chúa chỉ ngay sau họ – nhưng như thế là  quá muộn. Họ thách thức người Hy Lạp: họ có phép của vị sultan không? Người Hy Lạp thách thức người Thiên chúa – sắc chỉ sultan cho quyền họ cầu nguyện trước tiên ở đâu? Hai phe chực chờ. Những ngón tay ắt hẳn đã đặt lên cò súng bên dưới lớp áo lễ. Thình lình, hai bên xáp vào nhau với mọi thứ vũ khí có thể biến chế được từ những đồ tế nhuyễn thờ cúng có thể mó tay đến: họ cầm thánh giá, giá đèn và đèn cho đến khi thép lạnh lóe lên và vụ nổ súng bắt đầu. Binh sĩ Ottoman xông vào ngăn cản vụ xung đột nhưng có 40 xác chết quanh Mộ Thánh.

Việc giết chóc vang dội khắp thế giới nhưng trên hết ở St Petersburg và Paris: sự tin cậy hung hăng của những kẻ gây rối chốn tu hành phản ánh không chỉ các tôn giáo mà còn những đế chế chống lưng chúng. Những tuyến đường sắt và tàu hơi nước mới ra đời khiến việc đi đến Jerusalem dễ dàng hơn từ khắp nơi trên châu Âu nhưng đặc biệt bằng đường biển từ Odessa đến Jaffa: đại đa số trong 20,000 khách hành hương giờ đây là người Nga. Một thầy tu Pháp nhận xét rằng trong một năm điển hình, trong số 4,000 khách hành hương dịp Giáng Sinh, chỉ có bốn người Thiên chúa, phần còn lại là người Nga. Sự tôn sùng của người Nga xuất phát từ lòng mộ đạo Chính thống giáo có thể tìm thấy từ  lớp tín đồ ở tận đáy xã hội, những nông dân nghèo xác xơ trong các ngôi làng hẻo lánh nhất ở Siberia, đến tận đỉnh cao chót vót, bản thân Sa hoàng Nicholas I. Sứ mạng Chính thống của nước Nga Thần Thánh được cả hai chia sẻ.

Khi Constantinople thất thủ vào năm 1453, các ông hoàng dòng Muscovy đã mặc nhiên coi mình là những người kế thừa của các hoàng đế Byzantine cuối cùng, Moscow là La Mã Thứ Ba. Các ông hoàng nhìn nhận biểu tượng hình đại bàng hai đầu và một tước hiệu mới, Caesar hoặc Tsar (Sa hoàng). Trong trận chiến chống lại các đại hãn vùng Crimes Hồi giáo và sau đó các sultan Ottoman, các sa hoàng xiển dương đế chế Nga như là cuộc thập tự chinh Chính thống giáo linh thiêng. Ở Nga, Chính thống giáo đã tiến hóa theo đặc thù khác thường Nga, lan rộng qua lãnh địa mênh mông của nó, bởi các sa hoàng – và các ẩn sĩ nông dân, tất cả họ đều tôn kính Jerusalem. Người ta cho rằng các thánh đường có mái vòm hình củ hành đặc biệt Nga là một nỗ lực nhằm sao chép những nhà thờ trong các tranh vẽ Jerusalem. Thậm chí Nga còn xây dựng Jerusalem mini của mình nhưng mọi người Nga đều tin rằng hành hương đến Jerusalem là một phần trọng yếu để chuẩn bị cho cái chết và sự cứu rỗi.

Nicholas I đã thấm nhuần truyền thống này – ông đúng là cháu của Catherine Đại Đế và người thừa kế của Peter Đại Đế, ở chỗ cả hai đều xiển dương mình là những người bảo hộ của Chính thống giáo và những Thánh địa, và chính nông dân Nga kết nối cả hai: khi anh trai của Nicholas Alexander I chết bất ngờ vào năm 1825, họ tin rằng ông ta đã đến Jerusalem như một ẩn sĩ bình thường, một phiên bản hiện đại của truyền thuyết Vị Hoàng đế Cuối cùng. 

Giờ Nicholas, cực kỳ bảo thủ, bài Do Thái gắt gao và phàm phu tục tử một cách trơ tráo trong mọi vấn đề nghệ thuật (ông tự chỉ định mình là người kiểm duyệt cá nhân cho Pushkin), coi mình là người duy nhất có thể trả lời được với  đấng mà ông gọi là ‘Chúa Trời Nga’ trong chính nghĩa ‘Nước Nga của chúng ta được Chúa Trời tin cậy ban cho Chúng ta.’ Người quân nhân kỷ cương này, tự hào là mình ngủ trên một chiếc võng nhà binh, cai trị nước Nga như một huấn luyện viên nghiêm khắc. Thời còn trẻ, chàng Nicholas vạm vỡ, mắt xanh này đã làm loá mắt xã hội Anh nơi một quý cô mô tả ông ‘đẹp trai mê hồn, người đàn ông đẹp trai nhất châu Âu!’ Khoảng thập niên 1840, tóc ông không còn và bụng đã to ra. Sau 30 năm sống hạnh phúc với người vợ bệnh hoạn, ông cuối cùng cũng có nhân tình, một cô hầu trẻ – và dù nắm trong tay một quyền lực rộng lớn toàn nước Nga, ông vẫn sợ sự bất lực, về cá nhân cũng như về chính trị.

Nhiều năm liền ông đã thận trọng sử dụng sự duyên dáng bản thân để thuyết phục Anh đồng ý chia phần của đế chế Ottoman, mà ông gọi là ‘con bệnh của châu Âu,’ hi vọng giải phóng các tỉnh lỵ Chính thống giáo ở vùng Balkan và nhìn qua Jerusalem. Giờ thì nước Anh không còn ấn tượng với ông nữa. Hai mươi lăm năm chuyên chính đã khiến ông chai sạn và mất kiên nhẫn: Nữ Hoàng Victoria sắc sảo viết, ‘Tôi không nghĩ rằng ông ta thông minh. Trí óc ông ta là trí óc kém văn minh.’

Ở Jerusalem, đường phố lấp lánh những dải viền vàng  và cầu vai của quân phục Nga mà các hoàng thân và các tướng lĩnh mặc, chen vai với áo da cừu và áo bờ lu của hàng ngàn nông dân hành hương Nga, được Nicholas khuyến khích. Chính ông cũng phái một sứ đoàn giáo hội để cạnh tranh với những người Âu châu. Lãnh sự Anh cảnh báo với London là ‘người Nga chỉ trong một đêm vào mùa lễ Phục Sinh có thể trang bị vũ khí cho 10,000 khách hành hương bên trong tường thành Jerusalem’ và chiếm lấy thành phố. Trong khi đó người Pháp theo đuổi sứ mạng riêng của mình để bảo vệ người Thiên chúa. Lãnh sự Finn báo cáo vào năm 1844, ‘Jerusalem giờ là tâm điểm mối quan tâm của Pháp và Nga.’

GOGOL: HỘI CHỨNG JERUSALEM

Không phải tất cả khách hành hương Nga đều là quân nhân hoặc nông dân và không phải tất cả tìm thấy được sự cứu rỗi mà mình nhắm đến. Vào ngày 23/2/1848, một khách hành hương Nga đi vào Jerusalem vừa là điển hình trong cơn sốt tôn giáo đang cao trào và vừa hoàn toàn không điển hình trong thiên tài khiếm khuyết của mình. Tiểu thuyết gia

Nikolai Gogol, nổi tiếng với vở kịch Tổng Thanh Tra và cuốn tiểu thuyết Những Linh Hồn Chết, đến thành phố trên lưng lừa để truy vấn sự an ủi tinh thần và cảm hứng linh thiêng. Ông hình dung Những Linh Hồn Chết là bộ tam thiên tiểu thuyết, nhưng ông đang chật vật viết cuốn thứ hai và thứ ba. Chúa ắt hẳn đã ngăn cản ông viết để trừng phạt tội lỗi của ông. Là người Nga, chỉ có một nơi có thể mang đến sự cứu chuộc: ông viết, ‘chỉ khi nào đến được Jerusalem, tôi mới có thể nói ra điều gì đó để an ủi ai đó.’

Chuyến viếng thăm thật thảm hại: ông trải qua một đêm duy nhất cầu nguyện cạnh Mộ Thánh, nhưng ông thấy nó bẩn thỉu và xô bồ. ‘Trước khi tôi có thời gian lấy lại sự tỉnh táo, thì nó đã qua.’ Sự diêm dúa của những thánh địa và sự trơ trọi của vùng đồi đã đè bẹp ông: ‘Tôi chưa bao giờ cảm thấy nỗi thất vọng trong cõi lòng nào lớn hơn như khi ở Jerusalem và sau đó.’ Sau khi trở về ông từ chối nói về Jerusalem và cảm thấy thật nặng nề khi một giáo sĩ thuyết phục ông rằng những tác phẩm của ông là tội lỗi. Gogol điên tiết tiêu hủy bản thảo của mình rồi bắt đầu nhịn ăn đến chết – hay ít nhất hôn mê – vì khi quan tài ông được mở ra trong thế kỷ 20, thi hài ông được phát hiện là đang nằm úp mặt xuống.

Tình trạng phát rồ đặc biệt về Jerusalem đã được gọi là ‘cơn sốt Jerusalem’ nhưng vào thập niên 1930, nó được công nhận là Hội chứng Jerusalem, ‘việc mất khả năng bù trừ về tâm thần liên quan đến khích động tôn giáo gây ra bởi sự tiếp cận với những thánh địa ở Jerusalem’. Tập san Tâm thần học Anh, năm 2001, chẩn đoán hiện tượng bất mãn điên loạn này như sau: ‘Hội chứng Jerusalem Tiểu loại Hai: những người đến với ý tưởng mầu nhiệm về quyền năng chữa lành bệnh của Jerusalem – như nhà văn Gogol.’

Theo một nghĩa nào đó, Nicholas cũng đang chịu đựng khuynh hướng riêng của mình về Hội chứng Jerusalem. Trong dòng họ ông có gien điên: ‘khi năm tháng trôi qua,’ đại sứ Pháp tại Peterburgs viết, ‘đến giờ thì những phẩm chất của (Vua cha) Paul đã thể hiện rõ hơn.’  Ngài Paul điên đã bị ám sát (cũng như ông nội ông ta Peter III). Nếu Nicholas còn lâu mới bị điên, thì ông đã bắt đầu biểu lộ một số tin tưởng thái quá bốc đồng một cách ương ngạnh của vua cha. Năm 1848, ông dự tính làm một chuyến đi đến Jerusalem nhưng buộc phải hủy bỏ khi những cuộc cách mạng bùng nổ khắp châu Âu. Ông đè bẹp thành công cuộc nổi dậy của Hungary chống lại lân bang của mình, đế chế Habsburg: ông thích thú với danh hiệu ‘Sen đầm Âu châu’ nhưng Nicholas, đại sứ Pháp viết, trở nên ‘hư hỏng vì nịnh hót, thành tích và những thành kiến tôn giáo của quốc gia Muscovite’.

Vào ngày 31/10/1847, ngôi sao bạc trên nền đá của Hang động Thánh đường Giáng sinh Bethlehem, bị cắt ra và lấy cắp. Ngôi sao đã được Pháp trao tặng trong thế kỷ 18; giờ hiển nhiên nó đã bị người Hy Lạp lấy cắp. Các thầy tu đánh nhau ở Bethlehem. Tại Istanbul, người Pháp tuyên bố có quyền thay thế ngôi sao Bethlehem và tu bổ mái ngói Nhà Thờ ở Jerusalem; người Nga cũng cho đó là quyền của mình; mỗi người đều dẫn lại những hiệp ước thế kỷ 18. Cơn huyên náo đang âm ỉ sôi cho đến khi trở thành trận song đấu của hai hoàng đế.

Vào tháng 12 1851, tổng thống Pháp Louis-Napoleon Bonaparte, cháu Hoàng đế Napoleon, lật đổ nền Đệ nhị Cộng hòa bằng một cú đảo chính và chuẩn bị xưng mình là Hoàng đế Napoleon III. Con người phiêu lưu với bộ râu mép vuốt sáp ong bén ngót biết rằng đế chế mới mong manh và dễ vỡ của mình cần đến uy thế Thiên chúa và thắng lợi ở nước ngoài. Nicholas, trái lại, nhìn vụ khủng hoảng như một cơ hội để vinh danh nền trị vì của mình bằng cách cứu lấy những Thánh Địa cho ‘Chúa Trời Nga’. Đối với hai hoàng đế rất khác biệt này, Jerusalem là chìa khóa đến hiển vinh trên thiên đường và trên mặt đất.

JAMES FINN VÀ CUỘC CHIẾN CRIMEA: NHỮNG NHÀ PHÚC ÂM BỊ ÁM SÁT VÀ BỌN BEDOUIN CƯỚP BÓC

Vị sultan l, bị kẹp giữa Pháp và Nga, ra sức giải quyết tranh chấp bằng sắc lệnh ngày 8/2/1852, khẳng định sự vượt trội của Chính thống giáo trong Nhà Thờ, với một số nhượng bộ cho người Thiên chúa. Nhưng người Pháp cũng năng nổ không kém người Nga. Họ truy nguyên lời tuyên bố của mình trở lại đến cuộc xâm lược của Napoleon Đại Đế, tình đồng minh với Suleiman the Magnificent, các vị vua Thập Tự quân của Jerusalem, và đến Charlemagne. Khi Napoleon III đe đọa người Ottoman, không phải ngẫu nhiên mà ông phái một pháo thuyền có tên  Charlemagne. Vào tháng 11, vị sultan xìu xuống và ban cho người Thiên chúa quyền ưu tiên. Nicholas nổi doá. Ông yêu sách phục hồi quyền của Chính thống giáo tại Jerusalem và một ‘tình đồng minh’ sẽ biến đế chế Ottoman thành vùng bảo hộ của Nga.

Khi những yêu sách có tính bắt nạt của Nicholas bị khước từ, ông xâm lược các lãnh thổ của Ottoman trên sông Danube – ngày nay là Rumania – tiến quân về hướng Istanbul. Nicholas tin rằng mình đã dụ được người Anh vào sự đồng ý, chối rằng mình muốn nuốt Istanbul, nói gì đến Jerusalem, nhưng ông đã phán đoán sai lầm một cách tai họa về cả London lẫn Paris. Đối mặt với mối đe doạ của Nga và sự sụp đổ của Ottoman, Anh và Pháp hàm dọa chiến tranh. Nicholas ương ngạnh cho là họ thầu cáy vì, theo ông giải thích, ông đang ‘gây chiến cho mục đích Cơ đốc mà thôi, dưới lá cờ của Thập Giá Thần Thánh.’ Vào ngày 28/3/1853, Pháp và Anh tuyên chiến với Nga. Cho dù phần lớn trận đánh đều xảy ra tận vùng Crimea, cuộc chiến này đặt Jerusalem ngay tâm điểm của sân khấu thế giới nơi nó đã giữ nguyên hiện trạng kể từ đó.

Khi đội quân đồn trú Jerusalem hành quân đi để đánh người Nga, James Finn theo dõi họ diễu hành trên sân lễ Maidan bên ngoài Cổng Jaffa nơi ‘ánh mặt trời Syria lấp lánh trên lưỡi lê thép cắm trên súng khi họ diễu hành’.

Thay vì người Nga mộ đạo như thường lệ, một dòng khách hành hương Tây Âu hay hoài nghi – 10,000 người vào năm 1856 – ồ ạt tràn vào thành phố để chiêm ngưỡng Thánh Địa đã mồi lửa cho trận chiến Âu châu. Vậy mà chuyện viếng thăm đến Jerusalem vẫn còn có tính phiêu lưu. Không có xe ngựa chỉ có những máng được lót đệm. Thành phố thực tình không có khách sạn hoặc ngân hàng nào: du khách phải dừng chân trong các tu viện, tiện nghi nhất là tu viện Armenia với sân vườn thoáng mát, duyên dáng. Tuy nhiên vào năm 1843, một người Do Thái gốc Nga tên Menachem Mendel xây cất khách sạn đầu tiên, Kaminitz, ngay sau đó là Khách sạn English; và trong năm 1848 một gia đình Do Thái Sephardic, nhà Valeros, mở ngân hàng Âu châu đầu tiên trong một gian phòng tầng trên phía sau Phố David. Đây còn là một thị trấn tỉnh lỵ Ottoman, thường được cai trị bởi một pasha luộm thuộm cư ngụ trong một lâu đài tồi tàn, vừa là khuê phòng vừa là nhà tù – ngay phía bắc Núi Đền. Người Âu Tây ‘kinh ngạc trước cảnh tồi tàn của lâu đài’, Finn viết, và ghê tởm trước các nàng hầu xơ xác và ‘các viên chức nhếch nhác’. Khi khách khứa nhấp cà phê với vị pasha, họ có thể nghe tiếng khua của xiềng xích và tiếng rên rỉ của tù nhân từ những xà lim ngầm bên dưới. Trong thời gian chiến tranh, vị pasha cố sức đảm bảo yên lành cho thành phố – nhưng các thầy tu Chính thống giáo Hy Lạp tấn công vị giáo trưởng Thiên chúa mới vừa được bổ nhiệm và nhốt lạc đà vào nơi cư ngụ của ông, trước sự thích thú của những nhà văn lớn vừa đến đây để tận mắt chiêm ngưỡng những điện thờ mà vì chúng quá nhiều binh sĩ đang bỏ mình trong những trận chiến hủy diệt và các bệnh viện hôi thúi vùng Crimea. Họ không mấy ấn tượng với Jerusalem.

CÁC NHÀ VĂN: MELVILLE, FLAUBERT VÀ THACKERAY

Herman Melville, khi đó tuổi 37, đã làm nên tên tuổi với ba tác phẩm dựa vào những chuyến phiêu lưu săn cá voi nghẹt thở trong Thái Bình Dương nhưng cuốn Moby Dock, xuất bản năm 1851, chỉ bán được 3,000 bản. Buồn rầu và khắc khoải, không khác gì Gogol, ông đến Jerusalem vào năm 1856 để phục hồi sức khỏe – và để điều tra về bản chất của Thượng Đế. ‘Mục tiêu của tôi – tâm trí tôi bão hòa với không khí của Jerusalem – là tự dâng hiến mình như một chủ thể thụ động cho các ấn tượng kỳ lạ của nó’ – và ông bị khích động bởi sự ‘hoang phế’ của cái được cho là Jerusalem, bị lừa dối bởi ‘sự trần trụi không lên men của sự hoang vu’. Ông bị mê hoặc bởi ‘năng lượng của sự cuồng tín’ và ‘cơn ngây dại Jerusalem’ của nhiều người Mỹ ‘phát rồ’. Họ gây cảm hứng cho trường thi Clarel của ông – dài 18,000 hàng, bài thơ Mỹ dài nhất – mà ông viết sau khi về nhà và trong thời gian làm việc vất vả trong Văn phòng Quan thuế Hoa Kỳ.

Melville không phải là tiểu thuyết gia duy nhất đến phương Đông tìm kiếm sự phục hồi và niềm an ủi cho nỗi thất vọng văn đàn: Gustave Flaubert, đồng hành cùng người bạn giàu có Maxime du Camp, và được chính phủ Pháp tài trợ để điều tra về mậu dịch và canh nông, cũng đang trên chuyến đi văn hóa và tình dục để lấy lại sức sau khi tác phẩm đầu tiên của mình được công chúng đón nhận (tức tác phẩm Madame Bovary: ND). Ông nhìn thấy Jerusalem như ‘một nhà xác tường vách bao quanh, những tôn giáo cổ phân hủy trong nắng mặt trời’. Về phần Nhà Thờ, ‘một con chó còn xúc động hơn tôi. Người Armenia nguyền rủa người Hy Lạp, người Hy Lạp thù ghét người người Latinh, người Latinh không ưa người Copt.’ Melville đồng ý rằng Nhà Thờ là một ‘đống nửa đổ nát những hang động xuống cấp bốc mùi tử khí’. Việc các thầy tu đánh nhau chỉ là một khía cạnh của sân khấu bạo lực ở Jerusalem. Những căng thẳng giữa những vị khách mới – các nhà phúc âm Anh-Mỹ và Do Thái gốc Nga và nông dân Chính thống giáo ở một bên, bên kia là thế giới cũ hơn của người Ottoman, Đại gia Ả Rập, Do Thái dòng Sephardic và người Bedouin và nông dân Ai Cập – dẫn đến một loạt những vụ mưu sát. Một quý cô phúc âm của James Finn, Mathilda Creasy, được phát hiện bị đập đầu; và một người Do Thái được phát hiện bị đâm và xô xuống giếng. Việc đầu độc một giáo sĩ Do Thái giàu có, David Herschell, đưa đến một vụ án giật gân những các nghi can , chính là các cháu nội của nạn nhân, được trắng án vì thiếu chứng cứ. Lãnh sự Anh James Finn là viên chức quyền lực nhất ở Jerusalem thời bấy giờ khi người Ottoman mắc nợ Anh quá nhiều. Do đó ông tự tiện can thiệp bất cứ khi nào ông xét thấy cần thiết. Tự coi mình là Sherlock Holmes (một nhân vật tiêu thuyết trinh thám lừng danh) của Thành phố Thánh, ông xăn tay áo điều tra mỗi một vụ án, nhưng dù có tài điều tra (với 6 trợ thủ là thầy gọi hồn Phi châu), không thủ phạm nào được tìm thấy.

Finn là một chiến sĩ ngoan cường và người cải đạo bức bách cho người Do Thái còn cần đến sự bảo vệ của ông. Nỗi khổ của họ, nói cho cùng, càng quẫn bách hơn. Hầu hết người Do Thái sống trong ‘đống đổ nát hôi thúi của Khu Do Thái, đáng tôn kính trọng sự bẩn thỉu’, Thackeray viết, và ‘sự than khóc tru tréo của họ về niềm vinh quang của thành phố đã mất của họ’ ám ảnh Jerusalem những đêm thứ sáu. ‘Không ai khốn khổ và đau đớn hơn người Do Thái tại Jerusalem,’ Karl Marx viết trong tờ New York Daily Tribune số tháng 4 năm 1854, ‘sống trong khu vực bẩn thỉu nhất, liên tục là mục tiêu áp bức và hành hạ của người Hồi, bị người Hy Lạp sĩ nhục, bị người Latinh bức hại.’ Một người Do Thái, lỡ đi qua trước cổng Nhà Thờ Mộ Thánh, theo lời Finn, ‘liền bị một nhóm hành hương đánh đập’ vì luật cấm người Do Thái qua đó vẫn còn hiệu lực. Một người khác bị lính Ottoman đâm một dao. Đám tang người Do Thái bị người Ả Rập tấn công. Trong mỗi tình huống, Finn đều tìm đến vị thống đốc để buộc ông ta can thiệp và bảo đảm công lý Anh phải được thực thi.

Nhưng vị pasha thì quan tâm hơn đến việc kiểm soát người Ả Rập Palestine. Những vụ nổi dậy và những cuộc chiến bộ tộc của họ, một phần là để đáp trả những cải cách trung ương tập quyền của đế chế Ottoman, được diễn ra trên lưng lạc đà phi nhanh, giáo thương phóng ra vun vút và tiếng rít của đạn vòng quanh tường thành Jerusalem. Những cảnh tượng gay cấn này được diễn ra trong tầm mắt người Âu ở Palestine như trên sân khấu kinh thánh kết hợp với cảnh bài trí dàn dựng phim cao bồi Miền Tây Hoang Dã, và khách hành hương tụ tập lên chót tường thành để mục kích những trận đột kích, đối với họ ắt hẳn giống như các sự kiện thể thao siêu thực – với gia vị của sự thương vong đôi khi được bỏ thêm vào.

Tại nông trại phúc âm Talbieh dùng cho việc cải đạo người Do Thái, nhà Finn thường thấy mình kẹt trong vòng đạn lửa. Khi đạn bay, bà Finn thường kinh ngạc khi nhận diện được phụ nữ trong số những chiến binh. Bà cố gắng hết mức để hòa giải các tộc trưởng. Nhưng người Bedouin chỉ là một phần của vấn đề: các tộc trưởng Hebron và Abu Ghosh dàn quân riêng đến 5000 chiến binh và tiến hành những trận đánh qui mô chống lại người Ottoman. Khi một tộc trưởng bị bắt và giải đến Jerusalem trong xiềng xích, các chiến binh xoay sở để tháo chạy và tiếp tục chiến đấu, như dũng sĩ Robin Hood của Ả Rập. Cuối cùng Hafiz Pasha, vị thống đốc già của Jerusalem, phải dẫn đầu một cuộc viễn chính 550 quân và hai khẩu pháo dã chiến để đánh dẹp thủ lĩnh Hebron.

Cho dù có những bi kịch như thế, vào những chiều mùa hè, người Jerusalem thuộc mọi tín ngưỡng – Hồi và Ả Rập Cơ đốc cùng với Do Thái Sephardic – chơi dã ngoại trên đường Damascus. Nhà thám hiểm Mỹ, Trung úy William Lynch, quan sát một ‘cảnh tượng đầy màu sắc – hàng trăm người Do Thái đang thưởng thức không khí trong lành, ngồi bên ngoài tường thành dưới bóng cây ô liu khổng lồ, phụ nữ thì trùm khăn trắng kín mít,  đàn ông thì đội mũ đen rộng vành’. James Finn và các lãnh sự khác, với các binh lính Ottoman đi trước dẹp đường, dạo chơi với gia đình mình. ‘Khi mặt trời lặn, mọi người vội vã trở vào thành vì cổng thành còn khóa lại mỗi đêm.’

‘Ôi, nỗi buồn ở Jerusalem,’ Finn thở dài, nhận rằng thành phố  ‘buồn tẻ như một tu viện đối với một người đã thấm nhuần những thói quen vui vẻ ở những nơi khác. Các du khách Pháp được biết là thường thốt ra một lời bình phẩm kèm theo một cái nhún vai khi so sánh sự khác biệt giữa Paris và Jerusalem.

Khi các lực lượng Nga liên tiếp bị đánh bại tại Crimea, Nicholas phát bệnh vì không chịu được căng thẳng và mất vào ngày 18/2/1855. Vào tháng 9, căn cứ hải quân Nga ở Sebastopol thất thủ vào tay quân Anh Pháp. Nga hoàn toàn bị mất mặt. Sau khi thua xiểng niểng trên mọi mặt trận trong một chiến dịch tiêu tốn 750,000 sinh mạng, hoàng đế mới của Nga Alexander II, xin nghị hòa, gác lại mọi tham vọng đế chế của mình đối với Jerusalem, nhưng ít ra cũng tranh thủ phục hồi được quyền thống trị của Chính thống giáo tại Mộ Thánh, hiện trạng mà đến nay vẫn còn hiệu lực.

Vào ngày 14/4/1856, các khẩu đại bác của Thành lũy bắn chào mừng việc ký kết hòa bình. Nhưng 12 ngày sau, James Finn, tham dự Lửa Thánh, trông thấy ‘các khách hành hương Hy Lạp, trang bị gậy gộc, đá và đùi cúi, giấu sẵn sau những cột trụ và thả xuống từ các hành lang,’ tấn công người Armenia. Ông quan sát, ‘Trận xung đột đáng sợ tiếp theo, đá ném lên các hành lang, đập nát từng hàng đèn, bình dầu thủy tinh và dầu đổ xuống đầu người bên dưới.’ Khi vị pasha vội vã chạy đến, ông ‘nhận những cú giáng vào đầu’ và phải được khiêng ra ngoài trước khi binh sĩ xông vào với lưỡi lê cắm sẵn. Những phút sau đó, giáo trưởng Chính thống giáo xuất hiện với Lửa Thánh trước tiếng la hét vui mừng, tiếng đập ngực, và tiếng nhấp nháy của ngọn lửa.

Quân đồn trú ăn mừng chiến thắng của sultan bằng cuộc diễu hành trên bãi Maidan mà mỉa mai thay bởi vì chẳng bao lâu sau đó, Alexander II mua lại bãi đất diễu hành này để xây cất một phức hợp Nga. Từ đó trở đi Nga sẽ theo đuổi chính sách thống trị văn hóa ở Jerusalem.

Chiến thắng vừa ngọt vừa đắng đối với người Ottoman, lãnh địa Hồi giáo yếu ớt của họ được các binh sĩ Cơ đốc giải cứu. Để chứng tỏ lòng biết ơn của mình và giữ cho phương Tây không đến gần, Sultan Abdulmecid buộc lòng phải thực hiện cải cách, gia tăng tính trung ương tập quyền, chỉ thị sự bình đẳng tuyệt đối cho mọi nhóm thiểu số không phân biệt tôn giáo, và cho phép người châu Âu mọi hình thức tự do trước đây chưa từng nghĩ đến. Ông tặng St Anne, nhà thờ Thập Tự quân đã sử dụng làm trường giáo lý Saladin, cho Napoleon III. Vào tháng 3 1855, Công tước Brabant, Vua Leopold II tương lai của Bỉ, người bóc lột xứ Congo, là người Âu đầu tiên được phép thăm Núi Đền: các lính bảo vệ – những người Sudan cầm chày vồ từ vùng Darfur – phải bị nhốt lại vì sợ họ sẽ tấn công người ngoại giáo. Vào tháng 6 , Đại Công tước Maximilian, người thừa kế đế chế Habsburg – và Hoàng đế tương lai mệnh yểu của Mexico – đến với các sĩ quan trên kỳ hạm của mình. Người Âu bắt đầu xây dựng những công trình Cơ đốc kiểu đế chế bề thế của mình trong cơn bùng nổ xây dựng tại Jerusalem. Các chính khách Ottoman bồn chồn nhưng sau cuộc chiến Crimea, phương Tây đã đầu tư quá nhiều để có thể để yên cho Jerusalem.

Trong những tháng cuối của cuộc chiến Crimea, Sir Moses Montefiore đã mua tàu hỏa và đường ray của Công ty  Đường Sắt Balaclava, được xây dựng đặc biệt cho binh sĩ Anh, để lập một tuyến đường giữa Jaffa và Jerusalem. Giờ, có được uy thế và quyền lực của một gã tài phiệt Anh sau thắng lợi Crimea, ông quay về thành phố, người báo hiệu cho tương lai.

  CHƯƠNG 38 : THÀNH PHỐ MỚI (1855–60)

MOSES MONTEFIORE ĐẾN JERUSALEM

Vào ngày 18/7/1855, Montefiore xé rách quần áo theo đúng nghi thức khi ông nhìn thấy Đền Thờ đã mất và sau đó hạ trại bên ngoài Cổng Jaffa tại đó ông được hàng ngàn cư dân Jerusalem vây quanh bắn súng lên trời và hoan hô. Thậm chí thống đốc gởi đến một đội lính danh dự bồng súng chào. 

Khi Montefiore trở thành người Do Thái đầu tiên được phép thăm Núi Đền, thống đốc cử 100 lính hộ tống – và ông được mang trên một ghế kiệu để ông  không phá vỡ luật cấm người Do Thái lên Núi Đền e rằng họ sẽ đứng tại Nơi Chí Thánh. Sứ mạng  giúp người Do Thái ở Jerusalem của đời ông không hề dễ dàng: nhiều người sống nhờ vào của từ thiện nên nổi giận khi Montefiore cố cắt đứt sự phát chẩn đến nỗi họ nổi loạn trong nông trại của ông. Cháu gái ông Jemima Sebag, một thành viên trong đoàn, viết, ‘Nếu việc này tiếp tục, chúng tôi khó được an toàn trong lều mình!’

Đối với người Do Thái ở Jerusalem và khắp các nơi định cư Do Thái, Montefiore đã là một huyền thoại kết hợp uy thế lãnh sự của một tòng nam tước thời Victoria giàu có tại đỉnh cao của đế chế Anh với phẩm chất của một người Do Thái luôn vội vã chạy đến giúp đỡ đồng đạo của mình và không hề thỏa hiệp chủ nghĩa Do Thái của mình. Chính vị trí độc nhất của ông ở nước Anh đã tạo cho ông quyền lực: ông giạng chân trên xã hội cũ và mới, thoải mái khi ở bên các công tước hoàng tộc, thủ tướng và giám mục cũng như khi với các giáo sĩ Do Thái và nhà tài chính. Ông ra đời tại Livorno, Ý, nhưng tạo ra của cải như một trong những ‘nhà môi giới Do Thái’ trên Thị Trường Chứng khoán London, một sự trỗi dậy nhờ vào cuộc hôn nhân hạnh phúc với Judith Cohen, em vợ của chủ ngân hàng Nathaniel Rothschild. Sự vươn lên trong xã hội và sự giàu có chỉ là một phương tiện để giúp đỡ kẻ khác. Khi ông nhận được tước vị hiệp sĩ từ Nữ Hoàng Victoria vào năm 1837, bà mô tả ông trong nhật ký là ‘một người Do Thái, một người xuất sắc’ trong khi trong nhật ký mình, ông mong cầu rằng vinh dự này ‘có thể chứng tỏ người báo hiệu cho tương lai làm điều tốt đẹp với người Do Thái nói chung.

Người đối tác với ông trong mọi hoạt động là Judith tóc quăn, sống động luôn gọi ông là ‘Monty’. Dù họ đã từng cầu tự tại Lăng mộ Rachel thường được những cặp vợ chồng hiếm muộn lui tới, nhưng họ không hề có con. Nhưng đằng sau mặt tiền, ông cũng có nhân tình và những đứa con ngoại hôn. Thật ra nhà viết tiểu sử hiện đại của ông tiết lộ ở tuổi bát tuần, ông vẫn có một đứa con với một cô hầu vị thành niên, vậy là thêm một dấu hiệu khác về năng lực đáng kinh ngạc của ông.

3

4

Nhà tài phiệt và mạnh thường quân Do Thái Sir Moses Montefiore đến thăm Jerusalem 7 lần và là một trong những người đầu tiên xây dựng bên ngoài Thành phố Cổ. Năm 1860, ông khởi công nhà máy xay gió và các nhà tranh. .

Giờ ông được những Đại gia mà ông chơi thân ở Jerusalem giúp đỡ việc mua đất tại Jerusalem: Ahmed Duzhdar Aga, người bạn quen biết 20 năm, bán cho ông một lô đất bên ngoài tường thành giữa cổng Zion và cổng Jaffa với giá 1,000 tiền vàng Anh. Montefiore ngay lập tức dời lều trại của mình đến khu đất mới. Tại đó ông dự định xây một bệnh viện và nhà máy xay gió để người Do Thái có thể tự tay làm bánh mì. Trước khi ông dời đi ông hỏi xin vị pasha một ân huệ đặc biệt: mùi hôi thúi của Khu Do Thái, được thuật lại trong mọi cuốn du ký Tây phương, xuất phát từ một lò sát sinh Hồi giáo kế bên. Ngay sự hiện diện của nó cũng là dấu hiệu cho thấy vị thế thấp kém của người Do Thái. Montefiore yêu cầu nó được dời đi và vị pasha đồng ý.

Vào tháng 6 1857, Montefiore trở lại lần thứ năm với vật liệu làm nhà máy xay gió và vào năm 1859, việc xây dựng bắt đầu. Thay vì một bệnh viện, ông xây dựng nhà từ thiện cho những gia đình nghèo Do Thái. Ngôi nhà được biết dưới tên Nhà Tranh Montefiore. Trong tiếng Hebrew chúng được gọi là Mishkenot Shaanim – Nơi Cư trú của Niềm Vui.

Những nhà phúc âm Cơ đốc và giáo sĩ Do Thái đều mơ về sự trở lại của người Do Thái – và đây là sự đóng góp của Montefiore. Sự giàu có kếch xù của những nhà tài phiệt Do Thái mới, nhất là dòng họ Rothschilds, cổ vũ cho ý tưởng là, theo lời Disraeli, ‘các nhà tư bản Do Thái nên mua lại Palestine.’ Năm 1859, sau một đề nghị từ đại sứ Ottoman ở London, Montefiore bàn luận ý kiến mua lại Palestine nhưng ông tỏ ra hoài nghi, hiểu rằng giới ưu tú Anh-Do Thái đang lên còn bận bịu mua những điền sản ở thôn quê để sống theo giấc mơ Anh nên chắc không quan tâm đến một kế hoạch như thế. Rút cuộc Montefiore tin rằng sự phục hồi quốc gia của người Israel vượt quá chính sách và tốt nhất nên để cho cơ trời định đoạt.

  CHƯƠNG 39 : TÔN GIÁO MỚI (1860–70)

CÁC HOÀNG ĐẾ VÀ NHÀ KHẢO CỔ: NHỮNG KẺ NGÂY THƠ Ở NƯỚC NGOÀI

Sau cuộc chiến Crimea, Jerusalem một lần nữa lại là mục tiêu khao khát của quốc tế: các nhà Romanov, Hohenzollern, Habsburg và các ông hoàng Anh cạnh tranh nhau để phối hợp ngành khoa học mới là khảo cổ với trò chơi cũ của các đế chế. 

Vào tháng 4 1859, em trai của Hoàng đế Alexander II Đại Công tước Konstantin Nikolaevich là người đầu tiên của nhà Romanov đến thăm Jerusalem – ‘cuối cùng tôi đã vào được trong sự khải hoàn’, ông ghi trong nhật ký ngắn gọn, ‘Đám đông và bụi bặm’. Khi ông đến Mộ Thánh: ‘Nước mắt và cảm xúc’; và khi ông rời thành phố, ‘chúng tôi không thể cầm được nước mắt.’ Hoàng đế và Đại Công tước đã lên kế hoạch tấn công văn hóa. ‘Chúng ta phải thiết lập sự hiện diện của mình ở phương Đông không về mặt chính trị mà thông qua nhà thờ,’ một Ngoại trưởng báo cáo. ‘Jerusalem là trung tâm của thế giới và sứ mạng chúng ta phải ở đó.’ Đại Công tước lập ra Hiệp hội Palestine và Công ty Tàu Hơi nước Nga để mang những khách hành hương Nga từ Odessa đến. Ông thị sát 18 mẫu trong khu Phức hợp Nga nơi nhà Romanov bắt đầu xây dựng thị trấn Muscovite nhỏ. Chẳng bao lâu có quá nhiều khách hành hương Nga đến nỗi phải giăng lều bạt để có chỗ ở.

Người Anh cũng hăng say không kém người Nga. Vào ngày 1/41862, Albert Edward, Hoàng thân xứ Wales (Vua  Edward tương lai), 20 tuổi, người béo tốt, cưỡi ngựa vào Jerusalem, với 100.kỵ sĩ Ottoman hộ tống. 

Hoàng thân được Khoa trưởng Westminster Arthur Stanley hướng dẫn tham quan các thắng tích. Tác phẩm của ông về lịch sử kinh thánh có tầm ảnh hưởng sâu rộng và việc suy đoán khảo cổ thuyết phục một thế hệ độc giả Anh rằng Jerusalem là ‘một miền đất thân thiết với chúng ta ngay từ thời thơ ấu còn hơn cả nước Anh’.

Trong giữa thế kỷ 19, ngành khảo cổ bổng thình lình trở thành không chỉ là một khoa học lịch sử nghiên cứu quá khứ mà còn là một cách thức để kiểm soát tương lai. Không có gì ngạc nhiên khi khảo cổ ngay lập tức có tính chính trị – không chỉ là vật tổ văn hóa, một thời trang xã hội và sở thích hoàng gia, mà còn là sự xây dựng đế chế bằng những phương tiện khác và sự mở rộng hoạt động gián điệp quân sự. Nó trở thành tôn giáo thế tục của Jerusalem và, trong tay của những người Cơ đốc đế quốc như Khoa trưởng Stanley, cũng là ngành khoa học phục vụ Chúa Trời. Nếu nó khẳng định được sự thật của Kinh thánh và việc Jesus bị đóng đinh, người Cơ đốc có thể đòi lại Miền Đất Thánh.

Không chỉ có người Nga và Anh. Các lãnh sự các Cường quốc Lớn, nhiều người trong số đó là mục sư, cũng tự coi mình là nhà khảo cổ, nhưng chính người Cơ đốc Mỹ mới thực sự lập ra ngành khảo cổ hiện đại. Người Pháp và Đức cũng không xa phía sau, săn đuổi những thành quả ngoạn mục với tinh thần quốc gia gay gắt, các hoàng đế và thủ tướng của họ ủng hộ quyết liệt công việc khai quật của mình. Như cuộc chạy đua vào không gian ở thế kỷ 20 với  các phi hành gia anh hùng, ngành khảo cổ nhanh chóng trở thành sự phóng chiếu của sức mạnh quốc gia với các nhà khảo cổ lừng danh giống như các tay chinh phục phiêu lưu và những tay săn kho báu lịch sử. Một nhà khảo cổ Đức gọi nó là ‘cuộc thập tự chinh hòa bình’.

Chuyến thăm của Hoàng thân xứ Wales cổ vũ cho một cuộc thám hiểm do một sĩ quan Anh kiêm nhà khảo cổ, Đại úy Charles Wilson, cầm đầu. Trong một đường hầm sát Bức Tường Tây bên dưới Phố Cổng Dây Xích, ông phát hiện cung vòm thời Herod bề thế của cây cầu lớn bắc qua Thung lũng Tyropaea đến Đền Thờ. Giờ nó được biết dưới tên Cung Vòm Wilson, và đó chỉ là bước đầu.  

Vào tháng 5 1865, một loạt các nhà quý tộc, từ Bá tước Russell ngoại trưởng đến Công tước xứ Argyll, thành lập Quỹ Thám hiểm Palestine có sự đóng góp của Nữ Hoàng Victoria và Montefiore. Shaftesbury sau đó sẽ trở thành chủ tịch. Chuyến đến thăm Palestine của người thừa kế thứ nhất ngai vàng Anh kể từ Edward I ‘mở ra toàn bộ Syria cho người Cơ đốc nghiên cứu’,  bản cáo bạch của Hội nêu rõ.

Vào tháng 2 năm 1867, Trung úy Công binh Hoàng gia, Charles Warren, 27 tuổi, bắt đầu cuộc khảo sát Palestine cho Hội. Tuy nhiên, người Jerusalem thù địch với bất kỳ cuộc khai quật nào quanh Núi Đền vì thế ông phải thuê những lô đất gần đó và đào 27 đường ống thông hơi sâu trong đá. Ông phát hiện những vật tạo tác khảo cổ thực sự đầu tiên, đồ gốm  Hezekiah có khắc dấu ‘Cống vật cho Vua’; 43 vại chứa nước bên dưới Núi Đền; Ống thông hơi Warren trong đồi Ophel mà ông tin là đường ống của Vua David dẫn vào thành phố; và Cổng Warren của ông trong đường hầm dọc theo Bức Tường Tây là một trong những lối vào chính của Herod đến Đền Thờ – và sau đó Hang động Do Thái. Nhà khảo cổ phiêu lưu này hiện thân cho vinh quang của ngành khoa học mới. Trong một cuộc khai quật ngầm bên dưới mặt đất ông phát hiện Hồ cổ Struthion và lấy ván cửa làm bè lướt trên mặt hồ. Các quý bà Victoria ăn mặc hợp thời trang được hạ xuống trong những chiếc giỏ theo đường ống thông hơi của ông,  muốn ngất xỉu trước những cảnh tượng như kinh thánh, phải nới lỏng áo nịt ngực.

Năm 1860, người Hồi tàn sát người Cơ đốc ở Syria và Lebanon, vì nổi giận trước sự dễ dãi của vị sultan đối với người Cơ đốc và Do Thái. Nhưng việc này chỉ càng khiến phương Tây can thiệp sâu hơn: Napoleon III đem quân giải cứu người Cơ đốc Maronite ở Lebanon, làm mới lại việc Pháp đòi lại phần lãnh thổ còn sót lại từ thời Charlemagne, Thập Tự Chinh và Vua Francis ở thế kỷ 16. Năm 1869, Ai Cập, được hậu thuẫn bởi vốn của Pháp, mở Kênh đào Suez tại một buổi lễ có sự tham dự của hoàng hậu Pháp Eugenie, thái tử Phố Frederic và Hoàng đế Áo Franz Joseph. Không để người Anh và Nga qua mặt, Frederic người Phổ giong buồm đến Jaffa và đi ngựa đến Jerusalem, tại đó ông xúc tiến quyết liệt sự hiện diện của Phổ trong cuộc đua giành nhà thờ và các báu vật khảo cổ: ông mua địa điểm Crusader St Mary của người Latinh, sát bên Mộ Thánh, và Frederick (cha của vị Kaiser tương lai Wilhelm II) hậu thuẫn nhà khảo cổ hung hăng Titus Tobler, người tuyên bố: ‘Jerusalem phải thuộc về chúng ta.’

Ngay sau khi Frederick quay trở lại Jaffa, cũng là lúc Franz Joseph phi ngựa vào Jerusalem, được một ngàn binh sĩ Ottoman hộ tống, kể cả binh lính Bedouin tay cầm giáo, binh lính Druze cầm súng trường, và lính cưỡi lạc đà, và đồng hành là chiếc giường bằng bạc to lớn, quà tặng của vị sultan. Nhà vua ghi chép: ‘Chúng tôi xuống ngựa, và tôi quỳ xuống trên đường và hôn lên mặt đất’ trong khi đại bác từ Tháp David khai hỏa chào mừng. Ông tràn ngập bởi cảm nghĩ ‘làm sao mà mọi thứ cứ như đã được tưởng tượng ra trong những câu chuyện thời thơ ấu và Kinh thánh’. Người Áo, như mọi người Âu, đang mua lại những tòa nhà để xiển dương một thành phố mới: hoàng đế thanh sát công trường khổng lồ chuẩn bị khởi công Nhà Nghỉ Chân của Áo trên Via Dolorosa (lộ trình Jesus đi đến nơi bị đóng đinh).

‘Ta sẽ không bao giờ nhượng bộ tấc đường nào cho bọn Cơ đốc phát rồ này,’ tể tướng Ottoman Fuad Pasha viết, vì chúng sẽ biến Jerusalem thành một nhà thương điên Cơ đốc.’ Nhưng người Ottoman cũng xây một con đường Jaffa mới dành riêng cho Franz Joseph. Xung lượng của ‘nhà thương điên Cơ đốc’ không thể ngăn lại được.

MARK TWAIN VÀ ‘LÀNG NGƯỜI NGHÈO’

Đại úy Charles Warren, nhà khảo cổ trẻ, đang đi qua Cổng Jaffa thì vô tình chứng kiến một cảnh hành hình. Đao phủ thật là vụng về: ‘Mày làm tao đau quá,’ tội nhân rống lên khi kẻ hành hình chặt cổ đến 16 lần mà không giết chết được, khiến y phải trèo lên lưng người xấu số và cứa xương sống y như thế đang hiến tế một con cừu. Jerusalem có ít nhất hai bộ mặt và một sự rối loạn đa cá tính: những tòa nhà đế chế bóng lộn, do người Âu xây dựng khi họ nhanh chóng Cơ đốc hóa Khu Hồi giáo, tồn tại bên cạnh thành phố Ottoman cũ kỹ nơi những lính bảo vệ Sudan da đen canh giữ Haram và bảo vệ các tù nhân bị kết án mà đầu của họ còn lăn lóc nơi bãi hành hình. Các cổng thành còn đóng lại mỗi khi chiều xuống; người Bedouin phải nộp gươm giáo khi vào thành phố. Một phần ba thành phố còn bỏ hoang và một tấm ảnh chụp (chí ít cũng do Giáo trưởng Armenia chụp) cho thấy Nhà Thờ bao quanh bởi vùng đất trống không ngay giữa thành phố). Hai thế giới thường va chạm nhau: khi vào năm 1865, đường điện tín đầu tiên được mở nối Jerusalem và Istanbul. Một tay kỵ mã Ả Rập định phá hủy cột điện tín, liền bị bắt và bị treo cổ ngay trên cột điện.

Phần lớn Thành phố Cổ vẫn còn bỏ trống một cách đáng kinh ngạc trong thời kỳ này. Bức ảnh trên được chụp năm 1861 bởi nhiếp ảnh gia tiên phong Yessayi, Giáo trưởng Armenia, cho thấy khung cảnh trơ trọi phía sau Mộ Thánh.

Tháng 3 năm 1866, Montefiore, giờ đã là người góa vợ 81 tuổi, đến Jerusalem lần thứ 6 và không thể tin vào mắt mình trước những cảnh đối thay. Nhận thấy người Do Thái tại Bức Tường Tây không chỉ  phơi trần trong mưa nắng mà còn hứng chịu nước trút xuống từ Núi Đền phía trên, ông xin phép dựng một mái che ở đấy – và cố xin mua Bức Tường nhưng không thành, một trong nhiều nỗ lực của người Do Thái nhằm sở hữu thánh tích riêng của mình. Khi ông rời Jerusalem, ông cảm nhận ‘một ấn tượng sâu sắc hơn bao giờ’. Đó không phải là chuyến thăm cuối cùng của ông: khi ông trở lại vào năm 1875 ở tuổi 91, ‘Tôi ngắm nhìn gần như một Jerusalem mới mọc lên với những tòa nhà, một số tráng lệ như bất cứ tòa nhà nào ở châu Âu.’ Khi ông rời đi lần cuối cùng, ông không khỏi trầm ngâm ‘chắc chắn chúng ta đang tiến gần đến thời khắc được chứng kiến lời hứa hẹn thiêng liêng của Chúa cho người Do Thái được thực hiện.’ *

* Montefiore mất vào năm 1885, thọ hơn 100 tuổi. Ông và Judith được chôn bằng đất ở Jerusalem trong Lăng Rachel của họ ở Ramsgate.

Sách hướng dẫn du lịch cảnh báo ‘những người Do Thái gốc Ba Lan dơ dáy’, nhưng đối với một số người chính người hành hương Tin Lành mới làm dơ bẩn địa điểm. ‘Người hủi, tàn tật, mù và khùng, mới tấn công bạn từ mọi phía,’ Samuel Clemens, phóng viên từ Missouri, có bút danh ‘Mark Twain’, cho biết. Đi trên tàu Travelling the Mediterranean lên từ Thành phố Quaker, Twain,  được ca ngợi như một ‘Nhà Châm biếm Hoang dã’, đang trên chuyến du lịch mang tên Chuyến Tìm  Vui Trên Miền Đất Thánh Vĩ Đại mà ông đổi tên lại là Chuyến Đưa Tang Trên Miền Đất Thánh Vĩ Đại. Ông coi hành hương là một trò hề, chế giễu sự chất phát của người hành hương Mỹ mà ông gọi là ‘những người ngây thơ ở nước ngoài’. ‘Thât là nhẹ nhõm khi lẻn đi vài trăm thước mà không chạm mặt với một di tích nào khác.’ Ông khoái trá nhất khi được gặp cột trụ trong Nhà Thờ duoc thuyết minh là trung tâm của thế giới và được làm từ bụi mà từ đó Adam được nặn ra: ‘Không ai có thể chứng tỏ được rằng bụi đất KHÔNG kiếm được ở đây.’ Hơn mọi thứ ông thù ghét ‘những đồ hàng mã, vật trưng loè loẹt, trang trí diêm dúa’ của Nhà Thờ, và thành phố: ‘Thành phố trứ danh, tên tuổi uy danh nhất trong lịch sử giờ đã trở thành ngôi làng tế bần – than thở buồn thảm và vô hồn – tôi chả muốn sống ở đây.’ Vậy mà thậm chí Nhà Châm biếm Hoang dã cũng mua tặng mẹ mình một Kinh thánh Jerusalem và đôi khi suy ngẫm, ‘Mình đang đứng tại nơi có một chúa trời đã đứng.’

Các du khách, hoặc tôn giáo hoặc thế tục, Cơ đốc hoặc Do Thái, Chateaubriand, Montefiore hay Twain, đều thấy tới được nơi các thượng đế đã đứng nhưng gần như đui mù không nhìn thấy con người đang thực sự sống ở đó. Trong suốt lịch sử của mình, Jerusalem tồn tại trong óc tưởng tượng của những tín đồ mộ đạo sống rất xa tận Mỹ hoặc châu Âu. Giờ thì những du khách này đến trên những con tàu hơi nước đông đến hàng ngàn người, họ mong đợi được nhìn thấy những hình ảnh lạ lùng và nguy hiểm, bắt mắt và chân thực mà họ đã tưởng tượng với sự giúp đỡ của Kinh thánh, Và, một khi họ đến, với người thông dịch và hướng dẫn du lịch, họ chỉ nhìn thấy sự đa dạng của y phục trên đường phố và bỏ qua những hình ảnh họ không thích như sự bẩn thỉu Đông phương và điều mà các hướng dẫn viên du lịch gọi là ‘sự mê tín và cuồng tín rừng rú’. Thay vào đó, họ sẽ xây dựng Thành phố Thánh hoành tráng ‘thực sự’ như họ đã trông đợi được nhìn thấy. Chính những cái nhìn này sẽ thúc đẩy mối quan tâm của các đế chế vào Jerusalem. Đối với phần còn lại – thế giới sôi nổi, nửa bị che giấu, cổ xưa của người Ả Rập và Do Thái Sephardic – họ hiếm khi thấy. Nhưng thế giới đó đang thực sự ở đấy.

  CHƯƠNG 40:  THÀNH PHỐ Ả RẬP, THÀNH PHỐ ĐẾ CHẾ (1870–80)

YUSUF KHALIDI: ÂM NHẠC, NHẢY MÚA, CUỘC SỐNG THƯỜNG NHẬT

Jerusalem thực sự như Tháp Babel trong y phục nhiều màu sắc với một thứ bậc các tôn giáo và ngôn ngữ. Các sĩ quan Ottoman mặc các áo chẽn có thêu đi kèm với quân phục kiểu Âu; người Do Thái gốc Ottoman, người Armenia và Cơ đốc Ả Rập và người Hồi vận áo choàng hoặc áo vét trắng với chiếc mũ ống đỏ tượng trưng cho đế chế Ottoman mới được cải cách; các học giả Hồi thì đội khăn xếp và mặc áo dài gần giống như nhiều người Do Thái Sephardic và Ả Rập Chính thống giáo mặc; số đông những người Do Thái Hasidic gốc Ba Lan nghèo mạt mặc áo vãi gai va đội mũ mềm thấp; bọn kavass – lính cận vệ cho người Âu – thường là người Armenia vẫn còn mặc jacket tía, quần dài trắng và mang súng lục lớn. Những nô lệ da đen chân trần phục vụ nước quả ướp đá cho chủ nhân của mình, những gia đình Ả Rập hay Sephardic xưa đàn ông thường mặc vá víu tất cả những loại y phục trên.

Về hành chính thì vị sultan-khalip chủ trì một đế chế dòng Sunni: trên chóp là người Hồi giáo; người Thổ thì cai trị, rồi xuống dưới là Ả Rập. Người Do Thái Ba Lan, bị khi dễ vì nghèo, ‘than khóc’ và lời cầu nguyện của họ có vần điệu như lên đồng, nằm ở tận đáy; nhưng ở khoảng giữa, trong một nền văn hóa dân gian nửa chìm đắm, có nhiều sự hòa trộn, mặc dù mỗi tôn giáo đều có những giáo luật khắt khe.

Vào ngày cuối của kỳ chay Ramadan, tất cả các tôn giáo đều ăn mừng bằng một bữa tiệc và hội chợ ngoài tường thành, với vòng xoay cho trẻ em và đua ngựa cho các ông, trong khi người buôn mời chào khách xem hình tục tĩu qua lỗ ngắm và bán kẹo Ả Rập, Tóc Thiếu nữ và Niềm Vui Thổ. Trong dịp lễ Purim của Do Thái, người Hồi và người Ả Rập Cơ đốc ăn mặc lễ phục truyền thống Do Thái, và tất cả ba tôn giáo đều tham dự Dã ngoại Do Thái tố chức tại Lăng Simon Công chính ngay phía bắc Cổng Damascus. Người Do Thái cho người hàng xóm Ả Rập bánh mì matzah và mời họ đến dự buổi ăn tối ngày Lễ Vượt Qua. Để đáp lại, người Ả Rập tặng lại người Do Thái bánh mì mới nướng khi lễ hội chấm dứt.  Thầy mohel (người chuyên cắt bao quy đầu) Do Thái thường cũng cắt bao quy đầu cho các trẻ em Hồi giáo. Người Do Thái cũng có những buổi tiệc chào đón hàng xóm Hồi giáo của mình trở về sau chuyến đi Mecca. Mối quan hệ thân thiết nhất là giữa người Ả Rập và người Do Thái Sephardic. Mỉa mai thay, người Cơ đốc Chính thống Ả Rập lại thâm thù nhất đối với người Do Thái, mà họ sỉ nhục trong các bài hát Phục Sinh và treo cổ khi họ đến gần Nhà Thờ.

Mặc dù các hướng dẫn viên du lịch báo cho dù khách là ‘không có khu vui chơi công cộng nào ở Jerusalem’, thực ra đây là thành phố của âm nhạc và khiêu vũ. Các dân địa phương gặp gỡ trong những quán cà phê và quán rượu dưới hầm để hút narghileh (một loại ống điếu nước, giống thuốc lào?), chơi cờ backgammon, xem đấu vật và múa bụng. Tại lễ cưới và lễ hội, có nhảy múa vòng tròn (dabkah), trong khi ca sĩ hát những bài tình ca như ‘Em yêu ơi, sắc đẹp em làm anh đau nhói’. Những bài tình ca Ả Rập xen kẽ những bài hát của người Do Thái Sephardis. Người Dervish nhảy điệu

theirzikrot một cách hoang dại theo tiếng trống và chập chả. Tại tư gia, âm nhạc được các nhạc công Ả Rập và Do Thái cùng nhau chơi sáo oud, vĩ cầm rabbaba, kèn kép zummara và arghul và dàn trống inaqqara. Những nhạc cụ này vang dội qua sáu hammam (nhà tắm) là trung tâm cuộc sống Jerusalem. Các ông (sử dụng chúng giữa 2 giờ sáng đến giữa trưa) thưởng thức màn mát-xa và bộ râu mép được tỉa tót; các bà thì nhuộm tóc với lá móng và nhấp cà phê. Các cô dâu Jerusalem được các bạn gái dẫn đi trong tiếng hát và tiếng trống đến hammam nơi tất cả lông trên thân thể đều được nhổ sạch theo đúng nghi thức bằng một chất xi-rô giống như hắc ín. Đêm lễ cưới thực sự bắt đầu ở nhà tắm, rồi chú rể và đám bạn đón cô dâu từ nhà cô và, nếu đây là đám cưới của Đại gia, họ sẽ đi dưới một vòm trướng do các người hầu nâng lên, dưới ánh đuốc và đi sau là một tay trống và ban thổi sáo, tiến lên Núi Đền.

Đại gia là đỉnh cao của xã hội Jerusalem. Lãnh đạo thành phố đầu tiên là một người nhà Dajani, và trong năm 1867, Yusuf al-Diya al-Khalidi, 25 tuổi, trở thành thị trưởng đầu tiên của Jerusalem. Từ đó về sau chức vụ đó luôn được những người trong Đại gia nắm giữ – sáu người trong nhà Husseini, bốn Alami, hai Khalidi, ba Dajani. Khalidi, có mẹ là người nhà Husseini, đã bỏ đi khi còn trẻ để theo học một trường Tin lành ở Malta. Sau đó ông làm việc cho vị tể tướng có tinh thần phóng khoáng ở Istanbul. Ông coi mình trước tiên là một ‘Utsi’ – một cư dân Jerusalem (ông gọi Jerusalem là ‘quê nhà’) – thứ hai mới là người Ả Rập, và thứ ba là người Ottoman. Ông là người trí thức, một trong các vì sao của thời kỳ nahda, thời phục hưng văn học Ả Rập chứng kiến sự ra đời của các câu lạc bộ văn hóa, nhật báo và nhà xuất bản.

Mỗi Đại gia có một cờ hiệu riêng và một vai trò đặc biệt trong các nghi lễ của thành phố. Tại Lửa Thánh, 13 gia đình Cơ đốc Ả Rập cầm đầu đám rước, cầm cờ hiệu gia tộc trong đó lễ Nabi Musa là lễ hội phổ biến nhất. Hàng ngàn người đến bằng ngựa hoặc đi bộ từ mọi miền ở Palestine để được vị mufti (thủ lĩnh tôn giáo), thường là người nhà Husseini, chào đón cùng với thống đốc Ottoman. Dân chúng nhảy nhót và ca hát ồn ào theo tiếng trống và chập chả. Các dervish dòng Sufi quay cuồng – ‘một số nuốt than nóng đỏ, số khác xiên que qua hai má’ và giữa người Jerusalem và Nablus lại xảy ra choảng nhau. Người Do Thái và Cơ đốc thỉnh thoảng cũng bị bọn du đãng Ả Rập hăng máu vần một trận. Khi đám đông đã tề tựu trên Núi Đền, một loạt đại bác bắn chào mừng và sau đó người nhà Husseini ngồi trên lưng ngựa tiến vào, vung vẫy lá cờ xanh lá của mình, dẫn đầu đoàn diễu hành tiến về điện thờ Baibar gần Jericho. Người nhà Dajani vẫy cờ hiệu màu tía hình Lăng David của họ. Các Đại gia, mỗi nhà với các khu vực riêng – nhà Husseini có Núi Đền, nhà Khalid sân toà án, và tất cả bọn họ đều cạnh tranh chức vụ thị trưởng – vẫn còn tranh giành quyền ưu thế và chơi trò chơi đầy rủi ro trong nền chính trị Istanbul.

Người Slav Chính thống giáo vùng Balkan, được Nga hậu thuẫn, đòi độc lập; đế chế Ottoman ra sức để sống còn. Vị sultan mới, mạnh mẽ hơn, Abdul-Hamid II, đánh dấu sự lên ngôi của mình bằng hành động tàn sát người Cơ đốc Bulgaria. Dưới áp lực của người Nga, Abdul-Hamid công nhận một hiến pháp và tổ chức bầu cử vào nghị viện: ở Jerusalem, nhà Husseini ủng hộ nền chuyên chế cũ còn nhà Khalidi theo phe cấp tiến mới. Thị trưởng Khalidi được bầu làm đại biểu Jerusalem và lên đường đến Istanbul, nhưng hiến pháp chỉ là mồi nhử. Abdul-Hamid hủy bỏ nó và bắt đầu xiển dương một chủ nghĩa dân tộc Ottoman mới kết hợp với lòng trung thành khắp giáo quốc Hồi đối với triều kha-lip. Vị sultan thông minh nhưng loạn thần kinh này, người nhỏ thó với một giọng nói nhỏ nhẻ và dễ bị động kinh, xiết chặt ách cai trị của mình bằng lực lượng khafiya cảnh sát mật vụ, đã tàn sát cựu tể tướng của mình và một số nàng hầu nô lệ. Trong khi ông hưởng thụ những đặc quyền theo truyền thống – hậu cung của ông chứa đến 900 cung phi – ông sống trong sợ hãi, mỗi đêm đều kiểm tra dưới giường đề phòng kẻ sát thủ ấn núp, nhưng ông cũng là một thợ mộc khéo léo, một độc giả của Sherlock Holmes, và cũng là ông bầu cho sân khấu của mình.  

Sự trừng trị thẳng tay của ông ngay lập tức có thể cảm nhận được ở Jerusalem: Yusuf Khalidi bị trục xuất khỏi Istanbul, bị cách chức thị trưởng và thay thế bởi Umar al-Husseini. Khi nhà Khalidi đi xuống thì nhà Husseini đi lên. Trong khi đó, Nga chuẩn bị cuối cùng hủy diệt triều đại Ottoman. Thủ tướng Anh, Benjamin Disraeli, can thiệp để cứu họ.

HÌNH XÂM JERUSALEM: CÁC HOÀNG THÂN ANH VÀ ĐẠI CÔNG TƯỚC NGA

Ông đã vừa mua Kênh đào Suez, mượn 4 triệu bảng Anh từ Lionel de Rothschild. ‘Ông ta có gì bảo đảm?’ Rothschild hỏi ‘Chính phủ Anh,’ thư ký của Disraeli trả lời.

‘Thế thì được.’ Giờ đây trong năm 1878 tại Quốc hội Berlin, Disraeli hướng dẫn nội các Âu châu cách kềm chế nước Nga và ép buộc một khu định cư, trong đó Anh có thể chiếm Cyprus. Người Ottoman phải từ bỏ nhiều lãnh thổ của họ ở châu Âu theo Cơ đốc giáo và buộc phải khẳng định những quyền lợi của người Do Thái và nhóm thiểu số khác. Năm 1882, người Anh kiểm soát Ai Cập, mà trên danh nghĩa thuộc triều đại Albania.

Năm 1892, cuối cùng đường sắt cũng đến Jerusalem, mở cửa thành phố đến với kỹ nghệ du lịch. Nhiếp ảnh cùng phát triển cùng với du lịch. Thành phố Mới mở rộng quá đa dạng về mặt kiến trúc đến nỗi giờ đây Jerusalem có ngoại ô hoàn toàn trông giống một nơi nào khác ngoài Trung Đông. Các tòa nhà Cơ đốc mới vào cuối thế kỷ bao gồm 27 nhà tu kín Pháp, 10 của Ý và 8 của Nga.

Sau khi Anh và Phổ kết thúc việc sử dụng chung một tòa giám mục Anh-Phổ, giáo hội Anh xây cất Thánh đường St George vững chắc, tòa giám mục của giáo hội Anh.

Trong khi đó người Do Thái và Ả Rập, Hy Lạp và Đức đang thuộc địa hóa phần phía ngoài tường thành. Năm 1869, 7 gia đình Do Thái lập ra Nahalat Shiva – Khu Số 7 – bên ngoài Cổng Jaffa; năm 1874, người Do Thái siêu-Chính thống định cư ở Mea Shearim, giờ là khu Hassidic. Khoảng năm 1880, 17,000 người Do Thái hợp thành một đa số và có 9 khu ngoại ô Do Thái mới trong khi các Đại gia Ả Rập xây cất các khu Husseini và Nashashibi ở Sheikh Jarrah, khu vực phía bắc Cổng Damascus.

 CHƯƠNG 41 : NGƯỜI NGA (1880–98)

ĐẠI CÔNG TƯỚC SERGEI VÀ  PHU NHÂN ELLA

Những nông dân Nga, nhiều người trong số là phụ nữ, thường đi bộ suốt đường từ ngôi làng họ xuống phía nam đến Odessa để hành hương đến Zion. Họ mang theo vải liệm và cảm thấy, theo lời Stephen Graham, một nhà báo Anh hóa trang thành một người Nga hoàn hảo đi theo họ, ‘rằng một khi họ đã đến Jerusalem, mọi công việc sinh nhai nghiêm túc trong cuộc sống họ đều chấm dứt. Bởi vì người nông dân đến Jerusalem để chết theo một cách nào đó ở nước Nga. Họ đi trên những con thuyền được trợ cấp, chui rúc trong những khoang tối tăm và bẩn thỉu: ‘Trong một cơn bão, khi cột buồm bị gãy, dưới khoang thuyền họ lăn lộn đè lên nhau như các xác chết hoặc chụp lấy nhau như bọn điên, còn tệ hơn địa ngục có thể tưởng tượng được, và mùi hôi thúi còn tệ hơn lửa địa ngục!’ Đến Jerusalem, họ được một hướng dẫn viên trong đồng phục hoành tráng của Hiệp hội Palestine Nga đón tiếp và dẫn qua các đường phố Jerusalem chen chúc những ‘hành khất Ả Rập, gần như trần truồng và xấu xí không sao nói hết, hú hét xin tiền’, để đến Phức hợp Nga. Tại đó họ sống trong những phòng ngủ rộng đen nghịt người với giá ‘ba xu một ngày’ và ăn súp cải bắp và uống nước sâm trong phòng ăn.

Trong suốt chuyến đi có tin đồn lan truyền: ‘Có một hành khách bí ẩn trên thuyền.’ Khi đến nơi, họ khóc ‘Vinh quang thay Người, ôi Chúa Trời!’, và họ sẽ rỉ tai, ‘Có một vị khách hành hương bí ẩn ở Jerusalem,’ và tuyên bố đã nhìn thấy Jesus tại Cổng Vàng hoặc gần tường thành Herod. ‘Họ trải qua một đêm trong Mộ Thánh,’ Graham giải thích, ‘và nhận được Lửa Thánh, dập tắt nó bằng mũ lưỡi trai để dành đội khi nằm trong hòm.’ Vậy mà họ không ngừng bị sốc trước ‘một Jerusalem trần tục, nơi lạc thú cho người thăm thú giàu có’. Họ tự trấn an mình bằng suy nghĩ, ‘Chúng ta sẽ tìm thấy Jesus chân thực khi thôi nhìn vào Jerusalem và cho phép Kinh thánh nhìn vào chúng ta.’ Vậy mà chính nước Nga Thần Thánh của họ cũng đang thay đổi: Alexander II giải phóng nông nô vào năm 1861 mở ra những kỳ vọng cải cách nhưng ông không thể thỏa mãn: các phe khủng bố xã hội chủ nghĩa và vô chính phủ săn lùng ông ngay trong đế chế của ông. Trong một lần bị mưu sát, chính hoàng đế đã rút súng bắn lại bọn sát thủ. Nhưng vào năm 1881 cuối cùng ông cũng bị ám sát ở St Petersburg, chân ông bị nổ tung khi bọn cực đoan ném bom vào ông.

Các tin đồn lan truyền nhanh chóng là người Do Thái có liên can (trong nhóm khủng bố có một phụ nữ Do Thái nhưng không có sát thủ nào là người Do Thái) và những việc này tháo xiềng cho những vụ tấn công đẫm máu vào người Do Thái trên khắp nước Nga, được khuyến khích bởi và thỉnh thoảng được nhà nước tổ chức. Những vụ bức hại được phương tây gọi bằng một từ mới: pogrom, rút từ chữ Nga gromit – tận diệt. Hoàng đế mới, Alexander III, một người to con râu rậm với quan điểm bảo thủ, hẹp hòi cho người Do Thái là ‘ung bướu xã hội’ và đổ lỗi cho họ đáng bị những người Nga Chính thống giáo lương thiện bức hại. Đạo luật Tháng 5 năm 1882  của ông biến chủ nghĩa bài Do Thái trở thành một chính sách, được sự cưỡng chế của bọn mật vụ áp bức.

Hoàng đế tin rằng nước Nga Thần Thánh sẽ được giải cứu bằng sự chuyên chế và Chính thống giáo được cổ vũ bằng việc đi hành hương Jerusalem. Do đó ông chỉ định em trai Đại Công tước Sergei Alexandrovich làm chủ tọa Hiệp hội Palestine Chính thống Giáo Đế chế ‘để củng cố Chính thống giáo ở Miền Đất Thánh’.

Vào ngày 28/9/1888, Sergei và cô vợ 24 tuổi Ella, cô cháu nội xinh đẹp của Nữ hoàng Victoria, phong thánh cho Thánh đường Mary Magdalene, xây bằng đá vôi trắng và 7 mái vòm hình củ hành lấp lánh, trên Núi Olives. Cả hai người đều xúc động trước Jerusalem. ‘Bà không thể tưởng tượng được nó tạo nên một ấn tượng sâu xa biết bao’, Ella viết thư cho Nữ hoàng Victoria, ‘khi bước vào Mộ Thánh. Thật là một niềm vui mãnh liệt khi ở đây và cháu cứ nghĩ về bà.’. Ella vốn theo Tin lành ngay từ nhỏ, vui vẻ cải sang Chính thống giáo khi lấy chồng. ‘Hạnh phúc biết bao khi có dịp trông thấy tất cả những thánh địa này mà ta đã học cách yêu kính ngay từ thơ ấu.’ Sergei và hoàng đế đã thận trọng giám sát thiết kế của nhà thờ, với Ella ủy thác việc hoạ các bức tranh về Magdalene. ‘Giống như một giấc mơ khi được nhìn thấy tất cả nơi chốn mà Chúa chúng ta đã chịu khổ nạn vì chúng ta,’ Ella kể cho Victoria, ‘và cầu nguyện ở đây an ủi biết bao.’ Ella cần được an ủi.

Sergei, 31 tuổi, là một quân nhân kỷ cương và một nhà độc tài trong nước bị ám ảnh bởi các tin đồn về một cuộc sống vui vẻ bí mật đụng chạm với niềm tin khắt khe vào sự chuyên chính và Chính thống giáo. ‘Không có những đặc điểm khoan từ, cố chấp, xấc xược và khó chịu, ông huênh hoang những nét lập dị của mình,’ theo lời một người anh em họ. Cuộc hôn nhân của ông với Ella đặt ông vào trung tâm của giới  hoàng gia Âu châu: em gái bà Alexandra chuẩn bị cưới vị sa Hoàng tương lai Nicholas II.

Trước khi họ rời đi, mối quan tâm của Sergei – đế chế, Chúa Trời và khảo cổ – hoà lẫn trong ngôi nhà thờ mới của ông, St Alexander Nevsky, ngay sát Nhà Thờ Mộ Thánh. Khi ông mua địa điểm đắc địa này, Sergei và các kỹ sư xây dựng của mình đã phát hiện những bức tường có niên đại từ Điện Thờ Hadrian và Vương cung Thánh đường Constantine, và khi ông xây cất nhà thờ của mình, ông kết hợp những phát hiện khảo cổ này vào trong công trình. Tại Phức hợp Nga, ông ủy thác xây cất Nhà Sergei, một nhà tập thể sang trọng với các tháp pháo tân-Gô tích dành cho các nhà quý tộc Nga. * Cuộc đời của Sergei và Ella sẽ là bi kịch, vì, ngoài những tòa nhà này và hàng ngàn khách hành hương Nga mà họ lôi kéo, việc ông góp phần xác định vào phong trào bài Do Thái chính thức là một trong những nhân tố đã xô đẩy người Do Thái Nga về miền đất thiêng Zion.

* Chính Sergei, người bảo trợ sự hiện diện của Nga, đã chết từ lâu. Năm 1905, ông cuối cùng từ chức tổng thống đốc Moscow, và rồi bị tan xác trong một vụ khủng bố bên trong Điện Kremlin. Vợ ông Ella chạy ùa ra ngoài bò trườn trên mặt đất để thu nhặt những phần thi thể của chồng, chỉ được một khối thân mình không có tay và vài mảnh xương sọ và xương hàm. Bà có đến thăm tên sát thủ ở nhà giam trước khi y bị hành hình. Sau đó bà tiếp quản chức chủ tịch Hiệp hội Palestine, giờ đây được Nicholas II giám sát. Bà tranh cãi và xa lánh chị gái là Hoàng hậu Alexandra về việc dung túng Rasputin lạm quyền.

ĐẠI CÔNG TƯỚC SERGEI: NGƯỜI DO THÁI NGA VÀ NẠN POGROM.

Năm 1891, Alexander III chỉ định  Sergei làm tổng thống đốc Moscow. Ở đó ông trục xuất 20,000 người Do Thái ra khỏi thành phố, và cho bọn Cô-giắc và cảnh sát bao vây vùng lân cận của họ ngay giữa đêm đầu tiên ngày Lễ Vượt Qua. Ella viết, ‘Tôi không tin là chúng ta sẽ không bị phán xét về hành động này trong tương lai.’ Nhưng Sergei ‘tin việc này là để bảo đảm an toàn cho chúng ta. Tôi không thấy có gì trong đó trừ sự hổ thẹn.’

* Alexander III chết vào năm 1894 và được kế vị bởi con trai thiếu kinh nghiệm, bất tài và không may mắn Nicholas II, người chia sẻ lòng tin cứng ngắt của vua cha vào sự chuyên chính. Ông thích và tin cậy ‘chú Sergei’. Là tổng thống đốc, Sergei có trách nhiệm tổ chức lễ đăng quang ở Moscow trong đó hàng ngàn người nông dân đi dự lễ bị chết do giẫm đạp. Sergei khuyên cháu mình cứ tiếp tục làm lễ và trốn tránh trách nhiệm.

Sáu triệu người Do Thái Nga luôn trân trọng Jerusalem, cầu nguyện về phía bức tường phía đông trong ngôi nhà mình. Nhưng giờ những vụ pogrom thúc đẩy họ đến với cách mạng – nhiều người theo chủ nghĩa xã hội – hoặc trốn thoát. Từ đó phát động một chuyến xuất hành rộng lớn, chuyến Aliyah thứ nhất, một từ có nghĩa là bay đến một nơi cao hơn, Núi Thánh Jerusalem. Hai triệu người Do Thái rời bỏ nước Nga giữa những năm 1888 và 1914, nhưng 85 phần trăm số này không hướng đến Miền Đất Hứa mà đến Miền Đất Vàng châu Mỹ. Dù sao cũng có hàng ngàn người hướng về Jerusalem. Năm 1890, dân di cư Do Thái Nga bắt đầu thay đổi bộ mặt thành phố: giờ đã có 25,000 người Do Thái trong tổng số 40,000 cư dân Jerusalem. Năm 1882 vị sultan ngăn cấm người Do Thái nhập cư và năm 1889 ra sắc lệnh người Do Thái không được phép ở lại Jerusalem lâu hơn ba tháng, những biện pháp hiếm khi được cưỡng chế. Đại gia Ả Rập, do Yusuf Khalidi dẫn đầu, thỉnh cầu Istanbul chống việc Do Thái nhập cư, nhưng nguòi Do Thái vẫn cứ tiếp tục đến.

Luôn luôn kể từ khi những tác giả của Kinh thánh tạo ra những câu chuyện về Jerusalem, và luôn luôn kể từ khi tiểu sử của thành phố đã trở thành câu chuyện mà ai cũng biết, số phận của nó đã được quyết định ở nơi xa – ở Babylon, Susa, La Mã, Mecca, Istanbul, London và St Petersburg. Năm 1895, một nhà báo Áo xuất bản một quyển sách và quyển sách này sẽ xác định diện mạo Jerusalem trong thế kỷ 20: Nhà Nước Do Thái.

5

Từ thập 1830, người Do Thái nói tiếng Ả Rập dòng Sephardic (gốc Tây Ban Nha) ở Jerusalem được người Do Thái di cư từ Nga nói tiếng Do Thái đến gia nhập và sau đó có thêm nhiều người Do Thái đến từ Yemen và từ Đức (dòng Ashkenazi) .

7

Jerusalem cũng bị lấn áp bởi các nông dân Chính thống giáo Nga, bên ngoài Nhà Thờ trong dịp lễ Phục Sinh, trong khi Cổng Jaffa và Phố David trở thành trung tâm Jerusalem Âu châu.


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s