Ngoại tộc dày xéo, cai trị Trung Quốc

S0D20160519153526MT319298.jpg

Hồ Bạch Thảo

Ngoại tộc dày xéo Trung Quốc không phải chỉ xảy ra trong một đời, cai trị Trung Quốc không phải chỉ có một thời ; Trung Quốc hàng năm phải nạp cống, dâng gái đẹp cho họ cũng không phải chỉ xảy ra trong một lần. Ngoại tộc thắng Trung Quốc nhờ võ công, nhưng cuối cùng thua họ bởi Hoa hoá. Định mệnh phải làm đối thủ với Trung Quốc, người Việt ta cũng nên biết những chỗ hèn kém của của dân tộc này, để củng cố lòng tự tin ; lại càng phải tìm hiểu kỹ sở trường của họ để biết mình biết người. Nhân dịch xong Tư liệu Việt sử trong Nhị Thập Ngũ Sử, nhận thấy lịch sử Trung Quốc như tấm áo phức tạp có nhiều mảnh, xâm lược Việt Nam là một mảnh, nhưng bị dày xéo bởi ngoại tộc cũng là một mảnh lớn, vậy xin tìm hiểu thêm để thấy rõ chân tướng của dân tộc này

1. Hung Nô thời Hán

mac don (3).jpg

Mặc Đốn

Vào năm 201 trước Công Nguyên [BC 201], có tin Hàn Tín tại Đại Đồng [Datong, tỉnh Sơn Tây] mưu phản, cấu kết với Hung Nô đánh thành Thái Nguyên ; Hán Cao Tổ Lưu Bang bèn đích thân mang 32 vạn đại quân đến đánh Hung Nô. Hung Nô là một đế quốc thời cổ, do các bộ lạc du mục liên minh hợp thành, thành lập vào cuối thời Chiến Quốc đến đời Tần ; trường kỳ xung đột hoặc có khi hoà hoãn với Trung Quốc dưới thời Hán. Lãnh thổ Hung Nô trung tâm tại vùng cao nguyên Mông Cổ, phía đông đến tỉnh Hắc Long giang hiện nay ; phía nam xuống đến các tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây, và vùng Hà Khoá tức cực bắc sông Hoàng Hà ; phía tây giới hạn tại núi Ha Nhĩ Thái Sơn thuộc tỉnh Tân Cương.

Trong cuộc giao tranh, khởi đầu quân Hán Cao Tổ thu được chiến thắng nhỏ tại Đồng Côn [huyện Thấm, Qinxian, Sơn Tây]. Tiếp tục đánh, Hung Nô dùng kế dụ địch bằng cách sử dụng quân yếu nhược từ từ rút lui, riêng giấu kín quân tinh nhuệ lại. Hán Cao Tổ khinh địch, mang đạo quân tiên phong tiếp tục bắc tiến, cuối cùng bị vây khốn tại thành Bạch Đăng, thuộc Đại Đồng. Đạo quân của Cao Tổ bị vây chặt 7 ngày 7 đêm, không liên lạc được với cánh quân phía sau. Nhắm thị uy, Hung Nô dùng kỵ binh vây 4 phía, phía tây dàn toàn ngựa trắng, phía đông dùng ngựa đen vằn trắng, phía bắc dùng ngựa đen tuyền, phía nam dùng ngựa hồng. Lâm vào bước đường cùng, Hán Cao Tổ phải sai Sứ giả đến hối lộ, hứa hàng năm nạp cống, Hung Nô bèn mở một góc thành, cho rút. Mong tránh áp lực thêm, Cao Tổ đem Công chúa gả cho Hung Nô làm thê thiếp, hàng năm dâng cống tơ lụa, rượu, phẩm vật, xin kết làm anh em ; nhờ vậy tình hình mới bớt căng thẳng.

Cuộc chiến thảm khốc tại thành Bạch Đăng, gây cảm xúc cho thi sĩ Lý Bạch đời Đường với những vần thơ bất hủ như sau :

d6e1c0f010b6428297817136ff9875f4_th

…Hán hạ Bạch Đăng đạo,
Hồ khuy Thanh Hải loan.
Cổ lai chinh chiến địa,
Bất kiến kỷ nhân hoàn….

漢下白登道,
胡窺青海灣。
由來征戰地,
不見有人還。

(Quân Hán xuống Bạch Đăng đạo,
Rợ Hồ dòm ngó Thanh Hải loan.
Xưa nay những người nơi chiến trường,
Không thấy mấy ai được trở về.)

Dưới thời Hán Huệ Đế [–194 – –188], Lữ Hậu [–187 – –180], Hung Nô càng thêm kiêu ngạo ; nhân Hán Cao Tổ mới mất, dám viết thư cho Lữ Hậu với lời lẽ thô tục như sau :

“ Cô Phẫn là vua, vốn sinh nơi ao hồ, lớn lên nơi thảo nguyên nuôi trâu ngựa, mấy lần đến biên cảnh, trong lòng muốn du lịch Trung Quốc. Nay Bệ hạ cô đơn, Cô Phẫn cũng sống một mình, cả hai vua đều không sướng, không biết lấy gì để vui ; muốn lấy cái có, để bù vào cái không ! ”

Lữ Hậu rất giận, muốn sai quân đi đánh. Phàn Khoái tình nguyện mang 10 vạn quân đi. Lữ Hậu đem việc này ra hỏi Lang trung Quí Bố, Bố tâu rằng :

“ Khoái lừa vua, đáng đem ra mà chém. Trước đây Cao Tổ mang 32 vạn quân, bị vây khốn, Khoái không giúp giải vây được ; trong dân còn có lời ca rằng : “ Quân lính dưới thành thực khổ, 7 ngày không ăn, không còn sức dương cung để bắn.” Tiếng ca bi thương còn chưa dứt, mà Khoái dám đưa lời nói láo rằng có thể mang 10 vạn quân hoành hành, thực là man trá. Vả lại bọn Di Địch Hung Nô cũng giống như cầm thú, chúng nói lời tốt cũng không đáng mừng, nói lời xấu cũng không đáng ghét giận.”

Lữ Hậu nói : “ Phải ”

Rồi đành chịu nhịn Hung Nô 1

mac don (1).jpg

Lữ Hậu

2. Ngũ Hồ Thập Lục Quốc thời Tấn

0E4LzlU8ru.jpeg

Thời Tây Tấn [265-316], triều Tấn thống nhất Trung Quốc, đóng đô tại Lạc Dương ; Ngũ Hồ cư ngụ tại phía bắc và tây biên thuỳ, đối với vương triều Tấn, vị trí ở thế bao vây nửa bên trên. Do Tấn triều hủ bại, quan lại tham ô tàn độc, gây cuộc nội loạn 8 Vương tranh giành xâu xé [Bát Vương loạn 291-306] ; thừa dịp 5 dân tộc Hồ rầm rộ khởi binh, sử gọi là Ngũ Hồ Loạn Hoa, mở đầu cho thời đại hỗn loạn mệnh danh Ngũ Hồ Thập Lục Quốc.

Ngũ Hồ Thập Lục Quốc khởi đầu năm 304, khi Lưu Uyên thành lập nước Hán Triệu, Lý Hùng lập nước Thành Hán ; rồi kết thúc năm 439 lúc nước Bắc Nguỵ diệt Bắc Lương. Phạm vi phía bắc lên đến vùng sa mạc Hoa Bắc, phía nam đến lưu vực sông Hoài tỉnh Hà Nam, phía đông đến Liêu Đông, phía tây đến Tứ Xuyên cùng Tây Vức. Nhiều dân tộc vào làm chủ Trung Quốc ; chủ yếu có : Hung Nô, Yết, Tiên Ty, Đê ; gọi chung là Ngũ Hồ. Trong phạm vi nêu trên, những ngoại tộc này cùng lúc hoặc tiếp tục lập ra nhiều quốc gia ; sau đó nhân Sử gia Thôi Hồng thời Bắc Nguỵ thu thập sử liệu, chọn 16 nước tiêu biểu soạn bộ sách Thập Lục Quốc Xuân Thu, nên người đời sau gọi là 安祿山安祿山. 16 nước (5 Lương, 4 Yên, 3 Tần, 2 Triệu, 1 Thành Hán, 1 Hồ Hạ) gồm : Thành Hán, Tiền Triệu, Hậu Triệu, Tiền Lương, Tiền Yên, Tiền Tần, Hậu Yên, Hậu Tần, Tây Tần, Hậu Lương, Nam Lương, Tây Lương, Bắc Lương, Nam Yên, Bắc Yên, và Hồ Hạ. Nay tóm lược mỗi nước như sau :

34in6zk.jpg

1. Thành Hán, do Lý Hùng người dân tộc Đê mở nước năm 304. Dân tộc Đê từ thời Tần đến thời Tấn phân bố tại các tỉnh Cam Túc, Thiểm Tây, Tứ Xuyên ; ngoài Thành Hán ra, các vua Tiền Tần, Hậu Lương đều thuộc dòng tộc Đê. Nước Thành Hán bàn cứ tại vùng Tứ Xuyên, và một phần Vân Nam, Quí Châu ; định đô tại Thành Đô, mất bởi nhà đông Tấn năm 347.

2. Tiền Triệu, do Lưu Uyên người gốc Hung Nô sáng nghiệp năm 304 ; khu vực thống trị tại các tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây, Thiểm Tây, Cam Túc, Hà Nam hiện nay. Bấy giờ nhà Tấn năm Quang Hy thứ nhất [306], vua Huệ Đế mất, Tư Mã Sí kế vị, niên hiệu Vĩnh Gia ; Lưu Uyên sai bọn Thạch Lặc mang binh xâm lăng phương nam, mấy lần đánh phá quân Tấn, thế lực Tiền Triệu càng thêm hùng mạnh. Năm 311, thời Lưu Thông nối ngôi, lại sai bọn Thạch Lặc mang quân đánh Tấn, diệt 10 vạn quân Tấn tại Bình Thành [Hà Nam], rồi đánh vào kinh đô Lạc Dương, bắt vua Hoài Đế ; giết Vương, Công, sĩ, dân hơn 2 vạn người ; sử gọi là “ Vĩnh Gia chi loạn ”. Sau loạn này, tập đoàn thống trị nhà Tấn di cư xuống phương nam, đóng đô tại Nam Kinh, kiến lập nhà Đông Tấn. Tiền Triệu truyền qua 4 đời vua, năm 329 bị Hậu Triệu Thạch Lặc diệt.

3. Hậu Triệu do Thạch Lặc, người dân tộc Yết, sáng nghiệp năm 319. Dân tộc Yết tồn tại không lâu trong lịch sử Trung Quốc ; nó là một chi nhánh của Hung Nô, cuối cùng lớn mạnh, tiêu diệt Hung Nô. Thạch Lặc xuất thân là bộ hạ nhà Tiền Triệu, năm 319 tự xưng là Triệu Vương, năm 329 tiêu diệt Tiền Triệu. Thời cực thịnh chiếm cứ vùng đất thuộc các tỉnh Hà Bắc, Sơn Đông, Thiểm Tây, Giang Tô, An Huy, Cam Túc, Hồ Bắc, Liêu Ninh ; lập đô tại Tương Quốc [Hà Bắc] rồi dời đến Nghiệp [Hà Bắc]. Năm 351 bị Nhiễm Nguỵ diệt.

4. Tiền Lương : sau loạn Bát Vương [291-306] Lương Vương Trương Quỹ tiếp tục giữ lãnh thổ, rồi truyền cho con cháu. Tuy chịu phong bởi nhà Đông Tấn, nhưng hai bên xa cách đến hàng vạn dặm, nên thực chất là chính quyền cát cứ. Tiền Lương thống trị khu vực thuộc các tỉnh Cam Túc, Ninh Hạ, Tân Cương ; định đô tại Cô Tang thuộc Cam Túc. Năm 376 bị Thiên vương Phù Kiên nhà Tiền Tần mang 13 vạn quân kỵ, bộ tấn công, Tiền Lương diệt vong.

5. Tiền Yên do Mộ Dung Hoàng Quang người Tiên Ty sáng nghiệp năm 337. Tiên Ty khởi nguồn từ bộ tộc Đông Hồ, phân bố tại cao nguyên Mông Cổ, phía bắc Trung Quốc. Thời Tần Hán bị Hung Nô Mạo Đồn đánh bại, bèn chia làm 2 bộ phận rút lui đóng tại các núi Ô Hoàn và Tiên Ty, rồi lấy tên núi thành tên bộ tộc. Nước Tiền Yên thống trị khu vực Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây, Thiểm Tây, Cam Túc, Liêu Ninh, An Huy, Giang Tô. Định đô tại Long Thành thuộc tỉnh Liêu Ninh, rồi dời đến Nghiệp tại Hà Bắc ; năm 370 bị diệt bởi Tiền Tần Phù Kiên.

6. Tiền Tần do Phù Kiện, dân tộc Đê, sáng nghiệp năm 351 ; thống trị vùng đất rộng lớn phía bắc sông Dương Tử gồm các tỉnh Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, Sơn Tây, Thiểm Tây, Cam Túc, Ninh Hạ, Liêu Ninh, An Huy, Giang Tô, Tứ Xuyên, Quí Châu, Hồ Bắc ; định đô tại Trường An [Thiểm Tây]. Đến đời Thế tổ Phù Kiên, mở mang phương nam đối đầu với nhà Đông Tấn ; năm 383 giao chiến tại trận Phì Thuỷ [đông nam huyện Thọ, tỉnh An Huy], bị thảm bại. Trong trận này 8 vạn quân Đông Tấn do Tạ An chỉ huy, đã chiến thắng hơn 80 vạn quân Tiền Tần do Phù Kiên đích thân chỉ huy. Năm 385, Phù Kiên bị Diêu Trướng giết, Tiền Tần diệt ; Diêu Trướng lập nên nhà Hậu Tần.

7. Hậu Yên do Mô Dung Thuỳ, dân tộc Tiên Ty, sáng nghiệp năm 384 ; định đô tại Trung Sơn [Định Châu, Hà Bắc], thống trị khu vực thuộc các tỉnh Liêu Ninh, Hà Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây, Hà Nam. Bị Bắc Yên diệt năm 407.

8. Hậu Tần : Sau khi Phù Kiên thất bại tại trận Phì Thuỷ trở về kinh đô Trường An. Một quí tộc thuộc bộ tộc Khương 2 tên Diêu Trướng xưng Vương tại Bắc Địa [huyện Phú Bình, Thiểm Tây] ; năm 385 giết Phù Kiên, chiếm kinh đô Trường An rồi định đô tại nơi này ; quốc hiệu là Đại Tần, sử gọi là Hậu Tần. Khu vực thống trị gồm các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc, Hà Nam. Truyền đến đời Diêu Hoằng, năm 417 bị tướng nhà Đông Tấn là Lưu Dụ [sau lên ngôi vua, tức Tống Vũ Đế] diệt.

-9. Tây Tần do Khuất Phục Quốc Nhân, người Tiên Ty, sáng nghiệp năm 385. Quốc Nhân nguyên là Trấn Tây Tướng quân, dưới quyền Phù Kiên. Sau khi Phù Kiên bại trận tại Phì Thuỷ, bèn tự chủ cát cứ, định đô tại Kim Thành [Lan Châu, Cam Túc], thống trị phía đông Cam Túc. Đến đời Khuất Phục Mộ Mạt kế vị, rút lui về Nam An [Cam Túc] bị quân nước Hạ vây, Mộ Mạt ra hàng, nước bị diệt năm 431.

10. Hậu Lương do Lữ Quang người Đê dựng nước năm 386. Lữ Quang là tướng lãnh nhà Tây Tấn, từng lập công lớn tại Tây Vức. Sau trận Phì Thuỷ, Phù Kiên bị giết ; Lữ Quang vào chiếm Lương Châu, thiết lập Hậu Lương đóng đô tại Cô Tang [Vũ Uy, Cam Túc]. Thống trị vùng Tân Cương, Cam Túc. Đến đời thứ 4, Lữ Long thế suy ; lại bị các nước Nam Lương, Bắc Lương, Hậu Tần liên tiếp xâm bức ; Lữ Long bèn hàng nhà Hậu Tần, nước mất năm 403.

11. Nam Lương do Ngốc Phát Ô Cô người Tiên Ty sáng nghiệp năm 397 ; định đô tại Cô Tang [Vũ Uy, Cam Túc], thống trị vùng đất Cam Túc, Tân Cương. Năm 414 hàng nhà Tây Tần, nước bị diệt.

12. Tây Lương do Lý Cảo dân tộc Hán sang nghiệp năm 400 ; định đô tại Đôn Hoàng, thống trị phía nam Cam Túc. Đến đời cháu là Lý Tuân bị nước Bắc Lương diệt năm 421.

13. Bắc Lương do Mông Tốn dân tộc Hung Nô sáng nghiệp năm 397; định đô tại Trường Dịch [Cam Túc]. Thống trị vùng Cam Túc, Tân Cương; năm 439 bị Bắc Nguỵ diệt.

14. Nam Yên do Mộ Dung Đức dân tộc Tiên Ty sáng nghiệp năm 398 ; định đô tại Quảng Cố [Thanh Chu, Sơn Đông]. Thống trị vùng Sơn Đông, Hà Nam. Năm 405 Mộ Dung Đức mất, con người anh là Mộ Dung Siêu nối ngôi. Năm 409 Lưu Dụ tướng nhà Đông Tấn bắc phạt; bắt được Siêu đem giết, nước Nam Yên bị diệt.

15. Bắc Yên do Mộ Dung Cao Vân dân tộc Tiên Ty giành chính quyền Từ Hậu Yên năm 407, định đô tại Hoà Long [Liêu Ninh]. Thống trị khu vực Hà Bắc, Liêu Ninh ; năm 436 bị Bắc Nguỵ đánh, thế không chống cự nổi nên vua tôi chạy trốn sang Cao Ly, nước Bắc Yên mất.

16. Hồ Hạ do Hách Liên Bột Bột dân tộc Hung Nô sáng nghiệp năm 407, định đô tại Thống Vạn [Thiểm Tây] ; ngự trị vùng Thiểm Tây, Cam Túc, Nội Mông Cổ. Đến đời con Hách Liên Xương bị Bắc Nguỵ đuổi xuống Thượng Bang [Thiên Thuỷ, Cam Túc] phương nam, rồi đến năm 428 Bắc Nguỵ vây hãm Thượng Bang, Liên Xương bị bắt. Riêng em là Hách Liên Định chạy đến Bình Lương [Cam Túc], tự xưng là Hoàng đế nước Hạ, bị nước Thổ Cốc Hồn 3bắt năm 439 rồi trao cho Bắc Nguỵ

Chú thích:

1 Hán Thư, Quyển 94 thượng.

2 Dân tộc Khương : là một dân tộc sống lâu đời tại vùng Tứ Xuyên, hiện nay dân số khoảng 30 vạn người.

3 Thổ Cốc Hồn là bộ tộc vừa là tên nước tại vùng tây bắc Trung Quốc từ thời Tây Tấn đến Đường [313-663], vốn là một chi Tiên Ty, dòng Mộ Dung.

 

3.    Thời Trung Quốc phân chia nam bắc : nước Bắc Nguỵ [386-557]   

4eb1cc5anvb1a3h360bys&690.jpg

Sau thời 16 nước Ngũ Hồ loạn Hoa, đến lượt Thác Bạt Khuê người gốc Tiên Ty kiến lập chính quyền Bắc Nguỵ ; đây là chính quyền phương bắc đầu tiên thời Nam Bắc triều. Bộ tộc Thác Bạt Tiên Ty nguyên lai cư trú tại Hắc Long Giang ngày nay, chuyên về du mục. Sau đó di cư đến vùng Nội Mông Cổ, rồi xuống phương nam. Đến năm 315, Thác Bạt Kỳ Lô giúp nhà Tây Tấn đánh Hung Nô, nên được phong Vương đất Đại, rồi lập thành nước. Năm 376, Phù Kiên nước Tiền Tần tấn công, Đại bị diệt vong.

Sau khi thất bại trận Phì Thuỷ, Tiền Tần suy sụp, kế đó Phù Kiên bị giết ; lợi dụng tình thế này, vào năm 386 Thác Bạt Khuê khôi phục nước Đại ; rồi dời đô đến Thịnh Lạc [nay thuộc Nội Mông Cổ], đổi quốc hiệu là Nguỵ, sử gọi là Bắc Nguỵ. Bắc Nguỵ làm cuộc chiến tranh thống nhất miền bắc Trung Quốc vào giai đoạn cuối Ngũ Hồ Thập Lục Quốc. Bấy giờ các nước cát cứ không ngừng phân tranh, đương đầu với nhiều đối thủ, tình thế phức tạp đa biến ; tuy nhiên lãnh tụ Bắc Nguỵ biết xét thời độ thế, xác định các mục tiêu ưu tiên trước sau cần đả kích, dùng chiến lược chiến thuật linh động, đạt được mục đích cuối cùng. Sau đây là những chiến công nổi bật giúp Bắc Nguỵ điện định phương bắc :

* Chinh phục Hậu Yên, mở đường xuống phương nam

 

Hậu Yên thống trị khu vực thuộc các tỉnh Liêu Ninh, Hà Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây, Hà Nam ngày nay. Bắc Nguỵ năm Đăng Quốc thứ 10 [395], Hậu Yên mang quân xâm lăng. Thác Bạt Khuê thấy quân Hậu Yên cậy mạnh khinh địch, bèn từ từ rút lui, đợi lúc địch quân mỏi mệt mới bắt đầu phản kích, thu chiến thắng lớn tại Tham Hợp Pha [Lương Thành, Nội Mông Cổ], tiêu diệt 4, 5 vạn quân Hậu Yên. Nhờ đó cải biến tương quan lực lượng, Bắc Nguỵ bắt đầu dòm ngó Trung Nguyên.

Năm 396 Thác Bạt Khuê thừa thắng tiến đánh, đích thân mang 40 vạn quân khắc phục thành Tấn Dương [Thái Nguyên, Sơn Tây]. Tiếp tục đánh tan các thành tại phía đông, tháng 11 Thác Bạt Khuê vây đánh kinh đô Hậu Yên tại Trung Sơn. Hậu Yên Cao Dương Vương Mộ Dung Long cố thủ Trung Sơn [Định Châu, Hà Bắc], đốc suất quân ra sức chống cự, đánh lui quân Bắc Nguỵ mấy lần tấn công, khiến quân Nguỵ thương vong nhiều. Thác Bạt Khuê thấy thành Trung Sơn kiên cố phòng thủ nghiêm nhặt, bèn mang quân xuống phương nam công hãm Tín Đô ; kế tiếp đến Nghiệp Thành [Hà Bắc] tấn công mấy lần nhưng không hạ được, bèn tạm thời rút về đóng tại Dương Thành. Bấy giờ trong nước Bắc Nguỵ có nội biến, Thác Bạt Khuê hay tin, định mang quân về dẹp nội loạn, nhưng sợ quân Hậu Yên đánh sau lưng ; do đó cho Sứ giả đến giảng hoà, xin đưa em làm con tin. Vua nước Yên Mộ Dung Bảo nghe tin nội bộ nước Nguỵ có loạn nên không hứa ; bèn điều bộ binh 12 vạn, kỵ binh hơn 3 vạn, chặn tại phía bắc sông Hô Đà Hà [Sơn Tây], đòi Vương Thác Bạt Khuê quyết chiến. Thác Bạt Khuê cầu hoà không thành, nổi giận ứng chiến. Mấy ngày sau mang quân lên phía bắc, đặt doanh trại tại phía nam sông Hô Đà Hà. Mộ Dung Bảo chủ trương ra tay trước để chế ngự, chọn lúc quân Bắc Nguỵ trú chân chưa ổn, bèn mang tinh binh đang đêm đột kích. Quân Hậu Yên sử dụng hoả công đốt trại, tạo yếu tố bất ngờ. Bấy giờ Thác Bạt Khuê đang ngủ, bèn choàng tỉnh dậy, chân trần chạy đến chỗ tập trung quân, đánh trống liên hồi. Phía quân Yên nghe tiếng trống, chiêng nổi lên, không biết lý do gì ; cho rằng đã trúng phục kích, trở nên kinh hoàng đại loạn, tự dày xéo chém giết lẫn nhau. Quân Bắc Nguỵ nghe tiếng trống bèn tập hợp nhanh, Thác Bạt Khuê ra lệnh bộ binh vừa đánh vừa đốt đuốc sáng rực, kỵ binh xung kích mãnh liệt. Quân Yên bốn phía đều gặp địch, lại bị kỵ binh dày xéo, tử thương trầm trọng. Mộ Dung Bảo chỉ còn cách thu thập tàn quân, vượt sông chạy lên phía bắc ; quân Bắc Nguỵ tinh thần cao, đuổi bén gót không tha. Lúc bấy giờ vào chiều tối, gió tuyết nổi lên, quân Yên rét lạnh phải vượt sông, gối đầu nhau chết cóng. Mộ Dung Bảo lo giữ mạng sống, bỏ đại quân, mang 2 vạn kỵ binh thoát hiểm. Quân Bắc Nguỵ suốt ngày đêm truy kích, đuổi đến kinh đô Trung Sơn. Trong thành, viên Thượng thư lang Mộ Dung Hạo mưu giết Yên Vương Mộ Dung Bảo không thành, bèn giết quân gác cửa ra hàng. Mộ Dung Bảo biết thành Trung Sơn không thể giữ được, mang 1 vạn quân kỵ vượt trùng vây, đến Long Thành [Triều Dương thị, Liêu Ninh]. Tháng 10 ngày Giáp Thân [397] quốc đô Trung Sơn phồn hoa bị Bắc Nguỵ chiếm, nước Hậu Yên trên đà sụp đổ.

* Củng cố nội bộ và lo mở nước

Năm Thiên Hưng thứ nhất [398] Thác Bạt Khuê dời đô đến Bình Thành [Đại Đồng, Sơn Tây], xưng Đế thuỵ hiệu là Vũ Đạo Đế. Sau khi đánh bại Hậu Yên, tiến vào Trung Nguyên, bắt đầu từ bỏ du mục, cổ vũ nông nghiệp, tiến hành Hán hoá. Trong vòng mấy năm, Bắc Nguỵ một mặt củng cố nội bộ, một mặt lo mở nước. Hướng phía bắc, đánh Nhu Nhiên, một nhánh thuộc bộ tộc Hung Nô. Lại vươn sang phía Tây, diệt hơn 3 vạn quân Hậu Tần tại Trà Bích [Tương Bồn, Sơn Tây].

Năm Vĩnh Hưng thứ nhất [409], nội bộ gia tộc có chính biến, Thác Bạt Khuê bị giết năm 39 tuổi, con là Thác Bạt Tự lên thay thuỵ hiệu là Minh Đế. Năm Thái Thường thứ 7 [422] Minh Đế thừa dịp vua Tống Lưu Dụ bệnh mới mất, bèn mang đại quân làm cuộc tấn công lớn dọc lưu vực sông Hoàng Hà, chiếm các trọng điểm phía nam như Hổ Lao [Vinh Dương, Hà Nam], cố đô Lạc Dương, Hoạt Thai [Hoạt huyện, Hà Nam]. Do quân Tống nam triều cương quyết đề kháng, nên quân Bắc Nguỵ phải trả giá với thương vong cao.

Năm Thái Thường thứ 8 [423] Thác Bạt Tự chết, Thác Bạt Đảo kế vị, thuỵ hiệu Thái Vũ Đế. Lúc bấy giờ tại phương bắc còn tồn tại một số nước thuộc Thập Lục Quốc như Đại Hạ, Bắc Lương, Tây Tần, Bắc Yên, và bộ tộc Nhu Nhiên thường quấy rối tại phương bắc ; Thác Bạt Đảo hùng tài đại lược, thông hiểu binh pháp, lâm trận dõng mạnh, nên đã lần lượt tiêu diệt được phần lớn các thế lực nêu trên.

Đánh bại nước Hạ

Nước Hạ thuộc bộ tộc Hung Nô, thống trị vùng Thiểm Tây, Cam Túc, Nội Mông Cổ. Vào các năm Thuỷ Quang thứ 3, thứ 4 [426-427] thừa dịp Hoàng đế nước Hạ Hách Liên Bộ Bột mới mất, các Hoàng tử tranh ngôi, vua Bắc Nguỵ mang quân đến đánh. Quân 2 lần xâm phạm thành Thống Vạn [Thiểm Tây], lần sau vua Bắc Nguỵ Thác Bạt Đảo làm kế dụ địch, đem một ít kỵ binh đến dưới chân thành, không có bộ binh tháp tùng. Vua nước Hạ, Hách Liên Xương mới lập, thấy quân Nguỵ ít bèn mang kỵ binh ra đuổi đánh ; bị phục kích chặn phía sau, không kịp vào thành, bèn chạy đến Thượng Bang [Thiên Thuỷ, Cam Túc], sau đó bị bắt. Quân Bắc Nguỵ xông vào thành Thống Vạn, bắt Vương, Công, cung nữ hàng vạn ; tịch thu 50 vạn ngựa, trâu dê hàng ngàn vạn, còn đồ trân quí không kể xiết.

Riêng người em là Hách Liên Định, rút về Bình Lương [Cam Túc] lên ngôi vua, bị Tiên Ty Thổ Cốc Hồn bắt năm 439 rồi trao cho Bắc Nguỵ.

* Đại phá Nhu Nhiên

Bắc Nguỵ năm Thuỷ Quang thứ nhất [424], Khả hãn Nhu Nhiên Đại Đàn nghe tin vua Bắc Nguỵ Thác Bạt Tự mất, bèn mang 6 vạn kỵ binh đến đánh chiếm kinh đô cũ Thịnh Lạc và bao vây thành Vân Trung [Nội Mông]. Vua kế vị Thác Bạt Đảo mới 16 tuổi mang quân đến vùng Hà Khoá tại cực bắc sông Hoàng Hà bảo vệ Trường thành, chống Nhu Nhiên xâm nhập. Sau khi củng cố biên giới, bèn mang 2 vạn kỵ binh đi cứu Vân Trung. Quân Nhu Nhiên cậy đông, bao vây trùng điệp, tuy nhiên Hoàng đế Bắc Nguỵ Thác Bạt Đảo, tuổi trẻ quả cảm “ lâm địch cùng sĩ tốt dưới lằn tên mũi giáo, tuy hai bên quân lính tử thương, thần sắc vẫn xem thường ” đã cổ vũ lòng quân, khiến Nhu Nhiên 2 lần tấn công bị thất bại, tướng bị giết; cuối cùng hỗn loạn chạy trốn. Năm sau vào tháng 10, đại quân Bắc Nguỵ chia làm 5 đạo vượt sa mạc lớn chinh thảo, Nhu Nhiên kinh hãi chạy lên phía bắc.

Vào năm Thần Lộc Gia thứ 2 [429] sau khi đánh dẹp nước Hạ, chiếm kinh đô Thống Vạn, vua Bắc Nguỵ quyết định đánh Nhu Nhiên một lần nữa. Trận này quân Bắc Nguỵ chia làm 2 cánh đông tây ; cánh phía tây do Tư đồ Trường Tôn Bình tiến theo hướng Đại Nga Sơn ; riêng nhà vua đích thân chỉ huy cánh quân phía đông theo hướng Hắc Sơn, hẹn đánh Nhu Nhiên tại Khả Hản Đình [Kháp nhĩ Hoà Lâm, Mông Cổ]. Cánh quân phía đông gặp quân Nhu Nhiên dưới quyền Đại Đàn, bi đánh bất ngờ quân Đại Đàn tan vỡ, bỏ lều trại gia súc chạy trốn. Em Đại Đàn nghe tin anh bị đánh bèn mang quân đến cứu, bị Trường Tôn Hàn chặn đánh, giết mấy trăm cừ soái. Sau khi Đại bại Nhu Nhiên, uy phục cả bộ lạc Cao Xa miền bắc sa mạc, từ đó thế lực Nhu Nhiên suy giảm, ít khi dám quấy phá.

* Đánh chiếm Bắc Yên

Tháng 5/432 vua Bắc Nguỵ Thác Bạt Đảo chuẩn bị quân lương từ Bình Thành [Đại Đồng, Sơn Tây], rồi xuất phát đi đánh nước Bắc Yên tại phía đông. Trước lực lượng hùng mạnh của đại quân Bắc Nguỵ, nên trên đường chinh phạt gặp sự chống cự không đáng kể. Tháng 8 quân đến dưới chân kinh thành Hoà Long [Liêu Ninh] ; vua Bắc Yên không chịu đầu hàng, cho 3 vạn quân ra đánh, đều bị tiêu diệt. Cuối cùng vua Bắc Yên cùng bộ hạ chạy trốn sang Cao Ly, sau bị Cao Ly giết.

* Hàng phục Bắc Lương

Tháng 3 năm Thái Diên thứ 5 [439] vua Bắc Nguỵ sai Sứ đến Bắc Lương, nghe được lời vua Bắc Lương lặp lại lời nói sàm của Nhu Nhiên rằng :

“ Năm ngoái Bắc Nguỵ đánh ta bị đại bại, không chấn phục được.”

Vua Bắc Nguỵ giận Bắc Lương là nước phiên thuộc hai lòng, bèn quyết định đánh Cô Tang [Vũ Uy, Cam Túc] kinh đô Bắc Lương. Quân Bắc Nguỵ xuất phát từ Bình Thành [Đại Đồng, Sơn tây] ; dùng Nguyên Hạ làm hướng đạo. Nguyên Hạ là con vua Nam Lương, trước kia làm chủ thành Cô Tang, bị Bắc Lương chiếm. Nguyên Hạ tâu với vua Bắc Nguỵ Thác Bạt Đảo rằng :

“ Cạnh thành Cô Tang có 4 bộ lạc Tiên Ty, là dân của ông nội thần, xin khuyên chúng qui phụ.” Vua Nguỵ rất mừng.

Quân đến nơi, vua Bắc Lương một mặt cầu cứu Nhu Nhiên, một mặt sai em mang 1 vạn quân đánh phía nam thành ; nhưng quân Bắc Lương thế yếu tan vỡ. Vua Bắc Nguỵ sai sứ dụ vua Bắc Lương ra hàng, nhưng vua nước này còn chờ Nhu Nhiên đánh biên giới Nguỵ, rồi có thể quân Nguỵ phải rút về giữ nước, nên không chịu hàng. Phía Bắc Nguỵ, nhờ Nguyên Hạ phủ dụ hơn 3 vạn dân phụ cận thành theo, nên thế thêm mạnh, chuyên tâm đánh thành, tháng 9 cháu vua Bắc Lương ra hàng, thành tan ; đến lượt vua Bắc Lương cùng 5.000 người, cuối cùng xin hàng. Quân Bắc Nguỵ tiếp tục chiếm cứ các nơi như Trường Dịch [tỉnh lỵ Cam Túc], Lạc Đô [Hải Đông thị, Thanh Hải], Tửu Tuyền [Cam Túc].

* Nam Bắc triều đối lập, Bắc Nguỵ cải cách, rồi suy thoái diệt vong

Trải qua mấy triều đại cho đến đời Thái Vũ Đế Thác Bạt Đảo, Bắc Nguỵ diệt các nước Hạ, Bắc Yên, Bắc Lương để thống nhất phương bắc, trở thành nước đối lập với Nam Tống. Đến đời Hiến Văn Đế Hoàng Hưng năm thứ 3 [469] sai Chinh nam đại tướng quân Mộ Dung Bạch Diệu đánh chiếm thành Đông Dương của Nam Tống, thu phục vùng đất thuộc bán đảo Sơn Đông ngày nay.

Sau khi Thác Bạt Đảo mất, các vua như Thác Bạt Tuấn, Thác Bạt Hoằng, Thác Bạt Hoành tiếp tục lên ngôi, lần lượt thi hành cải cách, khiến cho nước này từ du mục đi vào kinh tế nông nghiệp. Đặc biệt Mã Thái hậu người gốc Hán tộc, là Quí phi của Thác Bạt Tuấn, rất lưu tâm đến cải cách, có ảnh hưởng lớn đến hai vua sau. Nguyên do vị vua đầu tiên Thác Bạt Khuê ra luật lệ dã man rằng khi người con được chọn làm Thái tử, mẹ bị giết chết ; luật này nhắm ngăn chặn ngôi vua không truyền sang họ khác. Bởi vậy khi Thác Bạt Hoằng được chọn làm Thái tử thì mẹ đẻ bị giết, Mã Thái Hậu làm dưỡng mẫu trực tiếp chăm sóc. Thác Bạt Hoằng lên ngôi vua tức Hiến Văn đế [466-471], chịu ảnh hưởng bà rất lớn ; và ngay cả người cháu là Thác Bạt Hoành, thuỵ hiệu Hiếu Văn đế [471-499], cũng chịu ảnh hưởng bà nhiều trong việc cải cách. Vấn đề cải cách ngoài việc quân điền ban hành năm 469, thì những lãnh vực khác phần nhiều liên quan đến Hán hoá như :

– Dời đô đến Lạc Dương : Hiếu Văn đế cho rằng đô cũ Bình Thành [Đại Đồng, Sơn Tây] là đất dụng võ, còn Lạc Dương là kinh đô danh tiếng trong lịch sử, sản vật giàu có, dân phong lưu ; tiện việc kinh lược khắp nước, khống chế trung nguyên ; nên năm Thái Hoà thứ 17 [493] lấy danh nghĩa đánh Nam triều, rồi dời đô đến Lạc Dương. Sau khi dời đô, ra lệnh ngoại trừ quan võ dùng nhung phục, các quan văn và dân mặc Hán phục.

– Đổi sang họ Hán : Nguỵ Thư, Quan Thị Chí, ghi 118 họ dân tộc Hồ đổi sang họ Hán ; như họ tôn thất Thác Bạt đổi thành Nguyên [元], họ Độc Cô đổi thành Lưu [劉].

– Bỏ tiếng Tiên Ty, dùng Hán Ngữ ; nếu bắt gặp dùng chữ Tiên Ty bị giáng chức quan.

– Thông hôn : cổ vũ thông hôn với thế gia Hán tộc.

– Giáo dục : thờ Khổng Tử, tôn Nho học ; thiết lập nhà Thái Học.

Việc Hán hoá này khiến tinh thần thượng võ của bộ tộc Tiên Ty Thác Bạt bị suy đồi, nội bộ chia rẽ. Thế lực phía nam sông Hoàng Hà vùng kinh đô Lạc Dương, Hán hoá, được nhiều ân sủng ; trong khi thế lực phía bắc vẫn giữ truyền thống cũ, thì bị xem thường, do đó gây nên mối loạn 6 trấn sẽ trình bày tại phần sau.

Đến đời vị vua thứ 8 Tuyên Vũ đế Nguyên Khác, lập con là Nguyên Hủ làm Thái tử, nhưng không theo lệ cũ giết mẹ Thái tử là Hồ Quí Tân. Nguyên Hủ lên ngôi tức Hiếu Minh đế, Hồ Quí Tân làm Hoàng thái hậu nắm hết quyền bính. Lúc bấy giờ phía bắc sông Hoàng Hà đặt 6 trấn với binh lực lớn, có nhiệm vụ ngăn chặn bộ tộc Nhu Nhiên xuống quấy phá. Binh lực 6 trấn phần lớn là Tiên Ty, vẫn giữ phong tục cũ ; không được đãi ngộ như đám quan quân tại Lạc Dương đã được Hán hoá. Trong tình trạng bất mãn, lại nhân phía bắc sông Hoàng Hà bị thiên tai mất mùa, nên quân binh sáu trấn cùng dân nổi dậy. Năm 525, Hồ Thái hậu sai sứ mang lễ vật đút lót cho Nhu Nhiên, yêu cầu giúp Bắc Nguỵ bình loạn 6 trấn. Thủ lãnh Nhu Nhiên mang 15 vạn quân đánh bại quân 6 trấn ; cùng lúc Bắc Nguỵ phái binh từ Bình Thành đánh kẹp lên phía bắc. Bắc Nguỵ bắt được 20 vạn quân dân thuộc 6 trấn rồi cho đày trại 3 châu Doanh, Ký, Định [Hà Bắc].

Nhĩ Chu Vinh trong giai đoạn 6 trấn nổi loạn, trấn thủ Tấn Dương [Thái Nguyên,Sơn Tây] ; nhờ vào việc trấn áp 6 trấn, thế lực lớn mạnh, nắm rất nhiều hùng binh. Vào Năm Đại Thông thứ 2 [528] bè đảng của Hồ Thái hậu giết Hiếu Minh đế ; Nhĩ Chu Vinh mượn cơ hội phát binh công hãm kinh đô Lạc Dương, giết hơn 2.000 Vương, Công, Đại thần, đem Hồ Thái hậu cùng vua mới lập nhận chìm tại bờ phía nam sông Hoàng Hà, sử gọi là “ Hà Âm chi biến ”. Nhĩ Chu Vinh lập Nguyên Tử Du lên làm vua, tức Hiếu Trang đế ; do cuộc biến Hà Âm [Vinh Dương thị, Hà Nam] bị dân Lạc Dương căm ghét, bèn trở về Tấn Dương.

Vua Hiếu Trang tại Lạc Dương gọi Nhĩ Chu Vinh đến yết kiến, rồi đem giết đi. Bộ hạ Nhĩ Chu Vinh bèn mang quân đến công hãm Lạc Dương, giết vua Hiếu Trang. Vào năm 531, có viên tướng Cao Hoan giữ Tín Đô [Hà Bắc] thanh ngôn dẹp tập đoàn Nhĩ Chu, mang quân đánh Lạc Dương, sau đó lập vua Hiếu Vũ đế. Cao Hoan sau khi đánh bại bộ hạ Nhĩ Chu, bèn trấn giữ Tấn Dương.

Hiếu Vũ đế không chịu làm bù nhìn cho Cao Hoan, bèn liên kết với trấn tướng Quan Trung [Thiểm Tây] Hạ Bạt Nhạc. Năm 534 Cao Hoan ra tay giết Hạ Bạt Nhạc ; Hiếu Vũ đế bèn cử Vu Văn Thái thay thế, cùng xuống chiếu kể tội Cao Hoan. Cao Hoan nghe tin bèn mang quân đánh Lạc Dương ; Hiếu Vũ đế đành phải chạy vào Trường An theo Vu Văn Thái. Chẳng bao lâu bị Vu Văn Thái giết, lập Nguyên Bảo Cự lên làm vua gọi là Tây Nguỵ Văn đế. Lúc này nước Bắc Nguỵ chia thành Đông Nguỵ và Tây Nguỵ, nhưng 2 triều này chỉ làm bù nhìn cho họ Cao và Vu Văn. Đông Nguỵ và Tây Nguỵ không duy trì được lâu, năm 550 con Cao Hoan là Cao Dương phế vua Đông Nguỵ lập nên Bắc Tề ; năm 557 con Vu Văn Thái là Vu Văn Giác phế vua Tây Nguỵ lập nước Bắc Chu ; nước Bắc Nguỵ chính thức diệt vong.

4. Thời Trung Quốc thời phân chia nam bắc : nước Bắc Chu [557-581]

U1335P27T1D513540F3DT20081008153555.jpg

Bắc Chu do Vu Văn Thái người dân tộc Tiên Ty sáng nghiệp. Vào cuối thời Bắc Nguỵ, 6 trấn niổ loạn ; Vu Văn Thái là bộ hạ của viên trấn tướng Nhĩ Chu Vinh, theo Chu Vinh vào Quan Trung dẹp giặc. Sau đó làm việc dưới quyền Đại tướng Quan Trung Lũng Tây, Hạ Bạt Nhạc và được trọng dụng.

Bấy giờ quyền thần Cao Hoan khống chế kinh đô Lạc Dương thấy Hạ Bạt Nhạc ôm hai lòng bèn sai quân Tần Châu giết đi ; sau khi Hạ Bạt Nhạc chết, các tướng lãnh bèn ủng lập Vu Văn Thái lên làm Thống soái. Văn Thái bề mặt thần phục Cao Hoan, nhưng kỳ thực khống chế miền Quan Lũng. Sau khi Vũ đế nhà Bắc Nguỵ đánh dẹp Cao Hoan thất bại, bèn chạy vào Quan Trung nhờ sự bảo hộ của Vu Văn Thái. Chẳng bao lâu Vu Văn Thái giết Vũ đế, rồi lập Văn đế, dựng nước Tây Nguỵ [535]. Riêng Cao Hoan tại phương đông, sau khi Vũ đế chạy vào Quan Trung, bèn lập Hiếu Tĩnh đế, mang triều đình dời đô đến Nghiệp Thành [Hà Bắc] lập nước Đông Nguỵ. Từ đó Bắc Nguỵ chia làm hai, Đông Nguỵ và Tây Nguỵ, thực tế do hai quyền thần Cao Hoan và Vu Văn Thái nắm giữ.

Nước Tây Nguỵ lúc mới thành lập, vị Hoàng đế mới chịu sự kiềm chế, để cho Văn Thái độc quyền nắm triều chính. Vũ Văn Thái quả cảm, giỏi dùng người, nên từng chiến thắng đại quân Đông Nguỵ 3 lần, rồi mang quân đánh chiếm miền Tứ Xuyên.

1. Đánh chiếm vùng Tứ Xuyên Giang Lăng

Nam triều đời Lương năm Thái Thanh thứ 3 [549] Hầu Cảnh nội loạn, chiếm Kiện Khang [Nam Kinh], phần lớn các quận thuộc bờ phía bắc miền hạ du sông Trường Giang đều bị Đông Nguỵ chiếm. Khu vực thượng và trung du sông Trường Giang do tôn thất nhà Lương cát cứ tự lập, lại dựa vào lực lượng Tây Nguỵ để tranh đoạt lẫn nhau. Nhạc Dương vương Tiêu Sát mang quân đánh Tương Đông vương Tiêu Dịch bị thua, bèn đầu thuận Tây Nguỵ, tự lập làm Lương vương. Năm 552 Hầu Cảnh bị diệt, cùng năm Tiêu Dịch xưng Đế tại Giang Lăng [Hồ Bắc], tức Lương Nguyên đế ; rồi yêu cầu Tây Nguỵ mang quân đánh chiếm hai châu Lương, Ích ; nhắm diệt trừ Vũ Lăng vương Tiêu Kỷ đang xưng đế tại Thành Đô ; Tây Nguỵ thừa cơ chiếm cứ Ích Châu.

Vào năm Thừa Thánh thứ 3 [544] Lương Nguyên đế sai sứ đòi Tây Nguỵ trả lại đất đã đánh chiếm được, lời nói ra vẻ ngạo mạn. Đại thừa tướng Tây Nguỵ Vu Văn Thái bèn sai các tướng như Trụ quốc Vu Cẩn, Trung Sơn công Vu Văn Hộ, Đại Tướng quân Dương Trung mang 5 vạn quân tiến công kinh đô Lương tại Giang Lăng. Tháng 10, quân Tây Nguỵ từ Trường An [Tây An, Hà Bắc] tiến tới Tương Dương [Hồ Bắc], Tiêu Sát mang quân tới trợ chiến. Lương Nguyên đế nghe tin, ra lệnh giới nghiêm, điều quân chống cự Tây Nguỵ. Tháng 11 quân Tây Nguỵ vượt sông Hán Thuỷ ; Vu Văn Hộ, Dương Trung được lệnh mang kỵ binh tinh nhuệ chặn trước tại Giang Tân, cắt con đường sông, khiến quân Lương phòng thủ không còn đường rút, quân hạ du tăng viện cũng không vượt qua được. Vua Lương hạ lệnh chặn các điểm quan trọng tại Giang Lăng, chôn cọc gỗ tại ngoài thành. Đại quân của Vu Cẩn đến, ra lệnh bao vây xung quanh, cách tuyệt trong ngoài. Lúc bấy giờ quân Lương từ các nơi điều về chưa đến nơi, quân Tây Nguỵ từ nhiều phía đánh thành, lúc đầu cầm cự được, sau đó gặp sức tấn công mạnh, lại bị nội ứng trợ giúp nên vào được phía tây thành, chiếm thành ngoài. Lương Nguyên đế rút vào thành trong, chiều tối cho quan dưới quyền đốt 14 vạn quyển sách ; rồi ngày hôm sau ra hàng, sau đó bị giết. Tháng 12 Vu Cẩn mang quân khải hoàn, áp giải Vương, Công, dân chúng hàng vạn người đến Trường An. Tây Nguỵ lập Tiêu Sát làm Lương chúa ; sau đó cắt phần đất thượng du sông Trường Giang gồm các châu Kinh, Lương, Ung, Ích  nhập vào lãnh thổ Tây Nguỵ.

2. Thành lập nước Bắc Chu

319ae3347a999b928dba03403edb1f0d.jpg

Nhà Tây Nguỵ năm Cung đế thứ 3 [556] Vu Văn Thái mất, con trưởng Vu Văn Giác tập ấm chức An Định Quận công, Thái sư, Thái Trủng tể ; nhưng vì còn nhỏ tuổi nên thực quyền nằm trong tay Vu Văn Hộ. Vu Văn Hộ là cháu Vu Văn Thái, lúc Văn Thái còn sống giữ chức Đại Tư mã, thụ phong Tấn Quốc công. Năm 557, sẵn quyền lực trong tay, Vu Văn Hộ bắt vua Cung Đế nhà Tây Nguỵ phải nhường ngôi cho Vu Văn Giác ; Giác xưng là Thiên vương, đặt tên nước là Bắc Chu.

Vu Văn Giác tuy còn nhỏ tuổi nhưng tính cương cường, bất mãn bởi sự chuyên quyền của Vu Văn Hộ ; riêng các quan trong triều như Triệu Quí, Độc Cô Tín cũng tỏ ra bất phục, họ khuyên Vu Văn Giác diệt trừ Văn Hộ. Do vậy Vu Văn Giác chiêu tập một số võ sĩ, bí mật luyện tập trong cung cách đánh bắt Văn Hộ. Không may sự việc bị tiết lộ, Văn Hộ ra tay khống chế, bắt giết Triệu Quí, bãi chức quan của Độc Cô Tín, rồi sau đó đem giết ; riêng Vu Văn Giác cũng bị truất phế vào năm 559, rồi cũng bị giết.

Sau sự việc này, Vu Văn Hộ tự thăng chức Đại Trủng tể [Thừa tướng], lập người con khác của Vu Văn Thái là Văn Dục lên làm vua, lấy hiệu Chu Minh đế. Văn Hộ thấy Vu Văn Dục nho nhã ôn hoà cho rằng nhu nhược không có năng lực chống đối ; nhưng khi lên ngôi thì lộ ra vẻ thông minh tài cán. Vua  được quần thần ủng hộ, lại lưu tâm đến việc phát triển kinh tế, nên uy vọng mỗi ngày một cao. Muốn thử lòng vua, Vu Văn Hộ lên tiếng xin từ chức, đưa quân quyền trao cho vua ; không ngờ vua vin vào đó chấp nhận ngay. Sự việc này khiến Vu Văn Hộ lo sợ không yên tâm ; do đó vào năm 560 sai người bỏ thuốc độc vào thức ăn giết vua.

Sau đó Vũ Văn Hộ lập con thứ 4 của Văn Thái là Văn Ung lên ngôi tức vua Vũ đế, nhưng vẫn nắm thực quyền. Vũ Văn Hộ từ lâu chuyên quyền, phế lập mấy đời vua, lại kém võ lược, mấy lần đánh Bắc Tề bị thua phải rút quân về, các con thì tham ô tàn độc, nên uy tín ngày xuống thấp. Năm 572, vua Chu Vũ đế mưu cùng em là Vu Văn Trực giết Vu Văn Hộ, giành lại chính quyền.

3. Đánh Bắc Tề, thống nhất Trung nguyên

Năm 534 nước Bắc Nguỵ chia thành Đông Nguỵ và Tây Nguỵ, nhưng 2 triều này chỉ làm bù nhìn cho họ Cao và Vu Văn. Đông Nguỵ không duy trì được lâu, năm 550 con Cao Hoan là Cao Dương phế vua Đông Nguỵ lập nên Bắc Tề. Đến đời vua Hậu chủ Bắc Tề tên Cao Vĩ, nổi tiếng là một hôn quân trong lịch sử. Ông ta hàng ngày hưởng lạc, sống xa hoa, cùng hoạn quan mỹ nữ đàn tỳ bà ca hát ; sáng tác khúc nhạc Vô Sầu, cho hàng trăm thị nữ hoà điệu ca ; nên dân Bắc Tề tặng cho danh hiệu là Vô Sầu Thiên tử. Hậu chủ Cao Vĩ tuỳ tiện phong các chức quan ; phong cho cả những con vật cưng như chó, ngựa, chim, gà vv…

Vua Vũ đế nước Bắc Chu thấy được rõ ràng tình trạng suy đồi của Bắc Tề, bèn quyết định mang quân đánh. Tháng 7 năm 575, quân Bắc Chu chia làm 3 đạo, trung quân do Vũ đế trực tiếp chỉ huy, tiến thẳng đến Hà Âm [Vinh Dương thị, Hà Nam]. Quân Bắc Chu vào lãnh thổ Bắc Tề, giữ kỹ luật nghiêm minh “ Cấm chặt cây, cấm dẫm đạp vào ruộng lúa, kẻ vi phạm bị xử chém ” nên được lòng dân, nhờ đó chiếm thành Hà Âm tương đối thuận lợi. Nhưng khi vượt sông Hoàng Hà tấn công Trung Thành [Mãnh huyện] đến 20 ngày không hạ được, Hữu thừa tướng Bắc Tề, Cao A Na Hoằng, mang quân từ Tấn Dương [Thái Nguyên, Sơn Tây] đến cứu viện ; lại nhân Vũ Đế bị bệnh nên đành phải rút lui.

Tháng 10 năm 576, Bắc Chu lại một lần nữa mang quân đánh Bắc Tề. Bắc Chu tập trung 14 vạn 5.000 quân ; không dùng lộ tuyến cũ, tiến đánh thành Bình Dương [Lâm Phần thị, Sơn Tây] thuộc Tấn Châu. Hạ tuần tháng 10, quân chủ lực Chu tấn công thành Bình Dương, Thứ sử Tấn Châu Thôi Cảnh Cao, đóng tại thành này xin hàng. Chu Vũ đế giao cho Đại tướng quân Lương Sĩ Ngạn làm Thứ sử Tấn Châu, lưu 1 vạn quân tinh nhuệ giữ thành Bình Dương, rồi rút đại quân về.

Thành Bình Dương là nơi dấy nghiệp của thuỷ tổ Bắc Tề Cao Hoan, lại là cửa ngõ thành Tấn Dương [Thái Nguyên, Sơn Tây], vị trí rất quan trọng; nên Hậu chủ Bắc Tề Cao Vĩ không thể không mang quân đến cứu. Nhưng khi thành bị tấn công thì Hậu chủ đang cùng với người đẹp Phùng Thục phi đi săn tại Thiên Trì [huyện Ninh Vũ, Sơn Tây]. Hậu chủ nhận được tin cấp báo, đang chần chừ về việc nên tiếp tục cuộc vui hay đi tiếp cứu , thì Thục phi xin bủa lưới vây bắt thú thêm một mẻ nữa, Hậu chủ đành chiều theo.

Đến đầu tháng 11, Hậu chủ Bắc Tề mang 10 vạn quân đến vây thành Bình Dương, đem Thục phi đi theo. Lúc này phía Bắc Chu cố thủ trong thành, quân tiếp viện chưa đến kịp nên phía Bắc Tề gây áp lực lớn. Quân Tề đào địa đạo để vào thành, gặp một công trình cổ tích, Hậu chủ muốn đích thân đến xem, Thục phi cũng muốn đi theo ; nhưng phải chờ Thục phi trang điểm xong đến nơi, thì quân trong thành đã bít mất lỗ hổng, khiến quân Bắc Tề mất cơ hội đánh thành.

Tháng 12, Chu Vũ đế mang quân từ kinh đô Trường An đến cứu thành Bình Dương. Sau khi dàn trận xong, viên Đại tướng đến tâu :

“ Xin phá giặc trước khi ăn.”

Vua Bắc Chu phán :

“ Theo lời ngươi nói, ta hết lo rồi ”

Trận chiến xảy ra, vua Bắc Chu cưỡi ngựa lược trận, kêu tên từng viên tướng dưới quyền để khích lệ ; khiến lòng quân náo nức. Trước sức ép của đối phương, quân Bắc Tề lung lay ; Phùng Thục phi kinh hoảng kêu lên :

 “ Quân Tề thua ! Quân Tề thua ! ”

Hậu chủ Cao Vỉ vội vả kéo Thục phi lên lưng ngựa, đào tẩu một mạch đến thành Tấn Dương. Quân lính thi nhau bỏ trốn, Hậu chủ không dám vào thành, bèn chạy tiếp đến Nghiệp Thành [Hà Bắc] tại phía đông. Bàn về giai đoạn lịch sử này, Thi sĩ đời Đường Lý Thương Ẩn  qua bài Bắc Tề Nhị Thủ 北齐二首 có những câu thơ mỉa mai như sau :

巧笑知堪敌万机,
倾城最在著戎衣。
晋阳已陷休回顾,
更请君王猎一回

Xảo tiếu tri kham địch vạn cơ,
Khuynh thành tối tại trước nhung y.
Tấn Dương dĩ hãm hưu hồi cố,
Cánh thỉnh Quân vương lạp nhất hồi !

(Nụ cười duyên đâu kham nổi cơ mưu địch
Mà đem người đẹp khuynh thành cho khoác nhung y.
Thành Tấn Dương để mất không kịp quay đầu lại cứu,
Lại còn xin vua tiếp tục săn bắt thêm nữa !)

契丹壁画.jpg

Hậu chủ Cao Vĩ đóng tại Nghiệp chưa được bao lâu thì bày đặt nhường ngôi cho con là Cao Hằng mới 8 tuổi, lên làm Thái thượng hoàng. Tháng giêng năm 577, Chu Vũ đế mang quân đánh Nghiệp thành, Cao Vĩ trước đó 1 ngày, bỏ thành chạy xuống Tề Châu [Tế Ninh, Sơn Đông]. Rồi từ Tế Châu chạy xuống Thanh Châu [thuộc tỉnh Giang Tô], định đầu hàng nhà Trần, Nam triều ; nhưng không kịp thực hiện thì bị bắt đem về Trường An, hai năm sau thì bị giết.

Chu Vũ đế diệt Tề, thống nhất bắc phương, có ý nghĩa trọng đại đối với lịch sử Trung Quốc, vì đó là bước quan trọng để nhà Tuỳ thống nhất toàn cõi nam bắc sau này.

4. Dẹp loạn tại Bắc Chu, rồi cuối cùng mất nước

Vua Vũ đế là đấng anh quân, chẳng may mất sớm [542-578] ; người kế vị là Tuyên đế Vu Văn Bân xa xỉ phù hoa, đam mê tửu sắc, chính trị hủ bại ; Thừa tướng Dương Kiên thừa dịp kết thân với các Đại thần gây ảnh hưởng. Vào ngày 11 tháng 5 năm Đại Tượng thứ 2 [580] vua Tuyên đế  mất ; Tĩnh đế Vu Văn Diễn còn nhỏ tuổi ; Tả thừa tướng Dương Kiên ra mặt chuyên quyền. Dương Kiên đề phòng sự chống đối của phái Tôn thất, bèn nhân việc đem Công chúa gả cho Đột Quyết [một bộ tộc thuộc chi nhánh Hung Nô mới dấy lên, có thế lực tại phương bắc] ; bèn gọi các Hoàng tử trấn thủ tại Triệu, Trần, Việt, Đại vào triều. Lại do Uất Trì Huýnh, cháu ngoại của Vu Văn Thái, chức cao quyền lớn, trấn thủ tại Nghiệp Thành [Hà Bắc], có khả năng chống đối ; bèn sai con là Uất Trì Đôn gọi về Trường An để chịu tang Tuyên đế, và sai tay chân thân cận thay chức trấn thủ Nghiệp Thành. Tháng 6, Uất Trì Huýnh công khai khởi binh chống lại. Tháng 7, Uất Trì Cần cháu Huýnh làm Tổng quản Thanh Châu [Giang Tô] theo Huýnh, phản Dương Kiên. Huýnh đưa con đến làm con tin nhà Trần, để xin viện trợ ; ngoài ra lại cho người đến thuyết phục Lý Mục, Tổng quản Tấn Dương [Thái Nguyên, Sơn Tây] nổi dậy, nhưng Mục không theo.

Dương Kiên khống chế vua nhỏ để ban lệnh cho thiên hạ ; kết giao với Lý Dục ; đưa ngàn vàng đút lót và gả Công chúa cho Lãnh chúa Đột Quyết nhắm tiêu trừ mối lo phương bắc, mang tinh binh chặn giữ Đồng Quan để đề phòng tập kích kinh đô Trường An ; rồi tăng cường lực lượng tại Lạc Dương [Hà Nam] làm căn cứ địa tấn công Uất Trì Huýnh. Cùng lúc Dương Kiên điều động đại quân dưới quyền các tướng như Hành quân nguyên soái Vi Hiếu Khoan, Nguyên soái trưởng sử Lý Tuân ; các Tổng quản như Lương Sĩ Ngạn, Nguyễn Giai, Vu Văn Cân, Vu Văn Thuật, Thôi Hoằng Độ, Dương Tố. Chiến lược của Dương Kiên về cánh trái dựa vào hoà thân với Đột Quyết, cùng quân Dương Mục tại Thái Nguyên [Sơn Tây] ; dùng bộ binh đánh phía đông, chiếm các đất Lương, Tào, Thành, Kim ; giải trừ uy hiếp tại cánh phải. Kế đó quân chủ lực đánh chính diện, tìm chủ lực địch tiêu diệt, sau khi chiến thắng tại Bí Thuỷ [Bí Thuỷ huyện, Sơn Tây] tiến thẳng đến Nghiệp Thành [Hà Bắc] ; tiêu diệt thủ lãnh chống đối Uất Trì Huýnh. Năm 581 Dương Kiên thay Bắc Chu, cải quốc hiệu Tuỳ ; nhà Bắc Chu trị vì được 24 năm thì mất.

5. An Lộc Sơn, Sử Tư Minh dấy loạn đời Đường.

12050416505e4c8b2f91d07f04.jpg

A. An Lộc Sơn:

An Lộc Sơn, cha thuộc dân tộc Hề Túc Đặc; mẹ thuộc bộ tộc Đột Quyết. Mồ côi cha lúc nhỏ, mẹ cải giá lấy viên quan Đột Quyết An Diên Yển; bèn dùng họ An và đổi tên là Lộc Sơn. An Lộc Sơn thông hiểu 6 thứ tiếng, nên lúc khởi đầu giữ chức Hỗ thị nha lang với nhiệm vụ thông dịch trong việc buôn bán. Làm con nuôi Tiết soái Trương Thủ Khuê, được thăng chức Thiên lô Tướng quân. Đường Khai Nguyên thứ 28 [740], An Lộc Sơn giữ chức Binh mã sứ Bình Lô [Triều Dương thị, tỉnh Liêu Ninh], tính nhanh nhẹn mẫn tiệp nên được tiếng khen; y dùng lễ vật hối lộ cho các quan, đem tiếng khen đến tai vua Huyền Tông, nên được nhà vua yêu thích. Năm Thiên Bảo thứ nhất [742] Đường Huyền Tông lập Tiết độ sứ Bình Lô, giao cho An Lộc Sơn làm Tiết độ sứ. Từ đó An Lộc Sơn có dịp vào triều tấu bàn, được Đường Huyền Tông sủng ái thêm. Năm Thiên Bảo thứ 3 [744] thay Bùi Khoan giữ chức Tiết độ sứ Phạm Dương [Bắc Kinh]; vẫn kiêm nhiệm chức Thái phỏng Hà Bắc, Tiết độ sứ Bình Lô. Sau này An Lộc Sơn xin làm con nuôi Dương Quí Phi, mỗi lần đến triều kiến Đường Huyền Tông đều bái yết Dương Quí Phi trước; Huyền Tông lấy làm lạ bèn hỏi, Lộc Sơn tâu:

Thần là người Hồ, theo tục người Hồ đặt mẹ lên trước, cha sau.”

Huyền Tông nghe rất vui, mệnh anh em nhà họ Dương kết bà con, xưng anh chị em với An Lộc Sơn. An Lộc Sơn càng cao tuổi càng mập, bụng phệ xuống gần đầu gối, nặng 330 cân [115 kg], lúc đi phải chuyển dịch bằng 2 vai mới động thân được; nhưng khi múa vũ dân tộc Hồ cho vua Huyền Tông xem thì nhanh như gió. Năm Thiên Bảo thứ 10 [751] An Lộc Sơn đến kinh sư triều kiến vua Huyền Tông, xin đảm nhiệm Tiết độ sứ Hà Đông [Sơn Tây], được chấp thuận; Lộc Sơn có 11 con: con trưởng An Khánh Tông giữ chức Thái bốc lang, em là An Khánh Tự giữ chức Hồng lô khanh; An Khánh Tông lấy con gái Hoàng thái tử.

1. Chuẩn bị nổi loạn.

An Lộc Sơn ngầm chuẩn bị làm loạn, tại phía bắc thành Phạm Dương cho xây thêm thành Hùng Vũ, ngoài mặt bảo rằng để chống giặc phương bắc, nhưng thực chất dùng để tích trữ nhiều vũ khí, lương thực, ngựa chiến 1 vạn 5 ngàn con, dê cũng có số tương đương. Một mình Lộc Sơn kiêm nhiệm Tiết độ sứ 3 trấn Bình Lô, Phạm Dương, Hà Đông; tương đương với 3 tỉnh Liêu Ninh, Hà Bắc, Sơn Tây ngày nay.

Tháng 6 năm Thiên Bảo thứ 11 [752] An Lộc Sơn mang trên 5 vạn kỵ binh đánh Khiết Đan, quân viễn chinh tiến xa, cách thành Bình Lô hàng ngàn dặm; cuối cùng bị Khiết Đan đánh kẹp, phân tán tháo chạy trở về thành Bình Lô. Sau đó lại cố lập công, mang quân đánh các bộ tộc Hề, Khiết Đan, thu thắng lợi; Đường Huyền Tông cho y là tướng giỏi như thành luỹ vững giữ nước, nên ban lời khen “An biên trường thành”. Nhưng Thừa tướng Dương Quốc Trung nhiều lần tâu rằng An Lộc Sơn nhất định sẽ phản loạn; nên năm Thiên Bảo thứ 12 [753] Huyền Tông sai Hoạn quan Phụ Tốc Lâm đến dò xét, Viên này nhận hối lộ của An Lộc Sơn nên trở về tâu rằng An Lộc Sơn lòng trung thành sáng tỏ.

Tháng giêng năm Thiên Bảo thứ 13 [754] An Lộc Sơn đến cung Hoa Thanh yết kiến Đường Minh Hoàng, thừa dịp khóc than:

Thần là người dân tộc Hề, không biết chữ Hán; được Hoàng thượng vượt cấp đề bạt, nên Dương Quốc Trung muốn giết.”

Đường Huyền Tông nghe vậy, lại tỏ ra tin cẩn thân thiết hơn, thăng thêm chức Tả bộc xạ. Lúc này ai mà nói An Lộc Sơn âm mưu tạo phản, Huyên Tông bèn nổi giận lôi đình, bắt trói giao cho Lộc Sơn!

1. Chuẩn bị nổi loạn.

Thời vua Đường Huyền Tông niên hiệu Khai Nguyên bước sang Thiên Bảo, vận nước bắt đầu từ thịnh chuyển sang suy. Do vấn đề quản chế quân tại biên thuỳ buông lỏng, cấm quân tại trung ương thì bạc nhược; khiến thực lực biên trấn mạnh hơn trung ương. An Lộc Sơn đặt mật báo tại kinh đô, nắm rõ nội tình, nên càng khinh thường triều đình. Sau khi Tể tướng Lý Lâm Phủ mất, trong triều An Lộc Sơn không còn kiêng kỵ ai nữa; lại bất hoà với tân Tể tướng Dương Quốc Trung, nên hai họ Dương, An tranh nhau đả kích, dành sủng ái từ nhà vua. Ngoài ra do bất hoà với Thái tử Lý Hanh [vua Túc Tông sau này], An Lộc Sơn cảm thấy bất an trong tương lai, thúc đẩy tham vọng sẵn trong lòng dấn thân vào cuộc nổi dậy.

Năm Thiên Bảo thứ 14 [755] Đường Huyền Tông triệu Lộc Sơn vào kinh, y cáo bệnh từ chối. Tháng 11 cùng năm, An Lộc Sơn từ Phạm Dương [Bắc Kinh] khởi binh làm phản; gian trá tuyên bố rằng phụng chiếu chỉ của Đường Huyền Tông, đánh dẹp bè đảng ngỗ nghịch Dương Quốc Trung. Lộc Sơn đốc suất kỵ binh, bộ binh 15 vạn, xuất phát lúc nửa đêm, một ngày tiến được 60 lý; dùng Cao Thượng, Nghiêm Trang làm mưu chủ; Tôn Hiếu Triết, Cao Mạo, Hà Thiên Niên làm thành viên chủ chốt. Bấy giờ trong nước bình yên đã lâu, dân chúng không quen việc chinh chiến; nghe tin An Lộc Sơn phản loạn bùng nổ, triều đình quan quân giao động sợ sệt. Những lính bảo vệ cung đình phần lớn tuyển từ con cái dân buôn tại kinh thành, không có lòng quyết chí chiến đấu; trước sau triều đình dùng những người như Cao Tiên Chi, Phong Thường Thanh làm Đại tướng lo việc chống cự.

Tháng 12 quân An Lộc Sơn vượt sông Hoàng Hà tấn công vào quận Trần Lưu [Khai Phong thị, Hà Nam];Tiết độ sứ Hà Nam tử trận, con trai lớn của An Lộc Sơn là An Khánh Tông cũng bị giết; việc này khiến Lộc Sơn tức giận bắt quân đầu hàng chia làm 2 phe chém giết lẫn nhau. Khi đến thành Trần Lưu, Thái thú Quách Nạp chống cự một lúc, rồi mở cửa thành ra hàng.

Phong Thường Thanh bố trí chặn địch tại phía đông cố đô Lạc Dương, cho đốn cây làm chướng ngại vật, nhưng không ngăn chặn được. Quân An Lộc Sơn tiến vào thành Lạc Dương, giết bọn Ngự sử Tưởng Thanh, rồi gọi Hà Nam duẫn Đạt Hề Tuần cho coi thành. Sau khi thất bại, Phong Thường Thanh mang bại binh rút về Thiểm quận [Tam Môn Hiệp thị, Hà Nam]; bấy giờ Cao Tiên Chi mang quân giữ Thiểm thành cũng sợ rút về Đồng Quan [giáp giới Hà Nam-Thiểm Tây], quan quân sợ hãi quân An Lộc Sơn truy cản, dẫm đạp vào nhau tắc nghẽn cả đường sá.

Tháng giêng năm Thiên Bảo thứ 15 [756] An Lộc Sơn xưng Đế, đặt tên nước là Yên, niên hiệu Cảnh Vũ; dùng những người như Đạt Hề Tuần giữ các chức như Thừa tướng. Tháng 5, Tiết độ sứ Nam Dương Lỗ Linh mang 10 vạn quân Kinh Châu, Tương Châu, Kiềm Trung, Kiềm Nam đánh nhau với tướng Vũ Linh Tuần thuộc phe nổi dậy tại phía bắc sông Phân Hà thuộc huyện Diệp [Hà Nam], nhưng toàn quân bị sụp đổ. Tháng 6, Lý Quang Bật, Quách Tử Nghi từ Thổ Môn Lộ mang quân đánh; bại quân làm phản tại Gia Sơn thuộc quận Thường Sơn [Thạch Gia Trang, Hà Bắc] khiến cho một số châu quận tại Hà Bắc xin hàng triều đình; việc này khiến cho An Lộc Sơn lo lắng, muốn mang quân về giữ căn cứ Phạm Dương [Bắc Kinh]. Gặp lúc Ca Thư Hàn bị Đường Huyền Tông ép, mang 8 vạn kỵ binh từ Đồng Quan đến Linh Bảo [Linh Bảo thị, Hà Nam] giao chiến với phản tướng Thôi Càn Hữu, đạo quân bị đánh sụp gần toàn bộ; Ca Thư Hàn về đến Đồng Quan, bị quân lính dưới quyền bắt giao cho quân làm phản. Đồng Quan thất thủ, Đường Huyền Tông cùng cung phi, tôn thất hốt hoảng chạy loạn. Trên đường qua đất Thục, tại gò Mã Ngôi quân sĩ làm reo không chịu cất bước, kết tội Dương Quí Phi tư thông với An Lộc Sơn. Trước sự đòi hỏi của quan quân, vua đành gạt nước mắt để cho Dương Quí Phi bị xử thắt cổ; rồi theo đoàn quân đi lên ải Kiếm Các vào đất Thục. Tấn thảm kịch được Thi sĩ Bạch Cư Dị ghi lại trong thi phẩm Trường Hận Ca [] như sau:

…漁陽鼙鼓動 地來,
驚破霓裳羽衣曲。
九重城闕煙塵生,
千乘萬騎西南行。
翠華搖搖行復止,
西出都門百餘里。
六軍不發無奈何,
宛轉蛾眉馬前死。
花鈿委地無人收,
翠翹金雀玉搔頭。
君王掩面救不得,
回看血淚相和流。
黃埃散漫風蕭索,
雲棧縈紆登劒閣…..

Ngư Dương bề cổ động địa lai,
Kinh phá Nghê Thường vũ y khúc.
Cửu trùng thành khuyết yên trần sinh,
Thiên thặng vạn kỵ tây nam hành.
Thuý hoa giao giao hành phục chỉ,
Tây xuất đô môn bách dư lý.
Lục quân bất phát vô nại hà,
Uyển chuyển nga mi mã tiền tử.
Hoa điền uỷ địa vô nhân thâu,
Thuý kiều kim tước ngọc tạo đầu.
Quân vương yểm diện cứu bất đắc,
Hồi khan huyết lệ tương hoà lưu.
Hoàng ai tán mạn phong tiêu tác,
Vân sạn oanh vu đăng Kiếm Các….
(Tiếng trống nổi dậy tại quận Ngư Dương [Bắc Kinh] đánh dồn dập.
Phá hỏng đêm truy hoan thưởng thức vũ khúc Nghê Thường của nhà vua.
Kinh thành khói lửa dấy lên,
Đứng chí tôn và vạn quân kỵ từ Trường An di chuyển theo hướng tây nam,
Ngọn cờ Thuý hoa phất phơ, hết đi rồi lại đứng.
Ra khỏi kinh đô đến hơn 100 lý,
Lục quân [quân dưới quyền vua] không chịu đi, không biết làm sao đây!
Người đẹp mày ngài Dương Quí Phi đành phải chết trước lưng ngựa.
Lược ngọc hoa điền cùng cặp tóc kim tước của nàng rơi xuống đất, mà không ai dám nhặt.
Nhà vua đau khổ che mặt không cứu được.
Khi quay lại, thì thấy ngài nước mắt đẫm máu tuôn ra.
Bấy giờ bụi trần bay mù mịt, gió rít thê lương,
Đoàn quân theo con đường dốc quanh co lên ải Kiếm Các
…)

index.jpg

Lúc này Thái tử Lý Hanh [Túc Tông] tập trung quân chống phản loạn tại Linh Vũ [Linh Vũ thị, Ninh Hạ]. An Lộc Sơn sai Trương Thông Nho giữ tây kinh Trường An; tháng 11 sai Ha Sử Na Thừa Khánh đánh chiếm Dĩnh Châu tại phía đông [Khai Phong thị, Hà Nam].

3. An Lộc Sơn bị con giết.

An Lộc Sơn thân thể phì mập, bị viêm da lâu năm; lúc bắt đầu làm phản thì mắt mờ, rồi trầm trọng hầu như mắt không thấy. Vào mồng một tết năm Chí Đức thứ 2 [757], An Lộc Sơn tiếp nhận triều bái của bầy tôi, vì thân thể bị đau nên nửa chừng phải bỏ dở. Do bệnh đau nên hay phiền giận; bất như ý là trách phạt nặng nề, ngay cả mưu chủ như Nghiêm Trang cũng bị đánh bằng gậy. Nghiêm Trang ôm hận, thông đồng với con Lộc Sơn là An Khánh Tự, cùng Hoạn quan Lý Trư Nhi; giết An Lộc Sơn. Chúng để cho An Khánh Tự đứng cửa ngoài, riêng Nghiêm Trang và Lý Trư Nhi mang đao vào phòng ngủ của An Lộc Sơn; Trư Nhi vung đao đâm vào bụng, Lộc Sơn mắt mù không vươn tay lấy được thanh bảo kiếm để trên đầu, chỉ kịp kêu lên:

Tên này là giặc trong nhà ư!”

Kêu la xong rồi tắt thở. Thi hài An Lộc Sơn được bao bằng chăn lông thú, rồi đem chôn ngay dưới chân giường; mọi việc đều giấu kín. Nghiêm Trang lập tức tuyên cáo rằng An Lộc Sơn truyền ngôi cho An Khánh Tự, xưng là Thái thượng hoàng. An Khánh Tự đam mê tửu sắc, tôn xưng Nghiêm Trang bằng anh, việc bất kỳ lớn nhỏ đều xin ý kiến.

Sau này Sử Tư Minh giết An Khánh Tự, lên ngôi Hoàng đế, đặt tên nước là Đại Yên, phong thuỵ hiệu cho An Lộc Sơn là Quang Liệt Hoàng đế.

B. Sử Tư Minh.

Sử Tư Minh [703-761] tên lúc nhỏ là Tốt Can, người dân tộc Đột Quyết, dung mạo xấu xí, biết 6 thứ tiếng, cùng làng với An Lộc Sơn. Đầu năm Thiên Bảo, mấy lần lập công lên đến chức Tướng quân, giữ chức Tri Bình Lô quân sự [Triều Dương thị, Liêu Ninh]. Theo An Lộc Sơn đánh Khiết Đan, trở về được giữ chức Bình Lô Binh Mã sứ, rồi được Đường Huyền Tông ban tên là Sử Tư Minh.

1. Theo An Lộc Sơn làm phản.

Những năm cuối thời Huyền Tông, nhà vua tin dùng các Tể tướng Lý Lâm Phủ, Dương Quốc Trung, chính trị hủ bại; tự cho là nước mạnh có ý đồ mở mang biên cương, lập thêm 10 Tiết độ sứ, ủng binh 49 vạn, khiến bên ngoài mạnh, mà bên trong thì yếu. Vào tháng 11 năm Thiên Bảo thứ 14 [755], An Lộc Sơn, Sử Tư Minh giả trá tuyên bố rằng nhận mật chỉ đánh dẹp Dương Quốc Trung, dùng 15 vạn quân phản nhà Đường, nhanh chóng chiếm vùng Hà Bắc. Rồi quân phản biến đánh xuống nam, vượt sông Hoàng Hà, năm thứ 2 đánh chiếm Lạc Dương, An Lộc Sơn xưng Đế tại đây; riêng lệnh Sử Tư Minh kinh lược Hà Bắc, được phong làm Tiết Độ sứ Phạm Dương, chiếm 13 quận, nắm hơn 8 vạn quân.

Sau khi An Lộc Sơn tạo phản, Sử Tư Minh hoành hành vùng Hà Bắc, quân đi đến đâu đều thu hoạch thắng lợi. Cho đến đầu năm thứ 15 [756], đạo quân của Sử bị Lý Quang Bật, Quách Tử Nghi đánh bại tại Thường Sơn [Thạch Gia Trang, Hà Bắc], thua chạy đến Bác Lăng. Quân Sử Tư Minh ở tình thế sắp bị tiêu diệt, khiến An Lộc Sơn chuẩn bị mang quân về cứu; thì hốt nhiên tin báo quân nhà Đường do Ca Thư Hàn chỉ huy, thất bại tại Đồng Quan, quân tạo phản trên đường vào chiếm kinh đô Trường An, bọn Lý Quang Bật phải mang quân trở về cứu. Lợi dụng dịp này, Sử Tư Minh bèn quay gót truy kích, đại phá quân Đường dưới quyền Lưu Chính Thần. Quân Sử Tư Minh thừa thắng đánh chiếm Thường Sơn, Triệu Quận [huyện Tán Hoàng, Hà Bắc], Hà Gian [Thương Châu thị]. Sau đó Sử Tư Minh mang quân đánh chiếm Thanh Hà [huyện Hạ Hạt, Hà Bắc]; đến năm Chí Đức đời Túc Tông [757] bao vây Lý Quang Bật tại thành Thái Nguyên [Sơn Tây], bị Bật dùng chước địa đạo (1) đánh bại. Vào năm này An Lộc Sơn bị con là An Khánh Tự giết, Sử Tư Minh chuẩn bị tự lập.

2. Hàng nhà Đường.

Sử Tư Minh từ khi vây thành Thái Nguyên bị Lý Quang Bật đánh thua, bèn rút về đóng tại Phạm Dương; được An Khánh Tự phong làm Xuyên vương, kiêm Tiết Độ sứ Phạm Dương. An Lộc Sơn khi đánh chiếm hai kinh đô Lạc Dương và Trường An, phần lớn những đồ trân quí đều đem về trữ tại Phạm Dương, chồng chất như núi; Sử Tư Minh muốn chiếm tất cả làm của riêng.

Sau khi An Khánh Tự thất thủ Lạc Dương bèn rút về Nghiệp Thành [Hà Bắc], gọi quân từ các châu quận xung quanh, được khoảng 6 vạn; riêng Sử Tư Minh đã không gửi binh, lại không gửi Sứ giả đến, khiến An Khánh Tự nghi là có hai lòng. Bèn sai Ha Sử Na Thừa Khánh, An Thủ Trung, Lý Lập Tiết mang 5.000 kỵ binh đến Phạm Dương với danh nghĩa đòi quân, nhưng thực chất là dò xét, để chuẩn bị đánh.

Sử Tư Minh nghe tin mấy người này cùng đến, biết rằng đối phương không có hảo ý, bèn đặt quân mai phục tại bản doanh, rồi mang mấy vạn quân ra ngoài cửa thành đón. Khi thấy bọn Sứ giả, Sử Tư Minh lập tức xuống ngựa chào hỏi, nắm tay ân cần tâm sự, rồi mời Sứ giả vào nhà khách, mệnh tấu nhạc thiết yến rất ân cần; giữa tiệc rượu Sử Tư Minh dằn ly xuống bàn ra hiệu, thì phục binh sau trướng lập tức xông ra bắt giữ 3 Sứ giả và đám tuỳ tùng. Sau đó Sử Tư Minh dâng thư triều đình nhà Đường xin qui hàng, nội dung nguyện ý đem 13 quận và 13 vạn quân dưới quyền đầu hàng. Vua Túc Tông nhận được tờ tâu, rất lấy làm cao hứng, lập tức phong Sử Tư Minh tước Qui Nghĩa vương, kiêm Tiết Độ sứ Phạm Dương, 7 người con đều được ban chức quan hiển hách. Nhận được tước phong, Sử Tư Minh lập tức giết An Thủ Trung và Lý Lập Tiết, để chứng tỏ thành ý với triều đình; riêng Ha Sử Na Thừa Khánh vì có giao tình cũ thâm sâu nên không nỡ giết.

3. Lại phản Đường rồi xưng Đế

Sử Tư Minh tuy bên ngoài ra vẻ tuân mệnh triều đình, nhưng không ngừng thông đồng với giặc, chiêu tập binh mã; khiến Đường Túc Tông phải đề phòng. Tháng 5 năm Càn Nguyên thứ nhất [758] dùng Ô Thừa Ân làm Phó sứ, đến doanh quân Sử Tư Minh sách động các tướng làm phản [sách phản], cùng thừa dịp giết Sử. Ô Thừa Ân nhiều dịp vào buổi tối giả trang làm đàn bà, đến gặp riêng các tướng để rỉ tai sách động làm phản. Việc phát giác bị bắt; Sử Tư Minh rất giận, giết Ô Thừa Ân, cùng con trai và 200 thuộc hạ. Ngay sau đó vào tháng giêng năm Càn Nguyên thứ 2 [759], Sử Tư Minh lại phản Đường tự xưng là Đại Thánh Chu vương.

Vua Túc Tông mệnh Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật chỉ huy 9 Tiết độ sứ đánh An Khánh Tự. Bấy giờ Quách Tử Nghi mới bị thua bại, nên Sử Tư Minh được dịp thu thập tàn quân trú đóng tại phía nam Nghiệp Quận [Hà Bắc]. Riêng An Khánh Tự thu thập được số lương do quan quân để lại, nên không chịu mua quân dụng hàng hoá của phe Sử Tư Minh. Sử Tư Minh bèn sai người đến khiển trách, khiến An Khánh Tự lo sợ, thậm chí xưng thần với Sử Tư Minh! Sử Tư Minh phúc đáp hãy bỏ lễ quân thần, cải xưng là anh em; rồi dụ dỗ An Khánh Tự đến uống máu tuyên thệ; khi 4 anh em An Khánh Tự đến, Sử Tư Minh đổi thái độ bắt tự tử.

Sau đó Sử Tư Minh vào thành Nghiệp chiêu an, rồi giao cho con là Sử Triều Nghĩa trấn thủ, tự rút về thành Phạm Dương. Tháng 5 đổi quốc hiệu là Đại Yên, xưng là Ứng Thiên Hoàng đế, niên hiệu Thuận Thiên, phong cho con Sử Triều Nghĩa làm Hoài vương.

4. Sử Tư Minh bị bộ hạ và con mưu giết.

Tháng 2 năm Thượng Nguyên thứ 2 [761] Sử Tư Minh dùng kế đánh bại quân Quang Bật tại Bắc Mang, quân nhà Đường phải bỏ Hà Dương [huyện Mãnh, Hà Nam], Hoài Châu, khiến kinh đô chấn động. Nhân Sử Triều Nghĩa bị thua trận, khiến Tư Minh rất tức giận; sau đó lại ra lệnh xây thành tam giác, không hoàn thành đúng qui cách, bèn bắt Triều Nghĩa và các Đại tướng đến trình diện, doạ giết để lập quân uy. Sau sự kiện này khiến Sử Triều Nghĩa rất hận, bọn Lạc Duyệt lại khuyên Triều Nghĩa phải hạ thủ trước, Triều Nghĩa không dám quyết; bọn Lạc Duyệt uy hiếp nếu không theo sẽ đầu hàng nhà Đường, Triều Nghĩa đắn đo tư lự cuối cùng bằng lòng.

Rồi một đêm, bọn Lạc Duyệt mang đao đột nhập vào cung, nghe tiếng động Sử Tư Minh lén trèo qua tường, nhưng bị bắn trúng tay ngã xuống, rồi bị bắt giam. Bọn phản biến nguỵ tạo chiếu thư của Sử Tư Minh truyền ngôi Sử Nguyên Nghĩa kế vị. Sau đó nhắm tuyệt mối lo về sau, Lạc Duyệt cho dùng giây thắt cổ Sử Tư Minh.

C. Ảnh hưởng của loạn An, Sử.

c50ea3e55fef4529983b8d92d9ebbb06_th.jpg

Loạn An, Sử trải qua 7 năm 2 tháng thì bình định; đây không chỉ là khúc quẹo vận mệnh [turning point] của nhà Đường từ thịnh chuyển sang suy; nhưng còn ảnh hưởng đến Trung Quốc lâu dài về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hoá. Tư Mã Quang trong Tư Trị Thông Giám viết “ Từ đó hoạ loạn tiếp tục xảy ra, binh cách không ngừng; nhân dân đồ thán, không có chỗ kêu cứu hơn 200 năm”. Nay có thể tóm tắt một vài điểm nổi bật như sau:

– Nhà Đường muốn kết thúc chiến tranh mau hơn, không ngừng chiêu dụ các hàng tướng An, Sử như bọn Lý Hoài Sơn, Điền Thừa Tự v.v… rồi phong làm Tiết Độ sứ, cho giữ binh quyền; tự tuyển quân, chọn tướng. Tình trạng cát cứ xưng Vương, Hầu, càng về sau càng trầm trọng, cho đến lúc nhà Đường mất, còn kéo dài đến thời Ngũ Đại, Thập Quốc.

– Từ nhà Đường trở về trước, Trường An và Lạc Dương thay phiên làm kinh đô là trung tâm chính trị của cả nước. Sau loạn An, Sử, hai đô bị tàn phá; bởi vậy từ thời Ngũ Đại trở về sau, ngoại trừ nhà Hậu Đường định dô tại Lạc Dương, các triều đại khác không dùng Trường An và Lạc Dương làm kinh đô nữa.

– Loạn An Sử khiến kinh tế miền Hoa bắc, Quan Trung bị tàn phá nặng nề, riêng lưu vực sông Trường Giang tương đối được bảo toàn, nên phần lớn dân chúng di cư về nam, khiến kinh tế miền nam mỗi ngày một phát đạt.

– Do dẹp loạn An, Sử; triều đình nhà Đường thường mượn quân các ngoại tộc như Hồi Hột; khiến Hồi Hột tự thị có công trong việc bình loạn mấy lần đòi hỏi nhà Đường cấp tiền bạc. Vùng đất Tây Vực trước kia thuộc Đường, trong thời gian loạn An, Sử trở về sau bị Thổ Phồn [Tây Tạng], Hồi Hột chiếm lãnh, khiến con đường tơ lụa sang phía tây dần dần bị cắt đứt.

Chú thích:

1. Chước địa đạo: mưu chước chiến tranh bằng đường hầm.

Nguồn bài đăng

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s