Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Vua Quang Trung [1789-1792] – Phần 9

Hồ Bạch Thảo 

Qua lời cung khai của các phạm nhân trong vụ cướp tại Nhai Châu đảo Hải Nam rằng tên đầu đảng và đồng bọn hiện trốn tránh tại Đoản Miên, Nông Nại [Đồng Nai]; Tổng đốc Phúc Khang An bèn thông báo cho Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình để cùng truy nã:

Ngày 9 tháng Giêng năm Càn Long thứ 56 [11/2/1791].Dụ Quân Cơ Đại thần; căn cứ lời tấu của bọn Phúc Khang An:

 ‘Về việc điều tra vụ cướp tại Nhai Châu [Hải Nam, Trung Quốc]; qua lời cung xưng của bọn Quan Ứng Hoa khi thẩm vấn; tuy rằng không bắt được bọn chúng lúc cùng đồng đảng chống cự tại trận, nhưng mang vũ khí thì cũng như chống cự vậy, đáng theo lệ mà phán quyết. Kẻ bị bắt như bọn Đổng Thắng Phát hai tên, khai rằng chưa thực sự đi cướp, chỉ ở trên thuyền nghe chúng sai phái, cũng chưa nên tha ngay; đợi khi bắt được đầu đảng, sẽ thẩm vấn xác minh rồi quyết định. Vụ án này đã tìm ra đầu mối, cứ theo đó mà tra bắt đắc lực hơn. Theo lời bọn Quan Ứng Hoa cung xưng, đầu đảng và đồng bọn hiện trốn tránh tại Đoản Miên, Nông Nại [Đồng Nai]; không chừng xứ đó thuộc An Nam, nên đã thông báo cho Nguyễn Quang Bình, ra lệnh truy tra trong lãnh thổ, bọn giặc cướp sẽ không còn nơi trốn tránh v.v..”

Cách liệu biện đúng, đã phê vào tấu triệp. Hiện nay các quan văn võ tại Lưỡng Quảng qua sự đốc thúc của Phúc Khang An, biết rằng đây là cuộc lùng bắt thượng khẩn nên tìm cách truy nã; bọn giặc phỉ liên quan đến vụ án sẽ bị bắt toàn bộ không mấy khó khăn. Bọn Phúc Khang An cần đốc thúc thuộc hạ nghiêm mật tìm tung tích, không vì việc bắt được vài tội phạm rồi trễ lười. Còn việc tên đầu đảng và đồng bọn chạy đến Đoản Miên, Nông Nại đất An Nam ẩn náu, để mong tiếp nối hơi tàn; Phúc Khang An đã thông báo cho Nguyễn Quang Bình cùng tập nã. Nay Phúc Khang An hãy báo thêm cho viên Quốc vương hay rằng:

‘Bọn cướp nhân nội địa tầm nã nghiêm mật, chạy đến trốn tránh tại địa phương nước ngươi, nếu như căn cứ theo tên mà truy nã, bắt giải giao cùng tâu lên đại Hoàng đế, ắt sẽ được ơn trên ưu thưởng. Hoặc bọn can phạm đi về trên biển cả, trốn tránh vô định, không tìm được tung tích để truy nã; thì cũng phái người tuần tra nghiêm mật, đừng để chúng trốn tránh trong phần đất An Nam, hãy đuổi về nội địa để tiện cho quan binh truy nã. Nếu những bọn phỉ này, trốn tránh tại nước ngươi, khu trừ không hết, sẽ cướp phá nhiễu nhương, hại cho khách lữ hành; ngay tại nước ngươi cũng có nhiều điều bất tiện.’

Dụ rõ ràng minh bạch như vậy, viên Quốc vương cảm khích ơn của Trẫm, tự lo liệu nghiêm mật, thông sức người trong nước giúp đỡ việc tầm nã…” (Cao Tông Thực Lục quyển 1370, trang 11-12)

Điều tra tiếp vụ cướp tại Nhai Châu, được biết các tên đầu đảng Hà Khởi Văn, Ðản Gia Nhị hiện trú tại Nông Nại [Đồng Nai]. Chính quyền nhà Thanh không biết rõ vùng đất Nông Nại [Đồng Nai] lúc bấy giờ do Nguyễn Vương Phúc Ánh kiểm soát; nên vẫn nằng nặc sai Phúc Khang An yêu cầu Quốc vương Nguyễn Quang Bình truy bắt:

Ngày 14 tháng 2 năm Càn Long thứ 56 [18/3/1791]. Dụ Quân cơ đại thần:

… Bọn cướp tại Nhai Châu đã được Phúc Khang An đốc suất các quan văn võ ra sức truy tập; nay đã bắt được nhiều tên, nghiêm khắc tra xét; các quan lại địa phương đã nhận rõ việc đáng làm. Nhưng những tên bị bắt chỉ mới là đồ đảng, còn đầu sỏ thì chưa bắt được; vả lại bọn cướp trên biển rất nhiều, không phải chỉ có vụ án này, nên không thể không ra sức truy tầm, nhắm bắt hết toàn số, để yên tĩnh từ gốc rễ.

Căn cứ lời cung xưng của phạm nhân Lý Xương Lợi thì bọn thủ lãnh giặc là Hà Khởi Văn, Ðản Gia Nhị hiện trú tại Nông Nại [Đồng Nai], An Nam; chiếu theo lời cung xưng của Quan Ứng Hoa trước đây đều hợp. Trước đây đã ban dụ lệnh Phúc Khang An báo cho Nguyễn Quang Bình để thông sức các nơi trong nước bắt các bọn cướp trốn vào An Nam. Nay lại truyền dụ thêm lập tức thông báo đầy đủ cho An Nam rằng:

 ‘ Hai tên đầu sỏ giặc là Hà Khởi Văn, Ðản Gia Nhị bị nội địa truy bức trốn vào nước ngươi. Sợ những tên đầu sỏ này dẫn thuộc hạ cướp phá dân chúng tại các địa phương nước ngươi cũng không chừng; cần ra lệnh các quan tra bắt, để các địa phương được yên ỗn. Nếu như viên Quốc vương có thể theo tên họ bắt được, rồi tâu lên đại Hoàng đế thì sẽ ưu đãi tưởng thưởng thêm. Hoặc những tên tội phạm này di chuyển trên mặt biển không có định sở, khó mà bắt; thì cũng nên sai thuộc hạ nghiêm mật sưu tra, xua đuổi về phía nội địa, để tiện cho quan binh đánh bắt. Ðừng để cho trốn trong lãnh thổ, sinh sự cướp bóc các khách lữ hành buôn bán, thì cũng có nhiều bất tiện.’

Thông báo một cách rõ ràng như vậy, viên Quốc vương cảm khích ơn của trẫm, sẽ tự nghiêm sức thuộc hạ sưu tra đánh bắt.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1372, trang 33-34)

Quốc vương An Nam phủ nhận Đoản Miên, Nông Nại nằm trong vòng kiểm soát; nhưng tỏ thiện chí bằng cách sai tướng thân cận là Ngô Văn Sở giữ chức Thủy Quân Đô đốc, điều động quân binh tầm nã. Hay tin, Vua Càn Long tỏ ra hài lòng việc cử Ngô Văn Sở thống suất hải thuyền binh lính; và cũng không nằng nặc đòi hỏi phải tập nã tận gốc địa phương Đoản Miên, Nông Nại, khiến viên Quốc vương không thể thực hiện được:

Ngày 4 tháng 6 năm Càn Long thứ 56 [4/7/1791]. Lại dụ Quân Cơ Đại thần:

“Bọn Phúc Khang An …lại còn riêng một tờ tấu:

 ‘ Nguyễn Quang Bình nhận được thông báo về việc tìm bắt bọn cướp biển, liền sức cho các đồn tại duyên hải khẩn cấp tuần phòng và bổ nhiệm Ngô Văn Sở chức Thủy Quân Đô đốc, điều động tuần tra tập nã. Còn việc tội phạm trong vụ án cung xưng bọn chúng thường trốn tránh tại Đoản Miên, Nông Nại đất Quảng Nam, nên lệnh viên Quốc vương hợp đồng tập nã. Nay cứ theo lời của viên Quốc vương xưng rằng trong nước y không có những địa danh này, vậy nên nhắc lại với Nguyễn Quang Bình để yêu cầu tái điều tra và xác minh.’

Nguyễn Quang Bình nhận được thông báo bèn ra lệnh Ngô Văn Sở thống suất hải thuyền binh lính, chia đồn tuần tiễu; thực là cung thuận đáng khen. Ngô Văn Sở là bề tôi đắc lực tâm phúc của viên Quốc vương, được đặc cách giữ chức Thủy Quân Đô đốc để tầm nã bọn cướp biển, đủ thấy Nguyễn Quang Bình đem hết lòng thành, vì nội địa lo việc trừ cướp an dân; không có hiện tượng xem thường văn thư bắt cướp, rồi làm việc tắc trách. Còn việc xưng rằng trong địa phương y không có hai địa danh Đoản Miên, Nông Nại chắc không phải là nói dối; huống đất Quảng Nam do anh của y quản lý, nghe rằng Nguyễn Quang Bình không hòa mục với Nguyễn Nhạc, e kêu gọi nhờ vả không được nên cũng đành chịu; sự thể như vậy, cũng chưa biết chừng! Vả lại các đảo lớn nhỏ, bãi bồi ngoài đại dương, đường sá mông lung, địa danh không đích xác; không giống như bọn cướp trộm trốn tránh trong nội địa có thể sưu tra rõ ràng; không nên nhất nhất căn cứ theo cung từ mà vạch lá tìm sâu như vậy! Lúc này Phúc Khang An nên coi viên Quốc vương thực tâm kính cẩn, điều động có phương cách, lo hết sức tập nã nơi duyên biển. Hãy dùng những lời mềm dẻo để khuyến khích; không vì lời cung xưng vô căn cứ của tên tội phạm bị nội địa bắt, rồi nằng nặc đòi hỏi phải tập nã tận gốc địa phương Đoản Miên, Nông Nại; khiến viên Quốc vương không thể thực hiện được! Còn Ngô Văn Sở nếu có thể bắt được tên đầu đảng, Phúc Khang An hãy tấu rõ, Trẫm đáng ưu đãi thưởng thêm…..” (Cao Tông Thực Lục quyển 1380, trang 8-10)

Vào đầu tháng giêng Vua Quang Trung cử Sứ thần sang nhà Thanh tiến cống, Vua Càn Long muốn Sứ thần An Nam đến Nhiệt Hà vào ngày 20 tháng 7 [19/8/1791], để tiện dịp cùng các ngoại phiên dự yến. Nhưng đến lúc đó thời gian còn quá dài, nên dặn Tuần phủ Quảng Tây Trần Dụng Phu bảo Sứ thần tạm đợi tại Quảng Tây hoặc cho đi từ từ:

Ngày 14 tháng 2 năm Càn Long thứ 56 [18/3/1791]. Lại dụ Quân Cơ Đại thần; theo lời tấu của Phúc Khang An:

 ‘Quốc vương Nguyễn Quang Bình về đến Nghệ An, bèn chọn Bồi thần kính cẩn mang biểu văn cùng tiến cống phương vật; định vào thượng tuần tháng giêng từ Nghệ An khởi trình. Đã báo tin cho Trần Dụng Phu, lệnh viên chức trú tại quan ải đợi viên Bồi thần đến sẽ mở cửa quan tiếp đón; cùng phái Ủy viên, binh lính hộ tống đến kinh đô.’

Nguyễn Quang Bình vừa mới trở về nước, bèn sai Bồi thần đến kinh đô ngay, để tiến dâng biểu văn cùng cống vật, tấm lòng thành cảm khích cung thuận thực đáng khen. Nhưng viên Bồi thần khởi hành tại Nghệ An vào thượng tuần tháng giêng, lúc này chắc đã đến quan ải; tính về thời gian thì đến kinh đô quá sớm, không lẽ lúc đó chỉ có Sứ thần một nước thôi, lại phải tổ chức yến tiệc. Đáng ra lệnh cho Sứ thần An Nam đến Nhiệt Hà khoảng vào ngày 20 tháng 7 [19/8/1791], để tiện dịp cùng các ngoại phiên dự yến.

 Nay truyền lệnh cho Trần Dụng Phu, sau khi viên Bồi thần đến quan ải, cho nghỉ ngơi tại tỉnh Quảng Tây rồi lệnh đi từ từ, lại báo cho các địa phương dọc đường xét theo hành trình sắp xếp trì hoãn mà đi, để có thể đến Nhiệt Hà vào gần ngày 20 tháng 7 cũng không muộn…..”(Cao Tông Thực Lục quyển 1372, trang 35)

Khi Trần Dụng Phu nhận được chiếu chỉ, thì Sứ thần An Nam đã đi qua tỉnh lỵ Quế Lâm, bèn sai người gọi trở lại. Việc này khiến Vua Càn Long trách Dụng Phu hồ đồ, bắt Sứ thần đi về mệt nhọc:

Ngày 10 tháng 3 năm Càn Long thứ 56 [12/4/1791]. Lại dụ rằng; Trần Dụng Phu tâu:

 ‘Ðã tiếp nhận chiếu chỉ, lệnh cho Sứ thần An Nam tạm hoãn hành trình, ước lượng vào tháng 7 có thể đến Nhiệt Hà. Lúc chiếu chỉ đến nơi, thì viên Bồi thần đã đi qua tỉnh lỵ, nhưng tính toán hành trình thì vẫn còn trong lãnh thổ tỉnh Quảng Tây; nên sai ủy viên phi báo trở lại tỉnh thành nghĩ ngơi một vài tuần, rồi lại tiếp tục tiến kinh.’

Trước đây cho rằng Sứ thần An Nam đến quan ải tương đối sớm, hành trình quá rộng rãi, nên viên Bồi thần không cần phải gấp, cứ đi thong thả để nghĩ ngơi; lệnh trong vòng tháng 7 đến Nhiệt Hà để dự yến tiệc. Rồi khi viên Bồi thần đã đi qua tỉnh lỵ, thì Trần Dụng Phu nhận được chiếu chỉ; bèn quá câu nệ, cho người đuổi theo đem Sứ thần trở lại tỉnh lỵ, khiến đi về mệt nhọc, thực không thành sự thể.

Viên Tuần phủ này trước đây giữ chức Tuần phủ An Huy, lo liệu công việc địa phương, cũng hồ đồ như vậy, nên bị giáng xuống làm Phủ doãn, rồi gia ân đưa lên trở lại làm Tuần phủ, được chủ trì công việc, đáng phải phấn đấu gắng sức. Nhưng lo liệu công việc về Sứ thần An Nam lại sai lầm điên đảo đến như vậy, thực do tật cũ trở lại. Nay ngoài việc giáng chỉ dụ nghiêm khắc thân sức cho biết, lại giao bộ nghị bàn về lỗi lầm của Trần Dụng Phu.”… (Cao Tông Thực Lục quyển 1374, trang 19-22)

Rồi Vua Càn Long lại quyết định cho Sứ thần đến sớm để dự lễ tết Đoan Ngọ mồng 5 tháng 5 [6/6/1791]; nhưng khi nhận được chiếu chỉ thì chỉ còn 40 ngày. Xét rằng đến nơi không thể kịp, nên Trần Dụng Phu không tuân, xin để Sứ thần đến Nhiệt Hà vào tháng 7; hành động này khá thông minh nên Vua Càn Long bằng lòng, bèn giảm cho tội trước:

Ngày 30 Giáp Thìn tháng 3 năm Càn Long thứ 56 [2/5/1791].Dụ các Quân cơ đại thần;

“ Cứ theo tờ tâu của Trần Dụng Phu, có những lời như:

 ‘Trước đây tiếp phụng chỉ dụ thì viên Bồi thần An Nam đã đi qua tỉnh thành, rồi lo liệu việc hồ đồ; lần này đáng tuân chỉ khởi hành gấp đến trước ngày tết Ðoan Ngọ tới kinh đô. Nhưng viên Bồi thần đã trở về [Quế Lâm], nếu như lệnh khởi hành ngay thì đến ngày tết Ðoan Ngọ chỉ còn hơn 40 ngày. Dù cho đi cấp tốc tại các trạm, sợ không thể đến kinh đô đúng ngày. Như vậy không đáp ứng được ơn sâu thể tuất; mà hành trình chợt nhanh, rồi lại chậm, khiến viên Bồi thần không khỏi nghi lự. Lại lo rằng đến nơi không kịp, lại không thích đáng thời gian với hai kỳ yến tiệc. Lúc này ước lượng tình hình, không dám có những lời lẽ bào chữa sai lầm như lần trước; nên xin tuân theo chiếu chỉ trước, vào ngày 20 tháng 7 [19/8/1791] đến Nhiệt Hà.’

Trước đây nhân Sứ thần An Nam qua tỉnh thành, Trần Dụng Phu câu nệ chiếu chỉ trước, cho người đem trở lại [tỉnh thành]. Liệu việc thật hồ đồ, đã giáng chỉ giao cho bộ nghiêm khắc bàn xử, lại ra lệnh cho viên Tuần phủ lo liệu cho khởi hành, đến ngày trước tết Ðoan Ngọ đến kinh đô. Nay Trần Dụng Phu cho rằng hiện tại đến Ðoan Ngọ chỉ còn hơn 40 ngày, sợ đến không kịp. Nên xin đến trung tuần tháng 4, dùng đường thủy đến Vũ Xương [Hồ Bắc], rồi từ Vũ Xương theo đường bộ đến kinh đô, ước lượng vào trước ngày 20 tháng 7 đến Nhiệt Hà. Lúc này nếu khởi hành, để đến ngày [Ðoan Ngọ] thì quá gấp; chi bằng chấp thuận theo lời xin cho tiện.

Viên Tuần phủ đối với việc này tuy sai lầm lúc đầu, nhưng sau đó tuân theo chỉ dụ, tính toán hành trình, không dám đã sai lầm lại sai lầm thêm, lời tấu thuộc loại có thể thi hành. Nay truyền lệnh Trần Dụng Phu cứ tuân theo chiếu chỉ lần thứ nhất, cứ cho Bồi thần đợi đến trung tuần tháng 4, từ từ mà đi; do đường thủy đến Vũ Xương, rồi theo đường bộ. Lại truyền dụ cho các Tổng đốc, Tuần phủ dọc đường không cần chuẩn bị ngay; chỉ thăm dò để biết khi nào viên Bồi thần đến biên cảnh, thì thông sức thuộc hạ lo liệu. Lệnh cho đi từ từ để trước ngày 20 tháng 7 đi đến Nhiệt Hà, thuận tiện cùng ngoại Phiên Mông Cổ, bọn Cáp Tát Khắc cùng chung yến tiệc, thì được.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1375, trang 33-34)

Thi hành theo dự định, Sứ bộ Trần Ngọc Thị thong thả đến Nhiệt Hà đúng với ngày hẹn:

Ngày 14 Ðinh Tỵ tháng 6 năm Càn Long thứ 56 [14/7/1791]. Lại dụ:

Trước đây theo lời tâu của Phú Ninh ‘Vào ngày 22 tháng 5 [23/6/1791] Bồi thần An Nam từ tỉnh thành Vũ Xương [Hồ Bắc] khởi hành, ước lượng ngày 27 tháng 5 [28/6/1791] ra khỏi tỉnh Hồ Bắc. Hà Nam giáp giới với tỉnh Sở [Hồ Bắc], viên Bồi thần một khi ra khỏi Hồ Bắc thì vào châu Tín Dương thuộc tỉnh Dự [Hà Nam], xứ đó đến Nhiệt Hà, bất quá chỉ hơn 2800 dặm, nếu theo dịch trạm mà đi thì đầu tháng 7 có thể đến Nhiệt Hà. Lúc này cách ngày ban thưởng còn xa, viên Bồi thần không cần đến đó sớm để chờ. Vả lại hiện nay có nhiều mưa, dọc đường không khỏi gặp lầy lội, nên ra lệnh cho đi từ từ để tỏ lòng thể tuất. Nay truyền dụ cho các viên Tổng đốc, Tuần phủ, tính toán thời gian, lệnh vào ngày 25 tháng 7 [24/8/1791] đi đến Nhiệt Hà thì cũng không muộn.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1380, trang 23-24)

Vào tháng 6 được tin nhà Tây Sơn lại cử sứ bộ Nguyễn Văn Ðiển sang cống; cũng muốn tránh khỏi bức xúc, nên triều Thanh sắp xếp cho sứ bộ đến kinh đô vào dịp lễ phong ấn cuối năm:

Ngày 22 Ất Sửu tháng 6 năm Càn Long thứ 56 [22/7/1790]. Dụ Quân cơ đại thần; Phúc Khang An tâu:

 ‘Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình lại sai Cống sứ dâng biểu tiến cống. Theo lời báo hiện nay trên đường đến quan ải; nếu như ước tính bọn Cống sứ Nguyễn Văn Ðiển sau khi vào quan ải có thể đến Nhiệt Hà vào cuối tháng 7, hoặc đầu tháng 8 thì nên đi gấp; để có thể cùng Cống sứ trước dự yến tiệc. Nếu như đến quan ải muộn, lệnh khi đến Quế Lâm cho tạm lưu trú rồi đi từ từ, để đến ngày lễ phong ấn (1) tới kinh đô.’

Lần này bọn Cống sứ An Nam Nguyễn Văn Ðiển chưa báo đã vào quan ải, mà bây giờ cách đầu tháng 8 không xa, không nên ra lệnh đi gấp trên đường dài. Ðáng theo lời tâu của Phúc Khang An, khi viên Cống sứ đến Quế Lâm cho tạm lưu trú, rồi lệnh đi từ từ, đến trước ngày lễ phong ấn thì đến kinh đô, để cùng để cùng Mông Cổ, bộ lạc Hồi, cùng Sứ thần các nước dự yến tiệc, thì tương đối ỗn thỏa. Nếu như vào lúc này viên Cống sứ đã đi qua tỉnh thành Quế Lâm, tính toán hành trình có thể bắt kịp Cống sứ đi chuyến trước, thì chấp thuận cả hai đều đến Nhiệt Hà; lệnh truyền dụ cấp tốc cho các Tổng đốc, Tuần phủ dọc đường dự bị ỗn thỏa. Lại dụ Trần Dụng Phu quyết không thể như lần trước, khi Cống sứ Trần Ngọc Thị đã đi qua tỉnh thành, lại cho đuổi theo để đưa về tỉnh, khiến cho mệt nhọc đi về. Nếu như ước tính hành trình, không thể bắt kịp Cống sứ lần trước, thì khi viên Bồi thần đến tỉnh thành Quế Lâm, cho tạm lưu nghĩ, cùng báo cho các địa phương dọc đường cho đi từ từ, để đến ngày lễ phong ấn đến kinh đô cũng không chậm. Viên Tuần phủ hãy ước lượng mà thi hành ổn thỏa, chớ để sai lầm lần nữa thì sẽ bị tội; sau khi nhận được chỉ dụ này, liệu biện như thế nào hãy phúc tấu ngay. Dụ này theo độ khẩn 600 dặm [1 ngày] truyền cho Trần Dụng Phu, Phúc Khang An và các Tổng đốc Tuần phủ dọc đường hay biết.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1381, trang  9-12)

Sau khi phái đoàn Giả vương Quang Trung rời khỏi Bắc Kinh, Cựu hoàng Lê Chiêu Thống lên tiếng đòi trở về nước và xin cấp đất 1 trong 4 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hóa. Vua Càn Long tỏ ra giận dữ, cho rằng việc này do nhóm cựu thần thân cận xui dục, nên đày họ đi đến các tỉnh xa xôi; lại báo tin cho Quốc vương An Nam hay, cho hủy bỏ việc tìm kiếm thân nhân Cựu hoàng đưa sang Trung Quốc:

Ngày 20 tháng 4 năm Càn Long thứ 56 [22/5/1791]. Lại dụ:

Trước đây Lê Duy Kỳ xin vào nội địa, đặc cách ra lệnh mang thuộc hạ đến kinh đô gia nhập vào đạo cờ vàng Hán quân, biên chế thành Tá lãnh; ban cấp tiền, lương thực để khỏi mất chỗ dựa. Mấy tháng đầu kể từ khi đến kinh đô, y vẫn yên bổn phận; mùa đông năm ngoái hốt nhiên khẩn thiết thỉnh cầu viên Đô thống Kim Giản được trở về An Nam, xin được cấp một trong bốn xứ Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hóa để an sáp; ngu ngốc vô tri đến thế là cùng! Theo lời tâu của Đô thống Kim Giản:

 ‘Lê Duy Kỳ vốn hèn yếu không có khả năng, nghe lời xui của bọn Hoàng Ích Hiểu, Phạm Như Tùng, Nguyễn Quốc Đống, Lê Hân đòi hỏi phá rối làm càn; lại còn bọn Lê Quang Duệ 20 người không chịu nhận tiền và lương, cũng xin trở về nước, thật thuộc loại sinh sự. Xin đem bọn 4 người Hoàng Ích Hiểu chia rẽ ra, rồi an sáp các địa phương tại Y Lê, cho đăng lính ăn lương; Bọn Lê Quang Duệ 20 người, phân chia đến các xứ tại Giang Ninh an sáp v.v..’

Lê Duy Kỳ từ khi đến kinh đô đến nay nhập ngũ dưới cờ, nhận chức được tăng tiền lương, lại còn nghe lời bọn Hoàng Ích Hiểu quấy rầy đòi hỏi, đáng đem những người xúi dục ra trừng trị. Đã ra lệnh đem bọn 4 người Hoàng Ích Hiểu phát vãng các xứ tại Y Lê (2) nhập ngũ làm lính, chỉ cấp cho một nữa tiền lương. Bọn Lê Quang Duệ 20 người, không cần phát vãng ra khỏi tỉnh, cho an sáp tại địa phương Nhiệt Hà.

Hãy đem nội vụ được phán quyết báo cho viên Quốc vương An Nam hay, lại gửi kèm châu phê ngay trên nguyên văn tấu triệp của Kim Giản để được duyệt khán. Còn về việc anh em thê thiếp, cùng tòng nhân quyến thuộc của Lê Duy Kỳ vẫn còn kẹt tại An Nam chưa được đem đi; trước đây đã giáng chỉ lệnh cho Nguyễn Quang Bình điều tra tống xuất để gia đình được đoàn tụ, đó là đặc ân của Trẫm. Nay bọn Lê Duy Kỳ đã không chịu yên bổn phận, không thể hưởng ơn của Trẫm, càng không cần điều tra thêm để tống xuất quyến thuộc của y. Huống nữa từ khi Lê Duy Kỳ vào quan ải tới nay đã đến hai năm, sau cơn binh hỏa loạn ly, những người già cả và phụ nữ thực khó mà tìm được nữa.

Nay truyền dụ cho viên Quốc vương:

 ‘Nếu như hiện nay đã tìm được thì cứ cho đưa đến quan ải, nếu hiện tại không tìm ra tung tích, thì không cần tra hỏi thêm nữa. Nay gặp giai tiết, chúc Quốc vương đón vui kết phúc, mọi việc đều tốt đẹp. Lại nhớ đến tết Đoan Ngọ năm ngoái, lúc Quốc vương trên đường đến triều cận, từng sai người ruổi ngựa ban cho một phần quà; nay ở nơi xa xôi kinh khuyết, lòng Trẫm rất mong nhớ; vậy chiếu theo lệ năm ngoái thưởng các hàng lụa gồm khố sa, cát sa; quạt ngà, quạt ba tiêu, quạt thập cẩm, khăn phù dung; hương khí, hộp thuốc, cùng một hộp bánh sữa; tất cả sẽ được gửi đi kèm chỉ dụ này để thể hiện sự ưu đãi. Truyền dụ này để hay biết, không cần sai sứ tạ ơn.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1377, trang 4-5)   

Tại miền Nam vào tháng giêng năm Tân Hợi  [3/2-4/3/1791] Nguyễn Vương ra lệnh cho người Hoa Kiều, ai mộ được khoảng 30 người thì cho lập làm một đội; mỗi đội đặt một Đầu mục, coi một chiếc thuyền ô; lúc có việc thì tòng quân, không việc thì buôn bán mà sống, cho miễn dao dịch.

Ra lệnh cho các hạng dân và người Hoa Kiều ở đạo Long Xuyên [Cà Mâu], ai muốn làm đồn điền mà đồ làm ruộng không đủ thì nhà nước cho vay, mỗi năm thu thóc sưu mỗi người 8 hộc, thuế thân xem như quân hạng, dao dịch đều miễn. Kẻ nào không muốn làm đồn điền thì bắt phải thụ dịch tòng chinh, để răn kẻ chơi bời lười biếng. Những người Miên và Hoa Kiều ở hai phủ Ba Xắc [Sóc Trăng]  và Trà Vinh cũng cho khẩn đất làm đồn điền mỗi năm thu thóc sưu mỗi người 10 hộc.

 Tiền quân Lê Văn Quân có tội, đình thần nghị xử rằng : “Tội Quân nên chết”. Vương nghĩ Quân có công, không nỡ giết, chỉ lột quan chức; nhưng Quân xấu hổ, bực tức uống thuốc độc chết. Quân người Kiến Hưng, dinh Trấn Định [Định Tường], sức khỏe can trường tự xưng là Dũng Nam công [Ông mạnh nhất nước Nam], theo Vương trong lúc bôn ba, đủ mọi gian hiểm. Trong cuộc khôi phục Gia Định, chiến công rất nhiều, Vương yêu lắm. Nhưng là người ít học, đối với Vương có khi thiếu lễ. Thấy Võ Tánh là người tuổi trẻ mới lên, mà lại lấy Công chúa, trong lòng sinh bất bình, thường hay hiềm khích, cơ hồ đánh nhau. Đến khi đánh giặc không công, mà Tánh thì lại lập công, càng thêm hổ thẹn và bực tức, đến nỗi mắc phải tội. Vương lột hết quan chức, song còn muốn cho lập công chuộc tội để dung; không ngờ Quân lại oán vọng mà uống thuốc độc chết, cho nên vừa thương vừa giận.

Tháng 2 [5/3-2/4/1791], phụ chính nước Chân Lạp là Chiêu Chủy Biện sai Ốc Nha Tha La Ma và Ôc Nha Sa Thi sang dâng phẩm vật. Bọn Tha La Ma muốn nhân đó mà kinh dinh buôn bán, đem theo 14 chiếc thuyền và hơn 170 người đi theo. Dinh thần Vĩnh Trấn [Vĩnh Long] báo lên; Vương sai dẫn hết về Gia Định bái yết; khi trở về, ban cho rất hậu.

Người nước Bút Tu Kê [Bồ Đào Nha, Portugal] tên là Chu Di Nô Nhi đến buôn bán, nhân đó Vương sai gửi thư cho quốc trưởng nước ấy để mua binh khí; gồm 1 vạn cây súng chim; 2.000 cỗ súng gang, mỗi cỗ nặng 100 cân; 2.000 viên đạn nổ, đường kính 10 tấc.

Ngày Đinh Mão tháng 4 [25/5/1791], Hoàng tử thứ tư tức Thánh tổ Nhân hoàng đế Minh Mệnh sinh ở xóm Tân Lộc, phía phải thành Gia Định [gần dinh Độc Lập, Sài Gòn]; năm Minh Mệnh thứ 13 [1832] dựng chùa Khải Tường ở đó. Hoàng tử là  con bà Phi thứ hai Trần thị, tức là Thuận tiên Cao hoàng hậu, con gái Lễ bộ tham tri Trần Hưng Đạt,

Mở khoa thi, lấy trúng cách 12 người là bọn Nguyễn Đình Quát, Nguyễn Công Xanh, Nguyễn Hữu Thứ, Đoàn Văn Hoằng.

Tháng 5 [2/6-30/6/1791], Xiêm La sai sứ thần là Sa Lật Vằn Tri Khôn Sĩ Thi Na đến hiến sản vật gồm hai con ngựa hồng và bạch, mười cây long bào gấm, bốn chiếc chiêng đồng. Trước đó quân Tây Sơn đánh Vạn Tượng [Viêng Chăn] đòi lễ cống, Vạn Tượng đánh cho thua, rồi đưa tù binh sang Xiêm; nước Xiêm nhân sai sứ sang báo tin và đưa cả những cờ trống bắt được của Tây Sơn để làm tin. Khi sứ giả đến, Vương hậu đãi rồi cho về, lại sai Bảo hộ Nguyễn Văn Nhàn và Cai cơ Nguyễn Tiến Lượng cùng đi, tặng Phật vương 30 cỗ cáng, cho Vua thứ hai một đôi hoa vàng bạc.

Trước kia người Xiêm đưa Mạc Công Bính [cháu Mạc Thiên Tứ] về trấn giữ Hà Tiên, Vương cho rằng nơi ấy từ khi trải qua binh hỏa, cảnh vật tiêu điều, bèn khiến lưu giữ đạo Long Xuyên. Đến đây nước Xiêm gửi thư trách Bính; Bính sợ, bày tỏ với triều đình, dâng biểu xin vào chầu. Vương dụ rằng : “Ngươi một niềm trung ái, theo được thói tốt của ông ngươi, ta há không biết sao ! Nhưng từ Hà Tiên thất thủ quyến thuộc nhà ngươi đều chạy sang Xiêm nương nhờ, dẫu không ơn lớn, cũng có ơn nhỏ. Nay hãy nín náu theo họ, trở về Hà Tiên, đợi khi mọi việc yên rồi, sẽ có cách xử trí. Cũng bất tất phải vào chầu, hoặc có kẻ nhỏ nhen, nhân đó gièm pha, lại thêm hiềm khích”.

Tháng 6 [1/7-30/7/1791], cấm người Việt tranh chiếm ruộng đất của dân  Miên tại hai phủ Ba Xắc [Sóc Trăng], Trà Vinh.  Nhân ra lệnh rằng những nơi nào từ trước đã cày cấy thành ruộng thì vẫn cho ở lại mà trông coi sản nghiệp, còn dư thì để hết cho dân Miên, từ nay về sau không được trưng chiếm nữa.

Giảm một nửa thuế cho những thuyền ngoại quốc đến buôn ở Long Xuyên [Cà Mâu], vì cớ Long Xuyên đất hẹp dân nghèo; cho sở Phú Quốc lệ thuộc vào đạo Long Xuyên.

 

Chú thích:

1.Phong ấn: lễ phong ấn tức tạm gói ấn lại không dùng trong dịp tết. Dưới thời nhà Minh, vào ngày trừ tịch [30 tháng chạp Â.L.] các dinh quan cho làm lễ gói ấn lại gọi là phong ấn, đợi đến ngày mồng 3 tháng giêng thì mở ra dùng.

2.Y Lê: vùng đất thuộc tỉnh Tân Cương.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này