Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Vua Quang Trung [1789-1792] – Phần 8

Hồ Bạch Thảo

Chỉ sau ngày đã hẹn 2 ngày, vào ngày 11 tháng 7 [20/8/1790] phái đoàn vua Quang Trung giả đến Nhiệt Hà; cùng với các Vương, Công, Đại thần và Sứ thần các nước, chiêm bái vua Càn Long tại Quyển A Thắng Cảnh:

Ngày 11 tháng 7 năm Càn Long thứ 55 [20/8/1790]. Quốc vương nước An Nam Nguyễn Quang Bình, Bồi thần là bọn Ngô Văn Sở; Tuyên ủy ty Mộc Bình xứ Kim Xuyên; Tham Nạp Mộc Tạp đất Giáp Lặc gồm 30 người; em ruột hãn Cáp Tát Khắc Hàng Hòa Trác là Trác Lặc Tề cùng tùy tòng vào triều cận. Thiên tử ngự tại Quyển A Thắng Cảnh triệu lên gặp. Tháp tùng có các Vương, Bối lặc, Bối tử, Công, Đại thần; Vương Mông Cổ cùng bọn Bối lặc, Bối tử, Công, Ngạch phụ,Thai cát; Hồi Bộ Công, Bá khắc; Sứ thần các nước Miến Điện, Nam Chướng; và bọn Sinh phiên (1) tại Đài Loan. Thiên tử ban yến tiệc, cùng ban cho Quốc vương Nguyễn Quang Bình thơ, kỳ dư thưởng có sai biệt. Thơ Ngự Chế như sau :

 

Doanh phiên (2) nhập chúc trị thời tuần,

Sơ kiến hồn như cựu thức thân.

Y cổ vị văn lai Tượng quốc (3),

Thắng triều (4) vãng sự bỉ kim nhân.

Cửu kinh nhu viễn (5) chi trùng dịch (6),

Gia hội ư kim miễn thể nhân.

Vũ yển văn tu thuận thiên đạo,

 Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân.

            Dịch nghĩa:

Phiên thần nơi góc biển đến triều cận, gặp dịp Thiên tử đi tuần thú hàng năm,

Tuy mới gặp nhau lần đầu, đại để như đã quen thân nhau từ trước.

Từ xưa chưa từng nghe Quốc vương nước Nam đích thân đến chiêm cận,

Nay ta khinh ghét lệ cống người vàng, chuyện cũ do triều thua bày đặt.

Các kinh xưa nói đến chính sách nhu viễn, khiến các nước xa xôi đến triều cống phải qua mấy lần thông dịch.

Ngày hội vui vẽ hôm nay cũng là do lòng nhân thể tuất.

Dẹp võ tu sửa văn trị, thực hợp với đạo trời,

Nước Đại Thanh phúc tộ mãi mãi hàng vạn năm.

            Tạm dịch thơ:

Phiên vương chúc thọ buổi du tuần,

Sơ kiến tình như đã quen thân.

Xưa đến, chưa nghe danh nước Tượng,

Triều thua, chuyện cũ ghét kim nhân.

Xa xôi nhu viễn lai triều cống,

Hội đẹp ngày nay gắng đức nhân.

Xếp võ tu văn hợp thiên đạo,

Đại Thanh phúc tộ vạn thiên xuân.”

(Cao Tông Thực Lục quyển 1358, trang 13-14)

Qua sự kiện nêu trên, sách Thanh Thông Giám có lời bàn một cách mỉa mai như sau:

“…Thơ Ngự Chế của Càn Long có câu “Doanh phiên nhập cận trị thời tuần, Sơ kiến hồn như cựu thức thân” [Phiên thần nơi góc biển đến triều cận, gặp dịp Thiên tử đi tuần thú hàng năm. Tuy mới gặp nhau lần đầu, đại để như đã quen thân nhau từ trước.] Nhưng “Quốc vương An Nam” mà Càn Long “thấy lần đầu, coi như đã quen nhau từ trước” thực ra là một người dung mạo giống Nguyễn Quang Bình, tên là Phạm Công Trị, cháu ngoại viên Quốc vương này!” ( Thanh Thông Giám, quyển 14, trang 4601)

Tiếp đến vào ngày 14 tháng 7 [23/8/1790] Giả vương cùng các Vương, công, Sứ thần được Vua Càn Long ban yến tại điện Đạm Bạc Kính Thành. Ngày 16 tháng 7 [25/8/1790] nhà Vua cho triều kiến và ban yến tại thắng cảnh Quyển A. Ngày 1 tháng 8 [9/9/1790] Vua ngự tại vườn Đồng Lạc, Nhiệt Hà; cho dự yến tiệc.

Bấy giờ viên quan tên Anh Thiện, tâu rằng Bồi thần An Nam Trần Hữu Hòa mang ngọc Như Ý nhà Vua thưởng cho Nguyễn Quang Thùy; Quang Thùy lại sai hai Bồi thần Nguyễn Đức Nhuận, và Trần Văn Đối theo Hữu Hòa đến cảm tạ. Vua Càn Long ra lệnh miễn đến, và sắp xếp cho cùng trở về nước với Giả vương Quang Trung: 

Ngày 11 tháng 8 năm Càn Long thứ 55 [19/9/1790]. Dụ Quân Cơ Đại thần, theo lời tâu của Anh Thiện:

“Viên Bồi thần nước An Nam Trần Hữu Hòa mang ngọc Như Ý thưởng cho Nguyễn Quang Thùy trở về nước. Vào ngày mồng 8 tháng 7 lại dẫn hai viên Bồi thần do Nguyễn Quang Thùy cử đến là Nguyễn Đức Nhuận, và Trần Văn Đối; đã cân nhắc ban thưởng tại tỉnh thành Quế Lâm, xin chuẩn cho phép theo trạm dịch đến kinh đô v.v..”

Bồi thần Trần Hữu Hòa đã ra khỏi quan ải trở về nước, để đem ngọc Như Ý trao tận tay cho Nguyễn Quang Thùy, vốn không cần phải đến kinh đô lần nữa. Nay lại mang hai viên Nguyễn Đức Nhuận và Trần Văn Đối theo trạm dịch tiến kinh, Anh Thiện tiếp kiến tại tỉnh thành ban thưởng thêm, như vậy không khỏi phí phạm. Hiện tại Nguyễn Quang Bình sau khi chúc thọ xong, sẽ được lệnh khởi trình trở về nước, viên Bồi thần đến kinh đô cũng không kịp. Nay truyền lệnh Anh Thiện hãy thông tri cho bọn Trần Hữu Hòa biết không cần vội vã đi theo trạm dịch. Lệnh cho đi từ từ, dọc đường gặp viên Quốc vương sẽ đổi hành trình theo phái đoàn trở về nước, như vậy đơn giản và thuận tiện hơn. Mang dụ này cùng báo cho các Tổng đốc, Tuần phủ dọc đường biết. (Cao Tông Thực Lục quyển 1360, trang 22)

Vào ngày 12 tháng 8 [20/9/1790] đoàn xe rước Vua Càn Long từ Nhiệt Hà về kinh đô Bắc Kinh, dọc đường có đội nhạc và kỵ mã nghênh đón; phái đoàn An Nam cùng Vương, Công và Sứ thần các nước tháp tùng:

Ngày 12 tháng 8 năm Càn Long thứ 55 [20/9/1790]. Thiên tử đáp xe Lễ Dư trở về kinh đô, dọc đường kỵ mã nghênh đón theo nghi vệ, dẫn đầu bởi đội nhạc tấu khúc “Vạn Thọ Cù Ca”(7); các Hoàng tử, Hoàng tôn, Hoàng Nguyên tôn (8) tước Vương trở xuống; các quan Đại thần; hưu quan, kỳ lão; Vương Mông Cổ, Bối lặc, Bối tử, Công, Ngạch phụ, Thai cát; Hồi Bộ Vương, Công, Bá khắc; Quốc vương An Nam cùng Bồi thần; Sứ thần các nước Triều Tiên, Miến Điện, Nam Chướng; Thổ ty Kim Xuyên; Sinh phiên Đài Loan đều quây quần quỳ chúc mừng. Ban thưởng cho người già, nhạc công, thợ mộc, nghệ nhân có phân biệt.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1360, trang 24)

Ngày hôm sau [21/9/1790], Vua cùng các phái đoàn làm lễ khánh hạ tại điện Thái Hòa. Lễ xong đến cung Ninh Thọ dự yến.

Ngày 19 tháng 8 năm [27/9/1790], Vua ngự tại vườn Đồng Lạc ban ẩm thực cho Giả vương An Nam, Bồi thần; và Vương, Công cùng Sứ thần các nước.

Ngày 20 tháng 8 [28/9/1790], Vua ngự tại điện Chính Đại Quang Minh; ban ẩm thực cho phái đoàn An Nam cùng Vương, Công và Bồi thần các nước.

Chuyến đi của phái đoàn Vua Quang Trung giả khá vất vả, vì phải vượt qua lãnh Đại Dữu, đường lại xa hơn; nhưng lúc trở về thì khá thuận tiện, vì loạn dân Mèo tại phía nam tỉnh Hồ Nam đã dẹp xong. Phái đoàn theo đường từ Hồ Bắc thảnh thơi dương buồm vượt qua hồ Động Đình, đêm đậu thuyền bên ghềnh sông Tương; cảnh đẹp rung động thi nhân, khiến tác giả Tinh Tra Kỷ Hành còn  để lại những bài thơ bất hủ như:Phong Phàm Quá Động Đình Hồ, Tương Than Dạ Bạc.

Tuần phủ Quảng Tây Trần Dụng Phu cũng xác nhận phái đoàn sinh hoạt ăn ở tiện nghi hơn đường bộ. Lại tâu thêm Giả vương nhận được bản tâu trong nước về việc Đồn tướng tuần dương Phạm Quang Chương truy giết bọn cướp thương thuyền Quảng Đông, cứu được thuyền trọn vẹn. Vua Càn Long nhận được tin này, khen lao vô cùng, thưởng cho Quang Chương 2 tấm lụa đoạn:

Ngày 15 tháng 10 năm Càn Long thứ 55 [21/11/1790]. Dụ Quân Cơ Đại thần: Trần Dụng Phu tấu:

 “Hộ tống Nguyễn Quang Bình đến tỉnh thành Hồ Nam vào ngày 4 tháng 10 [10/11/1790]. Sau khi viên Phiên vương lên thuyền, sinh hoạt ăn ở tiện nghi hơn đường bộ, tinh thần sảng khoái gấp bội v.v..”

 Xem lời tấu rất vui lòng. Lại tâu thêm:

 “ Viên Phiên vương trên đường hai lần nhận được đồ vật ban thưởng, lại nhận được chỉ dụ về việc đem người cũ của họ Lê mong nhớ quê hương trở về nước, đặc biệt dâng biểu tạ ơn; nay đệ nguyên biểu tiến trình.”

Trẫm đã duyệt kỹ, thấy rõ lòng thành cảm khích vui mừng, nhưng lúc này tạm chưa phê vào. Đợi khi viên Phiên vương ra khỏi quan ải, Trần Dụng Phu ắt phải tâu lên, lúc này sẽ có chỉ dụ.

 Lại có bản tâu riêng:

“Viên Lưu thủ An Nam Phan văn Lân trình một phong thư cho Nguyễn Quang Bình, nội dung ‘Năm nay vào ngày 11 tháng 7 [20/8/1790], thuyền của thương chủ Trần Triều Cầu quán tại huyện Toại Khê, tỉnh Quảng Đông bị cướp, được Đồn tướng tuần dương Phạm Quang Chương truy giết bọn cướp, cứu được thuyền trọn vẹn v.v..”

Phạm Quang Chương tuần phòng ngoài biển, thấy thương thuyền của nội địa [Trung Quốc] bị cướp, bèn phấn dõng truy kích giết bọn giặc, thật đáng khen! Nay thưởng 2 tấm đoạn, viên Tuần phủ hãy trao tận tay Nguyễn Quang Bình đợi khi trở về nước giao cho Đồn tướng Phạm Quang Chương để tưởng thưởng. Lại truyền Trần Dụng Phu cáo tri Phiên vương:

 ‘Việc này tâu đến Đại Hoàng đế, Ngài khen lao vô cùng, đặc cách thưởng Phạm Quang Chương 2 tấm đoạn lớn, giao cho Quốc vương kính cẩn mang về, tuân chỉ thưởng cấp. Quốc vương đã được ban ân điển làm phên dậu đất Nam Giao; có trách nhiệm tại địa phương. An Nam với Quảng Đông mặt biển liên tiếp, nếu có thuyền giặc cướp chạy trốn đến miền duyên hải của Quốc vương; hãy ra lệnh cho Trấn mục, Đồn tướng truy nã; nếu chống cự cứ giết; không vì bọn này là người Trung Quốc rồi chần chờ, để làm chậm việc yên ổn miền biển. Quốc vương nhận được ơn vinh, vô cùng lớn lao!’

Hãy đem dụ này cáo tri.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1364, trang 23-25)

Cuối cùng Tuần phủ Trần Dụng Phu tâu rằng phái đoàn đến ải Nam Quan vào cuối tháng 11 và có thể đến Trung đô Nghệ An lúc trước tết:

Ngày 18 tháng Chạp năm Càn Long thứ 55 [23/1/1791]. Lại dụ Quân Cơ Đại thần; Trần Dụng Phu tấu:

 ‘Vào ngày 29 tháng 11 [3/1/1791] Nguyễn Quang Bình trở về đến trấn Nam Quan; trong buổi tiễn biệt, viên Phiên vương kể lại ân sủng lớn lao, lời lẽ rất tha thiết. Từ quan ải đến Nghĩa An [Nghệ An] xét hành trình có thể tới nơi kịp trong năm. Nay kính cẩn đem biểu tạ ân của Phiên vương trình lãm v.v..

Biểu văn đã duyệt xong, lại đích thân châu phê thêm vào. Lễ mừng thọ lần này tốt lành, nay ban cho chữ “Thọ” để lấy hên năm mới; lại thưởng thêm một đôi bao sen lớn Kim Tuyến Hồ Lô; bốn đôi bao sen nhỏ chia ra trữ 2 đồng Kim Tiền, một phần Kim Bát Bửu, 1 kiện Bạch Ngọc Nga, 1 kiện Hán Ngọc Tượng, 1 kiện Pháp Lang (9) Kim Bàn; một hộp bì sữa; một hộp bánh sữa; để biểu thị lòng quyến luyến. Trần Dụng Phu phụng nhận, báo tin cho Nguyễn Quang Bình và gửi đi, để y kính cẩn nhận lãnh. Viên Quốc vương được ban ơn nhiều, ắt phải cảm động vui mừng. Đưa dụ này truyền theo độ khẩn 400 dặm [1 ngày]  để hay biết.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1369, trang 12-13)

Về đám cựu thần nhà Lê sang Trung Quốc, Tổng đốc Tứ Xuyên Tôn Sĩ Nghị chủ trương phân loại, cho nhập ngũ hoặc canh tác; được Vua Càn Long khen là liệu biện chu đáo, bèn truyền cho các Tổng đốc, Tuần phủ dựa theo đó mà làm:

Ngày 22 tháng 8 năm Càn Long thứ 55 [30/9/1790]. Dụ các Quân Cơ Đại thần: Theo tấu triệp của Tôn Sĩ Nghị trước đây thì những dân An Nam bị an sáp tại tỉnh Tứ Xuyên được phân loại để cho nhập ngũ hoặc canh tác, sự liệu biện rất chu đáo ổn thỏa. Nhân Lang Can tâu về tình hình an sáp tại địa phương nhưng chưa trù tính chu đáo toàn cuộc; còn những người bị an sáp tại Giang Nam thì vẫn chưa nhận được tờ tấu của Đốc Phủ. Do vậy đã giáng chỉ sao nguyên tấu triệp của Tôn Sĩ Nghị gửi cho Lang Can và Phúc Tung xem, lệnh phỏng theo đó mà liệu biện…” (Cao Tông Thực Lục quyển1361, trang 17-18)

Riêng tỉnh Giang Nam tức Giang Tô, An Huy ngày nay; thi hành không đúng chính sách; Vua Càn Long lại nhắc nhở phỏng theo Tôn Sĩ Nghị đã thi hành tại Tứ Xuyên:

Ngày 27 tháng 8 năm Càn Long thứ 55 [5/10/1790]. Dụ Quân Cơ Đại thần: Phúc Tung tâu:

 ‘Việc phân điều dân An Nam an sáp tại Giang Nam; Thư Lân đã chia cho Giang Ninh [Nam Kinh] 30 người, Tô Châu 19 người, An Huy 18 người; hiện tại dốc tâm trù biện việc cấp tiền sinh sống.

Sự liệu biện không đúng cách, những dân bị an sáp phải cho ở gần chỗ Tổng đốc, Tuần phủ trú đóng; lại phải vào quân ngũ hoặc được cấp ruộng đất cày cấy để vĩnh viễn mưu sinh. Cho an sáp một chỗ gần gũi để tiện việc xem xét ước thúc; vả lại số người không nhiều sao lại phân phái 3 xứ làm cho việc quản lý thêm phiền; còn dùng tiền dưỡng liêm để chi cấp lương ăn, đó chỉ là sự trợ cấp tạm thời, không phải là phép tắc trường cửu. Viên Tuần phủ xưng rằng Tô Châu có ruộng đất công, có thể điều động dân bị an sáp đến canh tác, tự đáng bàn bạc làm như vậy. Tôn Sĩ Nghị nhậm chức Tổng đốc tỉnh Tứ Xuyên, lo liệu cho dân An Nam bị an sáp tại Xuyên, phân biệt cho nhập ngũ hoặc canh tác, công việc rất ổn thỏa; nên đã giáng chỉ ra lệnh cho Phúc Tung và Lan Can phỏng theo đó mà làm. Như theo cách trù biện của Tôn Sĩ Nghị thì Giang Nam không cần phải chia số người bị an sáp ra ba nơi; nhắm những người có thể gánh vác được cho nhập ngũ, số còn lại canh tác; khiến mọi người có sản nghiệp, như vậy mới ổn thỏa. Há lẽ Tôn Sĩ Nghị theo cách này thực hành tại Tứ Xuyên thích nghi, không thể châm chước để dùng tại Giang nam một cách hiệu quả hay sao? Nay đem dụ này truyền cho Tôn Sĩ Nghị, cùng Phúc Tung để hay biết.”(Cao Tông Thực Lục quyển 1361, trang 31-32)

Trường hợp Cựu hoàng Lê Chiêu Thống được Vua Càn Long khuyên nên chọn  con gái của những kẻ tùy tòng, cho làm hầu thiếp; nhưng Cựu hoàng cho rằng những người thuộc hạ đi theo, vợ con đều thất tán, nên không nỡ riêng mình có gia thất. Càn Long bèn sai Tổng đốc Phúc Khang An nói với Giả vương Quang Trung, cho vợ con Cựu hoàng xuất cảnh để đoàn tụ:

Ngày 6 tháng 9 năm Càn Long thứ 55 [13/10/1790]. Dụ các Quân Cơ Đại thần: Trước đây nhân Lê Duy Kỳ mất nước, xin vào nội địa tá túc; nghĩ đến tổ tiên y đời đời làm phiên thần, giữ phận triều cống đã hơn một trăm năm nay nên không nỡ cự tuyệt, đã giáng chỉ gia ân cho đến kinh đô sung vào Hán quân, giữ chức Tá Lãnh thế tập. Sau khi Lê Duy Kỳ đến kinh đô nhận chức, xét ra cẩn thận tôn trọng pháp luật; nhân nghĩ đến việc vợ y không cùng vào quan ải một lượt, nên ban lệnh hãy chọn một, hai người con gái của những kẻ tùy tòng, cho làm hầu thiếp. Nhưng y cho rằng những người thuộc hạ đi theo, vợ con đều thất tán; y không nỡ riêng mình có gia thất; lại xưng rằng em ruột Lê Duy Chi, em gái 3 người, cùng thê thiếp gia quyến cách biệt đã hai năm trời, sống chết không hay, sáng chiều trông mong, mộng hồn không yên; trong hoàn cảnh đó không thể lập hầu thiếp. Lê Duy Kỳ tuy là người u mê; nhưng qua việc này thấy không vì an lạc mà quên hoạn nạn, tấm lòng đáng khen; tình cảnh kẻ phiên thuộc cũng đáng thương.

Trước đây Lê Quýnh đến quan ải xưng “Lê Duy Chi tụ tập nhiều người, mưu đồ khôi phục, lòng dân chưa bỏ nên đều muốn suy tôn Lê Duy Chi chống lại họ Nguyễn”. Bèn đem Lê Quýnh giải về kinh thẩm vấn, xưng rằng “Quốc Mẫu (10) còn tại trong nước, nếu y nấn ná tại đây sợ phụ tấm lòng chủ cũ giao trọng trách bảo hộ vợ con”; lại khăng khăng chịu chết, quyết không thay đổi mũ áo. Đây là một tên phản trắc của nước này, nghĩ rằng vợ con quyến thuộc của Lê Duy Kỳ còn ở trong nước, bèn lấy đó làm danh nghĩa tụ tập dân chúng, gây sự bất tiện cho Nguyễn Quang Bình. Chi bằng lệnh Nguyễn Quang Bình cho người đem thê, thiếp, em trai, em gái Lê Duy Kỳ, đồng loạt tống xuất ra khỏi nước để toàn vẹn cốt nhục họ Lê; lại khỏi gây hậu hoạn cho nước này; há chẳng phải là nhất cử lưỡng tiện!

Nay truyền Phúc Khang An cáo tri Nguyễn Quang Bình rằng:

 ‘Việc Lê Duy Kỳ bỏ ấn tín chạy trốn, mất nước do tự y rước lấy; tuy nhiên Đại Hoàng đế nghĩ đến họ Lê là phiên thần được phong đã lâu, cung kính thần phục; nên đã gia ân cho Lê Duy Kỳ đến kinh đô sung vào Hán Quân giữ chức Tá lãnh thế tập. Nay quyến thuộc của y vẫn còn kẹt lại tại An Nam, không khỏi phải chịu lưu ly khốn đốn; mà bọn người như Lê Quýnh đã từng lấy danh Lê Duy Chi, hiệu triệu đông người với ý đồ quấy nhiễu. Nay Lê Quýnh tuy đã bị giải về kinh giam cấm, nhưng trong nước của Quốc vương những người bất trắc như Lê Quýnh chưa phải đã hết. Ngay vợ của Lê Duy Kỳ vốn trước kia là Chủ mẫu của nước này, lòng dân thường nhớ triều xưa, nếu có kẻ tôn phò để gây hấn, thì không phải là kế sách vẹn toàn cho Quốc vương.

Lần này Quốc vương đến kinh đô chúc mừng, được ban ơn riêng; Đại Hoàng đế coi Quốc vương như tình cha con trong nhà, ân nghĩa trọn vẹn, nên vì Quốc vương mà tính kế dùm: Việc cũ không cần bàn đến nữa; nên đem thê, thiếp, em trai, em gái, thân thuộc của Lê Duy Kỳ tống xuất; cùng những tên cựu thần họ Lê tại An Nam gây sự không yên, cũng nên nhân cơ hội này tống xuất luôn. Đợi khi đến trấn Nam Quan, giao Tuần phủ để cho phái viên đưa đến kinh đô. Về phía Lê Duy Kỳ thì gia thất được đoàn tụ, vĩnh viễn cắt đứt sự liên hệ đối với nước cũ; mà bọn phản trắc tại nước ngươi cũng không còn dựa vào đâu để gây chuyện, thực là nhất cử lưỡng tiện….”(Cao Tông Thực Lục quyển 1362, trang 10-12)

Giả vương Quang Trung vâng lời nhưng sợ bà con Cựu hoàng nghi sợ, ẩn trốn không dám ra mặt; nên xin thiên triều ban cáo thị, để lòng người tin tưởng hơn. Vua Càn Long bằng lòng và cho biết thêm sau khi Quốc vương được phong làm phiên thần, nên một số người An Nam trước đây tỵ nạn xin tình nguyện trở về cố hương để được đoàn tụ với gia đình, việc này nhà Vua hứa sẽ sắp xếp:

Ngày 22 tháng 9 năm Càn Long thứ 55 [29/10/1790]. Dụ Quân Cơ Đại thần: Phúc Khang An tâu:

 ‘Tuân chỉ dụ lệnh Nguyễn Quang Bình tìm tòi em trai, em gái, cùng thê thiếp của Lê Duy Kỳ; rồi hộ tống đến quan ải. Viên Phiên thần này sợ bọn Lê Duy Chi trong lòng nghi sợ; ẩn trốn không dám ra mặt; nên khẩn khoản xin Thiên triều cáo thị hiểu dụ. Lại nghĩ về những người cùng đến quan ải với Lê Duy Kỳ, lúc bấy giờ không đưa gia quyến theo, cũng sẽ tìm hỏi để lục tục tống xuất v.v..”

Nguyễn Quang Bình thể theo ý Trẫm, lo nghĩ chu đáo, thực đáng khen! Nay Phúc Khang An hãy cáo tri cho y biết rằng:

 ‘Em trai, em gái, thê thiếp của Lê Duy Kỳ còn ở tại An Nam, khổ sở lưu ly, tình cũng đáng thương; lại sợ bọn phản trắc tại An Nam, mượn danh nghĩa của họ để tụ tập sinh sự; nên Thiên tử đã giáng chỉ cho Quốc vương tìm tòi rồi tống xuất, thực là nhất cử lưỡng tiện. Nay Quốc vương tuân theo chỉ dụ, nghĩ rằng bọn họ trốn tránh đã lâu, trong lòng đầy nghi ngờ; nghe lời kêu gọi tưởng lầm rằng Quốc vương đặt kế gia hại, nên càng trốn sâu; nếu được cáo thị của Thiên triều truyền bá đi, thì sẽ bỏ hết ngờ vực; nên có thể tìm ra tung tích để đưa đến quan ải. Đại Hoàng đế thấy được ý kiến Quốc vương rõ ràng, dụng tâm chu đáo, rất tốt đẹp. Bọn người năm ngoái cùng Lê Duy Kỳ đến quan ải, và các nhóm thuộc hạ cũ của họ Lê tiếp tục đi sau đó, thì quá nữa không đưa gia quyến đi theo; đáng tìm hỏi một lần rồi tống đến kinh đô luôn, thiết tưởng ý kiến đó rất chu tất.

Tuy nhiên những người đã vào quan ải, Đại Hoàng đế nghĩ rằng họ quyết chí sống lưu vong, nên không nỡ để lưu ly mất chổ nương tựa. Ngoại trừ những người thân thuộc với Lê Duy Kỳ được biên chế thành một Tá lãnh, có lương tiền sinh sống; những kẻ khác an sáp tại các tỉnh Tứ Xuyên, Giang Nam, Chiết Giang; được phân biệt cho nhập ngũ hoặc làm ruộng. Trước đây viên Tổng đốc Tứ Xuyên tâu rằng trong số di nhân, có người thấy Quốc vương được ân sủng phong làm phiên thần, lòng thành cải hóa, có thể thương yêu nuôi dưỡng trăm họ, nên xin tình nguyện trở về cố hương để được đoàn tụ với gia đình. Nhân đó Đại Hoàng đế ra chỉ dụ lệnh các Tổng đốc, Tuần phủ hãy hỏi khắp các di nhân bị an sáp; nếu ai nhớ cố hương cứ khai sự thực, sẽ ước lượng giáng chỉ cho trở về nước. Đợi các tỉnh Tứ Xuyên, Giang, Chiết phúc tấu xong, sẽ hỏi tiếp những người theo Lê Duy Kỳ tại kinh đô; nếu có ai tình nguyện trở về An Nam sẽ lo liệu chung một lượt; về phía Quốc vương bớt được sự phiền hà đưa đi, mà trong nước hộ khẩu gia tăng, biểu hiện cảnh tượng đầy đủ an ninh. Bởi vậy lúc này Quốc vương chưa cần tìm hỏi gấp, đợi các tỉnh phúc tấu, sau đó sẽ nhận chỉ dụ để thi hành.”(Cao Tông Thực Lục quyển1363, trang 13-16)

Vua Càn Long cho phép những người tình nguyện trở về An Nam hãy tâu lên để đợi giải quyết; kẻ không tình nguyện trở về cũng không ép buộc. Riêng con Lê Quýnh là Lê Doãn Thuyên, cùng thuộc hạ  6 người, được đưa về kinh đô, cho gia nhập vào Hán quân dưới quyền Cựu hoàng Lê Chiêu Thống:

Ngày 14 tháng 9 năm Càn Long thứ 55 [21/10/1790].Dụ Quân Cơ Đại thần: Tôn Sĩ Nghị tâu rằng:

 “Di nhân An Nam bị an sáp tại tỉnh Tứ Xuyên, bọn Cao Xuân Vượng, bẩm xưng ‘Được biết Nguyễn Quang Bình đã được phong tước đến kinh đô chúc mừng, việc làm tốt hơn họ Lê trước đây; tưởng sẽ thương xót con dân trăm họ, nên chúng tôi đều tình nguyện theo ông ta. Huống hồ cha mẹ vợ con đều ở tại An Nam, khẩn cầu chấp thuận cho trở về nước để cốt nhục được đoàn tụ. Lại có con Lê Quýnh là Lê Doãn Thuyên (11), cùng thuộc hạ 6 người, xin đến kinh đô để cùng Lê Quýnh ở một chỗ v.v..”

Lời tấu xét ra có thể thi hành được, di nhân An Nam nhân Lê Duy Kỳ mất nước chạy vào nội địa, cũng không chịu ở lại An Nam, rầm rộ đến quan ải xin vào tá túc. Lúc đó Trẫm nghĩ rằng những di nhân này khẩn thiết xin sống lưu vong, không chịu phản Lê theo Nguyễn; nếu buộc trở lại An Nam sẽ lâm vào cảnh mất chổ ở khốn đốn, nên đã phát vãng đến các tỉnh Tứ Xuyên, Giang Nam, Chiết Giang an sáp; lại dụ các Tổng đốc, Tuần phủ thu xếp ổn thỏa, phân biệt cho nhập ngũ hoặc làm ruộng để mưu sinh. Nay bọn Cao Xuân Vượng cho rằng Nguyễn Quang Bình được đặc ân phong làm phiên thần, lòng thành xin giáo hóa; tất sẽ thương yêu trăm họ, không đến nỗi thích điều nhỏ mọn tàn ngược; vả lại cha mẹ vợ con bọn họ còn ở An Nam, lòng mong nhớ gia đình, tình cũng xót thương; đáng được chấp nhận cho trở về nước, để toại lòng tưởng nhớ cố hương. Nhưng những di nhân nầy hoặc lúc mới đến tỉnh Tứ Xuyên, cầu xin Tôn Sĩ Nghị hai ba lần; nay đã yên chỗ không muốn trở về cũng chưa biết chừng. Nay Bảo Ninh phải hỏi han cặn kẽ bọn Cao Xuân Vượng và những người bị an sáp khác, xác nhận xem họ có tình nguyện trở về nước hay không rồi tâu lên lập tức, sẽ giáng tiếp chỉ dụ để thi hành. Còn con của Lê Quýnh là Lê Doãn Thuyên cùng thuộc hạ của y gồm 6 người, Bảo Ninh hãy sai Phái viên đưa về kinh đô, cho gia nhập [Hán quân] dưới quyền Tá lãnh Lê Duy Kỳ. Những di nhân an sáp tại Tứ Xuyên đã tình nguyện trở về nước; sợ những người bị an sáp tại các tỉnh Giang Nam, Chiết Giang cũng muốn như vậy; nay Tôn Sĩ Nghị và Hải Ninh nhân thể hỏi rõ xem, nếu có những người tưởng nhớ cố hương, quyến luyến vợ con, thì cứ thành thực tâu. Đợi sau khi các tỉnh tâu lên, Trẫm sẽ giáng chỉ ra lệnh cho trở về nước. Nhưng hiện tại những di nhân bị an sáp được các Tổng đốc, Tuần phủ lo liệu ổn thỏa; kẻ tráng kiện thì cho nhập ngũ hưởng lương, người già trẻ yếu đuối được cấp đất; mỗi người đều có sản nghiệp; nếu họ cảm thấy an cư lạc nghiệp, không còn quyến luyến cố hương; thì các Tổng đốc, Tuần phủ không vì chỉ dụ này mà bắt ép họ. Nói tóm lại, tình nguyện trở về An Nam thì hãy tâu lên để đợi chỉ dụ; không tình nguyện trở về cũng không sao. Dụ này truyền các nơi để nghe biết, và cứ sự thực phúc tấu.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1362, trang  32-34)

Sau đó nhà Thanh làm bản tổng kết em trai, em gái, thê, thiếp của Cựu hoàng Lê Chiêu Thống gồm 12 người và quyến thuộc những người tình nguyện ở lại Trung Quốc gồm 52 người, chưa ra khỏi An Nam; nên yêu cầu nhà Tây Sơn đưa ra khỏi nước:

Ngày 20 tháng 10 năm Càn Long thứ 55 [26/11/1790]. Dụ các Quân Cơ Đại thần: Trước đây nhân quyến thuộc của Lê Duy Kỳ còn kẹt lại tại An Nam, nên ra chỉ dụ lệnh Nguyễn Quang Bình tìm hỏi để đưa về kinh đô; lại cứ theo lời viên Quốc vương tình nguyện xin thăm dò cả quyến thuộc bọn tùy tòng của Lê Duy Kỳ, để cùng được tống xuất một lượt. Nay điều tra rõ em trai, em gái, thê, thiếp của Lê Duy Kỳ gồm 12 người. Số người cùng đến quan ải một lượt với Lê Duy Kỳ; có kẻ khẩn khoản xin trở về nước đã cho trở về An Nam; số người tình nguyện ở lại như bọn Lê Hân thì quyến thuộc gồm 52 người chưa ra khỏi An Nam. Nay mang bảng danh sách trao cho Nguyễn Quang Bình để tra hỏi. Danh sách này do Lê Duy Kỳ khai lúc đến quan ải cách đây một năm; trải qua binh lửa, có người chết lúc trốn tránh, đàn bà có kẻ đã lấy chồng khác, sợ không thể tìm đầy đủ được. Nay truyền dụ Phúc Khang An khi đưa danh sách, nói rõ với viên Quốc vương rằng:

 ‘Hãy điều tra rõ ràng, đem những người hiện còn tống ra quan ải; nếu như đã có sự trục trặc nào đó thì cũng không sao, cứ thực tình thanh minh; không câu nệ theo danh sách, để đòi tống xuất đầy đủ.

 Việc này khiến viên Quốc vương thấy được tấm lòng rộng lượng của Trẫm, lại càng thêm cảm động đội ơn vì đã không xử sự một cách bó buộc.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1365, trang 6-7)

 Tại miền Nam vào tháng 7 [10/8-8/9/1790], Lê Văn Quân cùng Nguyễn Văn Thành giữ thành Phan Rí [Bình Thuận], Tây Sơn đem quân vây; Quân xin tăng viện.

Võ Tánh và Nguyễn Huỳnh Đức đến Phan Rí, chia đường tấn công. Lê Văn Quân và Nguyễn Văn Thành cũng mở cửa thành ra đánh. Từ sáng đến chiều, trong ngoài giáp chiến, quân Tây Sơn chết và bị thương nhiều, bèn lui giữ thành Phan Rang. Quân tiến binh tới lũy Chàm [Tháp Chàm, Ninh Thuận], đem tình trạng tâu lên. Nguyễn Vương nói:  “Quân giặc dầu có thua một chút, thế tất lại trở lại. Nếu cầm cự thì đến mùa gió bấc, vận chở không tiện, chi bằng xếp giáp nghỉ quân, rồi sẽ tính cuộc sau”. Bèn sai các tướng rút quân về, lưu Tán lý Chiêu cùng cai cơ Nguyễn Văn Tánh giữ thành Phan Rí. Lê Văn Quân về giữ thành Hưng Phước [Bà Rịa].

Mùa hạ năm Kỷ dậu [1789], vương nghe tin người Thanh đem quân giúp nhà Lê mà đánh giặc Tây Sơn, bèn sai sứ thần là bọn Phan Văn Trọng và Lâm Đề mang thư sang Thanh và đem 50 vạn cân gạo giúp lương cho quân. Nhưng gặp bão đắm cả ở biển, không nhận tin tức. Đến đây nghe tin quân Thanh bị giặc đánh bại, đã không đánh lại mà còn phong cho Tây Sơn. Vì vậy mới sai Cai cơ Nguyễn Đình Đắc đi dò tin tức vua Lê, nhân tiện chiêu dụ hào kiệt Bắc Hà.

Ra lệnh cho hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn mộ người lập các nậu biệt nạp như dầu rái, mỗi người mỗi năm nộp 8 vò ; nậu dầu trám, mỗi người nộp 800 cân, đèn nến lớn mỗi người nộp 1 cây dài 4 thước, đèn lưng tròn 1 thước 2 tấc, nến nhỏ 40 cây ; nậu mây sắt mây nước, mỗi người nộp 14.000 sợi, mỗi sợi dài 7 thước, bề ngang 3 phân ; nậu lá buôn, mỗi người 4.000 lá ; nậu buồm lá, mỗi người 80 bó . Thành viên trong nậu thuế thân thì nộp theo lệ thường, dao dịch đều miễn.

Tháng 8 [9/9-7/10/1790], sai các đạo thủ làm sổ quân dân trong hạt. Lại ra lệnh cho các tổng, xã, thôn, phường, trong bốn dinh; phàm tăng ni đạo đồng các chùa chiền đều phải ghi vào sổ, để biết rõ số nhiều ít.

Năm ấy giá gạo đắt dân đói, tha nửa số thóc thị nạp [Thóc dân nộp để nuôi quân] cho dân bốn dinh, lại phát thóc gạo, bán và cho vay. Riêng ở Phú Quốc đói lắm, phát chẩn cho 500 hộc thóc.

Tháng 9 [8/10-6/11/1790], lấy Nguyễn Văn Chiêu nguyên tên là Môn Lai Phù Tử, con của Thắng là cựu Phiên vương Chiêm Thành cho làm Khâm sai chưởng cơ, quản mọi việc quan và dân Chiêm. Trước kia quân ta tiến lấy Bình Thuận, Chiêu đem quân ứng theo đánh giặc, đến khi giặc lui, bọn quan Chiêm Thành đều xin lập Chiêu quyền lãnh việc trấn. Lê Văn Quân tâu xin; Vương chấp nhận. Lại lấy quan Chiêm là Nguyễn Văn Chấn [tên gốc Bô Cà Đáo], Nguyễn Văn Hào [Thôn Ba Hú] làm Khâm sai thống binh cai cơ; sau Chiêu có tội bị bãi chức.

Tháng 10 [7/11-5/12/1790] Vương chủ trương lập đồn điền; ra lệnh cho các đội túc trực và các vệ thuyền dinh Trung quân ra vỡ ruộng ở Vàm Cỏ, đặt tên là trại Đồn Điền, cấp cho trâu bò điền khí và thóc ngô đậu giống. Đến ngày thu hoạch đem hết về kho kho Đồn Điền; lấy Cai cơ hiệu Tiền dực là Nguyễn Bình trông coi.

Lại hạ lệnh cho các nha văn võ mộ người lập các đội nậu đồn điền, hằng năm thu thóc sưu mỗi người 6 hộc; ai mộ được 10 người trở lên thì cho làm cai trại.

Dựng kho thuốc súng,12 gian ở trong thành. Sửa hai đồn Vàm Cỏ [Thảo Câu] và Cá Dốc [Dốc Ngư], sai Chưởng cơ Nguyễn Văn Nghĩa trông coi công việc. Đặt sở chăn ngựa nhà nước ở đảo Côn Lôn.

Cấm thuyền buôn không được đi qua các đạo thủ Quang Hóa [Tây Ninh], Tuyên Uy [Đồng Tháp], Thông Bình để sang buôn ở Chân Lạp.

Tháng 11 [6/12/1790-4/1/1791], đặt mười bạn hát, đi đến các nhà các làng để hát thuê. Mỗi bạn hạn 15 người, mỗi năm nộp tiền sưu 600 quan, thuế thân cũng coi như quân hạng.

Sai Cai cơ Võ Di Nguy coi đóng một chiếc chiến thuyền lớn và 15 chiếc thuyền đi biển.

Khiến Bảo hộ Nguyễn Văn Nhàn, Cai cơ Nguyễn Tiến Lượng sung chức Chánh phó sứ sang Xiêm. Tặng Phật vương một đôi lồng đèn pha lê, hai tấm gương lớn, một cây hoa vàng, một cây hoa bạc, một chiếc thuyền lê đại; tặng Vua thứ hai một đôi lồng đèn pha lê, hai tấm gương lớn, 500 cân đường cát, 500 cân đường phèn, 500 cân sáp ong. Trước kia Phụ chính Chân Lạp là Chiêu Chủy Biện vì cớ ta sai người giữ Ba Xắc [Sóc Trăng] nên không được tự chuyên, trong lòng giận ngầm, nói với vua Xiêm rằng nước ta đương luyện binh đúc súng, muốn mưu đánh Xiêm. Vua Xiêm ngờ, định ngày cất quân sang xâm lấn. Vương nghe tin, viết thư sai bọn Nhàn đưa cho Vua Xiêm, nên dẹp mối ngờ.

Chưởng Tiền quân Lê Văn Quân từ khi trở về Hưng Phước [Bà Rịa], thường lấy việc bại binh làm thẹn. Khi Vương triệu Quân về thì dùng dằng không lên đường ngay, sau Quân sợ tội, bèn xưng bệnh; nên lấy Tổng nhung cai cơ Nguyễn Văn Lợi tạm quản tướng sĩ dinh Tiền quân.

Tháng 12 [5/1-2/2//1791], quân Tây Sơn lại từ Phan Rang vào cướp. Tán lý Chiêu và Cai cơ Nguyễn Văn Tánh bỏ Phan Rí, lui về Phù Mĩ.Vương nghe tin báo, lập tức hạ lệnh rút quân về Bà Rịa, hiệp với Nguyễn Văn Lợi đóng giữ; lại sai đắp thành có thể dung được tướng sĩ một nghìn người, để phòng giữ cho nghiêm.

Sai Nội viện Trần Vũ Khách đi Giang Lưu Ba [Jakarta, Inđônêxia] tìm mua đồ binh khí.

Chia dinh Tiền quân làm ba đạo Trung chi, Tiền chi và Hậu chi; sai Khâm sai tổng nhung cai cơ Phùng Văn Nguyệt coi Trung chi và Nguyễn Văn Lợi coi Tiền chi giữ Bà Rịa, Nguyễn Văn Tánh coi Hậu chi giữ đạo Đồng Môn [Long Thành].

Lập xưởng thủy sư, từ bờ sông Tân Bình [Sài Gòn] đến bờ sông Bình Trị [Thị Nghè], trên ba dặm, thuyền đi biển, thuyền chiến, thuyền ô  [sơn đen], thuyền son [sơn đỏ], thuyền lê [đầu đuôi thuyền đều chạm vẽ gọi là lê thuyền], đều đậu ở đó.

 

                     Chú thích:

                       

                         1.Sinh phiên: Thổ tù tại Đài Loan gọi là Sinh phiên.

 2.Doanh phiên: Phiên thần vùng biển.

3.Tượng quốc: chỉ Việt Nam xưa gọi là Tượng Quận.

4.Câu “Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân” ; căn cứ vào Từ điển Từ Hải điều “thắng triều” và “thắng quốc” ghi như sau: Thắng triều: thắng quốc dã; Thắng quốc: Dĩ vong chi quốc vi kim quốc sở thắng, cố vị chi thắng quốc. Nghĩa là thắng triều tức thắng quốc; nước đã mất, bị nước hiện nay chiến thắng nên gọi là thắng quốc; như vậy nhà Thanh gọi nhà Minh (nước bị thua) là thắng quốc. Do đó chúng tôi tạm dịch “ Nay ta khinh ghét lệ cống người vàng, chuyện cũ do triều thua [Nhà Minh] bày đặt.

5.Nhu viễn: Nhu viễn năng nhĩ  trong Kinh Thư, Thuấn điển, tức: Mềm dẻo nơi xa để được yên ổn nơi gần.

6.Trùng dịch: Sứ thần các nước xa xôi đến triều cống nước Tàu phải qua mấy lần thông dịch mới hiểu nỗi nên gọi là trùng dịch.

  1. Vạn thọ cù ca: Bài ca diễn hành trên đường về lễ Vạn Thọ.

8.Hoàng Nguyên tôn: Tên húy vua nhà Thanh là Huyền nên lấy chữ Nguyên thay thế; vậy Hoàng Nguyên tôn tức Hoàng Huyền tôn, nghĩa là chắt của vua.

  1. Pháp lang: Một thứ nguyên liệu lấy từ trong mỏ, giống pha lê; đun chảy ra để mạ đồ cho đẹp và khỏi rỉ.

10.Quốc mẫu: Chỉ Hoàng phi Nguyễn Thị Kim, vợ vua Lê Chiêu Thống.

  1. Lê Doãn Thuyên: Cụ Hoàng Xuân Hãn phiên âm tên con Lê Quýnh trong bản dịch Bắc Hành Tùng Ký là “Thuyên”, Cao Tông Thực Lục tại đạo dụ này ghi là ‘Toàn”. Xét chữ “toàn” thêm bộ “trúc” hoặc bộ “ngôn” thành chữ “thuyên”. Chắc Thực Lục nghe âm nên có thể viết sai; riêng Bắc Hành Tùng Ký do Lê Quýnh soạn, dĩ nhiên ông ta không thể ghi lầm tên con mình được, nên chúng tôi dùng tên “Thuyên” theo sách tự thuật của Lê Quýnh.

12.Dầu rái: Chữ Hán là mãnh hỏa du, bắt lửa rất mạnh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này