Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Vua Quang Trung [1789-1792] – Phần 6

Hồ Bạch Thảo

           Phái đoàn Nguyễn Quang Hiển rời ải Nam Quan vào ngày 25 tháng 5 năm Càn Long thứ 54 [18/6/1789] đến chiêm bái Vua Càn Long tại hành cung Nhiệt Hà; vào cuối năm lại trở về ải Nam Quan. Ngô Văn Sở được cử đến nhận lãnh sắc ấn, nhân dịp xin tháp tùng Quốc vương  đến chiêm bái. Vua Càn Long dặn viên Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh bảo Văn Sở rằng nước các ngươi mới được phong, cần có người lo việc nước; nên đặc biệt thể tuất, sau khi Quốc vương ngươi đến kinh đô, cho ngươi ở lại lo giữ nước:

Ngày 5 tháng Giêng năm Càn Long thứ 55 [18/2/1790]. Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh tâu rằng:

 ‘Theo lời bẩm của viên Tả Giang đạo Thang Hùng Nghiệp thì vào ngày 12 tháng 12 [26/1/1790] Nguyễn Quang Hiển về đến trấn Nam Quan; Nguyễn Quang Bình sai các Bồi thần Nguyễn Văn Danh, Ngô Văn Sở cùng vệ sĩ vào ngày 13 [27/1/1790] đến dưới đài Chiêu Đức làm lễ nhận lãnh sắc ấn. Lại theo lời bẩm của Ngô Văn Sở Quốc vương [vua Quang Trung] định trong tháng 3 đến kinh đô cung chúc vạn thọ, Văn Sở kính cẩn dâng biểu tạ ơn của Quốc vương và xin được tháp tùng để được sớm đến chiêm cận.’…

Dụ Quân Cơ Đại thần: Tôn Vĩnh Thanh vừa tiến dâng biểu tạ ơn của Nguyễn Quang Bình, Trẫm đã dùng bút son phê trên biểu văn; hiện nay Sứ thần Nguyễn Hoằng Khuông đã đến kinh đô, đợi khi trở về nước sẽ giao tờ biểu văn có lời châu phê tuyên dụ, để tỏ lòng sủng ái. Còn Ngô Văn Sở là thuộc hạ đắc lực, nếu cùng với Quốc vương đến kinh khuyết sẽ thiếu người coi sóc trong nước. Đã giáng chỉ ra lệnh cho Nguyễn Quang Bình rằng sau khi từ kinh đô trở về nước, đến kỳ tiến cống kế tiếp, Văn Sở hãy đến kinh đô; viên Quốc vương cũng đệ trình tờ thiếp đến Tôn Vĩnh Thanh, xưng tuân sợ Thánh chỉ để Ngô Văn Sở ở lại giữ nước. Nay Ngô Văn Sở lại hướng đến Thang Hùng Nghiệp khẩn khoản xin được cùng với Quốc vương chiêm cận. Viên Tuần phủ đáng tuân theo chiếu chỉ trước dạy Ngô Văn Sở rằng nước các ngươi mới được phong, nên đặc biệt thể tuất đợi sau khi Quốc vương tiến kinh, cho ngươi ở lại lo giữ nước, vậy hãy tạm hoãn tiến kinh. Nay viên Tuần phủ tuân theo chỉ dụ này hiểu thị Ngô Văn Sở, chờ khi có văn thư phúc trình, hãy tấu lên ngay.” (Cao Tông Thực Lục quyển 2346, trang 13-14)

Phái đoàn Nguyễn Quang Hiển vừa trở về nước, phái đoàn Nguyễn Hoằng Khuông đến tạ ơn, làm lễ chiêm bái Vua Càn Long tại cửa Tây Uyển, Bắc Kinh:

Ngày 6 tháng Giêng năm Càn Long thứ 55 [19/2/1790]. Thiên tử đến Doanh Đài. Chánh sứ An Nam là Nguyễn Hoằng Khuông, Trần Đăng Đại; Phó sứ là bọn Tống Danh Lang làm lễ chiêm cận tại cửa Tây uyển.” (Cao Tông Thực Lục quyển 2346, trang 14)

Bấy giờ Sứ thần An Nam đến triều Thanh như mắc cửi, lúc phái bộ Nguyễn Hoằng Khuông còn ở Bắc Kinh, nhà Tây Sơn lại cử phái bộ Lê Bá Đang đến dâng biểu tạ ơn được nhận quốc ấn. Ngoài ra Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh tâu rằng theo thông lệ đã duyệt thư của Vua Quang Trung gửi cho Nguyễn Hoằng Khuông; nội dung đề cập đến việc trước đây đánh nhau với Tiêm La, sợ bị cật vấn nên ra lệnh Hoằng Khuông cứ sự thực tâu; lại nhân mẫu thân tuổi cao, lệnh Bồi thần mua nhân sâm để phụng dưỡng. Vua Càn Long nhận được, bèn ban sắc dụ khen Vua Quang Trung ngay thẳng, và tặng cho mẹ Vua một cân nhân sâm:

Ngày 16 tháng Giêng năm Càn Long thứ 55 [2/3/1790]. Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh tâu:

‘Quốc vương nước An Nam Nguyễn Quang Bình nhận quốc ấn cùng thơ Ngự chế, bèn dâng biểu tạ ơn, sai Bồi thần đến tiến cống; định hạ tuần tháng Giêng đến quan ải. Ngoài ra viên Quốc vương còn gửi thư cho Bồi thần Nguyễn Hoằng Khuông, thần duyệt nội dung đề cập việc trước đây đánh nhau với Tiêm La, sợ bị cật vấn nên ra lệnh Nguyễn Hoằng Khuông cứ sự thực tâu, để hợp với đạo nghĩa cung thuận. Lại nhân mẫu thân y tuổi cao, lệnh Bồi thần mua nhân sâm để phụng dưỡng; nay xin gửi nguyên lá thư qua trạm dịch để trình tiến.”

Dụ Quân Cơ Đại thần: Nguyễn Quang Bình kính cẩn lãnh ấn tín, thơ Ngự chế, cảm khích tận đáy lòng; bèn sai Sứ thần dâng biểu cùng cống vật, chứng tỏ lòng chí thành. Hiện tại vào ngày 8 tháng 2 [2/4/1790] Trẫm sẽ ngự xe loan tuần hạnh [đi thị sát] Sơn Đông; còn viên Bồi thần vào khoảng cuối tháng Giêng đến quan ải, hành trình đến kinh đô cần phải có thời gian. Nay truyền dụ cho viên Tuần phủ tính nhật kỳ, hoặc lệnh viên Cống sứ đợi Trẫm tại nơi trú tất [nơi tạm trú] tại Thái An, trên đường đi Khúc Phụ [Sơn Đông], để làm lễ chiêm cận tại nơi này thì rất tốt. Nếu không thể đến nơi đúng hẹn, thì sau lúc Trẫm hồi loan vào ngày 16 tháng 4 [29/5/1790], viên Cống sứ đến kinh đô để được chiêm cận và dự yến tiệc, cũng không phải là không thể được. Lần này viên Cống sứ cứ theo trạm dịch mà đi, không cần phải quá cấp tốc như lần trước khiến mệt nhọc nhiều.

Lại nghe lời tấu xưng rằng Nguyễn Quang Bình mới gửi thư cho bọn Bồi thần Nguyễn Hoằng Khuông, lệnh đem đầu đuôi việc gây hấn giữa An Nam và Tiêm La cứ thực trình tấu; nguyên thư cũng được đệ trình vv.. Hiện tại Sứ thần Tiêm La và An Nam cùng đến kinh khuyết dự yến tiệc, hai tuần nay cả hai bên chẳng ai đề cập đến nguyên do việc gây hấn, cũng không có hình tích biểu lộ sự thù hằn. Trẫm cũng chưa hỏi qua việc này. Hiện đem nguyên thư của Quốc vương trao cho viên Chánh sứ xem. Lại nhân Quốc mẫu y đã lớn tuổi, thưởng cấp một cân [500 gram] nhân sâm, cùng sắc thư, lời châu phê vào biểu văn cho gửi đi trước. Sau khi viên Tuần phủ nhận được, sai Ủy viên mang đến trấn Nam Quan, giao cho Trấn mục nước này chuyển giao Nguyễn Quang Bình thu nhận; viên Quốc vương sẽ rất vui vẻ cảm động.

 Sắc dụ ban cho Quốc vương nước An Nam Nguyễn Quang Bình như sau:

Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh tâu ‘ Trong bức thư Vương gửi cho Tả Giang Đạo Thang Hùng Nghiệp cho biết Sứ thần Nguyễn Quang Hiển trở về nước, kể lại tỷ mỷ về lễ chiêm cận tại kinh khuyết, được ban ân sủng nhiều lần, nên cũng mong được đến kinh đô chúc mừng để bộc lộ tấm lòng thành khẩn; hiện đang soạn biểu tiến cống, tạ ơn. Riêng viên Bồi thần Nguyễn Hoằng Khuông đến kinh đô trước mùa hoa đăng, cùng với các Phiên vương, Sứ thần dự yến tiệc. Trong số Sứ thần các nước, có Tiêm La trước đây gây sự đánh nhau với An Nam, sợ Thiên tử hỏi về việc này, bèn gửi thư cho Bồi thần lệnh cứ sự thực trần tấu vv..’

Tôn Vĩnh Thanh lại đem thư của Quốc vương gửi Nguyễn Hoằng Khuông tiến trình, duyệt thư xong Trẫm rất vui vì thấy tấm lòng thành thực của Quốc vương thể hiện ở chỗ cảm khích vui mừng được phong tước và mấy lần được ban ân. Lời Quốc vương gửi cho Bồi thần dặn nhất thiết cứ sự thực trần tấu, khiến Trẫm rất hài lòng. Quốc vương liên tiếp sai Bồi thần dâng biểu tiến cống, trên đường đi về không ngớt, tháng 3 năm nay lại đích thân đến kinh khuyết, bộc lộ tấm lòng thành khẩn chúc mừng, đủ chứng tỏ dốc lòng nhận giáo hóa, ân cần phụng thờ nước lớn.

 Nhân viên Bồi thần Nguyễn Hoằng Khuông đến kinh đô, gặp dịp ban yến tiệc đầu năm cho Sứ thần ngoại phiên; trong đó có Sứ thần nước Tiêm La đã từng đánh nhau với An Nam. Sợ viên Sứ nước này dùng miệng lưỡi xảo trá nói xấu, nên ra lệnh bọn Nguyễn Hoằng Khuông rằng nếu có bị hỏi về việc đánh nhau, thì cứ trình bày thực; điều này thấy được tấm lòng ngay thẳng của Quốc vương cư xử như tình cha con trong nhà, cẩn thận tin kính. Tuy nhiên lúc Trẫm ban yến cho các ngoại Phiên, thì Sứ thần vạn quốc đều quây quần triều hội; như các nước Triều Tiên, Lưu Cầu, Tiêm La, Khuếch Nhĩ Khách vv.. không nước nào là không được mời, cùng hưởng chung ân trạch. Sứ thần Tiêm La và Sứ thần Quốc vương tuy cùng triều hội, nhưng điển lệ nghiêm túc hòa mục, không thể có lời qua tiếng lại được. Huống các ngoại phiên bộ lạc được che chở bởi Thiên tử sáng suốt, đều xem là thuộc quốc. Trẫm từ trước đến nay phủ ngự trong ngoài đều chung một lòng nhân, nên các Bồi thần không dám đem việc riêng tư làm phiền tai Thiên tử! Trong khung cảnh này, Sứ thần Tiêm La và Sứ thần nước ngươi đều quên chuyện cũ coi là vô sự; thể chế của Thiên triều cũng chưa từng hỏi thêm về việc riêng của các nước.

Cũng trong thư Quốc vương gửi Nguyễn Hoằng Khuông, xưng rằng mẹ 80 tuổi khí huyết suy hao, muốn được loại nhân sâm hảo hạng để cung dưỡng; lệnh Nguyễn Hoằng Khuông đến kinh đô mua, rồi tìm cách gửi về. Nghĩ rằng Quốc vương mùa xuân năm nay đến kinh đô chúc mừng, đường xa vạn dặm, tạm thời lỗi đạo định tỉnh thần hôn [sớm tối hầu hạ cha mẹ], nên cẩn thận ra lệnh Bồi thần mua nhân sâm để cung dưỡng; rõ ý Quốc vương càng có lòng thành chiêm cận bao nhiêu, càng tha thiết với đạo thần hôn bấy nhiêu, thực trung hiếu vẹn toàn đáng khen lao. Nay đặc cách ban cho một cân nhân sâm, để thân mẫu ngươi tuổi cao bổ ích. Nếu giao cho bọn Nguyễn Hoằng Khuông mang về, sợ trước khi Quốc vương khởi hành chưa tới kịp. Đặc biệt gửi treo dịch trạm, giao cho Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh sai Ủy viên đưa đến trấn Nam Quan chuyển cho Trấn mục, sớm giao Quốc vương nhận lãnh, ngõ hầu thân mẫu sớm được an ủi vui lòng. Quốc vương nên thừa dịp mùa xuân khí hậu ấm áp ôn hòa, đi thong thả đến chiêm cận, để thừa hưởng đặc cách ban ơn. Lại trước đây Quốc vương dâng biểu cảm tạ về việc được ban bao sen Triều Châu, tình từ thành khẩn; Trẫm đã châu phê đáp lại và giao cho Nguyễn Hoằng Khuông đưa về, nay lại báo thêm vào đây để Quốc vương sớm biết được tấm lòng ưu đãi, các ngoại phiên ít ai được như vậy. Quốc vương kính cẩn nhận sự khen lao, vững lòng trung nghĩa, để ngưỡng vọng sự chiếu cố ân sủng. Khâm tai! Đặc dụ!” (Cao Tông Thực Lục quyển 1347, trang 2-5)

Qua chỉ dụ trước, Vua Càn Long dự định gặp phái bộ Lê Bá Đang đến dâng biểu tạ ơn lúc nhà Vua đi thị sát tại tỉnh Sơn Đông. Nhưng phái bộ rời ải Nam Quan vào hạ tuần tháng giêng [5/3-15/3/1790]; nhà Vua định đến Sơn Đông vào ngày 8 tháng 2 [23/3/1790]; nên cận ngày không thể đến kịp. Bởi vậy nhà Vua lại quyết định gặp phái bộ tại kinh đô:

Ngày 23 tháng Giêng năm Càn Long thứ 55 [8/3/1790]. Dụ các Quân Cơ Đại thần: Trước đây theo lời tâu của Tôn Vĩnh Thanh rằng:

 “Nguyễn Quang Bình được ban quốc ấn và phụng nhận thơ ngự chế lần thứ hai, bèn dâng biểu tạ ơn và sai Cống sứ trình tiến cống vật, ước lượng vào hạ tuần tháng Giêng đến quan ải vv..”.

Đã có chỉ dụ cho bọn Cống sứ khởi hành. Vào ngày 8 tháng 2 Trẫm ngự xe loan tuần hạnh Sơn Đông; nếu bọn Cống sứ vào hạ tuần tháng giêng đến quan ải, rồi từ Quảng Tây đến kinh đô thì cần phải có đủ thời gian. Nay truyền lệnh cho Tôn Vĩnh Thanh hãy tính toán nhật kỳ, bố trí cho các Cống sứ được chiêm cận tại một trong các nơi trú tất của Trẫm như Thái An, Khúc Phụ, hoặcTuyền Lâm. Nếu không thể đến kịp theo kỳ hạn; thì hãy đợi lúc Trẫm hồi loan, sẽ cho các Cống sứ chiêm cận tại kinh đô cũng được….” (Cao Tông Thực Lục quyển 1347, trang 12-13)

Về việc Vua Quang Trung gửi thư cho Sứ thần Nguyễn Hoằng Khuông nhờ mua sâm cho mẹ, Vua Càn Long biết được việc này tặng 1 cân nhân sâm. Riêng Tổng đốc Phúc Khang An cũng nhận được báo cáo; riêng gửi tặng 4 lạng nhân sâm, qua đường Lạng Sơn:

Ngày 6 tháng 2 năm Càn Long thứ 55 [21/3/1790]. Dụ các Quân Cơ Đại thần: Theo lời tấu của Phúc Khang An ngày hôm qua rằng:

 “Thang Hùng Nghiệp đưa thư Nguyễn Quang Bình gửi cho Cống sứ Nguyễn Hoằng Khuông ra kiểm duyệt; đây là theo tiền lệ mà làm. Nhân việc kiểm duyệt thư, Phúc Khang An biết Nguyễn Quang Bình sai Cống sứ mua nhân sâm cho mẹ, nên không tiện làm ngơ, bèn gói 4 lạng nhân sâm kèm thiếp gửi, bảo Thang Hùng Nghiệp sai Ủy viên chuyển qua Lạng Sơn.”

Việc liệu biện rất tốt! Từ trước tới nay các ngoại phiên gửi thư tín đến quan ải, thông lệ viên Đại thần quản hạt mở ra kiểm duyệt. Nay Thang Hùng Nghiệp trú đóng tại đó, thấy thư của Nguyễn Quang Bình gửi cho Bồi thần, bèn không câu nệ chiếu lệ kiểm duyệt, rồi đem nguyên thư gửi cho Phúc Khang An để chuyển tấu; việc làm rất đúng cách. Còn Nguyễn Quang Bình có mẹ già khí huyết đã suy hao, muốn tìm nhân sâm tốt để phụng dưỡng, nhưng không dám trực tiếp nói ra. Chắc y tiên liệu rằng thư tín gửi đi phải qua thủ tục kiểm duyệt, do đó sự mong muốn sẽ được đạo đạt lên để được ân thưởng; dụng tâm của Nguyễn Quang Bình thực khôn khéo! Phúc Khang An bèn cấp 4 lạng nhân sâm, khiến viên Quốc vương tin rằng sức khỏe của mẹ nhờ vào thuốc tốt, nên có thể an tâm để đến kinh đô chiêm cận. Tuy rằng việc làm của Phúc Khang An hợp ý Trẫm, nhưng nhân sâm là vật quí trong nước; khi Tôn Vĩnh Thanh tâu về việc này, Trẫm đã gia ân cấp một cân, Phúc Khang An lại cấp 4 lạng; việc làm giống như muốn là được thỏa mãn liền, không một chút tiết chế; sợ y sẽ coi đây là việc tầm thường, không cân nhắc được sự khinh trọng. Phúc Khang An không thể không lưu ý Nguyễn Quang Bình rằng nhân sâm là vật không dễ kiếm, và đây là Thiên triều ngoại lệ ban cho, khiến y càng kiên định tấm lòng thành hướng xin cải hóa. Nay ban đạo dụ này để hiểu rõ.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1348, trang 13-14)

Ngoài việc ban nhân sâm, nhà Thanh còn tìm mọi cách o bế Vua Quang Trung. Lúc Thành Lâm lúc đi sứ sang nước ta, được lệnh quan sát y phục cách ăn mặc, rồi tâu rằng Vua Quang Trung dùng dây đai màu hồng. Vua Càn Long dự định lúc gặp ở kinh đô sẽ ban cho dây đai màu vàng, chứng tỏ ưu ái hơn:

Ngày 11 tháng Giêng năm Càn Long thứ 55 [24/2/1790]. Lại dụ: Cứ lời diện tấu của Thành Lâm về những đồ y phục, mũ, đai áo của Nguyễn Quang Bình ưa dùng; đã ra lệnh theo kiểu chế tạo, đợi lúc đến kinh đô ban cấp. Riêng đai áo Quốc vương dùng trong nước thuộc loại da màu hồng, nay được ban thưởng màu vàng để chứng tỏ sự ưu đãi. Phúc Khang An chờ sau khi viên Quốc vương đến quan ải, nói với y rằng:

 “Lần này đến kinh đô chúc thọ; đại Hoàng đế chờ lúc Quốc vương đến triều kiến, đặc biệt ban cho đai vàng. Theo thể chế của Thiên triều thì các Tôn thất Phiên thần mới được đặc biệt đeo loại đai này, Nay Quốc vương được đặc biệt ưu đãi, các Phiên bang thân cận cũng khó thấy được vinh dự như vậy! Khi Quốc vương đến kinh đô cứ dùng đai màu hồng, đợi lúc đến kinh đô diện kiến, đại Hoàng đế ra ân ban thưởng cho đổi đai áo mới.”

 Hãy dụ một cách rõ ràng cặn kẽ như vậy, Nguyễn Quang Bình cảm thấy sự ngoại lệ ban ơn sẽ gia tăng không ngớt.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1346, trang 22-23)

Vào tháng 6 năm ngoái [3/8/1789] do phát giác việc Phúc Khang An mua gỗ lậu nên bị phạt cắt tiền dưỡng liêm. Nay gần đến ngày Vua Quang Trung sang chiêm bái; cần Phúc Khang An đưa đón, nên Vua Càn Long tỏ ra ưu ái, tái cấp tiền dưỡng liêm cho y:

“Ngày 22 tháng 2 năm Càn Long thứ 55 [6/4/1790]. Phúc Khang An trước đây can án mua lậu gỗ, bị phạt phải nạp trả lại tiền bổng dưỡng liêm. Phúc Khang An chịu ơn sâu, không nỡ phạt nặng để đến nỗi quá túng thiếu, phải hạch sách thuộc viên. Hơn nữa lần này đưa Nguyễn Quang Bình đến kinh đô chiêm cận, dọc đường phí tổn và phải sắm đồ cần dùng quá nhiều, nay gia ân thưởng cấp tiền dưỡng liêm năm nay 8000 lượng bạc, do ngân khố Quảng Đông chi cấp để tỏ lòng thể tuất… (Cao Tông Thực Lục quyển 1349. trang 14-15)

Vì phái bộ Lê Bá Đang đến muộn, không kịp để đón Vua Càn Long tại Sơn Đông, nên nhà Vua đổi ý cho gặp tại kinh đô. Nhưng cuối cùng lại bắt kịp, đón đoàn ngựa xe của Vua tại Thiên Tân [phía đông Bắc Kinh], bèn làm lễ chiêm bái bên vệ đường:

Ngày 7 tháng 4 năm Càn Long thứ 55 [20/5/1790]. Thiên tử ruổi ngựa đến miếu Hải thần, thuộc phủ thành Thiên Tân làm lễ. Bọn Sứ thần An Nam Lê Bá Đang chiêm cận tại vệ đường.” (Cao Tông Thực Lục quyển1352, trang 10)

Cũng tại Thiên Tân, phái bộ Lê Bá Đang được ban yến tiệc, nhận sắc dụ Vua Càn Long gửi cho Vua Quang Trung, rồi trở về nước:

Ngày 8 tháng 4 năm Càn Long thứ 55 [21/5/1790]. Thiên tử ban tiệc cho Bồi thần nước An Nam cùng Vương, Công, Đại thần tháp tùng; lại ban sắc dụ cho Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình như sau:

“Ngươi đem lòng thành hướng hóa, khuynh tâm nội thuộc; gắng gỏi dốc lòng cung kính, mấy lần biện đầy đủ lễ nghi tiến cống. Lòng thành khẩn đáng khen, văn từ lại hoa lệ. Nay nhân Trẫm ban cho thơ Ngự chế, lại được gộp kỳ cống năm Kỷ Dậu [1789] làm lễ cống năm tới; bèn dâng biểu sai sứ đến tạ ơn, cùng tiến cống phương vật. Gặp tiết xuân, Trẫm đi tuần thú hành lễ tại núi Đại Tông [Sơn Đông], Khuyết Lý [Khúc Phụ, Sơn Đông]; trên đường về Sứ giả nước ngươi vui mừng chờ đón để chiêm bái nơi hành tại. Bấy giờ xe loan qua nơi bến nước mênh mông, thuyền bè san sát; bèn ban sắc dụ này làm kỷ niệm văn chương, lại mở yến tiệc cùng chung hoan hỷ; khiến Sứ giả được chiêm ngưỡng cảnh trời biển bao la, nơi hành cung chỉnh túc. Hôm nay Sứ thần trở về nước, đặc cách ban cho Vương gấm vóc các loại, để làm nổi bật sự ưu đãi. Quốc vương nặng tình đến chúc thọ, hiện đang chọn ngày tốt để khởi hành; nỗi vui mừng được gặp nhau sẽ không xa, lại được hưởng ân không ngớt. Nay chiếu chỉ ban truyền, hãy cúi đầu nhận mệnh. Đặc dụ!” (Cao Tông Thực Lục quyển 1352, trang 13-14)

Vua Càn Long có phần nể Lê Quýnh lưu ly bôn ba mà không đổi khí tiết; nên tháng trước khuyên Phúc Khang An ôn tồn hỏi han xem ý hướng như thế nào, rồi tâu lên. Sau đó nhà Vua đem sự việc hỏi Tôn Sĩ Nghị thì viên này chê bai Lê Quýnh bụng dạ thâm độc, muốn gây hấn với nhà Tây Sơn để mưu lợi cho bản thân. Càn Long nghe lời bèn sai áp giải Quýnh, cấp tốc đưa  tới kinh đô:

Ngày 3 tháng Giêng năm Càn Long thứ 55 [16/2/1790]. Lại dụ: Trước đây đã có dụ rằng Lê Quýnh thờ họ Lê không vì thịnh suy mà theo hoặc bỏ, chút lòng cũng đáng tha thứ, nên đã giáng chỉ lệnh Phúc Khang An nên bình tâm hỏi han xem ý hướng của y như thế nào; cùng sai Phái viên đưa bọn Lê Quýnh 4 người đến kinh đô để xem xét định liệu. Lại ra lệnh Tôn Sĩ Nghị xét xem Lê Quýnh có nói quá sự thực hay không, rồi tâu trình rõ ràng. Nay theo lời Tôn Sĩ Nghị phúc tấu:

 “Lê Quýnh trong buổi đầu thì huênh hoang đến nhàm tai, khi nhờ việc thì tạ bệnh từ chối, dùng phép công để báo oán, bụng dạ thực hiểm trá. Mới đây thấy Nguyễn Quang Bình qui thuận Thiên triều cai trị đất An Nam, y hết đường trốn tránh bèn chạy vào nội địa; giả bộ xưng nặng lòng với chủ cũ, mượn danh trung nghĩa, hy vọng Thiên triều cất quân. Thâm ý cho rằng Lê Duy Kỳ nhu nhược không có khả năng, nếu được phục quốc thì cũng coi như bù nhìn, để y mặc sức thao túng, mang lợi cho bản thân. Bởi vậy trước mặt Phúc Khang An không thể không tự khoe là nghĩa sĩ cựu thần của nhà Lê, tình nguyện ra sức phục quốc, Lạng Sơn, Kinh Bắc [Bắc Ninh, Bắc Giang] các xứ có đến 3,4 vạn quân tụ tập. Nói khoe khoang để mong sinh sự gây hấn, mồm miệng giảo hoạt khéo léo không còn chỗ nói.”

Phúc Khang An, Tôn Vĩnh Thanh sau khi nhận được chỉ dụ trước, tất đã sai phái viên giải bọn này về kinh đô. Nay dụ Quân Cơ Đại thần gửi trát cho các phái viên, dọc đường phải hết sức cẩn thận quản lý áp giải, cấp tốc đưa bọn này tới kinh đô.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1346, trang 10-11)

Vua Càn Long và Phúc Khang An chủ trương phân biệt đối xử, chia số cựu thần nhà Lê theo Lê Quýnh vào tỉnh Quảng Tây làm hai; nhóm 4 người không chịu cạo đầu dóc tóc theo phong tục Mãn Thanh, trong đó có Lê Quýnh; sai quan quân võ trang áp giải đến kinh đô. Nhóm Đoàn Vượng 29 người; cho định cư tại các tỉnh Chiết Giang, Tứ Xuyên hoặc Quảng Tây:

Ngày 8 tháng Giêng năm Càn Long thứ 55 [21/2/1790]. Dụ các Quân Cơ Đại thần: Theo lời tâu của Phúc Khang An thì bọn Đoàn Vượng 29 người đi theo Lê Quýnh vào quan ải một lượt, đang được cạo đầu đổi y phục, định chọn địa phương tại Khánh Viễn [Quảng Tây] cho an sáp. Đã giáng chỉ dụ xuống Phúc Khang An đem bọn Đoàn Vượng đến các tỉnh Giang Nam (1) như Chiết Giang, Tứ Xuyên giao Tổng đốc, Tuần phủ cho nhập ngũ hưởng lương và dựa vào cơ chế này để ràng buộc. Lúc này chắc Phúc Khang An đã nhận được chỉ dụ; nhưng cụ thể về việc phân chia bọn Đoàn Vượng đến các tỉnh Giang Nam, cùng lúc nào khởi hành thì vẫn chưa được các viên Tổng đốc, Tuần phủ phúc tấu.

Còn Lê Quýnh, trước mặt Phúc Khang An xưng là cựu thần nhà Lê, tình nguyện ra sức phục thù; khoa trương thực lực hiện có 3,4 vạn binh tụ tập, gây hấn sinh sự; lại rêu rao rằng ‘Đợi Nguyễn Quang Bình đến kinh đô, sẽ xin đại binh đem họ Lê trở về’ với thâm ý mong một ngày Lê Duy Kỳ phục quốc, y sẽ ra tay mưu đồ riêng lợi cho bản thân. Tâm tư tên này thực hiểm trá! Đã truyền dụ cho Phúc Khang An sai người đưa Lê Quýnh cùng đồng đảng là bọn Lý Bình Đạo ba người đến kinh đô, nhưng vẫn chưa nhận được tờ tấu về ngày khởi hành.

Nay lại giáng chỉ dụ cho Phúc Khang An, Tôn Vĩnh Thanh hãy phúc tấu rõ ràng tình tiết về việc đem bọn Đoàn Vượng 29 người và Lê Quýnh 4 người đi. Lại nói thêm Lê Quýnh là tên giảo hoạt, không thể không tăng sự phòng bị; ra lệnh các Tổng đốc, Tuần phủ khi bọn Lê Quýnh được giải qua địa phương, cần phái các nhân viên võ trang có khả năng quản thúc nghiêm nhặt và mau chóng giải về kinh. Nếu dọc đường có sự chậm trễ sai sót thì các viên Tổng đốc, Tuần phủ không gánh hết tội. Đem dụ này truyền theo độ khẩn 500 dặm [1 ngày] để các nơi liên hệ hay biết.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1346, trang 17-19)

Về số phận 376 người theo Cựu Hoàng Lê Chiêu Thông đến Trung Quốc, được an bài như sau. Vua Càn Long ra lệnh đem gia đình thân thích cùng các quan thân cận Cựu Hoàng khoảng  80 hộ đến kinh đô, biên chế thành một Tá lãnh; sai chuẩn bị chỗ ở tại kinh đô. Số còn lại chia ra cho định cư tại các tỉnh Chiết Giang, Tứ Xuyên hoặc Quảng Tây:

Ngày 9 tháng Giêng năm Càn Long thứ 55 [22/2/1790]. Dụ các Quân Cơ Đại thần: Trước đây đã giáng chỉ ra lệnh Lê Duy Kỳ cùng thuộc hạ đến kinh đô gia nhập Hán quân, biên chế thành một Tá lãnh, sau đó Phúc Khang An tra rõ bọn Lê Duy Kỳ bị an sáp tại tỉnh Quảng Tây, tổng cộng nam nữ lớn nhỏ gồm 376 người, đợi đến mùa xuân trước khi Nguyễn Quang Bình đến quan ải sẽ đưa đến kinh đô.

Trẫm cho rằng nhân số quá nhiều, ra lệnh bọn Phúc Khang An phân biệt khoảng hơn 100 người đủ để biên chế thành một Tá lãnh, cho về kinh nhập ngũ. Số còn lại gửi đến các tỉnh Giang Nam như Chiết Giang, Tứ Xuyên đặt dưới quyền Tổng đốc, Tuần phủ cho nhập ngũ ăn lương. Những chỉ dụ này chắc bọn Phúc Khang An đã nhận được; nhưng vẫn chưa nhận được phúc tấu về phương thức phân biệt lựa chọn và số người sẽ đưa về kinh đô.

Hiện nay đã vào tiết xuân, bọn Lê Duy Kỳ chắc đã được chia ra để đến kinh đô, việc chuẩn bị phòng ốc chỗ ở cần phải lo liệu. Nếu đợi đến lúc bản tâu của Phúc Khang An tới nơi mới bắt đầu chuẩn bị, thì không khỏi chậm lỡ. Hiện đã giáng chỉ chọn chỗ đất trống nơi kinh thành xây dựng phòng ốc; tra rõ bộ phận Hán Quân Bát Kỳ tương đối ít, đưa bọn Lê Duy Kỳ biên chế vào; lại chọn một quan Đại thần quản lý đơn vị này, để lo ràng buộc ước thúc. Xét ra nhân số các Tá Lãnh khoảng một hai trăm người; nếu đem tất cả bọn này nhập chung một đơn vị thì không khỏi quá nhiều. Nay truyền dụ bọn Phúc Khang An lại phân biệt một lần nữa, đem thân thích của Lê Duy Kỳ cùng những người làm quan, ước khoảng trong vòng 80 hộ đến kinh đô; những hộ còn lại vẫn tuân theo chỉ dụ trước, đưa đến các tỉnh Giang Nam như Chiết Giang, Tứ Xuyên hoặc tại Quảng Tây; cho an sáp nhập ngũ ăn lương để từ từ trở thành thường dân, cũng không phải là không được. Bọn chúng đã cạo đầu, thay y phục, nên không lo việc bỏ trốn. Nếu có những kẻ không yên với bổn phận, gây chuyện bỏ trốn thì chẳng khó, cứ bắt tội một cách đích đáng.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1346, trang 19-21)

Qua văn bản trước Tổng đốc Phúc Khang An tâu 376 người theo Cựu Hoàng Lê Chiêu Thông đến Trung Quốc, nay lại đổi số lượng là 372 người. Trong số này có 169 người, gồm thân thuộc Cựu Hoàng và bọn quan lại như Đinh Nhạ Hành, Phan Khải Đức, Nguyễn Đình Phái, Phan Mãnh Hiền, được đem đến kinh đô Bắc Kinh biên chế thành  một tá lãnh. Số còn lại 203 người, bèn đem đi định cư tại các tỉnh:  

Ngày 5 tháng 2 năm Càn Long thứ 55 [20/3/1790]. Tổng đốc Lưỡng Quảng Công tước Phúc Khang An tâu rằng:

 “Đã sưu tra bọn Lê Duy Kỳ bị an sáp tại các phủ thuộc tỉnh Quảng Tây gồm 372 người, tuân chỉ hạch hỏi kỹ lưỡng, xếp bọn Lê Duy Kỳ, Lê Duy An vào một nhóm gồm 61 người; bọn Đinh Nhạ Hành, Phan Khải Đức, Nguyễn Đình Phái, Phan Mãnh Hiền gồm 108 người, chia làm 3 nhóm; tất cả đều được giải đưa về kinh đô. Ngoài ra bọn Bế Nguyễn Cung, Hoàng Đình Cầu, Nguyễn Hiền, Nguyễn Đình Kiến, Hoàng Đức Đặng, Lê Duẫn Tuấn, Bế Nguyễn Ngoạn, Đoàn Vượng gồm 203 người, đem an trí tại các tỉnh thuộc Giang Nam.”

Nếu những nhóm người này được lưu giữ tại Quảng Tây, tỉnh này sát nách An Nam, lâu ngày sẽ xẩy ra chuyện; nên đưa toàn số giải đi chổ khác và cho vào biên chế quản lý. Lại tra xét số lượng giải về kinh, trừ những người nổi tiếng, kỳ dư những tên khác đều là anh em thân tộc, có thể chia ra vài chục hộ, biên chế thành một Tá lãnh. Hiện số phòng ốc xây dựng tại kinh thành đủ để trú ngụ. Nay thông báo để hiểu rõ.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1348, trang 12-13)

Sau khi nhận lệnh của Vua Càn Long không muốn cho đám cựu thần nhà Lê định cư tại tỉnh tại tỉnh Quảng Tây, sợ gần biên giới gây sự lôi thôi; Tuần phủ Quảng Tây sắp xếp đưa đến các tỉnh Giang Nam, Chiết Giang, Tứ Xuyên:

Ngày 15 tháng 2 năm Càn Long thứ 55 [30/3/1790]. Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh tâu:

 ‘Hiện đã phân nhóm bọn Lê Duy Kỳ để đưa về kinh đô; lại tuân chiếu chỉ trước, cùng với Tổng đốc Phúc Khang An xem xét cẩn thận, chia những người và hộ còn lại như sau: Bọn Bế Nguyễn Cung 71 người, phát vãng Giang Nam [Giang Tô, An Huy] ; Bọn Hoàng Đức Đặng 68 người, phát vãng Chiết Giang; bọn Bế Nguyễn Ngoạn, Đoàn Vượng 63 người, phát vãng Tứ Xuyên.

Nay thông báo để cùng biết.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1349, trang 28-29)

Tại miền Nam vào ngày Kỷ Sửu tháng 3 [22/4/1790], Nguyễn Vương sai đắp thành Gia Định; thành này do Kỹ sư người Âu vẽ kiểu. Vương thấy thành cũ ở thôn Tân Khai [Sài Gòn] chật hẹp, bèn mở rộng thêm. Ban dụ rằng:

Vương công giữ nước, tất phải đặt nơi hiểm yếu trước. Nay đất Gia Định mới thu phục, cần sửa thành trì cho bền vững để chỗ ở được vững mạnh”.

 Bấy giờ mới huy động quân dân để khởi đắp, Thành đắp theo kiểu bát quái, mở 8 cửa, ở giữa là cung điện, bên tả dựng nhà Thái miếu, phía sau miếu là kho tàng, bên hữu đặt cục chế tạo, chung quanh là nhà tranh cho quân túc vệ ở. Giữa sân dựng kỳ đài ba tầng, trên làm tòa vọng đẩu (2), có nóc là vọng lâu, 8 cạnh, ban ngày kéo cờ, ban đêm thì kéo đèn làm hiệu lệnh cho các quân. Thành xây xong, gọi tên là kinh thành Gia Định, thưởng cho quân dân có công hơn 7.000 quan tiền. Tám cửa thành đều xây bằng đá ong, phía nam là cửa Càn Nguyên và cửa Ly Minh, phía bắc là cửa Khôn Hậu và cửa Khảm Hiểm, phía đông là cửa Chấn Hanh và cửa Cấn Chỉ, phía tây là cửa Tôn Thuận và cửa Đoài Duyệt. Ngang dọc có 8 đường, đông sang tây dài 131 trượng 2 thước [524.8 mét] (3), nam sang bắc cũng thế, cao 13 thước [5.2 mét], chân dầy 7 trượng 5 thước [30 mét]. Phía ngoài thành là hào, hào rộng 10 trượng 5 thước [42mét], sâu 14 [5.6] thước, có cầu treo bắc ngang. Chu vi ngoài thành là 794 trượng [3,176 mét]. ở ngoài là đường phố chợ búa, dọc ngang la liệt đều có thứ tự. Hai bên đường quan đều trồng cây, gọi là đường thiên lý.

 

Chú thích:

1.Giang Nam: Các tỉnh phía nam sông Dương Tử gồm toàn bộ 4 tỉnh Chiết Giang, Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Nam; phía nam các tỉnh Giang Tô, An Huy; phía đông bắc các tỉnh Tứ Xuyên, Quí Châu. Riêng đời Khang Hy lại đặt địa phận tỉnh Giang Tô và An Huy thành Giang Nam.

2.Vọng đẩu: Đài có lan can hình như cái đấu để trông xa.

3.1trượng=4 mét; 1thước=0.4 mét.

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này