
Hồ Bạch Thảo
Vào tháng 9 [19/10-16/11/1789], Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An tâu rằng em Cựu hoàng Lê Chiêu Thống là Lê Duy Chi tụ tập dân thiểu số nỗi dậy tại Cao Bằng. Vua Càn Long cho rằng cuộc nỗi dậy sẽ thất bại, nên dặn Khang An nếu Duy Chi thế cùng xin tá túc, hãy theo lệ Hoàng Công Toản trước kia, chấp thuận. Lại tiên liệu Vua Quang Trung có thể xin đem Duy Chi về nước, căn dặn Phúc Khang An viện lẽ tổ tiên họ Lê xưng thần đã lâu, đáng lưu Duy Chi lại nội địa, để được cùng an sáp như anh của y:
“Ngày 22 tháng 9 năm Càn Long thứ 54 [9/11/1789]. Lại dụ rằng: Phúc Khang An tâu:
‘Em của Lê Duy Kỳ là Lê Duy Chi ẩn náu tại vùng Bảo Lạc nước An Nam, cùng với Hoàng Văn Thông tụ tập dân Thổ, công phá vùng Mục Mã, bị thủ hạ của Nguyễn Quang Bình đánh bại.’
Sau khi anh y đến quan ải, Lê Duy Chi cùng khốn trốn tránh không có đường về; vận họ Lê đổi dời, toàn nước An Nam vào tay Nguyễn Quang Bình. Lê Duy Chi là con thứ thuộc dòng nhà Lê, nếu sức có thể mưu đồ cùng Nguyễn Quang Bình tương tranh, thì cũng hợp tình lý. Nhưng Nguyễn Quang Bình đã được phong tước, thanh thế ắt phải gia tăng. Lê Duy Chi muốn thu thập thần dân cũ, mưu đồ khôi phục, xét về thời thế không thể làm được. Còn Nguyễn Quang Bình muốn trừ hậu hoạn sẽ tung quân bốn phương để tầm nã Lê Duy Chi, sự việc sẽ xẩy ra như vậy. Nếu như Lê Duy Chi, nhân bị Nguyễn Quang Bình đánh bại, đến xin tị nạn tại nội địa, thì cũng được cùng an trí với Lê Duy Kỳ. Trước đây Hoàng Công Toản (1) với tư cách là một Di mục xin đầu thuận, cũng được thu nạp, há có lý nào không dung nạp con cháu Tôn thất nhà Lê.
Nếu trong tương lai Lê Duy Chi không xin vào nội địa thì thôi; trường hợp Lê Duy Chi xin vào tá túc; Nguyễn Quang Bình có bẩm xin được thưởng cho đem trở về nước, thì Phúc Khang An hãy dụ rằng:
‘Lê Duy Kỳ là kẻ nhu nhược không có khả năng, chạy trốn để mất nước; tuy nhiên họ Lê đã được phong làm Phiên thần hơn 100 năm nay, tuy có gây hấn với Quốc vương, nhưng không có tội với Thiên triều. Nay Lê Duy Chi thế cùng đến đầu thuận, nghĩ đến việc tổ tiên xưng thần đã lâu, đáng lưu lại nội địa để được cùng an sáp với anh của y. Đại Hoàng đế phủ ngự nhân dân trong ngoài nước, hết sức công chính, cùng đối xử chung một lòng nhân. Hiện nay Quốc vương hối lỗi, có lòng thành đầu thuận, được ban cho tước hiệu. Há lại đem người họ Lê kia bị trời ghét, để phù trì một lần nữa ư! Nay Quốc vương được cai trị cả nước An Nam, lại muốn đem cho cháu họ Lê ra để tru lục tất cả, nên Trẫm không nỡ cho đi.” … (Cao Tông Thực Lục quyển 1339, trang 15-16)
Tổng Đốc Phúc Khang An tâu việc Tri Điền Châu Sầm Nghi Đống tử trận, con trai là Sầm Dục thuộc hàng thứ, nên chờ người cháu đích tôn là Sầm Dụ Khải trưởng thành, sẽ cho cho thế tập (2). Theo ý Vua Càn Long, cứ cho Sầm Dục thế tập; nếu làm việc tốt đến đời sau, con y và Sầm Dụ Khải đều được thế tập:
“Ngày 13 tháng 10 năm Càn Long thứ 54 [29/11/1789]. Dụ: Cứ lời tâu của Phúc Khang An:
‘Đã điều tra rõ viên Tri châu Thổ Điền Châu Sầm Nghi Đống bị giặc vây vào ngày mồng 5 tháng Giêng năm nay [30/1/1789], thực bị thương trận vong, xin chiếu chỉ ban cho bộ, để nghị định việc thưởng tuất.’
Lại nêu việc thế tập tại Điền Châu như sau:
‘Con của Sầm Nghi Đống là Sầm Dục, thuộc hàng thứ, theo lệ không phù hợp để thế tập; xin tạm cho thi hành Hiệp lý [tạm xử lý công việc] đợi cháu đích tôn của y là Sầm Dụ Khải trưởng thành lại cho thế tập.’
Sầm Nghi Đống là viên Thổ tù được thế tập nơi biên giới, hiểu rõ đại nghĩa, lúc quan binh đánh An Nam bèn mang quân trợ chiến, lại ruổi ngựa giết giặc, lâm trận liều thân, tình thực đáng thương. Trước đây nỗ lực công vụ, được viên Tổng đốc Lý Thị Nghiêu tâu rõ, bèn thưởng mũ đỉnh đái hàng tứ phẩm; nay giao bộ theo lệ ra nghị định thưởng tuất theo hàng tứ phẩm.
Về chức vụ Tri châu Thổ Điền Châu; căn cứ sự điều tra rõ ràng của Phúc Khang An, người con thứ tư là Sầm Dục bản tính thuần lương, vậy cũng không nên câu nệ đích, thứ; hãy ra lệnh Sầm Dục thừa tập, quản lý mọi việc trong châu. Nhưng Tri châu chỉ thuộc vào hàng ngũ phẩm, nay Sầm Nghi Đống gắng sức phấn đấu lại bị trận vong nên Sầm Dục cũng được gia ân đội mũ đỉnh đái hàng tứ phẩm. Sau khi Sầm Dục thừa tập, nếu quả thực có thể kế thừa gia thanh, trước sau cần mẫn ra sức; tương lai khi đến lượt con y thừa tập cũng được thu dụng; bất quá chia đất ra để ban chức và vẫn được lãnh Tri châu đỉnh đái, để tỏ lòng ưu tuất bề tôi cần lao, cùng được đối xử chung một lòng nhân.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1340, trang 15-16)
Ngày mồng 1 tháng 8 [19/9/1789] ;Thành Lâm viên quan người Mãn Châu, mang sắc phong, cùng thơ Ngự chế từ Quảng Tây khởi hành đến An Nam. Sau khi đến nơi được đón tiếp trọng thể. Y cho biết Vua Quang Trung nghe tin, bèn dừng việc đôn đốc xây thành tại Nghệ An, đi ra Bắc ngay; nhưng chẳng may giữa đường bị bệnh, đợi thuyên giảm sẽ đến nghênh đón tại thành Thăng Long:
“Ngày 17 tháng 10 năm Càn Long thứ 54 [3/12/1789]. Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh tâu:
‘Cứ theo lời bọn Thành Lâm bẩm xưng rằng vào ngày 23 tháng 9 [10/11/1789] đến địa phương Gia Quất [xã Gia Quất, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh]; Nguyễn Quang Bình sai con là Quang Thùy, cùng quan viên hơn một trăm người, cung kính dâng tờ trình của Nguyễn Quang Bình. Nội dụng xưng rằng vào tháng 8 đang lo việc xây thành tại Nghĩa An [Nghệ An] (3), thì tiếp nhận được tin biết rằng đã được phong chức An Nam Quốc vương, bèn đình chỉ việc xây thành rồi khởi hành ngay. Đi đến huyện Đông Thành [Nghệ An], chẳng may bị bệnh, phải tạm lưu lại để điều trị, đợi ngày thuyên giảm sẽ đến thành nhà Lê, kính cẩn nghênh đón ân mệnh. Thành Lâm lại bẩm xưng rằng sau khi ra khỏi quan ải, Nguyễn Quang Bình sai quan văn là bọn Lê Xuân Tài, đốc suất 500 vệ sĩ hộ tống nghi trượng long đình rất nghiêm túc, sáng chiều hành lễ hết sức cung kính.’
Dụ Quân Cơ Đại thần: Nguyễn Quang Bình được tin Thiên triều cho người mang sắc thư cùng thơ Ngự chế đến tuyên phong, bèn cho đình hoãn việc xây thành, đến thành nhà Lê gấp để dự bị làm lễ cung nghênh, sự hân hoan cảm khích phát ra tự tấm lòng thành. Hiện nay nhân vướng bệnh chưa khỏi, trên đường đi phải tạm dừng để điều trị, bèn sai con nhỏ cùng Bồi thần đến nghênh đón, lại bẩm xin triển hạn ngày thụ phong. Điều này do thực tình, không cần trách cứ việc dời ngày. Kể từ khi Thành Lâm bẩm xưng đến nay đã đến hai tuần [20 ngày]; bệnh tình Nguyễn Quang Bình chắc đã thuyên giảm, ắt phải đến thành nhà Lê gấp, chọn ngày tốt để thụ phong. Nay truyền dụ cho Tôn Vĩnh Thanh đợi khi Thành Lâm bẩm báo tiếp về việc ngày nào Nguyễn Quang Bình đến thành nhà Lê, ngày nào làm lễ tuyên phong, hãy phúc tấu gấp.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1341, trang 1-2)
Mười ngày sau Vua Càn Long nhận được lời tâu của Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh báo tin bệnh tình Vua Quang Trung đã thuyên giảm, tiếp tục cuộc hành trình và có thể làm lễ nhận sắc phong trước ngày 20 tháng 10 [6/12/1789]. Vua Càn Long sai Tôn Vĩnh Thanh gửi lời ủy lạo Vua Quang Trung cùng tặng quà:
“Ngày 27 tháng 10 năm Càn Long thứ 54 [13/12/1789]. Dụ Quân Cơ Đại thần: Tôn Vĩnh Thanh tâu:
‘Nhận được tờ biểu của Thành Lâm xưng rằng bệnh của Nguyễn Quang Bình đã thuyên giảm, bắt đầu khởi hành từ Nghĩa An [Nghệ An] vào ngày mồng 3 tháng 10 [19/11/1789] để đến thành nhà Lê và có thể tới nơi vào khoảng giữa tháng. Thành Lâm định chọn giờ tốt trước ngày 20 để hành lễ; lại xưng rằng bọn Ngô Văn Sở xin năm sau được tháp tùng Nguyễn Quang Bình cùng đến kinh đô, để chúc thọ.’
Sự liệu biện rất tốt! Nguyễn Quang Bình nghe tin Thiên triều sai viên chức cung kính mang sắc thư, cùng thơ Ngự chế đến tuyên phong, bèn đình chỉ việc xây thành, đi gấp đến thành nhà Lê. Nhân dọc đường bị bệnh, tạm dừng tại Nghĩa An [Nghệ An]. Nay bệnh của viên Quốc vương đã thuyên giảm, bèn báo cho Thành Lâm biết đã khởi hành vào ngày mồng 3 tháng 10, lúc này chắc đã đến thành nhà Lê và hoàn thành lễ tuyên phong; Trẫm rất vui mừng.
Nay truyền dụ cho Tôn Vĩnh Thanh báo cho viên Quốc vương hay rằng:
‘Quốc vương nghe tin Thiên triều sai người đến sắc phong, bèn lập tức khởi trình đến thành nhà Lê, dọc đường chẳng may bị bệnh nhẹ, tạm lưu tại Nghĩa An [Nghệ An] để điều trị. Nay bệnh tình đã thuyên giảm, Quốc vương trình tấu xác nhận rằng đang trên đường đi tiếp. Bản Bộ viện đem sự tình tâu lên, Đại Hoàng đế hết sức khen lao và ủy lạo rất nhiều, đặc ân ban cho một mâm san hô Triều Châu, một đôi Ngự dụng đại hà bao, hai đôi tiểu hà bao; ghi nhận sự vui mừng và chúc bệnh tình thuyên giảm. Lại truyền thêm rằng nước của Quốc vương mới lập, mọi việc cần phải sửa sang liệu lý; nghe rằng Ngô Văn Sở là bầy tôi đắc lực, nếu năm sau cùng với Quốc vương đến kinh khuyết, thì trong nước không có người trông coi, đối với quốc sự có phần quan hệ. Ngô Văn Sở nặng tình muốn chiêm cận, thì không ngại đợi kỳ tới khi Quốc vương chúc thọ trở về, nhân lễ cống kỳ sau hãy ra lệnh cho Ngô Văn Sở đến kinh khuyết để toại tấm lòng thành chiêm ngưỡng. Đây là đặc cách ban ơn của Đại Hoàng đế, có nhiều bề thể tuất, ra lệnh cho Bản Bộ viện truyền cho Quốc vương. Hãy dốc một lòng ngưỡng vọng, để mãi mãi được hưởng ân điển.’…” (Cao Tông Thực Lục quyển 1341, trang16-18)
Thành Lâm cho biết lễ tuyên phong cử hành vào ngày 15 tháng 10 [1/12/1789], sau đó Vua Quang Trung sai bọn Bồi thần Nguyễn Hoằng Khuông tháp tùng Thành Lâm đến triều Thanh làm lễ tạ ơn:
“Ngày 3 tháng Một năm Càn Long thứ 54 [19/12/1789]. Lại dụ: Tôn Vĩnh Thanh tâu:
‘Theo lời bẩm của Thành Lâm: Nguyễn Quang Bình đến thành nhà Lê vào ngày 14 tháng 10 [30/11/1789], chọn giờ tốt vào ngày 15 làm lễ tuyên phong. Nguyễn Quang Bình hoan hỷ cảm động phát ra tự tấm lòng thành, định vào tháng 3 năm sau đến kinh khuyết làm lễ chúc thọ.’ Trước đó sai Bồi thần tháp tùng Thành Lâm đến quan ải để làm lễ tiến cống, tạ ơn. Hiện cho Bồi thần tạm dừng tại vùng Thái bình, Nam Ninh; đợi nhận chỉ dụ tuân hành. Còn những cống vật tiến cống theo niên lệ, thì chiếu theo lệ cũ cho phái viên hộ tống đến kinh sư vv….’
Nguyễn Quang Bình kính cẩn nhận tước phong được làm Phiên thần, sự hoan hỷ cảm khích trong thâm tâm biểu lộ ở lòng chí thành, bèn trình tiến cống vật để tạ ơn; đáng ban thưởng cho thu nhận. Những Bồi thần sai đi, hiện cùng Thành Lâm đến quan ải. Nay truyền lệnh cho Phúc Khang An và Tôn Vĩnh Thanh lập tức sai Ủy viên hộ tống đến kinh gấp. Như cuối năm đến nơi, có thể cùng Sứ thần các nước Ba Lặc Bố [thuộc Tây Tạng], Tiêm La dự lễ lớn đầu năm, để toại tấm lòng thành chiêm ngưỡng. Nếu như tính toán hành trình đi nhanh không kịp, thì nên đến kinh đô vào dịp hoa đăng, ngõ hầu cùng các ngoại phiên Mông Cổ dự yến, được ban thưởng thêm, ngưỡng gội ơn mưa móc. Các Bồi thần mang đồ tiến cống, cũng được đi cùng Cống sứ dâng biểu tạ ơn, để đến kinh đô cùng một lượt.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1342, trang 6)
Vua Quang Trung sai bồi thần theo Thành Lâm sang nhà Thanh cống tạ ơn, lại hứa tháng 3 năm sau làm lễ chiêm bái; Vua Càn Long bằng lòng và cho tính vào kỳ cống lần sau, lại có thơ Ngự chế ban cho:
“Ngày 4 tháng Một năm Càn Long thứ 54 [20/12/1789]. Lại dụ: Cứ theo lời Tôn Vĩnh Thanh tâu:
‘Sau khi Thành Lâm đến thành nhà Lê, chọn giờ tốt vào ngày 15 tháng 10 [1/12/1789] tuyên đọc chiếu chỉ, phong Nguyễn Quang Bình chức An Nam Quốc vương. Viên Quốc vương kính cẩn nhận ân mệnh, niềm cảm xúc vui mừng biểu lộ bởi lòng chí thành; định vào tháng 3 năm sau đích thân đến kinh đô cung chúc vạn thọ. Hiện cung kính sai Bồi thần dâng biểu văn, cung tiến lễ cống phẩm tạ ơn, lại riêng một lễ theo lệ cống hàng năm.’
Nguyễn Quang Bình kính cẩn nhận tước phong, đứng vào hàng Phiên thần; nhờ ân sủng được cai trị nước An Nam. Tấm lòng đội ơn kính sợ thể hiện bởi lòng chí thành, tình nguyện đến kinh khuyết tạ ân và chúc thọ; ngoài lệ cống hàng năm, lại còn tiến dâng thêm cống phẩm tạ ơn, thực cung kính thuận thảo đáng khen!
Nhưng nghĩ rằng viên Quốc vương buổi đầu mới lập quốc, dâng hai lễ cống một lượt, không khỏi hao phí tài lực. Nay cống phẩm đã đưa đến quan ải, nếu không ban thưởng cho thu nhận tất cả, thì sợ trở ngại đến tấm lòng thành cầu xin giáo hóa; nay gia ân đem lễ cống năm nay làm lễ cống kỳ tới, để tỏ lòng thưởng tuất.
Nay viên Quốc vương đã được phong tước là thần tử của Thiên triều, khác với bọn Bồi thần. Năm sau đến kinh đô chiêm cận, các Tổng đốc, Tuần phủ gặp gỡ, nên theo lễ tân chủ đãi nhau. Các nghi thức tiếp kiến, nay giao cho Đại Học sĩ cùng bộ lễ bàn bạc kỹ, tâu lên rồi ban cho nước nầy tuân hành; lại thưởng bài thơ luật, để tỏ lòng Trẫm ngoại lệ ưu đãi nước văn hiến.
Thơ Ngự chế như sau:
Phu ý quân thần sự bất nan,
Thành truân na tạ thiết minh đàn.
Lai triều Bắc khuyết thân nhi cận,
Phất dị Nam bang y dữ quan.
Ban tiếp chư Vương lân nhạn liệt,
Diên khai bát nguyệt hưởng kê hàn.
Hiền phiên cống khổn thù thị ngự,
Kỷ thực liêu bằng tín sử khan. (Cao Tông Thực Lục quyển 1342, trang 10-11)
Dịch Nghĩa:
Duy trì lòng tin giữa vua tôi cũng không khó,
Do bởi thành thực, đâu cần dựa vào việc lập đàn thề thốt.
Đường đến Bắc khuyết tuy xa xôi, nhưng nhờ tình thân nên cảm thấy gần,
[Phong tục vẫn duy trì] không thay đổi y phục mũ áo của nước Nam.
Trong ngày hội cùng các Vương ngồi cạnh nhau thứ tự như bầy chim nhạn,
Khai yến vào tháng tám, thưởng thức món gà lạnh.
Lòng thành hiền Phiên đến tiến cống, không chỉ riêng việc hầu hạ Thiên tử,
Mà còn được ghi lại làm bằng, để được xem qua sử sách.
(Cao Tông Thực Lục quyển 1342, trang 10-11)
Tạm dịch thơ:
Thủ tín, vua tôi chẳng khó khăn,
Thành tâm, nào phải lập thề đàn.
Xa xôi Bắc khuyết thân nên ngắn,
Chẳng bỏ tục Nam đổi y quan.
Lớp lớp Vương, Công đua yến nhạn.
Tiệc mừng tháng tám món kê hàn.
Chẳng riêng tiến cống chầu Thiên tử,
Thực lục, sử truyền vạn thế xem.
Bọn Bồi thần An Nam đến quan ải vào ngày17 tháng 10 [3/12/1789], Tuần vũ Tôn Vĩnh Thanh bảo tạm nán lại tại Quảng Tây để chờ lệnh Vua Càn Long. Do nhận lệnh tương đối trễ, nên đám bồi thần phải đi gấp trong vòng 50 ngày để đến Bắc Kinh, kịp dự lễ vào ngày tết Nguyên Đán [14/2/1790]:
“Ngày 4 tháng một năm Càn Long thứ 54 [20/12/1789]. Dụ các Quân Cơ Đại thần: Hôm qua Tôn Vĩnh Thanh tâu “Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình sai bọn Bồi thần tiến dâng biểu tạ ơn cùng lễ cống theo lệ hàng năm, đã đến quan ải vào ngày 17 tháng 10 [3/12/1789].”
Tính ra đến cuối năm còn hơn 70 ngày, nếu như Tôn Vĩnh Thanh sai người hộ tống đi ngay, xét theo hành trình còn có thể kịp. Nhưng viên Tuần phủ ra lệnh cho bọn Bồi thần dừng đợi tại vùng Thái Bình; Nam Ninh, để cung kính đợi chỉ dụ mới thi hành. Tôn Vĩnh Thanh không nên câu nệ hồ đồ như vậy! Hôm qua đã gửi chỉ dụ khẩn cấp truyền theo độ khẩn 600 dặm [1 ngày], ước tính có thể nhận được vào ngoài mồng 10 tháng này [26/12/1789]; vào lúc đó nếu viên Tuần phủ lo liệu cho đi ngay, tính ra đến cuối năm còn khoảng 50 ngày, nếu đi nhanh thì có thể đến đúng lúc. Trong chỉ dụ báo cho bọn họ biết rằng, nếu như cuối năm đến kinh đô, thì có thể cùng với Sứ thần Ba Lặc Bố [thuộc Tây Tạng], Tiêm La dự lễ lớn tại triều nhân dịp tết Nguyên Đán [14/2/1790]. Bọn Bồi thần là Sứ giả ngoại phiên, được tham dự lễ nghi triều hội, hân hoan chiêm ngưỡng quang cảnh bình sinh chưa hề được thấy, tất sẽ hăng hái đi nhanh; tuy hành trình gấp rút cũng vui vẻ tuân theo. Nếu thực sự trong năm không thể đến kịp, thì cũng không nên miễn cưỡng, hãy đến kinh đô vào dịp hoa đăng, có thể cùng dự yến tiệc với ngoại phiên Mông Cổ. Nếu chậm, đến sau dịp hoa đăng, mùa yến tiệc đã qua, chẳng lẽ chỉ riêng có Bồi thần An Nam lại cử hành yến hội; viên Tuần phủ nên sớm tính toán chuyện đó.
Nay lại truyền dụ cho Tôn Vĩnh Thanh, hãy thông tri cho Ủy viên hộ tống đi nhanh, báo tin cho các địa phương đi qua; chuẩn bị phu, ngựa sẵn sàng đi gấp, để đến kịp trong năm. Nếu đi nhanh mà không kịp thì có thể đến kinh đô vào mùa hoa đăng, đừng để chậm trễ lỡ việc. Còn những nhân viên trước kia hộ tống Nguyễn Quang Hiển như Phó tướng Ðức Khắc Tinh Ngạch, Đạo viên Thanh Hùng Nghiệp; lo liệu công việc dọc đường tương đối ổn thỏa. Vả lại chức vụ của hai viên này bị khuyết tại nhiệm sở đã có người thay; lần này giao bọn họ hộ tống các Cống sứ đến kinh đô, ắt mọi việc đã quen, không cần phải giao cho người khác, để khỏi phải rắc rối sinh sự. Nay đem dụ này truyền khẩn cấp 600 dặm [1 ngày] ; để tiếp tục hiểu dụ Tôn Vĩnh Thanh cùng Phúc Khang An.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1342, trang 12-13)
Nhân em Cựu hoàng Lê Chiêu Thống là Lê Duy Chi vẫn còn ẩn náu tại Cao Bằng, Vua Càn Long e ngại bọn này giả mạo tên tuổi Cựu hoàng để tiếp tục hoạt động. Nên quyết định đem Cựu hoàng và bộ hạ đến kinh đô, xa cách vùng biên giới, cho nhập ngũ dưới cờ Hán quân; để phía Tây Sơn khỏi có sự nghi ngại:
“Ngày 8 tháng Một năm Càn Long thứ 54 [24/12/1789]. Dụ Quân Cơ Đại thần: Phúc Khang An tâu:
‘Lê Duy Chi ẩn náu tại vùng Bảo Lạc nước An Nam, bị Nguyễn Quang Bình đánh tan bèn chạy trốn; từ một tháng nay chưa do thám ra tung tích. Nếu như y đến biên giới xin đầu thuận, đáng được cùng an sáp với Lê Duy Kỳ.’
Lê Duy Chi là con thứ thuộc dòng dõi nhà Lê tại An Nam, vẫn còn tụ tập bè đảng để tranh hấn với Nguyễn Quang Bình, chuyện này để ra ngoài không xét đến. Nhân lo về việc Lê Duy Kỳ đã từng là Quốc vương, hiện an sáp tại tỉnh thành Quế Lâm, chổ này còn gần với An Nam, sợ bọn bầy tôi xưa giả mạo tên tuổi y để gây sự; nhân đó Nguyễn Quang Bình còn giữ mối nghi hoặc. Vả lại Lê Duy Kỳ vốn nhu nhược thiếu khả năng, không thể tự chấn tác được, chạy đến xin tá túc tại nội địa; vốn không có tội lớn, nay đối xử như người dân bình thường, thì không hợp với chủ trương ‘Phục hưng nước bị diệt, nối dòng bị đứt’. Vậy nên đem tất cả bộ hạ của Lê Duy Kỳ đến kinh đô, cho nhập ngũ dưới cờ Hán quân (4), biên chế thành một tá lãnh (5), để Lê Duy Kỳ đời đời làm Tá lãnh. Một khi Lê Duy Kỳ được tập ấm quan chức, thuộc hạ làm việc có lương tiền sinh sống, bọn họ sẽ vui vẻ tuân theo.
Nay truyền lệnh cho Phúc Khang An hãy hạch hỏi kỹ lưỡng các phủ huyện, đem bọn Lê Duy Kỳ cùng thuộc hạ bị an sáp tống về kinh đô, biên chế vào Hán quân, để biểu thị lòng thương xót thể tuất của Trẫm. Việc Lê Duy Kỳ cùng khốn xin đầu thuận rồi được đưa về kinh đô, khiến Nguyễn Quang Bình nghe được tin toàn bộ thuộc hạ nhà Lê bị đưa về kinh, không còn để lại hậu hoạn cho họ, thì sẽ gia tăng cảm khích. Nay truyền dụ này để hiểu rõ.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1342, trang 20-21)
Sau khi đem Cựu hoàng Lê Chiêu Thống và đám thuộc hạ về kinh đô, Vua Càn Long căn dặn Phúc Khang An đem sự việc báo cho Vua Quang Trung hay để lấy lòng, bởi triều Thanh sắp xếp yên ỗn mọi việc:
“Ngày 10 tháng Một năm Càn Long thứ 54 [26/12/1789]. Nay truyền dụ bọn Phúc Khang An nhân lúc thuận tiện dụ viên Quốc vương này hay rằng:
“Lê Duy Kỳ tuy hèn yếu không thể chấn tác, bỏ ấn tín chạy vào nội địa; nhưng họ hàng thần dân còn mang tâm chống đối; nghe tin Lê Duy Kỳ vẫn còn trú tại Quế Lâm, không khỏi mưu tính mượn danh, để tụ tập phiến động. Lúc nầy về chính danh, Quốc vương đã được Thiên triều phong tước để cai trị con dân, nên không sợ về sự quấy nhiễu này; tuy nhiên nước mới lập, trong giai đoạn ngắn ngủi chưa có thể êm ấm mọi bề, nên không khỏi mệt nhọc để trù hoạch. Nay đại Hoàng đế tăng thêm lòng thể tuất, sợ Lê Duy Kỳ cư trú tại Quế Lâm, họ hàng thuộc hạ của y dựa vào tên tuổi để sinh việc, bèn đặc biệt cho Lê Duy Kỳ cùng thuộc hạ hiện cư trú tại tỉnh Quảng Tây di chuyển đến kinh đô sung quân, biên chế vào Bát Kỳ, Lê Duy Kỳ được ban chức Tá lãnh.
“Còn Lê Duy Chi hiện còn tại Cao Bằng tụ tập gây hấn, đến lúc thế cùng lực kiệt xin đầu thuận nội địa, thì cũng đáng theo lệ Lê Duy Kỳ, cho về kinh đô an trí. Quốc vương cai trị toàn lãnh thổ An Nam, vĩnh viễn không còn hậu hoạn. Đây là sự đặc biệt ban ân của đại Hoàng đế, không có điều nhỏ nhặt nào mà không nghĩ tới nơi. Quốc vương hãy dốc hết lòng thành, ngưỡng vọng ơn mưa móc.’
Dụ một cách tường tận như vậy, Nguyễn Quang Bình sẽ hết sức cảm khích hoan hỷ, kiên định tấm lòng thành hướng hóa.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1342, trang 23-24)
Sau đó Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh tâu rằng các Đầu mục dân tộc thiểu số họ Bế và họ Nùng từng theo Lê Duy Chi đã bị quân Tây Sơn đánh bắt, chạy trốn, hoặc đầu hàng; riêng Lê Duy Chi không biết tung tích nơi nào:
“Ngày 16 tháng Một năm Càn Long thứ 54 [1/1/1790]. Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh tâu rằng:
Qua sự do thám, được tin Đốc trấn Mục Mã nước An Nam đem quân đến vùng Bảo Lạc, Na Lữ thuộc Cao Bằng, bắt được viên Đầu mục cũ của Lê Duy Kỳ tên là Bế Nguyễn Hào. Lại nghe rằng chú cháu anh em của hai cựu Đầu Mục thuộc họ Bế và Nùng hoặc đã đầu hàng hoặc chạy trốn. Xét hai xứ Mục Mã, Bảo Lạc đều thuộc địa phương Cao Bằng; trước đây nghe rằng em Lê Duy Kỳ là Lê Duy Chi cùng với Hoàng Văn Thông tụ tập đánh Mục Mã, nay đã bị viên Đốc trấn đánh tan. Những người thuộc họ Bế và Nùng đều do Lê Duy Chi chiêu tập; hiện nay Bế Nguyễn Hào bị bắt, Lê Duy Chi không biết tại nơi nào; còn những người khác thì hoặc đầu hàng, hoặc chạy trốn. Lộ Cao Bằng thuộc nước này đã dần dần yên ổn, năm sau Nguyễn Quang Bình khởi trình đến kinh đô thì không có gì đáng lo nữa.’
Nay thông tri.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1343, trang 5-6)
Thành Lâm về nước, trình bày nguyện vọng của Vua Quang Trung xin ban lịch Thời Hiến và mở cửa khẩu đường thủy và quan ải tại Quảng Tây để giao thông buôn bán. Sự việc do Tổng đốc Phúc Khang An trình lên, Vua Càn Long hoan hỷ chấp thuận cả hai điều. Riêng việc ban lịch Thời Hiến, chứng tỏ dưới thời Tây Sơn nước ta dùng lịch này; riêng chúng tôi cũng sưu tầm được bằng chứng bấy giờ lịch ta và lịch nhà Thanh giống nhau. Nhân dịp Phan Huy Ích tham dự chuyến đi của giả vương Quang Trung sang nhà Thanh, có soạn tập thơ nhan đề Tinh Sa Kỷ Hành [星槎紀行] , qua bài Xuất Quan tác giả chú thích như sau “Giờ Tỵ ngày 15 tháng 4 mở cửa ải, phụng mệnh đến làm lễ ở đài Chiêu Đức [tỉnh Lạng Sơn]” (6); Thanh Thực Lục, qua đạo dụ ngày 23 tháng 4 năm Càn Long 55 [5/6/1790] cũng ghi “Quốc vương khởi hành vào ngày 29 tháng 3 [12/5/1790]; ngày 15 tháng 4 đến cửa ải”; như vậy lịch 2 nước đều xác nhận đến quan ải vào ngày 15 tháng 4 [28/5/1790]:
“Ngày 4 tháng Chạp năm Càn Long thứ 54 [18/1/1790]. Dụ: Bọn Phúc Khang An tâu rằng Thành Lâm tuyên cáo sắc phong tại An Nam, đã trở về quan ải. Khang An gặp viên này, hỏi han cặn kẻ sự tình An Nam, rồi soạn thành tấu văn nội dung:
‘Nguyễn Quang Bình tâu rằng An Nam là nơi cùng tịch hoang vu, cầu khẩn Thiên triều ban lịch chính sóc; ngoài ra nước y sản vật nghèo nàn, lại liên miên vướng vào cảnh binh lửa, tài lực suy hao, khẩn khoản xin gia ân mở cửa khẩu đường thủy và quan ải cho buôn bán; thì tất cả sinh linh đều được hưởng lợi ích.’
Nguyễn Quang Bình đã được phong tước, đủ tư cách là Phiên thần, lòng cảm khích hoan hỷ thể hiện một cách thành thực; trước đây đã sai sứ tiến cống, lại mấy lần xin mùa xuân năm sau đến chiêm cận chúc mừng; tâm địa thực đáng khen, nên chuẩn theo lời thỉnh cầu. Nay lại cho rằng xứ Nam Giao là chốn hoang vu, xin được ban lịch chính sóc. Viên Quốc vương vừa mới lập quốc, biết sùng thượng Thiên triều, cho việc ban lịch chính sóc là cần kíp, lòng Trẫm rất vui; đương nhiên đáng ban phát ngay để được vĩnh viễn kính cẩn tuân theo thời lịch. Nhưng từ trước tới nay Sứ thần nước Triều Tiên thường đến kinh đô trước kỳ hạn; để đợi đến ngày mồng một tháng mười, kính cẩn lãnh lịch Hiến Chương [Lịch Thời Hiến, nhà Thanh]. Còn An Nam ở đất Nam Giao xa xôi, nếu hàng năm theo lệ của Triều Tiên đến kinh đô nhận lãnh, lúc trở về đã quá ngày tết Nguyên đán; thần dân nước này không được dùng lịch kịp thời, thật không đúng với đạo thể tuất nước xa xôi.
Nay dụ bộ liên hệ, cho mang lịch Hiến Chương năm Càn Long thứ 55 phát vãng, giao cho viên Tổng đốc để đưa đến ải Nam Quan, rồi ra lệnh Trấn mục nước này chuyển giao cho Quốc vương lãnh nhận. Từ nay trở về sau, bộ liên hệ chiếu theo số lượng đã ban cho Triều Tiên, kịp thời đem lịch Hiến Chương giao cho Quảng Tây, lệnh viên Tuần phủ chiếu theo lệ năm nay, đúng hạn ban cấp. Để biểu thị lòng thể tuất đối với nước này, đừng đợi họ phải sai Sứ thần đến kinh đô lãnh nhận.
Về việc mậu dịch, trước kia nước ta thông thương với An Nam; từ khi có lệnh cấm đến nay, thiếu hàng hóa từ nội địa, nhu cầu tiêu thụ của dân nước này tất bị hạn chế. Nay Quốc vương thành tâm qui thuận, được phong tước; dân nước này là con đỏ của ta, vậy đáng được mở cửa quan cho buôn bán sớm ngày nào thì dân hưởng lợi ngày đó. Huống hồ nước An Nam trải qua ngày tháng binh lửa, làng xóm tiêu điều, vật lực khó khăn, phải mở cửa buôn bán để nơi có bù nơi không, khiến dân chúng sớm được no đủ. Nay ra lệnh cho các viên Tổng đốc, Tuần phủ hãy cho mở cửa đường thủy và quan ải, để việc mậu dịch được bình thường, làm đúng theo bụng Trẫm đối xử tất cả đều chung một lòng nhân.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1344, trang 4-5)
Bấy giờ đang đánh dẹp dân thiểu số nỗi dậy tại phía nam tỉnh Hồ Nam, nên nhà Thanh dự trù chuyến đi của giả vương Quang Trung vào năm sau, phải đổi đường theo hướng Quảng Đông, Giang Tây, qua Hồ Bắc, rồi đến Nhiệt Hà. Riêng Tổng đốc Phúc Khang An tâu việc cựu thần nhà Lê Lê Quýnh “không còn chỗ để trốn tránh, thế cùng xin vào tá túc nội địa” không đúng sự thực, vì theo lời tự thuật của Lê Quýnh trong Bắc Hành Tùng Ký rằng khi ông ta tụ tập đồng đảng gần biên giới, Phúc Khang An sai người mời đến gặp. Ngoài ra Phúc Khang An tâu số thuộc hạ cựu thần Lê Chiêu Thống 376 người đến nội địa, Vua Càn Long cho rằng số lượng quá đông, chỉ để 100 người lập một tá lãnh tại kinh sư, số còn lại chia ra định cư tại các tỉnh:
“Ngày 12 tháng Chạp năm Càn Long thứ 54 [25/1/1790]. Lại dụ: Phúc Khang An tâu:
“Dự trù năm sau Nguyễn Quang Bình đến kinh đô chiêm cận, lo liệu hành trình dọc đường, dịch trạm cung đốn rất tốt. Riêng việc xin hộ tống viên Quốc vương qua Mai Lĩnh [huyện Ninh Đô, tỉnh Giang Tây], rồi đi thẳng đến hành cung tại Nhiệt Hà, thì tương đối quá sớm.”
Nguyễn Quang Bình đến kinh đô chiêm cận lần này, mang Bồi thần tương đối nhiều, từ Mai Lĩnh đến Nam Xương [Giang Tây], rồi do hướng Hồ Nam, Hồ Bắc đến kinh đô; qua một số tỉnh hành trình tương đối xa hơn; nếu giao cho một Phó tướng hoặc Tri đạo lo liệu, sợ rằng không chu toàn. Phúc Khang An nên đích thân đi cùng với viên Quốc vương qua Bảo Định tỉnh Trực Lệ, rồi đến Nhiệt Hà cũng không muộn.
Còn Lê Quýnh là cựu thần của họ Lê, thấy Nguyễn Quang Bình đã qui thuận Thiên triều cai trị nước An Nam, không còn chỗ để trốn tránh, thế cùng xin vào tá túc nội địa, lại không mang ấn tín trở về; còn mượn cớ nặng lòng với chủ cũ, muốn mưu đồ cử sự, không tiện tống ra khỏi quan ải để gây sự phiến động mê hoặc. Vả lại Nguyễn Quang Bình đã được Thiên triều phong tước, thay thế họ Lê cai trị nước Nam, Lê Quýnh vẫn còn vì họ Lê mà báo thù, gây khó khăn cho Nguyễn Quang Bình; đem tình hình hiện tại mà bàn, đáng cho an sáp tại nội địa. Nhưng bọn y lấy danh trung nghĩa, lời lẽ cương quyết cố chấp, nay Phúc Khang An cho phái viên đem bọn Lê Quýnh 4 người đến kinh đô, đợi Trẫm hỏi rõ ràng, rồi sẽ ước lượng giáng chỉ. Bọn tay chân của Lê Quýnh còn nấn ná tại trấn Nam Quan, Phúc Khang An hãy tìm cách lôi kéo, mang vào nội địa an sáp, để không còn sinh sự nữa.
Tái bút: Lê Duy Kỳ cùng những thuộc hạ của y, trước đây đã giáng chỉ đem hết về kinh, cho gia nhập vào Hán Quân, biên chế thanh một Tá Lãnh, đây thuộc loại ngoại lệ gia ân. Nay Phúc Khang An điều tra rõ, số người bị an sáp tại các phủ gồm 376 người, nhân số không khỏi quá nhiều. Theo biên chế Tá Lãnh thuộc các kỳ, nhân số chỉ vào khoảng một hai trăm người mà thôi; nếu đem tất cả bọn họ vào biên chế, thì số phòng ốc chỗ ở không đủ cung cấp; vả lại họ là những người mới, nhất thời tụ tập tại kinh sư, xét về sinh kế cũng không dễ!
Nay truyền Phúc Khang An hãy phân biệt, đem những người thân thích họ Lê cùng với những người từng giữ quan chức, ước độ hơn 100 người, đủ để biên chế thành một Tá Lãnh, cho khởi hành đến kinh đô. Kỳ dư những người khác, cùng nhóm đi theo Lê Quýnh là bọn Đoàn Uông gồm 29 người, đều đưa đi các tỉnh thuộc Giang Nam [Giang Tô, An Huy], Chiết Giang, Tứ Xuyên; dưới quyền Tổng đốc, Tuần phủ, cho nhập ngũ ăn lương, để ràng buộc dần dần trở thành dân. Còn bọn Phan Khải Đức, Đinh Nhạ Hành, Nguyễn Đình Phái trước đây được thưởng chức hàm Đô ty, Thủ bị; cứ theo lời tâu của Phúc Khang An, bọn này ngôn ngữ không rành, chưa quen công việc trong doanh ngũ, vậy nên cho đưa về kinh nhập ngũ, ước lượng cho bổ dụng vào các chức Kiêu kỵ, Hiệu úy.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1344, trang 21-23)
Phúc Khang An tâu thêm Lê Quýnh không chịu cắt tóc theo phong tục Mãn Thanh, lại muốn ra khỏi quan ải để phục thù cho họ Lê. Vua Càn Long có phần nể Lê Quýnh lưu ly bôn ba mà không đổi khí tiết; nên khuyên Phúc Khang An ôn tồn hỏi han xem ý hướng như thế nào, rồi tâu lên cặn kẽ:
“Ngày 13 tháng Chạp năm Càn Long thứ 54 [26/1/1790]. Dụ các Quân Cơ Đại thần: Hôm qua nghe lời tâu của Phúc Khang An rằng bọn Di quan Lê Quýnh đến nội địa không chịu cắt tóc, lại muốn ra khỏi quan ải để phục thù cho họ Lê, lời lẽ kiên quyết cố chấp; đã ra lệnh đem bọn Lê Quýnh bốn tên đến kinh đô, để Trẫm điều tra rõ ràng, sau mới giáng chỉ quyết định. Lê Quýnh là cựu thần của nhà Lê, năm ngoái theo mẹ và vợ của Lê Duy Kỳ vào nội địa; lại ra khỏi quan ải để trở về nước tìm Lê Duy Kỳ. Lúc Lê Duy Kỳ xuất bôn, Quýnh không theo kịp; mới đây bí mật trốn từ ải này qua ải khác để vào nội địa, không qua con đường Lạng Sơn; tức phải có tình tiết riêng. Lo thám thính tin tức về chủ cũ, lưu ly bôn ba mà không đổi khí tiết, lại khoe rằng ngoài quan ải còn tụ tập nhiều lính, ai cũng muốn đánh Nguyễn để phục thù; ý muốn Thiên triều mang binh đánh Nguyễn Quang Bình để toại chí phục hưng họ Lê. Lúc gặp Phúc Khang An trình bày việc xin mượn quân, cớ sao trong tấu điệp Phúc Khang An không nói việc này ra? Hoặc giả Lê Quýnh tự thị trung với họ Lê, lòng quá phẫn khích; lại nhân Phúc Khang An hai ba lần bác bỏ, thì lời nói và sắc mặt có vẻ giận dữ, rồi đưa ra những lời chọc tức! Phúc Khang An nhân đó không kiên nhẫn hỏi tường tận, xin an trí bọn này tại Tân Cương.
Lúc này họ Lê bị bại vong đã lâu, Nguyễn Quang Bình hết sức thành khẩn cung thuận, cai trị nước An Nam, lại được phong làm Phiên vương, không có lý nào thay đổi chủ trương. Bàn về tình hình hiện tại, chỉ có thể làm như vậy. Những lời Lê Quýnh nói, không cần bàn đến; nhưng Lê Quýnh đã từng thờ nhà Lê, không vì sự suy thịnh mà bỏ hoặc theo, tuy lời lẽ ngu muội cứng nhắc, nhưng xét tâm địa thì cũng đáng tha thứ. Phúc Khang An đối với Lê Quýnh nên bớt nóng, bình tâm hỏi han xem ý hướng của y như thế nào, rồi phúc tấu cặn kẽ. Trẫm chỉ muốn biết rõ ràng việc này, chứ không có ý gì khác. Phúc Khang An nên thể theo ý Trẫm; nay truyền đạo dụ để hiểu rõ.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1344, trang 24-26)
Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh lại tâu thêm phái bộ Nguyễn Hoằng Khuông đến triều đình tạ ơn, vì chờ đợi lệnh trên, nên khởi hành vào ngày 1 tháng 12 [15/1/1790] tại tỉnh thành Quế Lâm, chuyến đi tương đối cấp bách, trù tính đến kinh đô Bắc Kinh vào sau tết:
“Ngày 18 tháng Chạp năm Càn Long thứ 54 [1/2/1790]. Lại dụ: Tôn Vĩnh Thanh tâu:
“Viên Bồi thần nước An Nam Nguyễn Hoằng Khuông đến tỉnh thành Quế Lâm vào ngày 29 tháng 11 [14/1/1790], chiếu theo lệ khao thưởng. Ngày 1 tháng 12 [15/1/1790] từ tỉnh thành khởi hành, lại phi báo các tỉnh dọc đường dự bị ứng phó; tính nhật kỳ trước mồng 10 tháng giêng năm sau [23/2/1790] có thể đến nơi, không đến nỗi chậm trễ quá ngày đó vvv….”
Viên Cống sứ đến quan ải đã lâu, nếu cho khởi hành đi ngay thì lúc này đã đến biên giới tỉnh Trực Lệ rồi, trong năm có thể thong thả tới nơi. Nay vào ngày mồng 1 tháng 12 [15/1/1790] mới bắt đầu khởi hành tại Quế Lâm, đi thật gấp thì có thể đến kinh đô trước mùa hoa đăng. Nhưng bắt viên Bồi thần đi gấp, đường xa mệt nhọc; việc này do Tôn Vĩnh Thanh câu nệ hồ đồ, khiến cuộc hành trình bức bách; tội của Tôn Vĩnh Thanh không thể chối được….” (Cao Tông Thực Lục quyển 1345, trang 3-4)
Tại miền Nam vào tháng 10 [17/11-16/12/1789], Nguyễn Vương tổng duyệt tướng sĩ các dinh ở đồng Tập Trận [Gia Định].
Định lệ báo trộm cướp. Phàm các nhà bị mất trộm cướp phải làm đơn hai bản, quan công đường được báo giữ một bản, lưu án một bản, rồi tức thì phái lính đi truy nã, cuối tháng đều làm sớ tâu lên.
Miễn thuế ruộng cho đạo Long Xuyên [Cà Mâu], thuế thân thì cũng như dân các huyện khác.
Tha thuế thân sang năm cho dân Phú Quốc; Vua thấy xứ ấy đất hẹp dân nghèo, nên tha cho.
Tha thuế thiếu về ruộng vườn bỏ hoang trong bốn dinh; sai quan công đường khám thực làm sổ, để cho dân sở tại lấy ruộng hoang canh tác.
Tháng 11 [17/12/1789-14/1/1790], sai các quân thao diễn chiến trận; dùng Cai cơ Nguyễn Đình Đắc biết việc binh, đem trận pháp để huấn luyện cho quân sĩ.
Nước Tà Ni [biệt danh nước Java], sai sứ đến hiến sản vật địa phương và xin quân giúp đánh Xiêm La. Vương cho rằng nước ta cùng nước Xiêm tình nghĩa láng giềng ấm cúng, nên khước từ phẩm vật; nhân viết thư báo cho nước Xiêm, người Xiêm cảm tạ.
Sai dinh Trấn Biên [Biên Hòa] đặt mua đường cát, mỗi năm lấy 10 vạn cân làm hạn, cứ số đường 100 cân thì phát trước tiền công cho 10 quan. Đến ngày nộp đường cho nhà nước thì theo giá chợ mà cấp thêm, để sẵn mà đổi cho người Tây Dương lấy đồ binh khí.
Tháng 12 [15/1-13/2/1790], đắp thành đất Đồng Môn tại huyện Long Thành dinh Trấn Biên [Biên Hòa].
Bọn tù trưởng phản nghịch ở Ba Xắc [Sóc Trăng] nổi dậy, xâm phạm thành Trấn Di [huyện Long Phú, Sóc Trăng]. Trước là Ốc Nha Ốc đã bị giết, sai Già Tri Giáp giữ đất ấy, đến đây Giáp về Nam Vang, dư đảng của Ốc lại họp quân quấy rối biên thùy, Thủ bảo Tống Phước Khoa không thể chống được. Vua sai Tôn Thất Hội và Nguyễn Văn Trương đem binh thuyền đánh dẹp yên, bèn đặt một bảo lớn ở Xao Châu, ở phía bắc cửa biển Mỹ Thanh [huyện Long Phú, Sóc Trăng], phái quân đến phòng giữ, để dựa nhau cùng thành Trấn Di yểm trợ.
Ngày 17 tháng 12 [31/1/1790] Nguyễn Vương viết thư cảm ơn Hoàng đế Pháp; nội dung cho biết hiện nay đã thu phục được một phần giang sơn, nên không cần Pháp viện trợ.
Chú thích:
1.Hoàng Công Toản: là con Hoàng Công Chất, sau khi cha mất vẫn tiếp tục nổi loạn tại vùng Hưng Hóa, bị quân chúa Trịnh đánh thua, phải chạy sang Vân Nam xin tá túc.
2.Thế tập: Chức vụ được giao, theo chế độ cha truyền con nối.
3.Nghĩa An: Theo Phương Đình Địa Dư Chí đời Tây Sơn đổi trấn Nghệ An thành Nghĩa An, năm 1802 đầu triều Gia Long lấy lại tên cũ là Nghệ An.
4.Hán quân: Quân Thanh nguyên có Mãn Châu Bát Kỳ; thời Thái Tông Mông Cổ qui phụ, lập Mông Cổ Bát Kỳ; người Hán qui phụ, lập Hán quân Bát Kỳ.
5.Tá lãnh: Biên chế của quân Thanh, cứ 300 quân có một Tá lãnh chỉ huy.
- Tổng tập văn học Việt Nam(tập 8), NXB Khoa học xã hội, 2000.