
Hồ Bạch Thảo
Thực hiện cuộc hành trình chiêm bái Vua Càn Long; vào ngày 25 tháng 5 năm thứ 54 [18/6/1789] bọn Nguyễn Quang Hiển đến ải Nam Quan; được các quan văn võ nhà Thanh gồm viên Tả Giang đạo Thang Hùng Nghiệp và Phó tướng Đức Khắc Tinh Ngạch hộ tống đến hành cung Nhiệt Hà:
“Ngày 15 tháng 5 Tân Sửu Nhuần năm Càn Long thứ 54 [8/7/1789]. Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An cùng Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh tâu rằng: Bọn thần đã cẩn thận phái người đem đến trấn Nam Quan sắc thư, cùng xâu chuỗi minh châu, để đợi ban cho Nguyễn Quang Bình. Ngày 25 bọn Nguyễn Quang Hiển tới cửa quan quì xem sắc thư, kính cẩn phủ phục không ngẩng đầu lên; xưng là kẻ thân thuộc Phiên thần nước nhỏ, được đọc sắc chỉ, cảm tạ uy trời thánh đức soi xét tấm lòng thành khẩn khiếp sợ của chú là Nguyễn Quang Bình [tên Vua Quang Trung xưng với nhà Thanh], được tha tội cũ hứa cho đầu thuận, đặc cách ban cho tỷ thư (1) cùng đồ trân quí. Vạn lần vinh hạnh được đại Hoàng đế ban ân chỉ cho phép tiến kinh, nên không dám ra khỏi quan ải để trở về; đặc biệt ra lệnh bọn Bồi thần Nguyễn Hữu Điều kính cẩn đưa sắc thư cùng chỉ dụ tới Lạng Sơn, cùng sai Trấn mục xứ này hộ tống tới thành nhà Lê. Lại đích thân nhắc nhở soạn biểu tạ ơn, cùng khẩn thiết thỉnh cầu năm sau đến kinh đô chiêm cận; xem thần sắc của y, thấy sự vui mừng lộ ra nét mặt.
Hộ tống Nguyễn Quang Hiển tới kinh đô lần này, bọn thần tuân chỉ sai Thang Hùng Nghiệp coi tổng quát mọi sự, lại còn phái thêm viên võ quan cấp cao cùng lo liệu. Đã phái viên Phó tướng tỉnh Quảng Tây Đức Khắc Tinh Ngạch đến trấn Nam Quan ứng trực. Từ Nam Ninh đến trấn Nam Quan con đường sứ thần sẽ đi qua, sức cho viên Tổng binh trấn Tả Giang Phổ Nhĩ Bảo đi về tra xét….”(Cao Tông Thực Lục Quyển 1331, trang 1-2)
Bấy giờ một sự việc bất ngờ phát giác, Tổng đốc Phúc Khang An can tội buôn lậu một số lượng gỗ rất lớn. Đây là một tội nặng, nhưng Phúc Khang An đang lo thu xếp việc An Nam hàng phục, để Càn Long đạt danh hiệu Thập Toàn Võ Công, nên đành bỏ qua. Khang An biết thân phận mình, tìm mọi cách giúp Càn Long đạt được mục đích:
“Ngày 12 Ðinh Mão tháng 6 năm Càn Long thứ 54 [3/8/1789]. Dụ các viên quân cơ Đại thần: mới đây bọn A Quế cùng Tất Nguyên lần lượt tâu rằng bọn Lý Thiên Bồi cấu kết với thương thuyền chở lậu 1.950 cây gỗ, trong đó có 800 cây do Phúc Khang An nhờ mua. Không ngờ Phúc Khang An lại làm chuyện này! Y là con của Phó Hằng, thuở nhỏ được nuôi dưỡng giáo dục cẩn thận; mấy năm gần đây lại được chịu ơn; năm trước bình định Đài Loan, bắt sống hai đầu đảng xấu ác, Trẫm xét thành tích, ưu đãi ban ân; nay lại làm việc mua lậu gỗ này, thực ngoài sự liệu tính. Trẫm thưởng công phạt tội, hết sức công bằng; lần trước khi việc quân hoàn tất đã thưởng công một cách trọng hậu, thì việc giao thiệp với Lý Nguyên Bồi mua gỗ lần nầy nên trị tội nặng nề. Đáng cách trừ Công tước, áo thêu 4 con rồng chầu, hồng bảo thạch gắn ở đỉnh mũ cùng dây đai vàng, để trừng phạt. Nhưng nghĩ rằng hiện tại Nguyễn Quang Hiển dâng biểu đến đầu thuận, năm sau Nguyễn Huệ lại đích thân đến kinh chúc mừng lễ Vạn Thọ, nếu bây giờ giáng cách cùng thay đổi sắc phục của Phúc Khang An, thì nhìn ngó vào không được nghiêm túc, mà lòng kẻ di địch thêm nghi ngờ, đó là điều quan hệ. Tương lai khi Phúc Khang An tâu trình việc nầy, Trẫm sẽ ước lượng lại rồi xuống chỉ gia ân. Thực nếu không có việc Nguyễn Huệ thành khẩn qui thuận, thì tội của Phúc Khang An không thể tránh được; Trẫm trong lòng cảm thấy tự thẹn, nhưng cũng là điều may cho Phúc Khang An vậy. Nay ban dụ nầy để Phúc Khang An biết ý Trẫm, và bộ liên hệ tuân theo mà thi hành.”(Cao Tông Thực Lục quyển 1333, trang 5)
Sau khi nhận được sắc thư của Vua Càn Long, Vua Quang Trung dâng biểu hứa sẽ đến kinh đô chiêm bái chúc phúc, nhân đề cập đến việc triều đình mới lập, mọi việc chưa ổn định, chính danh định phận dựa vào việc phong tước của Thiên triều; nên Vua Càn Long phong Vua Quang Trung tước An Nam Quốc vương cùng bài thơ Ngự Chế:
“Ngày 21 Bính Tý tháng 6 năm Càn Long thứ 54 [12/8/1789]. Tổng đốc Lưỡng Quảng Công tước Phúc Khang An và Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh tâu rằng vào ngày mồng 5 tháng nầy [26/7/1789] Nguyễn Huệ sai người đến quan ải dâng biểu tạ ơn cùng cống phẩm. Đã sai mang cống phẩm trở về Lạng Sơn đợi lệnh sau; riêng hai đạo biểu văn của Nguyễn Huệ, dâng lên để xin ngự lãm. Những cống vật trình trong biểu văn, có được ban ơn thu nhận hay không, ngưỡng xin huấn thị để biện lý.
Nay dụ các quân cơ Đại thần: Trẫm xem biểu văn Nguyễn Huệ tiến dâng rất cung kính, phát xuất từ tấm lòng thành; đối với việc đến kinh đô chiêm cận chúc phúc, hết sức ân cần tha thiết. Nước này phủ dụ dân chúng dựa vào việc phong tước của Thiên triều; huống triều đình mới lập, mọi việc chưa ổn định, càng cần đến sự chính danh định phận. Làm sáng tỏ sự ân sủng của Thiên triều, là kế lâu dài để vỗ về các nước xa xôi.
Nay giáng chỉ phong Nguyễn Huệ An Nam Quốc vương, lại gửi riêng một sắc dụ để hiểu thị một cách rõ ràng. Tất cả các văn kiện tước phong cùng ấn tín, đợi Nguyễn Quang Hiển đến kinh khuyết chiêm cận, lúc trở về sẽ mang theo. Các cống vật trình tiến được thu nhận đưa về kinh, đợi Trẫm gia ân thưởng. Lại nhân Nguyễn Huệ dâng biểu tạ ân, bèn ngự chế một bài thơ rồi tự tay chấp bút viết, cùng sắc dụ để ban cho Nguyễn Huệ. Phúc Khang An hãy chọn một viên Tri phủ người Mãn Châu có khả năng đưa những văn kiện này đến An Nam, gặp mặt giao cho Nguyễn Huệ.
Dụ: Bọn Phúc Khang An tâu rằng Nguyễn Huệ tức Nguyễn Quang Bình được xá tội cũ, lại chuẩn cho qui phụ, bèn cung kính đến quan ải dâng biểu tạ ân và tiến cống, xin đến năm sau đến kinh khuyết chiêm cận, cùng dự lễ khánh thọ bát tuần của Trẫm. Hồi đầu năm, sau khi Tôn Sĩ Nghị triệt binh, Nguyễn Quang Bình biết rằng đã đắc tội với Thiên triều, hết sức hối hận và sợ hãi, đem quan binh lạc đường dẫn đến quan ải; mấy lần gõ cửa quan cầu xin nội phụ, đều bị Phúc Khang An, Tôn Sĩ Nghị khước từ. Rồi Nguyễn Quang Bình lại sai cháu ruột là Nguyễn Quang Hiển đến trấn Nam Quan thỉnh cầu đến kinh khuyết làm lễ chiêm cận, lại nhờ bọn Phúc Khang An tâu xin dùm. Trẫm nghĩ rằng An Nam là xứ hoang vu nơi góc biển, nhưng lập quốc đã lâu, sự hưng phế có liên quan đến khí vận; Lê Duy Kỳ nhu nhược buông thả nên lòng trời đã ghét họ Lê. Trẫm từ trước đến nay biện lý mọi việc, đều thuận lòng trời mà làm; Nguyễn Quang Bình đã bị thanh uy Thiên triều chấn động, thành khẩn hối tội đầu thuận, trong vài tháng liền mấy lượt đến khất hàng, lại sai cháu ruột mang biểu văn đến quan ải xin làm lễ chiêm cận, thực đã biết sợ hãi; nên xá lỗi cũ, không mang quân thảo phạt; lại ra lệnh cho Phúc Khang An phái viên Tả Giang đạo Thang Hùng Nghiệp hộ tống Nguyễn Quang Hiển đến kinh khuyết làm lễ chiêm cận. Nay theo lời tấu của bọn Phúc Khang An, nhân được Trẫm chấp nhận cho hàng phục, Nguyễn Quang Bình dâng biểu tạ ân, cùng xin được đến kinh khuyết làm lễ chiêm cận và chúc mừng thượng thọ. Duyệt biểu văn lời lẽ hết sức tha thiết, phát xuất từ lòng chí thành. Lại xưng rằng đã lập đàn cúng tế các Đề Trấn Đại thần trận vong; hiện đang chọn ngày tốt để lập miếu thờ, xin cấp phát phẩm hàm cùng thụy hiệu [tên hiệu lúc mất], tuân theo chiếu chỉ làm lễ để chuộc lỗi cũ; thái độ thực cung thuận cẩn trọng. Họ Lê đã bị trời ghét bỏ, mà Lê Duy Kỳ lại bỏ ấn tín chạy trốn, không có lý nào lại cho dựng nước. Bậc Vương giả chia đất để cai trị, nhưng không để dân bơ vơ; An Nam là một nước nhỏ, nhưng không thể không có người thống suất. Nguyễn Quang Bình mới lập quốc, khẩn cầu Thiên triều phong tước, để làm kế chiêu tập nhân dân, lời lẽ rất thành thực. Nay phong Nguyễn Quang Bình làm An Nam Quốc vương. Các ấn tín, sắc thư giao cho các nha môn theo lệ soạn đúc, đợi khi cháu y về nước, sẽ cung kính mang về. Một khi phong Nguyễn Quang Bình là Quốc vương, các đồ tiến cống được thu nhận, lại còn được gia thưởng. Trẫm chế ngự ngoại di, ân uy rõ ràng; phản thì đánh dẹp, thuận thì chiêu phủ, đại nghĩa sáng tỏ, luôn luôn thể theo lòng trời, khiến khắp bốn biển đều được hàm dưỡng giáo hóa.
Sắc dụ Nguyễn Quang Bình nước An Nam hiểu rõ:
“ Theo lời tâu của viên Hiệp Biện Đại Học sĩ Tổng đốc Lưỡng Quảng Công tước Phúc Khang An rằng ngươi dâng biểu tạ ơn, trần tình lòng thành khẩn. Trẫm duyệt đọc biểu văn, lời lẽ khẩn thiết, cầu xin năm sau đến kinh khuyết làm lễ chiêm cận cùng chúc mừng thượng thọ, thấy rõ được lòng cung kính cẩn trọng. Những cống vật mang đến, được ân thưởng cho phép thu nhận để toại nguyện lòng thành cung hiến.
Lê Duy Kỳ đất An Nam hèn yếu không có khả năng, trời đã ghét đức, nên vận nước cáo chung. Ngươi hiện đã hối tội đầu thuận, không những cầu xin khẩn thiết hai ba lần, mà lại còn sai cháu nội Nguyễn Quang Hiển dâng biểu đến cung khuyết làm lễ chiêm cận. Nay xét theo lẽ chính công đạo; bèn phế một người, để cất nhắc một người. Vốn định đợi đến năm sau khi ngươi thân hành đến chúc mừng sẽ ban thưởng tước Vương, nhưng duyệt qua lời ngươi cầu xin rằng nước mới lập, dựa vào ân sủng ban tước phong hiệu của Thiên triều để có uy vọng chế ngự nhân tâm. Xét lời xin thực tình, nên đặc giáng ân chỉ phong ngươi làm An Nam Quốc vương, theo chức năng để trấn phủ; lại tự tay viết bài thơ Ngự Chế ban cho, để làm bảo vật đời đời. Từ nay trở về sau phàm những biểu văn trình lên, hoặc những văn thư trong nước đều được phép ghi danh hiệu Quốc vương. Các ấn tín sắc thư cần thiết, hiện giao cho các nha môn soạn văn, đúc triện; đợi đến lúc cháu ngươi đến kinh đô, sẽ giao mang về. Còn các quan lớn Đề Trấn của Thiên triều lâm trận hy sinh, trong nước ngươi lập miếu phụng thờ, biểu thị lòng thành hối lỗi; việc xin cấp phẩm hàm thụy hiệu sẽ sắc cho các bộ sở quan cấp phát. Ngươi nên cẩn thận kính sợ, giữ bổn phận phiên thuộc để mãi mãi hưởng ân trạch. Nay ra đặc dụ.”
Sách phong Nguyễn Quang Bình làm An Nam Quốc vương; sách văn như sau:
“Trẫm Vương hóa nơi xa xôi, phạt tội rồi tha cho qui phục. Ngươi được phong tước, giữ phận thờ nước lớn do đạo kính trời. Xét lòng thành kẻ hoang dã, tha chuyện cũ, ơn mưa móc tưới nhuần thuộc quốc. Vui mừng vận hội mới, rạng rỡ thay ân sủng ban cho, gắng sức lo bề huấn học.
An Nam tại nơi viêm nhiệt, đất đai gồm 13 đạo phong cương. Họ Lê xưng thần với Thiên triều, hơn 100 năm (2) giữ phận triều cống. Mỗi theo Vương hóa, qui phụ Vương triều. Từ khi gặp hoạn nạn lưu ly, thân cô đến tố cáo. Bèn hưng binh phục quốc, vỗ về nước nhỏ làm sống lại dòng kế thừa. Cớ sao lại bỏ thành vứt ấn, hèn yếu chồng chất nên thất thủ; trời bèn ghét đức, phúc tộ cáo chung.
Ngươi, Nguyễn Quang Bình, dấy lên tự Tây Sơn, đất thuộc phương Nam. Với họ Lê không phải là thần dân, từ thông gia (3) biến thành thù hận. Rồi binh lửa giao tranh, cố tình cậy hiểm. Liều đánh [quân Thiên triều] lúc hoảng hốt, tuy vô tâm nhưng không dấu được lỗi lầm. Hối hận mong rửa sạch tội, thành tâm sửa đổi sai lầm. Dâng biểu kêu xin thống thiết, sứ đi về dốc một lòng thành. Cống dâng bảo vật, xin năm sau triều kiến chúc mừng. Không những nhờ ơn trên được phong tước, hiển vinh dưới ánh sân rồng; lại dựa uy danh khiến con dân hưởng ứng tụ tập. Lời trần tình đều thành thực, trưng bày rõ tấm lòng qui thuận.
Huống đấng Vương giả không kỳ thị dân, há lại câu nệ bản đồ để phân biệt. Sinh dân phải có người coi sóc, để cho yên ổn nước nhà. Nay công bố ân sủng, lấy làm bằng để trấn nhậm. Phong ngươi làm An Nam Quốc vương, ban ấn mới. Y hy! một hưng, một phế (4); Thiên tử thuận lòng trời mà làm. Không thiên vị, không sai lầm; cả nước hãy nghe lệnh.
Vương hãy đem hết lòng thành, nghiêm túc lo lắng, giữ vững cõi bờ, để con cháu nối dõi lâu dài. Đừng để họ khác khinh lờn, sớm tối cần lao, chớ cho kẻ buông thả tham lam coi việc nước. Hãy kính phụng uy trời, vĩnh viễn chịu ân điển. Khâm tai! Trẫm mệnh không thay thế!
Bài thơ Ngự Chế như sau:
Tam phiên kỳ vũ phỉ giai binh,
Tạc tuế An Nam trùng hữu chinh.
Vô nại phục Lê, Lê yếm đức,
Viên giao phong Nguyễn, Nguyễn thâu thành.
Thủ phong cương vật tư tha tộc,
Truyền tử tôn hằng phụng đại Thanh.
Hạnh mộc Thiên ân khâm cửu đạo,
Bất hoàng nhật giám lẫm trì doanh.
Tạm dịch thơ:
Ba lần dụng võ, chẳng ưa binh,
Năm ngoái An Nam lại viễn chinh.
Không thể phò Lê, Lê kém đức,
Bèn phong họ Nguyễn, Nguyễn chân thành.
Biên cương chớ để lờn ngoại tộc,
Con cháu đời đời phụng đại Thanh.
Tắm gội ơn trên bền vững gốc,
Giữ gìn thành nghiệp rạng công danh.
(Cao Tông Thực Lục quyển 1333, trang 15-21)
Phái đoàn Nguyễn Quang Hiển rời ải Nam Quan vào ngày 25 tháng 5 năm thứ 54 [18/6/1789] vào cuối tháng 7 đến chiêm bái Vua Càn Long tại thắng cảnh Quyển A, chốn hành cung tránh nóng tại Nhiệt Hà. Dịp này nhà Vua thưởng trước cho Vua Quang Trung những vật như ngọc Quan Âm, ngọc Như Ý, đoạn Kim Ty, Triều Châu vv..; riêng thưởng Nguyễn Quang Hiển các vật như ngọc La Hán, ngọc Như Ý, đoạn Kim Ty, hộp bạc:
“Ngày 24 Mậu Thân tháng 7 năm Càn Long thứ 54 [13/9/1789]. An Nam Chánh sứ Nguyễn Quang Hiển, Phó sứ Nguyễn Hữu Điều, Vũ Huy Tấn và bọn Hành nhân đến chiêm cận. Thiên tử ngự tại Quyển A Thắng Cảnh triệu vào gặp… Thiên tử ban yến, và thưởng có phân biệt.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1335, trang 17)
Tháng sau Vua Càn Long ra lệnh cho phái đoàn Nguyễn Quang Hiển trở về Bắc Kinh, nhận lãnh sắc ấn Quốc vương ban cho Vua Quang Trung, rồi cho trở về nước, không phải đợi xa giá nhà Vua hồi loan:
“Ngày 5 tháng 8 năm Càn Long thứ 54 [23/9/1789].Dụ Quân Cơ Đại thần: Cống sứ nước An Nam Nguyễn Quang Hiển, sau khi tống tiễn xa giá, được lệnh trở về kinh đô. Những sắc ấn ban cấp, giao cho bộ Lễ mang về kinh. Sau khi viên Cống sứ đến kinh đô; các Vương, Đại thần tại kinh chọn ngày tốt để ban phát. Lệnh viên Cống sứ đến điện Thái Hòa, dưới đan trì làm lễ chi lãnh. A Quế mang ấn, Kê Hoàng mang sắc, lại phái Tán Lễ lang chiếu theo lệ làm lễ; khiến bọn Cống sứ có dịp chiêm ngưỡng cung khuyết triều đình, thấy được lễ nghi nghiêm túc. Sau khi viên Cống sứ làm lễ chi lãnh xong, chỉ nên trú thêm hai ba ngày rồi ra lệnh cho Ủy viên hướng dẫn về nước, không phải đợi xa giá hồi loan.”(Cao Tông Thực Lục quyển 1336, trang 11)
Theo qui định chọn được ngày tốt, cho Nguyễn Quang Hiển làm lễ nhận lãnh sắc ấn Quốc vương của Vua Quang Trung tại điện Thái Hòa:
“Ngày 22 tháng 8 năm Càn Long thứ 54 [10/10/1789]. Mệnh các Vương và Đại thần tại kinh đô ban cho Quốc vương nước An Nam sắc ấn tại trước điện Thái Hòa. Bọn Nguyễn Quang Hiển nước An Nam làm lễ nhận lãnh theo nghi thức.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1337, trang 20)
Ngoài việc Nguyễn Quang Hiển nhận ấn tín Quốc vương tại kinh đô, Vua Càn Long lại ra lệnh cho Phúc Khang An sai viên quan gốc Mãn Châu tên Thành Lâm đến An Nam trao sắc dụ và thơ Ngự Chế cho Vua Quang Trung. Nhân dịp này, Thành Lâm được lệnh quan sát kỹ tình hình tại An Nam, thái độ Vua Quang Trung; rồi gửi tin gấp về triều theo độ khẩn 600 dặm một ngày:
“Ngày 20 tháng 8 năm Càn Long thứ 54 [8/10/1789]. Phúc Khang An tâu: “Hiện sai Thành Lâm mang sắc dụ, cùng thơ Ngự chế, vào ngày mồng 1 tháng 8 [19/9/1789] khởi hành đến An Nam.”
….Thành Lâm khởi trình, nếu ngoài quan ải chướng khí đã hết, thì khoảng sau ngày 20 đến thành nhà Lê”. Như vậy Nguyễn Quang Bình thụ phong, rồi hoàn tất biểu văn, đợi ngày tốt gửi đến trấn Nam Quan cũng phải đến hạ tuần tháng 9 mới tới. Sau khi Thành Lâm đến nơi, gặp mặt Nguyễn Quang Bình, tuyên đọc sắc dụ, ắt phải đem những tin tức như viên Quốc vương hoan hỷ ra sao, nước này có yên ổn không, vào lúc nào năm sau viên Quốc vương khởi trình, hãy chuyển tin về trước một cách rõ ràng. Tôn Vĩnh Thanh lập tức sai Ủy viên chờ sẵn tại trấn Nam Quan, đợi tờ bẩm của Thành Lâm đến, phi ngựa đưa gấp cho Tôn Vĩnh Thanh xem. Lời bẩm của Thành Lâm chỉ gửi cho Phúc Khang An, nhưng Tôn Vĩnh Thanh được mở ra xem, một mặt phong lại rồi gửi tâu đầy đủ, truyền gấp theo độ khẩn 600 dặm ; một mặt báo cho Phúc Khang An, để khỏi mất công mong đợi…”(Cao Tông Thực Lục quyển 1337, trang 12-13)
Theo sự sắp xếp giữa Tổng đốc Phúc Khang An với nhà Tây Sơn, vào mùa xuân năm Càn Long thứ 55 [1790], giả vương Quang Trung sẽ đến chiêm bái Vua Càn Long. Gọi là giả vương vì chánh sử hai nước xác nhận như vậy. Thanh Sử Cảo do quan lại nhà Thanh soạn, trong phần Liệt Truyện, Việt Nam chép như sau:
“Vào năm thứ 55 [1790], Nguyễn Quang Bình đến chúc phúc, trên đường con trai đầu Nguyễn Quang Toản được phong hàm Thế tử. Tháng 7 [10/8-8/9/1790], đến chiêm bái tại sơn trang Nhiệt Hà, xếp vào thứ bực dưới Thân vương, trên Quận vương; ban cho thơ Ngự Chế, nhận khăn dây đai, rồi về. Kỳ thực Quang Bình sai người em mạo danh đến; Quang Bình không dám đích thân đến, ngụy trá như vậy!”
(五十五年,阮光平來朝祝釐,途次封其長子阮光缵爲世子。七月,入觐熱河山莊,班次親王下、郡王上,賜御製詩章,受冠帶歸。其實光平使其弟冒名來,光平未敢親到也,其谲詐如此.)
Sử nước ta, Đại Nam Thực Lục xác nhận sự kiện nêu trên, chỉ khác một chi tiết là Vua Quang Trung dùng người cháu con cô là Phạm Công Trị đi thay:
“Giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ sai người sang chầu nước Thanh. Đầu là Huệ đã đánh bại quân Thanh, lại xưng tên là Nguyễn Quang Bình mà cầu phong với nhà Thanh. Vua Thanh cho, lại yêu cầu vào chầu. Huệ lấy người cháu gọi bằng cậu là Phạm Công Trị, nét mặt giống mình, sai đi thay, cùng đi với bọn Ngô Văn Sở và Phan Huy ích. Vua Thanh thẹn vì thua trận, nên cũng nhận cho qua, ban cho rất hậu. Huệ tự lấy làm đắc chí, càng ngông càn lắm.”
Sau khi Phúc Khang An tâu về chuyến đi sẽ khởi hành vào mùa xuân, Vua Càn Long cho rằng hơi sớm, có thể sắp xếp lại cho thuận tiện hơn:
“Ngày 26 tháng 8 năm Càn Long thứ 54 [14/10/1789]. Dụ Quân Cơ Đại thần: Năm sau Nguyễn Quang Bình thân đến kinh khuyết chúc thọ. Theo lời tâu trước đây của Phúc Khang An, thì viên Quốc vương sẽ đến quan ải trong mùa xuân, Phúc Khang An sẽ chờ tại trấn Nam Quan rồi hướng dẫn đến kinh đô. Nhưng nghĩ rằng từ Quảng Tây đến kinh đô không xa, nếu mùa xuân khởi trình sẽ đến kinh đô trong vòng tháng sáu là cùng. Lúc đó Trẫm trú tất tại Nhiệt Hà, Nguyễn Quang Bình lại phải đến sơn trang tại đó để chiêm cận. Còn lễ khánh chúc năm sau, cử hành tại kinh sư. Nguyễn Quang Bình là Quốc vương nước An Nam, người trong nước mới qui tụ, cũng không tiện rời nước lâu. Nay truyền dụ Phúc Khang An tin cho Nguyễn Quang Bình hay rằng lễ vạn thọ của đại Hoàng đế cử hành vào ngày13 tháng 8 [21/9/1790]; nếu y đến quan ải quá sớm, tới kinh đô không khỏi phải chờ đợi lâu, trong nước công việc nhiều, không có ai lo liệu. Vậy đừng ngại, có thể hoãn ngày khởi trình, chỉ cần tính toán nhật kỳ đến kinh đô vào khoảng sau ngày 20 tháng 7 [29/8/1790] để có thể cùng các Vương, Công, Đại thần, Ngoại phiên khánh chúc, xem vương hội rực rỡ huy hoàng, cung khuyết tráng lệ, ngõ hầu Nguyễn Quang Bình có thể chiêm ngưỡng quang cảnh bình sinh chưa từng được thấy, do đó càng kiên định thêm tấm lòng thành hướng hóa.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1337, trang 28-29)
Tại miền Nam vào tháng 6 [22/7-20/8/1789], Giám mục Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh từ nước Tây Dương trở về nước; đem theo 2 chiếc tàu cùng súng đạn. Khởi đầu vào tháng chạp năm Giáp Thìn [11/1-8/2/1785] Nguyễn Vương nhờ Giám mục đưa Hoàng cả sang nước Pháp cầu viện. Vua nước ấy đãi theo vương lễ, nhưng cuối cùng không thể giúp được. Giám mục cùng các thuộc hạ là Nguyễn Văn Thắng [Chaigneau] và Nguyễn Văn Chấn [Vannier] đưa Cảnh về. Cảnh từ khi vâng mệnh sang Pháp, đã được bốn năm, Vương để lòng thương nhớ, kịp được tin báo, tức thì sai Tôn Thất Hội đem binh thuyền ra cửa biển Cần Giờ đón. Về đến nơi, Vương vui mừng lắm, Thắng và Chấn đều xin ở lại giúp, đều cho chức Cai đội (5) và cho một nghìn quan tiền, Thắng, Chấn đều là tên do Vương đặt.
Bắt đầu đặt quan Điền tuấn lo việc canh nông, lấy bọn Hàn lâm chế cáo là Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tòng Chu, Hoàng Minh Khánh cộng 12 người chuyên coi việc điền tuấn, chia đi bốn dinh Phiên Trấn [Gia Định], Trấn Biên [Biên Hòa], Vĩnh Trấn [Vĩnh Long], Trấn Định [Định Tường], để khuyên bảo nông dân, cứ theo sổ đinh, từ phủ binh cho đến hạng cùng cố, đều phải gắng sức làm ruộng. Người dân nào không theo nghề làm ruộng thì sung thay chân phủ binh. Đến khi lúa chín, xét số thu hoạch, người nào cấy ruộng nước được 100 thúng thóc (mỗi thúng đong 24 bát), cấy ruộng cao được 70 thúng thóc trở lên, phủ binh thì miễn một năm tòng chinh, dân đinh thì miễn một năm dao dịch. Không kịp số ấy thì không được hưởng lệ miễn. Lại mộ dân ngoại tịch lập làm điền tốt, thuộc về quan điền tuấn, cấp cho ruộng hoang, trâu cày và điền khí, nếu không đủ thì nhà nước cho vay, sau mùa gặt thì nộp thóc để trả nợ.
Đặt đạo Kiên Đồn ở cửa sông Trà Ôn [Vĩnh Long] dinh Vĩnh Trấn, sai Tham mưu Nguyễn Ngọc Chương và Cai cơ Nguyễn Văn Thư coi giữ và kiêm thu thuế của người Hoa kiều; mỗi người mỗi năm nộp 1 đồng bạc phiên.
Tháng 7 [21/8-18/9/1789] sai cai cơ Thủy dinh Trung quân Nguyễn Công Nga mộ dân lập nậu sáp ong; mỗi người mỗi năm nộp sáp ong 10 cân, dao dịch đều miễn, thuế thân thì theo như quân hạng).
Dân cư thôn Tân Lập ở Biên Hòa có nạn cọp; Vương ra lệnh tìm cách bắt cọp, ai bắt sống thì thưởng tiền 15 quan, giết chết thì thưởng 10 quan.
Hàng tướng Phạm Văn Tham có tội bị giết. Khởi đầu Vua Quang Trung sai người tin cậy là Diệm đưa mật thư cho Tham. Diệm đến, nghe tin Tham đã đầu hàng, bèn nhân đêm lẻn vào gặp Tham. Tham được thư nói rằng : “Nay việc đã như thế, thì làm thế nào được?”. Diệm nói : “Nay dầu bị thua, nhưng không bao lâu Chúa ta hẳn trở lại, Gia Định tất lại về tay chúng ta. Tướng quân nên liệu tính đi”. Tham yên lặng hồi lâu, bèn giữ Diệm ở lại với mình. Có người mật đem việc ấy tố cáo. Vương sai Nguyễn Huỳnh Đức rủ Tham đến gặp. Đến cửa cung, vệ sĩ trói Tham đem dâng. Vương kể tội cho nghe rồi sai giết, bêu đầu cho công chúng xem, lại khuyên dụ cho các tướng sĩ mới hàng cứ yên tâm.
Đặt nhà sứ quán gồm hai tòa nhà, mỗi tòa 5 gian, lính lệ 20 người, phàm sứ giả các nước Chân Lạp, Xiêm La đến đều ở đấy.
Tháng 8 [19/9-18/10/1789], sai các quân đóng chiến thuyền lớn hơn 40 chiếc, thuyền đi biển hơn 100 chiếc, lại sai các nha văn võ cùng các quan coi giữ đạo thuộc các dinh Trấn Biên, Trấn Định và Vĩnh Trấn đi lấy ván gỗ để nộp. Các đạo Long Xuyên [Cà Mâu] đóng 10 chiếc, Kiên Giang [Rạch Giá] 3 chiếc, Trấn Giang 5 chiếc, Phú Quốc 8 chiếc.
Chú thích:
1.Tỷ thư: Thư của vua, có đóng dấu ấn tỷ; tức sắc dụ Vua Càn Long gửi Vua Quang Trung đề ngày 3 tháng 5 năm Càn Long thứ 54 [27/5/1789]
2.Sứ nhà Thanh lần đầu tiên sang sách phong nước ta vào thời Lê Huyền Tông, Cảnh Trị năm thứ 5 (1667) tính đến năm sách phong cho Quang Trung (1789), tức hơn 100 năm.
3.Nguyễn Huệ lấy Ngọc Hân Công Chúa con vua Lê.
4.Hữu hưng, hữu phế: Một người được cất nhắc tức Nguyễn Huệ, một người bị phế tức Lê Chiêu Thống.
5.Cai đội: cai đội thời xưa là sĩ quan cấp cao.