Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Vua Quang Trung [1789-1792] -Phần 3

Hồ Bạch Thảo

Sau khi Vua Quang Trung sai Nguyễn Hữu Điều và Vũ Huy Phác mang biểu văn đến Quảng Tây xin thông hiếu và sai người đem các quan binh bị bắt trở về; Vua Càn Long cảm thấy tình hình trở nên yên ỗn; nên cho Tổng đốc Phúc Khang An từ ải Nam Quan rút về trú đóng tại Nam Ninh hoặc tỉnh thành Quảng Tây. Lại chấp nhận lời xin của viên Tổng đốc này, cho phép định cư tại Trung Quốc một số bà con và quan lại cũ của Cựu hoàng Lê Chiêu Thống; cá biệt bổ dụng những người được tin cậy làm võ quan cấp thấp:

Ngày 8 tháng 4 năm Càn Long thứ 54 [2/5/1789]

Lại dụ: Nguyễn Huệ đối với quan binh còn kẹt lại, răn đe đồng bọn không được chém giết, đưa số người này tiếp tục ra khỏi quan ải; xem việc làm có vẻ cung thuận. Tương lai, nếu y sai người đến kêu ca tại cửa quan với thái độ thành khẩn, thì cũng nhân cơ hội nầy kết thúc công việc. Còn Phúc Khang An sau khi nhận sự qui thuận của bọn họ, trú tại trấn Nam Quan lâu cũng không tiện, nhưng nếu về tỉnh thành Quảng Đông thì sợ roi dài vươn không tới; ước lượng nên trú tại tỉnh thành Quế Lâm, hoặc các xứ Nam Ninh, Thái Bình  để liệu lý mọi việc cần thiết. Đợi đến mùa thu hoặc mùa đông, mọi việc ổn thỏa, tại đó cũng không có việc gì phải ứng biện, Phúc Khang An tâu lên, rồi đợi chiếu chỉ cho phép trở về nhiệm sở, lúc đó mới khởi trình về tỉnh thành Quảng Đông.

Còn Nguyễn Quốc Đống (1), Hoàng Ích Hiểu năm ngoái theo quyến thuộc của Lê Duy Kỳ sang đây, lần nầy lại theo Lê Duy Kỳ chạy trốn, rồi cùng vào quan ải, Phúc Khang An ra lệnh cho những người này cùng với Lê Duy Kỳ, được an sáp một chỗ. Lại cho những người chạy đến nội địa, được an sáp tại vùng phụ cận biên giới. Sự liệu biện rất đúng, nên thu xếp cho ổn thỏa để họ được yên chổ, không nên quá sợ tốn kém.

 Phan Khải Đức đã bị Ngô Sở [Ngô Văn Sở] móc ngoặc, nhưng kháng cự không theo, lại cùng với quan binh đi đánh dẹp, thật biết đại nghĩa, Phúc Khang An tâu xin lục dụng chức Thiên tổng Thủ Bị, ý kiến đúng.

Ba viên quan lại cũ là Nguyễn Đình Phái, Hoàng Đình Cầu, Nguyễn Đình Liên không theo giặc, mang cả nhà vào quan ải, đáng đặc biệt thương xót cũng nên bổ dụng chức Thiên tổng….” (Cao Tông Thực Lục quyển 1326, trang 13-15)

Quyết định hòa hiếu với An Nam, nên Vua Càn Long cho phép quân Quảng Đông trở về nhiệm sở cũ, cựu Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị trở về kinh đô, riêng tân Tổng đốc Phúc Khang An vẫn trú trát trong vòng tỉnh Quảng Tây để liệu biện công việc:

Ngày 10 tháng 4 năm Càn Long thứ 54 [4/5/1789] Dụ các quân cơ đại thần về việc An Nam, đã quyết định không đánh nữa, nên không cần nhiều binh để phòng thủ. Số binh Quảng Đông gồm 3000 tên, đã ra lệnh triệt hồi, không phải đóng lâu nơi chướng khí, nóng nực dễ sinh bệnh. Tôn Sĩ Nghị bị bệnh tê thấp, tuy bệnh nhưng vẫn ở tại đó lo công việc. Trước đây đã có chiếu chỉ cho về kinh, biểu thị lòng thương xót; nay Tôn Sĩ Nghị tiếp được chiếu chỉ hãy khởi hành ngay, không nên trú lâu tại đó.

 Phúc Khang An thân thể vốn cường tráng, nhưng thủy thổ tại xứ đó không quen, chỗ này lúc giao mùa giữa xuân và hè, chướng khí rất nhiều, vạn nhất nếu sinh bệnh tật, thuộc loại bất trị. Nay truyền dụ Phúc Khang An hãy tự ước lượng, hoặc dời đến địa phương Nam Ninh, Thái Bình, hoặc trở về tỉnh thành Quế Lâm liệu biện công việc; khiến thủy thổ bình hòa, dễ điều dưỡng sức khỏe, không phụ tấm lòng khoan hồng ưu đãi của Trẫm.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1326 trang 18)

Lúc này viên quan đặc trách về ngoại giao là Nguyễn Hữu Điều, túc trực nơi quan ải, liên lạc một cách mật thiết với nhà Thanh; nên Tổng đốc Phúc Khang An sai thuộc hạ Thang Hùng Nghiệp mớm lời cho Hữu Điều khuyên Vua Quang Trung nên đến quan ải dâng biểu. Vua Càn Long được tin, soạn lời hiểu dụ; chuẩn bị cho Phúc Khang An giao tiếp với Vua Quang Trung:

Ngày 14 tháng 4 năm Càn Long thứ 54 [8/5/1789]

Dụ quân cơ Đại thần: Bọn di mục An Nam Nguyễn Hữu Điều mỗi lần được gọi, liền đến nơi. Phúc Khang An bèn sai Thang Hùng Nghiệp đến cửa quan ải tiếp kiến, hỏi han cặn kẽ, bọn di mục nói năng cử chỉ hết sức cung kính; xem tình hình như vậy thấy Nguyễn Huệ đã thực tâm hối tội. Đất An Nam hiểm trở xa xôi, lại nhiều chướng lệ, không đáng để làm lớn chuyện. Hiện Phúc Khang An ra lệnh Thang Hùng Nghiệp mật dụ Nguyễn Hữu Điều báo với Nguyễn Huệ thân đến quan ải dâng biểu xin hàng. Nếu Nguyễn Huệ tuân theo, Phúc Khang An hãy trực tiếp dụ rằng:

“Ngươi là Thổ tù đất An Nam, dám kháng cự Thiên binh, giết hại các Đề Trấn viên chức lớn, tội không thể tha được. Bản Bộ Đường phụng mệnh đến đây, điều động đại binh, phân lộ đến đánh; muốn quét sạch toàn bộ đất đai của ngươi, những người kháng cự đều bị tru di tất cả. Nay nhân nhà ngươi biết sợ, gõ cửa quan cầu khẩn, vả lại những quan binh chưa về, không dám giết hại, lục tục đưa ra khỏi nước; xét ra còn có thể tha thứ. Bản Bộ Đường ngưỡng vọng đức hiếu sinh của Đại Hoàng đế sẽ tâu lên để được nghe Đại Hoàng đế chuẩn nhận lòng thành, không mang binh tiến đánh, ngoài ra còn có ban ơn…”(Cao Tông Thực Lục quyển 1327, trang 957 958)

Do việc mang binh gây hấn bị thất bại, nhưng không dám phục thù, vua Càn Long không khỏi cảm thấy ngượng ngùng với dân chúng; bèn soạn chỉ dụ dài, viện dẫn mọi lý do không nên đánh An Nam và thiết lập ngoại giao với Vua Quang Trung:

Ngày 21 Ðinh Vị tháng 4 năm Càn Long thứ 54 [15/5/1789]. Trước đây An Nam có nội chiến, Lê Duy Kỳ gõ cửa quan cầu cứu; Trẫm nghĩ nước nầy cung kính triều cống đã hơn một trăm năm, nay từ xa đến khống tố, không lẽ bỏ qua không xét đến! Nên đã ưng thuận lời xin của Tôn Sĩ Nghị, cho mang binh xuất quan tiến tiễu; Nguyễn Huệ sợ hãi bỏ chạy, trở về trốn tại Quảng Nam. Sau khi quan binh xuất quan chưa đầy một tháng, đã thu phục thành nhà Lê. Nếu thừa thắng đuổi dài, thâm nhập truy kích đến cùng thì cũng không khó; nhưng nghĩ rằng xứ đó thủy thổ nhiều chướng lệ, binh phu dễ bị nhiễm tật bệnh. Vả lại họ Lê trong mấy năm gần đây, trong nước mối loạn gây ra do nhiều nguyên nhân; Lê Duy Kỳ là kẻ khiếp nhược không có khả năng, mềm yếu buông lỏng, tả hữu lại không có người giỏi phụ tá. An Nam tuy là một nước nhỏ nơi xa xôi, nhưng lập quốc đã lâu, sự hưng phế không phải là không liên quan đến khí số; nay nước đó như vậy, xem ra lòng trời đã chán ghét họ Lê rồi. Ngay trước khi Tôn Sĩ Nghị khắc phục thành nhà Lê, Trẫm đã mấy lần giáng chỉ ra lệnh sau khi thu phục xong hãy triệt binh gấp. Nhưng Tôn Sĩ Nghị chưa thể tuân chỉ triệt binh kịp, lần lữa hơn một tháng nên Nguyễn Huệ thừa dịp tụ tập đám đông đến hỏi tội Lê Duy Kỳ. Rồi Lê Duy Kỳ khiếp nhược bỏ chạy trước, quan binh bắt đầu rút lui, các Trấn Tướng binh lính bị thương vong; cũng do lâm trận tao ngộ, vàng đá không thể phân biệt; mà bọn Hứa Thế Hanh dũng cảm liều mình, đều được ưu thưởng.

Hiện tại đáng điều các lộ đại binh, chỉnh quân hỏi tội; huống nay quốc gia toàn thịnh, lương đủ binh tinh, chổ nào Thiên binh vung qua [giáo mác] lên, mà không bình định! Một khoảnh đất Quảng Nam nhỏ bé làm sao cự nổi! Đặc biệt nghĩ đến đất An Nam thủy thổ ác liệt, chướng lệ quá nhiều, thật không đáng để tổn thất quân ta. Quân lệnh ra, các tướng lãnh, binh lính  không tranh dẫn đầu xông lên, thì bị trị tội khiếp nhược; nay phải giao chiến tại nơi chướng khí, Trẫm thực không nỡ. Như hợp binh cùng đánh, bắt sống Nguyễn Huệ, thu phục đất Quảng Nam vào bản đồ, lại phải đặt thêm quan chức, quân lính phòng thủ. Hơn nữa xứ nầy thủy thổ ác liệt không thể ở lâu, dân tình lại trí trá phản phúc vô thường; đời trước đã chia đất này thành quận huyện, rồi không bao lâu lại xẩy ra biến cố; lấy bánh xe trước đổ để làm răn, thực khó giữ được vài chục năm mà không sinh ra việc. Rồi sau khi đại quân rút lui, nếu lập một người để lo việc quốc sự, thì kẻ đó cũng không khác gì Nguyễn Huệ; như vậy chỉ lao tổn binh lực, không đáng để làm.

Trẫm thấy được tiên cơ, trong bụng sẵn thành kiến, bởi vậy lúc nhận được tờ tấu về tin chiến thắng tại thành nhà Lê, đã ra lệnh triệt binh; không đợi cho việc xẩy ra mới định kế không mang binh trở lại đánh. Trẫm lên ngôi trên năm mươi năm, lo liệu công việc chăm chỉ hàng ngày, không phải vì già nên ghét việc binh, sợ khó khăn muốn yên ổn; như trước kia bình định Chuẩn Cát Nhĩ, Hồi Bộ, Kim Xuyên, cùng bọn giặc tại Cam Túc, Đài Loan; vận trù quyết sách ngày đêm không nghỉ, ra chỉ thị kịp thời; nhờ lượng trời xanh phù hộ chứng giám, tấm lòng bất đắc dĩ phải dụng binh của Trẫm, lại không phải do thích sự nghiệp ưa bành trướng, nên đánh đâu thắng đó, mau chóng báo thành công.

Nay công việc tại An Nam, xét về thiên thời địa lợi, không đáng cực nhọc quân viễn chinh; vả lại bậc Vương giả chia đất, nhưng không chia dân, không nỡ để dân nước này lâm vào cảnh đầu tên mũi đạn; nên quyết kế không dùng binh lần nữa. Huống hồ Nguyễn Huệ đã sợ thanh uy, trong vòng một tháng ba lượt khất hàng, lại đưa những binh lính lạc đường trở về; tương lai, nếu y thành khẩn đến kinh khuyết xin ban ân, có thể xét tấm lòng thành hối tội, gia phong tước hiệu; nếu lại nghi sợ không dám đến, thì chỉ xá tội trước là cùng, không thể phong tước. Trẫm chế ngự ngoại di, ân uy rõ rệt, đại nghĩa rõ ràng ; luôn luôn thể theo đức hiếu sinh của trời, từ trước tới nay chưa có biểu hiện cùng binh độc vũ (2), thần dân trong thiên hạ đều nghe và thấy. Nay đem đầu đuôi việc An Nam, ban dụ trong ngoài, để mọi người biết rõ Trẫm ý.” (Cao Tông Thực Lục, quyển 1327, trang 15-18)

Vào đầu tháng này, phía nhà Thanh chuyển lời qua Sứ thần Nguyễn Hữu Điều ý muốn vua Quang Trung đến dâng biểu tại quan ải; nhưng vào cuối tháng phía Tây Sơn cho biết sẽ sai cháu ruột là Nguyễn Quang Hiển sang thay. Nhân dịp này, qua Nguyễn Quang Hiển Vua Càn Long muốn gửi bài Ngự chế An Nam Ký sự Văn, cho Vua Quang Trung. Bảo rằng bài văn đã được soạn lúc Tôn Sĩ Nghị mới chiếm thành Thăng Long; nội dung không muốn vĩnh viễn chiếm An Nam và duy trì chính quyền nhà Lê bất lực; qua đó mở đường hứa hẹn phong tước cho Vua Tây sơn:

Ngày 27 Quí Sửu tháng 4 năm Càn Long thứ 54 [21/5/1789]

Dụ các quân cơ Đại thần: Khi mang quân tiễu trừ tại An Nam, được tin thu phục thành nhà Lê, đã ngự chế một thiên văn chương ký sự bàn về việc nhà Lê hồi gần đây loạn lạc liên miên; hoặc giả trời đã chán đức, nên Trẫm cho xuất sư để định loạn, ban sư để để rút lui đúng lúc, không muốn thâm nhập lao tổn quân lính; đó là do Trẫm thể theo đạo trời, thấy trước sự việc. Nay sao lại thiên ngự chế văn này cho Phúc Khang An xem; ngoài ra nước An Nam vốn được khen là giỏi về văn chương, cũng có thể đưa cho Nguyễn Huệ xem để y rõ ý của Trẫm. Nay Nguyễn Huệ mấy lần cầu khẩn nội phụ, đã định không dùng binh nữa. Nhưng Nguyễn Huệ là viên Thổ tù nước An Nam, dám giết hại các quan Đề Trấn, tội rất lớn; tuy rằng y chỉ muốn hỏi tội họ Lê rồi bất ngờ lâm trận, không phân biệt quân của phe nào, mà bọn Hứa Thế Hanh thì dũng cảm phấn đấu liều thân xâm nhập đến nỗi quyên sinh! Dù vậy, cái tội của Nguyễn Huệ kháng cự Thiên binh, gây tử thương các quan Đề, Trấn; khó mà có thể tha thứ được. Nay nếu không đích thân đến kinh khuyết chịu tội, xin ơn trên; thì làm sao có thể phong tước được!

Lúc này Nguyễn Quang Hiển chắc đã đến quan ải, Phúc Khang An hãy dụ viên di mục thêm một lần nữa rằng: Nước các ngươi nội bộ gây hấn; Thiên triều nghĩ rằng họ Lê đã triều cống hơn trăm năm nay, lại từ xa đến tố cáo, nên không thể bỏ qua không giải quyết. Sau khi thu phục thành nhà Lê, phong Lê Duy Kỳ làm Quốc vương; nhưng Lê Duy Kỳ hôn nhược không có khả năng, vứt ấn bỏ chạy, khó có thể tự lập được, vậy không đáng để phù trợ. Ngay lúc thu phục thành nhà Lê, Đại Hoàng đế lo rằng Lê Duy Kỳ không thể chấn tác được, bèn ngự chế bài Ký Sự Văn nội dung bàn về lẽ phế hưng trong việc dựng nước, biết dừng đúng lúc thì không nguy hiểm, ham dùng binh là điều không may; ứng dụng những điều nầy để không trái đạo trời. Hãy ngẩng đầu lên xem, Đại Hoàng đế hành động không việc gì không thuận lòng trời; há lại lợi dụng lúc Nguyễn Huệ đến qui thuận, lưu lại không cho về, rồi đưa con người không có khả năng như Lê Duy Kỳ trở về nước! Hiện tại Lê Duy Kỳ bị an sáp tại tỉnh thành Quế Lâm, vì nghĩ rằng chỉ có một tội không có khả năng, nên không tiện trị tội tru lục; cho trợ cấp như người dân ngụ cư tại biên giới, đó là ơn cho sống thêm, chớ không có ý cho trở về nước. Ngươi cứ cho người đến ngay chỗ Lê Duy Kỳ ở để quan sát, cũng không có gì cản trở! Nói tóm lại, Thiên triều phủ ngự ngoại di, chống lại thì chinh phạt, qui thuận thì được ân sủng hiển vinh. Nếu Nguyễn Huệ không đến kinh khuyết để cầu khẩn, chỉ sai thân thuộc đến tiến cống, tuy xuất tự lòng thành cũng khó có thể thu nạp. Vì rằng Nguyễn Huệ giết hại các viên chức lớn, mang tội rất to, cho dù mang các đồ trân quí của cả nước trình hiến cũng không thể bồi thường lại 3 viên Đề Trấn trung thành báo quốc, vậy không có thể dùng nó để chuộc hết tội được.

Ngự chế An Nam Ký sự Văn như sau:

“An Nam là một nước nhỏ ở biển Nam, nhưng cũng có nhân dân, có xã tắc; tuân theo lịch Chính Sóc làm ngoại phiên đã hơn một trăm năm nay. Nước nầy gặp cảnh loạn lạc; vậy nên phục hưng nước bị diệt, nối dòng chính thống, theo lễ đáng làm, đó là thể theo đạo trời vậy. Tuy nhiên nước nầy tao loạn không phải là không có lý do. Họ Lê chiếm được thành rồi tự tiện đặt tên là thành nhà Lê, thành nầy không phải của một họ, xem các Vua chính thống làm chủ Trung Hoa thì có thể thấy vậy. Tuy lên ngôi có số mệnh, nhưng lẽ hưng vong tại người, thuận lòng trời thịnh vượng, nghịch với trời tiêu vong. Than ôi! không đáng sợ sao!

Sau khi thành nhà Lê được thu phục, cháu nối dõi nhận sắc phong; đất đai bị chiếm đã được truyền hịch bình định, hai tên họ Nguyễn (3) cùng khốn chạy trốn về Quảng Nam. Quảng Nam cách thành nhà Lê hơn hai ngàn dặm; chiến dịch nầy quan binh phải mang lương mà tiến, lập đài trạm để vận chuyển, không lấy của An Nam một khúc cây, cọng cỏ; mà nước An Nam trong cảnh hoang tàn loạn lạc, cũng không có khả năng cung cấp lương thực cho quân lính. Quan quân hơn một vạn người, nhưng dân phu lo vận lương từ các đài trạm phải dùng đến mười vạn; như vậy thực mệt nhọc cho nội địa. Giúp nước nhỏ bên ngoài, quét sạch sào huyệt để bắt kẻ xấu xa, mà phải cực nhọc quân nội địa, là điều quyết không nên làm. Vả lại đã hoàn thành việc “hưng diệt, kế tuyệt” (4), còn việc bắt số giặc trốn tránh, tự họ phải lo.

Xét thực lực quốc dân, nếu dùng để đánh Quảng Nam bắt hai tên xấu, có thừa sức làm; nhưng cân nhắc sự nặng nhẹ, biết dừng lại sẽ không gặp nguy, ham dùng binh không phải điều tốt. Vả lại An Nam là một nước nhỏ, họ Lê mấy đời gần đây ít vua có khả năng biết tự cường, họăc giả trời đã ghét đức. Một khi trời đã ghét đức mà Trẫm lại giúp, thì Trẫm chỉ dám xuất sư để định loạn, rồi ban sư để biết dừng đúng lúc, như thế mới khỏi trái đạo trời, hợp với việc làm của đạo quân Vương giả; nay làm bài ký nầy.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1327, trang 28-32)

Khi Nguyễn Quang Hiển tới Quảng Tây, dâng biểu văn của Vua Quang Trung trần tình việc bất đắc dĩ va chạm đến quân Thanh, lại xin cho Nguyễn Quang Hiển mang biểu văn đến kinh khuyết để làm lễ chiêm bái; và hứa chờ đến lúc việc nước tạm yên, cũng sẽ xin đích thân đến kinh khuyết chiêm bái. Vua Càn Long vin vào lời hứa, soạn sắc dụ gửi cho Vua Quang Trung, hẹn đến tháng 8 năm Càn Long thứ 55 [9/9-7/10/1790] nhân dịp lễ khánh thọ 80, Vua Quang Trung đích thân đến chiêm bái; ngoài ra tại đất An Nam cho lập  nơi tế tự cho bọn Hứa Thế Hanh:

Ngày 3 Kỷ Vị tháng 5 năm Càn Long thứ 54 [27/5/1789]. Sắc dụ An Nam Nguyễn Quang Bình rõ: cứ lời tâu của bọn Hiệp biện Đại học sĩ Tổng đốc Lưỡng Quảng Công tước Phúc Khang An rằng ngươi sai cháu ruột là Lê Quang Hiển đến quan ải xin hàng, dâng biểu và cống vật. Biểu đã được trình lên, duyệt khán nội dung xưng rằng trước kia ngươi có đất riêng tại Quảng Nam, không phải là bầy tôi của họ Lê. Năm ngoái đã từng đến quan ải trình bày nguyên do việc gây hấn với họ Lê, nhưng quan lại tại biên giới bác thư, không đề đạt lên trên. Rồi quan binh xuất quan chinh tiễu, đến ngay thành nhà Lê. Vào tháng giêng đầu năm nay ngươi đến thành nhà Lê muốn gặp Lê Duy Kỳ để hỏi tại sao lại mời quan binh đến; không ngờ khi quan binh thấy bọn ngươi, thì xông lên chém giết. Bọn thủ hạ của ngươi trong lúc hoảng hốt khó có thể bó tay chịu trói, lại gặp lúc trên sông cầu bị đứt, nên gây tổn thương cho quan binh, rất lấy làm sợ hãi. Mấy lần sai người gõ cửa quan ải chịu tội, lại đưa các quan binh chưa ra khỏi quan ải trở về; những người giết hại các quan Đề, Trấn đã bị chính pháp. Bản ý muốn đến cửa khuyết để trần tình chịu tội, nhưng trong nước mới gặp phải cảnh binh đao, lòng người mê hoặc vẫn chưa được ổn định, nên kính cẩn sai cháu ruột là Nguyễn Quang Hiển mang biểu đến kinh khuyết để làm lễ chiêm cận. Lại theo lời Nguyễn Quang Hiển bẩm xưng, ngươi chờ đến lúc việc nước tạm yên, cũng sẽ xin đích thân đến kinh khuyết chiêm cận.

Họ Lê tại An Nam là bề tôi thờ Thiên triều, cung kính tiến cống đã hơn một trăm năm nay rồi, còn ngươi tại Quảng Nam trước đây chưa từng triều cống. Năm ngoái mẹ và vợ Lê Duy Kỳ đến cửa quan ải khống tố ngươi làm loạn chiếm nước, cầu xin mang quân cứu viện. Việc này liên quan thể thống của Thiên triều “vỗ về nước nhỏ, làm sống lại dòng họ kế vị bị diệt” nên viên Tổng đốc tiền nhiệm là Tôn Sĩ Nghị xin mang quân xuất quan. Ngươi tuy đã từng gõ cửa quan ải xin biện bạch, nhưng các viên quan tại biên thùy từ trước đến nay chỉ biết đất An Nam có họ Lê cai trị, chưa từng biết có họ Nguyễn, nên bác trả lại nguyên đơn và đã tâu lên Trẫm việc nầy, cách liệu biện như vậy là đúng. Qua viên Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị tâu về việc sau khi khắc phục thành nhà Lê, Trẫm cho rằng trong nước nầy có nhiều sự rối ren, Lê Duy Kỳ lại khiếp nhược không có khả năng, xem ra ý trời đã chán ghét họ Lê rồi! Trẫm từ trước đến nay liệu biện công việc không bao giờ làm trái lòng trời, bèn lập tức ra lệnh Tôn Sĩ Nghị rằng thành nhà Lê đã khôi phục, đáng cho triệt binh. Nhưng Tôn Sĩ Nghị chưa có thể tuân chỉ để triệt thoái lập tức, dây dưa ngày tháng, rồi ngươi mang đồng bọn đến thành nhà Lê muốn gặp Lê Duy Kỳ để vặn hỏi; quan binh tại đó há lại ngồi yên, bèn dũng cảm cùng với bọn ngươi đánh nhau, bộ hạ của ngươi sợ chết chống cự, khiến tổn thương quan binh. Các Đề Trấn cùng quan binh lâm trận quyên sinh, Trẫm hết sức thương xót; đã cho ưu đãi thưởng tuất, phong Hứa Thế Hanh tước Bá, hai Đề đốc thì con được thế tập, và đều được thờ tại Chiêu Trung Từ để tưởng lệ. Ngươi là Đầu mục đất An Nam, dám kháng cự quan binh, giết hại các viên chức lớn  Đề, Trấn, tội hết sức nặng nề; đã sai Phúc Khang An làm Tổng đốc Lưỡng Quảng, ra lệnh điều tập các lộ đại binh đến hỏi tội. Nhưng nghĩ đến ngươi mấy lần cho người gõ cửa quan ải chịu tội, xét ra còn biết sợ Thiên triều; Trẫm thương ngươi thành tâm hối lỗi, nên việc dĩ vãng không muốn truy cứu. Tuy nhiên trừ phi ngươi đích thân đến kinh khuyết làm lễ chiêm cận nhận tội xin tha; còn chỉ sai cháu là Nguyễn Quang Hiển dâng biểu, đến kinh khuyết làm lễ chiêm cận để xin cầu phong, thì Thiên triều không có thể chế như vậy. Nay nước ngươi chưa được liệt vào hạng ngoại phiên đã qui phục, nên các đồ cống phẩm chưa tiện thu nạp, cho đem trả lại.

Nếu như ngươi có lòng thành nạp cống, hãy đợi đến tháng 8 năm thứ 55 nhân dịp lễ khánh thọ 80 tuổi của ta; thời điểm nầy tính đến nay còn hơn một năm, trong nước ngươi chắc đã thu xếp yên ổn, lúc bấy giờ hãy bẩm với viên Tổng đốc xin đến kinh khuyết cầu khẩn, để toại lòng chiêm ngưỡng Thiên triều. Ngoài ra tại đất An Nam lập thêm nơi tế tự cho bọn Hứa Thế Hanh, xuân thu thờ cúng, để chuộc phần nào lỗi cũ. Đến lúc đó Trẫm sẽ xem xét tấm lòng thành biết sợ hãi để đặc biệt gia ân, hoặc phong ngươi tước Vương đời đời con cháu được cai quản đất An Nam; và cũng lúc nầy trình đồ tiến cống lên sẽ được thu nhận; lại còn được ban thưởng để tỏ tấm lòng ưu đãi.

 Trẫm lên ngôi đã hơn năm mươi năm, đối với các phiên bang bộ tộc lấy sự thành tín để cư xử; Lê Duy Kỳ nhu nhược không có khả năng, vứt ấn bỏ chạy; nếu lấy điều luật của Thiên triều về tội dám tự tiện bỏ chức vụ trấn thủ mà xử, thì đáng trị tội nặng; nay nghĩ rằng y là ngoại phiên, chỉ vì không có khả năng chớ không có vi phạm nào khác, nên ra lệnh cho an sáp tại thành Quế Lâm; quyết không có việc lợi dụng khi ngươi sang đây triều kiến, để thừa dịp đem Lê Duy Kỳ về nước. Đã ra chỉ dụ cho viên Tổng đốc Phúc Khang An sai viên quan hộ tống cháu của ngươi là Nguyễn Quang Hiển trên đường đi qua tỉnh thành Quế Lâm, hãy thân hành xem quang cảnh của Lê Duy Kỳ tại đây, rồi cháu ngươi ghi chép thực trạng gửi thư cho ngươi rõ, để ngươi không còn một chút nào nghi hoặc lưỡng lự. Nay đặc biệt ban cho ngươi một xâu chuỗi minh châu; ngươi đáng được ân mệnh xếp sắp cuộc hành trình vào tháng sáu, tháng bảy năm sau; đích thân thành khẩn cầu xin tại kinh khuyết, để vĩnh viễn hưởng ân mưa móc. Gắng lên! Khâm tai! Đạo dụ đặc biệt.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1328, trang 5-7)

Càn Long là vị Vua đầy tham vọng, ông ta muốn vượt trội trong lịch sử Trung Quốc với danh hiệu Thập Toàn Vũ Công; nhưng khốn nỗi đã từng thất trận nhục nhã tại An Nam, thì làm sao có được danh hiệu đó! Nhưng với lòng tham danh chứa chất, Càn Long không sượng mặt, đổi trắng thay đen bằng cách bố trí cho Nguyễn Quang Hiển và Vua Quang Trung trên danh nghĩa đến kinh đến kinh đô chiêm bái, để mong rửa sạch việc thua trận tại thành Thăng Long. Để rồi sau đó vào năm 82 tuổi [1792] tuyên bố Thập Toàn Vũ Công [十全武功] ,tự xưng là Thập Toàn Lão Nhân [十全老人], trong đó trắng trợn ghi chiến công Càn Long ngũ thập tứ niên An Nam chi dịch [乾隆五十四年安南之役(1789年]; chiến dịch tại An Nam vào năm Càn Long thứ 54]:

Ngày 3 Kỷ Vị tháng 5 năm Càn Long thứ 54 [27/5/1789]. Lại dụ: Lần này Nguyễn Huệ lại sai cháu ruột là Nguyễn Quang Hiển dâng biểu xin hàng, lời lẽ và nội dung so với lần trước hết sức cung thuận, bộc lộ lòng chí thành sợ uy; nên đã giáng chiếu dụ một cách rõ ràng, Phúc Khang An cần ra lệnh cho Nguyễn Quang Hiển sai người kính cẩn mang về nước giao cho Nguyễn Huệ xem, đợi có tin tức mới hãy tâu lên, rồi tuân chiếu chỉ thi hành. Theo lời bọn Phúc Khang An tâu đã bảo Nguyễn Quang Hiển trở về Lạng Sơn. Khi Phúc Khang An nhận được chỉ dụ này, lại ra lệnh cho Nguyễn Quang Hiển từ Lạng Sơn khởi hành đến kinh đô; cũng không cần quá vội vã, khoảng ngoài ngày 20 tháng 7 đến Nhiệt Hà, lúc nầy các Vương, Công, Đài Cát [quí tộc Mông Cổ] của Mông Cổ đều đến  triều cống hầu cận; để Nguyễn Quang Hiển thấy được cảnh thịnh trị xa thư nhất thống, vạn nước triều cống lên vua. Cũng vào dịp nầy Quang Hiển cùng các Vương, Công, Đài cát hưởng vinh dự được mời dự yến tiệc.

Lệnh Thang Hùng Nghiệp tháp tùng đến kinh đô, nhớ đi qua Quế Lâm, để Nguyễn Quang Hiển trực tiếp nói chuyện với với Lê Duy Kỳ; lại nói cho Nguyễn Quang Hiển biết rằng Lê Duy Kỳ dám để mất ấn tín của đại Hoàng đế ban cho, đáng trị tội nặng; nhân vì nhà Lê mấy đời cung thuận, lại không vi phạm điều gì khác, nên chỉ bị an sáp; há lẽ nào lại cho trở lại làm chủ nước tại thành nhà Lê. Nếu như Nguyễn Huệ vào tiết vạn thọ năm sau đến chiêm cận, đại Hoàng đế sẽ đặc biệt gia ân, hoặc phong tước Vương, con cháu được đời đời giữ nước An Nam. Hãy lệnh Nguyễn Quang Hiển đem tình tiết nầy, biên thư cho Nguyễn Huệ hay, để lòng y không còn nghi sợ….” (Cao Tông Thực Lục quyển1328, trang 8-9)

Nhắm thực hiện tham vọng được Vua Quang Trung xin hàng, để chuốc lấy hư danh Thập Toàn Vũ Công, Vua Càn Long sai Phúc Khang An bắt ép Vua Lê Chiêu Thống cạo đầu dóc tóc:

Ngày 5 Tân Dậu tháng 5 năm Càn Long thứ 54 [29/5/1789]

Dụ quân cơ Đại thần: Lê Duy Kỳ vì không có năng lực nên mất nước, bỏ ấn tín chạy trốn, nay khoan phạt tội để mất đất được phong, bắt an sáp tại tỉnh thành Quế Lâm, trợ cấp như một người dân nơi biên thùy. Nghe rằng y vẫn để tóc dài như cũ, ăn mặc y phục của nước y, khác với dân nội địa, xét thể chế không hợp. Nay truyền lệnh các viên Tổng đốc, Tuần phủ lập tức lệnh Lê Duy Kỳ cùng bọn tùy tùng của y phải cạo đầu, dùng y phục của Thiên triều. Trong tương lai Nguyễn Quang Hiển đi qua Quế Lâm, trực tiếp đến gặp Lê Duy Kỳ trò chuyện, thấy y đã cạo tóc, ăn mặc khác lạ, không còn lý nào trở về nước; rồi lệnh Nguyễn Quang Hiển sai người trở về nước báo cáo với Nguyễn Huệ để không còn có sự nghi ngờ.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1328, trang 10)

Sử nước ta xác nhận Phúc Khang An đánh lừa Cựu hoàng Lê Chiêu Thông cạo đầu dóc tóc, y phục giống như Mãn Thanh để mang quân về nước phục quốc, Cựu hoàng tin thật nghe lời:

Tháng 4 [25/4-24/5/1789], Khang An về đến Quế Lâm, nói thác ra rằng trời hè đang nắng nóng, hãy tạm nghĩ việc quân, đợi sang mùa thu, sẽ lại điều khiển. Khang An lại lừa gạt nhà vua rằng: “Thời kỳ xuất quân không xa đâu. Tự vương sẽ phải chính mình thống suất các thuộc tướng đi trước dẫn đường. Có điều là đồ mặc của An Nam vốn bị Tây Sơn coi khinh. Việc hành binh cốt phải trí trá. Chi bằng Tự vương hãy tạm gióc tóc, thay đỗi đồ mặc để đánh lạc tai mắt quân giặc trong khi hành binh. Đợi khi đã khôi phục được nước rồi, bấy giờ sẽ lại giữ theo lề thói bản quốc như cũ”. Nhà vua không dè bị gạt, cũng gắng gượng làm theo. Phàm người nước ta trước hay sau đã sang bên Thanh bấy giờ đều bị Khang An bắt gióc tóc và thay đỗi đồ mặc.” (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, bản dịch, tập 2, trang 849.)

Tại miền Nam vào tháng tháng 4 [25/4-24/5/1789], Nguyễn Vương Phúc Ánh sai Lê Văn Quân đem quân sở bộ đóng giữ Bà Rịa.

Nước Xiêm La bị hạn hán và đói, xin mua gạo ở nước ta. Vương ra lệnh cho hơn 8.800 phương (5) gạo , bằng 200 xe của Xiêm .

Ra lệnh cho quan công đường bốn dinh Phiên Trấn [Gia Định], Trấn Biên [Biên Hòa], Trấn Định [Định Tường], Vĩnh Trấn [Vĩnh Long] bố cáo cho nhân dân trong hạt biết : Phàm quan và binh của Tây Sơn ngày trước trốn ở thôn ấp mà còn để lậu, như nay muốn theo quân ngũ thì ghi vào binh tịch, muốn ở yên làm ruộng thì ghi vào hộ tịch. Kẻ nào lọt sổ thì xử tội chết. Thôn trưởng biết mà không nêu ra thì xử 100 roi, sung dịch phu 3 năm.

Tháng 5 [25/5-22/6/1789], chuẩn định rằng những thuyền buôn của người Thanh từ nay hễ chở đến bốn thứ sắt, gang, kẽm, lưu hoàng, thì nhà nước mua cả, lại theo số hàng nhiều ít để định mức tha thuế cảng và cho đong gạo chở về nước nhiều ít khác nhau. Phàm bốn thứ ấy chở được 10 vạn cân [cân=604.4 g.] (6). là hạng nhất, miễn thuế cảng, cho chở gạo về 30 vạn cân, chở được 6 vạn cân là hạng nhì, cho chở gạo về 22 vạn cân, chở được 4 vạn cân thì cho chở gạo về 15 vạn cân ; còn thuyền  nào không đủ số trên thì cứ 100 cân hàng được chở gạo về 300 cân, thuế cảng vẫn phải nộp như thường. Từ đó những thuyền buôn vui lòng chở đến bán, mà quân dụng được dồi dào.

Lấy Ốc Nha Chích người Chân Lạp làm An phủ Trà Vinh.

Chú thích:

1.Nguyễn Quốc Đống người xã Tỳ Bà, huyện Lang Tài (nay thuộc thôn Tỳ Bà, xã Phú Hòa, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh) là anh của Hoàng phi Nguyễn Thị Kim.

2.Cùng binh độc vũ: đánh đến cùng, chiến tranh không dứt.

3.Hai tên họ Nguyễn: chỉ Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ.

4.Hưng diệt kế tuyệt: phục hưng nước bị diệt, nối dòng họ đã tuyệt.

5.Phương: đơn vị đo lường xưa, bằng 30 bát gạt ngang, khoảng 30 lít.

6.Cân: 1 cân thời Nguyễn sơ bằng 604.4 gram; 1 cân Trung Quốc bằng 500 gram.

Bình luận về bài viết này